Archive | 2012

Những người con của danh nhân Lương Khải Siêu

QĐND – Lương Khải Siêu (1873-1929) là một trong 20 nhân vật nổi tiếng trong Tủ sách “Danh nhân Tân Hợi” vừa được xuất bản ở Trung Quốc, nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Nhân dịp này, từ nguồn tư liệu của Báo điện tử Tân Hoa xã (www.xinhuanet.com) và Từ điển điện tử Bách Độ (www.baidu.com), chúng tôi chọn dịch và giới thiệu một số người con của nhà tư tưởng, nhà văn, học giả Lương Khải Siêu, một trong những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân trong lịch sử cận đại Trung Quốc.

Danh nhân Lương Khải Siêu có 9 người con trai, con gái, thứ tự là: Lương Tư Thuận, Lương Tư Thành, Lương Tư Vĩnh, Lương Tư Trung, Lương Tư Trang, Lương Tư Đạt, Lương Tư Ý, Lương Tư Ninh, Lương Tư Lễ. Trong đó, Tư Thuận, Tư Thành, Tư Trang là do bà Lý Huệ Tiên (1868-1923), vợ đầu của Lương Khải Siêu sinh ra; Tư Vĩnh, Tư Trung, Tư Đạt, Tư Ý, Tư Ninh, Tư Lễ là do bà Vương Quế Toàn (1885-1924), vợ hai của Lương Khải Siêu sinh ra.

Lương Khải Siêu và các con: Tư Thuận, Tư Thành, Tư Vĩnh (năm 1905). Ảnh: Quảng Châu Nhật báo

Trưởng nam Lương Tư Thành (1901-1972): Nhà kiến trúc học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Năm 1915, Lương Tư Thành vào học tập tại Trường Thanh Hoa, năm 1923 cùng Lâm Huy Nhân sang Mỹ lưu học, sau đó tốt nghiệp Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Pen-xin-va-ni-a (Pennsylvania), giành được học vị Thạc sĩ. Sau khi về nước năm 1928, ông tới Đại học Đông Bắc sáng lập Khoa Kiến trúc đầu tiên ở miền Bắc Trung Quốc. Ông là người đầu tiên vận dụng phương pháp khoa học hiện đại tiến hành phân tích, nghiên cứu kiến trúc Trung Quốc, mở ra con đường nghiên cứu lịch sử kiến trúc Trung Quốc. Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật nổ ra, ông biên soạn bộ “Lịch sử kiến trúc Trung Quốc” đầu tiên của Trung Quốc, đồng thời dùng Anh văn viết một cuốn sách “Trung Quốc kiến trúc sử đồ lục” phổ thông dễ hiểu, phục vụ độc giả ngoại quốc, làm cho kiến trúc Trung Quốc tỏa sáng trên trường quốc tế.

Năm 1945, sau khi kháng chiến thắng lợi, ông sáng lập Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Thanh Hoa. Sau giải phóng, ông dấn thân vào công cuộc xây dựng đất nước Trung Quốc mới, lãnh đạo và tham gia công tác thiết kế đồ án Quốc huy và Bia kỷ niệm Anh hùng nhân dân, chỉ đạo chỉnh sửa Hoài Nhân Đường (Hội trường lớn trong Trung Nam Hải, Bắc Kinh).

Là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc cổ đại, Lương Tư Thành là một trong những người đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục kiến trúc Trung Quốc về các phương diện lý luận kiến trúc, tư tưởng giáo dục kiến trúc, lý luận quy hoạch thành phố. Năm 1947, ông được tiến cử là đại biểu Trung Quốc trong Đoàn Cố vấn thiết kế tòa nhà Trụ sở Liên hợp quốc. Cùng năm, Trường Đại học Prin-xtơn (Princeton-Mỹ) đã trao học vị Tiến sĩ danh dự cho ông vì những cống hiến quan trọng của ông về học thuật kiến trúc Trung Quốc. Ông được bầu làm Viện sĩ, Ủy viên Ban Khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Ông là Đại biểu Quốc hội Trung Quốc khóa 1, khóa 2, Ủy viên Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 3, Ủy viên thường vụ Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 2, Ủy viên Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 3.

Thứ nam Lương Tư Vĩnh (1904-1954): Nhà khảo cổ học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Vĩnh sinh ra tại Ma Cao, nhưng tuổi thơ của anh sống tại Nhật Bản. Năm 1923, Lương Tư Vĩnh từ Trường Đại học Thanh Hoa sang Mỹ lưu học và tốt nghiệp Lớp dự bị đại học, rồi sang Mỹ học chuyên ngành khảo cổ học và nhân loại học, nghiên cứu khảo cổ Đông Á, tại Viện Nghiên cứu Trường Đại học Ha-vớt (Harvard), đã từng tham gia khai quật Di chỉ cổ đại người Anh-điêng (Indians). Trong thời gian này, ông đã từng có một dịp trở về nước làm trợ giáo tại Sở Nghiên cứu quốc học Trường Đại học Thanh Hoa. Mùa hè năm 1930, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Ha-vớt (Mỹ), Lương Tư Vĩnh trở về nước tham gia công tác tại Tổ Khảo cổ Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ Lịch sử Viện Nghiên cứu Trung ương (trước đây).

Lương Tư Vĩnh suốt đời dốc sức cho sự nghiệp khảo cổ, là một trong những người khai thác khảo cổ học cận đại và giáo dục khảo cổ học cận đại Trung Quốc, là một học giả Trung Quốc đầu tiên được huấn luyện chính thức khảo cổ học cận đại của phương Tây, có tác phẩm truyền đời “Lương Tư Vĩnh khảo cổ luận văn tập”. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đợt đầu tiên; Tháng 8 năm 1950 được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu khảo cổ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Ngày 2-4-1954, ông Lương Tư Vĩnh ốm đau lâu ngày vẫn kiên trì làm việc, bệnh tim phát tác, qua đời tại Bắc Kinh, hưởng dương 50 tuổi.

Con trai thứ 3 Lương Tư Trung (1907-1932): Thượng tá pháo binh

Lương Tư Trung từ Nhật Bản về nước không lâu lại sang Mỹ, lần lượt học tập tại Học viện Lục quân Vớc-gi-ni-a (Virginia) và Trường Quân sự Oét-poi (West Point).

Đầu thập niên 30 thế kỷ 20, tốt nghiệp về nước, tham gia Quân Cách mạng quốc dân. Sau khi nhập ngũ, do được học bài bản tại nước ngoài và có tài nên ông nhanh chóng được thăng cấp Thượng tá pháo binh Lộ quân 17, Quân cách mạng quốc dân. Trong cuộc chiến dịch Tùng Hộ năm 1932, Lương Tư Trung chiến đấu và chỉ huy khá xuất sắc.

Đáng tiếc là sau đó không lâu, Lương Tư Trung mới 25 tuổi vì mắc bệnh viêm phúc mạc, uống nhầm thuốc, chạy chữa chậm nên đã qua đời.

Con trai thứ tư Lương Tư Đạt, sinh năm 1912: Nhà kinh tế học nổi tiếng.

Năm 1935, Lương Tư Đạt tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nam Khai, ngay sau đó thi đỗ Nghiên cứu sinh Thạc sĩ của trường này và năm 1937 giành được học vị Thạc sĩ.

Ông hoạt động nghiên cứu kinh tế lâu ngày, trong thời gian kháng chiến đã từng nhậm chức tại Sở quản lý Ngân hàng Trung ương Trung Quốc và Chi nhánh Trường Sa Ngân hàng Trung Quốc. Năm 1949, ông được điều động đến Cục doanh nghiệp nước ngoài đầu tư của Quốc Vụ viện (sau này đổi tên là Cục Quản lý hành chính công thương Trung ương) làm Chánh văn phòng, sau đó được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Thống kê Sở Điều tra nghiên cứu kiêm nhiệm công tác biên tập tư liệu nội bộ.

Ông đã từng tham gia công tác biên soạn “Lịch sử kinh tế cận đại Trung Quốc” của Sở Kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và năm 1965 chủ biên bộ sách “Tư liệu thống kê công nghiệp bột mì trong cơ chế Trung Quốc cũ”.

Lương Tư Đạt nghỉ hưu năm 1972, thường trú tại Bắc Kinh.

Con trai thứ năm Lương Tư Lễ, sinh năm 1924: Chuyên gia điều khiển hệ thống tên lửa, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Lễ sinh ra tại Bắc Kinh. Năm 1941, theo chị ba Lương Tư Ý sang Mỹ lưu học, chủ yếu học chuyên ngành Vô tuyến điện, Khoa Công trình điện cơ, Trường Đại học Pơ-điu (Purdue), sau lại học thêm Điều khiển tự động. Trong thời gian học tại Trường Đại học Pơ-điu, ông chỉ dùng thời gian hai năm hoàn thành chương trình 3 năm và năm 1945 đã giành được học vị Tiến sĩ của trường này.

Tiếp theo, ông lại giành được học vị Thạc sĩ (năm 1947) và học vị Tiến sĩ (năm 1949) của Trường Đại học Xin-xi-na-ti (Cincinnati).

Ngày 1-10-1949, sau khi về nước Lương Tư Lễ được bố trí làm công tác kỹ thuật tại Sở Nghiên cứu kỹ thuật điện tín Bộ Bưu điện và Sở Nghiên cứu khoa học điện tử Bộ Thông tin quân sự, đồng thời tham gia công tác khởi thảo “Quy hoạch viễn cảnh khoa học 12 năm” do Quốc Vụ viện tổ chức. Ông phụ trách khởi thảo “Nguyên tắc lâu dài nghiên cứu chế tạo tên lửa vận tải Trung Quốc”.

Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu hệ thống tên lửa đạn đạo Viện Nghiên cứu 5, Bộ Quốc phòng. Từ đó về sau, ông lần lượt lãnh đạo và tham gia nghiên cứu chế tạo thí nghiệm hệ thống điều khiển nhiều loại tên lửa đạn đạo và tên lửa vận tải. Ông là một trong những người phụ trách hệ thống điều khiển quả tên lửa đất đối đất đầu tiên thực nghiệm thành công năm 1964 do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo và sau đó lãnh đạo nghiên cứu cải tiến chế tạo ra hệ thống điều khiển hoàn toàn quán tính mang đặc sắc Trung Quốc. Ông đã tham gia thí nghiệm vũ khí hạt nhân, tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc ngày 27-10-1966, gây chấn động thế giới. Dưới sự chủ trì của ông, Trung Quốc lần đầu tiên đưa đường điện tập thành dùng vào máy tính trên tên lửa, đồng thời dùng nó tiến hành trắc nghiệm tự động hóa hoàn toàn tên lửa. Ông còn tham gia cuộc thí nghiệm chuyến bay của tên lửa viễn trình phóng ra Thái Bình Dương năm 1980.

Năm 1985, Lương Tư Lễ được trao “Giải thưởng hạng đặc biệt Tiến bộ khoa học kỹ thuật quốc gia”. Năm 1987, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học hàng không vũ trụ Quốc tế; Năm 1993 được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và Ủy viên Thường vụ Ủy ban Dân tộc toàn quốc khóa 8; Năm 1994 được bầu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Hàng không vũ trụ quốc tế; Tháng 9-1997, ông vinh dự được trao “Giải thưởng cống hiến Khoa giáo hưng quốc cho các giáo sư lão thành Trung Quốc”.

Vũ Phong Tạo trích dịch

(Theo http://www.xinhuanet.comhttp://www.baidu.com)
qdnd.vn

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp

(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5

(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai
qdnd.vn

Giá – lương – tiền câu chuyện không chỉ của một thời…

Tiến sĩ Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

QĐND – Cách đây hơn 1/4 thế kỷ, việc thực hiện cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đứng trước vòng xoáy của sự hỗn loạn. Tuy nhiên, “dĩ cùng tắc biến”, sự thất bại đó đã đưa Đảng ta đến một sự lựa chọn: “Đổi mới hay là chết” với những quyết định lịch sử tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ (TS) Trần Xuân Giá, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã trực tiếp chứng kiến và tham gia các cuộc điều chỉnh này với vai trò là Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước thời kỳ đó…

Phóng viên (PV): Nhiều người vẫn nghĩ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường bắt đầu từ Đại hội VI. Thế nhưng, qua ý đồ của các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, rõ ràng, tư duy quản lý kinh tế của Đảng đã có sự thay đổi từ trước năm 1986?

TS Trần Xuân Giá: Tôi có thể khẳng định thế này: Tư duy của Đảng ta về việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có từ sớm, trước năm 1986 và nhất quán. Thực tiễn sôi động đã cho thấy mô hình cũ không còn phù hợp và đang cản trở quá trình đi lên của đất nước. Những năm 1979, 1980, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã có nhiều cuộc làm việc, trao đổi, tranh luận thẳng thắn về vấn đề này với các nhà khoa học, nghiên cứu, tổ tư vấn… Ngay từ khi đó, ông đã nhìn thấy những bất ổn của mô hình và lường trước những khó khăn sẽ tới. Được dự một số buổi làm việc của Tổng bí thư, tôi thấy ông thường xoay quanh hai câu hỏi: “Làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng tới?” và “Bắt đầu từ đâu?”. Có thể nói, đó là một tầm nhìn rất mới và sớm khi đó. Năm 1980, ông ký ban hành Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, tháng 6-1985, Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tiếp tục ra nghị quyết về điều chỉnh giá – lương – tiền, với mục tiêu từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong giá và lương, xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới…

TS Trần Xuân Giá. Ảnh: Thanh Tuấn.

2 thị trường và kế hoạch 3 phần

PV: Thưa TS Trần Xuân Giá, hai cuộc điều chỉnh ở vào thời kỳ “tiền đổi mới” ấy có gì khác nhau không?

