Archive | 2012

Từ quan điểm Hồ Chí Minh về con người toàn diện đến phát triển giáo dục nước ta

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn nhân dân ta phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, Người căn dặn: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là tinh thần, là tình cảm rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta.

tu quan diem 1Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958 ( Ảnh tư liệu)

Công cuộc đổi mới giáo dục nước ta đã và đang được chú trọng quan tâm hơn bao giờ hết. Chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo của nước ta luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu đặt ra.

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về vấn đề giáo dục thực sự đi vào thực tiễn, Nghị quyết 40/2000/QĐ10 của Quốc hội khóa X, tập trung đổi mới nội dung và chương trình giáo dục, thực hiện chính sách hỗ trợ cho giáo dục.

Tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra một loạt câu hỏi cần được thảo luận và làm rõ những vấn đề sau: “Vì sao lúc này phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ? Phạm vi, mục tiêu, yêu cầu của mỗi Đề án thế nào? Đổi mới căn bản là gì, toàn diện là gì? Nội hàm phát triển khoa học và công nghệ? Những chủ trương, chính sách, biện pháp gì cần phải thống nhất ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển khoa học – công nghệ?…

Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay cũng là một trong những tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, một trong tư tưởng đó có tư tưởng về giáo dục và đào tạo, đó là cơ sở, là nền tảng cơ bản và quan trọng nhất cho sự phát  triển xã hội ở nước ta.

Phát triển con người toàn diện theo quan điểm Hồ Chí Minh

Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việc đào tạo những người con ưu tú, làm thay đổi căn bản vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Hiện nay, việc giáo dục, đào tạo, phát triển con người toàn diện ở nước ta đang có sự lệch hướng khá lớn. Điều đó đang làm lệch lạc sự phát triển con người toàn diện theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo Người, con người toàn diện phải được tự do, được hạnh phúc, con người phải được giải phóng, được giáo dục – đào tạo và được sống trong xã hội hòa bình ổn định. Để phát triển con người toàn diện, ắt phải tiến tới chủ nghĩa xã hội. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Điều cốt lõi trong tư tưởng của Người là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng về phát triển con người toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nói: “Con người vừa là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người”.

Hồ Chí Minh là điển hình cho phát triển con người toàn diện cả về thể lực, đạo đức, trí lực, tài năng và thẩm mỹ. Tư tưởng đó là hình mẫu sinh động của con người toàn diện cho hiện tại và cho cả tương lai. Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Người đã, đang và sẽ cho chúng ta những chỉ dẫn sáng suốt để xây dựng thành công chiến lược con người toàn diện trong điều kiện mới ở nước ta.

Xuất phát từ những luận điểm trên, Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn cách mạng, đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng, trong đó không thể không bàn đến sự nghiệp cách mạng giáo dục nước nhà.

tu quan diem 2Bác Hồ trò chuyện với học sinh Trường thiếu nhi rẻo cao khu tự trị Việt Bắc, 1960

Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người

Người coi “con người” là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định của sự nghiệp cách mạng. Trước đây, Khổng Tử đã từng khuyên nhà cầm quyền phải chăm lo đời sống vật chất cho dân, phải giáo hóa dân để thực hiện đường lối “đức trị”, thì tư tưởng của Người, Người cũng thường xuyên nhắc nhở rằng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Hồ Chí Minh đã mượn câu nói trên để chỉ ra tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục. Trong tư tưởng Người, tất cả là vì “con người”. Đối với giáo dục thế hệ trẻ, Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh”. Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động và thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khoẻ và thẩm mỹ…

Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện, tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Người nhấn mạnh mục đích giáo dục phải gắn liền với nội dung giáo dục; giáo dục phải toàn diện. “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đến các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là sự kết hợp giữa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục.

UNESCO từng đánh giá: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Hồ Chí Minh là điển hình mẫu mực trong việc lựa chọn, kế thừa những mặt tích cực trong quan điểm giáo dục, đào tạo con người. Những lời dạy của Người đã trở thành phương pháp luận trong chiến lược xây dựng con người mới “xứng tầm thời đại”, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta hiện nay.

tu quan diem 3Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, giáo viên, học sinh miền núi tại Hà Nội, tháng 11 năm 1955″ ( Ảnh tư liệu)

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có vô vàn tâm tư và tình cảm của Người đối với sự nghiệp giáo dục. Có tới hơn 592 lần Người nhắc đến “giáo dục”, 159 lần nhắc đến “đào tạo”, trên 190 lần nhắc đến “trường học”, gần 100 lần nhắc đến “đại học”, 92 lần nhắc đến “trường học, giáo sư”, 81 lần nhắc đến “giáo viên”, 80 lần nhắc đến “thầy giáo”, khoảng 145 lần nhắc đến “sinh viên” và đến 225 lần nhắc đến “học sinh”… Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng trong kho tàng lịch sử phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại và được sáng tạo một cách khoa học và đầy tâm huyết. Điều đó có thể khái quát ở một góc nhìn cơ bản về vấn đề giáo dục trong tư tưởng của Người như sau:

Một là, giáo dục là để nâng cao chủ nghĩa yêu nước, ý thức chính trị, truyền thống giáo dục và tinh thần nhân ái. Người đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước của dân tộc. Người nói: “Phải chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, kỹ thuật, lao động sản xuất”. Người nhấn mạnh: “Tăng cường hơn nữa việc giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhằm trang bị cho thế hệ trẻ có những kiến thức khoa học, lại có những kiến thức cơ bản về sản xuất công nghiệp-nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàng bước vào xây dựng xã hội chủ nghĩa”.

Theo Người, nội dung giáo dục phải chứa đựng tính dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và giá trị nhân văn, truyền thống văn hóa của dân tộc, ngoài ra phải lĩnh hội những giá trị khoa học của thế giới… Người còn dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: Đức, trí, thể, mỹ” “Trước hết phải dạy cho họ những tri thức: Lịch sử, địa dư, làm tính, khoa học tự nhiên, xã hội, chính trị, cách viết báo cáo, nghĩa vụ và quyền lợi người công dân”.

Người đã đúc kết chân lý về giáo dục với sức mạnh nội tại của một dân tộc trong giai đoạn thuộc địa nửa phong kiến: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong “ham muốn tột bậc” của Người, Người muốn “làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc” “ai cũng được học hành”. Đối với cán bộ, Người chỉ rõ: Học là “để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự đoàn thể, giai cấp, nhân dân, tổ quốc và nhân loại”. Trong tư tưởng mà Người nói về “Học” được khái quát qua bốn ý về giáo dục là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người”.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho cán bộ. Bởi, theo Người: “Có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”. Người nhắc nhở và giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… coi đó như là “kim chỉ nam” để con người nhận thức đúng và hành động đúng con đường chủ nghĩa yêu nước của dân tộc để đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hai là, giáo dục là để cải tạo “con người” cũ, xây dựng “con người” mới tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và để xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”.

Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa”, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Người nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”. Người nói với cán bộ khi kết thúc một khoá huấn luyện “anh em sẽ còn phải học nữa, học mãi khi ra làm việc”. Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người nhấn mạnh: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Người dạy: “Mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá”…

Hồ Chí Minh đã gắn bó với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giới tính hay tôn giáo… Nền giáo dục mới của nước ta được Người định hướng phát triển là nền giáo dục mở mang dân trí, nâng cao đảng trí cho nhân dân; là nền giáo dục toàn dân; là nền giáo dục toàn diện; là nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, với mục đích là cải tạo con người cũ, đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa.

Ba là, giáo dục là để chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Trong suốt thời gian ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã không ngừng chăm lo, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Trong đó, giáo dục đạo đức được đặt lên hàng đầu. Người rất chú trọng việc giáo dục nâng cao trình độ văn hoá cho dân để dân “làm ăn có ngăn nắp”, “bớt mê tín nhảm”, “bớt đau ốm”, “nâng cao lòng yêu nước” và “để thành người công dân đứng đắn”. Người chỉ rõ: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh và giàu mạnh”.

Hồ Chí Minh đề ra những nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài. Để nâng cao trình độ nhận thức. Trong giáo dục, theo Người, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục. Giáo dục phải căn cứ vào “trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng”. Người gửi thư cho nam nữ chiến sĩ bình dân học vụ nhấn mạnh việc cần phải dạy các em “đạo đức của công dân”. Người viết thư gửi các em học sinh, trong đó yêu cầu các lực lượng giáo dục phải chú trọng giáo dục đạo đức. Trong Di chúc, Người cũng căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

tu quan diem 4Lễ trao tặng “ Vì sự nghiệp phát triển Nguồn Nhân lực” năm 2011

Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của nền giáo dục nước ta trong những năm tới là: “Tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam” theo tinh thần Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII cũng đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là nhằm xây dựng những con người mới, là những con người vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ. “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người cho rằng, nhiệm vụ của giáo dục là phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Đó là không chỉ là trách nhiệm nặng nề, mà là nhiệm vụ đặt ra đối với ngành giáo dục nước ta cho hôm nay và cho cả mai sau.

Hơn 30 năm qua, kể từ ngày 20/11/1982 – 20/11/2012 – Ngày truyền thống Nhà giáo Việt Nam. Hơn 43 năm – kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi về cõi vĩnh hằng, Nhưng những lời dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Tư tưởng Hồ Chí Minh với phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo con người luôn soi sáng sự nghiệp trồng người theo tư tưởng của Người. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục hiện nay.

Theo Báo Giáo dục&Thời đại online
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Bốn nguyên tắc tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Việt Nam - Hồ Chí MinhChúng ta vẫn thường xuyên nói “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “tự phê và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng gần như ai cũng thấy đó là điều không dễ. Rất nhiều người khi thực hiện tự phê bình luôn luôn bị ám ảnh bởi một sự lo sợ không khéo sẽ là: “Lạy ông tôi ở bụi này”…

Thực ra theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì tự phê bình và phê bình  là vấn đề tất yếu của cuộc sống, là quy luật trưởng thành của Đảng. Con người sinh ra ai cũng có bản tính lương thiện. Quá trình lớn lên, trải qua các ứng xử với tự nhiên, xã hội hình thành nhân cách, cá tính khác nhau. Trong Đảng cũng vậy: “Đảng ta không phải ông thánh và cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó ở trong xã hội mà ra”. Vượt qua những giới hạn cụ thể, con người có thể trở thành anh hùng hoặc bộc lộ những yếu kém khuyết điểm. Khuyết điểm càng lâu càng bám vào cơ thể như bụi bẩn hàng ngày. Bởi thế theo Hồ Chí Minh tự phê bình để nhận rõ và gạt đi những bụi bẩn cũng “như công việc tắm gội, rửa mặt hàng ngày” không thể thiếu được. Hoạt động trong điều kiện càng nhiều khó khăn, đòi hỏi thử thách càng lớn, càng làm cho con người dễ sinh ra khuyết điểm. Cha đẻ của mọi thứ khuyết điểm là chủ nghĩa cá nhân. Theo Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do đó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”. Bệnh tham lam, lười biếng, ba hoa, bè phái, địa phương chủ nghĩa, ham danh vị, quân phiệt, quan liêu, xa rời quần chúng, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa …. đều từ đó mà ra. Để điều trị các chứng bệnh ấy không có thuốc đặc hiệu nào hơn là tự phê bình và phê bình. Theo Hồ Chí Minh có thường xuyên tự phê bình và phê bình  mới giúp chúng ta thấy được khuyết điểm để sữa chữa, nhờ đó mà làm cho Đảng mạnh lên.

Tuy nhiên trong thực tế theo Hồ Chí Minh tự phê bình và phê bình là một việc làm không dễ. Tự phê bình và phê bình  là một vấn đề rất nhạy cảm, đụng chạm đến từng cá nhân, tổ chức. Tâm lý của con người là thích được khen hơn bị chê. Mọi người dễ cho rằng tự nói ra khuyết điểm, tự nhận khuyết điểm nghĩa là tự thừa nhận sự non kém của mình. Điều này dễ liên lụy đến uy tín, vị thế chức tước, địa vị và bậc thứ nghề nghiệp, vì “người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Bởi vậy phê bình đã khó, tự phê bình càng khó khăn hơn. Trong thực tế cuộc sống đã không ít trường hợp người ta mượn cớ tự phê bình để nhân đó phê bình mạnh mẽ hơn đồng chí của mình. Đối với những tập thể yếu kém, hoặc có vấn đề đoàn kết nội bộ; những tập thể, cá nhân đang chạy theo thành tích thì việc tự phê bình và phê bình thường thực hiện một cách hình thức. Người cho rằng: “Khuyết điểm cũng như chứng bệnh, phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình cũng như có bệnh mà dấu bệnh không dám uống thuốc, để đến nổi bệnh ngày càng nặng… nể nang không phê bình để đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi đến nổi hỏng việc, thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ, nể nang không dám tự phê bình để cho khuyết điểm mình chứa chất lại, khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mặt, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt gao và Đảng ta gặp nhiều khó khăn nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, đó là Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén tự phê bình và phê bình”.

