Archive | Tháng Hai 2012

Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng Việt Nam

(TCTG) – Bác Hồ kính yêu, Người đã cống hiến cả đời mình cho dân tộc Việt Nam. Trong cuộc đời làm cách mạng, Người đã “quên mình cho hết thẩy” để giải phóng, giữ gìn và phát huy sức mạnh Việt Nam. Trong đó, thế hệ thiếu niên, nhi đồng được Người đặc biệt quan tâm và dành cho tình thương yêu vô hạn.

Bác xót xa khi phải chứng kiến cảnh cơ cực lầm than của trẻ em lúc vận nước gian nan. Bác đau đớn, thốt lên: “Vì ai nên nỗi thế này? Vì ai ta phải…” và Bác chỉ kẻ thù là: “Vì giặc Nhật giặc Tây bạo tàn / Khiến ta mất nước nhà tan / Trẻ em cũng bị cơ hàn xót xa”. Từ xót xa ấy, từ nguyên nhân ấy, Bác đã vận động, giáo dục, giác ngộ các cháu phải hành động: “Vậy nên trẻ em nước ta/Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh / Người lớn cứu nước đã đành / Trẻ em cũng góp phần mình một tay” , rồi Bác kêu gọi các cháu hăng hái, tự nguyện tham gia Hội nhi đồng cứu quốc, một tổ chức của Mặt trận Việt Minh: “Nhi đồng cứu quốc hội ta / Ấy là lực lượng, ấy là cứu tinh / Ấy là bộ phận Việt Minh / Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”. Tình yêu thương của Bác không chỉ là xót xa mà đã trở nên cụ thể, mạnh mẽ và đầy thuyết phục.

P5-NS.jpg

Sinh thời, Bác đã chăm lo, dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ đến việc lớn: “Các cháu phải chăm ngoan, ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng, đối với thầy phải kính trọng, lễ phép, đối với bạn phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”, “Giữ kỷ luật, chớ tự do phóng túng vì tự do phóng túng là không tốt”, “phải biết gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình các chiến sĩ”, “phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động”, “phải thật thà, dũng cảm”, “việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”, “Mong các cháu mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với nước độc lập, tự do” …

Sự quan tâm của Bác đối với trẻ em gắn chặt với những trăn trở về tương lai của dân tộc, của đất nước. Ngay từ những ngày đầu tiên của Nhà nước Việt Nam non trẻ, vị Chủ tịch nước trong bộn bề công việc vẫn không quên “những người tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Tết Trung thu độc lập đầu tiên năm 1945, Người gửi thiếu nhi Việt Nam hai bức thư trong vòng một tuần lễ. Hai bức thư ấy tràn đầy niềm vui, niềm tự hào vì nước nhà đã độc lập, các em thoát kiếp “bầy nô lệ trẻ con”. Một mùa thu, Bác gửi cho các em lời yêu thương tha thiết:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viết mấy dòng
Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Nói với trẻ em, viết cho trẻ em, đến với trẻ em, Hồ Chí Minh nhất quán trong phong cách và văn phong giản dị, gần gũi. Hàng trăm bức thư, bài báo, bài thơ tự tay Bác viết, tặng cho các cháu. Điều ấy hiếm gặp ở bất kỳ một chính khách nào, điều ấy độc đáo và làm nên một nhân cách Hồ Chí Minh.

Trong các bài nói, bài viết của Bác về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ không chỉ chứa đựng những tư tưởng quan điểm cơ bản mà còn có cả những lời chỉ bảo ân cần rất cụ thể và gần gũi với thực tế. Trong trái tim nhân ái của Người, trẻ em được ví “như búp trên cành” cần được che chở, chăm sóc và nâng niu để nở hoa tươi thắm, khỏe mạnh và tỏa hương cho đời. Người đã đặt niềm tin yêu vào những chủ nhân tương lai của đất nước, rằng: “… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…”

Người đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng và đặc biệt cho “toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Trong mỗi giai đoạn của cách mạng cũng như của cuộc đời đầy cống hiến và hy sinh của mình, trẻ em luôn là lớp “công dân đặc biệt” được Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sát. Chăm lo cho thế hệ trẻ, cho trẻ em thể hiện trong phong cách sống, trong đạo đức, trong tầm nhìn chiến lược và khoa học của Người. Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Đoạn mở đầu, Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.

Tình thương yêu trẻ luôn thường trực trong Bác. Xúc động biết bao khi đọc bài viết của Bác trước lúc từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở: “…làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học… Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần: “Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”. Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Bác đặc biệt nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là người giáo dục trẻ em phải là tấm gương sáng cho các em noi theo: “Trẻ em hay bắt chước cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách phải gương mẫu, từ lời nói đến việc làm. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Và Bác đã dạy rằng:

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Thấm nhuần tư tưởng của Bác “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thường xuyên quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Năm 1991, Quốc hội đã thông qua “Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Ngày 30-5-1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã ra Chỉ thị số 38CT/TW “Về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Ngày 30-7-1998, Thường vụ Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ra thông tri “Về việc tăng cường lãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Và, ngày 28/6/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”… Đây là một sự nghiệp lớn lao và hệ trọng, nó đòi hỏi “các Đảng ủy, Ủy ban thiếu niên nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành Giáo dục và các ngành, các đoàn thể phải có kế hoạch thật cụ thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách, đôn đốc việc này cho có kết quả tốt…”.

Tình yêu thương vô hạn của Bác để lại cho nhi đồng Việt Nam của những ngày đã qua, bây giờ và mãi về sau niềm tự hào mãnh liệt, lòng thành kính cao vời và niềm kiêu hãnh biết bao khi được hát về Người: “Ai yêu các nhi đồng / Bằng Bác Hồ Chí Minh” và “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh / Hơn chúng em nhi đồng / Ai yêu Bác Hồ Chí Minh / Hơn thiếu nhi Việt Nam”…

Phạm Thị Điểm
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam

hochiminhhoc.com

“Bác đi… Di chúc giục lòng ta”

GS.Song Thành
Trước khi ra đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân bản Di chúc lịch sử. Lời nhắn nhủ của Người, từng ý, từng lời, từng câu, từng chữ đã thấm sâu và lắng đọng vào trái tim mỗi người dân Việt Nam, giục giã bao thế hệ người Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo lý tưởng của Người, như nhà thơ Tố Hữu sau này đã viết: “Bác đi… Di chúc giục lòng ta”.

544.jpg
Bút tích “Di chúc” của Bác năm 1965

Bốn mươi năm về trước, đúng vào ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã vĩnh biệt chúng ta! Trong đời sống chính trị – tinh thần của nhân dân Việt Nam, chưa bao giờ không khí đau thương lại trùm lên tất cả mọi người, mọi nhà như những ngày cả nước chịu tang vị lãnh tụ thiên tài, nhà yêu nước vĩ đại, người cha, người bác, người anh đức độ và nhân ái của toàn dân tộc. Cả thế giới nghiêng mình tiếc thương vĩnh biệt một vĩ nhân đã in dấu sâu sắc vào thời đại với những lời ca ngợi chân thành, cao đẹp và sâu sắc nhất.

597.jpg  598.jpgBút tích “Di chúc” của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1968

Trong đau thương, nhân dân Việt Nam cảm thấy vô cùng tự hào về lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của mình. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta”.

Trước khi từ biệt thế giới này, Người đã gửi gắm những lời căn dặn thiết tha, những mong muốn, khát khao cháy bỏng vào Di chúc: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Thay mặt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trước anh linh của Người, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã long trọng tuyên đọc 5 lời thề, nguyện sẽ kiên quyết phấn đấu đem lá cờ bách chiến, bách thắng của Người tới đích cuối cùng. Bốn mươi năm sau khi Người đi xa, chúng ta kính cẩn báo cáo lên Người những nỗ lực phấn đấu thực hiện 5 lời thề đã long trọng hứa trước anh linh Người.

Quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngay trong những ngày tang lễ, hàng vạn lá đơn xin gia nhập Đảng đã được gửi tới các tổ chức cơ sở đảng, bày tỏ nguyện vọng được sống, chiến đấu, lao động, học tập dưới ngọn cờ, theo lý tưởng và tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng vạn thanh niên nô nức tòng quân, lớp lớp lên đường, mang theo Di chúc vào chiến trường, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiều sư đoàn mới được thành lập. Binh đoàn vận tải 559 được tăng cường. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn, bao gồm cả tuyến xăng dầu, được mở ra. Hàng vạn thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến từ miền Bắc đã vào chiến trường… Cả nước rầm rộ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Tháng 12-1972, quân và dân miền Bắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân B52 của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), chấp nhận rút quân khỏi miền Nam. Trưa ngày 29-3-1973, Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam đã lặng lẽ làm lễ cuốn cờ tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Cùng ngày, những quân lính chư hầu Nam Triều Tiên, Phi-lip-pin cũng rút khỏi nước ta. Toàn Đảng, toàn dân ta đã hoàn thành mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”.

