Archive | 2012

Chủ tịch Hội đồng Châu Âu đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy và Phu nhân sang thăm chính thức nước ta từ ngày 31/10/2012 đến ngày 2/11/2012.

chu   tich hoi dong CÂ1
Ngài Chủ tịch Hội đồng Châu Âu và Phu nhân đến đặt vòng hoa
tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người

Đây là chuyến thăm lần đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng Châu Âu đến Việt Nam kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Năm 1996, Liên minh Châu Âu chính thức mở Phái đoàn đại diện tại Hà Nội. Kể từ đó đến nay, quan hệ hai bên đã đi vào khuôn khổ, phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Liên minh Châu Âu trở thành một trong các đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Các nước thành viên Liên minh Châu Âu hiện là một trong các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam.

Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy thăm Việt Nam nhằm thể hiện sự coi trọng vai trò, vị thế ngày càng tăng của Việt Nam tại khu vực đang phát triển năng động; khẳng định mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam; tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế – xã hội, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế thành công của Việt Nam; trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong khuôn khổ hợp tác rộng lớn hơn của Hiệp định PCA; trao đổi các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; thông báo các biện pháp Liên minh Châu Âu triển khai đối phó với khủng hoảng khu vực đồng Euro và trao đổi các biện pháp tăng cường quan hệ hai bên tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 1/11/2012, Ngài Chủ tịch và Phu nhân đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Liên minh Châu Âu Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại Việt Bắc của cố Giáo sư Đặng Văn Ngữ

P1

GS Ngữ trình bày công trình chiết xuất Penicilline

Nhân một chuyến lên Việt Bắc cùng Giáo sư Đặng Văn Ngữ theo dõi tình hình thực hiện công tác tiêu diệt sốt rét, Giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại An toàn khu (ATK) Việt Bắc. Giáo sư Đặng Văn Ngữ kể:

“… Lên đến Việt Bắc, tôi gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Cụ Hồ Đắc Di, Giám đốc Trường Đại học Y Dược khoa, Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế; là những người tôi đã biết từ trước tại Hà Nội. Tôi trình bày nguyên tắc làm Penicilline ở thể bột và hơi lo ngại vì thấy ở Việt Nam lúc ấy không có máy móc, dụng cụ để làm được bột Penicilline. Bác sĩ Tùng bảo: “Ở đây anh không có dụng cụ nhiều bằng ở Liên khu IV (cũ), nhưng anh được sự lãnh đạo và giúp đỡ của Chính phủ Trung ương, lại có tập thể chúng tôi giúp đỡ, nhất định anh sẽ đạt nhiều kết quả hơn ở Liên khu IV.

Sau hai ngày đường leo đèo, lội suối, cùng với Ông Nguyễn Văn Huyên và Bác sĩ Tôn Thất Tùng, chúng tôi bước lên một nhà sàn. Trong nhà đã có 14 đến 15 người ngồi xung quanh bếp lửa nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Tôi được giới thiệu và biết rằng những người đang ngồi đây là các vị Bộ trưởng và Thứ trưởng trong Chính phủ. Một lúc sau thì Bác đến. Mọi người đều đứng dậy vui vẻ chào. Bác bắt tay mọi người. Khi đến phía tôi, Bác chỉ cái cà vạt của tôi, vừa cười vừa nói: “A! Chú Ngữ đã đến, không cần phải giới thiệu, nhìn cà vạt ở cổ thì biết ngay người mới ở ngoại quốc về”. Sau đó Bác bảo mọi người cùng ngồi, rồi mở cho xem một tập ảnh của Đoàn đại biểu đi Varsovie mới mang về tặng Bác. Bác giản dị và chân tình. Gặp Bác, tôi không thấy bối rối lo sợ, lúng túng như tôi tưởng tượng; trái lại, tôi có cảm tưởng thân mật như một người con đi xa về gặp cha vậy.

Sau bữa cơm trưa hôm đó, tôi lại được gặp riêng Bác, Bác bảo:

– Bộ đội ta cần rất nhiều thuốc để chữa vết thương, chú phải cố gắng giải quyết vấn đề thuốc. Nghe nói chú biết làm Penicilline. Chú có kế hoạch gì không?

– Dạ có. Tôi rút trong túi ra một bản kế hoạch đã chuẩn bị sẵn với sự tham gia ý kiến của Bác sĩ Tùng và Bác sĩ Di. Trong kế hoạch có đề ra việc thành lập một Phòng nghiên cứu Trung ương. Phòng ấy sẽ chỉ huy một số Phòng nghiên cứu ở địa phương. Các phòng địa phương sẽ huấn luyện và cung cấp nhân viên làm nước lọc Penicilline cho các trạm phẫu thuật ở tiền tuyến.

Bác chăm chú nghe tôi trình bày. Nghe xong, Bác chỉ tay vào đoạn cuối cùng, phần huấn luyện của bản kế hoạch và bảo:

– Chú nên chú trọng về phần này, phần này phải làm trước. Chú phải huấn luyện cho nhiều y tá đi phục vụ ngay cho tiền tuyến. Các phòng thí nghiệm cũng cần thiết, nhưng chú sẽ có thì giờ làm sau, chú cần bao nhiều thời gian để huấn luyện một y tá có thể làm được Penicilline?”.

– Thưa Bác, chừng một tháng. Tôi trả lời.

– Thôi, cứ cho là 3 tháng, cho rộng rãi. Còn vật liệu, chú cần những gì?

– Thưa Bác, cần nhất là chai, lọ; nếu có thì chai bẹt càng tốt; nếu không tạm dùng chai tròn cũng được, nhưng phải có hàng nghìn chai mới sản xuất kịp.

Bác liền cho mời đồng chí Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Tổng Công đoàn; Ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục; Ông Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y và Ông Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Tài chính tới. Bác nhắc các vị ấy giúp đỡ tôi để công tác chung có hiệu quả.

Giáo sư kể tiếp “… Trên đường về, tôi ôn lại những lời Bác dạy. Tôi hơi tiếc vì Bác dạy chưa nên tổ chức Phòng nghiên cứu Trung ương vội, chỉ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline. Tôi tự nghĩ nếu có nghiên cứu mới thích thú, mới phát hiện được cái mới, chứ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline thì dễ quá. Nhưng tôi lại nghĩ lại, nếu tôi muốn nghiên cứu cao xa thì ở lại ngay Nhật Bản mà nghiên cứu, chứ đã về với kháng chiến thì tất nhiên phải góp phần vào kháng chiến, đưa sự hiểu biết của mình ra phục vụ cho bộ đội, cho nhân dân. Tôi lại kiểm điểm lại công việc tôi đã làm ở Liên khu IV, kiểm điểm lại chủ trương làm Penicilline bột với điều kiện kháng chiến khó khăn, phức tạp; nhưng không thực sự phục vụ trước mắt. Nếu có làm ra bột Penicilline, số lượng sản xuất trong một tháng có thể không đủ để chữa bệnh cho một người; vả lại Penicilline bột làm trong điều kiện kháng chiến chỉ là Penicilline vàng, nếu không có tủ lạnh thì không giữ được lâu. Như vậy sản xuất Penicilline ấy chẳng có ích lợi gì cho kháng chiến.

P2Bác sĩ Đặng Văn Ngữ giới thiệu kết quả kiểm tra nước lọc Penicilline với Bác sĩ,
Bộ trưởng Bộ Y  tế Hoàng Tích Trí tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, năm 1952.

Tôi thấy rõ tôi mới ở ngoại quốc về mà được Bác giao cho nhiệm vụ như thế, thực tế hợp với khả năng của tôi và cũng là một vinh dự vô cùng to lớn. Bắt tay vào việc, mới thấy rằng không phải nghiên cứu gì cao xa, chỉ nghiên cứu làm được nước lọc Penicilline với điều kiện kháng chiến cũng là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp. Về đến nhà, mở gói nấm để làm Penicilline ra xem lại thì thấy nấm không còn công hiệu nữa, những nấm khác ở ngoài đã lẫn lộn vào. Thật là một sự bất ngờ và rất đau đớn cho tôi. Trước khi đi tôi đã chú ý để giống nấm vào phòng sạch sẽ nhất ở Việt Bắc, là phòng mổ của Anh Tùng, thế mà vẫn bị tạp nấm rơi vào. Có người bảo ở Việt Nam nhiều tạp nấm lắm, nên không nghiên cứu về nấm được. Ngay ở Viện Pasteur có đủ phương tiện như vậy, bọn Pháp cũng không đặt vấn đề nghiên cứu nấm được, huống là ở Việt Bắc. Nhưng tôi đã hứa với Bác, đã có sự giúp đỡ của Chính phủ, và tôi tin tưởng ở sự tận tâm góp sức của các anh em đang làm việc với tôi lúc ấy. Chính vì vậy tôi đã quyết tâm loại cho kỳ được tạp nấm đã lẫn vào ống nấm Penicilline.

