Archive | 2012

Người thức trắng đêm vẽ tranh Bác Hồ

Ong Phan Thanh Tinh va buc anh Bac HoÔng Phan Thanh Tịnh và tác phẩm
“Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957”

Chúng tôi tìm đến nhà ông Phan Thanh Tịnh ở Tiểu khu 5, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi đó là căn phòng khách treo trang trọng những bức tranh khổ lớn vẽ Bác Hồ. Đối với ông Tịnh, mỗi bức tranh là những kỉ niệm mà ông không thể nào quên. Năm nay đã bước sang tuổi 72 nhưng ông vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Tiếp chuyện chúng tôi, ông say sưa kể về những kỉ niệm trong những lần vẽ ảnh chân dung Bác Hồ.

Những năm 50 của thế kỉ XX, khi đang còn là cậu học sinh phổ thông Trường Đào Duy Từ, Phan Thanh Tịnh đã bộc lộ khả năng hội hoạ của mình khi được tham dự cuộc thi vẽ tranh liên hoan của thiếu nhi hai miền Nam – Bắc tại Cửa Tùng (Quảng Trị). Đến nay, dù đã trải qua nhiều vị trí và lĩnh vực công tác khác nhau nhưng ông vẫn miệt mài theo đuổi niềm đam mê hội hoạ. Và trong suốt chặng đường sáng tạo đó, ông đã dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho những bức tranh vẽ về đề tài Bác Hồ. Ông kể: Ông được vinh dự trông thấy Bác Hồ vào ngày 16-6-1957, khi Người về thăm và nói chuyện tại lễ đài sân vận động Đồng Hới với hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình. Những hình ảnh, cử chỉ và giọng nói ấm áp, trìu mến của Người trong ngày hôm ấy mãi mãi đọng lại trong kí ức của ông. Nên sau đó, ý tưởng vẽ hình Bác luôn nung nấu trong trái tim ông. Bức tranh đầu tiên ông vẽ Bác vào năm 1967 với hình Bác to hơn người thật, được treo trang trọng tại Đại hội Quyết thắng của tỉnh tổ chức tại chiến khu Ba Rền.

Và tác phẩm đặc biệt thứ hai vẽ về Bác chính là bức chân dung được ông vẽ trong đêm 3-9-1969. Ông nhớ lại, đó là buổi chiều ngày 3-9-1969, khi ông đang bị ốm thì nhận được giấy triệu tập của đồng chí Trương Hoa – Chủ tịch thị xã Đồng Hới: “Bác Hồ kính yêu của chúng ta đang ốm nặng, nhỡ ra tình huống không qua khỏi, cậu (Phan Thanh Tịnh) phải nhanh chóng vẽ chân dung Bác để kịp hôm sau Đảng bộ và nhân dân tỉnh làm lễ truy điệu”. Khi được giao nhiệm vụ vẽ chân dung Người, tâm trạng ông rối bời bởi vừa lo tình hình sức khoẻ của Bác, vừa lo vì trọng trách được giao. Nhưng vì công việc quan trọng và khẩn cấp, ông bắt tay ngay vào công việc, ông chuẩn bị một tờ giấy rôki cỡ rộng, màu và bút vẽ.

Lúc đó, do ốm nên đầu óc ông cứ như bốc lửa, loay hoay mãi với những mảng màu, đường nét. Ông thật sự lúng túng thấy tay và mắt mình không làm chủ được nữa. Liền sau đó, khi nhận tin Bác Hồ không còn nữa, với niềm đau thương và kính yêu vô hạn đối với Bác, ông nhập hồn vào bức vẽ. “Tôi phải nén những giọt nước mắt để hoàn thành bức chân dung Bác cho kịp buổi Lễ Truy điệu ngày hôm sau. Đến gần 5 giờ sáng ngày 4-9-1969, tôi đặt bút xuống và báo cáo bức chân dung Bác Hồ đã hoàn thành, tất cả mọi người ngắm nhìn và oà lên khóc”… Kể đến đây, ông không kìm được cảm xúc, lấy khăn lau dòng nước mắt đang chảy dài trên gò má.

Cùng với bức tranh vẽ Bác ngày ấy, sau này ông Tịnh vẫn miệt mài vẽ tranh Bác Hồ. Trong đó phải kể đến những bức tranh ông vẽ chân dung Bác cùng Hôxê Macti – nhà tư tưởng, nhà văn hoá vĩ đại của Cu Ba – cùng lãnh tụ Phiđen Castro đã được tặng cho Đại sứ quán Cu Ba. Bức tranh vẽ Bác đứng cạnh Các Mác – Lênin được tặng cho Tỉnh uỷ Bình – Trị – Thiên. Hiện tại, trong căn phòng khách của ông treo đầy hình ảnh Bác. Trong đó, bức tranh “Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957” được ông vẽ vào năm 1992, đã gây ấn tượng đối với nhiều người.

Cùng với niềm đam mê vẽ tranh về Bác, ông còn vẽ tranh cổ động, sáng tác thơ ca, hò vè và sưu tầm hàng ngàn câu tục ngữ, ngạn ngữ trong nước và thế giới… Nhiều bức tranh về đề tài chiến tranh cách mạng của ông hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình, đó là các tranh “Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới năm 1945”, “Lập chiến luỹ trên đường phố Đồng Hới” và “Lê Thành Đồng trên điểm cao 26”…

Theo Báo Đại đoàn kết
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Khu vườn Phủ Chủ tịch – nơi giáo dục sâu sắc ý thức bảo vệ môi sinh, môi trường

coi bac xua

Vào thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ấn tượng đầu tiên đối với khách tham quan đó là màu xanh của vườn cây nơi đây. Khu vườn mang lại cho du khách một cảm giác thư thái, trong lành ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội ngột ngạt. Và càng thú vị hơn khi du khách được tìm hiểu một số câu chuyện về các loài cây trong khu vườn gắn với những kỷ niệm về Bác. Chuyện về mỗi loài cây mang tình cảm ấm áp của Bác, có ý nghĩa giáo dục sâu xa về cuộc đời, về con người.

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch nằm trong khuôn viên vốn là một phần của vườn Bách thảo cũ. Cuối thế kỷ thứ 19, sau khi xâm lược ba nước Đông Dương, thực dân Pháp đã chiếm khu đất này để quy hoạch về Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mãi đến cuối năm 1954 sau khi Hà Nội được giải phóng, quân ta về tiếp quản Thủ đô thì khu vực này mới trở thành trung tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử dân tộc, nhiều công trình kiến trúc đã bạc màu vì thời gian, tuy nhiên khu vực này vẫn giữ được vườn cây xanh tươi, phong phú về chủng loại. Theo nhận định của một số nhà khoa học thì nơi này giống như một bảo tàng sống về các loại cây trong đó có nhiều giống cây quý đến từ nhiều nước trên thế giới, nhiều cây cổ thụ có tuổi thọ hàng trăm năm.

Toàn bộ vườn cây có 1271 cá thể, thuộc 161 loài cây, 54 họ thực vật, 78 cây có nguồn gốc trong nước, 68 cây có nguồn gốc nước ngoài và một số cây còn chưa rõ nguồn gốc; nhiều loài cây ăn quả, nhiều loài cây bóng mát, nhiều loại hoa và cây cảnh. Khu vườn này càng phong phú hơn kể từ khi Bác Hồ về ở và làm việc tại khu vực này, Bác đã cho trồng nhiều loại cây mới, cải tạo ao nuôi cá, đường đi, lối lại và làm cho cảnh quan môi trường ở khu vực này thêm sạch và đẹp. Nhiều cây trồng ở khu vực này không chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà còn mang lại ý nghĩa lịch sử văn hóa, gắn với quê hương đất nước, gắn với tình đồng chí, bè bạn quốc tế bởi vì trong khu vườn này có những cây do Bác tự tay trồng và chăm sóc, có cây Bác đặt tên, có cây Người mang từ nước ngoài về, có cây đồng bào trong nước gửi tặng… mỗi cây đều chứa đựng những kỷ niệm sâu sắc về Người.

Trên con đường đi từ Phủ Chủ tịch đến nhà 54, khách tham quan có thể chiêm ngưỡng cây đa có thế đứng độc đáo với ba thân cây phụ được tạo thành từ các nhánh rễ buông  từ trên cành xuống tỏa ra ba hướng, Bác đã dạy cho các đồng chí phục vụ cách đưa rễ đa từ trên cao xuống đất để chống đỡ cho cây trong những ngày mưa bão. Qua quá trình đưa được rễ đa xuống đất mất nhiều thời gian và công sức này, Bác muốn gửi bức thông điệp đến mọi người rằng: Con người hoàn toàn có thể chinh phục được tự nhiên, nếu có tính quyết tâm và lòng kiên trì. Để ghi nhớ lời Bác dạy, các đồng chí phục vụ đã đặt tên cho cây là: Cây đa kiên trì.

Bên cạnh ngôi nhà số 54, Bác cho trồng cây xanh bốn mùa với đặc tính rất ít khi rụng lá vào mùa đông. Loài cây này được Bác mang về từ Trung Quốc sau chuyến thăm hữu nghị của Người vào năm 1957 để trồng thử với mong muốn nếu cây thích ứng tốt với khí hậu Việt Nam sẽ cho trồng rộng rãi trên khắp các đường phố để đỡ phần nào cực nhọc cho những người lao công quét đường.

Quanh ao cá của Bác Hồ nhấp nhô những rễ cây dâm bụt mọc, loài cây Bác đã đặt tên sau một so sánh khá thú vị giữa hình dáng của rễ cây với những bức tượng của ông Bụt ở trong chùa. Khi Bác biết các đồng chí phục vụ có ý định chặt bỏ một cây bụt mọc đã bị mối xông quá nửa thân, Bác đã khuyên không nên chặt bỏ rồi sau đó Bác đã trực tiếp hướng dẫn các đồng chí phục vụ cách cứu chữa cho cây. Theo Bác: Chặt một cây thì rất dễ nhưng trồng thêm một cây mới để phát triển được như cũ thì mất rất nhiều thời gian. Sau này, khi đi nói chuyện tại một Hội nghị Cán bộ quản lý ở thị xã Sơn Tây, Bác đã kể lại câu chuyện cứu chữa cây bụt mọc để nhắc nhở về việc quản lý, giáo dục cán bộ. Bác dạy rằng, việc giúp đỡ một cán bộ phạm khuyết điểm cũng giống như cứu chữa một cây bị hư, không phải cứ thấy cán bộ phạm lỗi là đưa ra kỷ luật, bài trừ mà phải tạo điều kiện giúp đỡ họ để họ khắc phục khuyết điểm và trở thành người có ích. Qua câu chuyện về cây, Bác đã dạy cho chúng ta một bài học sâu sắc về cách ứng xử đầy vị tha, nhân hậu đối với con người. Tình yêu thương và lòng bao dung nhân ái chính là cách tốt nhất để cảm hóa được con người lầm lỗi, giúp họ trở thành người tốt. Đối với cây cỏ, thiên nhiên cũng vậy, chỉ có tình yêu thương, lòng quý trọng mới biến thiên nhiên thành những người bạn thực sự trong cuộc sống của chúng ta.

Bờ ao trước nhà sàn Bác cho trồng hai cây y lan với dáng đứng vươn thẳng lên bầu trời rồi Người đặt tên cho cây là cây vũ trụ để chúc mừng thành tựu của nhân dân Liên Xô sau khi được biết bạn vừa phóng thành công hai con tàu vũ trụ Phương Đông 5 và Phương Đông 6. Vào mỗi độ hè sang, khu vườn của Bác càng được tô điểm với những sắc màu rực rỡ của hoa phượng, hoa liễu đỏ, hoa bằng lăng tím, hoa phong lan đủ màu sắc quanh ao cá.

Thăm khu vực nhà sàn, khách tham quan sẽ được chiêm ngưỡng một khung cảnh vừa giản dị, vừa nên thơ với hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh ngôi nhà ở Làng Sen quê hương Bác, vườn hoa trước nhà với các loài hoa mang nhiều hương thơm thường được trồng ở các vùng quê như hoa mộc, hoa sói, hoa nhài, hoa dạ hương. Mảnh vườn nhỏ phía sau nhà với những luống cam, bưởi mang đến cho ta một cảm giác bình yên và thật sự gần gũi như hình ảnh quê hương trong tâm khảm của mỗi con người. Ở góc cầu thang nhà sàn là cây vú sữa của đồng bào miền Nam mà Bác đã cho chuyển từ ngôi nhà số 54 về trồng tại đây sau khi nhà sàn được hoàn thành. Hằng ngày dù bận trăm công ngàn việc Bác vẫn dành thời gian để chăm sóc, tưới tắm cho cây như gửi gắm vào trong đó tất cả tình cảm Bác dành cho đồng bào miền Nam.

Trước khi ngôi nhà sàn được đưa vào xây dựng, Bác đề nghị hạn chế tối đa việc chặt cây nhằm duy trì đến mức tốt nhất vườn cây đã có sẵn từ trước. Chính vì vậy mà nhiều cây cổ thụ quý hiếm vẫn được gìn giữ và chăm sóc cho đến tận ngày hôm nay như: Những cây cơm nguội, cây đa, cây xoài, cây ngân hoa, cây hoàng lan,… Bác rất thích làm việc giữa khung cảnh thiên nhiên. Những nơi làm việc yêu thích của Người là dưới giàn hoa Phủ Chủ tịch và ngôi nhà sàn giản dị ở giữa vườn hoa xanh mát. Nơi đây giữa thiên nhiên hoa lá, dường như Bác cảm thấy minh mẫn và thư thái hơn để đưa ra nhiều suy nghĩ, nhiều quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình đất nước. Đây còn là nơi Bác dành để tiếp đón các đoàn khách đặc biệt của mình. Bác thích trò chuyện, tiếp khách tại đây bởi không bị giới hạn bởi không gian và các nghi thức ngoại giao, con người dễ gần gũi với nhau hơn. Được Bác tiếp đón tại giàn hoa Phủ Chủ tịch hay ở tầng một nhà sàn là một kỷ niệm khó quên đối với những vị khách của Bác.

Những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, nỗi nhớ miền Nam da diết trong lòng Bác. Không có dịp vào thăm miền Nam, Bác dành hết tình cảm của mình vào việc chăm sóc những cây dừa miền Nam trước ngôi nhà sàn hay cây vú sữa mà đồng bào miền Nam đã tặng Bác. Trước lúc đi xa Bác còn căn dặn đồng chí Vũ Kỳ tìm thêm các giống xoài miền Nam trồng xen kẽ giữa những cây xoài cổ thụ trên con đường xoài để cây có thời gian kịp phát triển thay thế những cây đã già cỗi.

Tham quan khu vườn Phủ Chủ tịch, tìm hiểu một số câu chuyện về những loài cây trong vườn Bác, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc về tình cảm ấm áp của Bác không chỉ đối với con người mà còn lan tỏa sang cỏ cây hoa lá. Có thể nói, cây cỏ quanh nhà Bác không còn vô tri, vô giác mà như được thổi hồn vào nhờ tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của Bác. Mỗi cây đều được Bác nâng niu, trân trọng và xem như những người bạn tri ân trong cuộc sống của mình. Mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, khi những người phục vụ trở về với gia đình riêng của mình, Bác chỉ có thiên nhiên làm bầu bạn. Cỏ cây hoa lá rì rào quanh ngôi nhà xua đi sự tĩnh mịch, vắng vẻ, như tiếp thêm cảm hứng cho tâm hồn dễ rung cảm của Bác, giúp Người viết nên những áng thơ dạt dào tình yêu đất nước, quê hương.

Nơi Bác Hồ ở tràn ngập màu xanh của thiên nhiên, hoa lá, rộn tiếng chim ca. Cảnh sắc thật nên thơ trong sự hài hòa cân bằng sinh thái. Con người và thiên nhiên nơi đây tạo nên sự hoàn chỉnh, dung hòa trong mối quan hệ cộng sinh tự nhiên. Việc nước bộn bề với bao căng thẳng, lo toan nhưng mỗi khi trở về nơi này, Bác được hưởng những phút giây thư giãn, được tiếp thêm nguồn sinh lực mới để tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Được sống giữa môi trường thiên nhiên trong lành, Bác có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuối năm 1959, cũng từ nơi này, ngày Tết trồng cây đã được Bác phát động với mục tiêu “Trong mười năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ điều hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Lời kêu gọi của Bác được sự hưởng ứng rộng rãi của các địa phương trong cả nước. Cũng từ sau Tết trồng cây đầu tiên, phong trào đã trở thành một nếp sống đẹp, một truyền thống gắn bó không thể thiếu trong mỗi người dân Việt Nam khi xuân về.

