Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (tiếp theo và hết)

Bài 3: Binh đoàn “dời non, lấp biển”

QĐND – Chuyện cả một binh đoàn của quân đội đã được điều sang ngành dầu khí để xây dựng căn cứ dịch vụ tổng hợp trên bờ cho liên doanh Vietsovpetro đã trở thành như một huyền thoại trong lịch sử ngành dầu khí. Những con người làm nên huyền thoại ấy hiện nay đang ở đâu?

Cuộc chuyển binh rầm rộ

Sau khi Binh đoàn 318 Dầu khí giải thể, đáng tiếc là ban liên lạc của Binh đoàn chưa được thành lập, nên để tìm được những nhân chứng, tôi đã mất khá nhiều thời gian để liên hệ, tìm kiếm. Phải khó khăn lắm tôi mới tìm được Đại tá Trương Trí Công, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị của Binh đoàn. Chúng tôi cũng đã vào Vũng Tàu để gặp các ông Bùi Xuân Chung, Đào Văn Tự, Phạm Hữu Chức – các cán bộ của Binh đoàn 318 năm xưa và ông Đỗ Trích – nguyên cán bộ của Tổng cục Xây dựng Kinh tế – Bộ Quốc phòng được điều xuống Vũng Tàu giám sát theo dõi việc xây dựng công trình dầu khí do quân đội thực hiện.

Qua câu chuyện của các ông, tôi được biết, sau giải phóng, Vũng Tàu chỉ còn là một vùng đất khá hoang vắng, với những bãi sú vẹt bao quanh rộng hàng trăm héc-ta và hàng chục ngôi biệt thự của Mỹ – ngụy bỏ hoang. Đường vào Vũng Tàu là con lộ 51 ngoằn ngoèo, rộng có 4m, hai bên đường là cỏ lau lút đầu người. Nhưng bằng nhãn quan chiến lược tinh tường, các lãnh đạo của ngành dầu khí khi đó đã chọn Vũng Tàu là địa điểm để xây dựng căn cứ trên bờ của ngành dầu khí. Ngắm nhìn địa thế vùng đất này, Bộ trưởng Đinh Đức Thiện khoanh một vòng tròn lớn trên bản đồ, đánh dấu nơi dự tính sẽ đặt căn cứ. Chỗ đó trên thực địa là một rừng sú vẹt và đầm lầy rộng mênh mông. Nhìn hiện trạng đó, chưa ai hình dung ra bằng cách nào, bằng phương tiện nào, nhất là lực lượng nào để có thể giải phóng mặt bằng rộng lớn và phức tạp ấy. Các công ty bên dân sự chào thua vì không đủ nhân lực và máy móc. Trên quyết định huy động quân đội gánh vác nhiệm vụ gian nan này.

Đồng chí Đỗ Mười đến thăm Binh đoàn 318 Dầu khí Tết Nguyên đán 1982. Ảnh tư liệu.

Thế là một cuộc chuyển quân rầm rộ lập tức được thực hiện. Sư đoàn 318 của Quân khu 4, đang ở Nghệ An thì được lệnh chuyển vào Vũng Tàu để xây dựng căn cứ dầu khí. Sư đoàn 336 đang làm nhiệm vụ ở bên nước bạn Lào cũng được lệnh chuyển về. Tương tự, Trung đoàn 526 (trung đoàn vận tải trực thuộc Bộ Quốc phòng), Trung đoàn 693 (tiền thân là Trung đoàn 4 Công an nhân dân vũ trang – nay là Bộ đội Biên phòng) ở Tây Ninh giáp biên giới với Cam-pu-chia, Bệnh viện 264 (cấp trung đoàn) và một số tiểu đoàn độc lập nữa như: Tiểu đoàn công binh, thông tin… cũng lần lượt được điều về Vũng Tàu. Tất cả các đơn vị nói trên hợp lại dưới một cái tên mới: Binh đoàn 318 Dầu khí (gọi tắt là Binh đoàn 318). Bộ Quốc phòng quản lý quân số, con người, còn nghiệp vụ thì do Tổng cục Dầu khí chỉ đạo. Binh đoàn 318 Dầu khí có vị trí và quyền hạn như một quân đoàn. Nói về quân số của Binh đoàn 318 Dầu khí, các nhân chứng chưa đưa ra con số thống nhất. Có ý kiến nói hơn một vạn quân, có ý kiến nói 2 vạn quân.

