Bác Hồ và những phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam

Có một thời, phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam được coi là Đồng minh và là bạn của nhân dân Việt Nam. Sự kiện này mở đầu cho mối quan hệ bang giao Việt – Mỹ, khi cách mạng Việt Nam đang còn non trẻ trong trứng nước, với muôn vàn khó khăn… Nhờ thế, mà chúng ta đã tập hợp và tranh thủ được sự giúp đỡ của những người bạn Đồng minh chống phát – xít, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

4 phicong1755-400aChủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số
thành viên nhóm tình báo “Con Nai” tại Hà Nội năm 1945.

Những phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam đều xuất hiện trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Những bí mật về cuộc đời họ còn nhiều chi tiết chưa được tiết lộ.

Từ chuyện cứu phi công Mỹ William Shaw năm 1944…

Khoảng tháng 10 năm 1944, có một Trung uý phi công Mỹ tên là William Shaw trong khi làm nhiệm vụ lái máy bay trên vùng trời biên giới Việt Nam – Trung Quốc đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) – Đó là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh – một tổ chức do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, không những tập hợp mọi lực lượng trong nước, mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước, với đại diện của các nước phe Đồng minh trong mặt trận chống phát – xít.

Bởi thế, Bác Hồ đã chỉ thị phải bảo vệ, chăm sóc Trung uý Shaw cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó: “Khi ở trên trời là người của họ, xuống đây là khách của ta, phải đón tiếp chu đáo”. Vậy là, sau khoảng 3 tuần trèo đèo, lội suối, băng rừng ròng rã, vượt qua sự lùng sục bao vây của quân Nhật, viên phi công Mỹ nêu trên đã được đưa về Pác Bó gặp Bác.

Sau này, Thượng tướng Phùng Thế Tài – người đầu tiên bảo vệ Bác từ khi Người về nước – đã kể lại tâm trạng của người phi công Mỹ ngày đó trong một hồi ký của mình:

“Sau gần một tháng trời có miệng như câm, có tai như điếc, được gặp Bác, được nghe tiếng nói của quê hương xứ sở, viên phi công Mỹ bàng hoàng sung sướng đến phát khóc. Anh ta hoàn toàn bất ngờ không hiểu tại sao giữa núi rừng của nước Việt Nam xa xôi này có cụ già trông rất giản dị lại nói tiếng Anh giỏi đến thế. Ngạc nhiên hơn, anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.

Tấm lòng nhân hậu của Người có tác dụng cảm hóa Trung uý Shaw mạnh mẽ. Bác còn tặng người phi công Mỹ này bản “Chương trình Việt Minh” đã được Người trực tiếp dịch ra tiếng Anh. Sau đó, Trung uý Shaw đã trở thành “cầu nối” để Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Tướng Claire Chennault (1893 – 1958), Tư lệnh Không đoàn 14, có biệt danh là đơn vị “Hổ Bay” của Mỹ, đại diện cho lực lượng Đồng minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Để có cuộc gặp “không hẹn trước” với viên Tướng Mỹ kể trên, Người đã phải đi giày cỏ, theo đường bộ, vượt hàng ngàn kilômét từ Pác Bó (Việt Nam) tới Côn Minh (Trung Quốc), trong sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng thù địch.

Khi tới Côn Minh, với cái cớ cần trao trả phe Đồng minh viên Trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, Bác Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ, để thăm dò và vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát – xít. Trong số đó có Trung uý Charles Fenn – một Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Côn Minh, làm nhiệm vụ tại cơ quan Hỗ trợ cho không quân tại mặt đất (AGAS).

Với tài ngoại giao của mình Người đã chinh phục hoàn toàn Charles Fenn. Ông rất cảm tình với Mặt trận Việt Minh, đã nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Bác Hồ đã đề nghị Charles Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp và hội đàm với Tướng Chennault, Tư lệnh đơn vị mang biệt hiệu “Hổ Bay” của Mỹ, đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam – Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của quân Đồng minh tại khu vực.

Tướng Chennault đã rất cảm động về sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh đối với Trung uý phi công Shaw. Có lẽ, ông đã nhận thấy trong lời nói của Hồ Chí Minh là quyết tâm của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, đứng về phe Đồng minh chống phát – xít: “Hiện nay, phong trào du kích của chúng tôi tuy đang lên rất cao nhưng vũ khí, thuốc men rất thiếu thốn. Chúng tôi muốn các ngài tạo điều kiện giúp đỡ để hai nước chúng ta có thể mau chóng đánh bại phát – xít Nhật…”.

Thái độ chân tình, thẳng thắn của Bác cũng đã chinh phục được Chennault. Viên Tướng Mỹ này đã hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Người và hứa sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Hai bên đã thoả thuận: Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích và mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho Không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở miền Bắc Đông Dương… Ngược lại, phía quân Đồng minh có trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp đỡ Việt Nam huấn luyện quân sự, đồng thời trang bị vũ khí, điện đài và các trang thiết bị khác.