TS Trần Xuân Giá: Thực hiện các nghị quyết nói trên của Đảng, chúng ta đã tiến hành 2 cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền. Lần 1 vào năm 1980 – 1981 và lần 2 vào năm 1985. Hai cuộc điều chỉnh này gần như giống nhau về mục tiêu, nguyên tắc và cách làm. Chỉ khác là năm 1985 có phạm vi rộng hơn, quy mô lớn hơn, có đổi tiền, còn trước đó thì không.

PV: Có thể hình dung như thế nào về bối cảnh dẫn đến các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền khi đó, thưa ông?

TS Trần Xuân Giá: Trước năm 1980, thị trường miền Bắc chỉ có chủ thể duy nhất đó là nhà nước. Nhà nước mua, nhà nước bán; lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù. Do đó, giá cả không có ý nghĩa gì. Còn tiền lương thì một phần được trả bằng hiện vật, thông qua các mặt hàng thiết yếu (ban đầu có 45, sau còn 9, rồi 3 mặt hàng). Ở miền Nam, bên cạnh giá nhà nước thì thị trường tự do vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù đã bị co hẹp nhiều khi chúng ta tiến hành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước.

Bước sang năm 1980 ở ngoài nước có một sự kiện tác động rất mạnh đến nền kinh tế nước ta. Đó là khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa) thay đổi nguyên tắc tính giá các mặt hàng mà chúng ta nhập khẩu. Nghĩa là từ việc chúng ta nhập khẩu với giá rất thấp nay phải chuyển sang giá mua bán thông thường trên thị trường với giá nhập khẩu cao hơn trước rất nhiều. Việc thay đổi này làm chúng ta mất khoảng 1 tỷ rúp chuyển nhượng mỗi năm (tương đương khoảng 1,6 đến 1,7 tỷ USD). Từ chỗ làm không đủ ăn, ngân sách thu không đủ chi, một phần phải vay cho tiêu dùng trong điều kiện giá nhập khẩu tăng lên tiếp tục là một sức ép cho một nền kinh tế vốn đang rất ốm yếu…

Lúc này trong nước đã xuất hiện hai loại thị trường với tên gọi: Thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức. Trong hệ thống quản lý nhà nước cũng xuất hiện một yếu tố rất mới, đó là có thêm kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Trước chỉ có kế hoạch 1 phần, nhà nước giao toàn bộ chỉ tiêu đầu vào cho sản xuất, đồng thời quyết định đầu ra của sản phẩm (bán cho ai, bán khi nào và bán theo giá nào). Trên thị trường hình thành 3 loại giá: Giá cứng của nhà nước, giá do nhà nước định một phần và giá do doanh nghiệp tự định theo nguyên tắc thỏa thuận (giá thỏa thuận). Ban đầu, 3 loại giá này chênh nhau không nhiều nhưng càng ngày chênh càng lớn, dẫn đến nhiều biểu hiện tiêu cực, khó kiểm soát như tuồn vật tư ra ngoài, vào trong rất phức tạp…

PV: Phương án của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã được đưa ra như thế nào?

TS Trần Xuân Giá: Việc điều chỉnh được thực hiện theo nguyên tắc: Trừ một số mặt hàng rất quan trọng, còn lại tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá cả; đảm bảo tiền lương thực tế và xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở y tế. Phương án điều chỉnh được đưa ra là:

Về giá, để tiện cho tính toán, lấy giá thóc làm chuẩn, các mức giá của hàng hóa khác được quy ra theo giá thóc. Năm 1985, giá thóc được các chuyên gia tính toán trên thực tế bình quân là 25 đồng/kg (trước đổi tiền 14-9-1985). Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hơn hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư như xăng, dầu, xi măng, sắt…

Về lương, thực hiện nâng giá đến đâu thì tăng lương theo đó (bù giá vào lương theo cách nói lúc bấy giờ).

Về tiền, để đáp ứng giá mới, lương mới thì phải in thêm tiền, bảo đảm tổng tiền lưu thông trong cuộc điều chỉnh năm 1985 là 120 tỷ đồng. Nhưng vì không tự in được tiền và để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Chính phủ chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như thế, 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.

Như vậy, với việc điều chỉnh này trên thị trường đã hình thành mặt bằng giá mới, lương mới và tiền mới.

“Vỡ trận”, do đâu?

PV: Mong muốn của các nhà cải cách khi đó là khi nâng giá lên theo giá thị trường thì có thể cố định và quản lý theo cơ chế một giá đó nhưng cuối cùng đã thất bại. Giá cả tăng vọt, lạm phát phi mã. Tiền lương không còn ý nghĩa…

TS Trần Xuân Giá sinh năm 1939 tại Thừa Thiên – Huế. Năm 1980 khi đang là Chủ nhiệm Khoa Vật giá, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, ông được điều về làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước. Ông đã qua các cương vị: Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VIII), Đại biểu Quốc hội (khóa X), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996 – 2002), nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, TS Trần Xuân Giá là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB).

TS Trần Xuân Giá: Ban đầu kế hoạch tăng lương là 20% nhưng các bộ và tỉnh cho rằng mức đó là quá ít. Chính phủ chấp nhận tăng lương 100%. Trong khi đó, mức giá mới được Chính phủ quyết định đã rút xuống còn khoảng 70% so với kế hoạch ban đầu. Kết quả là chi ngân sách cho tiền lương tăng vọt nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức như dự kiến. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch làm cho vật giá tăng mạnh (riêng với nông sản, năm 1986 tăng 2000% so với năm 1976) và lạm phát bùng nổ (đỉnh điểm năm 1986 lên đến 774%), làm kiệt quệ kinh tế. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Để điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen đã dẫn đến việc “ngăn sông cấm chợ” và lùng bắt hàng “lậu”. Nhưng những biện pháp hành chính đó càng làm lệch lạc hệ thống giá cả…

PV: Nói như nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Đặng Phong thì cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã bị “vỡ trận”. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của thất bại này?

TS Trần Xuân Giá: Chúng ta đề ra chủ trương thực hiện các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, đặc biệt là cuộc tổng điều chỉnh năm 1985 trong tình hình kinh tế đang biến động mạnh, song lại thiếu biện pháp đồng bộ và các giải pháp cụ thể, tiến hành thiếu chuẩn bị chu đáo, không phù hợp với tình hình thực tế nên khi triển khai nghị quyết vào cuộc sống đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Mà nguyên nhân mấu chốt ở đây chính là chắp vá giữa tư tưởng cải cách với mô hình, cơ chế quản lý cũ đã lạc hậu… Nhưng thất bại này đã giúp Đảng ta có thêm những căn cứ, cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định lịch sử tại Đại hội VI.

PV: Sau hơn 1/4 thế kỷ, câu chuyện giá – lương – tiền vẫn là đề tài nóng bỏng hôm nay. Tất nhiên bối cảnh và tình hình đất nước cũng như quốc tế đã khác trước nhiều.

TS Trần Xuân Giá: Tôi nghĩ cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền không chỉ là câu chuyện của một thời mà nó vẫn thời sự trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học, có thể nói là “xương máu” trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta nói chung, cũng như gần đây Đảng chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng mới nói riêng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) vừa qua.

PV: Xin cảm ơn ông!

Trần Hoàng Tiến thực hiện
qdnd.vn

Vài hình ảnh kháng chiến chống Pháp do phía Pháp chụp

Bi-gia là đại úy quân đội Pháp, có mặt tại Việt Nam từ 1945, trải qua các trận chiến đấu ở Tây Bắc, ở Đồng Bằng rồi Điện Biên Phủ 1954; Bị bắt làm tù binh sau chiến thắng Điện Biên Phủ với quân hàm đại tá. Trở về Pháp làm việc trong quân đội Pháp, thăng cấp tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Hai vợ chồng Bi-gia, tháng 6-1994 đã trở lại thăm chiến trường Điện Biên Phủ.

Tháng 9-1945, quân Nhật giao nộp vũ khí cho quân đội Anh tại Sài Gòn.

Tháng 10-1945, quân Pháp tấn công Kim Long Tự (chùa Rồng Vàng, Mỹ Tho).

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Quốc dân Đảng tại Hải Phòng.

Ngày 8-3-1946, quân Pháp vào Hải Phòng.

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Tàu Tưởng tại Hải Phòng.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Một toán quân Tàu Tưởng trên Đường số 4 (ngày 18-12-1949).

Năm 1950, quân Pháp tấn công Thái Nguyên.

Dẫn giải tù binh Pháp, ngày 18-6-1954.

Từ sách ảnh “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi” – Tác giả: Bi-gia, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp.
qdnd.vn

Cuộc đời bình dân của con cháu Tôn Trung Sơn

QĐND – Báo điện tử Trung Quốc bbs.cri.cn, ngày 2-6-2009, đăng tải bài Con cháu Tôn Trung Sơn bước ra khỏi vòng hào quang vĩ nhân, lánh xa chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân đã đăng trên báo Trung Quốc Vĩ nhân tiền bối quốc tế (Quốc tế tiên khu đạo báo).

Tôn Trung Sơn (12-11-1866 / 12-3-1925).

Chúng tôi giới thiệu bài báo trên để bạn đọc tham khảo, hiểu biết thêm về gia tộc vĩ nhân Tôn Trung Sơn (1866-1925), một nhà cách mạng dân chủ vĩ đại, chẳng những được tôn vinh là “Người cha của đất nước” (quốc phụ) Trung Hoa, mà còn có ảnh hưởng lớn lao trên thế giới.

Tôn Huệ Phấn ra sức tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn

Trong ánh hoàng hôn buông xuống phía tây, Tôn Huệ Phấn ngồi trên chiếc xe lăn cót két kêu nhè nhẹ, trong lòng ôm một tập văn của ông nội. 115 năm trước, ông nội của bà – Tôn Trung Sơn tiên sinh cũng ở tại đây sáng lập ra Hưng Trung Hội, với tôn chỉ “Đánh đuổi ngoại bang, khôi phục Trung Hoa”, sau đó ảnh hưởng lớn đến vận mệnh của Trung Quốc.

“Ngày nay, sự an nguy tồn vong của Trung Quốc, hoàn toàn là do quốc dân Trung Quốc chúng ta ngủ hay là thức”. Tôn Huệ Phấn gần tuổi thất tuần lắng nghe hết lần này đến lần khác băng ghi âm tiếng nói của ông nội năm xưa đang hùng hồn diễn giảng. Nước mắt đầm đìa trên đôi gò má của bà.

Tôn Huệ Phấn.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm từ trần của Tôn Trung Sơn (1925-2005), con cháu của ông tại khắp nơi trên thế giới kỷ niệm Tôn Trung Sơn bằng mọi phương thức. Là một Đại tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, gia đình của Tôn Trung Sơn khi ấy thuộc về “Gia tộc số 1 Dân Quốc” (Dân Quốc đệ nhất gia). Thế mà, cuộc đời của con cháu ông thực ra không chói sáng như Tôn Trung Sơn tiên sinh, mà là bi hoan ly hợp, tràn đầy sắc thái huyền thoại.

Xa lánh chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân

Tôn Trung Sơn tiên sinh suốt đời trải qua ba lần hôn nhân, để lại người con trai độc nhất Tôn Khoa và hai người con gái Tôn Diên, Tôn Uyển, tất cả đều do bà Lư Mộ Trinh, người vợ thứ nhất sinh ra. Trưởng nữ Tôn Diên chết sớm, và không có con trai nối dõi. Con gái út Tôn Uyển lần lượt sinh ra 4 người con trai con gái. So sánh, cây đời của chi tộc trưởng nam Tôn Khoa là cành lá xum xuê nhất, tổng cộng sinh ra hai con trai, bốn con gái.

Con cháu của Tôn Trung Sơn thực ra không nổi trội trên vũ đài chính trị. Trong thế hệ thứ hai, chỉ có trưởng nam Tôn Khoa (1891-1973) dưới vòng hào quang của phụ thân đã từng đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ Dân quốc: Phó chủ tịch Chính phủ Trung ương Quốc dân đảng; Người duy nhất trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc đã từng đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng của 3 Viện (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp), công nhiên đối kháng với Tưởng Giới Thạch. Cuối đời tại Đài Loan, ông vẫn đảm nhiệm các chức vụ “Tư vấn chính trị Phủ Tổng thống”, “Viện trưởng Viện Khảo thí”.

Hai người con trai của Tôn Khoa: Tôn Trị Bình đã từng ra làm Ủy viên Hội đồng Thi đua của Quốc dân đảng và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Truyền hình Đài Loan; Tôn Trị Cường thì chỉ đảm nhiệm Thư ký “Cục Tín thác Trung ương” và Cố vấn Viện Bảo tàng Cố Cung (Đài Bắc). Đến thế hệ thứ tư, con trai của Tôn Trị Bình là Tôn Quốc Hùng, năm 2005 đã từng được mời ra làm “Cố vấn Quốc sách” cho người đứng đầu Đài Loan Trần Thủy Biển.

Đại đa số con cháu của Tôn Trung Sơn đều sống cuộc đời bình dân tại nước ngoài. Lâm Luân, cháu dâu của Tôn Trung Sơn đã từng giới thiệu rằng: “Tuy là con cháu của vĩ nhân, song chúng tôi không nghĩ đến chuyện đòi đặc quyền đặc lợi, thường ngày đều sống rất bình lặng. Tất cả bà con hàng xóm láng giềng ở nước ngoài cũng đều biết chúng tôi là con cháu của Tôn Trung Sơn, song mọi người sống một cuộc sống bình thường, nên đi làm thì đi làm, nên sinh hoạt thì đi sinh hoạt”.

Đoàn đại biểu thân tộc của nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn về thăm thành phố Trung Sơn nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Bà Tôn Huệ Phấn, cháu gái của Tôn Trung Sơn thì rất không thích được gọi danh hiệu là “Cháu gái Tôn Trung Sơn”. Mấy năm trước, khi bà theo người nhà về Nam Kinh bái yết Lăng Tôn Trung Sơn, trông thấy du khách đứng chờ đón chào ở dưới chân núi, Tôn Huệ Phấn bèn nói: “Tôi không cần những đặc quyền như vậy!”.