Bộ tư lệnh Binh đoàn này gồm: Tư lệnh là Đại tá Nguyễn Cận. Chính ủy là Đại tá Trần Nguyên Độ (sau đó ông Trần Nguyên Độ được phong Thiếu tướng, Tư lệnh kiêm Chính ủy). Phó tư lệnh là: Đại tá Nguyễn Cư, Đại tá Trương Chí Công. Tên giao dịch với bên ngoài của Binh đoàn 318 Dầu khí là: Xí nghiệp Liên hiệp Xây lắp Dầu khí. Cái tên này theo ông Trương Trí Công là có từ quyết định của Tổng cục Dầu khí từ năm 1979. Tư lệnh của Binh đoàn đồng thời là Tổng giám đốc, Phó tư lệnh là Phó tổng giám đốc.

Nhiệm vụ của con cháu Sơn Tinh

Mùa hè năm 1979, các đơn vị của Binh đoàn 318 Dầu khí bắt đầu về đóng ở Vũng Tàu để tiếp quản toàn bộ phần đất mà các đơn vị quân đội trước đây chuyển lại cho Binh đoàn. “Lúc ấy, bộ đội về tràn ngập thị xã Vũng Tàu. Thậm chí có cảm giác, quân còn đông hơn cả dân, đi đâu cũng thấy bộ đội”, ông Đào Văn Tự nhớ lại.

Lúc đó, đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo vừa được thành lập. Ngoài nhiệm vụ xây dựng các công trình dầu khí ở Vũng Tàu, Binh đoàn 318 Dầu khí còn xây dựng các công trình quốc phòng khác, đồng thời thực hiện sửa chữa và mở rộng sân bay Cỏ Ống ở Côn Đảo.

Lúc đó, Vũng Tàu chưa có mỏ đá, mà đại công trường cần rất nhiều đá. Binh đoàn 318 liền xây dựng mỏ đá ở hai xã An Ngãi và Phước Tỉnh của huyện Long Đất (nay là huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Mỏ đá ấy tồn tại suốt từ năm 1980 cho đến năm 1993 mới dừng, nó đã góp phần xây dựng cả thành phố Vũng Tàu.

Bộ đội lao động rất vất vả, ăn uống kham khổ, tuy đã được ưu tiên do lao động nặng. Mỗi người được cấp 18kg lương thực/tháng (sau tăng lên thành 21kg), nhưng chủ yếu là gạo cũ, sắn khô và bo bo. Thịt thì tiêu chuẩn mỗi người được 3 lạng/tháng. Từ cán bộ chỉ huy cho tới chiến sĩ đều ăn chung trong bếp tập thể.

Lưng trần trong sình lầy

Vì thời đó, Binh đoàn 318 Dầu khí là các đơn vị chiến đấu mới chuyển sang, chưa hề được cấp các công cụ của một đơn vị làm nhiệm vụ xây dựng, chủ yếu vẫn chỉ là các trang bị cá nhân của chiến sĩ làm nhiệm vụ chiến đấu bao gồm: Xẻng ngắn, cuốc chim, rồi mỗi tiểu đội thì có một chiếc xà beng, một hai chiếc búa… những công cụ để người lính đào hầm, đào hào.

Từ trái sang là các ông Đỗ Trích, Bùi Xuân Chung, Đào Văn Tự, Phạm Hữu Chức (các cán bộ Binh đoàn 318 Dầu khí) đến thăm cảng dịch vụ dầu khí tại Vũng Tàu – nơi trước đây họ đã góp sức xây dựng. Ảnh: Quang Phương.