Để sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình trong Đảng một cách có hiệu quả theo Hồ Chí Minh trước hết phải nhận thức đúng vấn đề. Theo Người: “Nhân vô thập toàn” nghĩa là con người thì ai cũng khó tránh khỏi sai lầm khuyết điểm; càng đảm nhiệm nhiều công việc thì càng dễ có sai lầm khuyết điểm nhiều hơn. Điều quan trọng là ở chổ có có dám tìm ra khuyết điểm để sữa chữa hay không. Theo Bác: “Một Đảng mà dấu diếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thế nhưng vì là một vấn đề khó nên tiến hành tự phê bình và phê bình cần nắm vững những nguyên tắc cơ bản, thể hiện tính Đảng, tính giáo dục, tính khách quan trung thực, thẳng thắn, dân chủ, đồng bộ sau đây:

1. Tự phê bình và phê bình  phải nhằm mục đích để giúp nhau tiến bộ nên động cơ phải trong sáng, dựa trên “tình đồng chí thương yêu nhau”; không vì phê bình mà công kích áp đặt khuyết điểm cho nhau. Khi phê bình người khác không được xoi mói “bới lông, tìm vết” để tìm cơ hội “hạ bệ’ lẫn nhau; “tránh công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. Thực hành tự phê bình và phê bình  phải dân chủ, không mệnh lệnh, áp đặt.

2. Tự phê bình và phê bình  phải có thái độ kiên quyết không khoan nhượng. Hồ Chí Minh cho rằng: “Tự phê bình và sữa chữa có khi dễ, nhưng có khi cũng khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh”. Vì thế thực hiện tự phê bình và phê bình  phải “Ráo riết, triệt để”, đúng mức, thật thà không nể nang, không thêm bớt. Thực hành tự phê bình và phê bình mà làm hời hợt, quanh co, chiếu lệ sai đúng không rõ ràng sẽ tạo môi trường cho khuyết điểm tồn tại và phát triển nặng thêm. Bởi vậy phải có thái độ khen chê đúng mức thì mới giúp cho người có khuyết điểm sữa chữa; đồng thời có ý nghĩa giúp người khác thấy đó mà đề phòng, tránh gặp khuyết điểm tương tự. Khuyết điểm sớm được sữa chữa sẽ dễ hơn khi để trở thành căn bệnh trầm kha. Vì Người cho rằng: “Người mắc khuyết điểm hôm nay, ngày mai chưa chắc đã mắc khuyết điểm. Người hôm nay chưa mắc khuyết điểm chưa chắc ngày mai cũng không mắc khuyết điểm”.

3. Tự phê bình và phê bình  muốn có hiệu quả tốt cần có phương pháp tốt. Tự phê bình và phê bình  phải “biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sữa chữa”. Tự phê bình và phê bình  phải được tiến hành trong tổ chức, chứ không phải gặp đâu nói đó. Người đứng đầu phải rất công minh, tạo được chỗ dựa tin cậy, khơi dậy được không khí dân chủ, thẳng thắn để ai cũng có thể nói rõ chính kiến của mình, không phải “thậm thà, thậm thụt” “ngồi lê mách lẻo”, “việc bé xé ra to” là nguyên nhân của sự mất đoàn kết.

4. Tự phê bình và phê bình  phải có thái độ chân tình cầu thị, nói đúng ưu điểm và khuyết điểm, phê bình phải đúng lúc, có hoàn cảnh thích hợp; phải biết lắng nghe và chờ đợi đồng chí tiếp thu để tránh việc làm cho người bị phê bình “nản chí, oán ghét”. Vì làm như vậy theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng khác “bánh ngọt là một thứ ngon lành, nhưng đem bánh ngọt bắt người ta ăn, nhét vào miệng người ta thì ai cũng chán”.

Những tư tưởng quan trọng của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình  trên đây, dù không có gì khó hiểu; nhưng với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và làm theo sự thật” như tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đề ra, thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình  sẽ vô cùng có ý nghĩa trong việc triển khai Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”./.

Theo Trần Quang Trung/ baohtinh.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

“Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chiều ngày 7/12/2012, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã mời đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân, người trực tiếp tham gia Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đến nói chuyện cho gần 200 cán bộ trung cao cấp, cấp ủy viên, cán bộ chính trị về tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

DBP 2Chỉ huy Bộ Tư lệnh hoa cho Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt tại buổi nói chuyện

Tại buổi nói chuyện, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã khái quát lại bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Cách đây 40 năm, với dã tâm thâm độc, đưa “Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, máy bay Mỹ đã ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc nước ta hàng trăm nghìn tấn bom, đạn; tàn phá nhiều phố xá, làng mạc và hàng nghìn nhà cửa, kho tàng; giết chết và làm bị thương gần 4.000 dân thường. Thủ đô Hà Nội đứng trước một thử  thách mang tính lịch sử, một cuộc đối đầu không cân sức về vũ khí, trang bị giữa không quân Mỹ và lực lượng phòng không Hà Nội. Phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, quân và dân miền Bắc nói chung, đồng bào và chiến sĩ Thủ đô Hà Nội nói riêng đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bắn rơi 81 máy bay và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ, trong đó có 34 chiếc B.52; 5 chiếc F.111A và các loại máy bay khác. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, ý chí và tầm cao trí tuệ Việt Nam, là biểu hiện sáng ngời của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của sức mạnh chính trị – tinh thần dân tộc Việt Nam, của trí thông minh và lòng quả cảm, của ý chí dám đánh, biết đánh và quyết thắng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam lên tiếng trả lời bọn xâm lược: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay “bê” gì đi nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà ta đánh là nhất định thắng!”.

DBP 3Đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt nói chuyện với cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

Sau buổi nói chuyện, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã  giao lưu với tuổi trẻ của Bộ Tư lệnh. Tại đây Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã kể nhiều câu chuyện nói lên nhiệt huyết của tuổi trẻ thế hệ cha anh trước đây, cũng như giai đoạn hiện nay, lúc nào cũng sẵn sàng công hiến, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.