Bà còn nói rằng: “Tôi chính là tôi. Tôi là con cháu của ai, thực ra không quan trọng lắm, điều quan trọng chính là bản thân tôi có năng lực gì”.

Sau đấy, Tôn Huệ Phấn ra làm Lãnh sự Thương vụ của Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc. Bằng tài ngoại giao xuất sắc của mình, bà đã chứng minh: Mình không cần sống dưới vòng hào quang “con cháu danh gia vọng tộc”, cũng có thể sống một cuộc đời tươi đẹp.

“Tôn Trung Sơn không phải của một cá nhân tôi”

Tôn Trung Sơn suốt đời lưu ly ghềnh thác, con cháu của ông thì sống tản mát ở trong và ngoài nước, trong đó đại đa số định cư tại Mỹ. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, con cháu của Tôn Trung Sơn ngày nay cũng ngẫu nhiên trở về Tổ quốc bái yết ông, có người còn quyên góp ủng hộ sự nghiệp giáo dục của Tổ quốc.

“Tôi không được tai nghe trực tiếp lời dạy bảo của ông nội, song tôi vô cùng kính yêu ngưỡng mộ ông tôi”. Bà Tôn Huệ Phấn nói như vậy khi trả lời phỏng vấn qua điện thoại vượt đại dương của báo “Vĩ nhân tiền bối quốc tế”.

Bà Tôn Huệ Phấn hiện nay đảm nhiệm Chủ tịch Quỹ Giáo dục Hòa bình Tôn Trung Sơn, Hội trưởng Hội Từ thiện Phụ nữ Trung Quốc tại Ha-oai (Hawaii).

Bà Tôn Huệ Phấn bị bệnh phong thấp nặng, phải ngồi trên xe lăn, nhưng vẫn không từ gian khổ đi theo vết chân ngày xưa của Tôn Trung Sơn tới khắp nơi trên thế giới như: Đại lục Trung Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á và Âu Mỹ, v.v.. diễn giảng trên một nghìn cuộc, tích cực tuyên truyền phát huy tư tưởng của ông nội Tôn Trung Sơn. Hiện tại, bà Tôn Huệ Phấn truyền giao nhiệm vụ nặng nề tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn cho con trai của bà là Vương Tổ Diệu, hy vọng tư tưởng Tôn Trung Sơn có thể truyền thừa mãi mãi.

Bà Tôn Huệ Phấn nói: “Suốt cuộc đời này của tôi, điều tôi cảm thấy hạnh phúc sung sướng nhất là có một người ông nội như thế. Nhưng, ông không phải là của một cá nhân tôi, mà ông thuộc về nhân dân toàn Trung Quốc. Tôi hy vọng tinh thần của ông nội có thể khích lệ những người trẻ tuổi ngày nay, không được buông lơi bất cứ mục tiêu nào”.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Vì sao tướng Mỹ Brinh “tự sát”

QĐND – Năm 1952, khi phe diều hâu ở Oa-sinh-tơn đang đẩy mạnh cuộc can thiệp quân sự vào Việt Nam, các báo Mỹ đột ngột đưa tin Trưởng phái bộ quân sự Mỹ ở Sài Gòn, tướng Brinh “tự sát” trong một tình huống không rõ ràng. Tướng Brinh có phải là nạn nhân của một âm mưu “diệt khẩu”, hay thậm chí là quân nhân Mỹ “phản chiến” đầu tiên, như dư luận đồn đoán? Năm 2012, tròn 60 năm sau sự kiện trên, liệu Nhà Trắng có giải mật nguyên nhân cái chết này?

Khi “Việt cộng” tiến công cư xá Brink đúng đêm Nô-en 1964, truyền thông phương Tây mới chợt nhớ về cái chết kỳ quặc của một tướng Mỹ xảy ra vào trước đó một giáp – thời kỳ Oa-sinh-tơn nhúng tay vào Đông Dương, để cấp cứu “ông bạn” Pháp đang “chìm tàu” ở đây. Đó là tướng Phrăng-xít Brinh (Francis Brink) (1893–1952).

Tướng Phrăng-xít Brinh (1893 – 1952). Nguồn: http://www.generals.dk

Trái với một truyền thống rùm beng về quân sử, các trang tư liệu, lưu trữ của Hoa Kỳ về một người hùng trận mạc như tướng Brinh có vẻ sơ sài. Chỉ thấy nói ông ta tốt nghiệp trường quân sự có tiếng Coóc-neo (Cornell), từng nổi danh trong các cuộc chiến thuộc nửa đầu thế kỷ XX của Mỹ. Brinh đã từng giảng về chiến thuật quân sự ở Đại học quốc gia Lu-i-di-a-na (Louisiana) 1928-1934, nơi ông cũng làm huấn luyện viên quyền anh.

Cuối thế chiến II, Brinh được vinh thăng chuẩn tướng trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến của Bộ chỉ huy chiến trường Đông Nam Á. Nơi đây đã xảy ra các chiến dịch của quân Mỹ tại Miến Điện (Burma, nay là Mi-an-ma) với các xung đột chống quân Nhật ở Thái Lan và Ma-lai-xi-a.

Chọn mặt gửi vàng

Nhân những cơn lốc chiến tranh lạnh, Oa-sinh-tơn ra mặt bênh vực quyền lợi thực dân của Pháp ở Đông Dương, những quan tâm nửa vời về độc lập cho các dân tộc thuộc địa ở đây của Tổng thống Ru-giơ-ven ở Cai-rô và Tê-hê-ran (1943) đã chìm vào sương mờ quá khứ. Viện trợ Mỹ cho Pháp bắt đầu bằng 10 triệu đô-la năm 1950 và vọt lên trên 1 tỷ đô-la năm 1954, chiếm tới 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương.

Hiện thực hóa một ý đồ của kế hoạch Rơ-ve (Revers) (1949) là ngụy tạo “chủ quyền” cho các chính quyền bù nhìn, tại Sài Gòn ngày 23-9-1950, đã rùm beng lễ ký các Hiệp định quân sự giữa Mỹ với Pháp và các “chính phủ thuộc khối Liên hiệp Pháp” ở Đông Dương. Theo quân sử Mỹ, từ đây đã thiết lập được nền móng cho viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ đổ vào Đông Dương. Cơ chế hành chính của nó là Phái bộ hiệp trợ và cố vấn quân sự Mỹ (viết tắt là MAAG). MAAG do tướng Brinh cầm đầu từ 10-10-1950, với chức trách là quản trị chương trình viện trợ Mỹ cho Đông Dương, và bảo đảm hậu cần cho “quân đội thuộc Khối liên hiệp Pháp”. Huấn luyện cho “quân đội Việt Nam” (ngụy) vẫn do Pháp thực hiện.[1]

Nửa chừng xuân…

Học giả hôm nay không được ưu ái về tư liệu lưu trữ về vụ tướng Brinh “tự tử” xảy ra vào sáng 24-6-1952 ngay tại Lầu Năm Góc. Tin này hầu như được đưa một lần với nội dung gần như nhau cùng ngày 25-6-1952, trên hầu hết các báo địa phương, không mấy tên tuổi.

Cụ thể, báo Ban Ngày (The Day) ra 25-6-1952 tiết lộ rằng, bạn bè của tướng Brinh nói nguyên nhân là do ông ta “đã vô cùng thất vọng với tình hình ở Đông Dương, nhưng lại không biết làm gì (để cải thiện)” (“…Brink had been badly depressed but that the Indochina situation had nothing to do with it”); rằng khẩu súng ngắn Brinh dùng tự sát “cỡ nhỏ”, nên nhà đương cục cho rằng ông ta vẫn đủ sức chịu đựng để tự thực hiện tới ba phát bắn, đến khi chết hẳn[2]. Báo Trạng sư vùng Victoria (Victoria Advocate), bang Tếch-xát (Texas), nói thêm Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ, tướng Lao-tơn Côn-lin (Lawton Colins) gần như là chứng nhân của vụ này vì phòng làm việc của Brinh nằm cùng tầng với phòng của Côn-lin. Ca ngợi Brinh là một quân nhân tận tụy, tướng Côn-lin dường như cho rằng viên thủ trưởng MAAG tuẫn tiết vì đã “kiệt sức khi cáng đáng đặc nhiệm này”[3].

Tướng Brinh vừa mới từ Sài Gòn về Oa-sinh-tơn dự một hội nghị quân sự liên quan đến tình hình quân sự phía Đông (gồm cả chiến trường Đông Dương). Các báo cho hay, nhân viên điều tra các vụ đột tử (coroner) của khu vực, ông Ma-grút-đơ Mác Đô-nan (A.Magruder McDonald) nói rằng, có thể tướng Brinh tự sát thật, nhưng ông chưa đưa ra kết luận chính thức cho đến khi kết thúc điều tra.

Những phát súng trong sương mù

Việc tìm kiếm các kết luận pháp lý chính thức về cái chết của tướng Brinh bằng truy cập qua lưu trữ truyền thông Mỹ không có kết quả. Một trang điện tử điều tra về các vụ việc tiêu cực trong quân đội Mỹ[4] cũng khẳng định, rằng gần 6 thập kỷ đã qua, nhưng “vụ tướng Brinh” vẫn thuộc khái niệm sương mù chiến tranh.

Sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, bóng tối, người hùng”, Nxb Christopher Pub House (1998).

Militarycoruption.com đưa ra một loạt những câu hỏi nhưng tờ báo điện tử chuyên về các vụ bê bối trong quân đội Mỹ này chưa hề được câu trả lời. Thứ nhất, tới nay không có nguồn nào nói rõ có dấu ngón tay của tướng Brinh trên cò khẩu súng được xem là đã được ông ta dùng để tự sát hay không? Thứ hai, “chẳng ai dám to giọng hỏi xem tại sao một quân nhân làm đến cấp tướng lại cố bắn được tới ba phát đạn súng lục cỡ nhỏ vào ngực mình”, trong khi ai cũng biết chỉ cần một viên đạn súng Colt tự động 45 bắn vào hàm dưới đem lại hiệu quả cao hơn, Militarycoruption.com chia sẻ sự thắc mắc đó.

Cuối cùng, không có một hồ sơ nào về cái chết của tướng Brinh được lưu tại quê nhà ông. Văn phòng Các vụ đột tử cho hay, toàn bộ giấy tờ của vụ này đã được chuyển về Bộ Quốc phòng. Để rồi năm 1973 (năm Nhà Trắng buộc phải ký Hiệp định Pa-ri), toàn bộ các hồ sơ bệnh sử và cả biên bản điều tra vụ chết bất thường theo luật định (coroner) đã bị hủy hoại trong một hỏa hoạn tại Trung tâm Lưu trữ quân sự tại Xanh Lu-i (St. Louis), bang Mi-du-ri (Missouri), theo sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, Góc khuất, và người hùng” (Vietnam Military Lore: Legends, Shadows & Heroes) của tác giả Rây Bao-dơ (Ray Bows).

Tướng Brinh đã không hề để lại thư tuyệt mệnh. Ngay trước khi xảy ra vụ tự sát, viên tướng này còn gọi điện cho Lây-la-ni (Leilani) con gái mình, báo ông sắp tới thăm gia đình cô. Phu nhân tướng Brinh lúc đó vẫn ở Sài Gòn. Lây-la-ni nói chưa bao giờ thấy cha mình đeo súng phòng thân hay vũ khí cá nhân. Bà cũng cho biết, ban đầu gia đình đã được quân đội Mỹ cho hay tướng Brinh “đã tự bắn xuyên qua miệng”, rằng quân đội Mỹ sau đó đã không thể đưa ra một tường thuật mạch lạc vụ việc này. Các thành viên khác của gia đình cũng cho biết đã cố tìm hiểu nguyên nhân cái chết đầy bí hiểm (mystery) của tướng Brinh, nhưng vô vọng. Cháu của viên tướng này nói với tác giả Rây Bao-dơ rằng trong lễ tang “Ở Oa-sinh-tơn, không ai muốn nói gì về chuyện này (vì sao tướng Brinh tự sát)”.

60 năm mồ yên mả lặng?

Nay nhìn lại, tờ báo điện tử Militarycoruption.com cho rằng tướng Brinh chẳng có cớ gì đến nước phải tự vẫn. Cho dù ai đó loan trên truyền thông thời 1952, rằng viên tướng này chán đời do bệnh tật, nên đã tự bắn 3 viên đạn vào người ngay trên bàn làm việc. “Vụ này kết luận rồi, hãy tiến về phía trước” người ta khuyên. Tờ Militarycoruption.com không hiểu vì sao viên tướng này lại giấu vợ con chuyện mình bị “trọng bệnh”, và nếu ai bị bệnh như tiểu đường, xơ cứng động mạch cũng tự sát thì thế giới này đã đầy xác chết…

Con một người bạn của tướng Brinh kể lại: “Trong lần cuối cùng từ Đông Dương về tới thăm cha tôi, Phrăng-xít Brinh bảo cha tôi rằng tình hình Việt Nam rất đáng lo ngại, và quan điểm của ông ta không được ưa chuộng… Ông ta cảm thấy cuộc sống của mình có thể bị đe dọa, do biết quá nhiều”.

Rây Bao-dơ viết: “Tướng Brinh là một quân nhân đúng nghĩa, ông ta hiểu rõ sự khác biệt giữa các quân lệnh hợp luật và không hợp luật… chắc là ông ta đã khăng khăng đưa các vụ việc, như buôn lậu thuốc phiện (dùng máy bay quân sự) và vũ khí Mỹ (mà người Pháp làm ở Đông Dương) ra Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng”. “Bảo vệ” Pháp lúc đó đồng nghĩa với thực hiện học thuyết Truman – “chống sự xâm lược trực tiếp và gián tiếp của cộng sản”.