Giọng Giáo sư trầm hẳn xuống: “Ôn lại quãng đời của tôi, tôi chưa có khi nào lo lắng, và chưa có khi nào tôi thấy một cách rõ rệt trách nhiệm của tôi đối với công tác nghiên cứu bằng lúc này. Hồ Chủ tịch và Chính phủ đang hàng ngày, hàng giờ mong đợi kết quả của tôi, hàng nghìn thương binh, bệnh binh đang chờ nước lọc Penicilline”.

Giáo sư xót xa: “Ngày ngày tôi cấy hàng trăm cái nấm lấy ở ống giống ra để thử với vi trùng, nhưng ngày nào cũng như ngày nào, vi trùng đều mọc quanh cái nấm; chứng tỏ rằng nấm không còn tác dụng chống vi trùng nữa. Ròng rã suốt ba tuần lễ, tối nào trước khi đi ngủ cũng đầy hy vọng, mong chóng sáng để đọc kết quả thử nấm. Nhưng đến sáng lấy nấm ở tủ ấm ra xem thì lại thất vọng. Ở Nhật Bản, tôi đã bao nhiêu lần làm tinh khiết nấm và còn tinh khiết những nấm khó hơn nhưng không bao giờ bị thất bại cả; tôi nghĩ vẫn không thấy vì sao về Việt Nam lại thất bại. Các nấm mà tôi đã mất bao nhiêu công trình đưa từ Nhật Bản về đến Bangkok rồi đưa lên Việt Bắc, các nấm ấy bây giờ không còn giá trị nữa chăng? Bao nhiêu hy vọng phục vụ bộ đội được xây dựng trên ống nghiệm này sẽ tiêu tan cả chăng? Đã nhiều lần, tôi sắp viết thư lên báo cáo với Bác Hồ là nấm đã hỏng và chịu tội với Bác. Nhưng tôi nghĩ không thể làm như thế được. Tôi đã hứa với Bác, với các vị Bộ trưởng; nhất định tôi phải làm kỳ được.

Đêm đến, vấn đề nấm đeo đuổi tôi mãi không ngủ được. Một hôm tôi ngủ dậy vào lúc 3 giờ sáng, lấy nấm ra xem … Lúc này, gương mặt Giáo sư như bừng sáng. Giáo sư kể tiếp: “Tôi mừng đến trào nước mắt khi thấy tất cả các con nấm đều có công hiệu, vi trùng không con nào mọc được gần nấm cả. Bấy giờ tôi mới hiểu ra lý do thất bại của mình. Vì tủ ấm của tôi chỉ là một cái thùng sắt có đốt ngọn đèn dầu nhiệt độ không đủ, nấm lại bị lẫn với tạp nấm khác nên chỉ tác dụng trên vi trùng trong một thời gian ngắn, đến sau vi trùng mọc mạnh dần thì nấm không còn chống lại được nữa. Như thế là nấm chưa hoàn toàn mất, và lúc ấy tôi nắm được quy luật tác dụng của nấm trên vi trùng trong điều kiện tủ ấm của tôi. Nhất định thế nào cũng loại được tạp nấm ra, tôi theo dõi nấm mọc hàng giờ trong một đêm, một ngày. Sau một tuần lễ, tôi đã được nấm tốt trở lại, mạnh như cũ.

Xong giống nấm thì tôi nhận được 20 anh em y tá ở Quân y Cục gửi sang học làm nước lọc Penicilline. Cùng đi theo để học và để giúp đỡ các anh em y tá học tập có hai anh em sinh viên dược khoa là anh Tiến và anh Thiều. Tất cả đều chưa biết một tí gì về kỹ thuật nuôi cấy vi trùng và nấm. Nhưng tất cả đều có một lòng hăng hái vô cùng mãnh liệt. Sau một tuần lễ, anh em đã nắm được kỹ thuật căn bản và tôi đã chuyển dần anh em vào công tác nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu lúc bấy giờ là tìm một thứ nước để nuôi nấm. Nấm nuôi ở nước ấy phải nhả nhiều Penicilline và nước nuôi nấm ấy phải là một thứ nước dễ làm, để các anh em y tá có khả năng làm được và phải dùng nguyên liệu sẵn có trong nước.

Sau khi tìm ra được một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rất rẻ tiền là nước thân ngô. Nguyên liệu dùng là thân ngô, sau khi đã bẻ bắp và trẩy hết lá. Nguyên liệu ấy ở đâu cũng tìm thấy và hoàn toàn không mất tiền mua. Những khó khăn về kỹ thuật đã được giải quyết xong. Nhưng còn một vấn đề cần bàn, cần giải quyết nữa mới thực hiện được chương trình; đó là vấn đề chai, lọ. Theo chỉ thị của Bác, Tổng Liên đoàn Lao động tích cực giúp đỡ vấn đề này, các Xưởng Thủy tinh đều cố gắng thổi nhiều chai bẹt để sản xuất Penicilline. Tôi đã gửi mẫu chai bẹt đi nhiều nơi. Sau ba tháng, nơi nào cũng có báo cáo là chưa làm được. Các xưởng thủy tinh đang vấp phải một khó khăn về khuôn để thổi chai. Khuôn thổi chai là một cái khuôn gồm hai mảnh bằng gang. Các xưởng đã thử rất nhiều khuôn nhưng không có gang tốt nên chỉ thổi vài lần là khuôn lại vỡ.

Chiến dịch Biên giới 1950 đã đến mà vẫn chưa có một chai bẹt nào cả. Tất cả các anh em đã học xong, chỉ còn có chai bẹt nữa là có thể ra phục vụ ngay được. Một ngày chậm là hàng trăm thương binh không có thuốc. Tôi họp anh em y tá lại và đưa vấn đề ra bàn. Tôi nói: “Anh em công nhân ở xưởng thủy tinh đã cố gắng nhiều mà chưa làm được chai bẹt, nếu ta giải thích cho anh em biết công dụng của chai bẹt trong việc sản xuất Penicilline, nhất định anh em sẽ phát huy sáng kiến và giải quyết được vấn đề”. Tôi cử một anh xuống Xưởng Thủy tinh của Cục Quân y trực tiếp trình bày vấn đề cho anh em công nhân. Quả nhiên sau khi thảo luận sôi nổi, anh em công nhân Xưởng Thủy tinh đã có sáng kiến xếp gạch thành khuôn và thổi được chai.

Suốt ba ngày Tết Nguyên đán, anh em thổi chai không nghỉ, và đến mùng 8 Tết, anh em thổi được 800 chai mới. Đây là một bài học mà tôi luôn luôn nhớ, nêu rõ khả năng vô tận của giai cấp công nhân. Các anh em đã thực hiện khâu cuối cùng trong công tác làm nước lọc Penicilline, một khâu mà tôi không làm được vì tôi phải ở xa và rất xa tiền tuyến để huấn luyện cán bộ và nghiên cứu thêm để cải tiến phương pháp. Nước lọc Penicilline được đưa ra phục vụ cho thương binh một cách rộng rãi với những kết quả tốt đẹp là nhờ Cục Quân y đã giúp đỡ nhiều để tổ chức các Trạm Sản xuất được nước lọc Penicilline, nhờ các đồng nghiệp ở các Phân Viện trong khi dùng nước lọc Penicilline đã tận tình theo dõi thương bệnh binh, nhận xét tỷ mỷ kết quả của nước lọc Penicilline trên các loại vết thương. Nhưng căn bản là nhờ sự tận tâm phục vụ của anh em y tá phụ trách sản xuất nước lọc Penicilline. Có anh đã có sáng kiến viết những tài liệu nhỏ để phổ biến công hiệu và cách sử dụng nước lọc Penicilline để phối hợp với các y sĩ đem ra phổ biến cho đơn vị, có anh đã đào tạo ngay tại chỗ cho anh em y tá khác để nhân thêm nhiều những Trạm Sản xuất nước lọc Penicilline.

P tong hop

Nước lọc Penicilline đã đem lại những kết quả rất tốt đẹp, giúp ta giải quyết khó khăn về khan hiếm thuốc trong lúc biên giới chưa mở rộng và trong lúc địch tăng cường bao vây ta, đặc biệt bao vây về phương diện thuốc men. Có bác sĩ quân y đã tuyên bố: “Lần này chúng tôi không lo sợ về số thương binh đưa về nhiều, vì chúng tôi đã có nước lọc Penicilline thừa dùng để chữa cho thương binh”. Các Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Hữu Chánh nhận thấy nước lọc Penicilline so với Sulfamide thì công hiệu hơn hẳn. Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Nghĩa Lộ và Yên Bái, báo cáo của xưởng XFI cho rằng 80% thương binh đã trở về đơn vị sau khi dùng nước lọc Penicilline. Những vết thương trước phải điều trị lâu, ngày nay thời gian điều trị rút ngắn hơn. Có nhiều trường hợp so với trước thì rất dễ phải cưa tay, cưa chân; nhưng dùng nước lọc Penicilline không những vết thương lành liền mà còn làm cho thương bệnh binh chóng khỏi …

Mới đó mà đã 45 năm (1/4/1967 – 1/4/2012), kể từ ngày Cố Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cùng một số anh chị em đồng nghiệp đã khác hy sinh trên chiến trường Thừa Thiên Huế tại chiến khu Hòa Mỹ, nay thuộc xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền khi đang ôm ấp hoài bão nghiên cứu vaccine chống sốt rét. Giáo sư đã ra đi nhưng sự nghiệp của Giáo sư vẫn còn sống mãi trong chúng ta, những người đang kế tục xuất sắc sự nghiệp phòng chống sốt rét hiện nay.