Không chỉ kêu gọi nhân dân tích cực tham gia trồng cây, Bác luôn trực tiếp tham gia, cổ động cho phong trào phát triển. Mỗi năm cứ khi Tết đến, xuân về Bác đều tự mình trồng cây trong Phủ Chủ tịch để làm gương. Bác thường xuyên tổ chức những chuyến công tác đến các địa phương để thăm hỏi, động viên, cùng trồng cây với nhân dân. Bác còn tặng cả huy hiệu của Người cho những gương người tốt, việc tốt, điển hình trong hoạt động trồng cây bảo vệ môi sinh, môi trường.

Nhờ có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Bác, phong trào đã được phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chiều sâu. Hàng ngàn héc ta rừng đã được phủ xanh, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống kinh tế và duy trì sự ổn định, bền vững cho môi trường sống của nhân dân ta. Mỗi người tham gia trồng thêm một vài cây xanh, đất nước ta có thêm hàng triệu cây xanh góp phần  làm cho môi trường sống càng thêm trong lành, thêm đẹp và thêm ý nghĩa.

Có thể nói ngày nay nhân loại đang đối diện với rất nhiều vấn đề bức xúc về môi trường. Sự phát triển kinh tế càng nhanh thì kéo theo nhiều hệ lụy lên môi trường sống của chúng ta. Môi trường sống ở các đô thị đang bị ô nhiễm, ngột ngạt vì khói bụi và chất thải đe dọa sức khỏe và chất lượng sống của con người. Nhiều khu công nghiệp với hàng ngàn nhà máy đang xả chất thải sản xuất trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Nạn chặt phá rừng, buôn bán gỗ lậu, khai thác tài nguyên, khoáng sản diễn ra ngày càng tinh vi trên khắp các cánh rừng gây ra nhiều hậu qủa nặng nề như làm gia tăng nhiệt độ trái đất kéo theo lũ lụt, sạt lở đất… Rõ ràng nạn ô nhiễm môi trường do con người gây ra lại quay trở lại ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của con người. Giải quyết ô nhiễm môi trường ngày nay đã trở thành một vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia, một dân tộc nào mà trở thành một vấn đề nóng bỏng của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đều xem đây là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mình. Trong số rất nhiều các giải pháp được đưa ra thì giải pháp trồng cây, gây rừng vẫn được xem là giải pháp hữu hiệu và thiết thực nhất. Song hành với các phương án phát triển kinh tế thân thiện với môi trường thì việc trồng cây, gây rừng và các biện pháp ngăn chặn chặt phá rừng cũng được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư.

Nhìn nhận lại phong trào Tết trồng cây mà Bác đã phát động từ nhiều năm qua, chúng ta mới thấy hết được một tư tưởng vô cùng tiến bộ, một tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ về việc bảo vệ môi sinh môi trường thể hiện qua một hành động trồng cây rất đơn giản và hiệu quả mà Người đã sớm nhận thức được trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều bộn bề với nhiều khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tham quan khu vườn của Bác tại Khu Di tích Phủ Chủ tich, chúng ta vẫn như cảm thấy hơi ấm tình thương của Bác còn hiện hữu nơi này. Giữa màu xanh cây lá, ta vẫn thấy hình bóng Bác nhân từ như ông Tiên trong câu chuyện cổ tích đang chăm chút, tưới tắm cho từng gốc cây, ngọn cỏ. Giữa lòng thủ đô Hà Nội náo nhiệt, ngột ngạt, vườn cây nơi đây cho ta cảm giác bình yên, thư thái, gợi mở những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống. Màu xanh nơi đây chính là cội nguồn cuộc sống và cũng chính là một tương lai bền vững mà con người đang tích cực hướng tới. Vườn cây Khu Di tích Phủ Chủ tịch sẽ mãi là một bức thông điệp với các thế hệ hôm nay và mai sau: “Hãy giữ lấy màu xanh, đây chính là cuộc sống tương lai”.

Theo Lê Thị Thanh Loan
Phòng TT – GD
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Họa sĩ nhiều lần được “làm phiền” Bác Hồ

Họa sĩ Phan Kế An năm 2008. Ảnh: Internet

Họa sĩ Phan Kế An sinh năm 1923 tại xã Đường Lâm-Sơn Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội. Ông là con trai quan Khâm sai đại thần Phan Kế Toại dưới triều Nguyễn. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Phan Kế Toại đi theo kháng chiến, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, rồi Phó thủ tướng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phan Kế An thuộc thế hệ sinh viên cuối cùng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thời Pháp thuộc. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông cùng nhiều bạn bè đồng môn như: Mai Văn Nam, Tạ Thúc Bình, Vĩnh Noãn, Mai Văn Hiến, Lê Phả, Kim Đồng, Phan Thông, Nguyễn Tư Nghiêm, Tôn Đức Lượng (tức Nguyễn Hữu Kinh), Nguyễn Văn Thiện, Trần Quốc Ân, Bùi Xuân Phái… đã hăng hái “gác bút nghiên lên đường tranh đấu”.

Hơn nửa thế kỷ làm họa sĩ cách mạng, Phan Kế An đã vẽ hơn nghìn bức tranh với nhiều chất liệu khác nhau. Ông đã 3 lần được giải nhất trong các triển lãm mỹ thuật toàn quốc, được Giải thưởng Nhà nước về văn học-nghệ thuật đợt đầu tiên (năm 2001), từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam. Tên tuổi ông gắn liền với nhiều tác phẩm hội họa nổi tiếng, như: Nhớ một chiều Tây Bắc, Gặt ở Việt Bắc, Những đồi cọ, Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt, Hà Nội tháng 12-1972, Cánh đồng bản Bắc… và hàng loạt tranh biếm họa chính trị. Nhưng với ông, quãng đời hoạt động nghệ thuật ấn tượng nhất là những năm đầu đi theo cách mạng, ông được phân công vẽ tranh cổ động, tranh minh họa phục vụ kháng chiến. Đặc biệt là thời gian ông được vẽ tranh ký họa chân dung Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Ông kể: Cuối năm 1946, không khí sục sôi chuẩn bị Toàn quốc kháng chiến, ông cùng một số danh họa như: Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Đình Thọ, Mai Văn Hiến… được giao nhiệm vụ vẽ tranh cổ động để dán trên đường phố Hà Nội, với tinh thần “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm…”. Các ông tập trung tại nhà ông Nguyễn Đình Thi ở ấp Thái Hà để vẽ bí mật. Một hôm, anh em đang miệt mài sáng tác thì có một người đến ngắm nghía rồi góp ý là hình ảnh những người tự vệ còn yếu đuối, thư sinh quá. “Máu sĩ” nổi lên, Phan Kế An nói với vị khách không mời mà đến “gí mũi” vào việc người khác: “Thế thì anh ngồi làm mẫu cho chúng tôi vẽ nhé!”. Không ngờ người ấy cởi áo khoác, ngồi hẳn hai giờ trong tư thế người chiến sĩ quyết tử ôm bom ba càng xông vào xe địch. Tác phẩm hoàn thành cũng là lúc có chiếc ô tô con đến đón “người mẫu” đi, lúc đó hỏi ra, Phan Kế An mới biết “người mẫu” chính là ông Đặng Xuân Khu-tên thật của đồng chí Trường Chinh-một cán bộ cấp cao của Đảng và Chính phủ.

Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt (Tranh của họa sĩ Phan Kế An – 1948)

Một thời gian sau đó, Phan Kế An được cử sang Báo Sự Thật do đồng chí Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Nhiệm vụ chính của ông là làm ma-két và vẽ tranh minh họa cho báo. Họa sĩ kể: Số báo Tết Kỷ Sửu năm 1949, đồng chí Trường Chinh yêu cầu trên bìa báo không phải một bức tranh, mà là trình bày sao cho đẹp mắt bốn câu thơ Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họa sĩ phải viết thư gửi Bác, đề nghị Người viết bốn câu thơ chúc Tết đồng bào ra tờ giấy khổ lớn. Bác Hồ đồng ý nhưng khi Người gửi thơ sang để trình bày thì cả bài lại dài hơn khuôn khổ của trang báo. Ông đành viết thư sang phiền Bác viết lại. Lần này Bác lại viết hẹp hơn khuôn khổ trang báo. Ông lại phải viết thư sang lần thứ ba và lần này thì Bác viết vừa khít. Hơn nửa thế kỷ sau, kể lại câu chuyện trên đây, ông vẫn tỏ ra day dứt: “Vậy là tôi đã làm phiền Bác tới ba lần. Bốn câu thơ Bác viết không đúng khuôn khổ trang báo, tôi giữ mãi như một kỷ niệm quý hiếm. Về sau, theo yêu cầu của một đồng chí cán bộ, tôi đã đưa tặng Bảo tàng Cách mạng. Không hiểu bên bảo tàng có còn giữ được các bản viết tay này của Bác không?”…

Trước đó hơn một năm, họa sĩ Phan Kế An còn vinh dự được “làm phiền” Bác Hồ tới hai tuần lễ. Đó là vào khoảng cuối năm 1948, đồng chí Trường Chinh giao nhiệm vụ cho ông sang vẽ ký họa về Bác Hồ. Khi đó ông vừa sung sướng vì được gặp gỡ, được vẽ con người mà mình luôn ngưỡng mộ, lại vừa căng thẳng bởi trọng trách quá lớn. Ông băn khoăn liệu khi làm việc với một người quan trọng như vậy thì mình có bị bó buộc không? Liệu có được thỏa sức sáng tạo nghệ thuật không? Liệu nét vẽ của mình đã đủ chín để vẽ chân dung về Bác Hồ? Vân vân và vân vân… Song, mọi lo lắng đã được giải tỏa khi họa sĩ trẻ Phan Kế An được Bác đón tiếp ngay khi vừa đến, được Bác bắt tay, thăm hỏi sức khỏe và thậm chí là được ăn cơm cùng Bác. Họa sĩ Phan Kế An nhớ lại: “Lúc đó đang ở độ tuổi sung sức, được ăn cơm với Bác, tôi chưa biết giữ ý tứ. Mỗi bữa, tôi ăn liền một mạch 4 bát, rượu thì mỗi lần đưa chén lên là cạn. Một vài bữa sau, tôi mới nhận ra sự vô ý của mình, liền quyết tâm sửa chữa. Hôm đó, thấy chén rượu của Bác đã vơi, tôi vội cầm lấy nậm rượu định rót thêm. Bác che tay lên miệng chén và nói: “Uống nhiều thì có hại cho sức khỏe!”. Về sau, Bác không hề nói chuyện về tác hại của rượu, song tôi cũng không bao giờ dám uống đến chén thứ 2…

Về chuyện vẽ chân dung Bác Hồ, họa sĩ cũng được tự do thoải mái, vì ngay hôm đầu tiên Bác đã căn dặn: “An cứ làm việc của An, tự nhiên mà vẽ nhé!”. Bác bận nhiều công việc, họa sĩ tranh thủ vẽ Bác trong mọi tư thế, mọi địa điểm… Nhiều lúc họa sĩ cũng được Bác mời thuốc lá. Lúc đó, phần thì đang dở tay, phần thì đang mải làm việc, họa sĩ chỉ “xin” Bác điếu thuốc rồi bỏ vào túi áo ngực. Lúc đầu chỉ là để dành lát nữa mới hút, về sau họa sĩ nảy ra ý định “tích cóp” để dành cho anh em trong cơ quan không có dịp may mắn được như mình. Nào ngờ hành vi “láu cá” ấy không qua được mắt Bác. Đến hôm vẽ cuối cùng, Bác vờ như vô tình hỏi: “An tích trữ được bao nhiêu điếu thuốc rồi?”. Chẳng còn cách nào khác, ông đành thú nhận toàn bộ “âm mưu” với Bác. Nghe xong, Bác hỏi tiếp: “Ở đó có bao nhiêu anh em?”. “Dạ, có 30 người ạ!”. Bác mở hộp thuốc đếm ra 17 điếu trao cho họa sĩ, vì trước đó ông đã tích cóp được 13 điếu, để đủ chia quà cho anh em trong tòa soạn… Đợt công tác đó, họa sĩ Phan Kế An đã thực hiện được hơn 20 bức tranh về Bác. Bác bảo họa sĩ treo tất cả lên vách liếp nhà tập thể cơ quan để anh em cùng xem và góp ý. Cuối cùng Bác chọn bức “Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt” vẽ ngày 27-11-1948, vì theo Bác, bức vẽ tự nhiên và có hồn. Báo Sự Thật số tháng 12 năm 1948 đã đăng bức họa ấy và được in với số lượng lớn, đủ để phát hành khắp các chiến khu và cả những vùng tạm chiếm, đáp ứng lòng mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ cả nước.

Họa sĩ Phan Kế An cho biết: Cuối năm 2008, nhân dịp bức tranh “Bác Hồ ở lán Khuổi Tạt” ra đời tròn 60 năm, ông đã mang tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bản khắc gỗ bức tranh cùng nhiều bức tranh khác ông vẽ về Bác Hồ kính yêu!

LƯƠNG NGỌC HÀ
qdnd.vn

Báo cáo nhân quyền của Hoa Kỳ chỉ nhằm hủy hoại xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại

Đã nhiều năm nay, cứ vào dịp đầu năm, Hoa Kỳ lại tự cho phép quyền phán quyết nhân loại bằng cái gọi là “báo cáo tình hình nhân quyền ở các nước” do Bộ Ngoại giao công bố, cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật về những tiến bộ trong cải thiện vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới. Tự cho mình quyền “ăn không nói có”, vu cáo và ngang nhiên nhúng mũi vào công việc nội bộ của người khác. Mục tiêu của Mỹ không nhằm gì khác là đẩy mạnh một trong ba mục tiêu của chiến lược an ninh quốc gia sau “chiến tranh lạnh” – cái gọi là “thúc đẩy dân chủ” trên phạm vi toàn thế giới, từng bước thiết lập trật tự thế giới đơn cực Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, báo cáo nhân quyền của Hoa Kỳ đang vấp phải sự phản đối của cộng đồng quốc tế do tính bất hợp pháp, phi lý và vô nhân đạo của nó. Công luận quốc tế cho rằng, báo cáo nhân quyền thường niên của Mỹ chỉ nhằm huỷ hoại xu thế chủ yếu của thời đại, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển.

Bất hợp pháp, phi lý và vô nhân đạo

Cái gọi là “Báo cáo về tình hình nhân quyền ở các nước” của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được trình lên quốc hội Mỹ hằng năm theo Đạo luật Viện trợ nước ngoài (FAA) là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm thô bạo Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc bình đẳng quốc gia trong ứng xử quốc tế. Theo đạo luật này, cứ vào ngày 25 tháng 2 hằng năm, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phải trình lên Chủ tịch Hạ viện và Ủy ban Quan hệ đối ngoại của Thượng viện một bản “báo cáo đầy đủ và chi tiết về tình hình nhân quyền của các nước nhận viện trợ, ở các nước thành viên Liên hợp quốc và không là đối tượng của báo cáo nhân quyền theo quy định của đạo luật”. Các bản báo cáo này là cơ sở để quốc hội Mỹ phê chuẩn các chính sách đối với các quốc gia nhận viện trợ và các quốc gia khác được coi là có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của Mỹ.

Nếu chỉ dừng lại là việc riêng của nước Mỹ thì không có chuyện gì đáng bàn, vì lẽ thông thường, để quyết định các chính sách đối ngoại, chính phủ nào cũng phải đánh giá tình hình của các bên đối tác. Tuy nhiên, trường hợp của Mỹ không phải như vậy. Người ta có thể nhận thấy mục đích chính của các báo cáo này là sự áp đặt cái gọi là “giá trị Mỹ” trên phạm vi toàn cầu, dọn đường cho sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, đem quân xâm lược các nước được Mỹ liệt vào “các quốc gia khủng bố”, “tài trợ khủng bố “, “trục ma quỷ”, hay “các quốc gia thất bại”.