Brinh chết, tướng Tô-mát Tráp-neo (Thomas Trapnell) sang nhậm chức đứng đầu MAAG, cổ động cho quan điểm tăng cường sự có mặt của Mỹ ở Đông Dương. Tiếp sau là những gì, thì cả thế giới đều biết.

Militarycoruption.com nói rõ hơn, cho rằng nếu tướng Brinh kịp tiết lộ những điều ông biết ra công luận Mỹ, “hẳn là cuộc thảm sát dài hạn dành cho nước Mỹ ở Việt Nam đã được ngăn chặn”.

Ai đó sẽ bảo rằng vẫn chỉ là những giả thuyết mà thôi. Nhưng công luận Mỹ vẫn tự hỏi[5] vì sao lại có những nỗ lực bất thường đến thế để gia cố những bức tường yên lặng đáng sợ bao quanh nấm mồ của tướng Brinh trong suốt sáu thập kỷ?

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

[1] http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Comm-Control/ch01.htm

[2]http://news.google.com/newspapers?nid=1915&dat=19520625&id=gewgAAAAIBAJ&sjid=PHIFAAAAIBAJ&pg=5135,3936073

[3]http://news.google.com/newspapers?nid=861&dat=19520625&id=NSocAAAAIBAJ&sjid=yVoEAAAAIBAJ&pg=6678,6459970

[4]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

[5]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

Công cuộc khai hoá giết người (1924)

Người da trắng khai hoá những người da đen như thế nào – Một vài sự việc mà những sách giáo khoa về lịch sử không nói đến.

Nếu lối hành hình theo kiểu Linsơ của những bọn người Mỹ hèn hạ đối với những người da đen là một hành động vô nhân đạo, thì tôi không còn biết gọi việc những người Âu nhân danh đi khai hoá mà giết hàng loạt những người dân châu Phi là cái gì nữa.

Từ ngày người da trắng đặt chân lên bờ biển lục địa của người da đen thì lục địa đó không lúc nào là không đẫm máu. ở đó, những cuộc tàn sát hàng loạt được Giáo hội cầu chúc phúc lành, được bọn vua chúa và nghị viện phê chuẩn một cách hợp pháp, được bọn buôn người da đen đủ mọi hạng – từ bọn buôn nô lệ xưa kia, cho đến bọn quan cai trị ngày nay ở thuộc địa – chǎm chú thi hành.

Tôn giáo

Chính là để gieo rắc những ơn lành của đạo Kitô, mà vào khoảng nǎm 1442, những tướng tá của đức vua Tây Ban Nha rất ngoan đạo đã đổ bộ lên bờ biển châu Phi. Việc truyền đạo của họ bắt đầu bằng những cuộc tàn sát. Theo lời những cuốn nhật ký hành trình của họ, thì: “… Và cuối cùng, Đức vua (là người vẫn hằng thưởng công huân những công cuộc làm rạng rỡ uy danh của Ngài), đã giúp cho những bầy tôi trung thành của Ngài chiến thắng được kẻ thù. Ngài đã ban danh vọng để đáp lại công lao của chúng ta, đã trả các khoản chi phí của chúng ta và nhờ Ngài chúng ta đã bắt được 165 người vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con, chưa kể một số đông bị giết và bị thương”.

Những kẻ đi chinh phục(1) ngoan đạo đó đã tạo thành một thứ thói tục.

Trong bản kê những của cải tịch thu được của những người Giêduýt (2) Braxin, nǎm 1768 thì ngoài những cây thập tự cứu thế và những đồ thờ khác ra, còn có những con dấu bằng sắt dùng để đánh dấu lên mặt người nô lệ.

Trong một thời gian dài, các hội “truyền bá đạo Kitô” của người Anh đã lấy việc buôn nô lệ làm nguồn lợi cho việc thờ phụng truyền giáo của họ.

Ngày 12 tháng 2 nǎm 1835, giáo hội độc lập của Giáo khu Crít Sớcsơ (Nam Carôlin) đã đǎng báo quảng cáo rằng giáo hội sắp đem bán một món hàng từ 10 nô lệ đã quen việc trồng bông. Thật người ta có thể kể ra không biết bao nhiêu sự việc như thế.

Những giáo hội ở Bắc Mỹ đều là những kẻ thù kiên quyết nhất chống việc xoá bỏ chế độ nô lệ.

Bọn vua chúa

Từ Sáclơ Canh cho đến Lêôpôn đệ nhị, vua Bỉ, từ bà Nữ hoàng đức hạnh của nước Anh là Êlidabét cho đến Napôlêông, tất cả cái bọn người ngồi trên ngai vàng ấy đều buôn bán người da đen. Tất cả bọn vua chúa đi chiếm thuộc địa đều đã ký những hiệp ước và đã cho phép độc quyền kinh doanh thịt người da đen.

“Ngày 27-8-1701, Đức vua Tây Ban Nha rất ngoan đạo, và Đức

vua Pháp rất ngoan đạo đã cho Công ty hoàng gia ở Ghinê được độc quyền trong 10 nǎm chở những người da đen trong các thuộc địa châu Mỹ… để nhân đó mà cả bọn vua tôi đều kiếm được những món lợi lớn…”.

“Đức vua Anh nhận trách nhiệm đưa vào đất Mỹ thuộc Tây Ban Nha 144.000 người da đen, cả nam lẫn nữ, đủ các lứa tuổi, với giá tiền mỗi đầu người là 33 đồng êquy và 1/3 đồng…”.

Bọn buôn người da đen

Nǎm 1824, một chiếc tàu buôn người da đen vừa lấy những người da đen từ bờ biển châu Phi để đưa đi Ǎngtiơ, thì bị một tuần dương hạm đuổi theo. Trong khi đuổi theo, người ta thấy có nhiều chiếc thùng trôi lềnh bềnh gần tuần dương hạm. Người ta tưởng rằng chiếc tàu buôn người da đen đã vứt bỏ những thùng nước xuống cho nhẹ bớt để dễ chạy trốn. Nhưng khi đã cặp sát được chiếc tàu rồi, thì người ta nghe thấy tiếng rên rỉ trong một chiếc thùng để trên boong tàu: mở ra thấy hai người đàn bà da đen gần bị chết ngạt. Té ra chiếc tàu buôn người da đen đã nghĩ được cách đó để cho nhẹ bớt tàu.

Một chiếc tàu Anh cứu được một chiếc tàu buôn người da đen bị đắm. Người ta cứu cả những người da đen lẫn thuỷ thủ trên tàu. Nhưng đến khi thấy thiếu lương thực, người ta liền quyết định hy sinh những người da đen. Người ta bắt họ sắp hàng trên boong tàu, rồi dùng hai khẩu súng lớn bắn họ một cách không thương xót gì cả.

Tình cảnh những người nô lệ

Những người da đen bị bắt đều bị buộc cổ, buộc tay, buộc chân với nhau, thành từng đôi một. Rồi người ta lại dùng một cái xích dài buộc thành từng chuỗi 20 hay 30 người một. Trói như thế rồi, người ta dong họ ra tận bến tàu. Người ta nhét họ chồng chất vào trong hầm tàu chật chội, tối om và nghẹt thở. Để “bảo đảm vệ sinh”, người ta dùng roi quật họ tới tấp như mưa để bắt họ phải nhảy nháo lên mỗi ngày vài lần. Để hòng được rộng chỗ, thường thường là, đàn ông bóp cổ lẫn nhau, và đàn bà thì dùng đinh đâm thủng trán những chị bên cạnh. Những người ốm bị coi là hàng hoá đã hư hỏng không bán được, bị quẳng xuống biển. Khi biển động, người ta ném người da đen xuống biển để cho nhẹ tàu. Nói chung khi tàu cặp bến thì một phần tư chuyến hàng da đen đã chết gục vì bệnh truyền nhiễm hay chết ngạt. Những người nô lệ còn sống sót bị đem đóng dấu và đánh số bằng sắt nung đỏ như súc vật vậy, người ta đếm họ bằng tấn, bằng “kiện” chứ không phải bằng đầu người. Thí dụ như Công ty Bồ Đào Nha ở Ghinê, nǎm 1700 đã ký một hợp đồng là sẽ cung cấp 11.000 “tấn” người da đen.

Hơn 15 triệu người da đen đã bị chở sang Mỹ trong những điều kiện như vậy, độ 3 triệu đã chết dọc đường hay bị ném xuống biển. Còn những kẻ vì chống cự hay nổi loạn mà bị giết thì không kể… Lối buôn bán nhơ nhuốc đó chấm dứt vào khoảng nǎm 1850 để nhường chỗ cho một hình thức nô lệ khác phổ biến hơn là: chế độ thực dân.

Chế độ thực dân

Những hiện tượng tàn khốc mà chúng tôi sắp kể ra đây, nếu không phải là đã được chứng minh bằng những tài liệu không thể chối cãi được, nếu không phải chính những người Âu kể lại, thì người ta khó mà tin được.

Một nhà buôn Pháp ở Mađagátxca thấy trong két bạc của hắn bị mất trộm, đã dùng điện tra tấn nhiều người bản xứ làm cho hắn mà hắn ngờ là đã lấy trộm. Sau đó ít lâu, người ta phát hiện ra rằng chính con hắn đã lấy.

Một viên quan cai trị thuộc địa đã bắt một chị người da đen đội một hòn đá lớn đứng suốt ngày ngoài nắng chang chang. Rồi hắn sai đem trói chị lại và sai đổ cao su nóng bỏng vào bộ phận sinh dục của chị.

Một tên thực dân nọ nổi giận vì không thể bắt hai người đầy tớ bản xứ của hắn làm công không, đã đem trói hai người đó vào cọc, giội dầu hoả lên và thiêu sống.

Những tên thực dân khác đem nhét mìn vào mồm hay hậu môn những người da đen và đốt cho nổ.

Một viên chức kia khoe là một mình hắn đã giết 150 người bản xứ, chặt 60 bàn tay, đóng trên cây thập tự rất nhiều đàn bà và trẻ con, và treo rất nhiều xác người đã bị vằm lên tường các làng mà hắn được trao cho cai trị. Một công ty khai khẩn đồn điền nọ đã làm chết 4.500 người lao động bản xứ tại riêng một đồn điền của nó.

Trường hợp ngoại lệ, cá biệt ư? Không phải. Đó là tục lệ của họ. Nhưng chúng ta hãy kể một vài tội ác giết người hàng loạt mà người ta không thể đổ tại bản tính dã man của một vài cá nhân nào cả, nhưng là những tội ác mà toàn bộ chế độ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

Một nhà vǎn Pháp kể lại: “Trong xứ Angiêri của chúng ta ở sát bãi sa mạc, tôi đã thấy như sau: Một hôm, binh lính bắt những người Arập chẳng mắc tội tình gì ngoài cái tội đã trốn tránh sự tàn bạo của những kẻ đã chinh phục họ. Viên quan nǎm ra lệnh đem giết ngay không cần điều tra, xét xử gì cả. Và đây là điều đã xảy ra… Họ bị bắt tất cả là 30 người. Người ta đào 30 hố ở bãi cát rồi đem chôn họ xuống đến cổ, trần truồng, đầu cạo trọc, dưới trời nắng giữa trưa. Để giữ cho họ không chết ngay, thỉnh thoảng người ta lại đem nước tưới như tưới cải bắp… Nửa giờ sau, mi mắt họ sưng húp lên, con mắt lòi ra. Lưỡi sưng vù lên đầy cả cái miệng mở há hốc trông thật khủng khiếp… rồi da nứt ra, trán thì vàng lên như thịt lợn quay…”.

Một bộ tộc ở Bǎngghi không thể cung cấp được đủ số cao su cho đồn điền. Đồn điền này muốn buộc họ phải nộp cho đủ số thiếu, liền bắt 58 phụ nữ và 10 trẻ em giữ làm con tin. Những con tin này bị nhốt vào chỗ thiếu không khí, thiếu ánh sáng, thiếu ǎn và ngay cả nước uống cũng thiếu nữa. Thỉnh thoảng người ta lại đến đánh đập họ. Theo bọn thực dân nói thì tiếng kêu la của họ dùng để thôi thúc công việc. Sau ba tuần chịu đau đớn khốc liệt, 58 phụ nữ và 2 trẻ em chết.

Nǎm đó hạn hán. Mùa màng mất cả. Toàn vùng đó ở châu Phi bị khốn khổ. Người ta phải ǎn cỏ và rễ cây. Các cụ già chết vì đói lả. Thế mà chính phủ khai hoá vẫn cứ bắt phải nộp thuế. Những người dân đang bị hạn hán bỏ lại cho chính phủ ruộng đất, vườn tược, nhà cửa và trốn vào núi. Viên quan cai trị đưa chó sǎn và lính vào truy nã và tìm thấy họ trong một cái hang. Người ta bèn hun cho họ chết.

Nǎm 1895, người Anh đã tàn sát 3.000 người Matabêlê (1) nổi loạn đã ra đầu hàng họ.

Từ 1901 đến 1906, người Đức ít ra cũng đã tàn sát đến 15.000 dân Hererô ở Tây Phi.

Nǎm 1911, người ý, trong có 3 ngày mà đã biến ngoại ô Masiya thành lò sát sinh, 4.000 người bản xứ bị giết ở đó.

Những cuộc tàn sát đại quy mô đó được nêu lên thành nguyên tắc chính trị. Đó là chính sách giết sạch. Một chính phủ ở Cáp đã tuyên bố: “Nếu người bản xứ mà đi vào con đường không tuân lệnh và nổi loạn, thì họ sẽ bị thẳng tay quét sạch khỏi nước họ, và sẽ có những dân tộc khác đến thay thế họ”.