Ở miền Nam, quân và dân ta biến đau thương thành sức mạnh dồn xuống đầu thù, liên tục tiến công và nổi dậy, làm phá sản kế hoạch “bình định nông thôn” của địch, mở rộng vùng giải phóng. Phong trào đấu tranh ở đô thị phát triển mạnh: công nhân Sài Gòn tổng bãi công; sinh viên, học sinh đồng bào Phật giáo ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng,… liên tục xuống đường đấu tranh chống chính quyền Mỹ – Thiệu. Các lực lượng vũ trang của ta phối hợp với quân đội nhân dân Lào và Cam-pu-chia, giành chiến thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào, chiến dịch Xnun, cuộc hành quân Chenla II,…giải phóng 7 tỉnh của Cam-pu-chia, tạo ra hậu phương trực tiếp cho cách mạng miền Nam.

Quân ngụy – xương sống của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ – bị thua nặng ở các chiến trường, đã giảm sút về số lượng, sa sút về tinh thần, lại phải dàn mỏng ra để thay thế quân Mỹ và chư hầu rút về nước, nên thế trận ngày càng sơ hở. Quân dân ta giành quyền chủ động trên chiến trường, liên tiếp mở các cuộc tiến công trên cả 3 hướng chiến lược: Trị Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đồng thời phối hợp chiến đấu với quân đội bạn trên chiến trường Lào và Cam-pu-chia, giành được thắng lợi to lớn: giải phóng tỉnh Quảng Trị, phần lớn các tỉnh Kon Tum, Bình Định, Bình Long, Phước Long…, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn.

Trên đà thắng lợi, tháng 7-1973, Trung ương Đảng ta họp Hội nghị lần thứ 21, bàn chủ trương, biện pháp đưa cách mạng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Kế hoạch đó được các hội nghị Bộ Chính trị tiếp theo bổ sung, hoàn chỉnh và đi tới quyết tâm: giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, giành thắng lợi to lớn. Địch rơi vào thế rút lui chiến lược. Chiến dịch Huế – Đà Nẵng đã giải phóng hoàn toàn miền Trung. Tháng 4-1975, ta giải phóng các hải đảo và đồng bằng sông Cửu Long. Chiến dịch Hồ Chí Minh, mở màn từ ngày 9-4 đến ngày 30-4-1975, đã hoàn thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Vào 10 giờ 45 phút, xe tăng của ta tiến vào Dinh Độc Lập. Tổng thống chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận đầu hàng không điều kiện. Trong giây phút lịch sử đó, mọi người đều xúc động nhớ tới Bác Hồ, nắm tay nhau hát vang “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”!

Cả nước sung sướng, tự hào đã thực hiện trọn vẹn lời thề với Bác: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, thống nhất đất nước.

Phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào

620.jpgBút tích “Di chúc” của Bác năm 1969

Những ngày vui thống nhất, Bắc – Nam sum họp trôi qua nhanh chóng, toàn Đảng, toàn dân ta lại đối mặt với những khó khăn của thời hậu chiến. Thực tiễn đòi hỏi phải thay đổi cách làm ăn cho phù hợp với quy luật của cuộc sống.

Tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của nhiều địa phương, Đại hội VI của Đảng (tháng 12 – 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện với hình thức và bước đi thích hợp. Cả nước chuyển mình, nhiều sáng kiến thi đua tìm tòi cách làm ăn mới, làm giàu cho bản thân và gia đình, cho địa phương và cho đất nước được phát huy. Công cuộc đổi mới từng bước đạt được những kết quả quan trọng: đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội dân chủ hơn, cởi mở hơn, đời sống nhân dân thay đổi nhanh chóng – nhất là ở thành thị, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được tăng lên.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”, Đại hội VII của Đảng đã thảo luận và thông qua “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000” nhằm bình ổn xã hội, phát triển đất nước, đưa đất nước ra khỏi khó khăn. Chiến lược này đã được các đại hội tiếp theo phát triển, bổ sung đến năm 2020. Kết quả đã làm cho đất nước mỗi ngày một đổi mới. Nhiều công trình thế kỷ đã đi vào sử dụng và phát huy tác dụng như: Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, đường dây 500 KV Bắc – Nam, Nhà máy Thuỷ điện Trị An, Yaly, các nhà máy đóng tàu, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, cầu Mỹ Thuận, đường Hồ Chí Minh xuyên Việt,v.v.. Mặc dầu vẫn còn những hạn chế nhưng nhân dân ta đã cố gắng thực hiện mong muốn của Bác Hồ: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”!

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, giáo dục, đào tạo được chú trọng phát triển, quy mô đào tạo được mở rộng cả ở đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; trình độ văn hoá của nhân dân được nâng cao thêm một bước. Đặc biệt, ngay sau chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta lựa chọn những thanh niên ưu tú nhất, đã qua rèn luyện trong chiến đấu, được ưu tiên đi học nước ngoài và các trường đại học trong nước, và họ đã trở thành những nhà chuyên môn có tài, những cán bộ quản lý đất nước có năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Trong đổi mới, đã và đang xuất hiện một thế hệ trẻ đầy tài năng, đi tiên phong trong các phong trào “thanh niên lập thân, lập nghiệp”, đã xuất hiện nhiều tấm gương năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, trong học tập, nghiên cứu khoa học và sáng tạo nghệ thuật… Tuy nhiên, thế hệ thanh niên hiện nay vẫn còn những nhược điểm và yếu kém cần khắc phục. Muốn bồi dưỡng cho đời sau, thế hệ đi trước phải mẫu mực nêu gương về mọi mặt – cả về ý chí và đạo đức cách mạng, trước hết là những người lãnh đạo, có chức, có quyền.

Một trong những thành tựu quan trọng trong quá trình đổi mới là sự đổi mới tư duy về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại. Đây chính là cơ sở tạo ra những thắng lợi hết sức to lớn về ngoại giao và kinh tế: Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước, tranh thủ được nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của hơn 50 nước, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhiều tập đoàn, công ty của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ, chủ động hội nhập kinh tế khu vực (AFTA). Sau hơn 10 năm đàm phán, Việt Nam đã thành công và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vào cuối năm 2006, đánh dấu một mốc quan trọng đưa kinh tế Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới. Việt Nam cũng đã được nhất trí bầu là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc khoá 2008 – 2009. Những thành tựu đó đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Giữ gìn đoàn kết trong Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Thực hiện những lời dặn dò trong Di chúc của Người, từ Đại hội IV đến nay, Đảng ta đã mở nhiều cuộc vận động, tiêu biểu là cuộc vận động thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tiến hành từ năm 2006 cho đến Đại hội XI. Theo nhận định của Đảng: Các cuộc vận động này vẫn chưa đạt yêu cầu mong muốn. Tham nhũng, tiêu cực vẫn diễn ra, pháp luật chưa nghiêm, trừng trị chưa đúng người, đúng tội. Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái hư hỏng, cũ kỹ, như Bác Hồ nói, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và đòi hỏi phải có quyết tâm rất lớn, sự gương mẫu rất cao, trong đó đề cao vai trò nêu gương của những người lãnh đạo, người có chức, có quyền.

Để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, sau Đại thắng mùa xuân 1975, Đảng ta đưa ra chủ trương: lấy độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau. Theo tinh thần đó, nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, nhiều nhân vật thuộc “lực lượng thứ ba”,…đã được cử vào Ủy ban Trung ương và Đoàn Chủ tịch của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được bầu vào Quốc hội thống nhất, tham gia Chính phủ hoặc giữ các cương vị lãnh đạo ở Thành phố Hồ Chí minh; nhiều kiều bào đã tin tưởng, chuyển vốn đầu tư về trong nước làm ăn; nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ có tên tuổi đã chuyển về sinh sống ở trong nước…

Trong vấn đề đoàn kết tôn giáo, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng tự do tín ngưỡng. Ở Việt Nam hiện nay, các sinh hoạt tôn giáo như Lễ hội Phật đản, các lễ hội Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo, đặc biệt lễ hội Phật đản VESAK được Unesco thừa nhận, v.v.. đều được tổ chức trang nghiêm, trọng thể, đã trở thành ngày vui chung của văn hóa dân tộc. Ngày nay, các chùa chiền, nhà thờ, thiền viện (như Thiền viện Trúc Lâm Yên tử, Tây Thiên, Sóc Sơn, Đà Lạt,…) được xây dựng mới với quy mô chưa từng có so với bất kỳ thời nào trong lịch sử trước đây.

Phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình của nhân dân thế giới

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giáo dục cán bộ và nhân dân ta về tình nghĩa quốc tế thuỷ chung, về nghĩa vụ góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới, “giúp bạn tức là tự giúp mình”.

Trong kháng chiến chống kẻ thù chung, ba nước Đông Dương Việt Nam – Lào và Cam-pu-chia đã đoàn kết trong một mặt trận, sát cánh bên nhau, giúp đỡ nhau trong đấu tranh và cùng nhau giành thắng lợi vào năm 1975. Trong hòa bình, xây dựng, ba nước đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác về kinh tế và văn hoá, hiệp định về biên giới hoà bình, hữu nghị. Việt Nam đã viện trợ và đầu tư giúp Lào mở con đường ra biển, xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng về kinh tế – kỹ thuật; giúp cách mạng Cam-pu-chia loại bỏ chế độ Pôn-pốt diệt chủng, v.v.

Sau khi thống nhất đất nước, thực hiện ước muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc: “sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta”, nhiều đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta đã đi thăm nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ để thể hiện lòng biết ơn và tình cảm quốc tế trong sáng này.

Trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn tồn tại, Việt Nam vẫn không ngừng thắt chặt quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các đảng cộng sản và công nhân trong các nước tư bản; vẫn tiếp tục ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình, công bằng và đạo lý trong các mối quan hệ quốc tế.

Chúng ta tự hào đã trung thành và thực hiện tốt lời thề với Chủ tịch Hồ Chí Minh: luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, thuỷ chung, theo đúng tấm gương của Người.

Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc và nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương cao cả, tuyệt vời trong sáng, có sức cổ cũ lớn lao, một nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngay từ Đại hội II (1951), Đảng ta đã nhận thấy sức mạnh to lớn của tấm gương đạo đức vô song này, nên đã sớm có nghị quyết về học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, coi đó là điều kiện tiên quyết để đưa cách mạng đến thành công.

Sau khi Người qua đời, Đảng ta đã liên tục đề ra các cuộc vận động học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người. Tiến lên một bước, Đại hội VII đã ra nghị quyết: lấy tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Các cuộc vận động này đã khơi dậy ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện cho cán bộ, đảng viên và thanh niên, đã góp phần vào việc bồi dưỡng nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng sống và làm theo tấm gương của Người. Tuy nhiên, trong đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, cũng đã có một số người không vượt lên được, đặc biệt là ở những thời điểm có tính bước ngoặt. Một số người có chức, có quyền đã tha hoá, biến chất, tham nhũng, cửa quyền. Điều đó cho thấy tính chất khó khăn, gian khổ, lâu dài của việc xây dựng con người mới; cho thấy ý nghĩa cấp bách, tầm quan trọng của cuộc vận động giáo dục, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một quá trình phấn đấu lâu dài của toàn Đảng, toàn dân. Bốn mươi năm qua mới là một chặng đường ngắn ngủi, trong đó có những việc chúng ta đã hoàn thành xuất sắc, có những việc làm chậm, có việc làm chưa tốt. Nhiều nhân tố “mới mẻ, tốt tươi” đã xuất hiện, nhưng cũng còn nhiều cái “cũ kỹ, hư hỏng” vẫn chưa được loại bỏ, đang là điều nhức nhối, phần nào làm giảm niềm tin của nhân dân. Chúng ta hứa với Người rằng, “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà Người căn dặn trong Di chúc được chúng ta kiên trì phấn đấu thực hiện, nhằm đạt tới những thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa trên con đường hội nhập và phát triển./.

nhoNguoicha

Xây dựng chính quyền “Thân Dân” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiếp nhận dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc và thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân. Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn luôn luôn tôn trọng, tin tưởng và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Chính vì vậy, cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Về thực chất, đây cũng chính là tư tưởng thân dân. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, là thân dân.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

Vậy thì vì sao ta phải xây dựng chính quyền “Thân dân”? Hồ Chí Minh giải thích: dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước. Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Dân như nước, cán bộ như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.

Chính quyền “Thân dân”, phải là chính quyền hiểu dân, nghe được dân nói, nói được cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu của họ, biết được họ đang suy nghĩ gì, trăn trở cái gì? Họ mong muốn những gì? Và họ đang mong đợi gì ở chính quyền, nhất là ở người lãnh đạo, quản lý; phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi quyết sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân. Tháng 10-1945, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “…Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(1) . Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Theo Người: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(2) .

420.jpgTheo Hồ Chí Minh thì cán bộ là công bộc, là đầy tớ trung thành của nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Từ thực tế, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê phán nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì khệnh khạng như “ông quan” và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức, vì vậy mà quần chúng không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, không phải vì lợi ích của quần chúng. Việc đặt ra chương trình làm việc, kế hoạch hành động, tuyên truyền, nhiều cán bộ cũng không hỏi xem quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn biết cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.

Là người phục vụ nhân dân, cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Theo Người: Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Điều này cho thấy, Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của Đảng và Nhà nước, mà trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là lãnh đạo không có nghĩa là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Bởi vì: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(3).

Trong Nhà nước của dân thì dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Cũng trên ý nghĩa đó, các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là “công bộc” của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.

Chính những tư tưởng của Người về vấn đề thân dân đã chỉ đạo cho hoạt động cách mạng của chúng ta trong việc huy động sức mạnh vật chất và tinh thần phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng mối quan hệ đoàn kết toàn dân. Hiện nay, đại đa số cán bộ, đảng viên ta đã nhận thức và làm tốt việc coi trọng nhân dân, vì nhân dân phục vụ, làm cho kinh tế, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện…

Tuy nhiên, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập cùng những thiếu sót, khuyết điểm chủ quan của chúng ta trong lãnh đạo, quản lý cũng như trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước nên thời gian qua ở nước ta, các hiện tượng tiêu cực xã hội phát triển, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống. Tệ tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, có nguy cơ làm biến chất Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước và chế độ, làm giảm sút mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nguy hại cho sự nghiệp cách mạng.

Trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, những biểu hiện như quan liêu, cửa quyền, vô cảm với nhân dân, xa dân, sách nhiễu dân đang có nguy cơ phát triển. Sự tha hóa của một bộ phận cán bộ có chiều hướng phát triển, thể hiện ở xa dân, sách nhiễu dân, tệ quan liêu, tham nhũng… Cán bộ lãnh đạo một số nơi còn lúng túng trước nhiệm vụ đặt ra, hội họp nhiều nhưng giải quyết công việc chưa hiệu quả, không sâu sát thực tế…

Đối thoại giữa chính quyền và người dân chưa thường xuyên. Còn đùn đẩy, né tránh trách nhiệm nên giải quyết khiếu nại, tố cáo chậm. Bệnh che giấu khuyết điểm, nơi này đổ lỗi cho nơi kia còn khá phổ biến… Tình trạng hành dân, khinh dân, thậm chí lợi dụng quyền hành để bắt dân cống nạp, vẫn xảy ra ở nơi này nơi kia trong bộ máy chính quyền các cấp, kể cả cấp cơ sở, ở các vùng nghèo, vùng sâu.

Nhiều cơ quan công quyền thường có thói quen ra những mệnh lệnh, những quyết định bắt người dân phải thi hành mà không tham khảo ý kiến của nhân dân. Ở nhiều địa phương việc xây dựng Quy chế dân chủ còn hình thức, trên thực tế người dân chưa được thực hiện quyền chính đáng của mình. Chính quyền một số nơi, nhất là ở cơ sở, nơi trực tiếp với nhân dân nhưng lại xa dân, ít quan tâm đến đời sống của nhân dân, không chú ý tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và tâm tư, nguyện vọng của dân, phong cách chỉ đạo, quản lý nặng về quan liêu, mệnh lệnh, vô cảm trước khó khăn, vất vả của dân. Những chủ trương liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của dân không được đưa ra bàn bạc, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân hoặc giải thích cho nhân dân hiểu rõ để nhân dân tự giác chấp hành. Vì vậy, một số quyết định của chính quyền cấp cơ sở không được nhân dân đồng tình, có nơi khiến nhân dân bất bình, là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.

Để khắc phục được tình trạng đó, đòi hỏi chính quyền các cấp, những “đày tớ”, “công bộc” của dân, có bổn phận phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của dân giao, chịu sự kiểm soát của dân và sẽ bị tước quyền nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Để phục vụ nhân dân, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có giác ngộ sâu sắc về mục đích sống, mục đích hành động và việc làm của mỗi người, để trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là tấm gương sáng để quần chúng nhân dân noi gương. Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân chỉ có được khi chính quyền các cấp có cán bộ, đảng viên thực sự thân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa chính trị yêu nước, thương dân, lấy dân là gốc được soi sáng và phát triển rực rỡ, trở thành chân lý khoa học, kim chỉ nam cho hành động. “Thân dân”, luôn coi dân là gốc, là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên những người đại diện cho chính quyền, đoàn thể các cấp phải tự đặt mình vào địa vị của người dân mà mình đại diện để hiểu, suy xét, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất , mong muốn của người dân. Có lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của dân thì đại biểu dân cử mới thực hiện tốt việc “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến cho dân ta phải hết sức tránh”. Bởi, ta có yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.

Xây dựng chính quyền “Thân dân” biểu hiện ở việc cán bộ, đảng viên thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi do pháp luật quy định. Tức là, phải trung thành với mục tiêu lý tưởng, với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, phải hướng đến một nền hành chính, một tổ chức, một bộ máy phục vụ nhân dân; luôn gương mẫu hoàn thành kế hoạch được giao và nếu có chức vụ phải biết sử dụng quyền lực để giao việc, kiểm tra, theo dõi, đánh giá, phê bình, khen thưởng một cách công minh chính trực; phải lắng nghe và dựa vào quần chúng nơi cơ quan để xây dựng quy chế làm việc, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu tài chính, các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, làm cho cơ quan đoàn kết nhất trí; không xu nịnh, không ưa nịnh, không chia bè chia cánh, cục bộ, bản vị; phải luôn đề cao trách nhiệm vì dân để giải quyết nhanh chóng, kịp thời những chế độ, chính sách liên quan đến người dân; phải thận trọng trong việc xem xét, quyết định các vấn đề hệ trọng có ảnh hưởng đến quyền bình đẳng, quyền lợi của các tầng lớp nhân dân. Khi nhân dân có ý kiến, khiếu nại, tố cáo, kể cả tố cáo cá nhân mình, thì phải biết bình tĩnh lắng nghe, phân tích và có thái độ kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, nếu quyết định của mình chưa đúng. Không né tránh, đùn đẩy, gây phiền hà và khó khăn, tốn kém cho dân…

Nói và thực hành “Thân dân” trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay càng đòi hỏi chính quyền các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gần dân, sát dân, luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của dân, nhằm giải quyết kịp thời những nhu cầu và lợi ích chính đáng, thiết thực và cụ thể của quần chúng; phải từ trong dân, từ ý chí và tâm trạng của dân để phục vụ nhân dân.

