Bản hùng ca Bộ đội Cụ Hồ xây dựng ngành dầu khí (Bài 1)

QĐND – Ngành dầu khí đang là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong đó Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là doanh nghiệp hàng đầu, doanh thu hằng năm lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, đóng góp khoảng 20% GDP. Chắc ít người hình dung được, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam thịnh vượng ngày nay đã trải qua những ngày đầu vô cùng gian khó. Và, để có ngành công nghiệp dầu khí như ngày hôm nay, đã có sự đóng góp lớn lao về trí tuệ, công sức, mồ hôi, thậm chí cả xương máu của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội. Gặp những chứng nhân của thời lịch sử ấy, chúng tôi càng thêm cảm phục tinh thần, ý chí, tính kỷ luật và sự trong sáng, vô tư của Bộ đội Cụ Hồ…

Bài 1: “Tổng động viên” cho ngành dầu khí

Những năm sau khi giải phóng miền Nam, cả nước bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để tạo động lực phát triển cho đất nước, một yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được một ngành công nghiệp khai thác dầu khí, thực hiện theo mong ước của Bác Hồ.

Năm 1976, Chính phủ đã bổ nhiệm Trung tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) làm Bộ trưởng phụ trách dầu khí. Ngay sau đó, Tổng cục Dầu khí được giao tiếp quản các cơ sở vật chất và tài liệu của các công ty dầu khí tại miền Nam. Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đã có những đóng góp to lớn về chủ trương hợp tác dầu khí với nước ngoài, tạo tiền đề xây dựng cơ sở hạ tầng của ngành dầu khí, đã để lại những dấu ấn mang “cá tính Đinh Đức Thiện” trong lịch sử ngành dầu khí Việt Nam.

Đích thân Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đi nhiều địa phương để khảo sát thực địa, cuối cùng ông xác định lấy Vũng Tàu làm nơi xây dựng căn cứ dịch vụ tổng hợp, cảng dầu khí cho Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, cũng như cả ngành dầu khí. Quyết định sáng suốt này tạo tiền đề quan trọng cho những kế hoạch tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí sau này.

Bộ trưởng Đinh Đức Thiện thị sát Vũng Tàu trước khi quyết định đặt căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp tại đây.

Ngành dầu khí là ngành đặc thù, đòi hỏi công nghệ cao, tri thức tổng hợp: Địa chất, vật lý, hóa học, kinh tế học, cơ khí, dịch vụ kỹ thuật ở tầm cao. Công nghiệp khai thác dầu khí là ngành công nghiệp kỹ thuật đòi hỏi những cơ sở hạ tầng lớn, đồng bộ, khoa học. Muốn xây dựng các công trình dầu khí lớn thì phải có những đội quân xây dựng khổng lồ với trình độ chuyên môn, ý chí, với tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao. Và nhiệm vụ ấy đã được tin tưởng giao cho quân đội…

Rất may mắn, sau một thời gian tìm kiếm, tôi đã gặp được ông Đỗ Ngọc Ngạn, nguyên là thư ký của Bộ trưởng Đinh Đức Thiện. Như một cái duyên với dầu khí, sau bao năm công tác, ông Ngạn về nghỉ hưu tại một khu phố ở TP Vũng Tàu – nơi ngành công nghiệp dầu khí đang lớn mạnh từng ngày. Năm nay tuổi đã ngoài 80, ông Ngạn vẫn giữ được tính cách sôi nổi và hóm hỉnh của một anh Bộ đội Cụ Hồ năm nào. Quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, tốt nghiệp Khoa Xăng dầu thuộc Học viện Hậu cần Vận tải ở Liên Xô niên khóa 1961-1964, ông Ngạn đã trải qua suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ trong ngành xăng dầu quân đội, hứng chịu bao trận bom khốc liệt của kẻ thù trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Ông đã mang quân hàm Trung tá, giữ chức vụ Tham mưu trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần). Sau này, ông Ngạn công tác ở Tổng cục Dầu khí, làm đến chức Vụ trưởng Vụ Lao động, đến năm 1991 thì nghỉ hưu. Nối tiếp con đường của cha, hai con ông cũng từng là bộ đội và giờ đây cũng đang công tác, phục vụ trong ngành dầu khí. Kể chuyện năm xưa, ông sôi nổi: “Khoảng cuối năm 1975, cuộc họp tổng kết ngành xăng dầu phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh có tướng Đinh Đức Thiện xuống dự. Sau cuộc họp, ông Đinh Đức Thiện nói với Đại tá Phan Tử Quang, Cục trưởng Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần: “Cho cậu Ngạn đi với tớ”. Thế là sau đó, ông Ngạn ba lô, khăn gói sang làm thư ký cho ông Đinh Đức Thiện. “Mình là người lính, trên điều động đi đâu thì đi chứ chẳng lăn tăn, thắc mắc gì, mặc dù lúc đó, mình đang rất tâm huyết với ngành xăng dầu quân đội”.

Chúng tôi được biết, lúc ấy, ngành dầu khí còn nghèo nàn cả về trang bị, vật chất và con người. Ông Đinh Đức Thiện chủ trương lấy người của quân đội sang để làm nòng cốt ban đầu cho ngành dầu khí, đồng thời tuyển chọn trong cán bộ, học sinh để tìm ra những người có đủ trình độ, cử đi đào tạo kỹ thuật dầu khí tại Liên Xô.