Ngày nay, 10 nǎm sau cuộc chiến tranh đòi “quyền dân tộc tự quyết”, thì người Tây Ban Nha và người Pháp vẫn tiếp tục cuộc xâm chiếm đẫm máu nước Marốc, dưới con mắt bao che của những kẻ tai to mặt lớn ở Hội quốc liên (54)

Lịch sử việc người Âu xâm chiếm châu Phi – cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào – thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người bản xứ.

Sau những cuộc tàn sát thẳng tay thì chính những chế độ lao

dịch, khuân vác, lao động khổ sai, rượu cồn, bệnh giang mai tiếp tục hoàn thành công cuộc tàn phá của sự nghiệp khai hoá. Kết quả tất nhiên của chế độ ghê tởm đó là sự tiêu diệt giống da đen.

Kể ra thì thêm vào những sự việc đó một vài con số, cũng tốt, nhưng cũng thật là đau đớn. Người ta sẽ thấy rằng một vài tên thực dân giàu có lên nhanh chóng thì cũng đúng vào lúc dân số những miền bị bóc lột giảm bớt đi không phải là không nhanh chóng. Từ 1783 đến 1793, Công ty Livécpôn đã kiếm được chừng 1.117.700 bảng bằng cách buôn bán nô lệ. Cũng trong thời gian đó, dân số trong vùng công ty đó đặt chân đến, đã mất đi 304.000 người. Trong 9 nǎm, vua Lêôpôn Đệ nhị đã bóc lột xứ Cônggô được 3.179.120 bảng.

Nǎm 1908, dân số xứ Cônggô thuộc Bỉ là 20 triệu, đến nǎm 1911, chỉ còn có 8.500.000 thôi. Trong xứ Cônggô thuộc Pháp, những bộ tộc gồm có 40.000 người mà trong 2 nǎm chỉ còn lại có 20.000 người, nhiều bộ tộc khác không còn lấy một người.

Nǎm 1904, dân số Hôtentô là 20.000 người, chỉ trong 7 nǎm bị đô hộ, còn lại có 9.700 người.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 69, nǎm 1924.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

54. Hội quốc liên: Tổ chức quốc tế, thành lập năm 1919 và tồn tại trong thời gian giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, với mục đích thực hiện những cam kết ký tại Hội nghị Hòa bình Pari (1919). Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích đấu tranh cho hoà bình, chống chiến tranh. Tuy nhiên, trong thực tế, Hội quốc liên đã dung túng cho các thế lực đế quốc, cổ vũ chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh thế giới. Tr.326.

Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc (24-9-1924) ‘1’

Những sự biến ở Trung Quốc có hai mặt: sự xung đột giữa các tướng lĩnh Trung Quốc và sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài. Chính mặt sau này làm cho chúng ta quan tâm hơn cả, vì nó quyết định cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt có thể đưa lại những hậu quả nghiêm trọng nhất.

Hãy thử tóm tắt lịch trình những cuộc can thiệp của nước ngoài trong quá khứ để tìm ra nguyên nhân thực tế, lý do chính của sự can thiệp hiện tại.

Một số ngày tháng

1635, vua Anh gửi thư yêu cầu cho phép buôn bán ở Trung Quốc.

1830, đại sứ Anh yêu cầu cho phép nhập khẩu thuốc phiện vào Trung Quốc. Yêu cầu bị Trung Quốc bác bỏ.

1836, người Anh nhập khẩu 20.280 hòm thuốc phiện lậu vào Trung Quốc.

1839, nước Anh tuyên chiến với Trung Quốc để bắt buộc nước này phải nhận thuốc phiện.

1841, Hương Cảng bị chiếm đoạt, Trung Quốc phải bồi thường 21.000.000 đồng đôla chiến phí, trong đó 6.000.000 đồng là đền vào giá trị số thuốc phiện bị phá huỷ.

1856, nước Anh gây ra một cuộc chiến tranh mới để buộc Trung Quốc phải hợp pháp hoá việc bán thuốc phiện và mở cửa biển cho nước ngoài vào buôn bán.

1860, quân đội Anh – Pháp chiếm Bắc Kinh. Nhượng bộ: Anh – Pháp được chiếm đóng đảo Víchtôria. Bồi thường: 800 triệu lượng (1) cho Pháp và 10 triệu bảng cho Anh.

1874, Nhật Bản tấn công Trung Quốc. Nhượng bộ: bãi bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan, và đảo này thành thuộc địa của Nhật. Bồi thường: 50 triệu lượng.

1876, chiến tranh với Nga. Nhượng bộ: lãnh thổ bị chiếm đóng. Bồi thường: 900 triệu rúp.

1878, lại xung đột với Anh. Nhượng bộ: thừa nhận trị ngoại pháp quyền. Bồi thường: 20 triệu lượng.

1885, Pháp tấn công. Nhượng bộ: bãi bỏ chủ quyền Trung Quốc ở An Nam , nước này bị Pháp chiếm làm thuộc địa.

1895, Nhật tấn công. Nhượng bộ: Trung Quốc hết chủ quyền ở Triều Tiên. Nước này bị Nhật chiếm làm thuộc địa. Bồi thường: 20 triệu lượng.

1895, Nga, Pháp và Đức cùng tấn công. Nhượng bộ: thừa nhận quyền xây dựng đường sắt. Bồi thường: 3 tỷ lượng.

1897, Đức xâm lược. Kiều Châu bị chiếm đóng, phải thừa nhận quyền khai thác hầm mỏ.

1897, Nga xâm lược. Cửa Lữ Thuận bị chiếm.

1897, Anh xâm lược. Hải Xâm Uy bị chiếm đóng.

1898, Pháp xâm lược. Thừa nhận quyền thiết lập đường điện tín ở Hoa Nam.

1900, Can thiệp vũ trang của Anh, Nga, Đức, Pháp, Mỹ, ý, áo và Nhật (Cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn (52) ). Quân

đội nước ngoài đóng ở Bắc Kinh và ở các cửa biển quan trọng. Bồi thường: 450 triệu lượng.

Từ khi nổ ra cuộc chiến tranh thế giới, bọn đế quốc chủ nghĩa thay thế việc ǎn cướp công khai và vũ trang bằng việc ǎn cướp che đậy và ngoại giao. Chúng thông qua những cuộc hội nghị, lặng lẽ cướp bóc Trung Quốc đang ở trong tình trạng chia rẽ và bị bó tay trước bọn chúng.

1919, Hiệp ước Vécxây chuyển giao tất cả những tô giới của Đức ở Trung Quốc cho Nhật, mặc dầu chính Trung Quốc cũng là một nước đồng minh.

1922, Hội nghị Oasinhtơn thông qua việc các nước Anh, Pháp, Mỹ và Nhật nắm lấy các khoản thu nhập ở Trung Quốc và nắm các độc quyền về rượu, muối, v.v..

1923, Thông điệp của các đại sứ đòi cho Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, và Bỉ quyền quản lý các đường sắt Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1924, hạm đội của các cường quốc nói trên thao diễn trước Quảng Châu.

TìNH HìNH TRUNG QUốC

Chúng ta đã thấy rằng, dưới nhiều lý do khác nhau và bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, các nước tư bản chủ nghĩa can thiệp vào Trung Quốc trước sau cũng vẫn chỉ nhằm đi tới một kết quả là bắt nhượng đất và lấy tiền bồi thường.

Bây giờ hãy nhìn qua tình hình kinh tế và tài chính của cái nước lớn ấy, nước có một nền vǎn minh lâu đời và hiện đang là đối tượng dòm ngó của bọn chúng.

Từ nǎm 1895, Trung Quốc đã ký kết 16 hiệp ước vay mượn, mà tổng số lên đến:

902.000.000 phrǎng,

61.500.000 bảng Anh,

64.368.000 đôla,

115.000.000 yên,

1.763.000 cuaron Hà Lan.

Thuế quan, thuế chợ, tiền thu về đường sắt, lợi tức về công nghiệp, thuế rượu và thuế thuốc lá, tiền thu về bưu điện và ngân khố quốc gia, thuế muối, v.v. đều phải đem ra bảo đảm cho cái khoản vay mượn ấy.

Nhìn vào bản đồ Trung Quốc, ta thấy rằng hầu hết các hải cảng quan trọng, hầu hết các vị trí chiến lược, hầu hết các trung tâm sản xuất hiện đại đều bị nước ngoài chiếm đóng. Song bản đồ vẫn chưa nói được hết. Bản đồ vẫn chưa chỉ rõ được ảnh hưởng của tư bản nước ngoài lan rộng tới đâu, cũng chưa chỉ rõ được tầm đại bác của bọn đánh thuê của nước ngoài có thể bắn tới tận đâu.

Việc biến Trung Quốc Thành thuộc địa

Mặc dầu Trung Quốc rất suy nhược, mặc dầu nội bộ Trung Quốc bị chia rẽ, nhưng dẫu sao con số 11.139.000 km (2) của nó cũng vẫn là một miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một cái được. Và không thể trong một ngày mà đẩy một cách tàn bạo 489.500.000 người Trung Quốc vào xiềng xích của chế độ nô lệ thuộc địa. Cho nên người ta cắt vụn Trung Quốc ra: cách này chậm hơn nhưng khôn hơn.

Một nguyên nhân khác làm chậm việc biến Trung Quốc thành một thuộc địa có tính chất quốc tế là sự tranh giành giữa các nước đế quốc chủ nghĩa.

Nước Pháp đã chiếm được Đông Dương, muốn xâm lược miền Nam Trung Quốc. Việc xây dựng tốn kém con đường sắt Bắc Kỳ – Vân Nam phủ là một bằng chứng về điều đó.

Nước Anh hiện chiếm được Hương Cảng, ít nhất lúc này cũng tạm vui lòng với lối nô dịch kinh tế, nó đã kiểm soát được hầu hết tất cả các nguồn sản xuất; vậy thì ích gì mà phải lúng túng về việc đóng quân trên một lãnh thổ vô cùng rộng lớn nữa? Nhưng không đời nào Anh lại chịu để cho Pháp trở thành một cường quốc thực dân thật sự ở châu á. Và bởi vì ấn Độ đã thức tỉnh đang bắt đầu gạt bỏ ách áp bức kinh tế của nước Anh, cho nên bọn hám lợi nước Anh phải tìm cách vớt bù lại ở Trung Quốc. Nước Nhật quá đông dân vẫn lǎm le chiếm lấy vài tỉnh của Trung Quốc, nhưng khi nào Mỹ lại chịu để như thế, vì nó sẽ là một mối nguy cho Mỹ. Đối với Mỹ, Trung Quốc là một thị trường và có thể là một đồng minh trong một cuộc xung đột với Nhật Bản.

Ý nghĩa của một cuộc can thiệp hiện nay

Trong một cuộc can thiệp hiện nay, bọn đế quốc nhằm hai mục đích. Trước hết, giành thêm những nhượng bộ mới, sau nữa – và tôi cho rằng đây là điều chủ yếu – lật đổ Tôn Dật Tiên. Chúng ta biết rằng các chính phủ lên thay nhau ở Bắc Kinh luôn luôn vẫn thực hiện có một chính sách là: bên trong thì chính sách hủ bại, bên ngoài thì khuất phục trước bọn đế quốc chủ nghĩa nước ngoài.

Trái lại, Tôn Dật Tiên, “người cha của cách mạng Trung Quốc”, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu, thì luôn luôn trung thành với những nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khǎn nhất. Cương lĩnh của đảng ông – Quốc dân đảng – là một cương lĩnh cải cách. Cương lĩnh đó gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt. Đảng đó lớn tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và với giai cấp vô sản quốc tế. Đảng đó đồng tình với Cách mạng Nga: Thật là một tội lỗi không thể tha thứ được! Chủ nghĩa đế quốc Pháp, kẻ áp bức nhân dân Đông Dương, đang lo ngại về ông bạn láng giềng khó chịu ấy, vì những tư tưởng phá hoại của ông láng giềng cũng có thể xuyên qua biên giới và thâm nhập vào những người nô lệ An Nam của họ. Trung Quốc có biên giới chung với ấn Độ và Triều Tiên. Một nước Trung Hoa thống nhất, tự do và hùng mạnh sẽ là màn giáo đầu của một nước Triều Tiên độc lập và một nước ấn Độ giải phóng. Đế quốc Anh và đế quốc Nhật không thể không lo ngại về điều đó. Nguy cơ tuy còn xa, nhưng suy theo tính chất rộng lớn ấy, thì cũng đã là một mối nguy cơ thực tế rồi.

Chính vì thế mà ngày nay người ta đang tìm cách thanh toán Tôn Dật Tiên và đảng của ông, cũng như trước đây người ta đã tìm cách bóp chết nước Nga cách mạng vậy.

Những khả năng của một cuộc can thiệp vũ trang

Các cường quốc đế quốc chủ nghĩa theo nhau gửi tối hậu thư. Người ta huy động các hạm đội trên mặt biển Trung Quốc. Người ta tập trung tàu chiến vào cửa bể Thượng Hải và cửa sông Dương Tử. Có lẽ sẽ có một cuộc can thiệp trực tiếp chǎng? Điều đó không chắc chắn lắm. Trong cái âm mưu mới chống lại nhân dân Trung Quốc này, Anh nắm vai trò lãnh đạo. Mácđônan sẽ không dám liều lĩnh tiến hành một cuộc can thiệp ra mặt. Ông ta đành chỉ sẽ ra sức giúp cho những kẻ thù của Tôn Dật Tiên, và cái sách lược cổ truyền của chính sách nước Anh lại được tiếp tục thực hiện chờ đợi tình trạng đục nước béo cò.