Sau khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã vào thập niên 90 của thế kỷ trước, mất đối thủ tiềm tàng, còn lại siêu cường duy nhất, Mỹ cho rằng đây là thời cơ giành bá chủ thế giới, vì vậy đã triển khai chiến lược an ninh quốc gia mới với tham vọng thiết lập trật tự thế giới một cực do Mỹ độc tôn lãnh đạo. Oa-sinh-tơn không ít lần ngạo mạn tuyên bố: “…đã đến lúc người Mỹ phải đảm nhận lấy vai trò lãnh đạo thế giới ” hay “một thế giới không do Mỹ lãnh đạo sẽ là một thế giới bất ổn”. Sa-mu-en R.Béc-gơ, một trong những chiến lược gia hàng đầu của Mỹ khẳng định: “…chưa bao giờ sự lãnh đạo của chúng ta (nước Mỹ) lại cần thiết và cấp bách đến thế…”. Mục tiêu chính của “chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới” của Mỹ là lập lại trật tự thế giới, đó là trật tự đơn cực do Mỹ làm hạt nhân, ngăn chặn sự trỗi dậy của các đối thủ chiến lược tiềm tàng. Nhà Trắng không giấu diếm, rằng “chúng ta phải ngăn chặn mọi đối thủ chiếm lĩnh các vùng có nguồn lực giúp cho họ trở thành đại cường quốc…phải làm nản lòng các nước công nghiệp phát triển về mọi ý đồ nhằm thách thức sự lãnh đạo của Mỹ” và “phải ngăn chặn trong tương lai mọi đối thủ cạnh tranh toàn cầu”.

Nhiều năm nay, Mỹ đã vi phạm những nguyên tắc cơ bản Hiến chương Liên hợp quốc, những giá trị cơ bản của quyền con người được quốc tế thừa nhận rộng rãi khắp hành tinh. Tiến hành các hoạt động can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia bằng việc dựng lên các báo cáo giả mạo về nhân quyền là việc làm vô nhân đạo. Theo thống kê, Mỹ đã không dưới 68 lần can thiệp quân sự, gây chiến tranh xâm lược, dưới danh nghĩa “bảo vệ nhân quyền, tự do tôn giáo, thúc đẩy dân chủ”. Lịch sử đã ghi nhận “chiến tích” của “những chiến sỹ xung kích” bảo vệ nhân quyền của Hoa Kỳ bằng việc vô cớ chiếm đóng và bắn giết hàng triệu người dân vô tội ở Đông Dương, Triều Tiên, Li-bi, Nam Tư… và đang thả sức thảm sát nhân dân các nước I-rắc, Áp-ga-ni-xtan…Không lẽ những người dân vô tội này là những kẻ vi phạm nhân quyền? Phải chăng những hành động bắt cóc, ám sát, lật đổ, gây rối an ninh xã hội các quốc gia có chủ quyền ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ-La tinh, Đông Âu và nhiều điểm nóng của thế giới được các cơ quan đặc biệt Hoa Kỳ thực hiện từ trước đến nay là những hành động trượng nghĩa, bảo vệ nhân quyền? Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ sẽ không bao giờ quên tội ác của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Những vụ thảm sát đẫm máu dân thường ở Sơn Mỹ (Quảng Ngãi), Khâm Thiên (Hà Nội) và các nạn nhân chất độc da cam do quân Mỹ gây ra trong chiến tranh Việt Nam mãi mãi là bằng chứng không thể chối cãi, minh chứng cho tính vô nhân đạo của cái gọi là “giá trị Mỹ”. Liệu Oa-sinh-tơn có thể chứng minh cho sự trong sạch, ngay thẳng của mình khi đem bom tàn phá Li-bi, Bê-ô-grát (Xéc-bi-a), đem quân vào xâm lược Áp-ga-ni-xtan, I-rắc? Phải chăng những hành động bắt bớ, giam cầm, tra tấn, hãm hiếp, giết hại dân thường của quân nhân Mỹ đang diễn ra ở I-rắc, Áp-ga-ni-xtan là hành “động thúc đẩy dân chủ”?

Sự thật, đó là những hành động “khủng bố nhà nước” không hơn không kém. Nó còn nguy hiểm gấp bội lần hành động của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện đại. Nhiều nhà nghiên cứu quốc tế đánh giá một cách thỏa đáng rằng, hòa bình thế giới hiện nay đang bị đe dọa bởi hai kẻ khủng bố lớn nhất hành tinh, chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan và chủ nghĩa khủng bố nhà nước Hoa Kỳ. Có thể nói, lưỡi gươm khủng bố Hồi giáo cực đoan và lưỡi gươm khủng bố nhà nước Hoa Kỳ (được núp dưới danh nghĩa cuộc chiến chống khủng bố) đang treo lơ lửng trên đầu nhân loại.

Trong khi lớn tiếng rao giảng “dân chủ” và truyền bá cái gọi là “giá trị của thế giới tự do” khắp hành tinh thì trong lòng xã hội Mỹ còn đầy rẫy bất công và bạo lực. Đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng trầm trọng. Ở Mỹ vẫn có 25% số gia đình sống trong tình trạng nghèo đói, 25% trẻ em bị đe doạ chết đói, trong khi đó 1% số gia đình giầu nhất nước lại sở hữu 19% tổng số tài sản quốc gia, một bộ phận dân chúng lao động, nhất là người da màu, dân nhập cư sống trong tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, không được chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và bị bóc lột. Đó là tệ phân biệt chủng tộc và bạo lực tràn lan. Không ở đâu như ở Mỹ, súng đạn được bán và trang bị cho mọi người như một thứ đồ sinh hoạt thông thường. Hiến pháp và pháp luật Mỹ cho phép “quyền được mang và sử dụng vũ khí” được coi là quyền tự do cá nhân và bất khả xâm phạm. Đó là nền “văn hóa súng đạn”, như cách gọi của cựu thủ tướng Ốt-xtrây-li-a Giôn Hô-uốt đánh giá về nền văn hóa này của Mỹ sau vụ thảm sát 32 giáo viên, sinh viên ngày 16 tháng 4 năm 2007 tại trường đại học công nghệ Vơ-gi-ni-a. Ở Mỹ đang có khoảng 250 triệu khẩu súng được dân chúng sở hữu và sử dụng, tức là trung bình mỗi người dân Mỹ có một khẩu súng. Nền văn hoá súng đạn của Mỹ đã gây ra hậu quả xã hội hết sức nghiêm trọng, những vụ thảm sát tập thể dã man xảy ra như cơm bữa. Xã hội Mỹ là một xã hội kém an toàn nhất thế giới.

Phản bác lại “Báo cáo nhân quyền ở các nước năm 2007” được Bộ Ngoại giao Mỹ công bố ngày 11 tháng 3 năm 2008, Bộ Ngoại giao Nga khẳng định rằng, đánh giá của Mỹ về nhân quyền không đáng tin cậy và là hành động “bẩn thỉu”. Theo Nga, báo cáo nhân quyền của Mỹ thể hiện chính sách hai mặt của chính quyền Oa-sinh-tơn sử dụng nhân quyền làm công cụ can thiệp vào công việc của người khác trong khi lại không giám đối mặt với những vi phạm nhân quyền ngay trong lòng nước Mỹ.

Chính phủ Trung Quốc cho rằng, Mỹ sử dụng nhân quyền cho mưu đồ chính trị. Báo cáo của Bộ Ngoại giao Trung quốc khẳng định, Mỹ quá kiêu ngạo tự cho mình quyền phán xét nhân quyền của nước khác trong khi còn rất nhiều vấn đề liên quan đến nhân quyền ngay trên đất Mỹ. Báo cáo kết luận, khi trên đất nước mình còn đầy rẫy sự sai trái thì người Mỹ chẳng có lý do và chẳng có quyền hạn gì để nhận xét những gì đang diễn ra tại các nước khác.

Rõ ràng rằng, báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới của Mỹ là bất hợp pháp và hoàn toàn phi lý, hành động sử dụng vấn đề nhân quyền như một phương tiện chính trị can thiệp, gây rối, chia rẽ các quốc gia, dân tộc là hành động vô nhân đạo.

Hủy hoại xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại. 

Cộng đồng quốc tế đang thừa nhận một thực tế rằng, mặc dù thế giới còn tồn tại những xung đột cục bộ chưa được giải quyết, nhưng xu thế chủ yếu của thời đại ngày nay là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển. Cộng đồng quốc tế trong thời đại ngày nay phải dựa vào nhau nhiều hơn, chung tay giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng phát triển. Mỹ cũng không ngoại lệ, nếu không dựa vào cộng đồng quốc tế, mình nước Mỹ không thể giải quyết được. Bờ-dê-din-xki thống kê có không dưới 20 vấn đề mà tự Mỹ không thể giải quyết nổi. Còn B. Clin-tơn khi còn làm tổng thống cũng đã thừa nhận bước sang thế kỷ XXI, Mỹ phải đối phó với một thế giới đầy bất trắc và hiểm hoạ, thế giới ngày nay vẫn là nơi nguy hiểm và không rõ ràng. Đáng tiếc rằng, những việc làm ngang ngược của Mỹ, trong đó có vấn đề nhân quyền đang đi ngược lại và hủy hoại xu thế chủ yếu này của nhân loại.

Lịch sử và hiện thực đang chứng minh rằng, chính sách lợi dụng những đặc điểm không giống nhau về văn hóa, quan điểm về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền của Mỹ đã gây ra những mâu thuẫn trầm trọng ảnh hưởng đến an ninh quốc tế. Đó là tình trạng mất ổn định xã hội ở các nước Đông và Trung Âu dẫn đến các cuộc cách mạng màu sắc trong mấy năm gần đây, phá vỡ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đoàn kết dân tộc ở Nam Tư, Tiệp Khắc (hai quốc gia này đã không còn tên trên bản đồ thế giới), Liên Bang Nga…Và đang khuyến khích chủ nghĩa ly khai ở Tây Tạng, Tân Cương (Trung Quốc), Chéc-xni-a (Nga), Cô-xô-vô (Xéc-bi-a)… nhằm làm giảm đi đáng kể sức mạnh của các quốc gia được Mỹ coi là “đối thủ tiểm tàng”. Đặc biệt hơn, chính sách hai mặt trong ứng xử quốc tế của Mỹ đã làm cho các mâu thuẫn chủ yếu của thế giới đương đại có mặt trầm trọng hơn, đẩy nhân loại đứng trước thảm họa xung đột vũ trang cục bộ. Đó là xung đột tôn giáo, sắc tộc, nạn khủng bố quốc tế ở Trung Đông, châu Phi và châu Á. Chính sách bao vây, cấm vận và chính sách “cây gậy và củ cà rốt” của Mỹ đã làm cho nhiều quốc gia, dân tộc điêu đứng trước nạn nội chiến, đói nghèo, bệnh tật như ở vùng Sừng châu Phi, Cu-ba, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Pa-ki-xtan, Sri-lan-ca…

Các báo cáo về tình hình nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cũng như các đạo luật về nhân quyền dành cho các nước của Quốc hội Mỹ trong nhiều năm qua đã bị dư luận trong nước và quốc tế lên án là hành động hủy hoại hòa bình, hợp tác và phát triển. Năm 2004, ngay sau khi Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết H.R 1587 (Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2004, dự luật này đã bị 45 nghị sỹ bỏ phiếu chống và 65 nghị sỹ không bỏ phiếu), nhiều nghị sỹ có danh tiếng đã lên tiếng phản đối. Hạ nghị sỹ L. Ê-van cho rằng “dự luật này sẽ hủy hoại mối quan hệ Mỹ-Việt Nam”. Còn Hạ nghị sĩ Gim Kô-bê thì cho rằng, việc thông qua và thực hiện H.R 1587 có thể tổn hại đến quan hệ giữa hai nước, những nỗ lực trong giải quyết một loạt các vấn đề quan trọng đối với Mỹ, như chống khủng bố, vấn đề MIA, ngăn chặn HIV/AIDS và chống ma túy. Nhiều chính khách Mỹ nhắc nhở nhà cầm quyền Oa-sinh- tơn rằng, đừng quên Mỹ đã từng tàn phá đất nước và gây tội ác đối với nhân dân Việt nam. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Nga, ngày 15 tháng 3 năm 2008 khẳng định rằng, việc chính trị hóa vấn đề bảo vệ nhân quyền và bóp méo tình hình nhân quyền không giúp được gì cho việc giải quyết các vấn đề hiện nay mà chỉ phá hoại giá trị của các nguyên tắc và mục tiêu của hợp tác quốc tế.

Nhân quyền là thành quả phát triển của lịch sử lâu dài của cả nhân loại. Vấn đề nhân quyền ở mỗi quốc gia, không kể hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị- xã hội, kinh tế và văn hoá đều có những giá trị chung giống nhau, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau, đồng thời mang tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chính trị, lịch sử, văn hoá và tôn giáo. Liên hợp quốc tuyên bố:“Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau. Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo”. Đáng tiếc rằng, trong khi cộng đồng quốc tế thừa nhận cả hai đặc tính của quyền con người, thì Mỹ và đồng minh lại phủ nhận tính đặc thù của quyền con người, đề cao tự do cá nhân, rêu rao học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Họ tự vỗ ngực là người bảo vệ nhân quyền, lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “dân tộc” xuyên tạc, vu cáo các nước khác vi phạm nhân quyền, ngang nhiên can thiệp và công việc nội bộ, đe doạ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ các quốc gia có chủ quyền. Hành động ngạo mạn của Mỹ tự cho mình quyền phán quyết vấn đề nhân quyền ở các nước và lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phần thế giới còn lại không giải quyết được vấn đề gì mà chỉ làm phức tạp thêm các vấn đề quốc tế. Nó đang đi ngược lại xu thế và huỷ hoại môi trường hoà bình, hợp tác và phát triển của thế giới đương đại.

Quan hệ Mỹ – Việt đã có bước phát triển theo hướng tích cực có lợi cho hoà bình, an ninh khu vực và lợi ích của nhân dân mỗi nước. Trên lĩnh vực nhân quyền, Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật được quốc tế thừa nhận đặc biệt trong các lĩnh vực cải cách dân chủ, tôn giáo, dân tộc, tự do báo chí, tự do thông tin và các thành tựu văn hoá, y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng hai đặc tính cơ bản của vấn đề quyền con người và sẵn sàng đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì phẩm giá con người, nhưng kiên quyết không chấp nhận việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việt Nam chủ trương gia tăng các cuộc tiếp xúc, đối thoại với các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau và không can thiệp vào công việc của nhau để giải quyết các bất đồng xung quanh vấn đề nhân quyền. Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ rõ:“Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”.

Xem ra, cuộc đấu tranh vì quyền con người gắn với bảo vệ quyền dân tộc tự quyết vẫn là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt. Quyền con người vẫn là khát vọng cháy bỏng của nhân loại.

Theo Trần Minh Tơn, Tạp chí Cộng sản
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 9, 2012, in Chính luận.

Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch, Bà Helle Thorning Schmidt sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 11 năm 2012.

Đan Mạch và Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971. Ở Bắc Âu nhưng Đan Mạch là nơi có phong trào nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Quan hệ hai nước thời gian qua ngày càng phát triển tốt đẹp. Hai bên thường xuyên trao đổi Đoàn cấp cao. Bà Helle Thorning Schmidt là Thủ tướng Đan Mạch đầu tiên tới thăm Việt Nam, khẳng định mối quan hệ song phương giữa Đan Mạch và Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc.

thu tuong dan machThủ tướng Helle Thorning Schmidt
cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Helle Thorning Schmidt, hai bên sẽ trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực chính trị – ngoại giao, kinh tế – thương mại – đầu tư, giáo dục đào tạo và văn hóa; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Đan Mạch tìm hiểu thị trường Việt Nam; thúc đẩy các dự án hợp tác đầu tư, kinh doanh với Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực mà Đan Mạch có thế mạnh như: Cảng biển, vận tải biển, công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, công nghiệp ximăng…

Với tình cảm hữu nghị và thân thiết, sáng 8/11/2012, Thủ tướng Helle Thorning Schmidt cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 6)

“Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

“Bài nói tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, 27-7-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 110.

“Vì sao Cao Bằng, Lạng Sơn chỉ còn có được khoảng 50% số hộ vào hợp tác xã? Có phải vì đồng bào nông dân không thích Hợp tác xã không? – Không phải. Thế thì vì ai?

Các chú phải trả lời: Là vì tôi. Mỗi người phải nhận lấy phần trách nhiệm của mình, mà không nên nói lãnh đạo chung chung. Trung ương cũng lãnh đạo, Tỉnh ủy cũng lãnh đạo”.

“Bài nói tại Hội nghị truyên giáo miền núi”, 31-8-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 131.

“Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải gìn giữ tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

“Nói chuyện tại phiên họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1963”, 26-12-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.186.

“Cán bộ phải gương mẫu, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc, tham gia lao động, luôn luôn rèn luyện lập trường, tư tưởng và đạo đức cách mạng, đi sâu vào nghiệp vụ, kỹ thuật”.

“Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến vùng đồng bằng miền Bắc”, 13-1-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.197.

“Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

… Luôn luôn thắt chặt quan hệ với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu, lắng nghe nguyện vọng và ý kiến của quần chúng để phản ánh cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Ra sức tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

… Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô.

… Thực hành tự phê và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng”.

“Mừng Đảng ta 34 tuổi”, 3-2-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.203.

“Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, 21-10-1964.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.329.

“Biết bao đảng viên cộng sản là anh hùng, chiến sĩ trên mặt trận sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong các ngành hoạt động khác. Họ không đòi danh đòi lợi. Họ một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Họ là những đảng viên bình thường nhưng phẩm chất cách mạng của họ thật là cao quý. Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng ấy của giai cấp và của dân tộc”.

“Bài nói tại Hội nghị chỉnh huấn do Trung ương triệu tập”, 22-1-1965,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.373.

“Các chú vẫn thường nói: Nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.547.

“Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.549.

“Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.550-551.

“Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới. Một ngày nào mà miền Nam ta chưa được giải phóng, Tổ quốc ta chưa được thống nhất, nhân dân ta chưa được sung sướng, yên vui thì tất cả chúng ta vẫn phải đem hết tinh thần và nghị lực mà phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng hoàn toàn thắng lợi”.

“Bài nói ở lớp huấn luyện đảng viên mới”, 14-5-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.93.

“Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi:

+ Đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

+ Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an”.

“Bài nói tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân”, 12-10-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.145-146.

“… đảng viên gương mẫu trong mọi công việc, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thực sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đối với Đảng thì cũng cố tốt và phát triển tốt”.

“Bài nói tại Hội nghị tổng kết ba năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt””, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.77.

“1- Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần hy sinh chiến đấu, lao động quên mình.

2- Chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

3- Quyết tâm đi sâu vào khoa học- kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả chiến đấu.

4- Nêu cao ý thức tập thể và làm chủ tập thể, ý thức tổ chức và kỹ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, đi đường lối quần chúng.

5- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

“Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta”, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.90. 

“… đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”.

“Bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây”, 10-02-1967,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.22”

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và con đường phát triển của thế giới đương đại

(ĐCSVN) – Cách đây 95 năm, quần chúng lao động nước Nga, dưới sự lãnh đạo của chính Đảng tiền phong do Lênin vĩ đại đứng đầu, đã làm nên một sự kiện làm rung chuyển toàn thế giới: Cách mạng Tháng Mười Nga.

Lênin với Cách mạng Tháng Mười Nga (Ảnh tư liệu)

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế, đập tan mọi phương án chính trị tiêu cực của các lực lượng tư sản, khai sinh ra chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người. Giương cao lá cờ búa liềm thắm hồng sắc màu cách mạng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn Nga thực sự nắm quyền làm chủ, xây dựng chính quyền Xô viết, biến chủ nghĩa xã hội từ mơ ước và lý luận thành hiện thực sinh động ở Nga và sau đó trên toàn Liên bang chiếm 1/6 diện tích địa cầu.

95 năm đã trôi qua, thế giới có biết bao đổi thay, đảo lộn; đã xuất hiện rất nhiều sự đánh giá khác nhau về sự nghiệp của những người cộng sản. Tuy nhiên, chính thực tiễn lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua, với những sự thật không thể thêm bớt, đã khẳng định vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga: Là cột mốc mở đầu thời đại ngày nay.

Bắt đầu từ Tháng Mười Nga năm 1917, đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế – chính trị thế giới, mở ra kỷ nguyên mới của phát triển và tiến bộ xã hội. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bộc lộ rõ rệt nhất những hạn chế không thể vượt qua. Nền văn minh vật chất sung mãn do chủ nghĩa tư bản tạo ra đã được xây dựng bằng nước mắt và máu của quần chúng lao động khắp toàn cầu; sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp người này phải được đánh đổi bằng sự bần cùng hoá của nhiều quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác; sự hưng thịnh của một nhúm siêu cường phải được đánh đổi bằng hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, biến hàng trăm quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh thành hệ thống thuộc địa đáng hổ thẹn của chủ nghĩa thực dân…

Hạn chế lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền đế quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt nhân loại trước một thách thức chung là tìm con đường giải phóng khỏi chế độ bóc lột, áp bức, bất công để thực hiện mục tiêu phát triển. Ở vào điểm giao thời giữa hai thế kỷ, đã xuất hiện nhiều ý tưởng, mô hình, phương án thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó có tư tưởng Hô-xê Mác-ti (Cuba, 1853-1895) chủ trương chống đế quốc, xây dựng một chế độ xã hội của tất cả và cho mọi dân nghèo trên thế gian; tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc, 1866-1925); tư tưởng dân chủ – xã hội cách mạng châu Âu; tư tưởng yêu nước và giải phóng dân tộc của đông đảo quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh… Như kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, mở ra chân trời mới cho mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội.

Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Liên tục trong nhiều thập kỷ, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã khôi phục đất nước sau chiến tranh, triển khai các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và đã đạt hàng loạt thành tựu vĩ đại: vượt chủ nghĩa tư bản về tốc độ tăng trưởng kinh tế; công nghiệp hóa mạnh mẽ, xây dựng được một nền công nghiệp với một số mũi nhọn thế giới; nông nghiệp được quan tâm hiện đại hóa; giáo dục, khoa học, kỹ thuật và văn hóa có bước tiến vượt bậc, đạt đỉnh cao thế giới trên không ít tiêu chí, trở thành tấm gương về ưu việt xã hội mà chính chủ nghĩa tư bản phải tiếp thu để điều chỉnh, thích nghi trong bối cảnh thời đại mới; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, Liên Xô đạt thế cân bằng chiến lược với Mỹ vào giữa thập kỷ 70… Cho dù không tránh được một số hạn chế, sai lầm, cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thực sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Hiểu theo nghĩa đó, rõ ràng chủ nghĩa xã hội đóng vai trò là một trong những nhân tố quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX.

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới, thời đại của chủ nghĩa đế quốc bị tấn công và cách mạng vô sản bùng nổ. Theo con đường được ngọn lửa Tháng Mười Nga thắp sáng, các dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi các chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc; xác lập nền cộng hòa với chủ quyền đối nội, đối ngoại không thể bác bỏ; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Chỉ tính từ sau chiến tranh thế giới II, liên tiếp xuất hiện những cột mốc và làn sóng giải phóng dân tộc: 1945, 1954 và 1975 của Việt Nam, 1949 của Trung Quốc, 1959 của Cuba, thập kỷ 60 của châu Phi, thập kỷ 70 của Mỹ La tinh, thập kỷ 80 của các thuộc địa cuối cùng được giải phóng. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra, hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ (từ 1492) đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. Lịch sử thế giới hiện đại không thể không khắc ghi công lao và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga!

Động lực và cảm hứng từ Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới hiện nay. Ngay cả trong điều kiện chủ nghĩa xã hội bị khủng hoảng, xu hướng chống chủ nghĩa tư bản cũng không suy giảm. Sự hằn học, chống phá quyết liệt hiện nay của các thế lực thù địch đối với Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa xã hội chính là vì cuộc cách mạng vĩ đại ấy tiếp tục tác động mạnh mẽ đến triển vọng của lịch sử loài người trong thế kỷ XXI, thế kỷ của đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản ở tầm cao mới.

Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Khuôn khổ này của sự phát triển không thể tương dung với giới hạn chật hẹp của hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, cái hình thái chỉ có thể tồn tại và vận động được nhờ giá trị thặng dư thông qua bóc lột lao động, nhờ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn, nhờ đầu cơ tài chính và chiến tranh,v.v… Bởi vậy, mục tiêu phát triển hiện đại tự nó đặt ra yêu cầu tiếp tục giải phóng, giải phóng triệt để hơn khỏi con đường và chế độ tư bản chủ nghĩa trong mọi biến thái khác nhau của chúng.

Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và khuynh hướng xây dựng một xã hội khác thay thế, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga cách đây 95 năm, đang và tiếp tục diễn ra một cách không thể phủ nhận trong thời đại ngày nay.

Lô gích của sự phê phán và phủ định chủ nghĩa tư bản được xác lập bởi chính các xu thế phát triển khách quan của thế giới đương đại, trong đó bao gồm cả sự phát triển của bản thân chủ nghĩa tư bản. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã sản xuất ra hàng loạt tư liệu sản xuất, điển hình là mạng in-tơ-nét, không thể tương dung với chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa; đồng thời, đã đẩy trình độ xã hội hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu lên nấc thang của quốc tế hoá, toàn cầu hoá, ngày càng không thể chứa đựng nổi trong khuôn khổ hạn hẹp của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá tự nó đặt ra đòi hỏi về sự dân chủ, công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể đồng hành, về nguyên tắc không thể chấp nhận sự bất bình đẳng mà quá trình toàn cầu hoá tự do tư bản chủ nghĩa gây ra hiện nay.

Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới tích cực đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và cải cách chính sách phát triển trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin được nhận thức đúng đắn hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; những xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa không những thoát khỏi khủng hoảng, mà còn đạt nhiều bước tiến lớn. Trung Quốc liên tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế suốt hơn 30 năm qua, hiện đứng thứ 2 về GDP trên thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đang trở thành người bạn và đối tác tin cậy của các nước. Cuba kiên định và sáng tạo trong vòng tay ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu. Phong trào cộng sản quốc tế đã phục hồi và phát triển với gần 80 đảng, trên 90 triệu đảng viên, trong đó có một số đảng chấp chính, hoặc chiếm đa số trong quốc hội, hoặc có vị trí quan trọng trong đời sống đất nước.

Trên không gian Mỹ La tinh rộng lớn, danh từ chủ nghĩa xã hội đang trở thành động lực tập hợp lực lượng và ấp ủ niềm hy vọng lớn lao nhất, không phải là tia hy vọng mỏng manh, trừu tượng, mà là niềm tin công khai của đông đảo nhân dân đang cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng xã hội mới. Tổng thống Vênêduêla Hugo Chavez nhất quán với tính chất xã hội chủ nghĩa của cuộc cách mạng Bô-li-va ở Vênêduêla, đưa đất nước đi lên “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI”. Tổng thống Bôlivia Evo Morales nhiều lần tuyên bố “chủ nghĩa xã hội là niềm hy vọng của Mỹ La tinh”, khẳng định mình là người “chống chủ nghĩa đế quốc từ trong xương tuỷ”. Tổng thống Êcuađo R. Correa giành thắng lợi trong vòng 2 bầu cử Tổng thống năm 2006 nhờ tuyên bố sẽ sửa đổi Hiến pháp theo hướng xây dựng “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI”. Trong Lễ nhậm chức đầu năm 2007, Tổng thống Nicaragoa Daniel Ortega tuyên bố “hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước mình”…

Với tính chất là sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Chính vì chân lý sáng tỏ này, mà nhiều trí tuệ lớn như Jacques Derrida, Noam Chomsky, Joseph Stiglizt, Dinoviev…, giống như Albert Enstein, Paul Satre, Bertral Roussel… trước kia, đều biểu thị sự đồng tình không che dấu với chủ nghĩa cộng sản, công khai đánh giá Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI và Cách mạng Tháng Mười Nga là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại./.

PGS.TS Nguyễn Viết Thảo
cpv.org.vn

Tăng cường công tác bảo vệ và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền trong tình hình mới

(ĐCSVN) – Trong khi tiến hành chiến lược “Diễn biến hoà bình”, các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng các vấn đề nhạy cảm: dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá các nước XHCN. Đặc biệt từ sau năm 1991 đến nay, lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng sử dụng các vấn đề nhạy cảm trên để chống phá, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, hướng Việt Nam đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, tăng cường công tác bảo vệ và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền trong tình hình mới.

Về cơ bản, hoạt động của các thế lực thù địch chống ta tập trung vào vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo, dân tộc nhằm can thiệp, gây sức ép, kích động chủ nghĩa ly khai gây mất ổn định chính trị – xã hội diễn ra ngày càng gay gắt, ráo riết tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau đây:

Một là, thông qua các tổ chức quốc tế, các đạo luật, các báo cáo vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Vấn đề nhân quyền và nghĩa vụ thực hiện nhân quyền là mối quan tâm chung của nhân loại, là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu. Các nước phương Tây đang gia tăng lợi dụng vấn đề này để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành nghị quyết… nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tế nhân quyền ở Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức, như: Bộ Ngoại giao Mỹ, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện Châu Âu, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI)… trong các báo cáo hàng năm đều đã buộc phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực” nhưng luôn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền ở Việt Nam; đòi đưa nước ta vào diện “những nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng” vì họ cho rằng, Việt Nam “đàn áp người dân tộc thiểu số”, “đàn áp tôn giáo”, trấn áp “các chiến sỹ bảo vệ nhân quyền”… đòi xoá bỏ Nghị định 31/CP của Chính phủ về quản chế hành chính. Đáng chú ý, gần đây, trong báo cáo nhân quyền năm 2009, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tiếp tục xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng: Chính phủ Việt Nam gia tăng đàn áp những người hoạt động chính trị, nhà báo, các blogger, hạn chế quyền tự do ngôn luận, đi lại, lập hội, tự do tôn giáo; cho rằng “hệ thống tư pháp ở Việt Nam bị bóp méo”, “Việt Nam tăng cường đàn áp những người bất đồng chính kiến”, can thiệp quyền tự do của công dân; hạn chế thành lập các công đoàn độc lập của người lao động; tình trạng tham nhũng gia tăng, tồn tại nạn bạo hành…”.

Đồng thanh với Mỹ, ngày 17/3/2010, Bộ ngoại giao Anh công bố “Báo cáo nhân quyền năm 2009” của các nước trên thế giới. Nội dung khuyếch đại tầm quan trọng của “nhân quyền” trong các mục tiêu chính sách can dự của Anh ở nước ngoài. Đáng chú ý, họ tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách 22 nước cần đặc biệt quan tâm về “nhân quyền” và cho rằng, trong năm 2009, ở Việt Nam “vẫn còn tồn tại một số lĩnh vực quan ngại như tự do bày tỏ chính kiến, tự do báo chí”.

Trong Quốc hội Mỹ, số nghị sĩ cực đoan tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam, liên tục đòi tổng thống Mỹ Obama đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (C.P.C). Ngày 25/3/2010, Uỷ ban nhân quyền (thuộc Hạ viện Mỹ) tổ chức điều trần về tình hình nhân quyền Việt Nam đã nhận định hết sức thiếu thiện chí rằng: “tình hình nhân quyền Việt Nam ngày càng sa sút” và ủng hộ thông qua “Dự luật nhân quyền Việt Nam” (HR.3096). Ngoài ra, chính quyền Obama liên tục có các động thái khẳng định tiếp tục thúc đẩy “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” trên thế giới theo kiểu Mỹ, trong đó chú trọng tự do thông tin, tự do Internet để dùng chiêu bài nhân quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam.

Đồng thanh với Mỹ, EU, một số nước phương Tây thông qua hoạt động hợp tác văn hoá, giáo dục để công khai hoặc ngầm khích lệ xu hướng đối lập, tiếp tục thực hiện mục tiêu “dân chủ hoá” Việt Nam.