DBP 1Đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt thăm và động viên chiến sỹ trẻ tại đơn vị

Nhân dịp này, hưởng ứng đợt thi đua cao điểm “Âm vang Điện Biên Phủ trên không”, các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tư lệnh đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực chào mừng thành Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quân đội lần thứ VIII và hướng Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X; tổng kết các mặt công tác năm 2012, xây dựng kế hoạch 2013 và luyện tập nâng cao chất lượng thực hiện nghi lễ tiêu binh danh dự, chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Nguyễn Văn Vượng
bqllang.gov.vn

Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý

Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo là nét đẹp văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy thể hiện bằng thành tích học tập, tình cảm, sự kính trọng, lòng biết ơn của lớp lớp thế hệ học trò giành cho người thầy và còn được đúc kết thành tục ngữ, thành ngữ lưu giữ suốt chiều dài lịch sử dân tộc: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”; “Không thầy đố mày làm nên”; “Muốn sang thì bắc cầu Kiều/Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy”… để tỏ lòng trân trọng, thành kính của xã hội dành cho nhà giáo. Vì vậy, Ngày Nhà giáo Việt Nam (hay Ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam) được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 không chỉ là dịp để Ngành Giáo dục tôn vinh những người hoạt động trong ngành, học trò thể hiện lòng thành kính “tôn sư trọng đạo” mà còn là dịp để xã hội tôn kính, tri ân những người đã, đang gắn bó với nghề dạy học – “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo”.

nghe cao quy trong cac nghe cao quy

Những người làm “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý…” từ xưa đến nay dù ít tuổi hay cao tuổi, dù khoa bảng hay chỉ là thầy đồ đều được nhân dân kính trọng, tôn quý, vị nể và được ví như “cây thông trên sườn núi, cây quế giữa rừng sâu thầm lặng toả hương dâng hiến trí tuệ, sức lực cho đời”. Người thầy mọi thời đại đều xác định nghề của mình là một nghề cao quý, thiêng liêng và luôn coi đối tượng lao động của mình là nhân cách, tâm hồn, thể chất con người nói chung và của một thế hệ nói riêng. Công cụ lao động của nghề dạy học chủ yếu bằng bản thân con người – toàn bộ nhân cách của thầy. Phương pháp lao động của người thầy là phương pháp nêu gương, cảm hoá đối tượng bằng tư tưởng, tình cảm, tri thức của mình… để tạo ra “sản phẩm” vừa uyên thâm về tri thức, vừa thấu hiểu đạo lý làm người. Sản phẩm đó không giống như chiếc áo của anh thợ may, chiếc bàn của anh thợ mộc hay một vật dụng cụ của một người thợ nào khác mà chính là con người. Con người có ý thức, con người biết vận dụng tri thức kỹ năng, kỹ xảo và bắt nhịp với thời đại. Con người độc lập, tự chủ và sáng tạo. Con người theo đúng nghĩa – “tâm, tài, tầm”! Sản phẩm làm ra của người thầy không thể đem so sánh với bất kỳ nghề nào trong xã hội! Bởi, nếu những ngành nghề khác vẫn cho phép xảy ra khả năng có những sản phẩm phạm lỗi kỹ thuật thì nghề dạy học không thể và không bao giờ được phép tạo ra những sản phẩm bị lỗi để rồi “sản phẩm” đó trở nên vô dụng. Vì vậy, lao động của người thầy đòi hỏi phải hết sức cẩn trọng, khoa học, nghiêm túc, đặc biệt phải có một cái tâm trong sáng để tạo dựng nên nhân cách con người, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Trách nhiệm của người thầy đối với sự nghiệp “trồng người” là vô cùng lớn lao! Giáo sư Nguyễn Văn Lê từng viện dẫn lời một nhà tư tưởng nói về nghề dạy học: “Nếu người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem ra nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”.

Lịch sử dân tộc ta đã lưu danh những bậc thầy “đức cao vọng trọng” – tấm gương sáng ngời về cốt cách thanh cao; không bị cám dỗ bởi tiền tài và danh vọng. Tên tuổi những nhà giáo nổi tiếng ấy tuy không được ghi danh trong bảng vàng bia đá nhưng đã làm rạng danh nền giáo dục nước nhà, khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam và được lưu truyền mãi mãi. Dân tộc ta không bao giờ quên hình ảnh nữ nhà giáo đầu tiên vào thế kỷ XV là bà Ngô Chi Lan, quê ở Phù Lỗ, Kim Hoá, Sóc Sơn đã được vua Lê Thánh Tông mời vào cung dạy học. Thầy Đỗ Năng Tế là thầy giáo của Hai Bà Trưng – những phụ nữ đầu tiên của dân tộc dựng cờ khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thiếp, Lê Đình Diên, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Sinh Sắc… đều là những tấm gương tiêu biểu về nhân cách ngời sáng của người thầy mẫu mực, tài giỏi, ngay thẳng, cương trực, không màng danh lợi. Thầy Nguyễn Đình Chiểu còn được nhân dân ta mệnh danh là nhà giáo cầm bút đánh giặc: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng dạy học ở trường Dục Thanh – Phan Thiết. Dù thời gian thầy Thành dạy học ở đây rất ngắn nhưng đã khai sáng tâm hồn học trò về đạo lý, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc qua mỗi bài giảng. Người cũng chính là người thầy đầu tiên truyền lý tưởng cộng sản, con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường Cách mạng Tháng Mười Nga đến các thanh niên Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc. Các thế hệ học trò của thầy không những cùng thầy sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người thầy – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kỳ vọng, tin tưởng vào thế hệ trẻ Việt Nam, vì vậy, trong lễ khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có trở nên vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ công học tập của các cháu”.

Tiếp tục con đường người thầy đã chọn, những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng Bí thư Trường Chinh… trước khi trở thành nhà lãnh đạo tài ba của đất nước đã từng làm nghề “ươm mầm xanh” ở một số trường học. Họ tiếp tục sự nghiệp mà người thầy vĩ đại của dân tộc để lại, không chỉ cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân viết nên những chiến công chói lọi ở thế kỷ XX mà còn từng bước đưa nền giáo dục nước nhà sánh vai cùng bạn bè năm châu. Nhà giáo Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Ngọc Ký… và biết bao tấm gương người thầy đã trở thành thần tượng, làm rung động triệu triệu trái tim, khối óc các thế hệ học sinh, sinh viên trong và ngoài nước. Họ đã cống hiến hết mình không chỉ cho sự nghiệp giáo dục mà còn cống hiến suốt cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, đưa dân tộc ta đến bến bờ vinh quang như hôm nay. Tên tuổi nhiều nhà giáo đã được dùng đặt tên cho các trường học, đường phố, công trình, giải thưởng của các cuộc thi và trở thành biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, nhân cách người thầy!