Th.S Nguyễn Năng Nam
Phòng Chính trị, Học viện Khoa học Quân sự


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.4, tr.56-57.
[2] Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.375.
[3] Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.323.

nhoNguoicha

Học tập phong cách sống giản dị và tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm vườn rau muống trong khu Phủ Chủ tịch (6-1957). ( Ảnh: Ảnh tư liệu )

Tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước, cùng với tính giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ của Người được cả thế giới ca ngợi và khâm phục.

Con người Hồ Chí Minh, từ lúc làm một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Compoint nước Pháp đến khi làm Chủ tịch nước Việt Nam, vẫn sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã từ câu nói, tác phong đến vật dụng, tư trang hàng ngày, từ bữa ăn đến cách sống hòa mình với nhân dân.

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng như các đồng chí khác phải ăn cháo bẹ, rau măng ròng rã. Khi đi công tác, ngoài những đồ đạc cần thiết mang theo, Người cho làm món thịt rang mặn Việt Minh theo công thức một thịt – một muối – một ớt. Như vậy đi tới đâu chỉ cần thổi cơm, tìm thêm rau xanh nấu canh, rồi bỏ “thịt” của nhà ra ăn là xong bữa. Cách nấu nướng như vậy rất tiện, cần nghỉ chỗ nào cũng được, khỏi phải vất vả mua bán ở dọc đường, lại tiết kiệm.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội làm việc ở Bắc Bộ Phủ, Bác cùng ăn cơm gạo đỏ, muối vừng với anh em văn phòng, bảo vệ, lái xe… mà không có sự ưu tiên nào khác. Tháng 6-1946, Bác sang thăm Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh ở khách sạn, nhưng ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt quần áo… Các đồng chí cùng đi thấy ngạc nhiên vì giữa thủ đô Pa-ri hoa lệ mà Bác vẫn giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo Bác để tự kiềm chế mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống xa hoa. Ðồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước ta còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì sống giản dị, tiết kiệm là thói quen tốt, cần rèn luyện thường xuyên. Sự giản dị, phong thái ung dung ấy của Bác bắt nguồn từ một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng. Nó kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản. Nó có sức thu hút mạnh mẽ tình cảm mọi người và qua đó Bác càng trở nên vĩ đại.

Quay lại chiến khu, nơi chở che cho Bác suốt những năm dài kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc, là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Vượt qua những gian nan thiếu thốn, ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm tình đồng chí. Lán của Bác ở, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, được làm bằng vật liệu sẵn có chung quanh như tre, luồng hoặc nứa, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc. Vật dụng trong lán chỉ có một chiếc ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ, vài cuốn sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hòn đá cuội luyện gân tay… Di chuyển đến bất kỳ địa điểm nào, Bác cũng trồng rau, nuôi gà để cải thiện cuộc sống kham khổ.

Cuối năm 1953, được tin quân và dân miền Nam thắng trận ở U Minh, Ðồng Tháp Mười, Tây Nguyên, Bác quyết định mở tiệc khao quân bằng món thịt gà luộc (được chặt ra làm 20 miếng đều nhau vừa đủ số người trong cơ quan), canh cải xanh, rau muống xào tỏi, xôi nếp, cơm tẻ đều là sản phẩm cơ quan tăng gia.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì tự nhủ mình là Chủ tịch một nước nghèo, chưa có quyền hưởng thụ. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của một người thợ điện, nơi mà mùa hè thì nhiệt độ cao hơn hẳn chung quanh, thiếu ánh sáng. Năm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Người đã từng ở trong những năm kháng chiến.

Khác hẳn với công trình kiến trúc đồ sộ, bề thế như Phủ Chủ tịch và các ngôi nhà xây dựng bằng những nguyên liệu bền vững như sắt, thép, xi-măng,… trong khu vực, ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ dổi bình thường, hai tầng, chung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng. Tầng trên chỉ có những đồ dùng rất quen thuộc: chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách. Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước trước nhà sàn, Bác nuôi cá vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc. Nhà sàn của Bác hòa hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của Bác cũng thật giản dị. Ðôi dép cao-su, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần, đã theo Bác trên những nẻo đường Pác Bó, Ðiện Biên, trở về Thủ đô Hà Nội rồi lại theo Người đi thăm các nước anh em. Ðôi dép đã góp phần tạo nên huyền thoại về một vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới như lời báo chí Ấn Ðộ đã từng ca ngợi. Rồi bộ quần áo lụa nâu, bộ quần áo ka-ki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ-mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Quen nếp sống giản dị, đồ ăn thức uống của Bác cũng không cầu kỳ. Bác dạy cán bộ rằng, tiết kiệm của cải tức là quý trọng sức lao động của con người. Nếu làm ra mà tiêu phí, ăn xài hết thì việc lao động đó không có ý nghĩa, không thể làm được việc gì lớn. Bữa ăn thường ngày của Bác trong Khu Phủ Chủ tịch cũng không quá ba món: Một bát canh, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và không thể thiếu hương vị quê nhà là cà dầm tương hoặc đường ớt. Quý trọng công sức của nhân dân, trong bữa ăn, Bác không bao giờ để thừa, lãng phí. Ðặc biệt, bữa ăn, Bác thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ đỡ vất vả khi thu dọn. Khi đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, hễ lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Với Bác, thăm các địa phương, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Có tỉnh nọ, mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi được mời, Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Có thể dẫn ra nhiều câu chuyện về cách ăn uống tiết kiệm của Bác, thậm chí vào dịp liên hoan chào mừng Ngày thành lập Ðảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh và đĩa cá. Bác thường nói khi mời cơm khách: “Chủ yếu là thật lòng với nhau”. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1965, Bác cương quyết đề nghị nhà bếp cho ăn cơm độn ngô như tất cả những người dân khác.

Trong tình hình kinh tế, chính trị của ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng chân thành của Bác, tấm lòng của một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Nhận xét về nếp sống giản dị của Bác, một tờ báo Pháp đã viết: “Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hạ mình cho khổ sở, mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người chung quanh đều bắt chước hành động đó của ông…”.

Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp. Người tiết kiệm nhưng không ki bo, keo kiệt, không lãng phí, phô trương. Ngày 15-7-1969, Charles Fournio – nhà báo Pháp cuối cùng được phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến và kể rằng: “Khi nghe nói đến những dự kiến tổ chức mừng thọ Người 80 tuổi (vào ngày 19-5 sang năm), Hồ Chủ tịch đã tỏ ý không tán thành tất cả mọi biểu hiện chú ý đặc biệt đến Người và nói rõ là không được bày vẽ gì nhân dịp này, chừng nào còn cần thêm tiền để làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện và thư viện”.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần rèn luyện, tu dưỡng mình, việc tưởng dễ nhưng lại rất khó. Dễ vì cách sống của Bác rất bình thường, đơn giản nếu quyết tâm thì ai cũng làm được. Còn khó vì nếu không có tâm trong sáng, không có chí hướng, không có nghị lực, không có lòng yêu thương con người thật sự thì không thể làm theo Bác Hồ được.

Xã hội ngày nay đã phát triển hơn nhiều so với thời kỳ đất nước trong chiến tranh và bao cấp, mức sống chung của người dân đã được nâng lên rõ rệt. Nên dù không cần phải đi dép cao-su, mang cơm nắm khi đi công tác như Bác Hồ, thì mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cũng không nên lãng phí, xa hoa, tiệc tùng, tiêu hoang công sản khi thi hành nhiệm vụ, gây phản cảm cho dư luận và tạo dựng hình ảnh xấu trong nhân dân. Vì vậy, thiết nghĩ để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thật sự có kết quả thì mỗi chúng ta đều phải tự giác, tích cực điều chỉnh từ cách sống tiết kiệm và giản dị hàng ngày.