Theo Trang tin điện tử Viện sốt rét ký sinh trùng – Côn trùng Quy nhơn.

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Lòng yêu nước hay là sự lợi dụng?

“Yêu nước là tình cảm và là một chân lý phổ biến mà cuộc sống ban tặng cho bất kỳ dân tộc nào trên trái đất cũng như của số đông con người. Nhưng báu vật đó không phải chia đều và càng không giống nhau đối với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nảy nở, phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc biệt, nên có những được nét đặc sắc riêng gắn liền với giá trị truyền thống quý báu đó. Chính nhân tố đại đoàn kết dân tộc là hạt nhân tư tưởng, là cội nguồn sức mạnh trường tồn dân tộc và bản sắc riêng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”.

Hà Nội một ngày bình yên

Ảnh: Hoàng Long

Tôi đã rất xúc động trước những phản ứng gần như ngay lập tức của đông đảo đồng bào ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài trước sự kiện tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp của tàu Bình Minh 02 và tàu Viking của Việt Nam. Tuy mỗi người một vị trí, mỗi người một công việc, nhưng điểm chung của tất cả là thái độ lên án và phê phán mạnh mẽ hành vi gây hấn, đồng thời mong muốn tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc để kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Hình ảnh của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội có tên tuổi cùng với nhiều thanh thiếu niên ở nhiều vùng đất nước xuống đường bày tỏ sự phản đối các hành động gây hấn và âm mưu độc chiếm Biển Đông từ đường “lưỡi bò” phi lý đã hòa cùng không khí của cả nước quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam trên Biển Đông. Thật tự hào khi thấy dòng chảy của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam tiếp tục có dịp được bùng lên, vượt lên trên những lắng đọng của cuộc sống đời thường, tuôn chảy. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, lòng yêu nước của người dân đất Việt thực sự là một mạch ngầm đầy năng lượng luôn luôn chảy xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng cho đến tận ngày hôm nay.

2.

Tôi vẫn theo dõi vào mỗi sáng chủ nhật gần đây và ngày càng nhận thấy có nhiều điều băn khoăn, nghi ngại. Cô em vợ làm ở ngân hàng thường xuyên nhận được tin nhắn rủ đi “biểu tình”. Một vài blog và trang mạng ra sức tung tin mời gọi, đặc biệt là sự phối hợp tung hô cổ vũ cho những cá nhân tham gia, tôn vinh họ như thể chỉ mỗi họ, những người đi và tham gia “biểu tình” do họ mời gọi là có lòng yêu nước và nếu muốn yêu nước thì phải đi “biểu tình” hàng tuần. Các “thủ thuật” nghiệp vụ báo chí được vận dụng hết cỡ, cập nhật từng phút, đi vào được từng số phận cùng các câu chuyện của nhiều người tham gia. Nếu chỉ dừng ở đó thì cũng không muốn bình luận làm gì. Nhưng việc thể hiện những bài viết như vậy chưa đủ mà còn có thêm sự phụ hoạ khó có thể ít văn hóa hơn của những comment tung hứng cho những bài viết loại này. Có lẽ bản chất của vấn đề đã được bộc lộ ở đây khi tập hợp hầu hết những ý kiến mà tất cả chỉ thấy một giọng điệu vừa hằn học, vừa vô văn hóa. Hằn học với chế độ,với sự thật phát triển đi lên ngày càng tốt đẹp của cuộc sống của đa số người dân chúng ta.Vô văn hoá thể hiện trong ngôn từ,cách nói. Viết đến đây tôi chợt nhớ lại ý kiến của một nhà báo đã phải thốt lên trong blog của mình: Dân chủ = chửi + vô văn hóa, dân chủ kiểu gì mà cứ cái gì khác ý kiến, khác suy nghĩ của mình là chửi. Đó thật sự là sự kích động, mị dân và lừa gạt lòng yêu nước chân chính.

Tôi vô tình xem được một video clip do một người đưa lên blog để chứng minh lòng yêu nước của gần 50 con người “tiên phong” trong ngày chủ nhật 21-8-2011 vừa qua. Trong sự lộn xộn, tiếng một phụ nữ the thé hô, vài người khác hô theo với những lời đao to búa lớn. Ông bạn bên cạnh tôi xem và bật cười, bình luận: Lòng yêu nước hay là sự đánh bóng bản thân bằng trò đùa cố chấp? Theo tôi để chứng minh “lòng yêu nước” của nhóm người kia mà lại đưa cái video clip ấy lên mạng thì thật không đắt!

3.

Tôi có những người quen thân từ thuở hàn vi, nay họ là những doanh nhân thành đạt. Chúng tôi thường xuyên thông tin trao đổi cùng nhau nhiều chuyện về cuộc sống và mỗi người có một cuộc sống, sở thích, sinh hoạt và cá tính khác nhau. Điều xúc động là họ đều chủ động trao đổi với tôi ngay khi Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông. Mỗi người một cách nhận định, song tựu chung lại, họ không chỉ bất bình mà còn muốn hiến kế, muốn được góp tiền, góp nhiều tiền để Nhà nước ta mua được vũ khí thật hiện đại bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trên Biển Đông. Tôi biết họ không nói đùa, không nhờ tôi “đánh bóng” mà họ thật lòng thể hiện tình cảm và trách nhiệm của họ với vận mệnh dân tộc.

Ở cơ quan tôi rất nhiều người muốn đi Trường Sa. Khi được cử đi Trường Sa, đối với mỗi người là niềm hạnh phúc. Tôi may mắn đã được đến Trường Sa trong một hành trình chỉ hơn 10 ngày ngắn ngủi. Nhưng đã cho tôi những cảm xúc không thể nào quên về tình cảm thiết tha của cả nước đối với Trường Sa được thu lại qua thành viên của chuyến đi. Từ lãnh đạo cấp cao của UBMTTQ Việt Nam đến đại biểu Quốc hội, nhiều nhân sĩ trí thức, đoàn tăng ni Phật tử, các doanh nhân, văn nghệ sĩ và rất nhiều nhà báo ở mọi miền đất nước. Tất cả đều mong muốn được đến với một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc – Trường Sa. Quan sát và tận mắt thấy sự đổi thay kỳ diệu của từng hòn đảo giữa biển khơi này, từ những người dân kiên trì lập nghiệp trên đảo, những em bé mới được sinh ra, cùng cuộc sống và đời sống phong phú trên từng hòn đảo văn minh xinh đẹp mới thấy hết chiều sâu công sức, tiền của của Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta chăm lo vun đắp cho Trường Sa to lớn đến nhường nào. Và quan trọng nhất tôi đã được tận mắt thấy sự nỗ lực,của cán bộ chiến sĩ Trường Sa: Trẻ trung, rắn rỏi, lạc quan, tin tưởng, mẫn cán và chuyên nghiệp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tôi đã ứa nước mắt khi biết rằng trong những ngày nắng cháy tháng 5, tháng 6 mỗi cán bộ, chiến sĩ chỉ được 2 lít nước ngọt một ngày, song họ vẫn sẵn sàng chia sẻ cho các ngư dân mọi nguồn lực có thể. Các ngọn hải đăng trên các đảo vẫn đêm ngày chỉ dẫn và vẫy gọi cho ngư dân chúng ta vượt trùng khơi ra khai thác và làm chủ ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta. Tất cả, tất cả đều diễn ra bình thường mỗi ngày, mỗi ngày.

4.

Hôm nay ngồi viết những dòng này, nhớ lại những gì vừa xảy ra trong ngày chủ nhật vừa qua cùng những lời tung hô, chửi bới trên một vài trang mạng, blog mới thấy rõ hơn sự lợi dụng và kích động trắng trợn với mưu tính chia rẽ gây bất ổn xã hội của họ. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là những mạch ngầm chờ thời tuôn chảy mà nó thể hiện sống động, liên tục, dũng cảm biết bao, nhất là trong những ngày Biển Đông cuộn sóng. “Ngày lại ngày, đêm qua đêm, chúng tôi đứng đây gìn giữ biên cương/ Đảo này là của ta/ Biển này là của ta/ Trường Sa” – Bài hát Khúc quân ca Trường Sa đã kết tinh được tất cả những hoạt động bình dị nhưng vô cùng sâu sắc của quân và dân trên quần đảo,và cũng là của cả dân tộc chúng ta.

Tôi thật không muốn bàn thêm về khái niệm lòng yêu nước, xin trích lại một đoạn trong cuốn Lịch sử Mặt trận DTTN Việt Nam: “Yêu nước là tình cảm và là một chân lý phổ biến mà cuộc sống ban tặng cho bất kỳ dân tộc nào trên trái đất cũng như của số đông con người. Nhưng báu vật đó không phải chia đều và càng không giống nhau đối với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nảy nở, phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc biệt, nên có những được nét đặc sắc riêng gắn liền với giá trị truyền thống quý báu đó. Chính nhân tố đại đoàn kết dân tộc là hạt nhân tư tưởng, là cội nguồn sức mạnh trường tồn dân tộc và bản sắc riêng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”. Đúng vậy,Yêu nước luôn gắn liền với xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đừng nên lợi dụng lòng yêu nước thiêng liêng.

Đức Anh
daidoanket.vn

This entry was posted on Tháng Mười 31, 2012, in Chính luận.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ cơ sở

Bác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên HTX - NN Lai Sơn - Vĩnh Phúc ngày 30.3.1958Bác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên
Hợp tác xã nông nghiệp Lai Sơn – Vĩnh Phúc ngày 30/3/1958

Nhận thức rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa ngay từ những ngày đầu chính quyền nhân dân mới được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Quyền lực của nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân. Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trung thành của nhân dân. Người đặc biệt chú ý tới việc thực hiện quyền lực của nhân dân ở cơ sở. Điều đó được thể hiện ở nhiều bài viết, bài nói của Người với cán bộ và nhân dân ta. Chỉ bằng những mệnh đề đơn giản, hàm xúc, ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát bằng cách riêng của mình những giá trị văn hóa dân chủ của nhân loại từ cổ đại đến hiện đại mà lại rất Việt Nam, cụ thể và thực tế, nên ai đọc cũng có thể cảm nhận được ngay.

Từ quan niệm “mọi lực lượng đều ở nơi dân”, nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, nên Người yêu cầu phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”(1). Để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với tư cách là người chủ thực sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn luôn: Vì nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người luôn ý thức rằng: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết. Dân là gốc của nước. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), Người đã khẳng định: Kách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc môt hai người. Đó là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề đoàn kết tập hợp được đông đảo nhân dân. Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng chỉ là một bộ phận của nhân dân, một bộ phận tiên phong, tiên tiến nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: Dân chủ là vì dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Người thường nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh”. Đó cũng chính là mục đích của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là tư tưởng cơ bản xuyên suốt quá trình cách mạng. Cái cốt lõi trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc. Bản chất dân chủ là quyền làm người. Người nói: “ Lãnh đạo một nước mà để cho nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúc con người cũng là mất dân chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân. Dân theo Đảng đứng lên đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được. Các cấp chính quyền và đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra. Do vậy, mỗi cán bộ phải vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Theo người phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở là “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ và phương pháp làm việc là phương pháp dân chủ chứ không phải là những thủ thuật chính trị. Người đã đưa ra một quy định làm việc khoa học như sau: Trước hết phải làm cho dân biết: “Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ rằng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” (2). Hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận. Xuất phát từ lợi ích, coi lợi ích là động lực trực tiếp thúc đẩy mọi hành động chính trị của quần chúng, Người yêu cầu: “Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết”(3)  và “việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” (4). Lợi ích của mỗi người dân được đảm bảo ngày càng đầy đủ hơn và nhờ vào vị thế của họ đã giành được trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hi sinh, mất mát để giành lấy Độc lập, Tự do, để trở thành người chủ và làm chủ xã hội. Người nói: Dân chủ có nghĩa dân là chủ và dân làm chủ. Vì vậy, trong nội hàm của khái niệm “dân hiểu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh như muốn làm cho mọi người thấy rõ, hiểu thấu ý nghĩa lớn lao của vị thế “là chủ” đó, nhất là với nông dân là những người có trình độ học vấn thấp nhưng lại chiếm số đông trong xã hội “làm sao cho bà con hiểu mình là người chủ tập thể, làm chủ hợp tác xã, làm chủ Nhà nước” (5). Thấy rõ được vai trò, vị trí của nông dân, nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển của nền dân chủ trong một nước nông nghiệp lạc hậu như ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bao giờ nông thôn, nông dân thực sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới dân chủ thực sự” (6). Sau những diễn biến phức tạp của xã hội nông thôn Việt Nam xuất hiện những điểm nóng chính trị – xã hội ở nông thôn như năm 1998, 1999, 2011, 2012, chúng ta càng thấy ý nghĩa lớn lao trong chỉ dẫn đó của Người.

Thứ hai, khi dân đã được biết, được hiểu thì phải tạo điều kiện cho dân được bàn bạc thực sự, bàn tất cả mọi vấn đề và mọi người đều được tham gia bàn bạc: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt ra kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương” (7).

Cần hiểu rõ nguyện vọng của dân. Họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến. Họ rất tốt, rất khôn khéo, họ biết rất nhiều điều mà chúng ta không biết. Hơn nữa: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý” và từ đó họ “tự do phục tùng chân lý” (8). Phải chăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của mọi công việc đều có nguồn gốc từ đây bởi ở đây, nhân dân đã phát huy được quyền dân chủ bằng năng lực và sức sáng tạo của mình.

Thứ ba, sau khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc và được xây dựng kế hoạch của địa phương mình, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ vào những việc làm, hành vi, nhiệm vụ cụ thể một cách tự giác… Lúc này nhiệm vụ của lãnh đạo là “động viên và tổ chức cho toàn dân ta thi hành, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”, phải biết “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia và thực hiện mọi kế hoạch của địa phương cơ sở.

Thứ tư, “Khi thi hành xong phải cùng với nhân dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” (9). Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình tiến hành thực hiện dân chủ của mỗi tổ chức, đơn vị, địa phương, cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng ta thực hiện tốt những nhiệm vụ khác. Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc sao cho dân chủ , cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên, nhất là phê bình từ dưới lên. Kiểm tra chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, được đánh giá một cách khách quan, được tiến hành bằng những giải pháp khéo léo, tinh tế mà Người gọi là “phải kín đáo”. Thanh tra chỉ có hiệu lực nếu được tiến hành một cách đột xuất hiện và bất ngờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm kiểu mẫu cho phương pháp kiểm tra, thanh tra khoa học và có hiệu quả ấy. Đồng thời với mong muốn của Chính phủ: “đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để cán bộ làm tròn nhiệm vụ… người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân” (10), Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên kêu gọi nhân dân giám sát công việc của Chính phủ từ Trung ương. Bằng tình cảm chân thành nhất, Người nói: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên có nhiều khuyết điểm. Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia… Xin đồng bào hãy phê bình giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ” (11).

Dân kiểm tra là một nội dung về quyền dân chủ nhằm dựa vào dân mà xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nuớc và các tổ chức đoàn thể nhân dân thật sự vững mạnh, trong sạch nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cậy thế, trái phép… chỉ có thể thực hiện hiệu quả nếu biết dựa vào sự kiểm tra, giám sát của quần chúng nhân dân.

Trong quá trình mở rộng và thực hiện quyền làm chủ nhân dân ở nước ta hiện nay. Đảng ta coi dân chủ cơ sở là khâu quan trọng nhất. Quan điểm đó được xây dựng trên cơ sở nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung, dân chủ cơ sở nói riêng và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam hiện nay. Cở sở (xã, phường, cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp…) là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học tập. Cơ sở là nơi diễn ra sự tiếp xúc , mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng bộ và chính quyền, với cán bộ công chức điều hành xử lý công việc hàng ngày.

Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài trước thời kỳ đổi mới đã hạn chế dân chủ, làm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội có nguy cơ chệch hướng. Ngày nay, đông đảo nhân dân ở cơ sở có những yêu cầu bức xúc về dân chủ, có những nguyện vọng và lợi ích thiết thân trong cuộc sống hàng ngày. Họ đòi hỏi được biết, được bàn, được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát những việc làm hàng ngày của cán bộ lãnh đạo. Lê-nin đã chỉ ra rằng: Không chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại biểu là đủ. Cần phải xây dựng chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, sự tham gia thực sự của quần chúng vào mọi công việc của Nhà nước.

Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào thực hiện tốt dân chủ cơ sở thì ở đó đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân, tích cực tham gia và đạt kết quả toàn diện, vững chắc. Ngược lại, nơi nào xem nhẹ dân chủ, để mất dân chủ, cán bộ xa rời quần chúng nhân dân, quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, không lắng nghe, tôn trọng và không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của quần chúng nhân dân… thì nơi ấy sẽ rất khó thực hiện đúng và đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với người dân, sẽ không thể nào có kết quả cao.

Dân chủ cơ sở cũng là một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng dân chủ của Người luôn xoay quanh cái cốt lõi: Dân là gốc. Dân là gốc thì dân phải là chủ và dân phải làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là thứ quý báu nhất của nhân dân. Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn. Điều đáng mừng là, hiện nay, chúng ta đang thực hiện dân chủ ở cơ sở, thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã và đang thực hiện tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng đường lối của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đạt được nhũng kết quả tốt.

Chú thích:

(1.2). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN.2000 Tập. 5, tr.698.
(3.4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.6, Tr90,88
(5). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.10, tr.404.
(6). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.7, tr25.
(7). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.5, tr.698-699.
(8). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.8, tr.216.
(9). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.5, tr.699.
(10). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.7, tr361-362.
(11). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hn. 2000 T.5, tr61.

Theo Nguyễn Văn Công
PGĐ Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến

bqllang.gov.vn

Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá là không thể chấp nhận

(VOV) -Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chấp nhận.

Gần đây, một số cơ quan, tổ chức nước ngoài đua nhau lên án việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần với luận điệu rằng bản án này “quá nặng” và “không nhất quán” với một số thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Đây là những cáo buộc không chính xác khi mà quyền tự do ngôn luận được ba blogger này lợi dụng nhằm chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam công nhận và được ghi tại Điều 69 của Hiếp pháp.

Trên thực tế, quyền này được đảm bảo và thực thi ở Việt Nam. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chính vì vậy, những cáo buộc về việc Việt Nam không đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đặc biệt là trong vụ xét xử 3 blogger là không có căn cứ.

Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”.

Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.

Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.

Đối chiếu vào trường hợp ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần thì rõ ràng là ba đối tượng này đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, chính sách phát triển công nghệ thông tin và việc tạo điều kiện để người dân được bày tỏ quan điểm cũng như tiếp cận thông tin một cách đa dạng của nhà nước Việt Nam.

Ba blogger này còn thể hiện rõ sự thiếu thiện chí trước chính sách tích cực và cởi mở của Nhà nước.

Mới đây, phản ứng trước bộ phim của một người Mỹ nhạo báng Đạo Hồi, Tổng thư ký LHQ Ban Ki moon đã chỉ rõ rằng: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng. Còn các bằng chứng về hành vi của ba blogger này đã cho thấy họ đã xuyên tạc, châm biếm nhằm chống lại các cá nhân và cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Do đó, các hành vi này đáng bị lên án.

Hàng trăm trang tài liệu có nội dung tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam đã được ba đối tượng này phát tán trên mạng.

Hành vi này rõ ràng là đã vi phạm pháp luật của Việt Nam mà cụ thể là Điều 88 của Bộ Luật hình sự.

Trên cơ sở đó, việc đưa ba blogger này ra xét xử là hoàn toàn dựa trên căn cứ của pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử ba blogger này cũng được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam. Vì thế việc cho rằng bản án “quá nặng” là cáo buộc không có cơ sở, không dựa trên căn cứ pháp luật.

Cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.

Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”.

Chính vì vậy, việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần là hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam, tập quán cũng như các quy định quốc tế.

Việc phản đối vụ xét xử này là sự cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, can thiệp vào quá trình tư pháp vốn dĩ cần phải được tôn trọng và tiến hành một cách độc lập. Vì thế, các hành động này không được hoan nghênh./.

Việt Nga/VOV1
vov.vn

Hồ Chủ tịch – Vị anh hùng không nghĩ tới mình

U. Bớcsét (Ôxtrâylia)

Nói tới một con người mà cả cuộc đời đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hồ Chủ tịch - Vị anh hùng không nghĩ tới mình

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều ân hận là Người đã qua đời trước khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng và đạt được mục đích giành độc lập hoàn toàn cho một nước Việt Nam thống nhất mà Người đã cống hiến cả đời mình, nhưng ít nhất thì Người cũng đã ra đi với một lòng tin tưởng vào thắng lợi không còn bao xa nữa.

Hồ Chí Minh là một người đã cảm hóa tất cả mọi người Việt Nam từ già đến trẻ. Người là một con người thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị. Hình ảnh anh hùng không nghĩ tới mình trước sau như một của Người, từ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh trước đây đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt cộng (Mặt trận Dân tộc giải phóng) ngày nay, đã cổ vũ, trở thành tấm gương cho hàng chục vạn thanh niên Việt Nam thà chết, không chịu làm nô lệ.

Từ khi bắt đầu ném bom miền Bắc, Mỹ đã dùng mọi cách tàn phá những công trình công nghiệp, y tế, giáo dục – tất cả đều được xây dựng sau khi thắng Pháp – hầu như tất cả những di sản của tổ tiên để lại cũng đều bị bom đạn Mỹ biến thành những đống gạch vụn, nhưng toàn thể nhân dân miền Bắc Việt Nam đều tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có bị tàn phá nặng nề đến như thế nào, dù cả Hà Nội và Hải Phòng cũng bị tàn phá chăng nữa.

Trong thời gian miền Bắc bị ném bom ác liệt nhất, một nông dân Việt Nam đã nói với tôi: “Ném bom quả là đáng sợ thật, nhưng so với ách chiếm đóng của bọn thực dân thì không nghĩa lý gì. Có bị tàn phá thì chúng tôi lại xây dựng lại”.

Làm việc ở ngoài hiên

Một chuyện điển hình về Hồ Chủ tịch là sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Người đã đặt Văn phòng Chủ tịch ở một căn nhà nguyên là chỗ ở của những nhân viên phục vụ Phủ toàn quyền của Pháp trước đây. Còn Phủ toàn quyền, Người chỉ chuyên dành cho các cuộc tiếp đãi chính thức.

Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch đâu?”. Câu trả lời của Người làm cho tôi kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi trời mưa thì ở trong buồng ngủ”.

Sự thực là Người không có một ngôi nhà nào khác. Khi tôi đến thăm Người, với bộ quần áo vải nâu mà những người nông dân thường mặc và đôi dép cao su lốp ô tô, Người ra đón tôi như đón một người quen cũ. Tác phong giản dị, không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi.

Một con người ít nói

Một đặc điểm nữa của Hồ Chủ tịch là Người trình bày những sự việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ rất ngắn gọn, dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được.

Sau khi Mỹ đưa quân đội chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, có dư luận cho rằng chúng sẽ tiến công ra miền Bắc. Tôi hỏi Hồ Chủ tịch là nếu quân Mỹ làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao?

Hồ Chủ tịch đã để cho tôi liên tưởng tới chuyện: “Con cáo bị mắc bẫy một chân” rồi trả lời tôi: “Nếu cứ giãy giụa lung tung định hòng thoát bẫy thì còn chân kia cũng sẽ mắc nốt. Nếu Mỹ dám tiến công miền Bắc thì kết quả rồi sẽ như vậy”.

Lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch, tôi cũng đã được thấy những hình ảnh tả thực, được nghe những câu nói ngắn gọn như những lời tiên tri như vậy. Đó là vào đầu tháng 3 năm 1954. Tuy mới đặt chân lên đất nước Việt Nam, nhưng trên đường tới đây tôi đã được nghe Đài Phát thanh Hà Nội – lúc này vẫn đang ở trong tay người Pháp – đưa tin về tình hình hoạt động của quân Pháp ở phía sau quân “Việt Minh” từ căn cứ Điện Biên Phủ. Khi đó tên Điện Biên Phủ mới bắt đầu được nói tới trong cuộc chiến tranh, do đó tôi đã hỏi Hồ Chủ tịch về Điện Biên Phủ. Hồ Chủ tịch đặt ngửa chiếc mũ lên bàn, chỉ vào đáy mũ và nói: “Đây là Điện Biên Phủ, một thung lũng có núi bao bọc xung quanh”. Sau đó Người vòng tay theo vành mũ, nói tiếp: “Quân viễn chinh Pháp ở dưới thung lũng này, chúng tôi từ trên núi ở xung quanh bao vây chúng. Chúng nhất định không thể thoát được”.

Đó là xu thế tất nhiên và lịch sử đã chứng minh rằng Hồ Chủ tịch đã nói đúng.

Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, tôi lại hỏi Hồ Chủ tịch là Người nghĩ như thế nào đối với việc Mỹ tuy thừa nhận là chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam nhưng lại huênh hoang là bằng cách ném bom miền Bắc chúng sẽ có thể thắng được. Hồ Chủ tịch trả lời: “Mỹ đã tính lầm nếu cho rằng dựa vào việc tàn phá miền Bắc bằng bom đạn, chúng sẽ có thể thắng ở miền Nam”, “chúng tôi quyết không ngừng chiến đấu, dù là 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi sẽ được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới kể cả nhân dân Mỹ. Chúng tôi sẽ thắng”.

Ấn tượng nổi bật nhất mà bất cứ ai lần đầu tiên gặp Hồ Chủ tịch cũng đều cảm thấy là trí tuệ tập trung ở đôi mắt đen ngời sáng của Người, là lòng nhân đạo và sức hấp dẫn làm cho người tới thăm thấy gần gũi ngay với Người. ấn tượng thứ hai là khả năng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn và rất đúng. Điều này chứng tỏ Người nắm rất chắc một cách toàn diện nội dung bàn luận. Người không những biết sử dụng rất nhiều thứ tiếng Âu, Á mà đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước của những người khách đến thăm.