Chennault kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Người tấm ảnh của mình với dòng chữ: “Bạn chân thành của tôi”. Sau đó, viên Tướng Mỹ này đã chỉ thị cho Trung uý Charles Fenn thuộc cơ quan Chiến lược tình báo Mỹ tại Trung Quốc thực hiện hợp tác với Mặt trận Việt Minh.

Khi Người về nước, đã có hai người Mỹ là Frank Tan và Mac Shin cùng sang giúp chúng ta về điện đài. Về sau còn có John, một báo vụ viên OSS và một số người khác nữa. Những người bạn Mỹ được Việt Minh đón tiếp chu đáo, tạo mọi điều kiện để làm việc. Họ đã giúp Việt Minh một số điện đài, vũ khí và hướng dẫn người của ta sử dụng.

Căn cứ của Mặt trận Việt Minh sau đó cũng được chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) sang Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi hơn cho sự phát triển lực lượng với các hoạt động lớn sau này.

Đến nhóm đặc nhiệm “Con Nai” và quan hệ Việt – Mỹ năm 1945.

Theo thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Mỹ Chennault, tháng 7 năm 1945, một đơn vị Tình báo đặc nhiệm mang bí danh “Con Nai” (The Deer Team) thuộc tổ chức OSS (The Office of Strategic Services tiền thân của CIA Mỹ) đại diện cho quân Đồng minh đã nhảy dù xuống Tân Trào để phối hợp với Việt Minh chống phát – xít Nhật.

Lũng Cò (nay thuộc thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) có một dải đất rộng khoảng 4 ha, nằm trong một thung lũng hẹp, bốn xung quanh được bao bọc bởi các ngọn núi và những quả đồi thấp cây cối um tùm, rậm rạp, rất phù hợp để xây dựng một sân bay dã chiến tiếp nhận máy bay chở hàng viện trợ của quân Đồng minh.

Giữa tháng 6 năm 1945, khoảng 200 người dân địa phương đã lao động với tinh thần cố gắng hết mình. Dự kiến công việc làm trong một tuần, nhưng với quyết tâm cao và nhiệt tình cách mạng, nên chỉ sau có hai ngày phát dọn, san gạt, đầm, một sân bay dã chiến đã hình thành. (Có lẽ, đó là một trong những “kỷ lục” xây dựng sân bay!).

Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét, đường băng trải dài theo hướng Nam – Bắc. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu, loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là “Sân bay quốc tế” đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam.

Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng minh, do phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa những người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.

phi cong my 2Đại đội Việt – Mỹ làm lễ xuất quân.

Tiếp đó, nhóm đặc nhiệm “Con Nai”, đã cùng các chiến sỹ Việt Minh thành lập “Đại đội Việt – Mỹ” khoảng 200 người, do đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu I, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) làm Chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm Cố vấn, nhằm chung mục tiêu chống phát – xít Nhật.

Chính đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau khi Quốc dân Đại hội và Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa. Họ đã cùng chúng ta hành quân qua Thái Nguyên, về tận Hà Nội. Cho dù sau đó những người lính Mỹ này đã được lệnh cấp trên “án binh bất động” (họ ngồi im xem Việt Minh và Nhật đánh nhau), thì đó vẫn là lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trước khi trở về nước, những thành viên của của nhóm “Con Nai” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm một sứ mệnh đặc biệt: Chuyển giúp thư của Người đến Chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam! Nhưng tiếc là thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung quan tâm đến châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á. Và lịch sử đã đi theo hướng khác: Hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm…

Nửa thế kỷ sau, vào ngày 12/10/1995, tại Hà Nội, có cuộc gặp với những người bạn Mỹ, Charles Fenn có mặt. Sau 50 năm, Charles Fenn đã ở tuổi gần 80 nhưng những ấn tượng sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên vẹn trong ông: “Chúng tôi gặp một người có vóc dáng mảnh khảnh, đi dép tại quán cà phê Đông Dương. Người này có đôi mắt sáng ngời, có sức hấp dẫn đặc biệt. Đó chính là Hồ Chí Minh. Tướng Chennault cảm ơn về việc Việt Minh cứu viên phi công Mỹ rồi hỏi: “Chúng tôi có giúp gì được các ông không?”. Hồ Chí Minh nói: “Tôi muốn có tấm hình của ông làm kỷ niệm. “Rồi hai người ngồi uống nước rất thân mật với nhau. Tôi nhớ lúc đó, Cụ Hồ đã nói với các cán bộ đi theo rằng: “Người Mỹ là bạn của chúng ta, như Tướng Chennault là bạn của tôi đây này”. Những ngày tháng bên cạnh Hồ Chí Minh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh”

Đặng Vương Hưng
Theo cand.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn