Archive | 2012

Những kỷ vật của Bác Hồ

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn

(Tố Hữu)

Có lẽ khó có vị lãnh tụ nào trên thế giới này được ngợi ca về tấm lòng yêu thương con người, yêu thương nhân loại nhiều đến vậy như Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi lẽ cả cuộc đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là khát vọng cháy bỏng và cũng là mục đích duy nhất của cuộc đời Người – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: Chủ tịch Hồ chí Minh vĩ đại.

ky vat 1
Bác Hồ với các cháu nhỏ ở Việt Bắc

Có rất nhiều người đã  nhận định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người mà tư tưởng và hành động thống nhất với nhau, không chỉ vậy còn là sự thống nhất giữa hoạt động và nhân cách chính trị với thái độ rất khiêm tốn, giản dị, nhân hậu. Có lẽ với tình yêu thương con người thiết tha nhất mà ở tuổi chưa đầy hai mươi, Người đã một mình quả cảm vượt trùng khơi đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng nhân dân mình thoát khỏi sự chà đạp của chủ nghĩa thực dân. Cũng chính vì thế ngay từ những ngày còn bôn ba hoạt động ở nước ngoài Người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc sống cơ cực của những người lao động ở các thuộc địa và mong muốn tìm con đường giải phóng cho nhân loại khổ đau, trong đó có nhân dân mình, dân tộc mình. Với sự kiên định tuyệt vời về tư tưởng và đường lối cùng với những quyết định lịch sử vô cùng sáng suốt và kịp thời, Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi đến ánh sáng của cuộc sống làm người, của độc lập, tự do.

Nước nhà được độc lập, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở  Đông Nam Á, vận mệnh đất nước và dân tộc vẫn ngàn cân treo sợi tóc, bởi kẻ thù không từ bỏ dã tâm xâm chiếm nước ta. Bên cạnh việc chăm lo những việc lớn lao của dân tộc là đánh đuổi giặc ngoại xâm, Người đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết nạn đói và nạn dốt do chế độ thực dân và phong kiến để lại, coi đây cũng là hai thứ giặc vô cùng nguy hiểm bởi nếu giặc ngoại xâm là cướp nước, chà đạp lên nhân phẩm con người, lên danh dự quốc gia, dân tộc thì giặc đói và giặc dốt lại làm cho dân tộc yếu hèn và cuối cùng cũng đi đến bị nô dịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại bởi sự nghiệp cao cả của Người, nhưng Người cũng giản dị và gần gũi với nhân dân nhất bởi Người thấu hiểu và chia sẻ nỗi khổ đau cũng như niềm vinh quang của mỗi người dù đó là ai và thuộc quốc gia nào, vì thế Người càng vĩ đại hơn, càng được nhân dân tin yêu, kính trọng hơn và cũng vì thế sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tập hợp, nhân lên thành sức mạnh vô địch không kẻ thù nào khuất phục nổi.

Trên cương vị Chủ tịch nước, trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh với biết bao thiếu thốn và gian khổ, dẫu bộn bề lo toan việc nước, Người vẫn dành thời gian thăm hỏi động viên đến các tổ chức đoàn thể và từng người dân dù họ là cán bộ cấp cao, là chiến sĩ đang chiến đấu ngoài chiến trường, những công nhân, nông dân lao động bình thường. Những tấm Huy chương có chữ ký của Người, những chiếc Huy hiệu mang hình ảnh của Người, hay những lá thư Người khen ngợi được gửi tặng cho những con người dũng cảm đã ghi được chiến công trong nhiệm vụ ở chiến trường diệt giặc ngoại xâm hay những chiến sĩ trên mặt trận diệt giặc dốt, luôn là niềm tự hào và vinh dự lớn lao cho mỗi cán bộ chiến sĩ. Xem lại những món quà Bác đã trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong thời kỳ lịch sử đầy gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc mà nay đã trở thành những kỷ vật vô giá và thiêng liêng chúng ta mới thấy hết ý nghĩa, tình cảm của vị Chủ tịch nước dành cho đồng bào mình và hiểu thêm về những giá trị tinh thần vô giá làm nên sức mạnh vô biên chiến thắng mọi kẻ thù của thế hệ cha anh trong thời lịch sử đau thương mà vô cùng anh dũng của dân tộc. Những anh hùng, chiến sĩ thi đua trên các mặt trận sản xuất hay chiến đấu, những chiến sĩ diệt dốt hay những cán bộ cấp cao trong nhiều lĩnh vực, vinh dự được nhận những phần thưởng của Bác Hồ trao tặng.

Đó là những tấm ảnh chân dung có chữ ký của Người và dòng chữ Bác viết “Kháng chiến nhất định thắng lợi” đã nói lên quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược của dân tộc. Là những chiếc ca uống nước giản dị mang dòng chữ “Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ”, “Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc” mà Bác đã chỉ thị tặng cho bộ đội trong phong trào thi đua toàn quân và các sĩ quan Trung đoàn Trần Cao Vân trước khi xuất quân tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, hay tặng cho các anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đây là những món quà có ý nghĩa to lớn thể hiện tình cảm, sự quan tâm sâu sắc của Bác Hồ đối với cán bộ, chiến sĩ và đã trở thành những kỷ vật thiêng liêng, động viên và cổ vũ kịp thời tinh thần thi đua chiến đấu giết giặc lập công, thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật để hoàn thành nhiệm vụ của quân, dân cả nước.

Trong những ngày kháng chiến chống Pháp (1947-1954), Trung ương Đảng và Bác Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc – Thủ đô gió ngàn, vì công việc, Bác phải thường xuyên băng rừng lội suối, thương Bác, chiến sĩ trong đội bảo vệ đã làm tặng Bác cây gậy bằng mây của rừng Việt Bắc. Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn lúc này là Bí thư Đảng Đoàn, Thứ trưởng Bộ quốc gia giáo dục phải thường xuyên đi lại nhiều, vượt suối vượt đèo vất vả, Bác đã tặng ông cây gậy mây để ông đi lại thuận tiện hơn. Cây gậy mây Bác Hồ tặng thể hiện tình cảm thân thương chân tình, sự quan tâm hết sức gần gũi như người thân trong gia đình, là nguồn động viên lớn với ông trong bước đường công tác. Sau ngày hòa bình lập lại, dù không dùng cây gậy này nữa nhưng ông vẫn gìn giữ cẩn thận cây gậy, coi đây là kỷ vật có ý nghĩa lớn trong cuộc đời ông.

Là chiếc áo bông Người đang mặc trong những ngày đông giá rét của núi rừng Việt Bắc, nhưng khi nghe báo cáo tình hình chiến trường Người đã cởi áo trao lại làm phần thưởng cho đơn vị, tập thể lập nhiều chiến công xuất sắc trên chiến trường Bình Trị Thiên trong kháng chiến chống pháp (Khu ủy khu IV đã quyết định trao phần thưởng cao quý này cho Ban Điệp báo, Ty Công an Bình Trị Thiên – Đơn vị đã lập nhiều chiến công xuất sắc trong phong trào thi đua “Giết giặc lập công” 1949-1950). Chiếc áo như mang theo hơi ấm và cả tình cảm ruột thịt của vị Cha già dân tộc đến với những người con đang ngày đêm đối mặt với khó khăn gian khổ của chiến trường khốc liệt.

Là tấm vải kaki Người trực tiếp trao tặng cho ông Lê Đình Cúc, cán bộ ngành Muối tại Đại hội chiến sĩ thi đua ngành muối toàn quốc, tấm vải được ông may thành chiếc áo đại cán để mặc vào những dịp lễ quan trọng của đất nước. Đây là niềm tự hào vô biên bởi đây là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của cuộc đời ông khi ông được gặp Bác Hồ tại Thủ đô yêu dấu, và lời hứa với Bác sẽ luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt hơn nữa mọi nhiệm vụ công tác được giao đã theo ông suốt cuộc đời.

Là tấm vải hoa Người gửi tặng ông Quỳnh Zôông, cán bộ của Ban Chống bình miền Tây Thừa Thiên Huế vì đã có thành tích lãnh đạo nhân dân chống lại âm mưu, kế hoạch chiếm đóng và bình định miền núi phía Tây Thừa Thiên Huế của chính quyền Ngô Đình Diệm, tấm vải được ông nâng niu gìn giữ và ông đã dùng để đắp trong những ngày đông  giá rét khi hoạt động trong rừng sâu.

Anh hùng ANun (dân tộc Pakô) là người luôn xung phong đi đầu trong những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhất, ông luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao phó với tinh thần quả cảm, táo bạo và mưu trí, ngoan cường. Thành tích của ông được Bộ Tư lệnh chiến trường và Bộ Quốc phòng tuyên dương. Biết tin, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi, động viên và Người cũng gửi tặng ông chiếc đồng hồ đeo tay và chiếc radio. Vô cùng vinh dự và tự hào, ông coi đây không chỉ là phần thưởng của vị Chủ tịch nước tặng cho riêng ông mà còn thể hiện tình cảm của Người đành cho đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi cao Tây Nguyên.

Nữ anh hùng Kăn Lịch là người đã chỉ huy đại đội nữ dân quân đồng bào dân tộc đánh trả nhiều trận càn ác liệt của Mỹ (1965-1968). Sau những ngày được Đảng và Bác Hồ đưa ra chữa bệnh ở Hà Nội, bà được vào thăm Bác và xin phép Bác trở về quê hương chiến đấu. Khi bà tỏ ước nguyện luôn được nghe tiếng nói Bác Hồ, Người vô cùng xúc động, thể theo ước nguyện của bà, Hồ Chủ tịch đã dặn dò, động viên và tặng cho bà Kăn Lịch chiếc Radio mà hàng ngày Người vẫn dùng để nghe tin tức trong nước và thế giới. Nghe lời Bác dặn, trở về quê hương chiến đấu, bà đã dùng chiếc radio để tuyên truyền vận động bà con đồng bào ra sức góp sức người sức của cho cách mạng, hăng hái tham gia chiến đấu giải phóng và bảo vệ quê hương.

Những chiếc khăn tay, vòng đeo cổ, những chiếc xoong nhôm mà Người đã tặng cho ông Quỳnh Tếu và nhiều cán bộ của Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên Huế được vinh dự ra thăm miền Bắc và được gặp Bác Hồ, được Người tặng những món quà phù hợp phong tục tập quán và nhu cầu trong công tác và cuộc sống ở miền núi cao Tây nguyên. Trở về quê hương chiến đấu, những món quà quý trở thành niềm tin và nguồn động viên lớn giúp ông cũng như nhiều cán bộ khác vượt qua những thiếu thốn, hiểm nguy của chiến tranh để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, để tránh những trận càn quét của địch, ông đã dùng ni lông chống tăng gói kỹ quà Bác tặng và đem chôn dưới gốc cây trong rừng sâu. Những kỷ vật Bác tặng trở thành tài sản “Gia bảo” ông tặng lại cho vợ con trước khi ông từ giã cõi đời.

Là khẩu súng lục K59 Người tặng cho quân và dân Thừa Thiên Huế mà ông Hồ Đống, cán bộ lãnh đạo của tỉnh Thừa Thiên đã vinh dự được đại diện nhận do Bác tặng trong dịp ra Trung ương họp triển khai Nghị quyết 15 với lời dặn dò: Phải cố gắng chiến đấu thật anh dũng kiên cường. Đây là món quà vô cùng quý giá bởi trong điều kiện tình hình chiến tranh cách mạng đã chuyển biến nhưng vũ khí còn thiếu thốn, khẩu súng Bác tặng cùng với những lời dặn dò của Người là nguồn cổ vũ lớn lao, đồng thời thể hiện ý chí và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân quyết đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Là bộ áo quần nữ thanh niên xung phong Người gửi tặng lực lượng nữ thanh niên xung phong đang ngày đêm tham gia mở và bảo vệ tuyến đường huyết mạch Trường Sơn, bảo đảm sức người, sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam.

kỷ vạt 2
Đôi dép cao su của Bác

Nói về những kỷ vật Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân và dân khắp mọi miền Tổ quốc, không thể không nhắc đến những dụng cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt mà Người gửi tặng cho đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên. Khi chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đàn áp và bao vây, cô lập đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên hòng dập tắt tinh thần đấu tranh cách mạng và tình đoàn kết giữa miền núi và miền xuôi. Đời sống của đồng bào vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Biết tin, Người cùng Trung ương Đảng quyết định gửi gạo, muối, vải, thuốc men và dụng cụ sản xuất như cuốc, rừu, rựa … vào cho đồng bào. Đây là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đối với đồng bào Tây Nguyên nhằm giúp đồng bào ổn định đời sống và chống lại âm mưu phá hoại, chia cắt của kẻ thù. Ơn Đảng và Bác Hồ, đồng bào các dân tộc miền Tây Trị Thiên càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và đã tự nguyện xin được lấy họ của Bác Hồ làm họ của mình.

Còn biết bao những kỷ vật Bác đã tặng cho cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trên khắp mọi miền Tổ quốc, dù đó là những tấm huân chương, hay những chiếc khăn tay … là đồ dùng trong sinh hoạt bình thường đều mang ý nghĩa tinh thần lớn lao thể hiện tình cảm và quan tâm của vị Chủ tịch nước đối với đồng bào mình mà có lẽ khó có vị lãnh tụ nào trên thế giới làm được. Không chỉ thế, những kỷ vật Bác tặng năm nào còn gợi cho các thế hệ mai sau hiểu được rằng dù trong gian khó và hiểm nguy, các thế hệ cha anh đi trước với nghị lực và tình yêu nước đã làm nên những chiến công chói lọi để bảo vệ giang sơn Tổ quốc Việt Nam. Đây chính là nguồn lực tinh thần và là niềm tự hào tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ mai sau tiếp tục xây dựng và bảo vệ giang sơn gấm vóc Việt Nam.

Lê Thanh Hương
Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Chi nhánh Thừa Thiên Huế
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng các dân tộc

Vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của nhân dân toàn thế giới (Bộ trưởng Cựu chiến binh An-giê-ri Mô-ha-mét Che-ríp Áp-ba)

Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân An-giê-ri biết đến không chỉ là biểu tượng của tình đoàn kết, Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu đã có tác động không nhỏ tới cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp diễn ra cùng thời điểm ở An-giê-ri. Bị thực dân Pháp đô hộ từ cuối thế kỷ 19, nhân dân An-giê-ri đã đứng lên đấu tranh, từ đầu những năm 1950 bắt đầu tiến hành cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam đã tiếp cho nhân dân An-giê-ri giành thắng lợi, giải phóng dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của chính nghĩa, niềm tin vào nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã ghi dấu son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của mình, mở ra con đường giải phóng nhân loại khỏi ách thực dân, thắt chặt tình đoàn kết của nhân dân toàn thế giới, là tấm gương cho nhân dân các dân tộc bị áp bức noi theo.

Nhân dân An-giê-ri luôn ghi nhớ sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam. Hai nước có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hai nước vừa phải đấu tranh xây dựng và phát triển đất nước, vừa phải đối mặt những thách thức, mặt trái của toàn cầu hóa gây ra do sự áp đặt của chủ nghĩa thực dân mới. Bất chấp khoảng cách địa lý xa xôi, nhiều khó khăn mới, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam – An-giê-ri phát triển tốt đẹp trong các lĩnh vực nhất là về kinh tế, thương mại. Hai nước ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế. An-giê-ri kêu gọi đầu tư nước ngoài, nhất là các nước bạn bè truyền thống, trong đó có Việt Nam.

Tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân (Ông Cho Jae Hyun, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Hàn Quốc-Việt Nam, giáo sư tiếng Việt, Trường đại học Ngoại ngữ Xơ-un)

Là người nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt và lịch sử Việt Nam trong nhiều năm, tôi đặc biệt ngưỡng mộ truyền thống đấu tranh và hy sinh anh dũng của dân tộc Việt Nam, không một thế lực nào có thể khuất phục được Tôi khâm phục những người dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc trong các cuộc chiến tranh đánh đuổi đế quốc, ngoại xâm. Và trong công cuộc xây dựng đất nước, họ lại tràn đầy ý chí, quyết tâm mang lại sự giàu mạnh, phồn vinh cho dân tộc. Những người dân Việt Nam thời đại mới thật xứng đáng là hậu duệ của vua Hùng, Ngô Quyền, Quang Trung- Nguyễn Huệ… một người Hàn Quốc đầu tiên học tiếng Việt tôi đọc nhiều sách về Điện Biên Phủ và luôn mơ ước một ngày nào đó được đặt chân lên mảnh đất lịch sử ấy. Cuối tháng tư vừa qua, tôi được ngắm nhìn tận mắt nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954, nơi thể hiện ý chí bất khuất, quật cường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần đoàn kết, nhất trí của toàn dân Việt Nam.

Tôi đặc biệt ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lãnh tụ vĩ đại, nhưng trong cuộc sống, Người thật giản dị, dễ gần. Tôi luôn ghi nhớ tư tưởng vĩ đại của Người “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân. Người đã hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để toàn tâm, toàn ý phục vụ một mục đích cao cả là mang lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Tôi tin rằng với tinh thần đoàn kết và yêu nước, quyết tâm huy động mọi nguồn lực, những người dân Việt Nam cần cù, thông minh sẽ đạt nhiều thành tựu to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới. Việt Nam nhất định sẽ trở thành một ”con rồng” của Châu Á trong tương lai không xa.

Con đường mãi mãi khắc sâu tình hữu nghị Ấn Độ – Việt Nam (Thứ trưởng Ngoại giao Ấn Độ R.Ma-du-ca A-bi-an-ca)

Tôi vô cùng vinh dự và phấn khởi dự mít-tinh kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tổ chức tại Thủ đô Hà Nội và thật cảm động khi được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Tổng Tư lệnh tài ba chỉ huy Chiến dịch lịch sử này. Chiến thắng Điện Biên Phủ không những giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau hơn 100 năm mà còn cổ vũ các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới, đặc biệt cổ vũ nhân dân Ấn Độ đứng lên giành chính quyền từ tay thực dân Anh. Đến Việt Nam trong những ngày tháng 5 lịch sử này, đúng dịp đất nước các bạn tưng bừng kỷ niệm các ngày lễ lớn trọng đại của dân tộc, trong đó có kỷ niệm 114 năm Ngày sinh của Chủ tinh Hồ Chí Minh tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Nhân dân Ấn Độ kính yêu và ngưỡng mộ vị cha già của dân tộc mình Gia-oa-hác-lan Nê-ru cũng như nhân dân Việt Nam tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại thành phố Can-cút-ta thuộc bang Tây Ben-gan có Tượng đài của Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng trên đường phố mang tên Người. Đường Hồ Chí Minh ấy mãi mãi khắc sâu tình hữu nghị truyền thống tốt đẹp Việt Nam – Ấn Độ do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Gia-oa-hác-lan Nê-ru gây dựng, vun đắp. Trải qua thử thách của thời gian, có thể tự hào nói rằng, mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng phát triển, lớn mạnh. Trong những năm qua, hai nước thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao thăm chính thức lẫn nhau. Kết quả nổi bật là hai nước ký Tuyên bố chung về hợp tác Việt Nam – Ấn Độ trong thế kỷ 21, đặt nền móng vững chắc thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương lên tầm cao mới. Ấn Độ hiện là nước đối tác – đối thoại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ấn Độ đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong ASEAN. Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, đào tạo, đánh bắt hải sản… Quan hệ Việt Nam – Ấn Độ đang hướng tới sự hợp tác toàn diện và hiệu quả hơn.

Theo Song Hạnh và Hồng Cầm
(Báo Nhân Dân cuối tuần)
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Về cái gọi là “Dự Luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012”

Ngày 8 tháng 02 vừa qua, Tiểu ban về Châu Phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền của Hạ viện Mỹ thông qua cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012) do ông Crít Xmít (Chris Smith), nghị sĩ Đảng Cộng hòa, tiểu bang Niu Gơ-xi (New Jersey), Chủ tịch tiểu ban bảo trợ. Đây là một Dự luật sai trái, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam và hoàn toàn đi ngược lại xu thế phát triển quan hệ giữa hai nước cũng như lợi ích của hai quốc gia Việt Nam – Hoa Kỳ.

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, sau khi Tiểu ban về Châu phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền thông qua, “Dự Luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012”sẽ được trình ra Hạ viện; nếu được Hạ viện thông qua, nó sẽ được đệ trình lên Thượng viện và khi được Thượng viện thông qua và Tổng thống phê chuẩn, Dự luật này sẽ có hiệu lực. Theo đó, thì viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam sẽ “bị hạn chế và ràng buộc vào các điều kiện về nhân quyền” và nước Mỹ cũng không cho phép tăng viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam lên trên mức hiện nay, nếu như không dùng viện trợ đó để cải thiện nhân quyền và dân chủ. Dự luật còn đòi hỏi “Việt Nam phải đưa ra được những tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện luật pháp để ngăn chặn việc hình sự hóa các hoạt động dân chủ”. Đặc biệt, Ngoại trưởng Mỹ sẽ phải định kỳ báo cáo lên Hạ viện về “tiến trình cải thiện nhân quyền ở Việt Nam”v.v. và v.v.

Vào đầu năm nay (ngày 25-01), ông Crít Xmít đã có buổi điều trần về Dự luật này. Tại buổi điều trần, ngoài đại biểu của Tiểu ban trên, còn có những gương mặt đã có nhiều hành động chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, như: cựu dân biểu Cao Quang Ánh, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (Tổ chức Boat People SOS); Giám đốc Tổ chức Nhân quyền cho người Thượng; ông John Sifton (Tổ chức Human Rights Watch – Một tổ chức sân sau của các ông nghị chống Việt Nam tại Hạ viện). Bên cạnh đó, là “nhân chứng” Vũ Phương Anh, được giới thiệu là “nạn nhân” buôn người, với chứng cứ là Phương Anh “bị (Chính phủ Việt Nam) đưa đến một công xưởng ở Jordan – nơi mà theo bà ta nói, phải làm việc cả ngày lẫn đêm với tiền công ít ỏi”(!) Trong buổi điều trần, ông Crít Xmít còn nói “Chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm tệ hại nhân quyền. Lời khai mà người ta nghe được đã xác nhận rằng, việc truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc tiếp diễn và trong nhiều trường hợp còn tăng nhiều thêm, và rằng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đón nhận những kẻ chuyên buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”. Rồi ông ta răn đe: “Cần phải cho thấy, Hoa Kỳ gửi một thông điệp minh bạch tới chế độ Việt Nam rằng, họ phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”(!).

Trước khi bàn về cái gọi là “Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2012”, chúng ta hãy xem Hoa kỳ có tư cách phán xét về nhân quyền của các quốc gia khác hay không?

Cho dù, Dự luật trên của Hoa kỳ chỉ có hiệu lực pháp lý đối với chính phủ Mỹ, nhưng trên thực tế đó là sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Bởi vì: Dự luật đã công khai đánh giá, nói đúng hơn là đã xuyên tạc tình hình nhân quyền của Việt Nam; bởi nó chỉ dựa vào những nguồn thông tin không khách quan, kích động những lực lượng chống đối chính quyền và phá hoại quan hệ của Việt Nam với các quốc gia và các tổ chức quốc tế… Theo đạo lý thông thường, người có quyền phán xét (hoặc tự phong) thì phải thật sự mẫu mực, hoặc chí ít thì cũng không có những chuyện tai tiếng trên lĩnh vực đó. Nhưng ngược lại, trên lĩnh vực nhân quyền thì Hoa kỳ không phải là một mẫu mực cho nước khác. Tạm gác lại “thành tích” nhân quyền trong lịch sử mà thế hệ người Mỹ ngày nay (như ông Crít Xmít) không phải chịu trách nhiệm (như họ đã thực hiện chiến lược diệt chủng đối với người Da đỏ). Nhưng, những tội ác mang tính diệt chủng mà họ gây ra đối với nhân dân Việt Nam (mà nạn nhân vẫn còn đang sống) thì không thể làm ngơ. Những người Mỹ có lương tri đều hiểu rằng, trách nhiệm về nhân quyền đối với Việt Nam hiện nay không chỉ là về đạo lý, mà còn cả về chính trị và kinh tế. Có người còn chỉ rõ, Hoa Kỳ đang áp dụng tiêu chuẩn kép như một chiến lược trên lĩnh vực nhân quyền. Báo Chicago Tribune (ngày 16 tháng 8 năm 1999), đăng bài bình luận “Hoa Kỳ xuất cảng: bom, súng và đạo đức giả” (U.S exports: Bombs, guns and hypocrisy) của Salim Muwakhil; trong đó viết: “Hoa Kỳ đứng đầu trong số lượng bán vũ khí trên hoàn cầu, chiếm hơn 55% thị trường. Hoa Kỳ bán vũ khí cho những quốc gia đối đầu nhau như Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, E-thi-ô-pia và E-ri-tơ-ria, A rập xê út và It-xra-en, Ấn Độ và Pa-ki-xtan; đưa vũ khí vào các điểm nóng trên thế giới như Sri Lan-ka, In-đô-nê-xi-a, Cô-lôm-bi-a, Trung Đông và Đông Phi”. Thử hỏi, tiếp tay cho các cuộc bắn giết lẫn nhau giữa các quốc gia, liệu có phải là vì nhân quyền không? Còn ở chính nước Mỹ, có người viết: “theo công bố của chính phủ (Mỹ), tội ác (ở Mỹ) chiếm nhiều nhất (thế giới), nếu tính theo tỷ lệ dân số”. Như vậy, Hoa Kỳ hoàn toàn không có tư cách để phán xét chuyện nhân quyền của nước khác, nhất là đối với Việt Nam, một đất nước mà món nợ nhân quyền của họ còn rất lớn.

Trở lại “Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2012”.

Trước hết về phương diện chính trị. Dự luật (mà Ông Xmit bảo trợ) đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế đương đại. Điều này đã được Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận. Trong Điều I của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), đã quy định rằng: “Các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị…” của mình. Điều đó có nghĩa là, mỗi quốc gia – dân tộc có quyền lựa chọn chế độ TBCN hay XHCN; thể chế đa đảng hay độc đảng. Việc xây dựng hiến pháp và hệ thống pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia – dân tộc, mà không có bất cứ quốc gia nào, một lực lượng chính trị nào có quyền áp đặt, kể cả Liên hợp quốc.

Có thể nói, không có căn cứ nào để khẳng định pháp luật Việt Nam “hình sự hoá các hoạt động dân chủ”. Thiết tưởng, chỉ có những người hồ đồ hoặc lấy quan điểm chủ quan của mình để đưa ra nhận xét “đổi trắng, thay đen” như vậy. Nếu thật sự là nhà chính trị có tâm, có tầm, ông Crít Xmít phải hiểu rằng: những quy định nào đó của Việt Nam về điều mà ông gọi là “hình sự hóa hoạt động dân chủ”, hay như người ta thường nói là trừng phạt những hoạt động “bất bạo động” là căn cứ vào thẩm quyền của cơ quan quyền lực quốc gia (đó là quốc hội hoặc nghị viện) của mỗi nước. Hiện nay, ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới, các lực lượng đối lập, chống chính phủ thường dùng thủ đoạn hoạt động “bất bạo động” để từng bước đi đến dùng vũ lực lật đổ nhà nước. Đây không phải là suy diễn, mà là một thực tế. Chẳng phải là, trong những lời khai của một số kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam đã thừa nhận trước tòa án rằng, họ đã từng ra nước ngoài để dự lớp huấn luyện về hoạt động “bất bạo động” đó sao? Chính vì tôn trọng quyền bảo đảm an ninh quốc gia, mà cộng đồng quốc tế đã đồng thuận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), cho phép các quốc gia có quyền đưa ra những hạn chế luật định đối với một số quyền, trong đó có quyền về tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp. Công ước này quy định, các quốc gia được đưa ra những hạn chế quyền “nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn và trật tự cộng cộng để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác”1.

Trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Dự luật này đang đi ngược lại sự phát triển về nhiều mặt giữa hai quốc gia. Như các phương tiện thông tin đã đưa, ngày 10-11- 2011, tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19, tổ chức tại thành phố Honolulu, bang Hawaii (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Tại cuộc trao đổi trên, Bà Ngoại trưởng khẳng định “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”2. Gần đây, ngày 02-02-2012, trong chuyến thăm Việt Nam, ông Kurt Campbell (Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương) đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam và lãnh đạo nhiều bộ, ngành của Việt Nam. Hai bên đã bày tỏ sự “hài lòng về những tiến triển sâu rộng của quan hệ Việt – Mỹ thời gian qua, cả trong hợp tác song phương cũng như trên các diễn đàn đa phương, góp phần duy trì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Hai bên cũng đã trao đổi các biện pháp thúc đẩy hơn nữa quan hệ hai nước, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế – thương mại – đầu tư, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng”3. Như vậy, cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” đã không đóng góp gì cho sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa kỳ, mà còn là vật cản trở, phá hoại sự phát triển quan hệ giữa hai quốc gia và những nỗ lực của Hoa kỳ trong xây dựng lòng tin với các nước tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Trên lĩnh vực kinh tế. Theo Dự luật này, viện trợ của Mỹ cho Việt Nam sẽ “bị hạn chế và ràng buộc vào các điều kiện về nhân quyền”. Như vậy, Dự luật đang làm ngược lại “Quyền phát triển” đã được cộng đồng quốc tế đồng thuận. Việc dùng biện pháp chính trị để hạn chế sự phát triển kinh tế của một quốc gia nghèo – đang phát triển là trái với tinh thần của quyền phát triển. Tất nhiên, trong thời đại ngày nay, sự phát triển của các dân tộc đều nằm trong mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau. Điều đó có nghĩa, nếu một quốc gia nào đó hạn chế một quốc gia khác thì họ cũng tự hạn chế sự phát triển của chính mình và ngược lại. Thực tế quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa kỳ trong 10 năm qua (kể từ khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực vào ngày 10-12-2001), thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng hơn 1.200% (từ 1,5 tỷ đô-la lên hơn 20 tỷ đô-la4). Theo số liệu mới nhất của hải quan Mỹ (công bố ngày 04-11-2011), thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Mỹ trong năm 2011 tiếp tục tăng mạnh so với năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ trong 8 tháng đầu năm đạt 11,3 tỷ đô-la, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2010 và xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 2,7 tỷ đô-la, tăng 2,5%.5 Như vậy, việc phát triển quan hệ giữa hai nước không chỉ đem lại lợi ích cho Việt Nam, mà còn đem lại lợi ích cho Hoa Kỳ.

Về mặt văn hóa ứng xử. Những quy định (nói cụ thể hơn đó là những đòi hỏi, hoặc những điều kiện mà Dự luật nêu ra), đặc biệt là ngôn từ của ông Crít Xmít trong buổi điều trần, khiến người ta liên tưởng đến việc Hoa Kỳ đang ra lệnh cho các chính quyền tay sai của họ trước đây. Ông nói “Hoa Kỳ đưa ra thông điệp”: Việt Nam “phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”. Ông ta còn xúc phạm Quốc hiệu của một dân tộc khi gọi Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là “Chính quyền Cộng sản” – như cách nói hằn học của những “thuyền nhân”, không có công ăn việc làm, chuyên hành nghề chống cộng trên đất Mỹ. Ai cũng biết, cách gọi Nhà nước Việt Nam là Chính quyền Cộng sản có nguồn gốc từ thời kỳ Quân đội Mỹ xâm lược Việt Nam (1954 – 1975); đó là thời kỳ căng thẳng của chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống TBCN và XHCN. Lẽ ra với tư cách một chính khách, một chính trị gia, ông Crít Xmít không nên sử dụng ngôn từ như thế, nhất là trong quan hệ quốc tế. Ông ta cần phải hiểu rằng, hàng trăm năm sống dưới chế độ thực dân – phong kiến và sự thống trị tàn bạo của CNĐQ, dân tộc Việt Nam không có quyền công dân và quyền con người. Những dân tộc được gọi là văn minh như Pháp, Mỹ… chẳng hề quan tâm gì đến quyền con người của nhân dân Việt Nam. Đây là một sự thật lịch sử không ai có thể phủ nhận. Có được quyền công dân và quyền con người như hiện nay, dân tộc Việt Nam đã phải đứng lên đấu tranh, không sợ hy sinh, gian khổ để giành lại quyền dân tộc tự quyết, quyền sống, quyền làm người của mình trong tay các thế lực đế quốc hung bạo, trong đó có Mỹ. Vậy có lẽ nào Chính phủ Việt Nam lại chà đạp lên quyền con người của công dân mình? Việc trừng phạt những kẻ vi phạm pháp luật quốc gia không có nghĩa là vi phạm nhân quyền; ngược lại, đó là việc làm cần thiết để bảo vệ quyền con người của quảng đại quần chúng nhân dân và cho cả dân tộc. Chính phủ nào cũng phải làm như vậy, kể cả Hoa Kỳ. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam không phủ nhận hiện nay trong xã hội còn nhiều vấn đề cần giải quyết; trong đó, có tệ quan liêu, tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân… ở nơi này hoặc nơi khác. Nhưng điều đó, hoàn toàn không phải là bản chất của chế độ xã hội XHCN và càng không phải là chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Do nhiều nguyên nhân, sự khác biệt nào đó về quan điểm, về pháp luật giữa Việt Nam và Hoa kỳ là hoàn toàn có thể hiểu được. Nếu hai bên có thiện chí, bằng những hành động cụ thể để hợp tác, giúp đỡ nhau như tiếp tục tìm kiếm hài cốt binh sĩ, tẩy rửa chất độc da cam, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh và đối thoại trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau thì hoàn toàn có thể thu hẹp dần sự khác biệt đó. Hơn nữa việc làm đó sẽ góp phần vào sự phát triển tốt đẹp mối quan hệ giữa hai dân tộc.

TRUNG THÀNH
tapchiqptd.vn

___________

1- Viện nghiên cứu Quyền con người – Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 259.

2- Báo Quân đội nhân dân -ngày 12-11-2011, tr. 07.

3-Báo Người Lao động, ngày 10-02-2012.

4- Báo Giáo dục Việt Nam, ngày 09-12-2011, Quan hệ thương mại Việt Mỹ sau 10 năm tăng 1.200%.

5-TheoVietnam+ 13-7-2011.

This entry was posted on Tháng Mười 4, 2012, in Chính luận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo

“Hình ảnh Bác Hồ trong tôi, nói theo ngôn ngữ nhà Phật, là hình ảnh một vị Bồ tát sáng chói các đức tính “tri túc dục thiểu” – hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về mọi tâm tư và tình cảm sâu kín nhất của mọi tầng lớp người trong xã hội, với đạo đức hết sức trong sáng, tất cả mọi hành động đều chỉ vì cuộc sống hạnh phúc của con người, của nhân loại… với kinh nghiệm bản thân, tôi cũng thấy theo chân Bác, tâm trí mình trong sáng hơn, lòng mình “thanh tịnh” hơn. Và cả dân tộc mình, đi theo con đường soi sáng bởi trí tuệ và đạo đức cao đẹp của Bác – nhất định sẽ làm nên những sự tích “thần kỳ”…”.

Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội chủ trì hội thảo và tập hợp những bài viết xuất sắc của các chức sắc Phật giáo, tăng ni Phật tử và các học giả, nhà nghiên cứu tôn giáo để xuất bản thành cuốn sáchChủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo. Đây là một cuốn sách hay, có giá trị tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, học tập và tìm hiểu về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng của Người về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng.

Cuốn sách được phát xuất từ nhận định rằng, một trong những nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu liên tục suốt 30 năm qua của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là do chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta đối với Phật giáo. Mà người đặt nền móng cho tư tưởng, chính sách tôn giáo đúng đắn đó là Chủ tịch Hồi Chí Minh vĩ đại.

Sự tín nhiệm của Đảng, Nhà nước với Phật giáo hẳn là có cơ sở từ lịch sử lâu dài của đất nước, sự vững mạnh của Đất nước và Phật giáo luôn có tính sóng đôi. Thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vốn là một nhà nghiên cứu Phật học uyên thâm, một trí thức yêu nước rất thân cận với chư tôn đức Phật giáo. Thừa hưởng tinh thần ấy, Bác Hồ cũng có sự quan tâm sâu đậm với Phật giáo, điều này được chứng tỏ qua nhiều tài liệu lịch sử, qua những phát biểu về Phật giáo và những lần tiếp xúc của Người với chư tôn túc Phật giáo và quần chúng Phật tử.

Cuốn sách tập hợp 31 nhận định, kiến giải cũng là 31 cảm niệm về Hồ Chủ tịch với Phật giáo mà các tác giả đã thực tế trải nghiệm trong cuộc sống tu học, sinh hoạt tôn giáo, và qua những lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Qua Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo người đọc sẽ có cái nhìn tổng quát về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Phật giáo, những hiểu biết sâu sắc của Người về tôn giáo truyền thống của dân tộc, những quan điểm, chủ trương, chính sách thực tế mà chính Người, qua sự hiểu biết sâu sắc ấy, cùng nhãn quan chính trị tài tình và sáng suốt, đã biến thành những nội dung ưu việt trong Hiến pháp, trong Sắc lệnh và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Qua những bài viết tiêu biểu, như: “Ba lần được gặp cụ Hồ” của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, “Một lần gặp gỡ mãi mãi không quên” của Hòa thượng Thích Minh Châu, “Vinh dự lớn lao” của học giả Nguyễn Đình Chi, “Hình ảnh đạo đức mãi mãi vẫy gọi Phật tử chúng tôi” của Cư sỹ Tống Hồ Cầm, và nhiều bài khác nữa, ta càng thêm yêu, thêm kính trọng sự giản dị, thân tình và sâu sắc đến vĩ đại của Hồ Chủ tịch trong sự nhìn nhận, ứng xử và tiếp xúc với chức sắc Phật giáo.

Đọc Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo, người đọc sẽ lý giải được vì sao Hồ Chủ tịch là tấm gương, là mục tiêu phấn đấu, là động lực mạnh mẽ cho những ý thức và hành động cao cả của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó có một phần không nhỏ là chức sắc và tín đồ Phật giáo Việt Nam, đoàn kết một lòng thực hiện mục tiêu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đọc Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo, độc giả cũng thêm hiểu và tin tưởng chắc chắn như lời nói chân thành của Hòa thượng Thích Minh Châu, rằng: “Đến nay, hơn bốn mươi năm đã trôi qua, nhìn lại quãng đường đời không mấy chỗ là bằng phẳng, tôi càng tin chắc rằng tấm lòng kính mến, tin yêu Hồ Chủ tịch từ thuở thiếu thời của tôi đã là một trong những ngọn lửa giữ cho lòng tôi luôn luôn nồng nhiệt, tâm luôn trong sáng trên con đường phụng Đạo, yêu nước của người Phật tử Việt Nam”.

Cuốn sách không phân chương, mục theo cách bố cục quen thuộc, mà tập hợp những bài viết theo chủ đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với Phật giáo; chính sách của Đảng, Nhà nước và Hồ Chủ tịch về Phật giáo; Hồ Chủ tịch với công tác vận động tăng ni, tín đồ Phật giáo; đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh; hồi ức, cảm nhận về những lần được vinh dự gặp Hồ Chủ tịch, làm cho người đọc tiếp cận những trang sách một cách tự nhiên như chính mình là một nhân chứng thực sự. Cuốn sách là tài liệu có giá trị, trực tiếp, cụ thể về tư tưởng Hồ Chí Minh với Phật giáo lần đầu tiên được viết bởi các chức sắc, nhà tu hành, tăng ni và cư sỹ Phật tử Phật giáo Việt Nam.

Sách do Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành tháng 9/2011. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả./.

Cư sỹ Yên Sơn
btgcp.gov.vn

Yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng trong chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, khi xuống tầu Đô đốc La-tút-xơ Tơ-rê-vin làm phụ bếp để ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước, ngoài chút kiến thức học được ở nhà trường và đôi bàn tay sẵn sàng làm đủ nghề “miễn là lương thiện” để sống và hoạt động. Hành trang của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ là lòng yêu nước và yêu thương con người sâu sắc. Hành trang giản dị ấy, nhưng lại là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, được bổ sung bằng mồ hôi và máu của những phu Cửa Rào, phu đồn điền cao su Lộc Ninh, của hàng loạt những sĩ phu đã bỏ mình vì nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầu thế kỷ; truyền thống ấy có lời hát ru của bà, có làn điệu ngọt ngào, da diết của dân ca xứ Nghệ… Tất cả sâu lắng trong lòng Anh, được chính Anh bổ sung, nâng cao và hoàn thiện suốt đời, trở thành lòng nhân ái bao la Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và đặc biệt là nhận thức từ thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, có dịp so sánh những người Pháp ở Pháp với những tên thực dân Pháp ở Đông Dương, hoà mình vào cuộc sống của những người lao khổ ở khu Hắc Lem, thành phố Niu oóc… Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác, hai thứ việc: Việc chính và việc tà. Trải qua quá trình 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, năm 1920 khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang để giải phóng triệt để con người. Đó là độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trìu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết giành cho người mất nước, người cùng khổ, chính vì vậy, Người giành cả cuộc đời Người để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân; những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó” .

Với Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Trước hết, Người lo cho dân tộc của Người và sau đó, Người lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đoạ đầy, đau khổ, bởi vì: “Họ là thân thích ruột già, công nông thế giới đều là anh em”.

Tư tưởng yêu thương con người được Hồ Chí Minh nêu lên và vận động mọi người cùng thực hiện suốt cả cuộc đời. Cho tới trước lúc đi xa, trong lời Di chúc, khi để lại: “Muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”, và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người. Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ vợ con thương binh, liệt sỹ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai; Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ cũ như: trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người của Bác Hồ là rất cụ thể, từ việc to như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: “Phần tốt ở mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi”, đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư, lạc nghiệp đến tương cà mắm muối hàng ngày cho nhân dân. Bác lo cho cả dân tộc và chăm lo cho từng chiến sỹ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Theo Bác: Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác đánh giá cao vai trò của nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác, bởi theo Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. Theo Bác, yêu thương con người là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Năm 1968, khi làm việc với cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương về việc xuất bản sách “Người tốt, việc tốt”, nhằm tuyên truyền sâu rộng những gương điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, trong ứng xử giữa những con người, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”.

Yêu thương con người vận dụng vào trong Đảng, trong tổ chức là phải “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại: Vào dịp tháng 5 các năm 1966, 1968, 1969, Bác đều cho mang bản Di chúc đã viết năm 1965 ra để bổ sung, sửa chữa. Năm 1966, bên cạnh câu đã đánh máy từ năm 1965: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, Bác ghi thêm vào cùng dòng câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Chỉ một dòng này thôi, cho thấy sự trăn trở của Người về việc không ngừng rèn luyện đạo đức cho mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bản tự tay đánh máy năm 1965, Bác gạch chân 5 chữ: Tự phê bình và phê bình. Song dường như việc nhấn mạnh, kể cả đặt chữ tự phê bình lên trước phê bình chưa làm Người yên tâm, nên năm 1966 Người bổ sung thêm câu: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đây chính là đòi hỏi xác định động cơ, hay nói chính xác hơn là cái Tâm của người phê bình. Bởi khi phê bình nhau, cần đúng lúc đúng chỗ đã khó, song mục đích phê bình để giúp đỡ nhau tiến bộ mới quan trọng hơn, cái vũ khí phê bình ấy phải trở thành văn hoá phê bình, chứ không phải là cớ để sát phạt, bới móc nhau.

Yêu thương con người là một trong bốn chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh. Các nhà đạo đức học, các nhà khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thuận như vậy. Trong 4 chuẩn mực ấy (Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng) không chuẩn mực nào có thể xem nhẹ, vì cả 4 chuẩn mực ấy là tiêu chí để đánh giá con người mới, con người mang dấu ấn đạo đức Hồ Chí Minh.

Nhớ về Người, ôn lại những lời Người dạy về đạo đức, đặc biệt soi vào tấm gương đạo đức của Người, vị lãnh tụ suốt đời tôn trọng nguyên tắc: “Nói thì phải làm”, mỗi người chúng ta càng thêm nhớ Bác, càng cố gắng thiết thực làm theo lời Bác dạy. Mọi người, mọi nhà, mọi cấp, mọi ngành ai ai cũng khuyến khích cho sự nẩy nở phần thiện vốn có ở mỗi con người và chung tay đẩy lùi phần ác cũng luôn rình rập quanh ta – đó chính là thực hiện chuẩn mực yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng của đạo đức Hồ Chí Minh.

Theo phuly.edu.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Độc lập, tự do… đường lên phía trước…

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Đúng 20h đêm 29/8/2009, đêm nhạc “Hồ Chí Minh – cả cuộc đời vì nước vì dân” đã được truyền hình trực tiếp từ Quảng trường Ba Đình đến với đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Đêm mùa thu, không gian quảng trường lắng lại, khi vài ngàn con người đủ mọi lứa tuổi, từ những cụ già tóc bạc phơ đến những em nhỏ đôi ba tuổi, tụ họp tại đây để cùng nhớ, cùng tri ân, cùng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Thêm rất nhiều ghế phụ, và hàng ngàn đồng bào xem chương trình dọc đường Độc Lập, nơi ban tổ chức đặt 3 màn hình lớn.

Đêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNetĐêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNet

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca”“Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Con đường của dân tộc Việt Nam mà Bác vạch ra là con đường mở, con đường phát triển đến tương lai mà cơ sở nền móng của nó là Độc lập, tự do.

anh 1.jpgCả dân tộc đồng lòng vì “Độc lập tự do… đường lên phía trước”. Ảnh VietNamNet

Ngay sau đó, ca sĩ Đăng Dương “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Nhạc sĩ Văn Cao) với những lời ca tha thiết, hào hùng: “Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình, với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” mở đầu cho những ca khúc thể hiện tình cảm yêu kính của những người con Việt Nam với người cha chung của dân tộc. Từ những khúc ca hùng tráng Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác (Cao Việt Bách), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (Trần Kiết Tường) đến Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh)…, đến những lời ca da diết của “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Viếng lăng Bác”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”…

Các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ, từ những người kỳ cựu như NSND Thu Hiền, NSND Quang Thọ, đến thế hệ trung niên như Thái Bảo (Hà Nội), Tạ Minh Tâm (TPHCM), cả các sĩ trẻ như Hồ Quỳnh Hương, Phương Anh, Thanh Thúy…, mỗi người đều góp lời ca như những bông hoa đẹp trong vườn hoa dâng Bác. Nhiều khán giả hát cùng các ca sĩ những lời ca tha thiết, nhiều tiếng vỗ tay theo nhạc điệu.

Đa số các ca khúc về Bác được chọn hát trong chương trình không mới, bởi những người yêu nhạc “cách mạng” Việt Nam đã quen thuộc với những lời ca được cất lên mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, hay tưởng nhớ ngày Bác đi xa. Nhưng khi những lời ca sâu lắng ấy vang lên giữa không gian quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác đọc những lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 64 mùa thu trước, nơi đồng bào cả nước hòa chung dòng lệ tiễn đưa Bác 40 năm trước, nơi Bác đang yên giấc, dường như tinh thần của Bác, tấm lòng của Bác đã truyền tình cảm cho cả người hát lẫn người nghe; tạo nên mối cộng cảm, gắn bó, liên kết cả dân tộc thành một khối sức mạnh: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Chương trình cũng dành những phút tri ân các chuyên gia Liên Xô trước đây, các chuyên gia Nga hiện nay nối tiếp nhau dành trọn tâm sức, tình cảm để giữ gìn hình hài Bác suốt 40 năm qua, để mỗi ngày hàng ngàn người nối tiếp nhau vào lăng để được thấy Bác. Nhiều chuyên gia có mặt trong đêm diễn, cùng nhớ Bác với đồng bào Việt Nam.

Cùng với những lời ca dâng Bác, những thước phim tư liệu hình ảnh Bác Hồ với đồng bào – chiến sĩ cả nước, với bạn bè quốc tế gây xúc động mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh Người giản dị, gần gũi, thân thương, mà còn bởi những người tiếp xúc với Bác đều thể hiện rõ niềm hạnh phúc khi được gặp Bác, được Bác ôm hôn hay bắt tay thân mật… Cảm giác như Bác vĩ đại đang ở đâu đó thật gần.

Trong không khí ấy, những lời cuối cùng trong di chúc Bác để lại cho toàn dân từ 40 năm trước sẽ khiến mỗi người phải suy ngẫm: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Theo Khánh Linh (VietNamNet)

bee.net.vn

Di chúc của Bác là 1 trong 30 bảo vật quốc gia

Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là 1 trong 30 hiện vật, nhóm hiện vật vừa được công nhận là bảo vật quốc gia.

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định công nhận bảo vật quốc gia (đợt 1) cho 30 hiện vật, nhóm hiện vật. Bản di chúc, bản thảo “Nhật ký trong tù”, cuốn “Đường kách mệnh”, bản thảo viết tay “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966)…là 5 trong số 30 bảo vật quốc gia.

Danh sách 30 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia, gồm:

1. Trống đồng Ngọc Lũ (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

2. Trống đồng Hoàng Hạ (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

3. Thạp đồng Đào Thịnh (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

4. Tượng đồng hai người cõng nhau thổi khèn (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

5. Cây đèn đồng hình người quỳ (Văn hóa Đông Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

6. Trống đồng Cảnh Thịnh (thời Tây Sơn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

7. Ấn đồng “Môn Hạ Sảnh ấn” (thời Trần, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

8. Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga (thời Lê sơ, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

9. Cuốn “Đường Kách mệnh” (tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

10. Tác phẩm “Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) (tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

11. Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

12. Bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh).

13. Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn bản gốc Bác Hồ viết từ ngày 10/5/1965 – 19/5/1969, hiện lưu giữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

Bản di chúc của Bác Hồ có dòng ghi chú “Tuyệt đối bí mật”

14. Tượng Phật Đồng Dương (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

15. Tượng Nữ Thần Devi (Hương Quế) (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

16. Tượng Thần Vishnu (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

17. Tượng Phật Lợi Mỹ (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

18. Tượng Thần Surya (Văn hóa Óc Eo, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh).

19. Tượng Bồ tát Tara (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng).

20. Đài thờ Mỹ Sơn E1 (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng).

21. Đài thờ Trà Kiệu (Văn hóa Chăm Pa, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thành phố Đà Nẵng).

22. Tượng Phật A Di Đà (thời Lý, hiện lưu giữ tại chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh).

23. Tượng Phật nghìn mắt nghìn tay (thời Lê Trung Hưng, hiện lưu giữ tại chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

24. Bộ Cửu vị thần công (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế).

25. Bộ Cửu đỉnh (thời Nguyễn, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế)

26. Pháo cao xạ 37mm (súng phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không – Không quân).

27. Máy bay Míc 21 F96, số hiệu 5121 (máy bay chiến đấu của Không quân nhân dân Việt Nam trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam).

28. Sổ trực ban “Chiến dịch Hồ Chí Minh” (sổ trực ban chép tay tình hình chiến sự Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 25/4 – 1/5/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Quân khu 7).

29. Xe tăng T54B, số hiệu 843 (tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam).

30. Xe tăng T59, số hiệu 390 (tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến vào Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tăng thiết giáp).

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch UBND các cấp nơi có bảo vật quốc gia, Thủ trưởng Bộ, ngành, người đứng đầu tổ chức được giao quản lý bảo vật quốc gia trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý đối với bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa./.

Theo Chinhphu.vn
vov.vn

ASEAN ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

(VOV) – Tại hội nghị không chính thức Bộ trưởng ngoại giao ASEAN, các nước ASEAN khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Nhân dịp Khóa họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong các ngày 27 và 28/9/2012, tại New York (Mỹ) đã diễn ra Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (IAMM), Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Mỹ, Hội nghị giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Tổng thư ký Liên hợp quốc LHQ và Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ), các Hội nghị giữa ASEAN với đại diện Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và với Tổ chức hợp tác kinh tế (ECO).

Tại các Hội nghị, các Ngoại trưởng đã bàn về phương hướng tăng cường hơn nữa các quan hệ hợp tác, cũng như trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh dẫn đầu Đoàn Việt Nam tham dự các Hội nghị nêu trên.

Tại Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, các Ngoại trưởng ASEAN nhất trí tiếp tục tăng cường phối hợp lập trường và nâng cao vai trò của ASEAN tại LHQ; ra Nghị quyết Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ/LHQ) về tăng cường hợp tác giữa ASEAN và LHQ; ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ứng cử vào các vị trí của LHQ; trên tinh thần đó, các nước ASEAN khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, dự kiến sẽ được bầu trong năm 2013.

Về hợp tác ASEAN, các Ngoại trưởng ASEAN đã thông qua danh mục các kết quả chính của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 45 và khẳng định quyết tâm triển khai hiệu quả các kết quả này, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông, thúc đẩy đàm phán chính thức ASEAN-Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)…

Các Ngoại trưởng đã xem xét và cho ý kiến chỉ đạo về công tác chuẩn bị cho các Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 11/2012, trong đó có việc trình dự thảo Tuyên bố Nhân quyền ASEAN, tổ chức Đối thoại toàn cầu ASEAN (AGD) và một số vấn đề khác. Trao đổi về tình hình quốc tế và khu vực, các Ngoại trưởng ASEAN đã thảo luận những diễn biến gần đây ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á; theo đó, ASEAN nhất trí đề cao tầm quan trọng Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông và Tuyên bố của Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi, kêu gọi các bên giải quyết mọi khắc biệt bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc đã cam kết và luật pháp quốc tế.

Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Mỹ, hai bên bày tỏ hài lòng trước những tiến triển đã đạt được và nhất trí thúc đẩy quan hệ hướng tới tầm đối tác chiến lược, vì mục tiêu chung là hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực. Ngoại trưởng Mỹ khẳng định chính sách của Mỹ đẩy mạnh hợp tác với ASEAN, ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng và đóng vai trò trung tâm ở khu vực, cùng ASEAN đóng góp vào thành công của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Mỹ lần thứ 4 tháng 11/2012.

Tại Hội nghị giữa Ngoại trưởng ASEAN với Tổng thư ký LHQ và Chủ tịch ĐHĐ/LHQ, hai bên hoan nghênh những tiến triển đã đạt trong quan hệ ASEAN-LHQ, nhất trí cần tiếp tục triển khai Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác toàn diện ASEAN-LHQ thông qua tháng 11/2011, tăng cường hợp tác trong những lĩnh vực ưu tiên đã xác định như Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs), quản lý thiên tai, thu hẹp khoảng cách phát triển, hỗ trợ xây dựng Cộng đồng ASEAN, tăng cường phối hợp giữa hai Ban Thư ký…

Tại các Hội nghị giữa ASEAN với Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và với Tổ chức Hợp tác Kinh tế (ECO), hai bên nhất trí duy trì cơ chế trao đổi, tiếp xúc định kỳ bên lề ĐHĐ/LHQ; đồng thời, thăm dò khả năng thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa ASEAN với các khu vực này.

Phát biểu tại các Hội nghị, Thứ trưởng  Phạm Quang Vinh nhấn mạnh ASEAN cần tiếp tục tăng cường đoàn kết và hợp tác, phát huy tinh thần trách nhiệm, triển khai hiệu quả các kết quả của Hội nghị AMM-45 và nỗ lực hết sức mình để bảo đảm các Hội nghi Cấp cao của ASEAN tháng 11/2012 thành công.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh đề nghị ASEAN càng cần phối hợp chặt chẽ, phát huy vai trò trung tâm thông qua việc đề cao các nguyên tắc cơ bản các nước đã cùng cam kết và được quy định  trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Tuyên bố EAS về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi, nhất là các nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, hợp tác cùng có lợi…, qua đó đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu vực.

Về Biển Đông, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh các nước càng cần nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước Luật biển 1982, trong đó có quy định về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển; thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); đồng thời, ASEAN cần nỗ lực bảo đảm thực hiện hiệu quả Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Nhân dịp này, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh đã có các cuộc tiếp xúc với Trưởng đoàn và đại diện một số nước để bàn biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương và các vấn đề cùng quan tâm khác./.

PV/VOV online
vov.vn

Phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự dân chủ và đổi mới

Phát biểu của TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG khai mạc Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI

Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, hôm nay Ban Chấp hành Trung ương bắt đầu họp Hội nghị lần thứ Sáu để thảo luận, cho ý kiến về các báo cáo, đề án liên quan đến: tình hình kinh tế – xã hội năm 2012, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; chính sách, pháp luật về đất đai; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; phát triển khoa học và công nghệ; quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước; báo cáo kết quả kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về xây dựng Đảng; và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị; xin gửi tới các đồng chí lời chúc tốt đẹp nhất.