Theo Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đồng chí Phạm Văn Đồng – Tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó…

1. Nửa đầu những năm 20 thế kỷ trước, Phạm Văn Đồng cũng như nhiều thanh niên trí thức trong nước bí mật tìm đọc những tài liệu của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài truyền về. Anh đã tìm thấy trong đó nhiều điều mới, tiến bộ và mong được gặp gỡ trực tiếp. Và “cơ may” đã đến (theo từ dùng của Phạm Văn Đồng): Cuối năm 1926, Phạm Văn Đồng được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Từ đó, đến “cơ may” thứ hai là năm 1940 Phạm Văn Đồng cùng Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh (Trung Quốc) tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì “sức hấp dẫn” của người Thầy dậy lý luận đã gắn bó trọn đời Phạm Văn Đồng với tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp đó, Phạm Văn Đồng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ học tập kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sau đó được cử về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở khu Cao Bắc Lạng.
Về phần mình, Hồ Chí Minh sớm thấy phẩm chất cách mạng và sự tin tưởng ở Phạm Văn Đồng. Do đó, liên tục trong gần 30 năm (1940-1969) từ sau lần gặp nhau thứ hai tại Côn Minh đến khi Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng luôn luôn được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được sự dìu dắt, đào tạo thành nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong đó 15 năm cuối đời, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã cùng sống sinh hoạt và làm việc trong khu Phủ Chủ tịch. Thời kỳ đầu về tiếp quản Thủ đô, Hồ Chí Minh không ở trong Dinh Toàn quyền mà ở trong ngôi nhà của người thợ điện còn Phạm Văn Đồng ở ngôi nhà của người quản lý Dinh toàn quyền. Hai nhà chỉ cách nhau một sân nhỏ. Hàng ngày hai người thường bàn việc nước, tiếp khách, cùng sinh hoạt. Vì vậy giữa hai con người – hai nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta càng có nhiều quan hệ thân thiết. Giữa họ, tình thầy trò, đồng chí hoà quyện vào nhau nên nghĩa tình sâu nặng, đạo lý sống và lý tưởng cách mạng cao cả vì nước vì dân.

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó, ngay cả khi Hồ Chí Minh đã đi xa. Đã hơn 40 năm qua, nhưng hình ảnh Phạm Văn Đồng cố kìm nén xúc động trong giờ phút truy điệu, đưa tang người Thầy, người đồng chí chiến đấu gần gũi của mình – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hiện lên trước mắt mọi người…

2. Trọn cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng đã gắn liền với công cuộc giải phóng và xây dựng đất nước ta, là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh. Điều này không chỉ thể hiện qua hoạt động thực tiễn của Phạm Văn Đồng như vừa phác hoạ trên đây, mà còn được thể hiện khá rõ thông qua những trang viết của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì vậy, ngay sau cách mạng Tháng Tám, nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5-1948, Phạm Văn Đồng đã có những nhận xét xác thực và khâm phục trong tác phẩm Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc: “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực…Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết”(1). Cũng trong tác phẩm này Phạm Văn Đồng còn rút ra 4 bài học ở người thầy của mình là: Học trung với nước, hiếu với dân, đoàn kết toàn dân, học phấn đấu …Và phải học suốt đời cũng không sao học hết được nhưng “Mọi người Việt Nam đều học được Hồ Chủ tịch”.

Đặc biệt từ sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng đã dành nhiều công sức để nghiên cứu cuộc đời, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa để tỏ lòng biết ơn người thầy vừa để thực hành tấm gương đạo đức và góp phần tuyên truyền giáo dục tư tưởng đạo đức của Người cho toàn xã hội. Chỉ 5 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng cho xuất bản tác phẩm “”Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại”. Từ đầu những năm 90, sức khoẻ yếu, đôi mắt nhìn không rõ nữa, nhưng Phạm Văn Đồng vẫn miệt mài nghiên cứu Hồ Chí Minh.

Đồng chí Nguyễn Tiến Năng nguyên trợ lý cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho biết: Nhiều khách quốc tế cũng như đồng chí trong nước trong những lần thăm, làm việc đã đề nghị Thủ tướng viết Hồi ký để người đọc biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí qua các thời kỳ cách mạng. Câu trả lời chung là: “Viết hồi ký thường đụng chạm đến người này, người nọ và thông thường là đề cao “cái tôi” của mình hơn mọi người, hơn cả tập thể. Tôi không viết hồi ký mà chỉ tập trung viết về Bác Hồ. Nhưng viết về Bác là điều cực kỳ khó bởi người ta (cả trong nước và ngoài nước) đã viết hàng trăm cuốn sách về Bác, vậy mình viết cái gì và viết như thế nào, thật không dễ”(2). Biết vậy nhưng Phạm Văn Đồng vẫn vượt khó viết về người thầy, người đồng chí gần gũi – lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Trong khoảng thời gian chưa đầy một thập niên, Phạm Văn Đồng đã dành tâm lực nghiên cứu và cho xuất bản hàng loạt công trình về Hồ Chí Minh. Đó là “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”(1990), “Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai” (1991), “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh” (1993), “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” (1998)… Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, thông qua những hoạt động lý luận và thực tiễn sinh động trong quá trình tiếp nhận sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và trên cương vị một đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm, Phạm Văn Đồng trong các tác phẩm nêu trên đã minh chứng đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh và vai trò quan trọng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người trong suốt tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc trước kia và trong công cuộc đổi mới hiện nay. Phạm Văn Đồng đánh giá cao sự nhạy bén về chính trị, tính cách mạng sâu sắc và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc xây dựng và chấn hưng đất nước ngày nay. Khó có thể phân tích, đánh giá hết những luận điểm khoa học, những giá trị to lớn các công trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì đó là sự nghiên cứu khoa học sâu sắc, với những trải nghiệm của một nhân chứng lịch sử, một nhà lãnh đạo cao cấp, một nhà văn hoá lớn của dân tộc. Ở đây, chỉ xin được nêu ra một vài nhận xét đánh giá nhằm minh hoạ một phần giá trị của những công trình nghiên cứu ấy. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, Phạm Văn Đồng đã lý giải sâu sắc về mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người với thời đại, với công cuộc giải phóng dân tộc mình: “Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, bốn nhân tố ấy kết hợp và hoà nhập vào nhau, tạo thành sự vận động của lịch sử, bắt đầu từ một con người, thông qua một dân tộc và một thời đại, cuối cùng đưa đến một sự nghiệp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là điều Hồ Chí Minh tìm kiếm lúc rời nước ra đi, ấp ủ lúc trở về, tâm niệm suốt cuộc đời, cho đến những lời trong Di chúc”(3). Những luận điểm chính Phạm Văn Đồng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và những kinh nghiệm của Hồ Chí Minh – người thày dạy lý luận của mình: “Chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ”(4). Theo gương Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng tiếp tục khẳng định nội dung cách mạng và tính sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là tín điều, mà là lý luận và phương pháp luận về sự phát triển có quy luật của thiên nhiên, xã hội và con người, sự phát triển ấy luôn luôn biến hoá một cách biện chứng, từ đó lý luận và phương pháp luận cũng chuyển động sáng tạo, không ngừng phong phú và giàu sức sống mới, theo những bước tiến triển của lịch sử và sự nghiệp cách mạng của con người(5)”.

Trong “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, Phạm Văn Đồng tập trung nghiên cứu Hồ Chí Minh về con người, đặc biệt về “con người Việt Nam trong lịch sử Việt Nam” và “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam”. Trong hầu hết các trang viết của tác phẩm này Phạm Văn Đồng quán triệt sâu sắc sự quan tâm của Hồ Chí Minh về nỗi thống khổ của người dân Việt Nam nô lệ và những biện pháp, tư tưởng của Hồ Chí Minh để giải phóng toàn diện con người Việt Nam khỏi ách áp bức dân tộc, giai cấp để con người Việt Nam được hưởng quyền dân sinh, dân trí, dân chủ (6). Hơn thế, theo Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh không chỉ tìm con đường giải phóng cho con người Việt Nam mà còn giải phóng cho con người nước khác(7). Từ đó, Phạm Văn Đồng khái quát về quá trình hình thành con người Hồ Chí Minh và nêu ra một cách tiếp cận rất khoa học và tổng quát về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh: “Sự hình thành con người Hồ Chí Minh là một quá trình trải dài suốt đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Về tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi có nói đó là sự kết hợp hài hoà giữa 3 nguồn: truyền thống dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin và thành quả nhiều học thuyết xưa nay ở Đông Tây. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói gộp lại, đó là tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phong cách, tất cả trở thành con người Hồ Chí Minh, biểu hiện trong mọi cử chỉ và hành động, lời nói và việc làm, ứng xử trong mọi tình huống(8). Từ đó, Phạm Văn Đồng chỉ ra mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay: “Cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự nghiệp đổi mới là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(9). Điều này góp phần khẳng định vai trò nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Mimh (cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin) trong các văn kiện của Đảng ta.

Những công trình nghiên cứu cuối đời của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh thực hiện với sự giúp đỡ nghe đọc và ghi chép của các đồng chí thư ký giúp việc. Tuy nhiên, những công trình ấy lại có nội dung khoa học, mang tính tổng kết sâu sắc, gắn bó chặt chẽ của sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh với cuộc sống hôm nay. Trong đó, công trình “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” được hoàn thành và xuất bản năm 1998 có một vị trí đặc biệt trong quá trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người. Ngoài phần phụ lục “Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc”(trích từ Văn hoá và đổi mới), “Hồ Chí Minh và cuộc sống”, “Hồ Chí Minh về đạo đức” và “Hồ Chí Minh và các tầng lớp nhân dân” (trích từ: Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai), trong tác phẩm này, Phạm Văn Đồng đã tổng kết những hiểu biết mới nhất của mình và của xã hội về: Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, Phương pháp luận và phong cách Hồ Chí Minh và mối quan hệ của những bài học kinh nghiệm, vai trò quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay. Điều đặc biệt trong tác phẩm này, một lần nữa Phạm Văn Đồng lại lý giải thêm nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đó là lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam mà nột dung chủ yếu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nó là sự vận dụng sáng tạo và có phát triển học thuyết Mác-Lênin trong hoàn cảnh Việt Nam, một nước thuộc địa và phong kiến từ đầu thế kỷ đến nay và mai sau.”(10). Và từ đó Phạm Văn Đồng chỉ ra cho chúng ta thấy rõ hơn sự cần thiết phải học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước: “Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, một công trình nghiên cứu không chỉ để hiểu biết và đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh mà điều quan trọng hơn là vận dụng một cách sáng tạo nhằm đóng góp vào quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam”(11).