Những hậu quả của việc can thiệp

Chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích luỹ. Kế hoạch của các nhà chuyên môn đang tổ chức việc nô dịch công nhân nước Đức. Ngoại giao đầy tính chất can thiệp – ngoại giao của các tuần dương hạm, như Tôn Dật Tiên nói – đang chuẩn bị nô dịch những người lao động da vàng. Việc nô dịch hoàn toàn giai cấp vô sản Đức chắc chắn sẽ dẫn tới việc nô dịch giai cấp vô sản châu Mỹ và châu Âu. Kế hoạch Đaoxơ (53) là một sự tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân. Việc biến Trung Quốc thành thuộc địa sẽ khiến cho chủ nghĩa tư bản kiếm được nhân công hết sức rẻ mạt, sẽ hạ thấp tiền lương ở châu Âu và châu Mỹ, sẽ củng cố thế lực tư bản. Việc can thiệp vào Trung Quốc là một cuộc tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 67, ngày 24-9-1924.
cpv.org.vn

——————————

1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp. Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước

53) Kế hoạch Đaoxơ: Kế hoạch bắt nước Đức bồi thường chiến tranh cho các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Kế hoạch này do Đaoxơ, giám đốc một ngân hàng lớn của Mỹ, lãnh đạo việc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị đại biểu các nước thắng trận họp ở Luân Đôn năm 1924. Mục đích chủ yếu của kế hoạch này là dọn đường cho tư bản nước ngoài, trước hết là Mỹ, đầu tư vào nước Đức, đẩy mạnh việc khôi phục tiềm lực công nghiệp quân sự của chủ nghĩa đế quốc Đức nhằm hướng nước Đức vào con đường chiến tranh chống Liên Xô, đồng thời tăng cường chính sách bóc lột, áp bức và đàn áp phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân nước Đức.

Dự luật đi ngược lại lợi ích của Việt Nam – Hoa Kỳ

QĐND – Dựa trên thể chế “Tam quyền phân lập”, nhánh Lập pháp – Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ thường ra các đạo luật nhằm hạn chế quyền của nhánh Hành pháp. “Dự luật nhân quyền Việt Nam 2012, H.R. 1410”, được Hạ viện thông qua chiều 11-9-2012, nhằm đưa ra hạn chế đối với chính phủ Hoa Kỳ dựa trên những quy định về nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam.

Dự luật này không cho phép Chính phủ Mỹ được viện trợ trên các lĩnh vực khác – “không có mục đích nhân đạo” cho Việt Nam, “nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Mỹ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền…”. Đồng thời Dự luật còn đòi hỏi “Việt Nam phải đưa ra được những tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện luật pháp để ngăn chặn việc hình sự hóa các hoạt động dân chủ”. Mặt khác Ngoại trưởng Mỹ sẽ phải định kỳ báo cáo lên Hạ viện về “tiến trình cải thiện nhân quyền ở Việt Nam” v.v và v.v…

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Dự luật này phải trải qua các thủ tục cơ bản sau: Sau khi “Dự luật” được Hạ viện thông qua, Văn kiện này còn phải được được đệ trình lên Thượng viện. Nếu được Thượng viện thông qua thì bước tiếp theo phải được Tổng thống phê chuẩn Dự luật mới có hiệu lực pháp lý.

Còn nhớ ngày 8-2-2012, Tiểu ban về châu Phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền của Hạ viện Mỹ đã thông qua cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012) do ông Crít Xmít (Chris Smith), nghị sĩ Đảng Cộng hòa, tiểu bang Niu Giơ-xi, Chủ tịch tiểu Ban bảo trợ. Trước đó vào ngày 25-1-2012, ông Crít Xmít đã có buổi điều trần về Dự luật này. Tại buổi điều trần, “nhân chứng” Vũ Phương Anh, được giới thiệu là “nạn nhân” buôn người, với chứng cứ là Phương Anh “bị (Chính phủ Việt Nam) đưa đến một công xưởng ở Gioóc-đa-ni – nơi mà theo bà ta nói, phải làm việc cả ngày lẫn đêm với tiền công ít ỏi”(!).

Trong buổi điều trần, ông Crít Xmít còn nói “Chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm tệ hại nhân quyền. Lời khai mà người ta nghe được đã xác nhận rằng, việc truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc tiếp diễn và trong nhiều trường hợp còn tăng nhiều thêm, và rằng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đón nhận những kẻ chuyên buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”. Rồi ông ta răn đe: “Cần phải cho thấy, Hoa Kỳ gửi một thông điệp minh bạch tới chế độ Việt Nam rằng, họ phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”(!).

Trên đây là nội dung, cái cớ, chỗ dựa của cái gọi là “Dự luật nhân quyền 2012, số hiệu H.R.1410″ mà Hạ viện Hoa Kỳ mới thông qua. Có thể nói đây là một quyết định thiếu sáng suốt, hơn nữa còn đi ngược lại lợi ích của Việt Nam – Hoa Kỳ.

Trước hết, Dự luật này đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế đương đại. Điều này đã được Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận. Hơn nữa tại Điều I của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), đã quy định rõ: “Các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị…” của mình. Việc xây dựng và thực thi Hiến pháp, pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia – dân tộc, mà không có bất cứ quốc gia nào, một lực lượng chính trị nào có quyền áp đặt, kể cả Liên hợp quốc.

Nhân đây phải nói thêm rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có tội danh về tôn giáo cũng như tội danh về bất đồng chính kiến, chỉ có các tội danh về lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tội danh về lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí để chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nói cách khác ở Việt Nam không có ai bị tù vì lý do theo tôn giáo này hay tôn giáo khác, hoặc vì thực hiện các quyền tự do ngôn luận, báo chí không trái với các quy định của pháp luật.

Trở lại với Dự luật nói trên, chỉ căn cứ vào lời khai “mà người ta nghe được” để khẳng định rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “truy bức tôn giáo”, “chính trị và sắc tộc” thậm chí là còn là thủ phạm của việc “buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”… để đánh giá về tình hình nhân quyền của một quốc gia… là một nhận xét hồ đồ, là những định kiến lỗi thời của một cá nhân nào đó. Thế nhưng, đáng tiếc với sự dẫn dắt của ông Crít Xmít, Hạ viện Hoa Kỳ dường như đã xác nhận những điều trên.

Thứ hai, trong quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, Dự luật này đang đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia. Như các phương tiện truyền thông đã đăng tải, ngày 10-11-2011, tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19, tổ chức tại Ha-oai (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ H. Clin-tơn (H. Clinton). Tại cuộc trao đổi trên, bà Ngoại trưởng nói rằng: “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”.

Gần đây, Oa-sinh-tơn triển khai mạnh mẽ chiến lược châu Á – Thái Bình Dương. Điều đó có nghĩa việc tìm kiếm, phát triển các quan hệ thân thiện với các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, đồng thời giảm thiểu những mâu thuẫn, khác biệt giữa Hoa Kỳ với các quốc gia trong khu vực về chính trị nói chung, về nhân quyền nói riêng là lợi ích của các bên và của chính Hoa Kỳ. Dự luật nhân quyền 2012, H.R.1410 đang đi ngược lại những yêu cầu đó.

Như vậy, có thể nói “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012- H.R. 1410” đã không vì lợi ích của hai quốc gia, không đóng góp gì cho sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, trái lại đó là vật cản trở, phá hoại sự phát triển quan hệ giữa hai quốc gia, hơn nữa nó đi ngược lại những nỗ lực của Hoa Kỳ trong xây dựng lòng tin với các nước tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Phương Nhi
qdnd.vn

Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (tiếp theo và hết)

Bài 3: Binh đoàn “dời non, lấp biển”

QĐND – Chuyện cả một binh đoàn của quân đội đã được điều sang ngành dầu khí để xây dựng căn cứ dịch vụ tổng hợp trên bờ cho liên doanh Vietsovpetro đã trở thành như một huyền thoại trong lịch sử ngành dầu khí. Những con người làm nên huyền thoại ấy hiện nay đang ở đâu?

Cuộc chuyển binh rầm rộ

Sau khi Binh đoàn 318 Dầu khí giải thể, đáng tiếc là ban liên lạc của Binh đoàn chưa được thành lập, nên để tìm được những nhân chứng, tôi đã mất khá nhiều thời gian để liên hệ, tìm kiếm. Phải khó khăn lắm tôi mới tìm được Đại tá Trương Trí Công, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị của Binh đoàn. Chúng tôi cũng đã vào Vũng Tàu để gặp các ông Bùi Xuân Chung, Đào Văn Tự, Phạm Hữu Chức – các cán bộ của Binh đoàn 318 năm xưa và ông Đỗ Trích – nguyên cán bộ của Tổng cục Xây dựng Kinh tế – Bộ Quốc phòng được điều xuống Vũng Tàu giám sát theo dõi việc xây dựng công trình dầu khí do quân đội thực hiện.

Qua câu chuyện của các ông, tôi được biết, sau giải phóng, Vũng Tàu chỉ còn là một vùng đất khá hoang vắng, với những bãi sú vẹt bao quanh rộng hàng trăm héc-ta và hàng chục ngôi biệt thự của Mỹ – ngụy bỏ hoang. Đường vào Vũng Tàu là con lộ 51 ngoằn ngoèo, rộng có 4m, hai bên đường là cỏ lau lút đầu người. Nhưng bằng nhãn quan chiến lược tinh tường, các lãnh đạo của ngành dầu khí khi đó đã chọn Vũng Tàu là địa điểm để xây dựng căn cứ trên bờ của ngành dầu khí. Ngắm nhìn địa thế vùng đất này, Bộ trưởng Đinh Đức Thiện khoanh một vòng tròn lớn trên bản đồ, đánh dấu nơi dự tính sẽ đặt căn cứ. Chỗ đó trên thực địa là một rừng sú vẹt và đầm lầy rộng mênh mông. Nhìn hiện trạng đó, chưa ai hình dung ra bằng cách nào, bằng phương tiện nào, nhất là lực lượng nào để có thể giải phóng mặt bằng rộng lớn và phức tạp ấy. Các công ty bên dân sự chào thua vì không đủ nhân lực và máy móc. Trên quyết định huy động quân đội gánh vác nhiệm vụ gian nan này.

Đồng chí Đỗ Mười đến thăm Binh đoàn 318 Dầu khí Tết Nguyên đán 1982. Ảnh tư liệu.

Thế là một cuộc chuyển quân rầm rộ lập tức được thực hiện. Sư đoàn 318 của Quân khu 4, đang ở Nghệ An thì được lệnh chuyển vào Vũng Tàu để xây dựng căn cứ dầu khí. Sư đoàn 336 đang làm nhiệm vụ ở bên nước bạn Lào cũng được lệnh chuyển về. Tương tự, Trung đoàn 526 (trung đoàn vận tải trực thuộc Bộ Quốc phòng), Trung đoàn 693 (tiền thân là Trung đoàn 4 Công an nhân dân vũ trang – nay là Bộ đội Biên phòng) ở Tây Ninh giáp biên giới với Cam-pu-chia, Bệnh viện 264 (cấp trung đoàn) và một số tiểu đoàn độc lập nữa như: Tiểu đoàn công binh, thông tin… cũng lần lượt được điều về Vũng Tàu. Tất cả các đơn vị nói trên hợp lại dưới một cái tên mới: Binh đoàn 318 Dầu khí (gọi tắt là Binh đoàn 318). Bộ Quốc phòng quản lý quân số, con người, còn nghiệp vụ thì do Tổng cục Dầu khí chỉ đạo. Binh đoàn 318 Dầu khí có vị trí và quyền hạn như một quân đoàn. Nói về quân số của Binh đoàn 318 Dầu khí, các nhân chứng chưa đưa ra con số thống nhất. Có ý kiến nói hơn một vạn quân, có ý kiến nói 2 vạn quân.

Bộ tư lệnh Binh đoàn này gồm: Tư lệnh là Đại tá Nguyễn Cận. Chính ủy là Đại tá Trần Nguyên Độ (sau đó ông Trần Nguyên Độ được phong Thiếu tướng, Tư lệnh kiêm Chính ủy). Phó tư lệnh là: Đại tá Nguyễn Cư, Đại tá Trương Chí Công. Tên giao dịch với bên ngoài của Binh đoàn 318 Dầu khí là: Xí nghiệp Liên hiệp Xây lắp Dầu khí. Cái tên này theo ông Trương Trí Công là có từ quyết định của Tổng cục Dầu khí từ năm 1979. Tư lệnh của Binh đoàn đồng thời là Tổng giám đốc, Phó tư lệnh là Phó tổng giám đốc.

Nhiệm vụ của con cháu Sơn Tinh

Mùa hè năm 1979, các đơn vị của Binh đoàn 318 Dầu khí bắt đầu về đóng ở Vũng Tàu để tiếp quản toàn bộ phần đất mà các đơn vị quân đội trước đây chuyển lại cho Binh đoàn. “Lúc ấy, bộ đội về tràn ngập thị xã Vũng Tàu. Thậm chí có cảm giác, quân còn đông hơn cả dân, đi đâu cũng thấy bộ đội”, ông Đào Văn Tự nhớ lại.

Lúc đó, đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo vừa được thành lập. Ngoài nhiệm vụ xây dựng các công trình dầu khí ở Vũng Tàu, Binh đoàn 318 Dầu khí còn xây dựng các công trình quốc phòng khác, đồng thời thực hiện sửa chữa và mở rộng sân bay Cỏ Ống ở Côn Đảo.

Lúc đó, Vũng Tàu chưa có mỏ đá, mà đại công trường cần rất nhiều đá. Binh đoàn 318 liền xây dựng mỏ đá ở hai xã An Ngãi và Phước Tỉnh của huyện Long Đất (nay là huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Mỏ đá ấy tồn tại suốt từ năm 1980 cho đến năm 1993 mới dừng, nó đã góp phần xây dựng cả thành phố Vũng Tàu.

Bộ đội lao động rất vất vả, ăn uống kham khổ, tuy đã được ưu tiên do lao động nặng. Mỗi người được cấp 18kg lương thực/tháng (sau tăng lên thành 21kg), nhưng chủ yếu là gạo cũ, sắn khô và bo bo. Thịt thì tiêu chuẩn mỗi người được 3 lạng/tháng. Từ cán bộ chỉ huy cho tới chiến sĩ đều ăn chung trong bếp tập thể.