“Nhận được chỉ thị của thủ trưởng Đinh Đức Thiện, tôi lập tức đi “ngắm nghía” ở các đơn vị quân đội, để tìm những người thích hợp. Nhiệm vụ của tôi là phải lấy được các cán bộ từ cấp thiếu tá, chỉ huy từ trung đoàn trở lên để làm bộ khung lãnh đạo, chỉ huy cho các đơn vị, xí nghiệp ngành dầu khí. Công tác thẩm tra lý lịch của cán bộ ngành dầu khí được làm kỹ lắm, vì thế, càng chọn được cán bộ quân đội thì càng yên tâm” – ông Ngạn cho biết. Lúc ấy, chủ yếu lấy từ quân đội các cán bộ chính trị, quân sự; kỹ sư trong các lĩnh vực: Xây dựng, địa chất, vật lý; thợ cơ khí, thợ điện, lái xe để tăng cường cho đội ngũ của dầu khí. Cán bộ chỉ huy quân đội sang ngành dầu khí được bổ nhiệm làm đoàn trưởng, đoàn phó, hoặc phụ trách về mảng hành chính; cán bộ chính trị thì làm Bí thư Đảng ủy, Bí thư chi bộ các đơn vị, xí nghiệp.

Đoàn công tác thuộc Tổng cục Dầu khí và cán bộ Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo ra thăm giàn khoan số 1 mỏ Bạch Hổ (ông Đỗ Ngọc Ngạn thứ 5, từ trái sang).

“Tâm lý nhiều anh em lúc đó thích ở lại bộ đội hơn, vì đã quen người, quen việc mà chế độ đãi ngộ cũng tốt hơn các ngành khác. Cấp trung tá như tôi lúc đó, tiêu chuẩn mỗi tháng là 18kg lương thực, 10 bao thuốc lá… Còn khi sang dầu khí, làm dân văn phòng nên tiêu chuẩn gạo chỉ còn 13kg lương thực (phiếu C) thôi. Hơn nữa, cán bộ cấp chỉ huy nếu ở lại quân đội thì còn cơ hội tiếp tục được thăng quân hàm nữa, còn sang ngành dầu khí, chế độ cũng chưa thật rõ ràng” – ông Ngạn bộc bạch.

Theo lời ông Ngạn, từ khoảng năm 1977 đến năm 1981, đã có rất nhiều cán bộ quân đội được điều sang ngành dầu khí, tiêu biểu là: Trung tướng Nguyễn Hòa, Tư lệnh Quân đoàn I chuyển sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí; Thiếu tướng Tô Ký, Chính ủy – Tư lệnh Quân khu 3 được điều sang làm phái viên Bộ trưởng phụ trách dầu khí ở miền Nam; Đại tá Đặng Quốc Tuyển, Phó chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế (Bộ Quốc phòng) kiêm Tư lệnh Binh đoàn 14 chuyển sang làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí, phụ trách mảng cán bộ và đời sống; Đại tá Phạm Văn Diêu, Phó chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế (Bộ Quốc phòng) sang làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí phụ trách về xây dựng công trình ngầm, cảng biển; Đại tá Phan Tử Quang, Cục trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần) chuyển sang làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí phụ trách về xây dựng và lao động; Đại tá Trần Sanh, Phó cục trưởng Cục Xăng dầu (Tổng cục Hậu cần) sang làm Viện trưởng Viện Dầu khí, sau là Chánh văn phòng Tổng cục Dầu khí; Đại tá Trần Thái Vĩnh, Cục trưởng Cục Hậu cần của Quân chủng Phòng không – Không quân chuyển sang làm Giám đốc Công ty Vật tư Vận tải Dầu khí; Thượng tá Hoàng Lộc, Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan lục quân 1 sang làm Bí thư Đảng ủy Viện Dầu khí, sau làm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí…

Ông Ngạn còn nhớ rõ, ngày ấy, cán bộ quân đội có “uy” lắm, đi đâu cũng được nể trọng, chuyện tưởng khó trăm bề, hóa ra lại được giải quyết rất đơn giản. Các quân nhân chính là những “bảo bối” để giúp ngành dầu khí vượt qua khó khăn trong những buổi đầu gian khó. Một lời nói của cán bộ quân đội lúc ấy có thể tháo gỡ những vướng mắc chưa biết phải xử trí thế nào.

Khi muốn đưa giàn khoan ra ngoài Cồn Thoi – Cồn Ngạn (huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định), yêu cầu đặt ra là phải có phương tiện thủy bởi giàn khoan này nặng đến mấy trăm tấn. Phương tiện thủy để vận chuyển được khối lượng ấy, chỉ có quân đội mới có. Bộ trưởng Đinh Đức Thiện liền viết thư tay ngỏ lời với Đại tướng Võ Nguyên Giáp mong được mượn phương tiện của quân đội để làm nhiệm vụ ấy. Thế là mọi chuyện được giải quyết rất nhanh chóng…

Năm 1981, trong lúc xây dựng tổ chức, cơ sở vật chất cho Liên doanh dầu khí Việt – Xô, yêu cầu đặt ra là phải có hàng vạn thợ với trình độ từ bậc 3 trở lên. Bộ trưởng Thiện lại điện thoại cho đồng chí Võ Văn Kiệt – lúc đó là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh – đề nghị được tăng cường một số công nhân kỹ thuật. Đồng chí Võ Văn Kiệt đồng ý. Thế là trong suốt mấy tháng ròng, một đoàn xe mang dòng chữ: “Công nhân kỹ thuật tăng cường ngành dầu khí Vũng Tàu”, chở cả ngàn công nhân, cứ sáng thứ 2 từ TP Hồ Chí Minh ùn ùn kéo xuống Vũng Tàu, rồi chiều thứ 6 lại chở công nhân về.

—————

Bài 2: Chuyện người dầu khí… làm nông dân

Hồ Quang Phương
qdnd.vn