Nội dung thứ hai trong tác phẩm này là Phạm Văn Đồng quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về dân tộc. Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Rút lại tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về con người với những khả năng thiên biến vạn hoá của nó”(15) và: “Hồ Chí Minh luôn luôn bắt đầu từ con người, từ nhân dân, từ dân tộc để cuối cùng trở về con người, nhân dân và dân tộc, đó là điểm xuất phát đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng của cách mạng”(12).

Không chỉ nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, trong những năm cuối đời Phạm Văn Đồng còn nhiều bài viết đề cập đến đời sống nhân dân, gìn giữ sự đoàn kết và thắt chặt quan hệ giữa Đảng với nhân dân, những trăn trở trước những biểu hiện suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên…Chỉ 1 năm trước khi đi xa, Phạm Văn Đồng còn viết bài báo: Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhân ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước những thành tựu to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự lo âu trước những tiêu cực đang nảy sinh trong xã hội; đặc biệt ở một bộ phận đảng viên, những người có chức quyền đang biến chất. Theo đồng chí, cần phải tiếp tục chỉnh đốn Đảng ngang tầm với nhiệm vụ và xứng đáng với Đảng của Hồ Chí Minh. Ở đây, một lần nữa xin được khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc những nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam và xin được khâm phục và ngợi ca cuộc đời một con người suốt đời sống và chiến đấu với lý tưởng của Đảng, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh và là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, không chỉ có Phạm Văn Đồng viết nhiều và học tập tốt tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Song có thể nói, Phạm Văn Đồng là người có sớm (13) và nhiều công trình nghiên cứu về Con người, Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là những trang viết hay, có hàm lượng khoa học cao và tính chính trị sắc bén thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ Phạm Văn Đồng là nhà nghiên cứu, nhà văn hoá và là học trò xuất sắc – người đồng chí chiến đấu trung thành của Hồ Chí Minh kính yêu. Và vì vậy, Phạm Văn Đồng còn là tấm gương tiêu biểu trong việc nghiên cứu và thực hành tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Đồng chí Phạm Văn Đồng là bậc lão thành, trường thọ. Ông là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta, là học trò xuất sắc và gần gũi, người đồng chí chiến đấu rất mực trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tấm gương thực hành tư tưởng đạo đức của Đồng chí được phản ảnh trong các tác phẩm trên đây không chỉ là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổng kết những trải nghiệm cuộc đời, những phát hiện mới về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay mà còn là lời nhắn gửi – một thông điệp đối với chúng ta trong việc đẩy mạnh việc học tập nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay./.

———————————–

(1) Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Phạm Văn Đồng, ngày 6-5-2000
(2) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Đồng chí Phạm Văn Đồng với cách mạng Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2006, tr.225
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. ST, H.1990, tr.39
(4) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.85
(5) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.81-82
(6) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, Nxb.CTQG, H.1993,tr.50-60
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.116
(8) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.117
(9) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.35
(10) , Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh,Nxb.CTQG,H.1998, tr.23
(11) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.87
(12) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.94
(13) Theo chúng tôi biết, Bài báo đầu tiên viết về Hồ Chí Minh là bài:” Kính chúc Hồ Chủ tịch sống lâu muôn tuổi” của Đồng chí Trường Chinh đăng trên báo Nhân Dân số đầu tiên

Theo PGS.TS Lê Văn Tích
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì III)

18. Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn;
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.

Nhật ký trong tù, Sđd, t.3, tr.350.

19. Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư, thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm…

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 251-252.

20. … Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình.

Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình.

Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm.

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 261, 267.

21. Đối với người

… Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người…

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

Đối với việc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết tâm làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết tâm làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cần, kiệm, liêm, chính, tháng 6-1949, sđd, t.5, tr. 644-645.

22. … Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

… Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó.

… Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người.

Đạo đức cách mạng, tháng 12-1958, sđd, t. 9, tr. 291, 292, 293.

23. … Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên càng phải giữ vững lập trường giai cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trau dồi đạo đức cách mạng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng.

Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới, ngày 3-2-1963, sđd, t. 11, tr. 23.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì II)

13. Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và Nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó.

Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.

Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng. Không đến nơi đến chốn.

Kết quả nhỏ là: Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần.

Kết quả nặng là: Phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi.

Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp…

14. Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.

Thí dụ: Cấp trên vì công việc, phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.

Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng, người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.

Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất loạt, không kể thương nặng hay nhẹ.

Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.

Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ cho đủ mọi người mới chịu làm.

Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng…

15. Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái…

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 255-261.

16 … Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo.

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh ngày 2-9-1951, sđd, t. 6, tr. 292-293.

17. Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể. Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta.

Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng.

… Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội. Ví dụ: Tên A tham ô 1.000 đồng, tên B lãng phí 1.000 đồng. Kết quả tai hại đến của công thì B cũng chẳng khác gì A.

Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm hàng nghìn con người đến công trường, nhưng chưa có việc gì làm hay là người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước, v.v…

Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.

… Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung.

Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô…

Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

– Nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

– Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm…

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước,
ngày 24-7-1962, sđd, t. 10, tr. 573-574, 575.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì I)

1. Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư, tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình.

Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình.

2. Bệnh lười biếng – Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì giành lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.

3. Bệnh kiêu ngạo – Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình.

Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.

4. Bệnh hiếu danh – Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.

5. Thiếu kỷ luật – Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên, vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.

6. Óc hẹp hòi – Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.

7. Óc địa phương – Bệnh này tuy không xấu bằng bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ. Đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng ích lợi to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể.

8. Óc lãnh tụ – Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi.

Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một phút cỏn con, đã thấm vào đâu! Mà so với những sự nghiệp to tát trong thế giới, càng không thấm vào đâu.

Cố nhiên, Đảng ta mong cho có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ, được dân tin, dân phục, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý của Đảng, của dân tộc. Song, những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra; chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ, làm anh hùng mà được.

Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ.

9. Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch.

Thí dụ việc tổ chức – Trong báo cáo thì làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có. Hạng người nào cũng có. Có hàng vạn hàng ức người. Nhưng khi soạn lại cặn kẽ, hỏi lại rõ ràng, những nơi đó có bao nhiêu người, những tổ chức đó đã làm việc gì, cán bộ đã đến đó mấy lần, đã làm gì cho những tổ chức đó, thì chưa có gì thiết thực hết.

Thế là không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm.

10. Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa.

Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.

Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái , đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

11. Bệnh cận thị – Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ. Thí dụ: Việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước gạo trong các bộ đội.

Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn.

12. Bệnh “cá nhân”

– Việc gì không phê bình trước mặt để nói sau lưng. Khi khai hội thì không nói, lúc khai hội rồi mới nói. Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Muốn sao Làm vậy.

– Muốn làm xong việc, ai có ưu điểm cũng không chịu học theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình.

– Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình.

– Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí.

– Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ.

– Gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình.

– Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích.

– Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn.

– Tự cho mình là “cách mạng già”, “cách mạng cũ”; việc to làm không nổi, việc nhỏ không chịu làm. Làm việc thì lờ mờ, học hành thì biếng nhác.

– Biết mình có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi.

Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Mắc phải bệnh đó thì sẽ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới.

quangbinh.gov.vn

Cần – Kiệm – Liêm – Chính

(TT&VH) – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”; Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ muốn cho xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin dân phục dân yêu. Muốn được dân tin dân phục dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”.

Cần: Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Người siêng học tập thì mau tiến. Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến. Siêng hoạt động thì có sức khỏe. Người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no. Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh. Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh. Muốn cho chữ cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc.

Bác Hồ trong ngày tết trồng cây

Cây gỗ bất kỳ to nhỏ đều có gốc và ngọn. Công việc bất kỳ to nhỏ đều có điều nên làm trước, nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để làm sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế sẽ hao tổn thời giờ, mất công nhiều mà kết quả ít. Siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau. Kế hoạch lại phải đi đôi với phân công để nhằm vào hai điểm: công việc (làm trước sau) và nhân tài (năng lực ai vào việc nấy). Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Cần là phải biết cách nuôi dưỡng, phân bổ cả tinh thần, vật chất và lực lượng của mình một cách hợp lý để làm việc lâu dài.

Đêm 30 Tết năm 1957, Bác đến thăm ba đồng chí cảnh vệ trực Phủ Chủ tịch và dạy anh em cách pha trà. Lượt nước đầu tiên và thứ hai, Bác đều rót vào một chiếc ca to, đậy kín lại. Lượt nước thứ ba, Bác rót ra 4 chén con để mọi người cùng uống. Tiếp những lượt nước sau, Bác chuyển trà từ ca vào ấm rồi thêm nước sôi vào, nhờ thế nước trà vẫn đậm đà. Cuối buổi, Bác mới nói: “Nghe nói mấy chú đầu tháng “trung nông”, giữa tháng “bần nông”, cuối tháng “cố nông” như thế là chi tiêu không kế hoạch. Nếu các chú chi tiêu theo lối pha trà của Bác thì vừa đủ tiền tiêu, vừa khỏi phải trả nợ”.