Lợi dụng quan hệ hợp tác với Việt Nam, nhiều nước, nhất là các nước EU luôn tìm cách gắn vấn đề hợp tác phát triển viện trợ, đầu tư với những điều kiện đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền như nêu vấn đề: mở rộng tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, đòi cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài được tham dự các phiên toà xét xử số đối tượng liên quan đến các vấn đề nhạy cảm mà bên ngoài quan tâm; đòi thả số đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt, xử lý mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”. Trên các diễn đàn đa phương và song phương, các nước phương Tây thường đưa ra những lập luận tuyệt đối hoá tính toàn cầu, tính phổ cập của vấn đề dân chủ, nhân quyền với luận điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền” mà không tính đến đặc thù về văn hoá, xã hội của từng quốc gia, từng khu vực; nêu vấn đề về nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam không còn phù hợp với các Công ước mà Việt Nam ký kết để tác động ta thay đổi cách tiếp cận theo quan điểm của họ.

Hai là, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để phá hoại tư tưởng, tác động “tự diễn biến” vào nội bộ ta.

Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng; đưa ra các quan điểm sai trái cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với trình độ phát triển của khoa học, công nghệ nhanh chóng như hiện nay;chế độ XHCN không còn thích hợp để làm suy giảm niềm tin của quần chúng đối với chế độ. Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng (Internet, đài phát thanh, truyền hình…) cùng nhiều loại báo chí, ấn phẩm của bọn phản động người Việt lưu vong, để mở các “chiến dịch” tuyên truyền đa nguyên, đa đảng; gây nghi kị, chia rẽ trong nội bộ ta. Thông qua các chương trình hợp tác về văn hoá, giáo dục, đào tạo để truyền bá mô hình lập pháp và nền dân chủ tư sản phương Tây, cho rằng, Việt Nam cần phải cải cách luật pháp và hệ thống xét xử theo hướng tam quyền phân lập; một số đối tượng tìm cách, tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng thực hiện ý đồ hình thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số.

Các thế lực thù địch ở bên ngoài công khai ủng hộ khích lệ bọn phản động người dân tộc thiểu số lưu vong, móc nối, kích động và chỉ đạo số chống đối bên trong ráo riết phục hồi tổ chức, phát triển cơ sở ngầm, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, tuyên truyền luận điệu “Việt Nam chiếm đất và đàn áp người dân tộc thiểu số, đàn áp tôn giáo…” để lừa mị, lôi kéo, tập hợp quần chúng tổ chức biểu tình, bạo loạn. Khi bị thất bại trong các cuộc biểu tình, gây rối ở Tây Nguyên, chúng kích động hàng nghìn người dân tộc thiểu số trốn sang Campuchia; tổ chức cho định cư ở Mỹ nhằm tái lập “trại tị nạn” làm chỗ đứng chân, tập hợp lực lượng, gây mất ổn định lâu dài ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Các phần tử phản động Khmer Crôm lưu vong đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền: Việt Nam vi phạm quyền con người đối với người Khmer để kích động trốn sang Campuchia, kích động gây hận thù dân tộc Kinh-Khmer; tìm cách móc nối với số chống đối trong nội địa tập hợp quần chúng; kích động, biểu tình đòi đất, đòi ly khai, tự trị. Một số tổ chức như: Liên đoàn Khmer CPC Crôm… đòi thành lập Văn phòng đại diện nhân quyền ở vùng Tây Nam Bộ để giám sát tình trạng vi phạm nhân quyền đối với người Khmer ở Tây Nam Bộ. Ở Tây Bắc, các tổ chức phản động người Mông, Thái lưu vong cũng đang tích cực tuyên truyền luận điệu Việt Nam phân biệt đối xử với người Mông, Thái; gia tăng phát triển đạo Tin Lành để nắm quần chúng.

Bốn là, gia tăng kết hợp, móc nối số đối tượng chống đối trong nước và bọn phản động nước ngoài để chống Việt Nam.

Vận động số nghị sỹ cực đoan trong Hạ viện Mỹ, Nghị viện châu Âu… ban hành các “Dự luật”, “Nghị quyết”, “Báo cáo”… tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động chống phá Việt Nam và hợp thức hoá sự ủng hộ đối với số chống đối; thu thập thông tin về những sơ hở thiếu sót của ta trong chính sách tôn giáo, dân tộc ở cơ sở để tạo cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Bọn phản động lưu vong đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, “mít tinh” ủng hộ cái gọi là “tiếng nói đấu tranh đòi dân chủ”. Số cơ hội chính trị trong nước liên kết với “Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia” (TRP) đưa tổ chức “Quỹ người Thượng” của Ksor Kok đến vu cáo Việt Nam tại các diễn đàn của Liên Hợp quốc, phản đối ta đàn áp người Thượng. Đáng chú ý là các tổ chức của Võ Văn Ái, Nguyễn Gia Kiểng ở Pháp; Ngô Thị Hiền ở Mỹ thường xuyên tiến hành các hoạt động xuyên tạc, vu cáo ta.

Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đấu tranh làm thất bại các hoạt động chống phá ta về nhân quyền trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của các thế lực thù địch:

1. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động, giáo dục sát hợp với từng vùng, địa phương nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền trong tình hình mới. Nắm chắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và tự hào về những thành tựu to lớn về nhân quyền của chúng ta đạt được, trong đó tập trung đối với việc giáo dục tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh, đồng bào theo đạo và đồng bào dân tộc, chống sự xâm nhập của các loại tư tưởng sai trái, tài liệu độc hại từ bên ngoài.

2. Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý lĩnh vực báo chí, xuất bản, giáo dục, đào tạo… ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, làm ảnh hưởng tới hình ảnh đất nước, lộ bí mật, gây phức tạp cho công tác thông tin đối ngoại.

3. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động mới của các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền chống phá ta, nhất là lợi dụng quyền tự do tôn giáo, quyền tự trị của người dân tộc thiểu số, quyền tự do ngôn luận, báo chí, bày tỏ ý kiến… để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Phải tạo được sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết là trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể ở Trung ương và địa phương về công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền.

4. Tập trung thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thịQuyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng ở các vùng chiến lược trọng điểm. Đặc biệt là triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 (khoá IX); Nghị quyết số 23 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết số 24 về công tác dân tộc; Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo…

5. Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đi đôi với việc kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Ban hành các luật còn thiếu, sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật và điều luật không còn phù hợp (tập trung chỉ đạo tổng kết Nghị định 31/CP của Chính phủ, bổ sung, sửa đổi án tử hình). Đầu tư nghiên cứu cơ bản về vấn đề nhân quyền làm luận cứ cho việc hoạch định chính sách, pháp luật, tôn trọng thực quyền và nghĩa vụ của công dân. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đi đôi với chống các luận điểm lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch.

6. Nắm chắc tình hình, theo dõi, phân tích thông tin dư luận trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền; dự báo kịp thời âm mưu, hoạt động mới của các thế lực thù địch, nhất là lợi dụng nhân quyền can thiệp, gây sức ép của các thế lực thù địch để chủ động đấu tranh vô hiệu hoá. Thu thập có hệ thống các tư liệu về quyền con người bị xâm hại do các hành động của chủ nghĩa đế quốc để chủ động tấn công lại địch có hiệu quả.

7. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên giữa các bộ, ban, ngành, điạ phương; phối hợp giữa hoạt động đối nội và đối ngoại. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, đảm bảo yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại, theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập phân hoá số ngoan cố chống đối; phân biệt rõ mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn nội bộ nhân dân để giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình, không để sơ hở địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

8. Có biện pháp chủ động tấn công về nhân quyền, như : công bố thực chất thành tựu nhân quyền hàng năm của Việt Nam, phê phán các hoạt động vi phạm nhân quyền ở chính các nước phương Tây. Đối với các “vấn đề” nổi cộm mà bên ngoài quan tâm cần tập trung giải quyết, không để tình hình phức tạp thêm. Tập trung phản bác những thông tin sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong báo cáo nhân quyền năm 2009 của Bộ Ngoại giao Mỹ.

9. Đấu tranh, bảo vệ nhân quyền là đấu tranh, bảo vệ về chính trị, tư tưởng. Vì vậy, Ban Cán sự Đảng các bộ, ban, ngành, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chính phủ, các tỉnh uỷ, thành uỷ chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội theo chức năng của mình góp phần tích cực tham gia công tác bảo vệ và đấu tranh về nhân quyền.

10. Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, xây dựng nội dung, phương pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, xác lập hệ thống lập luận sắc bén, phù hợp với từng loại đối tượng, đối tác; triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế về nhân quyền, làm cho các nước và nhân dân thế giới hiểu rõ về những thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, không bị ngộ nhận do những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch; Đặc biệt, cung cấp kịp thời thông tin định hướng để giúp gần 4 triệu người Việt Nam hiểu đúng, hiểu rõ tình hình và tích cực tham gia công cuộc đổi mới đất nước, như doanh nhân Nguyễn Công Chánh từ Thành phố San Fransisco (Mỹ) về nước dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất đã nói: “Chúng ta cùng ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề giữa trong nước và hải ngoại. Mọi người phải đoàn kết. Tôi tin tưởng một sự hoà hợp chắc chắn sẽ trở thành hiện thực”./.

Mai Anh (Hà Nội)
cpv.org.vn

Không thể phủ nhận lý tưởng và những thành tựu vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười

Nói về cuộc Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. (Hồ Chí Minh Tuyển tập (bộ 2 tập). TI. NXB ST, HN. 1980. Tr 461).

Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Cho dù Liên Xô đã tan rã, các thế lực thù địch với CNXH có xuyên tạc, bôi nhọ nhưng người ta không thể phủ nhận được lý tưởng, những giá trị và thành tựu lớn lao của cuộc cách mạng này gắn với sự ra đời và tồn tại trên 70 năm của Nhà nước Xô Viết (1917-1991) và gần một thế kỷ qua (1917- 2012) sự tồn tại của các nhà nước đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười.

Không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của chế độ XHCN, thì không thể có sự kiện, từ một quốc gia phát triển trung bình ở châu Âu, chỉ sau hai kế hoạch 5 năm thực hiện công nghiệp hóa (1929 – 1939), nước Nga và Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết (Liên Xô) đã trở thành một quốc gia có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, đủ sức đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai. Những năm sau chiến tranh, nhà nước Liên Xô đã phát triển vượt bậc trở thành cường quốc quân sự, đủ sức làm đối trọng với chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời Liên Xô trở thành quốc gia đi đầu trong lĩnh vực chinh phục không gian vũ trụ và nhiều lĩnh vực khác.

Không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của chế độ XHCN, thì không thể có sự kiện từ một nước Nga lạc hậu trở thành một quốc gia phát triển về nhiều mặt, từ công nghiệp đến nông nghiệp; từ cơ sở hạ tầng kỹ thuật như mạng lưới điện, hệ thống giao thông vận tải, các trung tâm khoa học công nghệ… đến hạ tầng xã hội. Có thể nói dưới chế độ XHCN, Liên Xô đã trở thành một nền văn hóa mới, hiện đại. Cho đến nay những công trình văn hóa, khoa học dưới thời Xô Viết vẫn được nhân loại tôn trọng. Đặc biệt Nhà nước Xô Viết đã thực hiện chính sách xã hội tiên tiến sớm hơn tất cả các nước tư bản phát triển, đó là thực hiện giáo dục, chữa bệnh không phải trả tiền, người già cô đơn được chăm sóc, nuôi dưỡng.

Không có thắng lợi của Cách mạng tháng Mười và thắng lợi của lực lượng Đồng minh, trong đó Liên Xô giữ vai trò trụ cột, thì không thể có được thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Cuba…

Đối với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác Lê-Nin cùng với Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở tư tưởng, lý luận hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời, đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, lãnh đạo nhân dân làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh thắng chiến tranh xâm lược của hai cường quốc đế quốc là Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, đặc biệt là đã cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, tiến hành công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai của chúng đã hoan hỷ tuyên bố: “Cách mạng Tháng Mười chỉ là một cuộc phiêu lưu” chính trị, Chủ nghĩa xã hội là “một sự đẻ non”, là sự “lầm lạc của lịch sử”. Cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu là “sự cáo chung của Chủ nghĩa cộng sản”, rằng chủ nghĩa tư bản là “Sự tận cùng của lịch sử”…

Những sự kiện “Chiếm phố Uôn” năm ngoái và khủng hoảng nợ công châu Âu hiện nay cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là giải pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội đầy bất công ở các nước TBCN. Bởi vậy xã hội đó sẽ phải được thay thế bằng một xã hội khác. Chủ nghĩa tư bản do đó không thể là chế độ xã hội cuối cùng của nhân loại. Đối với chúng ta thì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản sẽ là tương lai của nhân loại. Tất nhiên, để đến xã hội đó các dân tộc còn phải vượt qua nhiều chặng đường với nhiều khó khăn, thách thức. Con đường đó không đơn giản chỉ là việc loại bỏ “tầng lớp đặc quyền đặc lợi” (Theo chuyên khảo “những nguyên nhân sụp đổ của đảng Cộng sản Liên Xô”. Nhân dân điện tử – Thời nay 16/8/2010) hình thành trong đảng Cộng sản và xã hội Liên Xô, cũng như sự tồn tại của “nhóm lợi ích” mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói nhiều lần trong quá trình triển khai Nghị quyết TW4 vừa qua. Thiết nghĩ những vấn đề cần phải giải quyết còn lớn hơn, cơ bản hơn rất nhiều. Đó là xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị, kinh tế xã hội sao cho xã hội XHCN có khả năng ngăn ngừa sự trì trệ, sự suy thoái của chế độ chính trị và của Nhà nước.

Ai đó đã nói rất hay rằng: chính những bài học rút ra từ sự thất bại lại có giá trị hơn những bài học thành công. Sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu, cũng như cuộc khủng hoảng của Trung Quốc (vụ bạo loạn Bắc Kinh, mùa xuân năm 1989) và cuộc khủng hoảng kinh tế của nước ta cuối thập kỷ 80, đầu 90 thế kỷ XX cho thấy: Mô hình xã hội XHCN cũ mà đặc trưng là sự tập trung quan liêu bao cấp về kinh tế, trong đó, nổi bật là “Mô hình kinh tế thời chiến” – xóa bỏ kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường. Trên lĩnh vực chính trị, đó là xây dựng “nhà nước chuyên chính vô sản” – thiếu dân chủ, bình đẳng…là những ví dụ cụ thể của mô hình CNXH hiện thực đã qua. Sai lầm đó cho thấy cho dù với những mong muốn tốt đẹp và trong điều kiện bị chủ nghĩa đế quốc bao vây, cấm vận những chính sách đó là cần thiết, hơn nữa là vấn đề sống còn của cách mạng, nhưng khi những chủ trương, chính sách đó bị kéo dài quá mức cần thiết, cùng với tư duy giáo điều về lý luận tất yếu sẽ dẫn đến trì trệ và nảy sinh những những mặt tiêu cực của xã hội, như cảnh báo của các nhà khoa học rằng mọi nhà nước, không phân biệt chế độ chính trị đều có khuynh hướng quan liêu hóa.

Đại hội VI, năm 1986 đã phát hiện những sai lầm về đường lối, chính sách do sự lạc hậu về tư duy lý luận. Tại đại hội này, Đảng ta đã quyết định chuyển sang xây dựng xã hội XHCN theo mô hình mới-mô hình mới được hoàn thiện từng bước từ Đại hội VII đến nay. Những thành tố của mô hình đó là: Về chính trị, đó là xã hội do nhân dân làm chủ với nhà nước pháp quyền do Đảng ta lãnh đạo; về kinh tế, đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; về xã hội, đó là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong 25 năm đổi mới, mô hình đó đã đem lại những thành tựu to lớn không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên đã xuất hiện nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Trong đó có sự phân hóa giàu – nghèo và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng nói trên, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (28/2/2012) (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều đảng viên có chức, có quyền, có điều kiện nắm giữ tài sản, tiền bạc, cán bộ… đất nước lại phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, nhiều người lo lắng về Đảng, về bản chất Đảng, lo lắng mặt trái của cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế tác động vào Đảng. Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không?”.

Trên lĩnh vực lý luận, công cuộc xây dựng xã hội XHCN không đơn giản chỉ là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, mà còn là một vấn đề thuộc về thể chế của xã hội, về sự cân bằng và giám sát các nhánh quyền lực… mà chúng ta không được thừa hưởng từ di sản của Chủ nghĩa Mác bao nhiêu. Đây chính là một công việc khó khăn, phức tạp mà thế hệ những người mácxít-lêninnít ngày nay phải tự mình giải quyết.

Lênin đã nói: “cách tốt nhất để kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại là tập trung sự chú ý vào những nhiệm vụ chưa hoàn thành của cuộc cách mạng đó” (SĐD, Tr 759).

Kỷ niệm cuộc Cách mạng Tháng Mười năm nay, chúng ta một lần nữa ôn lại sự kiện lịch sử lớn nhất thế kỷ XX; một lần nữa khẳng định những lý tưởng cao cả của cuộc cách mạng đó. Đó là giải phóng xã hội, giải phóng con người, đặc biệt là nhân dân lao động; xây dựng một xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người đều có cơ hội được hưởng tự do hạnh phúc; các dân tộc được sống trong hòa bình và hữu nghị. Và để thiết thực kỷ niệm cuộc cách mạng vĩ đại này chúng ta đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến đến xây dựng một xã hội” Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Phương Nhi
cand.com.vn

Giương cao ngọn cờ tự do, dân chủ của chủ nghĩa xã hội bác bỏ đa nguyên, đa đảng tư sản

(ĐCSVN) – Trong diễn văn đọc tại buổi lễ nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ hai, Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ đã giương ngọn cờ tự do, công bố ý định xuất khẩu tự do kiểu Mỹ ra toàn thế giới: “Sự tồn tại của tự do trên mảnh đất của chúng ta ngày càng phụ thuộc vào sự thành công của tự do trên những mảnh đất khác”. Nhân danh tự do, ông ta tuyên bố mục tiêu cuối cùng của Mỹ là chấm dứt mọi chế độ chuyên chế trên thế giới: “Chính sách của Mỹ là tìm cách ủng hộ các phong trào và thể chế dân chủ ở mọi quốc gia và mọi nền văn hoá, với mục tiêu cuối cùng là chấm dứt chế độ chuyên chế trong thế giới này”.

Trong quan niệm của ông Bu-sơ và ê kíp của ông ta thì cái mũ “chế độ chuyên chế” là khá rộng; nó có thể úp vào bất cứ quốc gia nào không hợp khẩu vị của chủ nghĩa bá quyền Mỹ. Người ta tự hỏi rằng, sau lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu, tuyên bố tập trung vào chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế, phải chăng đây lại là một lần điều chỉnh mở rộng hơn nữa diện các kẻ thù của Mỹ? Cùng với chủ nghĩa đơn phương, quyền “đánh đòn phủ đầu”, sự phân chia một cách áp đặt “chế độ chuyên chế”, “chế độ tự do” và quyền trừng trị các “chế độ chuyên chế”, chính sách đối ngoại của nước Mỹ ngày càng phiêu lưu và nguy hiểm hơn, đẩy thế giới vào một trạng thái càng bất an hơn trước. Đương nhiên, khi mở rộng diện các chế độ chuyên chế, đế quốc Mỹ vẫn không bao giờ quên các nhà nước xã hội chủ nghĩa mà Mỹ gọi là “chế độ độc tài toàn trị”. Không những chủ nghĩa đế quốc không quên mà rút cục vẫn sẽ đặt các nhà nước xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu trong các chế độ chuyên chế cần phải “giải phóng”. Phải chăng sau một thời gian choáng váng vì thắng lợi khi Liên Xô và hệ thống XHCN sụp đổ, bản năng giai cấp của chủ nghĩa đế quốc đã hồi phục lại và nó hiểu rằng, cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội chưa phải đã kết thúc.

Được lời bảo đảm của ông chủ ở bên kia đại dương là “tìm cách ủng hộ các phong trào và thể chế dân chủ ở mọi quốc gia và mọi nền văn hoá”; trong các cách ủng hộ không chỉ có ủng hộ về tinh thần mà cả về tài chính và về vật chất, về mưu kế thâm hiểm, các thế lực thù địch trong nước (kể cả bọn người Việt thù địch lưu vong ở nước ngoài) sẽ càng mở những đợt tiến công mới chống Đảng Cộng sản Việt Nam, chống chế độ một Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo chính quyền, đưa ra yêu sách đòi đa nguyên đa đảng. Có những người đòi Đảng rút lui, nhường chính quyền cho đảng khác thích hợp hơn với công cuộc xây dựng đất nước. Bây giờ người ta kín võ hơn, đưa ra yêu sách tuy có mềm hơn nhưng về thực chất vẫn là gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với bọn thù địch về chính trị trong nước, tôi muốn dùng chữ thù địch thay cho chữ cơ hội về chính trị, chúng muốn khuyên Đảng ta nên từ bỏ cương lĩnh xã hội chủ nghĩa, chuyển thành đảng xã hội – dân chủ mà chúng nói là phù hợp với trào lưu chính trị hiện đại của thế giới. Đảng đó sẽ cùng tồn tại với các đảng chính trị khác và cùng tranh cử. Nếu thắng cử thì cầm quyền, nếu thất cử thì trở thành đảng đối lập với chính quyền đóng vai trò phê phán. Thế là nước ta sẽ trở thành nước dân chủ thực sự như ở phương Tây, sẽ không còn độc tài chuyên chế, sẽ được phương Tây ủng hộ nhiều, sẽ xây dựng đất nước nhanh hơn !

Ta sẽ phân tích ảo tưởng này ở bên dưới, nhưng trước hết ta hãy phân tích những vấn đề dân chủ và tự do đi từ những vấn đề nguyên tắc, làm rõ bản chất của vấn đề, chứ không thể chỉ dừng lại ở các biểu hiện bên ngoài. Hiện nay, việc phê phán dân chủ tư sản ở nước ta đang còn dừng lại ở những mặt cụ thể nào đó; thường là cái gì kẻ thù lên án ta về dân chủ nhân quyền thì ta mới phản bác lại. Cần phải trở lại truyền thống giáo dục một cách cơ bản, sâu sắc và những vấn đề về dân chủ tư sản và dân chủ XHCN cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hiểu rõ bản chất.

Trước hết, chúng ta hãy nói đến các khái niệm “tự do” và “chuyên chế” của ông Bu-sơ. Ông ta coi tự do dân chủ là những giá trị cao quý và vĩnh hằng của phương Tây mà Mỹ là đại diện, coi những chế độ chính trị không theo khuôn mẫu đó của phương Tây là chế độ chuyên chế cần phải bị đánh đổ. Giương như ông Bu-sơ đã có một bổ sung mới cho “học thuyết” của mình trong nhiệm kỳ thứ hai của ông. Bằng tuyên bố như vậy, ông tổng thống đang phát động một cuộc thánh chiến hiện đại, một cuộc thánh chiến chính trị mà nước Mỹ muốn đóng vai trò hiệp sĩ của tự do.

Thế nhưng, nếu chúng ta lật ngược vấn đề, hỏi rằng có phải tự do dân chủ là một giá trị độc quyền chỉ phương Tây mới có và liệu trên thế giới có còn những quan niệm khác, không giống với phương Tây về tự do dân chủ hay không; rằng chế độ tự do dân chủ của phương Tây xét đến cùng liệu có phải vẫn là một chế độ chuyên chế không hơn không kém hay không ? Trả lời các vấn đề trên đây, chúng ta sẽ phải về với Mác, với Lê nin. Nhưng chúng ta không trở về một cách giản đơn mà phải từ những vấn đề lý luận Mác-Lênin về dân chủ và tự do, vận dụng khái quát vào những điều kiện mới của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên thế giới và ở nước ta hiện nay.

Trong quyền lực chính trị, không có tự do tuyệt đối cũng như không có chuyên chế tuyệt đối. Là người theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh bao giờ cũng trung thành với lý luận về bản chất giai cấp của nhà nước. Hồ Chí Minh viết: “Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai ? Dưới chế độ phong kiến, tư sản, chuyên chính là số ít người chuyên chính với đại đa số nhân dân. Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ dân chủ của nhân dân”1.

Dưới chế độ tư bản, dù là tư bản hiện đại mà tự do dân chủ được phô trương ầm ỹ như là những giá trị vĩnh hằng của con người, thì trong thực chất vẫn là một nền tự do hạn chế, thậm chí hạn chế nhất bởi vì đó là một nền tự do của một số càng ít người hơn nữa, một nền tự do của tầng lớp đại tư sản. Một nền tự do như vậy, tất yếu cũng phải là một nền chuyên chế, một nền chuyên chế của số ít người đối với càng đông đảo người hơn nữa. Ở trong mỗi nước mà đại tư sản thống trị, ách chuyên chế không chỉ đè lên giai cấp công nhân, nhân dân lao động chân tay và trí óc, mà cả lên toàn bộ xã hội công dân tư sản. Cùng với việc chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá, sự chuyên chế tư sản cũng đè nặng lên các quốc gia kém phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác, mức độ này hay mức độ khác.

Trong việc phê phán các nhà nước xã hội chủ nghĩa, các nhà tư tưởng tư sản thường quảng cáo cho quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, dường như ở các nước tư bản, ai cũng có quyền phát biểu chính kiến về chính trị, muốn nói gì thì nói, phê phán tuốt mo cho đến tận tổng thống… Có đúng vậy không ? Cần phải trả lời câu hỏi này một cách thật khách quan.

Trong lịch sử, sự chuyên chế tư sản có cứng, có mềm. Nhà nước tư sản kết hợp một cách nhuần nhuyễn cái gậy và củ cà rốt không chỉ trong lãnh vực đối ngoại mà cả trong lãnh vực đối nội. Trong khi ở lãnh vực đối ngoại, những lời lẽ và hành vi hiếu chiến “đánh đòn phủ đầu để ra oai với thiên hạ có vẻ được sử dụng nhiều hơn, thì trong lĩnh vực đối nội, giai cấp tư sản thời hiện đại hết sức chú trọng đến chính sách củ cà rốt, thực hiện sự “chuyên chế mềm”, sử dụng biện pháp rắn chỉ khi thật cần thiết, cốt tạo ra một sự ổn định chính trị trong lòng chế độ của chúng. Nhìn lại cả thế kỷ XX, chúng ta thấy, giai cấp tư sản đế quốc đã nhiều lần sử dụng nhiều biện pháp cực rắn để trấn áp giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong nước và các dân tộc bị áp bức, dìm các phong trào cách mạng trong bể máu: chế độ phát xít, các đạo luật chống cộng sản và công nhân, chủ nghĩa thực dân kể cả cũ và mới … Nhưng nửa sau thế kỷ XX trở đi, cùng với việc chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá với những thành tựu về kinh tế và khoa học, công nghệ, giai cấp tư sản thực hiện ách chuyên chế của mình thiên về dùng các biện pháp tinh vi, che dấu, chuyên chế trong thực chất nhưng lại biểu hiện ra như là bình đẳng và tự do. Giống như con chim bị buộc dây vào chân nhưng sợi dây khá dài đủ để chim vẫn không cảm thấy bị trói chân. Ách chuyên chế mềm nhưng lại cũng rất chặt đó nói lên chỗ còn mạnh tương đối của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trong nửa sau của thế kỷ XX, cùng với những tiến bộ về phát triển kinh tế, một sự giải tha hoá nào đó trong lao động, một sự nới lỏng nào đó trong sự phân phối phúc lợi cho người lao động; những biện pháp chuyên chế che dấu của giai cấp tư sản đã tỏ ra có lợi cho sự thống trị của tư sản, cho phép nó đưa ra những học thuyết lừa bịp về “xã hội phúc lợi chung”, về “chủ nghĩa tư bản nhân dân hoá”…

Đúng là trong nền dân chủ tư sản, có một sự “tự do ngôn luận” nào đó rất đặc trưng cho chế độ tư bản. Sự tồn tại của các tầng lớp, phe phái tư sản với những lợi ích khác nhau tạo ra các đảng tư sản đối lập nhau. Các đảng này đua tranh nhau trong thị trường chính trị, tự quảng cáo tâng bốc mình và phê phán công kích đảng có xu hướng khác mình. Điều đó xẩy ra thường nhật nhưng cao trào là vào các dịp tranh cử. Vào những dịp đó người ta tìm mọi cách hạ bệ nhau kể cả thủ đoạn bới lông tìm vết trong đời tư, tạo ra những vụ bê bối chính trị gắn với bê bối cá nhân. Đó là sự cạnh tranh chính trị trong nền dân chủ tư sản. Nhân dân có thể thu được một số lợi ích nào đấy do các đảng tư sản thắng thế phải mị dân, phải thực hiện một mức độ nhất định các lời hứa khi tranh cử nhưng về cơ bản nhân dân vẫn là những người thụ động, đứng ngoài lề cuộc đấu tranh giữa các phái tư sản nhiều hơn là tham gia chính trị với tư cách người trong cuộc.

Trong nền dân chủ và pháp quyền tư sản, người dân có nhiều chỗ để nói lên ý kiến của mình nhất là về những vấn đề đụng đến quyền lợi của mình, nhiều cửa để mà kiện cáo. Thế nhưng, có những vấn đề mà giai cấp tư sản không cho phép ai phát biểu tự do. Những vấn đề đụng chạm đến chế độ sở hữu tư nhân và tự do kinh doanh là những vấn đề không thể bị đụng chạm. Quyền sở hữu tư nhân vẫn là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Ngày nay, có thể nhà nước tư sản không giam cầm, bỏ tù những người có tư tưởng chính trị khác với đường lối của nhà nước nhưng nó lại có nhiều phương tiện và biện pháp để làm cho các tư tưởng đó không thể xuất hiện được hoặc nếu xuất hiện thì sẽ rơi vào một sự “im lặng hiện đại” đáng sợ hơn sự im lặng cổ điển. Trước đây, khi tư tưởng của Mác xuất hiện trên văn đàn chính trị, giai cấp tư sản lúc đó đã dùng sách lược phớt lờ, không bình luận. Ngày nay với những phương tiện báo chí và truyền thông hiện đại, với một đội ngũ những người làm truyền thông đông đảo và có tài, các tập đoàn đế quốc truyền thông đã nhào nặn dư luận xã hội theo ý muốn của giai cấp tư sản, chỉ cho nhân dân nghĩ theo hướng này mà không thể nghĩ theo hướng khác. Trong nền ngôn luận tư sản vẫn có ngôn luận của cánh tả, trong đó có Đảng Cộng sản, đại diện một phần cho ý chí chân chính của nhân dân nhưng do nhiều lý do, trong đó có khó khăn về tài chính, báo chí của Đảng Cộng sản chỉ với số lượng nhỏ nhoi, hạn chế trên thị trường tư tưởng, thực tế là bị bóp nghẹt trước sức nặng của báo chí tư sản. Về thực chất đó cũng là sự im lặng, một sự bịt mồm bịt miệng hiện đại. Giai cấp tư sản không chỉ thực hiện áp chế về tư tưởng, một sự “tẩy não” tinh vi kiểu tư sản mà còn có những biện pháp khác, những biện pháp đã có tính quá độ, kết hợp tính mềm và tính rắn trong thực hiện chuyên chế tư sản. Đối với những người vẫn kiên quyết bầy tỏ lập trường chống chế độ tư bản, giai cấp tư sản dùng sức ép về lợi ích vật chất, về công ăn việc làm, về điều kiện hành nghề để trấn áp, răn đe buộc người ta phải thay đổi lập trường hoặc im lặng không dám phát biểu. Những tay sai của giai cấp tư sản dùng cả biện pháp buộc tội những người có ý kiến chống lại chế độ tư bản là những người có tư tưởng không bình thường cần phải được đưa vào nhà thương điên để chữa trị. Trong chế độ tư bản, các bệnh viện tâm thần là nhà tù trá hình của những con người trung thực, là chốn đầy ải mới mà ở đó người không điên cũng sẽ trở thành điên.

Giai cấp tư sản vỗ ngực tự cho mình là đại diện duy nhất của những giá trị tự do trên hành tinh này. Đó là một thái độ biệt phái hết sức chủ quan. Họ quên mất rằng còn những giá trị tự do khác, những giá trị tự do của một hệ tư tưởng khác, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác-Lênin.

Cho đến nay, thực tiễn đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trên vũ đài thế giới cũng như nước ta chứng tỏ rằng, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức phải xây dựng lý luận về tự do kiểu mới của mình, phải giương cao ngọn cờ tự do để thu hẹp và đánh bại từng bước những ảnh hưởng của ngọn cờ tự do tư sản.