Thưa các đồng chí,

Với tinh thần tiếp tục đổi mới, phát huy dân chủ, trí tuệ của Trung ương trong quá trình xem xét, thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của Đảng và đất nước, tôi xin có một số ý kiến mang tính gợi mở, nêu vấn đề để thảo luận. Mong được các đồng chí quan tâm.

Toàn cảnh Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI
Ảnh: Trí Dũng

1- Về kinh tế – xã hội

Việc xem xét tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2012 và phương hướng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013 được đặt trong bối cảnh cả nước đang triển khai thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và các nghị quyết của Trung ương với trọng tâm là tái cấu trúc đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại; nền kinh tế nước ta đứng trước những tác động không thuận của tình hình thế giới, khu vực; cán bộ, đảng viên và nhân dân đang đặt nhiều kỳ vọng vào kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng… Vì vậy, đề nghị Trung ương tập trung thảo luận, phân tích kỹ những đặc điểm nổi bật của năm 2012, làm rõ những kết quả đã đạt được; những hạn chế, yếu kém đang tồn tại; và chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan; dự báo những khả năng sắp tới với tinh thần thật sự khách quan, khoa học, toàn diện. Chú ý đối chiếu với những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, tạo tiền đề cho việc lấy lại đà tăng trưởng và phát triển nhanh, bền vững trong những năm sắp tới. Đặc biệt, cần đi sâu phân tích, đánh giá các vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh tế. Phải chăng vừa qua, chúng ta mới chủ yếu tập trung cho việc chèo chống, đối phó với tình hình khó khăn về tài chính, ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, kinh doanh và việc làm cho người lao động… mà chưa ở thế chủ động triển khai các biện pháp đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện 3 khâu đột phá nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội?

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, cần xác định những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất cho năm 2013. Phải chăng sắp tới chúng ta vẫn phải quan tâm đến việc kiềm chế lạm phát nhưng tập trung ưu tiên nhiều hơn cho ổn định, lành mạnh hoá kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, lấy lại đà tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm?

Về Đề án Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước: đây là vấn đề lớn và khó, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Cách đây hơn 10 năm, ngày 24.9.2001, Hội nghị Trung ương 3 Khóa IX đã ban hành Nghị quyết về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Tiếp đó Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 Khóa IX cũng tiếp tục khẳng định, bổ sung, nhấn mạnh thêm nhiều nội dung quan trọng về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước. Bộ Chính trị đã 8 lần nghe Ban cán sự đảng Chính phủ báo cáo và đã ban hành 4 chỉ thị, kết luận chỉ đạo về công tác này. Các cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nghị quyết và kết luận quan trọng này của Trung ương. Mới đây, Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là trong Cương lĩnh và Chiến lược đã xác định rõ thêm vai trò của kinh tế nhà nước, vị trí của doanh nghiệp nhà nước và các vấn đề có liên quan.

Đề nghị Trung ương tập trung cho ý kiến: vì sao lúc này chúng ta vẫn phải tiếp tục sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước? Phạm vi nội dung đến đâu? Phải chăng cần dựa trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khóa IX, chọn ra một số vấn đề lớn, quan trọng để thảo luận và có chính sách, biện pháp tháo gỡ, khắc phục? Ví dụ: vấn đề cơ cấu lại lĩnh vực, ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; vấn đề đổi mới mô hình tổ chức, quản trị doanh nghiệp nhà nước; vấn đề đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước… Đối với từng vấn đề, cần đi sâu phân tích, đánh giá tình hình và nguyên nhân; chỉ rõ đâu là nguyên nhân thuộc về chủ trương, cơ chế, chính sách và đâu là nguyên nhân do tổ chức thực hiện không đúng, không nghiêm? Từ đó, đề ra chủ trương, biện pháp phù hợp, có tính khả thi cao, tạo sự chuyển biến thật sự về hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong tình hình mới.

Về vấn đề đất đai: mới đây, Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI đã bàn và kết luận một bước, đồng thời giao cho Ban cán sự đảng Chính phủ khẩn trương nghiên cứu làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để trình Hội nghị lần này tiếp tục xem xét, ban hành nghị quyết định hướng cho việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2003. Sau một thời gian khẩn trương, nghiêm túc chuẩn bị, Ban cán sự đảng Chính phủ đã xây dựng Báo cáo trình Bộ Chính trị thảo luận và hôm nay trình xin ý kiến Trung ương. Đề nghị các đồng chí tập trung thảo luận kỹ để đi đến thống nhất ban hành Nghị quyết của Trung ương định hướng cho việc nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai. Chú ý việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về giá đất; về giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; về thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại ngân hàng ở nước ngoài; về việc quản lý, sử dụng đất nông, lâm trường quốc doanh; việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số…

2- Về phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ

Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng, đã được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Cách đây 16 năm, Hội nghị Trung ương 2 Khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đến năm 2010. Lần này, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, chúng ta bàn về vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ. Có một loạt câu hỏi đặt ra cần được thảo luận, làm rõ như: Vì sao lúc này phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ? Phạm vi, mục tiêu, yêu cầu của mỗi Đề án thế nào? Đổi mới căn bản là gì, toàn diện là gì? Nội hàm phát triển khoa học và công nghệ? Những chủ trương, chính sách, biện pháp gì cần phải thống nhất ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển khoa học – công nghệ?…

Để giải đáp được những câu hỏi nêu trên một cách đúng đắn, cần có sự đánh giá toàn diện, khách quan tình hình triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cũng như tình hình phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ trong 16 năm qua, khẳng định những thành tựu, kết quả đã đạt được, chỉ ra những bất cập, hạn chế, yếu kém còn tồn tại; làm rõ vì sao giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đến nay vẫn chưa thực sự trở thành nền tảng và động lực cho phát triển? Vướng mắc chính ở chỗ nào?… Trên cơ sở đó, khẳng định những quan điểm lớn, quan trọng đã được đề ra tại Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII đến nay còn đúng, cần tiếp tục thực hiện; đồng thời bổ sung, phát triển các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mới, nhất là những nội dung đổi mới có tính đột phá, căn bản, toàn diện.

Phạm vi giáo dục – đào tạo rất rộng, bao gồm: mầm non, phổ thông, đại học và đào tạo nghề từ sơ cấp đến cao đẳng. Các chuyên ngành khoa học – công nghệ cũng rất phong phú, đa dạng, bao gồm: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao và ứng dụng khoa học – công nghệ… Mục tiêu, nhiệm vụ và đặc biệt là các chủ trương, chính sách cho từng loại đối tượng và chuyên ngành cần được nghiên cứu, xác định rất cụ thể, phù hợp để bảo đảm tính khả thi; khắc phục tình trạng lâu nay đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách thì đúng hoặc về cơ bản là đúng, nhưng khó hoặc không thực sự đi vào cuộc sống, không thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Phải chăng đối với cả hai lĩnh vực này, đều phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc hơn nữa tư duy và nhận thức của các ngành, các cấp cho phù hợp với bối cảnh và yêu cầu mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Trên cơ sở đó, đổi mới căn bản cơ chế, chính sách, nhất là chính sách đầu tư và cơ chế tài chính; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới đồng bộ hệ thống giáo dục – đào tạo và nghiên cứu, triển khai khoa học – công nghệ; đổi mới công tác quản lý giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ; công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, tôn vinh đội ngũ các nhà giáo, nhà khoa học, các nhà quản lý, nhất là những nhân tài đúng với tinh thần “hiền tài là nguyên khí quốc gia”? Đồng thời, nghiên cứu điều chỉnh tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước sao cho phù hợp.

3- Một số vấn đề về xây dựng Đảng

Từ Đại hội XI của Đảng đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành khá nhiều văn bản quan trọng và đã dành nhiều công sức cho việc thực hiện nhiệm vụ then chốt này. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đang được toàn Đảng tập trung triển khai thực hiện rất tích cực theo đúng kế hoạch, lộ trình. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo ráo riết và chặt chẽ; đồng thời đã tiến hành kiểm điểm tập thể và cá nhân một cách nghiêm túc theo đúng quy định. Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị sẽ báo cáo kết quả bước đầu để Trung ương cho ý kiến. Riêng việc lập lại Ban Kinh tế Trung ương và việc xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh chủ chốt của Đảng, Nhà nước, Bộ Chính trị đã có Tờ trình và Đề án gửi Trung ương; tôi chỉ xin nói rõ thêm mấy ý về công tác quy hoạch cán bộ.

Chúng ta đều biết, cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; do đó công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Và trong công tác cán bộ thì việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Từ nhiều năm qua, nhất là từ khi có Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30.11.2004 của Bộ Chính trị Khóa IX, công tác quy hoạch cán bộ đã được quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách khá bài bản trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, công tác quy hoạch cán bộ cũng còn không ít hạn chế, yếu kém, như nhiều trường hợp chưa gắn với việc đánh giá cán bộ hoặc chưa căn cứ vào kết quả đánh giá cán bộ; chưa thật sự xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ công tác; chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ; chưa có tầm nhìn xa, dẫn đến tình trạng lúng túng, hẫng hụt mỗi khi cần bổ sung, thay thế; đặc biệt, chưa xây dựng được quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Nhận rõ khuyết điểm này, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI đã nêu nhiệm vụ phải xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Tại Hội nghị này, Trung ương chưa thể bàn về nhân sự quy hoạch cụ thể, mà chủ yếu tập trung cho ý kiến về mục đích, yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nội dung của việc xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Nội dung công tác quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, bao gồm: yêu cầu, tiêu chuẩn đối với từng chức danh cụ thể; độ tuổi tham gia quy hoạch; số lượng, cơ cấu của quy hoạch; đối tượng và điều kiện lựa chọn cán bộ đưa vào quy hoạch; quy trình phát hiện, giới thiệu, lựa chọn và quyết định nguồn quy hoạch; quản lý và thực hiện quy hoạch… Sau khi Trung ương thống nhất về những vấn đề quan trọng này và Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo việc xây dựng quy hoạch cụ thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 – 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo. Đề nghị các đồng chí căn cứ vào Đề án, Tờ trình của Bộ Chính trị và bằng kinh nghiệm, thực tiễn của công tác xây dựng quy hoạch cán bộ ở địa phương, bộ, ngành mình trong những năm qua, nghiên cứu, thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến vào nội dung của Đề án, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, đi đến thống nhất cao để ban hành Nghị quyết, tạo tiền đề cho việc thực hiện nội dung của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Thưa các đồng chí,

Có thể nói, ít có Hội nghị Trung ương nào có nhiều nội dung và dự kiến họp dài ngày như Hội nghị lần này. Hầu hết các vấn đề chúng ta sẽ bàn và quyết định đều rất quan trọng, khó và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, cần phải tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Vì vậy, đề nghị Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự dân chủ và đổi mới, tập trung nghiên cứu, thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng, sâu sắc để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cám ơn.

daibieunhandan.vn

This entry was posted on Tháng Mười 2, 2012, in Chính luận.

Tự phê bình và phê bình phải là vũ khí sắc bén

QĐND – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục cán bộ, đảng viên nắm chắc, khéo sử dụng vũ khí tự phê bình – phê bình và sửa chữa để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố chính quyền. Người khuyên: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động đúng đắn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề và tự giải đáp: “Tự phê bình là gì? Là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguồn: Internet

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình thật dễ hiểu và dễ thực hiện. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc giải phóng dân tộc…, tự phê bình – phê bình được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện đúng đắn, nghiêm túc. Đây là vũ khí sắc bén, góp phần quan trọng nâng cao lòng yêu nước, tinh thần và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trước vận mệnh đất nước, đã làm nên những chiến thắng huy hoàng của dân tộc ta.