Lịch sử sẽ dành cho Người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại mà thế kỷ XX đã sinh ra. Nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi ca ngợi Người.

(Trích từ sách: Người là Hồ Chí Minh, (Tập hồi ký), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1995).

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

VN chung tay cùng quốc tế thúc đẩy quyền con người

Việt Nam luôn đảm bảo phát huy quyền con người trên mọi lĩnh vực. (Nguồn: vov.vn)

Với mong muốn phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã chính thức ứng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Việc ứng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc không chỉ thể hiện quyết tâm và trách nhiệm của Việt Nam cùng các nước thực hiện quyền con người, mà còn thể hiện mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người.

Trên thực tế, những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đạt được trong việc bảo đảm và phát huy quyền con người trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… đã được cộng đồng quốc tế công nhận và đánh giá cao.

Ở Việt Nam, các quyền con người được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật; việc đảm bảo quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 chỉ rõ mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật. Cam kết về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam còn được khẳng định trong Cương lĩnh Đại hội Đảng lần thứ XI: “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.”

Việt Nam đã và đang thực hiện cam kết thúc đẩy quyền con người thông qua thực hiện các chính sách lấy con người làm trọng tâm, vì người nghèo và đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhất cho người dân. Các chính sách này đã mang lại tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nghèo đói, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống và phúc lợi cho nhân dân. Trong hoàn cảnh khó khăn do tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, Việt Nam đã nỗ lực duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 6%, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện các quyền cơ bản của người dân.

Chính phủ Việt Nam ưu tiên cao cho cải cách luật pháp, hành chính và tư pháp nhằm đảm bảo tăng cường hơn nữa quyền của người dân cả trong luật pháp và thực tiễn, bao gồm quyền giám sát việc thực hiện pháp luật, tiếp cận thông tin. Vì thế, phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền là ba trụ cột trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Trong những năm qua, Quốc hội Việt Nam cùng với các cơ quan hữu quan đã từng bước soạn thảo, xây dựng, chỉnh lý, hoàn thiện, ban hành các văn bản pháp luật làm cơ sở để bảo đảm quyền con người như Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Tố tụng dân sự sửa đổi; Luật Giáo dục đại học…

Về chính trị, ở Việt Nam, người dân được bảo đảm các quyền cơ bản về bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Việc cử tri tích cực tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử như cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII ngày 22/5/2011, với tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu lên tới 99,51% đã phần nào cho thấy quyền của người dân trong vấn đề này đang được thực hiện nghiêm túc.

Vấn đề đảm bảo tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng ở Việt Nam luôn được coi trọng, nhất là trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và đây cũng là vấn đề thường bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, bóp méo. Kể từ khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành năm 2004, đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã có những biến chuyển tích cực. Người dân được tự do sinh hoạt tôn giáo trên cơ sở tôn trọng chính sách tôn giáo và pháp luật của Nhà nước, đồng thời bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nhà nước Việt Nam cũng luôn quan tâm duy trì và mở rộng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo. Tháng 5/2008, Việt Nam đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc với sự tham dự của hàng vạn chức sắc, tín đồ và gần 2.000 đại biểu quốc tế đến từ 71 quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Đó cũng là cơ sở để Việt Nam được chọn là nước đăng cai tổ chức Hội nghị t hượng đỉnh Phật giáo thế giới vào năm 2010.

Hiến pháp Việt Nam cũng khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam tiếp tục được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng. Hiện cả nước có khoảng 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, hơn 700 cơ quan báo chí in, khoảng 70 đài phát thanh và truyền hình t rung ương và cấp tỉnh, hơn 80 báo điện tử và hàng nghìn trang điện tử…

Báo chí ngày càng được phát huy quyền dân chủ, hoạt động cởi mở, thông thoáng, thực sự là diễn đàn để phát huy quyền làm chủ, quyền tự do ngôn luận của người dân, là công cụ quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội và trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt về quyền con người.

Người dân Việt Nam ngày càng được tiếp cận công nghệ thông tin hiện đại, nhất là Internet, nhằm nâng cao sự hiểu biết và đời sống tinh thần. Tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam tăng nhanh nhất trong khu vực châu Á. Tính đến tháng 10 này, số người sử dụng Internet ở Việt Nam là 30,8 triệu người.

Ở Việt Nam, những kẻ lợi dụng tự do tôn giáo, tự do ngôn luận để chống phá chính quyền, gây mất ổn định chính trị-xã hội, làm tổn hại an ninh quốc gia, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, đều bị trừng trị theo pháp luật.

Một trong những mục tiêu hàng đầu của việc đảm bảo quyền con người ở Việt Nam là không ngừng nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân. Sau hơn 25 năm đổi mới, người dân Việt Nam đang được sống trong một đất nước có nền chính trị ổn định, an ninh trật tự xã hội được bảo đảm, đồng thời được hưởng những thành tựu của công cuộc đổi mới.

Hệ thống an sinh xã hội ngày càng được hoàn thiện và góp phần quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, trở thành chỗ dựa vững chắc cho người nghèo và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Những thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã thực sự gây ấn tượng với nhiều nước trên thế giới. Chỉ trong năm năm qua, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%, mức hưởng thụ các dịch vụ y tế của nhân dân không ngừng tăng, đặc biệt với trẻ em, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; chỉ số phát triển con người cũng liên tục tăng. Ngay từ năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập tiểu học.

Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng đáng kể. Tháng Chín vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục đào tạo giai đoạn 2012-2015, với tổng kinh phí thực hiện là 15.200 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong sáu quốc gia đầu tiên trên thế giới tham gia Công ước về xóa bỏ mọi hình th ức phân biệt đối xử với phụ nữ và được công nhận là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua ở khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam hiện đứng thứ 40 trong tổng số 188 quốc gia trên thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong quốc hội. Với những nỗ lực trên, Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và có triển vọng đạt được các mục tiêu còn lại.

Thực hiện chính sách hội nhập toàn diện, bao gồm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã và đang tiến hành đối thoại và hợp tác với các đối tác quốc tế. Ở cấp độ khu vực, Việt Nam tích cực tham gia cùng các nước ASEAN thúc đẩy hoạt động của Cơ quan liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR). Các mối quan hệ tương tác đó cùng với các cuộc đối thoại định kỳ với một số nước là điều kiện cần thiết cho mọi giải pháp thích hợp đối với các vấn đề nhân quyền cùng quan tâm.

Ở cấp độ liên khu vực, Việt Nam cùng các nước tích cực hưởng ứng các hoạt động của ASEM nhằm thúc đẩy các quyền con người thông qua hội thảo, hội nghị về quyền con người và đối thoại giữa các tín ngưỡng. Ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các công việc chung của cộng đồng quốc tế có liên quan đến quyền con người tại các cơ quan, diễn đàn của Liên hợp quốc.

Việt Nam ủng hộ tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người.

Từ những thành tựu đạt được trong những nỗ lực nhằm đảm bảo quyền con người ở trong nước, cùng với mong muốn chung tay cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy quyền con người, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng Việt Nam có đủ khả năng đóng góp tốt hơn vào công việc của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, vì một thế giới hòa bình, thịnh vượng và công bằng…/.

Thanh Mai (TTXVN)
vietnamplus.vn

Bác Hồ trong trái tim Việt kiều ở Udonthani

Udonthani.1Mỗi năm Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tỉnh Udonthani
đón hàng nghìn đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan,
tìm hiểu những tháng ngày Bác Hồ hoạt động cách mạng tại Thái Lan.

Làng Noọng Ôn, xã Xiêng Phin, huyện Mương, tỉnh Udonthani (Thái Lan) là nơi 84 năm về trước (năm 1928), Nguyễn Ái Quốc, lúc đó có tên gọi Thầu Chín, hay ông già Chín, từ Châu Âu về Thái Lan hoạt động cách mạng.

Mặc dù chỉ ở đây một thời gian ngắn nhưng Nguyễn Ái Quốc đã để lại ấn tượng không bao giờ phai mờ trong lòng bà con Việt kiều.

Thầu Chín đã chủ trương mở rộng tổ chức; làm cho nhân dân Thái Lan có cảm tình hơn với người Việt và cách mạng Việt Nam; giáo dục Việt kiều tôn trọng phong tục, tập quán của nhân dân Thái Lan; đẩy mạnh việc học chữ Việt, chữ Thái… Năm 1929, Thầu Chín đã rời Udonthani, tiếp tục đi các địa phương khác hoạt động nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước trong bà con kiều bào ở Thái Lan.