Trước đây, khi đấu tranh với ngọn cờ tự do tư sản, phê phán tính chất lừa bịp và giả dối của nó, các nhà kinh điển Mác và Lê nin đã đưa ra quan điểm của giai cấp công nhân đối lập với quan điểm tư sản về tự do: “Tự do là tất yếu được nhận thức”. Đó đúng là một quan điểm đúng đắn về tự do nẩy sinh từ hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, cái hệ tư tưởng muốn tìm cơ sở khoa học cho mọi hành động cách mạng của mình, muốn tìm đến cùng bản chất của mọi sự vật và hiện tượng, tính tất yếu của quy luật khách quan trong các sự vật và hiện tượng đó. Ngày nay, nghĩ lại, chúng ta có thể mạnh dạn nghĩ rằng, quan niệm đó về tự do đúng nhưng không đủ, cần phải được bổ sung. Quan niệm đó nhiều tính chất nhận thức luận triết học và có phần còn trừu tượng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa tự do tư sản. Cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn dường như đòi hỏi chúng ta phải đưa những quan điểm về tự do gắn với những phạm trù dân quyền và nhân quyền hơn. Có thể là trong tư duy của các nhà kinh điển dường như cuộc cách mạng cộng sản đang đến gần, tuy có chia ra hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản nhưng với sự phát triển của Châu Âu thì bước tiến của loài người lên chế độ mới không còn xa. Trong lý luận của các ông về CNXH, vấn đề nhà nước tiêu vong đã được đặt ra, được giải thích về bản chất của sự tiêu vong. Thực tiễn sau này chứng tỏ rằng, để đi lên chế độ xã hội mới cần phải có một thời đại quá độ trên toàn thế giới, trong thời kỳ quá độ đó, đấu tranh giữa hai lý luận và thực tiễn nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa trên vấn đề tự do chính trị còn diễn ra gay gắt vô cùng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nẩy sinh từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới đã có một sự khái quát mới về cuộc đấu tranh cho quyền tự do của con người, gần với cuộc đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền hơn. Đó là cuộc đấu tranh cho sự giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức bóc lột; trước hết là ách áp bức bóc lột dân tộc của ngoại bang, sau đó là ách áp bức bóc lột của chế độ người bóc lột người và cuối cùng là giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức của xã hội và cả thiên nhiên, mọi thiên kiến lạc hậu và ngu muội có từ hàng ngàn đời. Đầu tiên là phải tập trung giải phóng dân tộc theo khẩu hiệu “Không gì quý hơn độc lập tự do”, nhưng không độc lập tự do suông mà phải đấu tranh cho ấm no hạnh phúc của nhân dân đông đảo, phải kết hợp ba sự nghiệp giải phóng làm một: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Ba sự nghiệp đó sau khi đất nước giành được độc lập phải được tiến hành đồng thời ngay một lúc và kết hợp chặt chẽ với nhau. Con đường đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng là con đường xây dựng nhà nước và nền dân chủ kiểu mới đối lập với nền dân chủ tư sản. Tư duy về sự nghiệp ba giải phóng có thể là cơ sở lý luận để xây dựng lý luận về tự do của chủ nghĩa Mác-lênin, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin có thể giành lấy quyền chủ động trong việc giương cao chủ nghĩa nhân văn mới, thoát khỏi tình trạng bị động đối phó trước các đòn công kích của quan điểm tự do tư sản.

Như vậy là còn có một ngọn cờ tự do khác với ngọn cờ tự do tư sản và những người cộng sản cũng là những chiến sĩ đấu tranh cho tự do, một nền tự do đối lập với nền tự do mà giai cấp tư sản quan niệm. Đó là một nền tự do kiểu mới và để có tự do, những người cộng sản phải giành lấy chính quyền, phải xây dựng một nhà nước kiểu mới đồng thời cũng là một nền dân chủ kiểu mới. Đó là nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước và nền dân chủ của số đông, nền dân chủ của đông đảo nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của một mình Đảng Cộng sản; một nhà nước và nền dân chủ như là một công cụ chính trị quan trọng có thể nói là quan trọng nhất để giai cấp công nhân và nhân dân lao động xây dựng xã hội mới.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phủ định dân chủ tư sản nhưng không phải là một sự phủ định hư vô chủ nghĩa. Nền dân chủ XHCN đánh giá cao những thành tựu của dân chủ tư sản, coi đó không chỉ là những thành tựu tiến bộ của giai cấp tư sản mà còn là của nhân dân, của loài người; do đó khẳng định sự cần thiết học hỏi, tiếp thu, kế thừa những thành tựu tiến bộ của nền dân chủ tư sản. Thế nhưng không bao giờ để cho sự tiếp thu và kế thừa đó làm thay đổi bản chất giai cấp nhà nước và dân chủ của mình, không bao giờ tự diễn biến thành dân chủ tư sản, không bao giờ chấp nhận yêu sách của giai cấp tư sản đòi nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện đa nguyên đa đảng đối lập.

Những người cộng sản đấu tranh giành và giữ chính quyền, hoạt động chính trị trên tinh thần trung thực, không dối trá, vì mục đích của họ là chính nghĩa, trong sáng. Có thể đấu tranh chính trị cần sự khôn khéo nên những người cộng sản cũng phải biết cái gì có thể công khai hoá, cái gì phải giữ kín, có lúc phải biết ngụy trang, che dấu ý định thật của mình nhưng không bao giờ che dấu lý tưởng chiến đấu của mình, không bao giờ che dấu bản chất giai cấp nền dân chủ của mình như giai cấp tư sản đã làm. Nền tự do kiểu mới của số đông đồng thời phải là sự chuyên chính của số đông đối với số ít là những thế lực thù địch với nhân dân như Bác Hồ đã dạy. Trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam nơi mà yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc gắn bó hữu cơ với nhau trong mọi giai đoạn cách mạng, nơi mà chuyên chính của giai cấp công nhân cũng đồng thời là chuyên chính của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân thì những người cộng sản Việt Nam chẳng có lý do gì để mà che dấu bản chất giai cấp nền dân chủ của mình; thừa nhận một cách công khai rằng, nền tự do ấy cũng là một sự chuyên chính, chuyên chính với các thế lực thù địch với nhân dân, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Không như giai cấp tư sản che đậy chế độ chuyên chế của nó bằng những luận điệu về những giá trị tự do vĩnh hằng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam công khai thừa nhận nền chuyên chính của mình. Cho đến nền dân chủ XHCN cũng sẽ không có tự do cho mọi người, có tự do cho đa số người nhưng vẫn có sự hạn chế tự do đối với một số ít người. Trong tương lai, khi mà người ta đã có thể nói đến và thực hiện tự do cho mọi người thì nội dung của khái niệm tự do đã thay đổi, từ một khái niệm chính trị – xã hội nẩy sinh từ cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc đã trở thành một khái niệm triết học, nói lên mối quan hệ giữa con người với thế giới quanh mình.

Việc chúng ta trung thực thừa nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta vẫn có bản chất giai cấp xác định, vẫn là sự thống trị giai cấp nhất định, tuy là sự thống trị của tuyệt đại đa số đối với số ít nhưng vẫn là một sự thống trị giai cấp, cho phép chúng ta bảo vệ một cách đàng hoàng có căn cứ khoa học nhất một số biện pháp mà giai cấp tư sản thường phê phán chế độ XHCN chúng ta là không dân chủ. Cần phải nói lên một sự thật là cái mới khi mới ra đời thường là yếu ớt so với cái cũ. Chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ XHCN cũng vậy, là những cái mới. Không tính đến những sai lầm chủ quan chết người thì chế độ đó bên cạnh tính ưu việt cũng đã có nhiều điểm yếu rồi. Do đó, trong những thời gian đầu, chế độ buộc phải có những biện pháp mạnh để bảo vệ nhà nước còn non trẻ có thể ra đời và phát triển thuận lợi. Trong tương lai không xa, khi so sánh lực lượng giữa CNXH và CNTB đã thay đổi, nhất là trên mặt trận chính trị, khi tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã là tư tưởng ăn sâu vào đông đảo các tầng lớp nhân dân thì lúc đó nền dân chủ mới sẽ có thể nơi lỏng các biện pháp cấm đoán, phòng ngừa và trấn áp.

Đó là bài học mà chúng ta học được từ chính các điều chỉnh giữa rắn và mềm của chuyên chính tư sản trong thế kỷ trước.

Với một quan điểm phương pháp luận như vậy, chúng ta sẽ bàn đến yêu sách đa nguyên, đa đảng. Các thế lực thù địch với độc lập dân tộc và CNXH đòi hỏi chúng ta phải xoá bỏ chế độ một Đảng Cộng sản lãnh đạo, đòi thực hiện chế độ đa nguyên đa đảng cạnh tranh nhau về chính trị theo hình mẫu của chế độ đa nguyên phương Tây. Có vẻ như các nhà lý luận của nền dân chủ tư sản chủ quan kiêu ngạo, muốn rao giảng cho toàn thế giới về tự do, coi mô hình dân chủ phương Tây là mô hình duy nhất của tự do, lấy đó làm hệ quy chiếu để xét mọi nhà nước trên thế giới, coi các nhà nước không giống như vậy, đặc biệt coi nhà nước XHCN do giai cấp công nhân lãnh đạo là chế độ chuyên chế. Thế nhưng trong thâm tâm, các thế lực đó hiểu rất rõ rằng, con đường đa nguyên, đa đảng là con đường nhanh và gọn nhất để lật đổ chính quyền của Đảng Cộng sản, của nhân dân lao động. Đó là con đường thực hiện bạo lực phản cách mạng phi vũ trang? Ở các nước dân chủ phương Tây, việc thực hiện đa nguyên đa đảng, đảng này thay thế cho đảng kia cầm quyền thì việc đó trong ý thức của giai cấp tư sản không bao giờ được coi là sự mất chính quyền của giai cấp tư sản.

Trái lại, ở các nước XHCN, yêu sách đòi đa nguyên đa đảng thường gắn với những cuộc biểu tình đường phố của một bộ phận quần chúng tạm thời lầm lạc bị bọn thù địch xúi dục, gắn với sự trợ giúp của giai cấp tư sản thế giới về tinh thần và cả vật chất tài chính như là một sự xuất khẩu phản cách mạng. Dưới sức ép của tình thế phản cách mạng, Đảng Cộng sản không còn ở vị trí lãnh đạo nữa và bị một đảng khác, một lực lượng chính trị khác thay thế.

Việc đó ngay lập tức được cả địch và ta hiểu rằng, đó là sự mất chính quyền của Đảng Cộng sản, là sự khởi đầu của việc chuyển đổi chế độ XHCN sang chế độ tư bản dù cho các thế lực thù địch vẫn lừa bịp, trấn an dư luận, coi việc thay đổi chính trị đó vẫn là một phong trào cách mạng của nhân dân tìm con đường dân chủ chống chế độ độc tài cộng sản. Một diễn biến như vậy tất yếu dẫn đến sự phản kháng của các lực lượng chân chính bảo vệ cách mạng, nội chiến giai cấp dưới mức độ này hay mức độ khác tất yếu diễn ra. Sự phản kháng nếu không diễn ra, hoặc diễn ra không đáng kể thì chỉ chứng tỏ sự yếu ớt của Đảng Cộng sản và quần chúng nhân dân. Sau khi lật đổ được Đảng Cộng sản, nhà nước sẽ tư sản hoá, trở thành công cụ chính trị để huỷ bỏ những thành tựu của chủ nghĩa xã hội và chuyển đổi xã hội thành xã hội tư bản. Vì hiểu thực chất của đa nguyên đa đảng như vậy cho nên thái độ Đảng và nhân dân ta là kiên quyết bác bỏ đa nguyên đa đảng, chủ động tấn công mọi mưu đồ đa nguyên đa đảng từ lúc mới nhen nhóm.

Như vậy, cùng những biện pháp đa nguyên đa đảng nhưng trong chế độ này thì chúng củng cố chế độ còn trong chế độ khác thì chúng lại đóng vai trò phá huỷ chế độ như một chất a xít cực mạnh. Chỉ có thể cắt nghĩa điều đó bằng việc phân tích sự khác nhau về bản chất giữa hai nền dân chủ. Đó là hai nền dân chủ có bản chất giai cấp đối lập nhau, phản ánh những quan hệ kinh tế và chính trị – giai cấp không giống nhau nên phương thức và cơ chế vận hành nền dân chủ không thể giống nhau. Chúng ta bác bỏ đa nguyên đa đảng nhưng chúng ta cần phải tìm tòi một phương thức và cơ chế dân chủ đặc trưng cho dân chủ XHCN và hữu hiệu hơn dân chủ tư sản. Việc phê phán, bác bỏ phải đi cùng với việc xây dựng và chừng nào chúng ta xây dựng được trên thực tế nền dân chủ XHCN thì chúng ta mới đánh bại được yêu sách đa nguyên đa đảng.

Theo một ý nghĩa nào đấy thì đa nguyên đa đảng là một hiện tượng tất yếu của nền dân chủ tư sản. Giai cấp tư sản bao giờ cũng có nhiều tầng lớp, phe phái có lợi ích khác nhau. Tuy cùng dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa nhưng với tính chất cạnh tranh tư bản chủ nghĩa vì mục tiêu lợi nhuận hết sức khốc liệt, ít nhiều cũng mang tính chất đối kháng trong nội bộ giai cấp tư sản, cho nên nẩy sinh nhu cầu mỗi tầng lớp, phe phái tư sản cần có đảng chính trị đại diện cho lợi ích của mình.

Sự đa nguyên đa đảng tư sản cũng có nhiều hình thức khác nhau. Ở một số nước đó là chế độ lưỡng đảng; tuy chế độ không cấm bất cứ các đảng nhỏ nào ra tranh cử nhưng trên thực tế chỉ có hai đảng lớn thay nhau giành quyền kiểm soát chính quyền mà thôi. Ở những nước khác như ở châu Âu, số lượng đảng chính trị mà so sánh lực lượng không chênh lệch nhau lắm, tranh cử sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn nhưng rút cục vẫn tồn tại hai xu hướng chính trị lớn đóng vai trò chi phối là các đảng chính trị cánh hữu và cánh tả; do có nhiều đảng hơn hai đảng, xuất hiện những hình thức liên minh chính trị giữa các đảng chính trị cánh hữu và cánh tả.

Với thể chế đa nguyên đa đảng, hoạt động chính trị ở các nước tư bản, nhất là vào dịp tranh cử có vẻ xôm trò và náo nhiệt nhưng thực tế vẫn chỉ là sự náo nhiệt giữa các đảng tư sản với nhau. Dù có sự khác nhau nào đấy trong cương lĩnh của các đảng nhưng các đảng đó vẫn thống nhất trên lập trường cơ bản là bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Chế độ đa nguyên tư sản vẫn nói lên tính chất hình thức và giả dối của nền dân chủ tư sản. Nó là đa nguyên trên hình thức, ở biểu hiện bề ngoài, còn trong thực chất vẫn là chế độ “nhất nguyên tư sản”, vẫn đảm bảo cho giai cấp tư sản sự thống trị tuyệt đối với nhà nước và xã hội.

Trong nền dân chủ tư sản, chỉ có trên hình thức thể chế đa nguyên cho các đảng tư sản mà không có đa đảng đối lập của các đảng chính trị chống lại giai cấp tư sản. Các đảng xã hội – dân chủ ra tranh cử và đã từng thắng cử trong nhiều nước châu Âu, đã từng lên cầm quyền, tạo ra huyền thoại về “nhà nước phúc lợi chung”. Liệu Đảng Xã hội dân chủ có phải là đảng đối lập chống lại giai cấp tư sản không ? Đúng là các đảng xã hội – dân chủ có cương lĩnh đấu tranh và thực tế có đem lại cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động những lợi ích kinh tế, cải thiện đời sống của họ. Thế nhưng, cương lĩnh chính trị của các đảng đó không bao giờ đụng đến nền tảng kinh tế của chế độ tư bản. Việc cơ chế lưỡng đảng, lưỡng cực trong tranh cử tư sản đóng vai trò như một cái van sú-páp để thay đổi khẩu vị của quần chúng đối với nền dân chủ tư sản. Sau 4 đến 5 năm cầm quyền khi đảng cầm quyền đã làm quần chúng chán ngấy đến tận cổ thì nền dân chủ đó lại đưa ra một bộ mặt chính trị mới, tiếp tục tạo ra những ảo tưởng mới cho quần chúng. Các đảng xã hội dân chủ là con bài cực kỳ hữu hiệu đối với giai cấp tư sản trong việc gây ảo tưởng cho quần chúng lao động. Tự xưng là đảng của giai cấp công nhân nhưng trong thực chất, các đảng xã hội – dân chủ không đại diện cho lợi ích cơ bản của công nhân mà lại đại diện cho lại ích cơ bản của giai cấp tư sản.