Kiệm: Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không kiệm, làm chừng nào, xào chừng nấy như cái thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được. Thời giờ cũng phải được tiết kiệm như của cải. Của cải hết còn có thể làm thêm nhưng khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo trở lại được. Biết tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người khác.

Thánh hiền có nói: Một tấc bóng là một thước vàng. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Kết quả chữ cần kiệm to lớn như vậy cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành cần kiệm.

Tháng 4/1969, Bộ Chính trị họp bàn chuẩn bị tổ chức 4 ngày lễ lớn năm sau. Bác đang mệt nặng nên vắng mặt. Sau đó trên giường bệnh, nghe báo cáo lại cuộc họp, Người nói: “Các chú nên bàn bạc cho kỹ. Còn ý kiến của Bác, Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa 19/5 làm ngày kỷ niệm lớn năm 1970. Hiện nay các cháu học sinh sắp vào năm học mới, giấy mực tiền bạc dùng tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dùng để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Nhà sàn Bác Hồ

Liêm: Là trong sạch, không tham lam. Liêm có nghĩa rộng hơn là trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm. Có kiệm mới liêm được vì xa xỉ mà sinh tham lam. Tham tiền, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm. Để thực hiện chữ liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên. Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp di công – dinh tư.

Vì vậy cán bộ phải thực hành chữ liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân. Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết không chịu đút lót thì quan dù không liêm cũng phải hóa ra liêm. Vì vậy cần phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ liêm. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết thì sẽ gây nên tinh thần liêm khiết trong nhân dân.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại Mỹ năm 1965, nhân dân Hà Nội phải ăn cơm độn mỳ sợi, ngô, bột, bo bo. Bác yêu cầu: “Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiêu phần trăm, cứ độn cho Bác từng ấy, giống như cán bộ với dân”, anh em cấp dưỡng thương Bác quá bèn thưa rằng quy định các cụ già trên 70 tuổi không phải ăn độn, nhưng Bác không đồng ý. Anh em bèn xay nhỏ ngô trộn vào gọi là thì Bác vẫn nhắc lại rõ ràng: “50% cơ mà!”.

Chính: Tức là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Cần – kiệm – liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần – kiệm – liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội đều phải xác định cái đúng, cái tốt trong bản thân mình đối với mọi người và đối với công việc. Bản thân luôn tự kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa khuyết điểm và hoan nghênh người khác phê bình mình.

Với mọi người phải chân thành khiêm tốn, thật thà đoàn kết, chớ nịnh trên, xem thường dưới. Trong công việc phải để việc công lên trên việc tư, việc nhà. Bất kỳ việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, kế hoạch, cẩn thận, quyết tâm làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Mới giữ cương vị một thời gian ngắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng ra nhận trách nhiệm trước quốc dân: “Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm được việc gì đáng kể cho nhân dân. Có thể nói rằng: những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác… Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm là lỗi tại tôi. Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi”.

Trong thư riêng gửi ông Vũ Đình Hòe, Bác viết: “Việc ân xá, ân sám ở Thái Bình như thế là xong. Ông giám đốc N.V.H tỏ ra tận tâm với chức vụ, thì Chính phủ nên khen. Nhưng trong việc ở Thái Bình vừa rồi, ông ấy làm quá đáng, thì chúng ta phải phê bình giúp ông ấy sửa chữa và tiến bộ. Không vì công mà quên tội. Đó là cách chí công vô tư, để rèn luyện và cất nhắc cán bộ”.

Tại buổi họp của Hội đồng Chính phủ ngày 30/12/1967, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Chính phủ ta tuy đã cố gắng nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Trong khi người công nhân, người nông dân, người chiến sĩ hy sinh làm tròn nhiệm vụ của mình, còn chúng ta những người làm lãnh đạo có khi lại làm chưa hết nhiệm vụ của mình. Tôi nói như vậy có đồng chí không thích, nhưng tôi nói có sách mách có chứng cả. Chúng ta phải gương mẫu trong quản lý và bảo vệ của công. Việc đoàn kết nội bộ trong các Bộ, các ngành chưa được tốt. Lề lối làm việc của chúng ta cũng có nhiều điểm chưa tốt, có tình trạng là nói mà không nghĩ, nghĩ mà không quyết, quyết rồi mà không làm…”.

Để quyết tâm xây dựng đất nước, hướng tới một tương lai tươi sáng, phồn vinh trong thế kỷ mới, mỗi người cần phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “Một hột gạo, một đồng tiền là mồ hôi, nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền, do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen chợ đỏ, thụt két, buôn lậu. Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính”.

Đỗ Hoàng Linh

thethaovanhoa.vn

Người trồng cây vĩ đại

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Nếu không phải đi tìm Độc Lập, Tự Do cho Tổ quốc
Có lẽ, Bác của chúng ta muốn làm một người trồng vườn
Hãy nhìn những bức ảnh Người trồng cây
Ta thấy những nụ cười đẹp nhất
Và hãy vào thăm Ngôi nhà của Bác
Chung quanh là cả một rừng cây
Thiên nhiên tươi xanh như cuộc đời của Bác
Bảy mươi chín mùa xuân chẳng bận bụi trần!

Trên đường đi tìm hạnh phúc cho nhân dân
Người đã ươm trồng bao thế hệ
Để mãi mãi rừng cây ngăn sóng bể
Mỗi cây xanh thành cọc nhọn Bạch Đằng!

Bùi Công Bính

baonamdinh.com.vn

Học và làm theo Bác, cho “lòng ta trong sáng hơn”

(TCTG) – Cách đây 5 năm, đầu xuân Đinh Hợi vào ngày thành lập Đảng, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ngay từ những ngày đầu, Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi, nhiệt tình của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân
Qua mỗi năm, nội dung học tập và các hình thức tổ chức hoạt động tập thể nối tiếp nhau được tổ chức, tạo nên những phong trào có dấu ấn sâu đậm trong dư luận xã hội, mang lại những kết quả bước đầu đầy ấn tượng, đặc biệt là về nhận thức, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Qua thực hiện Cuộc vận động, nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đầy biến động, tác động đến lối sống của mỗi người, mỗi gia đình và xã hội, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn lời dạy của Bác “đạo đức không phải là cái gì từ trên trời rơi xuống, nó do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Với cán bộ, đảng viên, những người đã tuyên thệ dưới cờ Đảng, nguyện phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng của dân tộc qua cuộc vận động thêm một lần được ôn lại lời dạy của Bác: “Làm cách mạng là công việc to tát. Người cách mạng phải có đạo đức. Nếu không có đạo đức, tự mình tham ô, hủ hóa thì làm nổi việc gì”. Với Đảng, với những người cộng sản chân chính đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, từng trải qua những chặng đường đầy gian lao, thử thách, bao “uy vũ không khuất phục”, có dịp để suy ngẫm thêm quan niệm Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức suốt đời. Đó là: “Một Đảng, một dân tộc và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến, kính phục, không có nghĩa là hôm nay vẫn được mọi người tôn trọng, nếu như lòng dạ không trong sáng nữa, sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tổng kết 4 năm triển khai Cuộc vận động, Ban Chỉ đạo Trung ương đã báo cáo những kết quả bước đầu quan trọng của Cuộc vận động với Đại hội lần thứ XI của Đảng. Đại hội đã đánh giá cao kết quả của Cuộc vận động, nhất là trong việc hình thành nhận thức mới về việc rèn luyện đạo đức và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó yêu cầu phải đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên quan trọng trong Đảng và xã hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 14-5-2011 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nội dung việc học tập và làm theo lần này là tiếp tục những nội dung đã thực hiện trong Cuộc vận động, đồng thời có mở rộng và làm sâu sắc hơn, đặc biệt thêm điểm mới là học tập và làm theo phong cách của Bác.

Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là học tập tư tưởng đạo đức mang đậm những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với tư tưởng đạo đức tiên tiến nhất của thời đại, đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản. Đó là tư tưởng đạo đức vì con người, cho con người, vì nước vì dân, trung với nước, hiếu với dân, yêu thương, quý mến, kính trọng nhân dân. Tư tưởng đạo đức đó thể hiện một cách sống động trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong sáng, giản dị, thật sự khiêm tốn…, xuyên suốt cuộc đời của Người.

Nội dung học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung mới, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong thực hiện giải pháp đột phá cải cách hành chính. Phong cách là sự kết hợp giữa tư tưởng đạo đức, phương pháp và lối sống của mỗi người được thể hiện ra bên ngoài. Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức. Đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được tư tưởng đạo đức, nhân cách của một con người. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng đạo đức, nhân cách, phương pháp làm việc của Người, là một chỉnh thể, tạo thành một hệ thống với những thể hiện quan trọng nhất là phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt .v.v.