Trong những cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, lớp lớp thầy giáo trẻ theo tiếng gọi của lý tưởng cách mạng cao đẹp đã ra trận, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng các thế hệ cha anh viết nên bản hùng ca bất tử, khắc ghi tên mình vào trang sử vẻ vang của dân tộc. Ở lại hậu phương, các thế hệ người thầy tiếp tục truyền lửa đến học trò, để rồi từ bục giảng, chính các thầy cô lại nhen nhúm, khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù giặc, nuôi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên. Mỗi bài giảng của thầy như thôi thúc học trò tiếp bước cha anh, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, xếp bút nghiên lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, thực hiện lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Những người thầy cầm súng đã góp một phần không nhỏ tạo nên “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.

Đất nước hòa bình, thống nhất, vượt lên bao vất vả, lo toan của cuộc sống thường nhật, hình ảnh người thầy vẫn hiện lên sáng ngời, kiên trì thắp lửa, truyền đạt tri thức, sưởi ấm tâm hồn thế hệ tương lai với nghĩa cử cao đẹp “tất cả vì học sinh thân yêu”. Nhiều thầy, cô giáo đi theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước cũng là lương tâm, trách nhiệm đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ vật chất chốn “đô hội”, không quản ngại nắng mưa, tình nguyện “cõng chữ lên non”, mang ánh sáng của con chữ đến với học sinh và kiến thức xây dựng kinh tế đến đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giúp họ vượt lên rào cản hủ tục, thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Họ là những người thầy kiên trì, miệt mài và tảo tần, quyết tâm mang “hạt” chữ lên đại ngàn để ươm trồng, tưới bằng những dòng nước hy vọng và niềm tin mãnh liệt vào tương lai thoát khổ, thoát nghèo của đồng bào ở vùng khó khăn nhất đất nước. Không ít các thế hệ giáo viên đã cống hiến và gắn bó cả quãng đời thanh xuân của mình ở vùng biên giới, hải đảo xa xôi và đã trở thành “hoa của núi rừng!”. Sự hy sinh thầm lặng của họ thật cao cả và đáng trân trọng biết bao!

Cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, trong đó vị trí người thầy được coi là nhân vật trung tâm của quốc sách ấy. Vì vậy, vị trí, vai trò, trọng trách của người thầy đối với nền giáo dục nước nhà càng hết sức quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của đất nước cũng như hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sứ mệnh của người thầy hôm nay vừa đảm đương trọng trách đào tạo ra nguồn nhân lực để phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững vừa góp phần không nhỏ vào quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có tinh thần tự hào với truyền thống văn hoá, lịch sử ngàn năm của dân tộc. “Sản phẩm” của người thầy làm ra cũng chính là “vũ khí” bách chiến, bách thắng – nhân tố trọng yếu, cơ bản để bảo đảm an ninh, chính trị quốc gia trong quá trình hội nhập. Kỳ vọng lớn vào thế hệ người thầy, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân “mong các nhà giáo phát huy niềm tự hào về vị trí nghề nghiệp cao cả của mình, vừa cống hiến tốt nhất cho xã hội, đồng thời đóng góp trí tuệ của mình cho việc tiếp tục đổi mới nhanh, mạnh mẽ của hệ thống giáo dục nước nhà và nhà trường của chính mình, làm cho ngành giáo dục phát triển xứng đáng với niềm mong mỏi của nhân dân, của Đảng, Nhà nước và cũng là mong mỏi của chính các thầy, cô giáo”.

Trước yêu cầu đòi hỏi của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà, những cuộc vận động của ngành giáo dục trong thời gian qua như: “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương sáng về tinh thần học tập và sáng tạo”… đã được xã hội hưởng ứng, nâng cao vị thế của ngành giáo dục. Các nhà giáo đều hiểu rằng ngoài kiến thức, nhân cách – tấm gương để thuyết phục học sinh và phụ huynh còn phải có lòng nhiệt huyết, tình thương và trách nhiệm – yếu tố quyết định chất lượng giáo dục của nước nhà. Do vậy, trước tác động lớn của thời kỳ hội nhập và mặt trái của cơ chế thị trường, những người thầy tâm huyết vẫn kiên định, vững vàng bản lĩnh, giữ vững cốt cách của nhà giáo. Ánh sáng của lương tri luôn rọi chiếu, cùng với ngọn lửa trí tuệ và tình yêu thương của người làm nghề “trồng người” đã luôn vun đắp cho người thầy vững tin vào“nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”. Xã hội cảm phục và tự hào trước sự đóng góp, hy sinh to lớn của bao thế hệ thầy, cô giáo – người đã không quản khó khăn, gian khổ góp phần đào tạo nên những thế hệ người Việt Nam vừa “hồng”, vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Sự tri ân của xã hội với những người theo nghiệp làm “người chèo đò đưa khách qua sông!”, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” là nét đẹp văn hoá truyền thống ngàn đời của dân tộc ta, góp phần bồi đắp và tô đậm truyền thống văn hóa “tôn sư trọng đạo” của dân tộc Việt Nam lên tầm cao mới. Mỗi dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam ngày 20 tháng 11, trước sự quan tâm của toàn xã hội, niềm vui, hạnh phúc lại trào dâng, rạng ngời trên mỗi gương mặt thầy cô – điểm tựa tinh thần vững chắc, tiếp thêm sức mạnh, lòng yêu nghề và khát khao cống hiến của các thầy cô đối với sự nghiệp giáo dục. Đó là niềm vinh dự, tự hào về vị trí, vai trò của mình đối với sự nghiệp “trồng người”! Nhưng trách nhiệm cũng không kém phần lớn lao, nặng nề, trăn trở của mỗi người thầy: Làm sao để hình ảnh người thầy mãi mãi là khuôn mẫu, chuẩn mực của xã hội, lời nói và hành động của thầy trở thành “khuôn vàng thước ngọc”, là tấm gương sáng để mọi thế hệ học trò học tập và noi theo, đồng thời để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội: “Dưới ánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”. “Nghề dạy học là một nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt

(Chinhphu.vn) – Sáng 7/12, tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao Bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh cho lãnh đạo tỉnh Nghệ An-Ảnh: VGP/Lê Sơn

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, lãnh đạo tỉnh Nghệ An và đông đảo các tầng lớp nhân dân tới dự.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, trong nhiều năm qua, quần thể Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành địa chỉ thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế đến thăm và bày tỏ lòng tôn kính Người.

Đến với Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta lại càng cảm nhận sâu sắc hơn về cội nguồn tạo nên phong cách, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự giản dị mà sâu sắc, sự cô đọng hàm súc mà phong phú lạ thường, có sức lắng đọng và lan toả mãnh liệt. Tư tưởng đó phát triển đạt đến tầm cao minh triết và trở thành tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta.

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước theo con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian và sẽ đưa chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tại Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh -Ảnh: VGP/Lê Sơn

 

Phó Thủ tướng nói, mỗi người dân đất Việt khi về thăm quê Bác ai cũng thu nhận được cho mình những bài học quý báu. Trước hết đó là tinh thần phấn đấu không mệt mỏi, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Chúng ta cũng rút ra cho mình bài học về văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh, tinh tế, khoan dung, vị tha và nhân ái.

Để xây dựng quê hương Nghệ An ngày càng giàu đẹp, đồng thời gìn giữ và phát huy các giá trị của Khu di tích, Phó Thủ tướng đề nghị Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đồng tâm hợp lực, phấn đấu thực hiện lời căn dặn và mong mỏi của Bác “Mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất”. Muốn vậy, Nghệ An cần tiếp tục phát huy những lợi thế của địa phương, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trồng cây tại Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh-Ảnh: VGP/Lê Sơn

 

Đối với Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh cần tiếp tục thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt, có đội ngũ cán bộ chuyên môn và phẩm chất tốt, để đồng bào cả nước và du khách nước ngoài đến thăm hiểu hơn về truyền thống của quê hương xứ Nghệ nói chung và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng.

Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương Nghệ An, Phó Thủ tướng tin tưởng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu đoàn kết, chung kết, chung lòng vượt qua khó khăn thách thức, giành được những thành tựu to lớn hơn nữa trên con đường phát triển.

Lê Sơn
chinhphu.vn

Bản lĩnh trong chống tiêu cực, tham nhũng

Thiếu Tướng Phạm Văn Thạch
Sự liên kết giữa các ngành, các cấp để bảo vệ cho những người chống tiêu cực, tham nhũng là rất quan trọng. Có thể nói đó là chỗ dựa vững chắc. Tôi nghĩ rằng tạo nên được bản lĩnh một cách vững chắc thì công tác đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng nhất định sẽ có chuyển biến mạnh.

Trong các phiên họp của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII đang diễn ra vấn đề tiếp tục đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng được công luận quan tâm nhiều, bởi không chỉ tiêu cực tham nhũng ở nước ta được coi là đến mức báo động đỏ mà chính là hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa còn thấp, còn xa so với kỳ vọng của người dân. Thấp ở đây thể hiện ở cả hai khâu: Phát hiện và xử lý. Vì sao lại có tình trạng này?

Ngay trong các phiên họp, nhiều đại biểu Quốc hội đã nói đây là công tác rất phức tạp vì đụng đến những cán bộ phần lớn còn đương chức, họ tìm nhiều cách che chắn. Một số thì cho rằng đội ngũ cán bộ làm công tác này vừa yếu vừa thiếu, điều kiện cơ sở vật chất chưa được đảm bảo, cơ chế chính sách có chỗ chưa phù hợp… Không ai nói những lí do ấy là không đúng nhưng dẫu sao đó cũng là “bài ca muôn thuở”.

Thực tế tiêu cực tham nhũng tuy nói là tinh vi nhưng nhìn bề ngoài thì rất dễ nhận ra. Kinh tế gia đình giàu lên một cách trông thấy, nhà nọ xe kia, con cháu đi du học nước ngoài… chỉ ít lâu sau khi người nhà được ngồi vào cái ghế mà nhiều người cần nhờ vả. Mặt khác đội ngũ cán bộ làm công tác này đâu phải đến nỗi quá mỏng, điều kiện làm việc đâu đến nỗi quá thiếu. Ở đây có một vấn đề mà chưa có nhiều người đề cập đến, chưa dám nhìn thẳng, đó là chúng ta đang thiếu đi một bản lĩnh cần thiết cho công tác này, mặc dầu trong nhiều nghị quyết của Trung ương đã kiên quyết tuyên chiến với loại “giặc nội xâm” này.

Trước đây trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, bản lĩnh chiến đấu, bản lĩnh của anh bộ đội Cụ Hồ luôn là một điều được giáo dục tuyên truyền mạnh mẽ từ đó trở thành niềm vinh dự và tự hào. Trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay điều này là rất cần thiết. Chúng ta phải tiếp tục làm tốt việc giáo dục này nhất định quần chúng sẽ đồng tình ủng hộ. Lãnh đạo các cấp phải là người đi đầu trong việc đề cao bản lĩnh để tạo nên sức mạnh từ quần chúng. Nhìn chung chúng ta chưa thường xuyên làm tốt việc này, thậm chí có nơi chưa làm đã ngại khó, muốn được yên thân. Những biểu hiện tư tưởng đó chính là nguyên nhân triệt tiêu bản lĩnh tốt đẹp trong mỗi cá nhân.

Cần nêu cao học tập bản lĩnh của người xưa về chống tham nhũng, tiêu cực, đó là những bản lĩnh tiêu biểu quyết chiến đấu hy sinh đến cùng vì công lý cao đẹp. Bản lĩnh phải trở thành sức mạnh và ý chí của nhân dân. Muốn vậy phải khơi dậy và nuôi dưỡng được ý thức và nhiệt tình của đông đảo và phải tạo ra được hàng rào vững chắc bảo vệ cho những bản lĩnh đó. Cũng có người cho rằng hiện nay không ít người có bản lĩnh chống tham nhũng, nhưng tường rào bảo vệ để đi đến cùng của cuộc chiến trong mỗi vụ việc cụ thể thì còn yếu. Có nơi người tích cực đấu tranh bị phản công trở lại thì sự bảo vệ đó chưa tương xứng, thậm chí có trường hợp lâm vào cảnh “lên bờ xuống ruộng”.

Để cho những hiện tượng đó xảy ra là trách nhiệm của chúng ta, phải thấy thực sự đau lòng. Sự liên kết giữa các ngành, các cấp để bảo vệ cho những người chống tiêu cực, tham nhũng là rất quan trọng. Có thể nói đó là chỗ dựa vững chắc. Tôi nghĩ rằng tạo nên được bản lĩnh một cách vững chắc thì công tác đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng nhất định sẽ có chuyển biến mạnh. Vừa qua theo tinh thần NQTƯ4 (khóa XI) thì nơi nào để xảy ra tham nhũng, tiêu cực thì thủ trưởng nơi đó phải chịu trách nhiệm. Để không rơi vào tình trạng “phải chịu trách nhiệm” ấy thiết nghĩ lãnh đạo các cấp cần coi việc xây dựng bản lĩnh chống tiêu cực tham nhũng là yếu tố đóng phần quyết định

P.V.T.
cand.com.vn

This entry was posted on Tháng Mười Hai 10, 2012, in Chính luận.