Ông Phạm Hữu Chức nguyên là Thiếu tá, Phó chính ủy Trung đoàn 693 nhớ lại, lúc đó những người làm công tác tư tưởng như ông phải luôn xuống từng trung đội để động viên cán bộ, chiến sĩ vượt qua khó khăn. Ông thường nói với anh em: “Công việc vất vả ngày hôm nay là để góp phần chiến thắng nghèo đói, xây dựng đất nước ngày mai đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, vì thế các đồng chí phải nỗ lực vượt qua khó khăn”. Ý chí đã giúp người lính vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời chiến, lại một lần nữa là điểm tựa để họ vượt qua những gian khổ lúc dựng xây đất nước… Về sau, công trường của Binh đoàn 318 Dầu khí mới được cấp một số trang bị tân tiến, phương tiện vận tải cũng đầy đủ hơn. Trong đó, công nghệ búa máy đóng cọc do Liên Xô viện trợ lần đầu tiên được đưa vào sử dụng.

Ở bến cảng lúc đó được xác định là có vòng xoáy của sông Dinh tạo thành túi bùn. Nhưng không ai có thể ngờ túi bùn ấy lại lớn đến thế và có tác hại ghê gớm thế. Nhiều chỗ bùn lầy quá sâu, lúc làm móng phải nối cọc thì mới đủ độ dài cần thiết. Vào mùa mưa dông, có khi mưa xối xả đến mấy ngày, cát dưới đáy biển vận động mạnh, hàng cọc đã đóng xuống bị sức mạnh của thiên nhiên xô lệch hẳn, rồi đất lún khủng khiếp, bao nhiêu đất đổ xuống cũng bị hao hụt dần, thế là lại công dã tràng. Những người chiến sĩ nhìn công trình mất bao mồ hôi, công sức, nay bị hủy hoại mà lòng đau nhói. Sau đó, bằng các biện pháp kỹ thuật, binh đoàn đã khắc phục được các khó khăn, như vậy việc san nền mới xong.

Đến cuối năm 1983, bãi sú vẹt đã được dọn sạch, một phần của cảng cũng đã hoàn tất việc san lấp mặt bằng. Trước yêu cầu của tình hình mới, tháng 11-1983, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký quyết định thành lập Liên hiệp Xây lắp Dầu khí trên cơ sở các đơn vị của Binh đoàn 318 Dầu khí. Binh đoàn 318 Dầu khí giải thể. Cán bộ, chiến sĩ của đơn vị được tham khảo nguyện vọng: Một là nếu tình nguyện thì ở lại làm tại Liên hiệp Xây lắp Dầu khí. Nếu không, Bộ Quốc phòng cho chuyển về quân đội làm công tác khác…

Trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam hiện nay có hơn 4.300 người là cựu chiến binh và cựu quân nhân. Vì thế, cái chất bộ đội trong ngành dầu khí vẫn còn rất đậm. Mỗi khi gặp gian khó, thử thách, cái chất bộ đội mới thể hiện rõ nhất giá trị của mình. Bao hàm trong cái chất ấy chính là tinh thần đoàn kết, tính kỷ luật, chịu khó, chịu khổ, sáng tạo, quyết đoán, can trường, sẵn sàng hy sinh cái riêng vì mục tiêu chung… Công cuộc dựng xây ngành dầu khí vẫn đang được tiếp nối bởi những thế hệ ngày nay. Những người chiến sĩ vẫn đang ngày đêm xây dựng, bảo vệ ngành công nghiệp dầu khí, bảo vệ chủ quyền, thềm lục địa, bảo vệ tài nguyên và nguồn lực phát triển cho đất nước không chỉ cho thế hệ này mà cho cả các thế hệ mai sau.

———-

Bài 1: “Tổng động viên” cho ngành dầu khí

Bài 2: Chuyện người dầu khí… làm nông dân

HỒ QUANG PHƯƠNG
qdnd.vn