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Độc lập, tự chủ là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã qua thực tiễn kiểm nghiệm là sai, những cái cũ lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng nay không còn phù hợp, để tìm tòi, đi tới những cái mới mang tính thời đại, trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra. Sự sáng tạo ở Hồ Chí Minh là luôn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tìm tòi, phát triển lý luận, tìm ra cái mới phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nhận thức về các quy luật phát triển chung của xã hội và thời đại. Tư duy đó luôn hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ của mình bằng những kiến thức rất phong phú, sâu rộng.

Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung, chủ yếu là tác phong quần chúng, tác phong tập thể – dân chủ, tác phong khoa học.

Tác phong quần chúng được thể hiện qua niềm tin yêu và tôn trọng con người; sự sâu sát quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng; sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Tác phong tập thể – dân chủ Hồ Chí Minh là luôn luôn tạo ra không khí sôi nổi, hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo trong tập thể. Người chỉ ra những hệ lụy của làm việc không tập thể, không dân chủ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “nội bộ của Đảng âm u”, “uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”, cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng xa rời cán bộ, đảng viên… Tác phong khoa học Hồ Chí Minh tập trung ở những điểm chủ yếu như: làm việc đi sâu, đi sát cơ sở, có điều tra nghiên cứu, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể… Biết sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo dối trá, những phương án thiếu trung thực. Biết sử dụng bộ máy, những người cộng sự, những cơ quan giúp việc. Thường xuyên đặt ra chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng…

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là cách nói, cách viết trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc. Người đặt ra bốn vấn đề khi nói và viết là: Nói, viết cái gì?; Nói, viết cho ai?; Nói, viết để làm gì?; Nói, viết như thế nào? Đây là những vấn đề có tính nguyên tắc, định hướng cho việc nói và viết của mỗi người, nhất là đối với người lãnh đạo. Mặc dù công việc rất bận nhưng Hồ Chí Minh đã viết hơn 2.000 bài báo với hơn 100 bút danh khác nhau. Đặc trưng cơ bản trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là: chân thực, ngắn gọn, rõ ràng, trong sáng, giản dị, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, không màu mè, lắt léo, quanh co… Người căn dặn phải chống các bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, sính dùng chữ nước ngoài, thậm chí không hiểu cũng dùng; chống “thói ba hoa”…

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự ứng xử trên một bình diện văn hóa cao. Đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình, vừa chủ động linh hoạt lại vừa ân cần, tế nhị, tự nhiên, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều cảm thấy không khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không e ngại, sợ sệt, không còn sự cách biệt giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa vĩ nhân với bình dân. Trong quan hệ với mọi người, Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng, khiêm nhường, sự khoan dung, độ lượng với con người. Chính vì vậy mà sức cuốn hút, cảm hóa, cảm phục, ngưỡng mộ và thôi thúc mọi người hướng tới Người, hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống, trong công tác, học tập, trong xây dựng và phát triển…

Phong cách sống, sinh hoạt Hồ Chí Minh có nhiều nét đã trở thành huyền thoại không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với cả thế giới. Đó là sự giản dị, thanh đạm, thanh cao trong sinh hoạt hàng ngày; là cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian, không ham muốn danh lợi riêng cho mình. Đó là tình thương yêu con người quyện với tình yêu thiên nhiên, tạo nên tinh thần lạc quan của người chiến sỹ, kết hợp chặt chẽ với những rung động say mê của một tâm hồn nghệ sĩ.

Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, nhân cách, lối sống Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống của Người, để Người trở thành sự toàn vẹn, với một cuộc sống trọn vẹn. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện cuộc đời của Người, không cần đến bất cứ sự trang sức nào. Người không phải cố ý sống khác đời để mọi người ca ngợi, mà phong cách của Người xuất phát từ một triết lý nhân sinh là lấy khiêm tốn, giản dị làm nền; lấy chừng mực đức độ làm chuẩn; lấy trong sạch thanh cao làm vui; lấy gắn bó với con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trên vị trí công tác. Trên cơ sở trung thành, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng, lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong giai đoạn mới, góp phần tạo nên những động lực mới cho sự phát triển đất nước.

Học tập và làm theo phong cách làm việc Hồ Chí Minh, cần thực sự sâu sát quần chúng, tin yêu và tôn trọng quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Thực hiện và phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ trong Đảng, trong tổ chức sinh hoạt Đảng. Có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, hợp tác; có chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực. Nói và viết dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc; duy trì kỷ luật phát ngôn.

Học tập phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, xây dựng cho mình cách ứng xử có văn hóa với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em. Xuất phát từ thái độ yêu thương, quý mến con người, trân trọng con người, khoan dung, khiêm nhường, độ lượng với con người để có sự ứng xử tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình với mọi người. Xây dựng thái độ ứng xử với tự nhiên, môi trường đúng đắn, trách nhiệm, cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng môi trường sinh thái trong sạch, bền vững.

Học tập phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh, xây dựng lối sống giản dị, thanh cao, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian; tinh thần lạc quan, tự trọng và tôn trọng cộng đồng, xã hội.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh để mỗi chúng ta tự phấn đấu, vươn lên, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, làm việc có hiệu quả hơn.

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua mang lại cho chúng ta một nhận thức mới, giản dị nhưng rất quan trọng là học tập và làm theo Bác là công việc của mỗi người và mọi người.

Với mỗi người, khi trăn trở, vật lộn với cuộc sống làm cho chúng ta đôi khi sao lãng việc rèn luyện đạo đức. Với toàn xã hội, sự tập trung quá mức vào các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng để khắc phục nguy cơ tụt hậu, đuổi kịp các nước trong khu vực…, với bối cảnh kinh tế thị trường như một cơn lốc ập đến, tình trạng lệch chuẩn, loạn chuẩn trong xã hội ngày càng gia tăng. Tình trạng xem thường, không đánh giá đúng, hoặc không coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, vị tiền… đã dẫn đến những trả giá… Và Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hơn bốn năm qua đã góp phần mang đến sự thay đổi trong nhận thức, dù không phải là mới, được nhiều người chấp nhận: học tập và rèn luyện về đạo đức trước hết là của mỗi người, vì chính mình và phải luôn nêu gương về đạo đức. Sự trả giá nào đó trong những cuộc đời, gia đình và xã hội làm cơ sở để mọi người càng thấy rõ hơn “tính di truyền xã hội” của đạo đức, ý nghĩa và trách nhiệm trong sự nêu gương. Bác Hồ dạy, ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng. Đó là sự khẳng định về một nguyên tắc thực hành đạo đức, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tự mình rèn luyện đạo đức của mỗi người.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên cùng tập thể. Đứng trước những bão táp, mưa sa của cuộc sống vận động với tốc độ của âm thanh, ánh sáng thời công nghệ số, mỗi người đều cần đến một chỗ dựa từ tập thể. Việc đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị là một biện pháp quan trọng. Duy trì sinh hoạt thường xuyên, trong sinh hoạt định kỳ có nội dung trao đổi, thảo luận về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong tập thể, phát hiện những vấn đề nảy sinh về đạo đức, lối sống để chấn chỉnh, phát hiện những việc tốt, người tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến để học tập và noi theo… Hàng năm có tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, chú trọng công tác thi đua khen thưởng, động viên, khuyến khích kịp thời để các điển hình tiên tiến ngày càng nhiều thêm, nảy nở như hoa mùa xuân. Tổ chức đảng, chính quyền cấp trên chú trọng công tác kiểm tra, giúp cơ sở thực hiện đúng định hướng và có hiệu quả thiết thực.

Trong thực hiện Chỉ thị lần này cần chú trọng hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Bác Hồ đã dạy “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Điều ấy đang được thể hiện trong mục tiêu “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” của ngành giáo dục. Dạy chữ luôn luôn là quan trọng hàng đầu. Nhưng trong điều kiện cách mạng công nghệ và “thời của Internet”, không thể và không cần đưa hết tri thức của nhân loại hiện có vào các chương trình đào tạo, đặc biệt là trong các trường phổ thông. Một số môn học có thể được giảm tải, tích hợp, chuyển thành môn tự chọn theo các định hướng nhất định…, để dành thời gian cho dạy người và dạy nghề. Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng các chương trình giáo dục đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các cấp học, bậc học. Thực hiện “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đưa nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh vào chính khóa là thực hiện lời dạy của Người, đó là “giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”.

Bước vào năm mới, vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, của dân tộc, mỗi người trong chúng ta hãy tự mình học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập và làm theo Bác cho “lòng ta trong sáng hơn”./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lời Người dạy ta

Trong bao câu chữ của đời
Hiếu Trung hai chữ lời Người dạy ta
Trung là trung với nước nhà
Hiếu là hiếu với dân ta muôn đời

Trong bao câu chữ của đời
Cần, Kiệm, Liêm, Chính lời Người dạy ta
Cần, Kiệm xây dựng nước nhà
Liêm, Chính là để chúng ta thành người

Mô tả ảnh.

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Đoàn Kết lời Người dạy ta
Kết Đoàn là một bài ca
Làm nên sức mạnh dân ta bao đời

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Nhân ái lời Người dạy ta
Yêu người, yêu nước, yêu nhà
Nhân dân là gốc, bài ca muôn đời./.

Thái Ninh

baonamdinh.com.vn