Lưng trần trong sình lầy

Vì thời đó, Binh đoàn 318 Dầu khí là các đơn vị chiến đấu mới chuyển sang, chưa hề được cấp các công cụ của một đơn vị làm nhiệm vụ xây dựng, chủ yếu vẫn chỉ là các trang bị cá nhân của chiến sĩ làm nhiệm vụ chiến đấu bao gồm: Xẻng ngắn, cuốc chim, rồi mỗi tiểu đội thì có một chiếc xà beng, một hai chiếc búa… những công cụ để người lính đào hầm, đào hào.

Từ trái sang là các ông Đỗ Trích, Bùi Xuân Chung, Đào Văn Tự, Phạm Hữu Chức (các cán bộ Binh đoàn 318 Dầu khí) đến thăm cảng dịch vụ dầu khí tại Vũng Tàu – nơi trước đây họ đã góp sức xây dựng. Ảnh: Quang Phương.

Ông Phạm Hữu Chức nguyên là Thiếu tá, Phó chính ủy Trung đoàn 693 nhớ lại, lúc đó những người làm công tác tư tưởng như ông phải luôn xuống từng trung đội để động viên cán bộ, chiến sĩ vượt qua khó khăn. Ông thường nói với anh em: “Công việc vất vả ngày hôm nay là để góp phần chiến thắng nghèo đói, xây dựng đất nước ngày mai đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, vì thế các đồng chí phải nỗ lực vượt qua khó khăn”. Ý chí đã giúp người lính vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời chiến, lại một lần nữa là điểm tựa để họ vượt qua những gian khổ lúc dựng xây đất nước… Về sau, công trường của Binh đoàn 318 Dầu khí mới được cấp một số trang bị tân tiến, phương tiện vận tải cũng đầy đủ hơn. Trong đó, công nghệ búa máy đóng cọc do Liên Xô viện trợ lần đầu tiên được đưa vào sử dụng.

Ở bến cảng lúc đó được xác định là có vòng xoáy của sông Dinh tạo thành túi bùn. Nhưng không ai có thể ngờ túi bùn ấy lại lớn đến thế và có tác hại ghê gớm thế. Nhiều chỗ bùn lầy quá sâu, lúc làm móng phải nối cọc thì mới đủ độ dài cần thiết. Vào mùa mưa dông, có khi mưa xối xả đến mấy ngày, cát dưới đáy biển vận động mạnh, hàng cọc đã đóng xuống bị sức mạnh của thiên nhiên xô lệch hẳn, rồi đất lún khủng khiếp, bao nhiêu đất đổ xuống cũng bị hao hụt dần, thế là lại công dã tràng. Những người chiến sĩ nhìn công trình mất bao mồ hôi, công sức, nay bị hủy hoại mà lòng đau nhói. Sau đó, bằng các biện pháp kỹ thuật, binh đoàn đã khắc phục được các khó khăn, như vậy việc san nền mới xong.

Đến cuối năm 1983, bãi sú vẹt đã được dọn sạch, một phần của cảng cũng đã hoàn tất việc san lấp mặt bằng. Trước yêu cầu của tình hình mới, tháng 11-1983, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký quyết định thành lập Liên hiệp Xây lắp Dầu khí trên cơ sở các đơn vị của Binh đoàn 318 Dầu khí. Binh đoàn 318 Dầu khí giải thể. Cán bộ, chiến sĩ của đơn vị được tham khảo nguyện vọng: Một là nếu tình nguyện thì ở lại làm tại Liên hiệp Xây lắp Dầu khí. Nếu không, Bộ Quốc phòng cho chuyển về quân đội làm công tác khác…

Trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam hiện nay có hơn 4.300 người là cựu chiến binh và cựu quân nhân. Vì thế, cái chất bộ đội trong ngành dầu khí vẫn còn rất đậm. Mỗi khi gặp gian khó, thử thách, cái chất bộ đội mới thể hiện rõ nhất giá trị của mình. Bao hàm trong cái chất ấy chính là tinh thần đoàn kết, tính kỷ luật, chịu khó, chịu khổ, sáng tạo, quyết đoán, can trường, sẵn sàng hy sinh cái riêng vì mục tiêu chung… Công cuộc dựng xây ngành dầu khí vẫn đang được tiếp nối bởi những thế hệ ngày nay. Những người chiến sĩ vẫn đang ngày đêm xây dựng, bảo vệ ngành công nghiệp dầu khí, bảo vệ chủ quyền, thềm lục địa, bảo vệ tài nguyên và nguồn lực phát triển cho đất nước không chỉ cho thế hệ này mà cho cả các thế hệ mai sau.

———-

Bài 1: “Tổng động viên” cho ngành dầu khí

Bài 2: Chuyện người dầu khí… làm nông dân

HỒ QUANG PHƯƠNG
qdnd.vn

Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (Bài 2)

Bài 2: Chuyện người dầu khí… làm nông dân

QĐND – Chuyện nghe thật khó tin, ấy thế mà hoàn toàn là sự thật. Cái thời đất nước vừa trải qua chiến tranh, khó khăn, thiếu thốn, cái thời “gạo châu, củi quế” – nghĩa là những thứ bình dị, những mặt hàng thiết yếu cho đời sống nhất cũng trở nên khó kiếm đến mức quý hiếm – thì người dầu khí đã phải làm những công việc của những bác nông dân “một nắng, hai sương”.

Trung tá đi cấy lúa

Hồi ấy, ngành dầu khí trong thời kỳ sơ khởi vất vả, gian nan. Vì thế phong trào tăng gia sản xuất, tự bổ sung thêm lương thực, thực phẩm diễn ra ở nhiều đơn vị trong ngành. Để cải thiện đời sống cho cán bộ, người lao động, Tổng cục Dầu khí quyết định thành lập một công ty đời sống, chuyên lo việc trồng trọt, chăn nuôi, tìm các nguồn lương thực, thực phẩm để cung ứng cho cán bộ, công nhân viên và gia đình có con em công tác trong ngành dầu khí.

Bộ trưởng Đinh Đức Thiện luôn lưu ý để “xin” những cán bộ quân nhu của Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) về phụ trách trồng trọt, chăn nuôi. Trung tá Nguyễn Xuân Đại, Trưởng phòng Quân nhu của Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần được chuyển sang ngành dầu khí làm Giám đốc Công ty Dịch vụ Đời sống Dầu khí chuyên lo “cơm, áo, gạo, tiền”, trồng trọt, tăng gia để tăng cường cho anh em mỗi tháng vài cân gạo. Ngành dầu khí mở được hai nông trường: một nông trường trồng sắn và trại nuôi lợn ở Trị An (Đồng Nai), một nông trường trồng lúa ở Phụng Hiệp (Cần Thơ). Lúc đông nhất, công ty đời sống có khoảng 300 người, chủ yếu là các cán bộ, chiến sĩ từ quân đội chuyển sang.

Ông Nguyễn Xuân Đồng thời trẻ.

Ông Nguyễn Xuân Đồng, nguyên Phó chánh văn phòng Tổng cục Dầu khí cũng là một cán bộ quân đội chuyển sang ngành dầu khí và đã từng trong đoàn quân đi gieo hạt, trồng lúa ở tận vùng hoang hóa, sông nước Cần Thơ. Ông kể, đó là tháng 4 năm 1979, khi đang là Trung tá, Quyền trưởng phòng Đối ngoại – Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không – Không quân, ông được điều động chuyển sang Tổng cục Dầu khí. Cùng đợt này với ông còn có 23 cán bộ khác của Quân chủng Phòng không – Không quân chuyển về Tổng cục Dầu khí, trong đó có đại tá Trần Thái Vĩnh, Cục trưởng Cục Hậu cần của Quân chủng, chuyển sang làm Giám đốc Công ty Vật tư Vận tải Dầu khí.

Ông Đồng được điều về Công ty Dịch vụ Đời sống Dầu khí. Lúc ấy, công ty quyết định thành lập nông trường trồng lúa ở Phụng Hiệp (Cần Thơ). Ông nhận được lệnh vào trong nông trường ấy để tham gia trồng lúa, cùng đi với ông có khoảng 50 người nữa. Ông Đồng nhớ lại: “Lúc ấy, lãnh đạo công ty ra lệnh miệng, chứ không có quyết định bằng văn bản, chẳng phân công ai là chỉ huy, cũng chưa biết là đi rồi đến lúc nào thì về. Nhận lệnh là chúng tôi lên đường”.

Nhiệm vụ của đơn vị là tham gia Hợp tác xã Ninh Hiệp, huyện Phụng Hiệp, Cần Thơ trồng lúa rồi gửi thóc ra Hà Nội hỗ trợ thêm cho các gia đình cán bộ, công nhân viên ngành dầu khí. Mặc dù, chỉ tham gia đơn vị trồng lúa trong vài tháng, nhưng đó là những kỷ niệm mà ông Đồng không bao giờ quên.

Thuở ấy, sông nước Cần Thơ còn mênh mông, hoang hóa, dân cư thưa thớt lắm. Đội trồng lúa nước được giao hẳn một cánh đồng mút mát tầm mắt để canh tác, làm được bao nhiêu thì làm. Chèo xuồng mãi, cuối cùng đội cũng tìm được một vạt đất cao, rộng khoảng 500m2, thế là anh em quyết định hạ trại ở đó. Tất cả mọi người bủa đi chặt dừa, mượn thêm kèo cột, lấy lá dừa nước để lợp thành những lán trại dã chiến. Từ nơi hạ trại ra được xóm làng gần nhất cũng phải mất nửa ngày chèo xuồng. Cả đơn vị toàn là bộ đội chuyển sang. Là người lớn tuổi nhất, lại mang quân hàm trung tá, quân hàm cao nhất trong đội, nên ông Đồng được mọi người phong là chỉ huy.

Sinh hoạt của đội dã chiến chẳng khác nào bộ đội thời chiến tranh. Không có vật liệu để xây bể nước, đội dùng vại gỗ để hứng nước mưa, ngoài ra, còn dùng nước dừa để đun, nấu. Từ khoảng tờ mờ sáng là báo thức, cả đội đi thuyền gieo sạ trên cánh đồng mênh mông nước. Lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long chịu nước tốt hơn lúa ngoài Bắc. Nước dâng lên đến đâu thì lúa mọc lên đến đó.

Khoảng 5 giờ chiều, sau khi cơm nước xong là tất cả phải vào màn hết, vì muỗi nhiều như châu chấu, nằm trong màn mà quờ tay ra có thể bắt được muỗi. Đội trồng lúa được Tổng cục Dầu khí trợ cấp lương thực thời kỳ đầu khi chưa thu hoạch được lúa. “Cơm đủ no, thức ăn thì bắt được con gì ăn con đó, rau cỏ thoải mái lắm, nhiều nhất là rau muống. Đời bộ đội như thế đã là sướng lắm rồi, vì lúc còn chiến tranh, có khi còn phải chịu đói, chịu khát” – ông Đồng nhớ lại.

Thế rồi, nhờ sự nỗ lực của cả đội, nhờ “trời thương”, mùa lúa đầu tiên cho thu hoạch rất khá. Lúa được chuyển ra Bắc, đủ để cung cấp cho mỗi hộ gia đình dầu khí khoảng 5kg thóc/tháng. Được khoảng vài tháng, ông Đồng có lệnh điều động ra Tổng cục Dầu khí. Đơn vị trồng lúa tồn tại khoảng vài năm, sau đó do tình hình cung ứng lương thực ngoài Hà Nội đã khá hơn, nên đã có chỉ đạo ngừng sản xuất để tập trung chuyển sang công tác khác.

Vị đại tá và chiếc áo đi mượn

Thời ấy, cán bộ quân đội rất có duyên với nhiệm vụ lo đời sống cho ngành dầu khí. Chuyện thiếu tướng Tô Ký chạy tiền, lo lương thực cho ngành dầu khí vẫn còn in đậm trong tâm trí của những cán bộ ngành dầu khí thời kỳ đó. Ấy là năm 1977, ngành dầu khí gặp muôn vàn khó khăn, phải “giật gấu, vá vai” để lo đời sống cho người lao động. Được tin thiếu tướng Tô Ký chuẩn bị nghỉ hưu, biết được uy tín và cái chất “anh Ba” Nam Bộ của vị tướng này, Bộ trưởng Đinh Đức Thiện quyết ra Bắc một chuyến để xin Thiếu tướng Tô Ký “đầu quân” vào ngành Dầu khí. Lúc hai “thầy trò” Đinh Đức Thiện, Nguyễn Ngọc Ngạn (lúc đó là thư ký của Bộ trưởng Thiện) vào Tổng cục Chính trị thì vừa hay gặp Trung tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đang đứng ở sân, Bộ trưởng Thiện liền ngỏ lời. Thế là sau đó, ông Tô Ký được điều sang ngành dầu khí theo diện biệt phái, quân đội vẫn trả lương. Mấy năm công tác ở ngành dầu khí, ông Tô Ký trở thành “cây đũa thần”, cực kỳ đắc dụng trong việc chăm lo đời sống cho anh em. Ông là phái viên Bộ trưởng Đinh Đức Thiện, được phân công ở miền Nam lo chuyện “chạy gạo, chạy tiền” cho ngành. Ông Tô Ký đi khắp nơi xin lợn, xin gạo, xin thịt để về nuôi công nhân trong ngành. Thời ấy, mang được gạo, thịt từ tỉnh này, sang tỉnh kia đâu có dễ, ấy thế mà mấy anh công an chỉ cần nhìn thấy xe ông của Tô Ký hoặc người lái xe chìa tờ giấy ghi tay, ký tên “Tô Ký” thôi, chẳng có dấu má gì sất, nhưng vì nể trọng nên thường tránh đường cho xe đi.