Tuy nhiên, hiện nay việc hiểu và thực hiện tự phê bình và phê bình ở một số địa phương, đơn vị, một số bộ, ngành, đang có những biểu hiện không đúng đắn. Chẳng hạn, có những kẻ, trước các kỳ đại hội, hoặc bổ nhiệm, thì tung tin, dựng chuyện cho “đối thủ”, rồi lợi dụng tự phê bình – phê bình hạ thấp uy tín để tranh chức, đoạt quyền. Đó đây vẫn còn biểu hiện tự phê bình và phê bình mang tính hình thức, tự phê bình thì nói về thành tích thật to lớn, sâu sắc, nhưng đề cập đến khuyết điểm chỉ kể ra cho gọi là có. Khi phê bình cấp trên, thì toàn nói về những khuyết điểm xét về hình thức có vẻ nghiêm trọng, nhưng thực chất là sự nịnh nọt, tâng bốc lẫn nhau, nhất là những kẻ cơ hội về chính trị… Chính vì vậy, các thế lực thù địch đã lợi dụng để ra sức tuyên truyền, xuyên tạc một cách hiểm độc về tư tưởng tự phê bình – phê bình của Hồ Chí Minh. Một mặt chúng cho rằng, tự phê bình và phê bình chỉ là công cụ để tranh giành quyền, chức trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp. Mặt khác, chúng tìm mọi cách lôi kéo, móc nối với những kẻ cơ hội trong Đảng sử dụng tự phê bình – phê bình để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện những ý đồ đen tối.

Để góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch và phát huy tốt hiệu quả của vũ khí tự phê bình và phê bình, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung tuyên truyền nâng cao ý thức của cán bộ, đảng viên và hiệu quả tự phê bình – phê bình. Trong đó tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, phải tổ chức học tập và quán triệt lại một cách nghiêm túc, sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình.

Thứ hai, tổ chức hoạt động tự phê bình và phê bình trong các cấp bộ Đảng, chính quyền, nhất là cấp cơ sở một cách thường xuyên, liên tục và hiệu quả. Đây là giải pháp có tầm quan trọng bậc nhất và mang ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Đảng, Nhà nước và quân đội ta trong sạch, vững mạnh.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình với cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham ô, tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện tốt giải pháp này cùng một lúc đạt được các mục tiêu sau: Giảm thiểu được những thiếu sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, trong thi hành công vụ: Phát hiện sớm các biểu hiện tham ô, tham nhũng, nhờ đó giảm thiểu tổn thất về tài sản và tiền bạc của Nhà nước và nhân dân, đồng thời, bảo vệ được cán bộ, đảng viên và uy tín của Đảng, Nhà nước: Hạn chế tối đa những kẽ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

Tóm lại, tự phê bình – phê bình là hoạt động mang tính tất yếu, thường xuyên, liên tục của một đảng cầm quyền như Đảng ta. Có làm tốt hoạt động này, thì Đảng mới vững mạnh, mới hoàn thành sứ mệnh của một đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.

Đại tá, PGS, TS Hoàng Minh Thảo
qdnd.vn

Vũ Xuân Chiêm – Vị tướng của Trường Sơn huyền thoại

QĐND – Tôi không có may mắn được sống, chiến đấu và học tập công tác dưới quyền Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559; Đại biểu Quốc hội khóa IV, khóa V, khóa VI; Cán bộ lão thành cách mạng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Mới chỉ được gặp một đôi lần, còn phần nhiều tôi biết về Trung tướng Vũ Xuân Chiêm qua sử sách, các phương tiện truyền thông và lời kể của các cựu chiến binh với những câu chuyện đậm chất huyền thoại về Bộ đội Trường Sơn, về Đoàn 559… Dẫu vậy khi hay tin Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (bí danh Vũ Xuân Chi) – một vị tướng tài ba, một người con ưu tú của dân tộc về cõi vĩnh hằng, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, xúc động, nuối tiếc khôn nguôi.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm, sinh tháng 2 năm 1923 tại thôn An Mỹ, xã Trực Đông (nay là xã Trung Đông), huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, từ quê hương giàu truyền thống cách mạng, năm lên 8 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã lên Hà Nội làm thợ. Sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, thấu hiểu cảnh lầm than, cùng cực của người công nhân do bị chế độ thực dân đế quốc áp bức bóc lột, năm 1936, khi chưa tròn 14 tuổi, Vũ Xuân Chiêm đã tham gia cách mạng với nhiệm vụ vận chuyển công văn tài liệu. Năm 1938, Vũ Xuân Chiêm tham gia vào Thanh niên Phản đế, tập hợp thanh niên đứng lên chống lại chế độ thực dân ở Hà Nội, đòi quyền lợi cho người công nhân dưới chế độ thực dân, phong kiến… Với những đóng góp xuất sắc cho cách mạng, năm 1940, Vũ Xuân Chiêm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 12 năm 1940, Vũ Xuân Chiêm bị địch bắt. Dù không tìm được tài liệu trên người, nhưng địch vẫn kết án ông 15 năm khổ sai, biệt xứ giam tại nhà tù Sơn La rồi đày ra Côn Đảo. Kẻ thù tra tấn rất dã man nhằm uy hiếp tinh thần, lấy lời khai. Chết đi sống lại nhiều lần vì những đòn tra tấn của bọn cai ngục nhưng Vũ Xuân Chi (bí danh trong tù của ông) vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản. Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9-1945, Vũ Xuân Chiêm được ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng. Vũ Xuân Chiêm được đồng chí Hồ Tùng Mậu đưa về Huế tham gia Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Quân sự khu C. Tháng 1-1947, Vũ Xuân Chiêm là Tỉnh ủy viên tỉnh Thừa Thiên, Phó bí thư Thành ủy Huế.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (thứ 2 từ trái sang) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Song Hào và Thượng tướng Hoàng Văn Thái bàn kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.
Ảnh tư liệu

Tháng 3 năm 1950, Vũ Xuân Chiêm được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc. Cùng năm đó vào tháng 7, Vũ Xuân Chiêm được cử vào Quân đội và được giao phụ trách công tác chính trị – hậu cần cho các chiến dịch lớn. Trong ký ức của mình Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không bao giờ quên kỷ niệm lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Trong Chiến dịch Biên giới, ngày 28-7-1950, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy chiến dịch do Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Bí thư, Tư lệnh chiến dịch. Đầu tháng 8-1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức đoàn cán bộ trực tiếp đi nghiên cứu địa hình thị xã Cao Bằng – một mục tiêu trọng yếu phải giải phóng. Sau cuộc thị sát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp họp Đảng ủy Mặt trận mở rộng lấy ý kiến dân chủ. Bác Hồ đến Sở chỉ huy chiến dịch, nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chủ trương của Đảng ủy Mặt trận. Trong giờ giải lao, Bác Hồ hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chú làm công việc gì?”. Vũ Xuân Chiêm đáp: “Báo cáo Bác! Cháu làm công tác chính trị ạ!”. Bác Hồ tiếp: “Đó là việc tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện chủ trương, đường lối cách mạng. Công việc đó quan trọng lắm, nhưng phải có cặp tai thính, đôi mắt tinh tường mới làm tốt được. Chú hiểu chứ?”. Thấy Vũ Xuân Chiêm chưa rõ ý, Bác Hồ vui vẻ nói: “Bác kể chú nghe một chuyện nhé. Một lần Bác ở chỗ làm việc về nhà, chú bảo vệ đón, Bác khẽ gật, đưa tay lên miệng nói: “Cho Bác chút nước…”. Chú bảo vệ quay vào rồi ra ngay, đưa thuốc và lửa cho Bác. Thấy vậy mấy chú đứng gần cười ồ rồi nói: “Bác khát hỏi nước sao lại đưa lửa”. Bác nhận thuốc, đưa mọi người cùng hút và khuyên anh em không nên trách chú ấy, rồi hỏi: “Tại Bác nói không rõ hay tại chú ấy nghe nhầm, nhưng tại ai thì cũng có bài học là cán bộ nói cho dân nghe phải rõ ràng, dứt khoát và cũng chớ làm như chú bảo vệ: Dân xin nước, cán bộ lại cho lửa”. Rồi Bác cười hỏi Vũ Xuân Chiêm: “Chuyện chỉ có thế, chú thấy cái tai, con mắt, cách nói khi làm công tác tuyên truyền với quần chúng quan trọng thế nào chứ?”. Bài học về công tác chính trị mà Bác Hồ dạy trong lần gặp gỡ đầu tiên ấy được Vũ Xuân Chiêm ghi nhớ và làm theo đến hết đời.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm từng giữ nhiều trọng trách. Tháng 10 năm 1951 đến tháng 7 năm 1963, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần. Tháng 8 năm 1963 đến tháng 2 năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (tháng 3 năm 1965 đến tháng 5 năm 1970), với cương vị là Phó chính ủy rồi Chính ủy Bộ tư lệnh Đoàn 559, đồng chí đã tham gia lãnh đạo, chỉ huy góp phần làm nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh lịch sử. Tháng 6 năm 1970, Vũ Xuân Chiêm được điều động trở lại làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Là cán bộ chủ chốt của ngành Hậu cần Quân đội đồng chí Vũ Xuân Chiêm đã cùng với tập thể cấp ủy, chỉ huy Tổng cục Hậu cần lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đảm bảo kịp thời cả về con người và vũ khí trang bị hậu cần – kỹ thuật cho chiến trường miền Nam, cùng quân và dân cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau giải phóng miền Nam, đồng chí được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Tháng 9 năm 1976, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đồng chí đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là một người lãnh đạo, chỉ huy uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng chí đã cùng với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, quân sự của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng LLVT cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng chí là người cán bộ tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, với mọi nhiệm vụ được giao, sâu sát, khiếm tốn, giản dị và luôn phát huy bản chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Tháng 10 năm 1987, Trung tướng Vũ Xuân Chiêm được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu.

Từ buổi đầu tham gia cách mạng đến khi về cõi vĩnh hằng Trung tướng Vũ Xuân Chiêm luôn giữ trọn danh hiệu cao quý của người cộng sản, một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng. Từ ngoài trận địa, trong nhà tù, cũng như trong công tác, học tập, sinh hoạt đồng chí luôn thể hiện rõ đức hy sinh, lòng dũng cảm, sống liêm khiết, giản dị, trung thực, đoàn kết, thân mật, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, đồng chí… Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 – một người có nhiều năm gắn bó với Trung tướng Vũ Xuân Chiêm đã nói: “Tôi đã từng công tác với nhiều đồng chí, ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng ở đồng chí Chiêm có những nét đặc biệt quý hiếm của một chính ủy. Anh luôn chăm lo xây dựng đơn vị, thể hiện tinh thần đoàn kết chân thật trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh; tiêu biểu tinh thần ủng hộ sự đổi mới, sáng tạo; tiêu biểu ý chí thống nhất tư tưởng nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy hiệp đồng. Trong những năm tháng gian nguy ác liệt, anh vẫn lạc quan kiên định niềm tin tất thắng… Với Vũ Xuân Chiêm, tôi quý nhất một con người trung thực, thủy chung, giản dị, tiêu biểu nhân cách vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”. Quá trình hoạt động của Trung tướng Vũ Xuân Chiêm là tấm gương sáng để chúng ta học tập, noi theo.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm không còn nữa, song những tình cảm thân thương, quý mến và công lao cống hiến của đồng chí vẫn còn mãi trong niềm thương tiếc của chúng ta và những người thân yêu của đồng chí.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Người đã chọn

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng mà Người và dân tộc ta đã lựa chọn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh để bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường XHCN hiện nay.

Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, toàn thắng mùa Xuân 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH. Thực tiễn và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng hơn 80 năm qua đã khẳng định: “tư tưởng vĩ đại của Người, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta,…”1

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bên cạnh đa số người dân tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của dân tộc, vẫn có một số ít người, trong đó có cả những người vốn là cán bộ của Đảng và Nhà nước, nhà trí thức ngoài Đảng…, đã có những bài viết, việc làm thể hiện những quan điểm lệch lạc về lý luận. Cùng với đó, kẻ thù các loại của CNXH đã không ngớt đưa ra những luận điểm xuyên tạc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có luận điểm cho rằng, ngày nay chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời; bởi đó là sản phẩm của thế kỷ XIX, cách đây đã hơn 150 năm, nên không thể là kim chỉ nam cho hành động của chúng ta trong thời đại mới. Ngay trong hàng ngũ những người cộng sản, cũng có một số ít muốn phủ định con đường XHCN; cho rằng CNXH chỉ là “bóng ma” trong lịch sử, đi theo con đường XHCN là mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tốt đẹp; rằng học thuyết Mác không có tính phổ biến nên bị phá sản hoàn toàn là tất yếu; CNXH “đẹp nhưng không thực”, nếu gọi là CNXH thì chỉ là loại CNXH không tưởng, không phải là CNXH khoa học, v.v.

Để biết được ý kiến đó đúng hay sai, phải tìm hiểu CNXH không tưởng là như thế nào? CNXH khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khác gì so với CNXH không tưởng? Vì sao Đảng ta vẫn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng?

CNXH không tưởng có nguồn gốc tiền sử xã hội trong quá khứ. Ở phương Đông là sự mong muốn có một thế giới đại đồng, người thân ái với người. Ở phương Tây là mơ ước về một xã hội không có lao động cưỡng bức, không có cảnh nghèo khổ. Thế nhưng, những mong muốn ấy lại không biết làm bằng cách nào. Cũng có những ý kiến nêu ra cách làm nhưng không có giá trị thực thi. CNXH không tưởng với tư cách là một học thuyết, ra đời vào đầu thế kỷ XIX, thời đại cách mạng tư sản. Đại biểu cho những nhà XHCN không tưởng là Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê, Ô-oen. C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã kế thừa và hoàn chỉnh một cách thiên tài luận thuyết của ba vị này và hiểu được cách làm của họ sẽ không đem lại kết quả, nên coi đó chỉ là CNXH không tưởng.

CNXH không tưởng do Tô-mát Mo-rơ (1478 – 1535), người Anh đề xuất; theo tiếng Pháp là socialisme utopique, tên của xứ U-tô-pi. Tô-mát Mo-rơ mong muốn có một xã hội được quản lý dân chủ, bình đẳng trong lao động, không có đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và chân tay; con người làm việc 6 giờ một ngày, thời gian còn lại dành cho hoạt động khoa học, nghệ thuật; nhân cách được phát triển toàn diện, kết hợp giáo dục lý luận với lao động. Khi Tô-mát Mo-rơ hư cấu về chuyến du lịch đến xứ U-tô-pi (nghĩa đen là “nơi không có thật”, được viết trong cuốn sách vàng nói về chế độ nhà nước tốt đẹp nhất), ông đã bị xử tử theo lệnh của nhà Vua.

CNXH khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khác hẳn với CNXH không tưởng. Lý luận về CNXH khoa học được C. Mác và Ph. Ăng-ghen nhiều năm nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu về sự ra đời của giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người; về CNTB với sự bóc lột giai cấp công nhân về giá trị thặng dư; về nền sản xuất công nghiệp hiện đại TBCN, trong đó máy móc là công cụ sản xuất tập thể được giai cấp vô sản công nghiệp – một lực lượng lao động tập thể sử dụng và nền công nghiệp hiện đại càng phát triển thì giai cấp vô sản công nghiệp ngày càng đông; về cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản,v.v. Từ đó, đi đến kết luận rằng, theo quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử, chính giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại là giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB, xây dựng thành công xã hội XHCN. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử đó, giai cấp vô sản phải có đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản, được trang bị lý luận cách mạng để lãnh đạo công nhân, nhân dân lao động đấu tranh giành chính quyền về tay mình. Chính quyền cách mạng phải được xây dựng đủ mạnh để làm công cụ cho việc xóa bỏ chế độ xã hội TBCN đầy thảm họa, xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội XHCN tốt đẹp hơn. Từ kinh nghiệm thành công và chưa thành công của quá trình xây dựng CNXH; từ những tri thức và kinh nghiệm mới mà nhân loại đã tạo ra trong những thể chế chính trị – xã hội khác nhau, trong hiện thực lịch sử và thời đại, những người cộng sản có khả năng đổi mới nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH. Điều đó đã được thực tế khẳng định: CNXH ở Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác không chỉ thoát khỏi khủng hoảng, mà còn có bước phát triển mạnh mẽ cả trong hiện tại và tương lai.

Hiện nay, trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, những thách thức và nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của CNXH hiện thực là rất lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày nay đã tạo điều kiện để CNTB tự điều chỉnh, thích nghi, kéo dài sự tồn tại và tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới của đất nước ta có cả thành tựu và khuyết điểm, trong đó thành tựu là cơ bản, là mặt chủ yếu của sự phát triển; còn khuyết điểm không phải từ bản chất của CNXH và có những nguyên nhân khách quan, song chủ quan là chủ yếu. Trước tình hình đó, một số người do phai nhạt lý tưởng, thoái hóa biến chất, cơ hội về chính trị, đã đưa ra một số quan điểm làm phân tâm xã hội, tác động tiêu cực tới quá trình đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Điều đó đã làm cho một số người vốn tôn sùng CNTB, càng giảm niềm tin đối với CNXH; thậm chí, có người còn nuối tiếc: giá nước ta không đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, không đi theo con đường XHCN, không tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, thì dân tộc ta đã tiến ngang hàng các cường quốc. Họ cố làm ngơ và cho rằng lựa chọn con đường XHCN ở nước ta có gì chưa ổn, trái với xu thế phát triển của thời đại hiện nay, không phù hợp với tình hình cụ thể ở Việt Nam. Họ công khai kiến nghị Đảng ta không lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng nữa, với lập luận rằng: Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào việc giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, những bài viết của Người rất dễ hiểu; như vậy thì chỉ nên lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng là đủ, không cần phải nêu thêm chủ nghĩa Mác – Lê-nin! v.v.

Những luận điệu trên là hoàn toàn phi lý và đầy mâu thuẫn. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, sâu rộng, có ý nghĩa cách mạng và khoa học. Bác Hồ đã nghiên cứu vận dụng, Đảng ta cũng phải tiếp tục nghiên cứu vận dụng, vì công cuộc cách mạng luôn đặt ra những vấn đề mới.Đồng thời, xuất phát từ những bài học rút ra trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cũng như trước yêu cầu bức xúc của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã nhận thức và hành động theo quy luật khách quan; đó là: “Ngọn đuốc lý luận Mác – Lê-nin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản (CMVS)”2. Con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một học thuyết khoa học và cách mạng. Đó không chỉ là học thuyết nhận thức và giải thích thế giới một cách đúng đắn, mà còn là một học thuyết cải tạo thế giới. Vận mệnh của nó gắn liền với vận mệnh của giai cấp công nhân hiện đại, của nhân loại cần lao và tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ, công bằng xã hội. Nó vạch ra những nguyên lý cơ bản nhất, chung nhất về con đường, về hình thức, phương pháp, lực lượng đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bất công. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, một khi giai cấp công nhân đã nắm được lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thì cuộc đấu tranh của họ chống chủ nghĩa đế quốc và giai cấp thống trị phản động trong nước sẽ chuyển từ tự phát sang tự giác. Vì vậy, chỉ có con đường CMVS mới là con đường duy nhất đúng cho các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam.

Ai đó nói rằng, Bác Hồ là người cộng sản nhưng luôn vì lợi ích dân tộc, không theo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nên đã tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân, đã giành được thắng lợi to lớn cho cách mạng. Đúng là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành công của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là do Bác Hồ và Đảng ta đã phát huy được cao độ lòng yêu nước, xây dựng được khối đoàn kết toàn dân. Nhưng nếu cho rằng, Bác Hồ chỉ đứng trên lập trường dân tộc, không theo lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là hoàn toàn không đúng. Bởi lẽ, trong con đường cách mạng Việt Nam, vấn đề cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập luôn gắn chặt với xác lập quyền làm chủ của nhân dân; đó là tính giai cấp. Vấn đề cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập khi được gắn với vấn đề xác lập quyền làm chủ của nhân dân sẽ nhận rõ được tính giai cấp. Giành độc lập để Vua làm chủ, để giai cấp tư sản làm chủ hay để nhân dân lao động làm chủ; rõ ràng, về bản chất giai cấp là khác nhau.Trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, Bác Hồ cùng với Đảng luôn giương cao ngọn cờ yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân và nông dân, nên thành lập được mặt trận dân tộc vừa rộng rãi, vừa vững chắc. Phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhưng Đảng và Bác Hồ luôn nắm vững mục tiêu giành độc lập để đi lên CNXH, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Mặt khác, con đường CMVS được Bác Hồ tìm ra vào lúc ở Việt Nam đã có giai cấp công nhân công nghiệp. Giai cấp công nhân lúc này đã tham gia những cuộc đấu tranh yêu nước, nhưng chưa có ý thức về sự đối lập về quyền lợi giữa giai cấp công nhân với toàn bộ chế độ TBCN, trước mắt là chế độ thuộc địa của tư bản thực dân Pháp và tay sai. Tìm ra con đường CMVS với việc xây dựng được Đảng Cộng Sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đưa giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, thực hiện sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng của mình, đồng thời giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước vào những năm 20 của thế kỷ XX.

Con đường cách mạng theo CNXH khoa học đã được Bác Hồ vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam. Đó là con đường giành độc lập để nhân dân làm chủ, nhằm chăm lo cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Theo con đường đó, cách mạng Việt Nam đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Rõ ràng, rất không đúng khi cho rằng: đi theo con đường XHCN ở nước ta như “đi vào bụi rậm”; và rằng, ở Việt Nam đi lên CNXH là duy ý chí, là không tưởng.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo 25 năm qua đã đem lại sự phát triển toàn diện cho đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là một thực tế không thể xuyên tạc được. Vậy mà gần đây, các bài phát biểu, các ấn phẩm đa dạng của một số cá nhân vẫn chứa đựng những quan điểm lệch lạc, hằn học với những gì đang diễn ra trên đất nước Việt Nam… Rõ ràng, đó là những biểu hiện của sự thoái hóa biến chất, thụt lùi về trình độ tư duy khoa học và xen vào đó là chủ nghĩa cá nhân vị kỷ. Về lý luận, họ đã khởi xướng cho sự hoài nghi các giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin; đối lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn, họ phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới, tính ưu việt, hợp quy luật của CNXH. Một số người đã công khai chia tay với CNXH; lớn tiếng kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập,v.v. Tất cả các nhận thức và hành vi trên cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ; vì nó đi ngược lại quy luật tất yếu của lịch sử và tương lai rực rỡ của dân tộc Việt Nam.

TRẦN TRỌNG TÂN
tapchiqptd.vn

1 – ĐCSVN –Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 6.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 314.