Năm 2003, để ghi nhận giá trị lịch sử của mảnh đất này, chính quyền tỉnh Udonthani và Hội Người Việt Nam tỉnh Udonthani đã khởi công xây dựng Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên diện tích gần 1ha tại làng Noọng Ôn. Hiện Khu Lưu niệm đã hoàn thành gồm 2 phần chính: Khu nhà ở của Bác được tái tạo và Khu nhà đa năng mới xây kiên cố làm nơi thờ phụng, đọc sách, chiếu phim và trưng bày các kỷ vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Udonthani.2Gặp gỡ giao lưu giữa bà con Việt kiều ở Udonthani với du khách

Udonthani.3Khu tưởng niệm gồm 2 phần chính: Khu nhà ở của Bác
được tái tạo và khu nhà đa năng làm nơi thờ phụng, đọc sách,
chiếu phim và trưng bày các kỷ vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Udonthani.4Một góc bàn làm việc của Bác tại Khu nhà ở của Bác được tái tạo

Udonthani.5Những hiện vật được lưu giữ tại Khu nhà ở của Bác được tái tạo.

Udonthani.6.1Góc giường ngủ của Bác trong Khu nhà ở của Bác được tái tạo

Udonthani.6Trưng bày hình ảnh hoạt động của Bác Hồ ở Thái Lan.

Udonthani.8Ông Vũ Mạnh Hùng (bên phải), đang giới thiệu với du khách về những ngày tháng Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan

Theo laodong.com.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Tôi đã làm Thư ký cho Hồ Chủ tịch

Đalila Caxenli (Pháp)

Trong đời hoạt động cách mạng của tôi (43 năm), tôi đã có hạnh phúc được ở gần năm chiến sĩ cộng sản lỗi lạc: Mácxen Casanh, Pôn Vayăng Cutuayriê, Môrixơ Tôrê, Giắc Đuyclô, và Hồ Chí Minh. Một trường học phong phú biết bao đối với một chiến sĩ cách mạng.

toi lam thu kyBác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Pa-ris năm 1946

Một trong những dịp mật thiết là dịp cho phép tôi cộng tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi là Thư ký của Người suốt thời gian cuộc thương lượng ở Phông-ten-nơ-blô, năm 1946. Chúng tôi ở khách sạn Ngôi Sao. Hàng ngày tôi sắp xếp báo chí mà Người theo dõi. Chúng tôi thảo luận về những diễn biến của cuộc đàm phán. Qua những lúc trò chuyện, tôi cảm thấy Người yêu quý đất nước của mình hơn hết, và Người âu yếm biết bao các cháu thiếu nhi. Người nhắc đến những cái đó với biết bao nhân ái. Gương mặt Người rạng rỡ lên.

Người hiền hòa, lanh lợi, rất tế nhị, đồng thời rất kiên quyết. Người ân cần thăm hỏi sức khỏe của cha mẹ già tôi, nhất là cha tôi. Và mỗi lần như thế, mắt Người lại tươi cười, vì tôi đã kể một giai thoại về cha tôi cho Người nghe. Thật thế, khi cha tôi làm thợ giầy ở Lôdan, ông đã được biết Lê-nin. Ông nom thấy Lê-nin bước vào cửa hàng của mình với vẻ lo lắng, vì Lê-nin đem đến cho ông đôi giầy độc nhất bị hỏng gần như không sửa chữa được. Nhưng Lê-nin tỏ ra đáng mến và trông Người thiếu thốn đến nỗi cha tôi – bản chất ông cũng là người tốt – phải nén một tiếng thở dài và bắt tay vào sửa đôi giầy. Câu chuyện đó làm Hồ Chủ tịch cười hoài, vì Người cũng đã trải qua những lúc khó khăn như vậy.

Cuộc đàm phán có nhiều trở ngại, và Hồ Chủ tịch lại rất muốn giảm bớt sự đau khổ cho nhân dân nên Người có ý lo nghĩ.

Người tiếp khách nhiều. Một hôm Người cử tôi đến nói với Ximon Têry – viết Báo Nhân đạo – hãy vui lòng tiếp chuyện Người. Tôi còn nhớ, Ximon Têry cần dậy sớm – trong khi làm báo bà ta lại ngủ muộn. Tuy vậy, việc đó là một niềm hân hoan đối với Ximon Têry.

Một hôm khác, Người cử tôi đến nói với Ilya Êrenbua, nhà văn Xôviết vừa ghé qua Pa-ris, vui lòng gặp Người, nhưng kín đáo một chút, vào một giờ rất sớm.

Tôi gặp lại Ilya Êrenbua trong căn phòng rộng của khách sạn, thú vị với giờ giấc đã được ấn định. Ông vui vẻ cho biết, ông không thể biến thành màu sắc của bức tường, dù là lúc sáng sớm, nhưng ông rất hoan hỉ đến chỗ hẹn. Đấy là một chút bí mật mà Hồ Chủ tịch mong muốn.

Rõ ràng là cần phải thận trọng. Căn nhà này có nhiều bóng người qua lại, những cái tai tọc mạch lê la khắp mọi nơi, và những cuộc thảo luận về chính trị quan trọng nhất đã diễn ra trong phòng Người..

Trích từ sách: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1981

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tổ chức đặt đá quý trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thực hiện Quyết định số 2341/QĐ-TTg ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án: “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang triển khai thực hiện trang trí cảnh quan khu vực Lăng Bác để phục vụ đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan khu vực Lăng.

Được sự nhất trí của Thường vụ Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, ngày 19/7/2011, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp nhận 3 khối đá quý do Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An tặng. Sau một thời gian chế tác, ngày 20/10/2012, Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường cùng với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đã tổ chức trang trí 3 khối đá trên tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo kế hoạch, bảo đảm tuyệt đối an toàn.

Việc trao tặng ba khối đá quý trên để trang trí khu vực Lăng đã thể hiện tình cảm và lòng biết ơn vô hạn của Đảng bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An đối với Bác Hồ kính yêu, vị Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh.

1Cẩu và đặt đá tại vườn số 8

2Xe nâng chuyển đặt đá tại Nhà khách quốc tế

4Các khối đá quý sau khi được đặt tại vườn số 1 và vườn số 8
Khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đỗ Long Văn
bqllang.gov.vn

Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng.

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, gần đây nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI : Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đang được Ban chấp hành Trung ương Đảng quán triệt và triển khai thực hiện. Nghị quyết đã đánh giá tình hình công tác xây dựng Đảng trong những năm qua và chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản đẫn đến những hạn chế, yếu kém. Trong đó nhấn mạnh nguyên nhân: nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát.

Vấn đề này dã được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, trong di chúc để lại cho Đảng, cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: ” Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1). Vậy làm thế nào để Đảng ta có được điều đó? Bác đã chỉ ra : ” Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”(1). ở Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu trong phong cách lãnh đạo của Người. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn, về thái độ và phương pháp phê bình cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Từ một quan niệm hết sức giản dị nhưng bao hàm tính triết lý và biện chứng sâu sắc: người đời không phải là thần thánh, không ai tránh khỏi khuyết điểm, Bác chỉ ra rằng:” Tổ chức đảng cũng vậy, Đảng không phải trên trời rơi xuống, ” Đảng là người, nên có sai lầm”, tức là cũng có lúc khoẻ mạnh, lúc ốm đau, bệnh tật. Đó là lẽ thường tình, không vì thấy ốm đau mà phát sinh tư tưởng lo sợ, bi quan, tuyệt vọng, giấu giếm bệnh tật trong mình”(2). Do đó, theo Bác có bệnh thì phải mạnh dạn, chủ động, khẩn trương, kiên trì chạy chữa. Hồ Chí Minh chỉ ra liều ” thần dược” để chữa trị các chứng bệnh trong cơ thể của tổ chức Đảng và mỗi cá nhân đảng viên là tự phê bình và phê bình : ” Tự phê bình là phương thuốc trị bệnh cứu mình, phê bình là phương thuốc trị bệnh cứu người”. Người nói: Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc, để đến nỗi bệnh càng nặng, không chết cũng “la lết quả dưa”(2).

Bác yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên ” mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như con người cần không khí, không có không khí con người sẽ chết, không có tự phê bình và phê bình Đảng khó lòng mà tồn tại. Chủ tich Hồ Chí Minh khẳng định: ” Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình “để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng”(2).

Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất giúp Đảng ta ngày càng thêm mạnh, ngày càng phát triển, càng nâng cao hơn nữa năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Tự phê bình và phê bình giúp ta sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, tiến bộ không ngừng. Bởi vậy, theo Bác, trong Đảng muốn đoàn kết chặt chẽ, ” ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Có thực hành dân chủ rộng rãi thì tự phê bình và phê bình mới trở thành nền nếp thường xuyên trong sinh hoạt Đảng. Trong tác phẩm ” Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Bác viết: “Nếu cách lãnh đạo của ta không được dân chủ thì đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ không dám phê bình”.