Đại biểu Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

VKS
Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 06/12/2012, hơn 900 đại biểu Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Các đại biểu tham dự Hội nghị gồm các đồng chí: Nguyễn Hoà Bình -Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự Trung ương; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; Viện trưởng Viện Kiểm sát  quân sự cấp quân khu và khu vực; Tổ Thư ký và các đồng chí Thư ký lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Hội nghị toàn quốc ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày từ ngày 06 đến ngày 07 tháng12 năm 2012 với nội dung: Tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Tổ chức Viện Kiểm sát quân sự năm 2002; Tổng kết thực tiễn 08 năm thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Thảo luận ý kiến về những định hướng cơ bản sửa đổi Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và Bộ luật Tố tụng Hình sự; Triển khai thực hiện Nghị quyết số 522b/NQ -UBTVQH13 ngày 16/8/2012 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trang phục của ngành Kiểm sát nhân dân.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Thiên tai là đồng minh giặc đói, giặc dốt

Trong số những mối lo toan thường trực của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân cho nước, bão lụt – hạn hán – hỏa hoạn… chiếm một vị trí quan trọng.

 Bà Mađơlen Rípphô, nữ nhà báo Pháp, có lần dẫn lời một đồng chí được sống gần gũi với Bác: Hồ Chí Minh rất ít ngủ. Người bận lo toan tới những chiến sỹ, những thanh niên xung phong đang xông pha ngày đêm dưới bom đạn quân thù. Và tất nhiên có nhiều đêm Người mất ngủ vì bận lo lắng, suy nghĩ tới những nạn hạn hán, mùa lũ đang đe dọa nhấn chìm đồng ruộng, người dân, cả nơi thôn quê đến chốn thị thành.

Thien tai 1
Bác Hồ thăm nông dân huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đang gặt lúa đông xuân, năm 1953.

Nghe tin lũ lớn ở Kiến An, năm 1955, gây thiệt hại lớn về người và của, Bác Hồ cho gọi đồng chí phụ trách lên nắm tình hình. Nghe báo cáo những con số thiệt hại, nước mắt Bác rơm rớm. Bác liền chỉ thị cho Thành ủy Hải Phòng phải sớm có phương án tỉ mỉ khắc phục hậu quả, mà trước hết là không để cho một người dân nào bị đói… Cứ đến mùa nước lũ, kỳ hạn hán, Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia chống hạn, chống lũ cùng dân. Có lần, Bác đến công trường Đại Thủy nông Bắc Hưng Hải tham gia lao động như một người dân thực thụ. Trên đường, thấy một chị đẩy xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị… Người hòa vào khí thế lao động khẩn trương của công trường, làm tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho cả một biển người đang lao động quên mình ở một công trình thủy lợi lớn trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.

Giai đoạn trước năm 1945, Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng sống dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến bù nhìn. Trước những thiên tai dồn dập do bão lụt, hạn hán gây ra, tuy đã có tìm một số giải pháp phòng ngừa và cứu hộ, họ đã không toàn tâm toàn ý, thậm chí ở nhiều nơi và nhiều lúc, chính quyền đã bỏ mặc dân chúng. Các soạn giả cuốn sách Lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong hai thế kỷ XIX – XX (2002) có cho bạn đọc biết thêm: “Ngay cả việc cứu hộ cũng triển khai chậm và không toàn diện, chỉ tập trung vào mục tiêu duy nhất là chống đói kịp thời, nên dân chúng thường phải chịu cảnh điêu đứng kéo dài trước nạn thiên tai”. Cách mạng Tháng Tám (1945) gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh, đã mở ra một chương khác!

Tính sơ bộ từ năm 1947 tới năm 1959, có tới 13 bức thư, bài viết của Bác Hồ khen ngợi, động viên, chia sẻ hoặc nhắc nhở, chỉ bảo cán bộ, đồng bào, chiến sỹ trực tiếp hoặc gíán tiếp liên quan tới việc chống thiên tai bão lụt… Trên thế giới, có lẽ hiếm hoi những lãnh tụ quan tâm một cách thường xuyên, cụ thể, khoa học, và đau đáu đối với vấn đề an dân trước thiên tai, như Bác Hồ của chúng ta?!

Riêng với Nghệ An là một tỉnh lớn của miền Bắc, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng; là tỉnh đất rộng, người đông, tài nguyên khá phong phú, nhân dân có truyền thống anh dũng, cần cù. Mặc dầu vậy, Nghệ An là tỉnh thường xuyên phải đối phó, chống đỡ và khắc phục hậu quả nhiều trận bão lụt, hạn hán hiếm có trong lịch sử; rồi cháy nhà, cháy rừng, lũ ống, lũ quét, mưa đá… Trước rất nhiều khó khăn, thách thức ấy, Bác vẫn yêu cầu: “Đồng bào và cán bộ phải có quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh ta thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”.

Năm 1961, được tin vụ cháy ở thị xã Vinh gây thiệt hại tới tài sản của đồng bào, Bác Hồ gửi thư tỏ ý rất phiền lòng, đồng thời khen ngợi đồng bào, bộ đội, công an, cán bộ thị xã đã hết sức tham gia chữa cháy, giúp đỡ bà con bị nạn. Cũng năm này, lần về thăm quê thứ hai, sáng ngày 09/12/1961, nói chuyện với cán bộ và đồng bào tỉnh nhà, Bác khen: “Đã đấu tranh vượt qua những khó khăn do hạn và lụt năm ngoái để lại, và đẩy mạnh sản xuất tiến lên”. Nhưng, Bác cũng nghiêm khắc với Nghệ An khi phải nói câu “Thủy lợi ở Nghệ An còn kém lắm”, và kém là do hợp tác xã kém! Về việc trồng cây gây rừng của tỉnh nhà, trực tiếp liên quan tới môi trường, Bác cũng nêu nhiều nhận xét, đề nghị thẳng thắn, đến nay còn có giá trị về phương pháp luận!

Bác Hồ quan niệm, thời kháng chiến bọn Pháp và Nhật xâm chiếm nước ta nên chúng ta coi chúng là giặc và phải đánh đổ chúng đi; nay miền Bắc tạm hòa bình, phải tập trung chống thiên tai, chống nghèo đói, chống lạc hậu. Mà muốn chống thiên tai thì phải làm tốt công tác thủy lợi để chống hạn chống úng kịp thời. Lũ lụt là “giặc”, chúng đồng minh với giặc đói, giặc dốt, bởi thế Người phát động phong trào đắp đê giữ đê cũng như một chiến dịch và tổ chức thi đua, những chiến sỹ hoặc những nhóm có thành tích đặc biệt, đều được Bác và Chính phủ khen thưởng, nêu gương kịp thời…

Bước sang thế kỷ XXI, môi trường toàn cầu càng trở nên xấu đi, thiên tai càng hung hãn khôn lường. Tìm hiểu và ôn lại những câu chuyện, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm chống lại, làm hạn chế thiên tai mục đích bảo vệ tính mạng và của cải người dân, là việc làm luôn có tính thời sự, cần đi sâu hơn nữa. Cũng qua đó, ta thấm thía thêm giá trị nhân văn vì con người trong đạo lý sống, đạo lý làm người của một Danh nhân!

Kim Hùng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Chuyện kể về NgườiHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Tôn vinh: “Bản hùng ca Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 8/12, tại Hà Nội, Trung tâm giáo dục truyền thống và lịch sử -Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương phối hợp với Đại học Bách Khoa tổ chức chương trình giao lưu, tôn vinh với chủ đề ” Bản hùng ca Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tôn vinh: Hình ảnh biểu tượng cho sự chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc Việt Nam (Nguồn ảnh:thongtincongnghe)

Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới kỉ niệm 40 năm chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam .

Sự kiện sinh hoạt văn hoá, tư tưởng, lịch sử truyền thống này nhằm kết nối, khơi dậy lòng tự hào dân tộc của thế hệ trẻ thông qua cuộc gặp mặt, giao lưu với các nhân vật,nhân chứng lịch sử đã từng tham gia và có nhiều đóng góp quan trọng làm nên chiến thắng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng không quân và hải quân ra miền Bắc từ ngày 5/8 năm 1964 tới đỉnh cao là chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Tham dự chương trình có trên 350 đại biểu là các anh hùng, nhân chứng lịch sử, thân nhân gia đình thương binh liệt sĩ, người có công và 500 sinh viên, giảng viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Thông qua những bài hát cách mạng, và đặc biệt là những câu chuyện của chính các nhân vật đã từng tham gia chiến dịch, từ các tướng lĩnh, bộ đội rada, bộ đội tên lửa, cao xạ, không quân, hải quân đến dân quân tự vệ, thanh niên xung phong, thế hệ trẻ hôm nay hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa và những hy sinh của cha anh để làm nên chiến thắng quan trọng 12 ngày đêm lịch sử tại Hà Nội.

Những nhân vât bình dị, đời thường nhưng đã làm nên câu chuyện thần kỳ trên bầu trời Hà Nội, bắn rơi 800 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có nhiều chiếc B52. Chương trình cũng đã tôn vinh các nhân vật lịch sử với lòng tri ân sâu sắc của thế hệ hôm nay, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tác giả : Hoàng Trang
vtv.vn

Lễ báo công dâng Bác của Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc

Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 – 23/11/2012), ngày 02 tháng 12 năm 2012, Đoàn đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc gồm cán bộ, hội viên, tình nguyện viên tiêu biểu cho trên 1000 tình nguyện viên Chữ thập đỏ của tỉnh đã hội tụ về Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại long trọng tổ chức lễ báo công dâng lên Bác những kết quả đã đạt được trong suốt chặng đường phát triển vừa qua.

Hoi chu thap do vinh phucĐoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khắc sâu lời dạy của Người: “Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết, mà góp phần bảo vệ sức khỏe của nhân dân và làm việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”, các thế hệ cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên và tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc luôn khắc phục khó khăn, học tập nâng cao trình độ, tâm huyết, trách nhiệm với xã hội để chia sẻ, giúp đỡ cho những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn trong cộng đồng, giá trị trợ giúp nhân đạo, số lượng người được trợ giúp ngày càng nhiều hơn.

Hiện nay, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc có trên 1000 tình nguyện viên là những người hoạt động bằng sự nhiệt tình và tinh thần tự nguyện để cống hiến khả năng, kiến thức và sự hiểu biết của mình tham gia vào các hoạt động nhân đạo. Họ xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, làm mọi ngành nghề khác nhau như: Các bác là lão thành cách mạng, sỹ quan quân đội, các thầy cô giáo đã nghỉ hưu, cán bộ, công chức, các y bác sỹ, doanh nhân, học sinh, sinh viên… Người lớn tuổi nhất là 84 và người nhỏ tuổi nhất là 18… Họ tâm huyết với việc làm từ thiện, mang lại lợi ích cho những người dễ bị tổn thương trong cộng đồng.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 30 đội, nhóm tình nguyện viên, hoạt động trên 7 lĩnh vực hoạt động của Hội như: Cứu trợ khẩn cấp và trợ giúp nhân đạo (có Đội tình nguyện viên vận động quỹ bằng nhiều hình thức như: Đặt thùng gạo tình thương, biểu diễn văn nghệ gây quỹ, nồi cháo tình thương, hỗ trợ học bổng, đi tìm địa chỉ nhân đạo…); chăm sóc sức khỏe nhân dân dựa vào cộng đồng (có Đội y bác sỹ tình nguyện chăm sóc sức khỏe tại nhà, có Đội y bác sỹ Phục hồi chức năng…); sơ cấp cứu ban đầu (có Đội tình nguyện viên xe ôm, sơ cấp cứu tai nạn giao thông; Đội tình nguyện viên sơ cấp cứu đuối nước, Đội bác sỹ tình nguyện là giảng viên sơ cấp cứu công nghiệp, mầm non, tiểu học…); hiến máu tình nguyện (có Câu lạc bộ thanh niên Chữ thập đỏ tuyên truyền hiến máu nhân đạo, có ngân hàng máu điện tử với hàng trăm tình nguyện viên tham gia…); tuyên truyền các giá trị nhân đạo, phòng ngừa và ứng phó thảm họa…

Tuy phải đối mặt với những thách thức lớn như: Biến đổi khí hậu; tình trạng đô thị hóa; khủng hoảng kinh tế; phân hóa giàu nghèo… nhưng đội ngũ tình nguyện viên của Hội đã khẳng định được những đóng góp quan trọng của mình đối với cộng đồng và xã hội. Mỗi hoạt động của Hội, mỗi hành động của cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên, tình nguyện viên đã và đang góp phần thực hiện tốt hơn chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.

Thay mặt cán bộ, hội viên, tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc, đồng chí Hà Đình Kính – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc xin hứa với Bác sẽ hành động: “Làm nhiều hơn – Làm tốt hơn – Vươn xa hơn”. Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu đã kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long

bqllang.gov.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người - Ảnh tư liệu

Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người – Ảnh tư liệu

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2  năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trong những năm 1925-1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” .

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất  nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh – thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại  ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần  nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

TS. Phạm Văn Thanh
Theo pup.edu.vn
Phương Thúy
(st)

bqllang.gov.vn