Về thực chất, các đảng đó là cánh tả của hàng ngũ các đảng tư sản thì đúng hơn và giai cấp tư sản coi việc các đảng đó thắng cử chẳng đe doạ gì xã hội tư bản, giai cấp tư sản chỉ phải thay đổi sự phân phối lợi nhuận chịu đóng thuế cao để mua lấy một “xã hội phúc lợi chung” mà thôi. Thế rồi chỉ được một thời gian, khi giai cấp tư sản xót của vì phải đóng thuế cao thì đến kỳ tranh cử sau, chính quyền xã hội – dân chủ lại đổ để cho một đảng chính trị tư sản khác lên thay.

Đối với những đảng thực sự đối lập với chế độ tư bản, những đảng cộng sản thực sự có cương lĩnh vượt qua chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, giai cấp tư sản có một đối sách khác để ngăn cản sự thắng cử của các đảng đó. Về mặt pháp lý, trừ những thời gian có những hoạt động cấm các đảng cộng sản ra còn thông lệ hiện nay là các đảng cộng sản vẫn có quyền tranh cử ngay cả tranh cử bầu tổng thống. Thế nhưng trên thực tế, trong so sánh lực lượng hiện nay, không có khả năng cho Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền bởi vì giai cấp tư sản không muốn thế và nó đã bao vây thu hẹp được thế lực của Đảng Cộng sản, cho phép các đảng đó có thể có một số ghế trong nghị viện để tô vẽ cho nền dân chủ đa nguyên đa đảng nhưng bao giờ cũng là một thế lực nhỏ nhoi chẳng có thể ảnh hưởng đến đường hướng cơ bản của nền dân chủ tư sản. Để bao vây các thế lực thực sự đối lập, giai cấp tư sản dùng nhiều biện pháp từ đấu tranh chính trị, tư tưởng, văn hoá đến cả những biện pháp kinh tế và tài chính để chống cộng sản. Để hoạt động tranh cử cần phải có tiền. Trong khi các đảng tư sản lớn được các tập đoàn tư bản hùng mạnh tài trợ hậu hĩnh thì những người cộng sản chỉ có thể gây quỹ tranh cử bằng tiền đóng góp của những người lao động vốn không sẵn tiền.

Như vậy là nền dân chủ tư sản không phải thực sự là đa nguyên đa đảng mà là một nền dân chủ nhất nguyên tư sản, không có đa đảng đối lập. Cho nên với yêu cầu các nhà nước XHCN phải thực hiện đa nguyên đa đảng như trong chế độ tư bản thì giai cấp tư sản lại lừa bịp một lần nữa nhân dân các nước XHCN. Họ yêu cầu các nước XHCN làm những việc mà chính giai cấp của họ không làm. Vậy thì đúng lẽ đời hơn là tại sao giai cấp công nhân và nhân dân lao động không được quyền thực hiện sự nhất nguyên xã hội chủ nghĩa như giai cấp tư sản đã làm nhất nguyên tư sản. Chỉ có điều giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện sự nhất nguyên một cách công khai đàng hoàng chứ không cần che đậy như giai cấp tư sản.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không cần thể chế đa nguyên đa đảng, không cần chế độ nhiều đảng, nhất là không có đảng tư sản đối lập. Điều đó đã được pháp chế hoá, được ghi vào Hiến pháp của các nước XHCN. Đó là bởi vì trong buổi bình minh của chế độ XHCN, nền chuyên chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động còn phải dùng các biện pháp rắn để bảo vệ cho chế độ mới ra đời thuận lợi. Trong một thời gian còn dài, không cho đảng chính trị tư sản được phép tồn tại đóng vai trò phá hoại nền chuyên chính đó ? Về thực chất, giai cấp tư sản cũng đã làm như vậy trong việc củng cố nhà nước tư sản. Khi nó còn yếu, nó cũng đưa vào pháp chế những đạo luật chống cộng, đàn áp cộng sản, không cho phép Đảng Cộng sản tồn tại. Chỉ đến khi chúng mạnh lên đồng thời cũng do đấu tranh của những người bị áp bức thì chúng mới chuyển sang thực hiện chuyên chính mềm. Đó chính là lý lẽ cơ bản để bác bỏ yêu sách đa nguyên đa đảng.

Nền dân chủ XHCN Việt Nam không cần đa nguyên đa đảng nhưng sẽ được xây dựng mạnh mẽ hơn dân chủ tư sản, sẽ có một phương thức và cơ chế dân chủ khác làm cho nhân dân thực sự làm chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho nền dân chủ diễn ra trong thực chất, chứ không phải diễn ra một cách hình thức, làm cho nền dân chủ diễn ra phổ biến mọi lúc mọi nơi, không chỉ trên phạm vi vĩ mô cả nước mà cả trong từng địa phương, từng cơ sở, bằng cách kết hợp thể chế dân chủ đại diện với dân chủ trực tiếp nhất là dân chủ trực tiếp ở cơ sở.

Lâu nay, khi đưa ra lý lẽ bảo vệ cho việc bác bỏ đa nguyên đa đảng, chúng ta thường nói rằng, giai cấp công nhân là một giai cấp thống nhất, không có lợi ích phe phái nên không cần nhiều đảng đại diện cho mình như giai cấp tư sản. Thực tiễn xây dựng nền dân chủ ở nước ta chứng tỏ rằng, nhận định đó có mặt hợp lý nhưng không đầy đủ, rằng giai cấp công nhân nếu cộng cả khối nhân dân đông đảo thì cũng chia thành những cộng đồng phân biệt theo nghề nghiệp, giới tính, theo địa phương… Tuy có lợi ích cơ bản chung là độc lập dân tộc và CNXH nhưng các cộng đồng trong nhân dân ta cũng có những nhu cầu và lợi ích khác nhau, có khi đối lập nhau và cần một sự đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, tất cả các sự khác nhau đó không có tính chất đối kháng và xã hội ta không đòi hỏi phải tổ chức ra các đảng chính trị theo từng cộng đồng để làm rối loạn sự ổn định chính trị trong xã hội. Không cần nhiều đảng mà chỉ cần một Đảng Cộng sản là đủ vì đảng đó đã đại diện cho những lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân. Nhân dân ta không cần đến nhiều đảng nhưng rất cần nhiều diễn đàn tranh luận. Điều đó sẽ được thoả mãn bằng các hội đoàn thể chính trị – xã hội và xã hội – nghề nghiệp, bằng tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các diễn đàn của sự hiệp thương và giải quyết sự khác nhau về lợi ích trong phạm vi nội bộ nhân dân.

Với một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì sẽ tất yếu nẩy sinh và phát triển cộng đồng những nhà doanh nghiệp tư nhân tư bản chủ nghĩa. Có thể người ta còn tranh luận xem đó có phải là một giai cấp không, nhưng là một cộng đồng có những lợi ích riêng thì là điều hiển nhiên rồi. Có thể tạm gọi đó là những tầng lớp tư sản ! Các tầng lớp đó có cần đảng chính trị của mình để đối lập với Đảng Cộng sản không ! Các tầng lớp đó không cần đảng chính trị riêng của mình bởi vì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đại diện cho các lợi ích và nguyện vọng cơ bản của họ, họ cũng sẽ đấu tranh dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH trong đội ngũ khối đại đoàn kết toàn dân mà không cần một ngọn cờ chính trị khác. Họ có thể có diễn dàn riêng hoặc diễn đàn của Mặt trận Tổ quốc để hiệp thương, thảo luận các yêu cầu lợi ích của mình trong trật tự của nền dân chủ XHCN.

Vậy là giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, kể cả các tầng lớp tư sản trong thời kỳ đổi mới không cần đến đa nguyên đa đảng. Vậy thì ai là người Việt Nam cần đến đa nguyên đa đảng ? Chỉ còn một dúm người thù địch với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta và nhân dân ta là yêu sách một cách tự giác Đảng Cộng sản Việt Nam phải xã hội dân chủ hoá và thực hiện đa nguyên đa đảng, mong lật đổ Đảng Cộng sản để giành lấy chính quyền bằng bất cứ giá nào để kiếm lợi. Hy vọng rằng, trước mắt nhân dân Việt Nam, chúng chẳng thể là các chiến sĩ của tự do như phương Tây tâng bốc mà chỉ là phái phản động, tay sai của của chủ nghĩa đế quốc mà thôi.

Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ tư sản với mô hình đa nguyên đa đảng không phải là không có ảnh hưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chúng ta. Tư tưởng đó đã thâm nhập vào môi trường chính trị của chúng ta.

Có người nói ra và có người không nói ra nhưng một số người có một ý nghĩ mơ mơ màng màng là nếu chúng ta đi theo mô hình của phương Tây, chúng ta sẽ được phương Tây giúp đỡ nhiều hơn, sẽ làm cho đất nước phát triển nhanh hơn khi còn cứ bám lấy ngọn cờ xã hội chủ nghĩa.

Theo tư tưởng phương Tây, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, đó là một ảo tưởng cực kỳ sai lầm! Nền dân chủ của chúng ta hiện nay còn có những khuyết tật cần phải được khắc phục một cách cơ bản, những khuyết tật nhiều khi còn do những tàn dư của quá khứ vẫn còn đè nặng lên chúng ta. Thế nhưng, chúng ta sẽ sửa chữa các khuyết tật đó, hoàn thiện nền dân chủ mới của chúng ta bằng con đường XHCN, theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân chứ không phải chuyển sang nền dân chủ tư sản. Nếu xẩy ra việc thực hiện đa nguyên đa đảng, Đảng Cộng sản mất chính quyền thì không phải là một xã hội phát triển ổn định kiểu phương Tây sẽ ra đời ở nước ta mà sẽ xuất hiện một xã hội của chủ nghĩa tư bản hoang dã. Trong quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa tư bản, theo kinh nghiệm của các nước XHCN mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã mất chính quyền thì chủ nghĩa tư bản hoang dã cơ bản là đóng vai trò phá hoại các lực lượng sản xuất mà chế độ XHCN đã tạo nên. Bọn ăn cướp của công theo đúng nghĩa của từ này, bọn lưu manh chính trị sẽ làm tan hoang nền kinh tế, diễn ra một sự bần cùng hoá mới đối với nhân dân. Cũng có thể là sau một thời kỳ hỗn độn, tình hình ổn định lại dần dần trên cơ sở một kết cấu kinh tế và giai cấp kiểu tư bản chủ nghĩa. Có thể xuất hiện phái chính trị tư sản muốn giương cao ngọn cờ dân tộc. Sự xuất hiện đó không làm hài lòng phương Tây, nhất là chủ nghĩa bá quyền Mỹ và chúng lập tức đánh chặn ngay con đường phát triển độc lập của chủ nghĩa tư bản bản xứ như diễn biến tình hình ở Gru-zia và U-crai-na đã chứng tỏ.

Vậy thì ngày nay, chúng ta đang đi con đường XHCN quang minh chính đại, con đường chắc chắn và nhanh nhất đưa đất nước đến phồn vinh, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân, đất nước đang ổn định và phát triển thì tại sao chúng ta lại dại dột, nghe những lại dụ dỗ của các thế lực phản động về chính trị, từ bỏ con đường đó để đi vào một con đường bế tắc, đầy chông gai, chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp cho đất nước, cho dân tộc./.

GS.Trần Xuân Trường
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 8, 2012, in Chính luận.

Thủ tướng Liên bang Nga đặt vong hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Liên bang NgaDmitry Antolyevich Medvedev thăm chính thức Việt Nam ngày 7/11/2012. Tháng 10/2010, ông Medvedev từng có chuyến thăm chính thức Việt Nam trong vai trò Tổng thống Liên bang Nga. Cũng trong chuyến đi này, Ngài Thủ tướng cũng tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nga – ASEAN tại Hà Nội.

Thu tuong nga.liet syThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm chính thức lần này của Thủ tướng Dmitry Antolyevich Medvedev diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước có những bước phát triển mới. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới thăm chính thức Nga hồi tháng 7 và hội đàm với Tổng thống Nga Vladmir Putin cũng như Thủ tướng D. Medvedev. Trong chuyến thăm của Chủ tịch nước, hai bên nhất trí nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện tính phát triển liên tục của mối quan hệ song phương, khẳng định quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước trong việc phát huy hiệu quả mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga. Trong chuyến thăm của Thủ tướng Medvedev, Việt Nam – Nga sẽ cùng thảo luận các biện pháp nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực và trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Thu tuong nga.langThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp này, sáng 7/11/2012, Thủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Bắc Sơn, Hà Nội. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng” và đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người bạn và là người đồng chí thân thiết của nhân dân Liên xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

63

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6-1957,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.396.

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 33-34.

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 36.

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô
chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14-4-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 132.

“Đảng viên và cán bộ ta đều tốt, trung thành và hăng hái công tác, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nhưng có một số ít đảng viên và cán bộ còn tư tưởng tiêu cực, suy tị, ỷ lại, ngại khó, ngại khổ, không gương mẫu. Đó là chủ nghĩa cá nhân, những đồng chí ấy phải quyết tâm sửa chữa”.

Bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông”, 7-6-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 143-144.

“Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến. Quốc hội khóa II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Vì vậy, để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Nói tóm lại, phải lấy việc làm thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

“Quốc hội ta vĩ đại thật”, 10-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 172.

“Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đày tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:

Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động.

Luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác, và hòa mình với quần chúng thành một khối”.

“Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 175.

“Tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào”.

“Nói chuyện với đồng bào Thủ đô nhân dịp mừng Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II thắng lợi”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 177.

“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin”.

“Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng của Đảng Lao động Việt Nam”, 5-9-1960, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 197.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 251.

“Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối của quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà ngay thẳng; không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản”.

“Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội”, tháng 3-1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 311.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ  nhân dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối của quần chúng.

Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí tham ô.

Trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ”.

“Bài nói chuyện với đồng bào dân tộc tỉnh Tuyên Quang”, tháng 3-1961, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 323.

“Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành của nhân dân”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Bắc Giang”, tháng 3 năm 1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 337.

“… bảo vệ Bác nên các chú không muốn để đồng bào đến gần, cho nên đã xô đẩy đồng bào. Thái độ thế là không tốt. Đồng bào và các cháu nhi đồng muốn đến gần Bác. Nhưng các chú thì lại không muốn. Nó có mâu thuẫn, nhưng phải làm thế nào? Mình là dân chủ, Bác cũng như các chú, đều nói là phục vụ nhân dân. Cho nên phải khéo tổ chức, nếu không khéo tổ chức thì xô đẩy cũng không được; cho nên, phải làm thế nào để vừa bảo vệ được Bác, vừa không xô đẩy đồng bào.

Tóm lại, các chú muốn bảo vệ tốt phải có kỹ thuật, phải giữ được bí mật và phải có thái độ tốt với đồng bào”.

“Bài nói chuyện với Hội nghị Tổng kết công tác cảnh vệ”,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 516-517.

“Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu cán bộ ta cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy. Việc này các cô, các chú làm được còn ít, cần phải làm tốt hơn nữa. Cán bộ ta lại phải học tập những đức tính cần cù, giản dị và thiết thực của công nhân, nông dân để trau dồi thêm tư tưởng và tác phong của mình”.

“Bài nói tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam”, 18-5-1963, Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 79.

“… cán bộ từ Trung ương đến xã đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đồng bào cần phải luôn luôn giúp đỡ và phê bình cán bộ để họ làm trọn nhiệm vụ”.

“Bài nói với nhân dân và cán bộ tỉnh Nam Định”, 22-5-1963.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr. 91.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)