Nói về cá tính của bộ đội khi giải quyết công việc chung, ông Đỗ Ngọc Ngạn, nguyên Vụ trưởng Vụ Lao động của Tổng cục Dầu khí, kể lại rằng, khó khăn nhất của thời kỳ đầu là phải xây dựng được chế độ, chính sách cho cán bộ, công nhân, người lao động ngành dầu khí. Tuyển được công nhân nhưng lương và phụ cấp không đủ sống thì họ “chạy” thôi. Tổng cục Dầu khí đề nghị nâng lương của cán bộ, công nhân viên ngành dầu khí cao hơn mức đang quy định. Các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đồng ý. Nhưng vẫn có một số ý kiến bên dưới phải đối kịch liệt. Để thuyết phục phía Liên Xô cũng không đơn giản. Khi đàm phán với ông Hatlkin, chuyên gia Liên Xô, ông Phan Tử Quang, Phó tổng cục trưởng đã cởi phăng áo ra ngay giữa cuộc họp và nói: “Tôi là Đại tá quân đội cũng vẫn phải đi mượn áo đây này”! Có lẽ, chuyện phải đi mượn áo để mặc không phải là chuyện hiếm ở một đất nước còn muôn vàn khó khăn thiếu thốn do vừa bước ra khỏi chiến tranh và bị cấm vận như Việt Nam lúc ấy. Sau đó, trước những lý lẽ có tính thuyết phục cao được đưa ra, các bên liên quan đã chấp nhận nâng lương cho cán bộ, công nhân viên dầu khí.

Ông Nguyễn Xuân Đồng và các chuyên gia dầu khí Liên Xô đi thăm Cố đô Huế.

Lại nói đến ông Nguyễn Xuân Đồng, người trồng lúa. Sau khi từ nông trường ở Phụng Hiệp (Cần Thơ) ra, ông công tác tại Tổng cục Dầu khí tại Hà Nội, trải qua nhiều cương vị. Ông về hưu năm 1990 với chức vụ cao nhất là Ủy viên thường vụ Đảng ủy, Phó Chánh văn phòng của Tổng cục Dầu khí. Năm 2011 vừa qua, ông được nhận Huân chương Lao động hạng nhất. Là cán bộ tiền khởi nghĩa, năm 2012 này, ông vừa tròn 65 năm tuổi Đảng. Hiện nay, cả gia đình ông, gồm 3 thế hệ đang ở trong một căn hộ chung cư tại khu tập thể của ngành dầu khí ở đường Thái Thịnh, Hà Nội. Rất tiếc là ông không hề có một bức ảnh nào của thời đi nông trường cho ngành dầu khí. Nhắc đến ảnh, ông cười nói: “Hồi ấy, chân lấm, tay bùn, cốt sao hoàn thành tốt nhiệm vụ, lấy đâu ra máy ảnh mà chụp”.

———————–

Bài 1: “Tổng động viên” cho ngành dầu khí

Bài 3: Binh đoàn dầu khí “dời non, lấp biển”

Hồ Quang Phương
qdnd.vn

Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (Bài 1)

QĐND – Ngành dầu khí đang là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong đó Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là doanh nghiệp hàng đầu, doanh thu hằng năm lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, đóng góp khoảng 20% GDP. Chắc ít người hình dung được, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam thịnh vượng ngày nay đã trải qua những ngày đầu vô cùng gian khó. Và, để có ngành công nghiệp dầu khí như ngày hôm nay, đã có sự đóng góp lớn lao về trí tuệ, công sức, mồ hôi, thậm chí cả xương máu của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội. Gặp những chứng nhân của thời lịch sử ấy, chúng tôi càng thêm cảm phục tinh thần, ý chí, tính kỷ luật và sự trong sáng, vô tư của Bộ đội Cụ Hồ…

Bài 1: “Tổng động viên” cho ngành dầu khí

Những năm sau khi giải phóng miền Nam, cả nước bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để tạo động lực phát triển cho đất nước, một yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được một ngành công nghiệp khai thác dầu khí, thực hiện theo mong ước của Bác Hồ.

Năm 1976, Chính phủ đã bổ nhiệm Trung tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) làm Bộ trưởng phụ trách dầu khí. Ngay sau đó, Tổng cục Dầu khí được giao tiếp quản các cơ sở vật chất và tài liệu của các công ty dầu khí tại miền Nam. Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đã có những đóng góp to lớn về chủ trương hợp tác dầu khí với nước ngoài, tạo tiền đề xây dựng cơ sở hạ tầng của ngành dầu khí, đã để lại những dấu ấn mang “cá tính Đinh Đức Thiện” trong lịch sử ngành dầu khí Việt Nam.

Đích thân Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đi nhiều địa phương để khảo sát thực địa, cuối cùng ông xác định lấy Vũng Tàu làm nơi xây dựng căn cứ dịch vụ tổng hợp, cảng dầu khí cho Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, cũng như cả ngành dầu khí. Quyết định sáng suốt này tạo tiền đề quan trọng cho những kế hoạch tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí sau này.

Bộ trưởng Đinh Đức Thiện thị sát Vũng Tàu trước khi quyết định đặt căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp tại đây.

Ngành dầu khí là ngành đặc thù, đòi hỏi công nghệ cao, tri thức tổng hợp: Địa chất, vật lý, hóa học, kinh tế học, cơ khí, dịch vụ kỹ thuật ở tầm cao. Công nghiệp khai thác dầu khí là ngành công nghiệp kỹ thuật đòi hỏi những cơ sở hạ tầng lớn, đồng bộ, khoa học. Muốn xây dựng các công trình dầu khí lớn thì phải có những đội quân xây dựng khổng lồ với trình độ chuyên môn, ý chí, với tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao. Và nhiệm vụ ấy đã được tin tưởng giao cho quân đội…

Rất may mắn, sau một thời gian tìm kiếm, tôi đã gặp được ông Đỗ Ngọc Ngạn, nguyên là thư ký của Bộ trưởng Đinh Đức Thiện. Như một cái duyên với dầu khí, sau bao năm công tác, ông Ngạn về nghỉ hưu tại một khu phố ở TP Vũng Tàu – nơi ngành công nghiệp dầu khí đang lớn mạnh từng ngày. Năm nay tuổi đã ngoài 80, ông Ngạn vẫn giữ được tính cách sôi nổi và hóm hỉnh của một anh Bộ đội Cụ Hồ năm nào. Quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, tốt nghiệp Khoa Xăng dầu thuộc Học viện Hậu cần Vận tải ở Liên Xô niên khóa 1961-1964, ông Ngạn đã trải qua suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ trong ngành xăng dầu quân đội, hứng chịu bao trận bom khốc liệt của kẻ thù trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Ông đã mang quân hàm Trung tá, giữ chức vụ Tham mưu trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần). Sau này, ông Ngạn công tác ở Tổng cục Dầu khí, làm đến chức Vụ trưởng Vụ Lao động, đến năm 1991 thì nghỉ hưu. Nối tiếp con đường của cha, hai con ông cũng từng là bộ đội và giờ đây cũng đang công tác, phục vụ trong ngành dầu khí. Kể chuyện năm xưa, ông sôi nổi: “Khoảng cuối năm 1975, cuộc họp tổng kết ngành xăng dầu phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh có tướng Đinh Đức Thiện xuống dự. Sau cuộc họp, ông Đinh Đức Thiện nói với Đại tá Phan Tử Quang, Cục trưởng Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần: “Cho cậu Ngạn đi với tớ”. Thế là sau đó, ông Ngạn ba lô, khăn gói sang làm thư ký cho ông Đinh Đức Thiện. “Mình là người lính, trên điều động đi đâu thì đi chứ chẳng lăn tăn, thắc mắc gì, mặc dù lúc đó, mình đang rất tâm huyết với ngành xăng dầu quân đội”.

Chúng tôi được biết, lúc ấy, ngành dầu khí còn nghèo nàn cả về trang bị, vật chất và con người. Ông Đinh Đức Thiện chủ trương lấy người của quân đội sang để làm nòng cốt ban đầu cho ngành dầu khí, đồng thời tuyển chọn trong cán bộ, học sinh để tìm ra những người có đủ trình độ, cử đi đào tạo kỹ thuật dầu khí tại Liên Xô.

“Nhận được chỉ thị của thủ trưởng Đinh Đức Thiện, tôi lập tức đi “ngắm nghía” ở các đơn vị quân đội, để tìm những người thích hợp. Nhiệm vụ của tôi là phải lấy được các cán bộ từ cấp thiếu tá, chỉ huy từ trung đoàn trở lên để làm bộ khung lãnh đạo, chỉ huy cho các đơn vị, xí nghiệp ngành dầu khí. Công tác thẩm tra lý lịch của cán bộ ngành dầu khí được làm kỹ lắm, vì thế, càng chọn được cán bộ quân đội thì càng yên tâm” – ông Ngạn cho biết. Lúc ấy, chủ yếu lấy từ quân đội các cán bộ chính trị, quân sự; kỹ sư trong các lĩnh vực: Xây dựng, địa chất, vật lý; thợ cơ khí, thợ điện, lái xe để tăng cường cho đội ngũ của dầu khí. Cán bộ chỉ huy quân đội sang ngành dầu khí được bổ nhiệm làm đoàn trưởng, đoàn phó, hoặc phụ trách về mảng hành chính; cán bộ chính trị thì làm Bí thư Đảng ủy, Bí thư chi bộ các đơn vị, xí nghiệp.

Đoàn công tác thuộc Tổng cục Dầu khí và cán bộ Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo ra thăm giàn khoan số 1 mỏ Bạch Hổ (ông Đỗ Ngọc Ngạn thứ 5, từ trái sang).

“Tâm lý nhiều anh em lúc đó thích ở lại bộ đội hơn, vì đã quen người, quen việc mà chế độ đãi ngộ cũng tốt hơn các ngành khác. Cấp trung tá như tôi lúc đó, tiêu chuẩn mỗi tháng là 18kg lương thực, 10 bao thuốc lá… Còn khi sang dầu khí, làm dân văn phòng nên tiêu chuẩn gạo chỉ còn 13kg lương thực (phiếu C) thôi. Hơn nữa, cán bộ cấp chỉ huy nếu ở lại quân đội thì còn cơ hội tiếp tục được thăng quân hàm nữa, còn sang ngành dầu khí, chế độ cũng chưa thật rõ ràng” – ông Ngạn bộc bạch.

Theo lời ông Ngạn, từ khoảng năm 1977 đến năm 1981, đã có rất nhiều cán bộ quân đội được điều sang ngành dầu khí, tiêu biểu là: Trung tướng Nguyễn Hòa, Tư lệnh Quân đoàn I chuyển sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí; Thiếu tướng Tô Ký, Chính ủy – Tư lệnh Quân khu 3 được điều sang làm phái viên Bộ trưởng phụ trách dầu khí ở miền Nam; Đại tá Đặng Quốc Tuyển, Phó chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế (Bộ Quốc phòng) kiêm Tư lệnh Binh đoàn 14 chuyển sang làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí, phụ trách mảng cán bộ và đời sống; Đại tá Phạm Văn Diêu, Phó chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế (Bộ Quốc phòng) sang làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí phụ trách về xây dựng công trình ngầm, cảng biển; Đại tá Phan Tử Quang, Cục trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần) chuyển sang làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí phụ trách về xây dựng và lao động; Đại tá Trần Sanh, Phó cục trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần) sang làm Viện trưởng Viện Dầu khí, sau là Chánh văn phòng Tổng cục Dầu khí; Đại tá Trần Thái Vĩnh, Cục trưởng Cục Hậu cần của Quân chủng Phòng không – Không quân chuyển sang làm Giám đốc Công ty Vật tư Vận tải Dầu khí; Thượng tá Hoàng Lộc, Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan lục quân 1 sang làm Bí thư Đảng ủy Viện Dầu khí, sau làm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí…

Ông Ngạn còn nhớ rõ, ngày ấy, cán bộ quân đội có “uy” lắm, đi đâu cũng được nể trọng, chuyện tưởng khó trăm bề, hóa ra lại được giải quyết rất đơn giản. Các quân nhân chính là những “bảo bối” để giúp ngành dầu khí vượt qua khó khăn trong những buổi đầu gian khó. Một lời nói của cán bộ quân đội lúc ấy có thể tháo gỡ những vướng mắc chưa biết phải xử trí thế nào.

Khi muốn đưa giàn khoan ra ngoài Cồn Thoi – Cồn Ngạn (huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định), yêu cầu đặt ra là phải có phương tiện thủy bởi giàn khoan này nặng đến mấy trăm tấn. Phương tiện thủy để vận chuyển được khối lượng ấy, chỉ có quân đội mới có. Bộ trưởng Đinh Đức Thiện liền viết thư tay ngỏ lời với Đại tướng Võ Nguyên Giáp mong được mượn phương tiện của quân đội để làm nhiệm vụ ấy. Thế là mọi chuyện được giải quyết rất nhanh chóng…

Năm 1981, trong lúc xây dựng tổ chức, cơ sở vật chất cho Liên doanh dầu khí Việt – Xô, yêu cầu đặt ra là phải có hàng vạn thợ với trình độ từ bậc 3 trở lên. Bộ trưởng Thiện lại điện thoại cho đồng chí Võ Văn Kiệt – lúc đó là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh – đề nghị được tăng cường một số công nhân kỹ thuật. Đồng chí Võ Văn Kiệt đồng ý. Thế là trong suốt mấy tháng ròng, một đoàn xe mang dòng chữ: “Công nhân kỹ thuật tăng cường ngành dầu khí Vũng Tàu”, chở cả ngàn công nhân, cứ sáng thứ 2 từ TP Hồ Chí Minh ùn ùn kéo xuống Vũng Tàu, rồi chiều thứ 6 lại chở công nhân về.

—————

Bài 2: Chuyện người dầu khí… làm nông dân

Hồ Quang Phương
qdnd.vn