Tự phê bình và phê bình là nhu cầu nội tại của tổ chức Đảng và đảng viên. Song sử dụng nó phải đúng mục đích thì mới có tác dụng, hiệu quả cao. Nếu sử dụng không đúng mục đích thì dù đó là vũ khí sắc bén cũng không tiêu diệt được kẻ thù, là “thần dược” cũng không trị được bệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: ” Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”. Do đó, tự phê bình và phê bình tức là gột rửa những thói hư tật xấu, những cái nhơ bẩn lây bám, xâm nhập vào con người chứ không phải cắt bỏ thân thể con người. Tư tưởng nhân văn, đề cao yếu tố con người của Hồ Chí Minh ở đây thật bao la, sâu sắc và chan chứa tình người. Bác Hồ đã từng phê phán: ” Ai hợp với mình thì người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng, nó làm hại đến sự thống nhất”.

Từ quan điểm xuất phát thể hiện tính dân chủ và nhân đạo cao cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra phương pháp, hình thức và những yêu cầu để tiến hành tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả cao nhất:

Trước hết, phê bình phải đi đôi với tự phê bình và phê bình phải gắn liền với sửa chữa, với biểu dương khen thưởng. Nếu chỉ phê bình người khác mà không tự phê bình thì chẳng khác nào ” thầy thuốc chỉ đi chữa bệnh người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”. Tại buổi Lễ bế mạc lớp Bổ túc trung cấp (10/1947), Hồ Chí Minh đã nói: “Tự phê bình rồi lại phải phê bình người khác nữa…Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người…Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”.

Tự phê bình và phê bình phải gắn với sửa chữa, tức là phải chỉ rõ ưu, khuyết điểm và phương hướng để phát huy hoặc khắc phục. Đồng thời phải gắn với động viên, khen thưởng, xử phạt rõ ràng.

Thứ hai, tự phê bình và phê bình phải đạt tới cái đích là làm rõ đúng, bảo đảm tính khách quan, trung thực, thẳng thắn và chân tình. Tự phê bình cũng như phê bình phải trung thực, không nể nang, không thêm bớt. Bác nhắc nhở: ” Phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách, nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng, ” trị bệnh cứu người”, chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm. Khi phê bình, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”.

Thứ ba, Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai. Công khai phân tích, nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm của mình, đồng chí mình và tổ chức đảng trước hội nghị, phê phán nghiêm khắc tình trạng ” ngồi lê đôi mách”, ” việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng”. Bác cho rằng: ” Kiểu phê bình như vậy là biểu hiện của bệnh “cá nhân””.

Tự phê bình và phê bình muốn đạt kết quả cao thì phải được tiến hành trong bầu không khí thật dân chủ, bình đẳng. Chỉ có dân chủ rộng rãi thì mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân mới tích cực, chủ động, nói thẳng, nói thật. Song mở rộng dân chủ trong tự phê bình và phê bình không có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn phê thì phê. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì một cuộc tự phê bình và phê bình nghiêm túc là: ” Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do hoàn toàn phát biểu ý kiến , dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh”. ở đây, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt rất quan trọng, như Bác đã dạy: cán bộ cao cấp phải gương mẫu tự phê bình và phê bình trước.

Thứ tư, tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, phê bình từ trên xuống và từ dưới lên, nhất là từ dưới lên, có như vậy mới đạt hiệu quả cao. Bởi vì, nếu chỉ phê bình một chiều thì như Bác so sánh cũng giống như người ” đi một chân, không thể đi được”.

Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải đảm bảo đúng nguyên tắc, song cách thức tiến hành phải mềm dẻo, khéo léo. Nếu chỉ dùng phương pháp cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc thì rất khó tiếp thu. Phê bình không đúng lúc, đúng chỗ, không khôn khéo sẽ có tác dụng ngược lại thậm chí còn gây ra hậu quả khó lường bởi lẽ lời chê như một mồi lửa, lòng tự ái, kiêu căng của con người giống như một kho thuốc súng. Ngày xưa,Trang Tử cũng đã từng nói: Người chê ta phải là thầy ta, người khen ta phải là bạn ta, người nịnh hót ta là kẻ thù của ta.

Thứ năm, người và tổ chức được phê bình phải có thái độ thành khẩn, vui lòng để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét. Hết sức tránh thái độ ” giấu bệnh sợ thuốc”, bị phê bình thì im lặng, không tìm cách sửa đổi. Hồ Chí Minh gọi đó là “thái độ không thật thà, không đúng đắn” và thái độ đó sẽ dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng, bệnh ngày càng nặng thêm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

Trong bất kỳ một tổ chức đảng nào, cho dù là tổ chức đảng cấp trên hay tổ chức đảng cấp dưới, bất kỳ một cá nhân đảng viên ở cương vị nào nếu không thấm nhuần tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cũng sẽ phạm phải những sai lầm lớn. Thực tế hiện nay, một số tổ chức đảng và đảng viên đã làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, trong các cuộc họp đã dám nói thẳng, nói thật ưu, khuyết điểm giúp tổ chức đảng và đồng chí mình phát huy, sửa chữa. Song bên cạnh đó, vẫn còn một số tổ chức đảng chưa phát huy tốt tinh thần phê và tự phê. Trong các cuộc hội nghị, cán bộ, đảng viên không dám góp ý kiến, đặc biệt là góp ý cho cấp trên, cho lãnh đạo vì sợ bị trù dập, không được thăng chức, nâng lương…Một số tổ chức đảng và đảng viên không góp ý cho tổ chức, cho đồng chí mình ngay trong cuộc họp mà lại đi nói sau lưng có tính chất ” kích động”, làm mất uy tín người khác. Bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên lợi dụng tinh thần phê và tự phê để chỉ trích, phê phán người khác với thái độ không thiện cảm, vì mục đích cá nhân” vạch lá tìm sâu”, ” chuyện bé xé ra to”, làm cho người bị phê bình không nhận ra được sai lầm để sửa hoặc có nhận ra họ cũng khó lòng mà sửa được. Bởi vậy, chúng ta học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải bằng hành động thực tế, không nên hô hào, chỉ nói mà không làm hoặc nói nhiều làm ít.

Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, là quy luật sinh tồn và phát triển của Đảng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải có tính Đảng và tính nguyên tắc cao, phải đảm bảo tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường được mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng và quần chúng. Chủ tich Hồ Chí Minh đã tiếp thu, nghiên cứu, vận dụng và bổ sung sáng tạo quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề tự phê bình và phê bình một cách hết sức cụ thể và độc đáo. Chính vì vậy, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thành công, xứng đáng và làm tròn vai trò lãnh tụ chính trị của giai cấp và của dân tộc. Ngày nay, khi toàn Đảng đang quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng, chúng ta càng thấm nhuần hơn tư tưởng tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này sẽ giúp chúng ta thực hiện thành công Nghị quyết của Đảng, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc tới thắng lợi vẻ vang.

* Tài liệu dẫn và tham khảo:
1/ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội- 1999.
2/ Hồ Chí Minh: Về tự phê bình và phê bình- NXB Sự thật- Hà Nội- 1986.
3/ Hồ Chí Minh toàn tập- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội- 1996.
4/ Xây dựng Đảng, rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh- NXB Quân đội nhân dân- Hà Nội- 2003.
5/ Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

Đặng Thanh Vững
Phòng Đào tạo
truongleduan.quangtri.gov.vn


Xem Bài 1

Tổng thống nước Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sỹ

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Ricardo Martinelli Berrocal – Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Phu nhân đã sang thăm chính thức nước ta từ ngày 24/10/2012 đến ngày 27/10/2012. Trong khuôn khổ chuyến thăm của Ngài Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Panama, sáng ngày 25/10/2012, Ngài Tổng thống, Phu nhân và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Kính viếng các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”. Sau đó Đoàn đã đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt hoa tưởng niệm Người, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

DSC 0047Tổng thống nước Cộng hòa Panama và Đoàn đại biểu cấp cao nước
Cộng hòa Panama đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên ở cấp Nguyên thủ Nhà nước Panama kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (28/8/1975). Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ricardo Martinelli và Phu nhân diễn ra trong bối cảnh hai nước đạt được những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Panama là một nước ở khu vực Trung Mỹ. Nền kinh tế Panama chủ yếu dựa vào ngành dịch vụ (chiếm 79,2% GDP); thu nhập phần lớn từ các dịch vụ của kênh đào Panama (bảo hiểm, cảng kho, đăng ký cờ tàu), ngân hàng, Khu Tự do thương mại Colon và du lịch. Tại các diễn đàn đa phương và khu vực, hai nước thường xuyên trao đổi ủng hộ lẫn nhau. Panama là một trong những nước sớm ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và bỏ phiếu bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khóa 2008-2009. Năm 2010, Panama đã công nhận Quy chế Kinh tế thị trường cho Việt Nam.

Đây cũng là dịp lãnh đạo hai nước trao đổi các khả năng và biện pháp tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên; triển khai thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong các lĩnh vực như nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật, hàng hải… thiết thực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn