Archive | Tháng Hai 2012

Một đời thanh bạch chẳng vàng son

Trong bài thơ “Khóc Bác” tiễn Bác theo thế giới người hiền, nhà thơ Tố Hữu có viết: “Một đời thanh bạch chẳng vàng son, mong manh áo vải hồn muôn trượng, hơn tượng đồng phơi những lối mòn…”

Cuộc đời 79 mùa xuân của Bác chỉ biết lo cho dân nước. Bác hy sinh hạnh phúc riêng tư cho hạnh phúc dân tộc. Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta độc lập, dân tộc ta được tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hai mốt tuổi, tại bến Nhà Rồng, Người lên tàu xuất dương tìm đường cứu nước. Có người hỏi: “ở nước ngoài, làm gì để sống?” Bác cười chỉ vào 2 bàn tay. Bác làm đủ việc : rửa bát, hầu bàn, chụp hình, viết báo… Cho đến khi làm Chủ tịch Nước, bữa cơm của Người cũng chỉ giản dị đĩa cá kho, bát canh rau và món mắm quê hương xứ Nghệ. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người được ăn cơm với Bác nhiều nhất bảo: “Ông cụ, bữa cơm, lúc nào cũng tóm vén, nhắc mọi người ăn cho hết. Ai để sót cơm, bị Bác phê bình là lãng phí sức lao động của người nông dân”.

Ngày Bác về thăm quê, Tỉnh ủy Nghệ An mời cơm. Thấy thức ăn nhiều, Bác sớt để riêng bảo: “để người khác khỏi ăn thừa!”

Ngày Cách mạng Tháng 8 thành công, Chính phủ bố trí Bác ở nhà Toàn quyền, Bác từ chối xin ra ở nhà sàn – Phủ Chủ tịch, sáng chiều tập thể dục, trồng cây, nuôi cá. Dừa, cam có trái, Bác hái chia quà. Rau, cá thu hoạch Bác đem cho nhà bếp, góp phần cải thiện bữa ăn cho cơ quan.

Một hợp tác xã Hà Nội có nghề đúc đồng truyền thống, xin được đúc tượng Bác, Bác bảo:

– Nước đang có chiến tranh, để dành đồng đúc súng đạn đánh Mỹ, nếu có đúc, nên đúc tượng anh hùng liệt sĩ, đúc tượng Bác làm gì?

Thấy áo Bác sờn rách, đồng chí phục vụ xin thay, Bác bảo:

– Rách có tí, vá cho Bác! Đồng chí phục vụ bảo:

– “ Chủ tịch nước, ai lại mặc áo vá.”

Bác cười bảo: “Có ông Chủ tích nước mặc áo vá là hạnh phúc cho dân lắm!”

Bác có một bộ vét bằng kaki vàng, dùng đi nước ngoài, ngoại giao, dự lễ, bị sờn. Anh em bàn nhau bí mật thay mới. Tìm vải tốt, nhưng làm màu hơi cũ đi như màu áo Bác để Bác không phát hiện. Ay thế mà ông cụ tinh, biết, phê bình.

Thường thì Bác mặc quần áo nâu, đi dép cao su (còn gọi là dép râu). Dùng lâu, một hôm dép đứt 1 chiếc quai. Đồng chí phục vụ báo cáo Bác thay đôi mới, Bác bảo: đứt quai thì thay quai, chứ sao lại mua mới, phí. Đồng chí phục vụ quay mặt đi, khóc, thương Bác quá. Trước tấm gương đạo đức sáng ngời của Người, nhân dân ta tự hào về Người, nguyện học tập và làm theo mãi mãi.

quangbinh.gov.vn

Học theo Bác, một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc

Năm 1959, chúng tôi là những nữ sinh miền Nam đang theo học tại trường phổ thông cấp III Nguyễn Trãi. Trường chúng tôi ở số 30 đường Phan Đình Phùng thuộc khu Ba Đình, Hà Nội. Vì là nữ sinh miền Nam, lại ở nội trú, dễ tập họp, nên mỗi khi Bác Hồ đón khách quốc tế, chúng tôi thường được triệu tập đến phủ Chủ tịch để rải hoa đón khách.

Một lần, trong khi chờ khách đến, biết chúng tôi đang ở đó, Bác Hồ ra cổng và chúng tôi ùa tới vây quanh Bác, nói cười ríu rít rồi xin Bác cho chụp ảnh chung. Bác đồng ý và nói: – Các cháu xếp hàng lại đi, lớn đứng trước, nhỏ đứng sau. Các cháu đồng ý không? Chúng tôi mừng quá chẳng cần suy nghĩ, vội vàng hô vang: – Đồng ý, đồng ý. Thế là Bác liền rầy: – Bác nói, lớn đứng trước, nhỏ đứng sau, thế mà các cháu cũng đồng ý à? Lúc bấy giờ chúng tôi mới chưng hửng.


Bác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh TL

Bác nói tiếp: – Dù là Bác nói, cũng phải suy nghĩ xem đúng, sai, rồi mới đồng ý. Một bài học thật nhẹ nhàng phải không các bạn. Nhưng với chúng tôi, những nữ sinh miền Nam ngày ấy, vẫn nhớ suốt đời.

* Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 4-5 – NXB Sự thật, năm 1985.
** Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X.

honvietquochoc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh – một con người, một sự nghiệp mà tên tuổi của Người gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Tư tưởng đó đã thôi thúc nhiệt tình cháy bỏng của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, mới ngoài 20 tuổi đời đã rời quê hương thân yêu đang bị bọn thực dân phong kiến, cai trị để đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

2_ng_x11-450.jpgNguyễn Ái Quốc và lớp bồi dưỡng lý luận chính trị tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Ảnh: Tuấn Anh

Qua bao năm bôn ba ở nước ngoài, đi đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước văn minh nhất và những nước lạc hậu nhất ở châu á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ la tinh. ở đâu Hồ Chí Minh cũng thấy bộ mặt thật của bọn thực dân, đế quốc. Và Người đã rút ra kết luận, bọn thực dân, đế quốc như con đỉa hai vòi, một vòi bám vào các nước thuộc địa, một vòi bám vào chính quốc. Chúng là một bè lũ xâm lược xảo quyệt và tàn bạo. Không chỉ ở những nước thuộc địa, nhân dân bản xứ mới bị nô dịch, bị áp bức bóc lột đến tận xương tuỷ, mà ngay ở chính quốc, những người lao động và tầng lớp dưới cũng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, bị bần cùng hoá do chính giai cấp tư sản và bọn thực dân, đế quốc gây ra cho đồng bào mình dân tộc mình.

Trong những năm sống ở đất khách quê người, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc học tập nghiên cứu lý luận. Người đã tìm hiểu ở những người bạn Pháp, những người cách mạng cùng chí hướng để bổ sung cho mình những nhận thức mới về những gì ẩn giấu đằng sau các từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” mà bọn xâm lược thường rêu rao. Trở thành đảng viên Đảng xã hội Pháp vào năm 1919, một đảng tiến bộ lúc bấy giờ và cùng với những đảng viên ưu tú của Đảng xã hội Pháp bỏ phiếu tán thành Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập, Hồ Chí Minh trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đây, Người được trực tiếp đọc các trước tác của C. Mác Ph. ăngghen, V.I. Lênin. Được vũ trang bằng chủ nghĩa Lênin và được cổ vũ bởi Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại từ một người yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã trở thành một người cộng sản kiên cường, một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và cách mạng Việt Nam. Người là hiện thân của tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần cách mạng triệt để, vô song của nhân dân Việt Nam hơn bảy thập kỷ qua. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lênin với tất cả những thiện cảm và tư tưởng của một người khát khao độc lập tự do cho đất nước hạnh phúc cho nhân dân. Người kể lại rằng: “Luận Cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”1

Trong những di sản mà Hồ Chi Minh để lại cho Đảng ta, cho cách mạng Việt Nam có rất nhiều tư tưởng và quan điểm mà Đảng ta đã và đang vận dụng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tư tưởng của Người là vô cùng phong phú, đề cập đến rất nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, về xây dựng đảng, về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân… Bài viết này chỉ đề cập đến bốn tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thưc tiễn đối với cách mạng Việt Nam trước đây và hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam thể hiện trên những vấn đề sau.

1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Là một người yêu nước, thương dân, ngay từ thời niên thiếu Hồ Chí Minh đã chứng kiến sự ngang trái, bất công của xã hội đương thời, của bọn vua quan phong kiến và bọn thực dân, đế quốc xâm lược. Người rất đau lòng trước cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân một cổ hai tròng, không được làm người với tư cách là một con người, sản phẩm của tạo hóa sinh ra. Với tư chất thông minh lại được sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, được chứng kiến cảnh khổ đau của dân tộc, Hồ Chí Minh đã nung nấu trong lòng một ý chí, một quyết tâm giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân, đế quốc. Chính tư tưởng này đã đẩy chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh lên tầm cao mới vượt khỏi Chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà yêu nước tiền bối khác. Hồ Chí Minh đã tạm gác việc nhà, hy sinh hạnh phúc gia đình để tìm đường cứu nước, cứu dân. Với một tư duy sắc sảo, có tầm nhìn xa, trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấu hiểu tâm địa và bản chất của kẻ thù, đồng thời cũng biết được chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng, biết được chí khí và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Người nói “…chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”2. Đây là đặc điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà những người yêu nước đàn anh của Người chưa vươn tới.

Từ một người yêu nước trở thành một đảng viên cộng sản, một nhà cách mạng kiệt xuất, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh luôn canh cánh bên lòng nỗi yêu nước, thương dân. Người nói, chừng nào nước nhà chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do thì tôi ăn chưa ngon ngủ chưa yên. Bởi vậy, suốt đời Hồ Chí Minh đã đem hết tâm trí, nghị lực để đấu tranh cho sự trường tồn của dân tộc, nước nhà sạch bóng quân thù, xóa bỏ áp bức, bất công xã hội, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Khác với những nhà yêu nước khác, muốn dựa vào “lòng tốt” của tư bản nước ngoài để đòi độc lập tự do cho đất nước mình, theo kiểu “cõng rắn cắn gà nhà”, Hồ Chí Minh nhận thức một cách sâu sắc rằng muốn giành được độc lập phải dùng sức ta mà giải phóng cho ta. Người phân biệt một cách rõ ràng, bọn thực dân, đế quốc, giai cấp tư sản phản động với những người cách mạng, những người yêu nước và nhân dân lao động ở chính quốc. Do đó, một mặt phải có thái độ kiên quyết với kẻ thù, đấu tranh không khoan nhượng với chúng, không mơ hồ ảo tưởng vào những luận điệu giả nhân, giả nghĩa của chúng. Mặt khác, luôn luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới, với phương châm thêm bạn bớt thù để làm cho sức ta ngày càng mạnh lên, đồng thời để cô lập và đánh bại kẻ thù. Rõ ràng tư tưởng cứu nước, cứu dân và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã vượt xa tư tưởng giải phóng dân tộc của những nhà yêu nước khác. Điều này đã được lịch sử chứng minh hoàn toàn đúng đắn.

Tư tưởng giải phóng dân tộc và con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người nói, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Chính tư tưởng này đã chỉ đạo Hồ Chí Minh và Đảng ta trong việc đề ra chiến lược và sách lược cách mạng trong việc tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta vùng lên đấu tranh phá xích xiềng nô lệ của bọn thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh của một nước thuộc địa, nửa phong kiến, một nước nông nghiệp lạc hậu, nhân dân sống lầm than, khổ cực cùng với giặc ngoại xâm thì giặc đói, giặc dốt cũng đe dọa không kém. Nhưng với truyền thống quật cường của dân tộc, với tài thao lược của cha ông, được Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Lênin dẫn đường, Hồ Chí Minh đã quyết chí, bền lòng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng với một quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất”3 Và Người tin rằng “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ. Vậy ta là chính nghĩa, địch là tà. Chính nhất định thắng tà.”4

Hồ Chí Minh tỏ rõ thái độ và quyết tâm chống thực dân, đế quốc đến cùng để giải phóng dân tộc. Cho dù chiến tranh có thể kéo dài, nhân dân ta có thể chịu đựng nhiều hy sinh, gian khổ, nhưng chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Người kêu gọi đẩy mạnh kháng chiến với tinh thần “Chúng ta phải hy sinh, chịu khổ và phải gắng sức. Nhưng chúng ta quyết hy sinh, chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá ta xiềng xích nô lệ hơn 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sau”5.

Như vậy, tư tưởng độc lập dân tộc và con đường giái phóng dân tộc cúa Hồ Chí Minh là nhất quán, trước sau như một, dù có khó khăn gian khổ đến mấy, dù có tổn thất hy sinh bao nhiêu cũng quyết tâm kháng chiến, chống thực dân, đế quốc đến cùng và phải giành cho được độc lập, tự do cho nước, cho dân và trước khi từ giã cõi đời này, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, cho thế hệ hôm nay và mai sau một bản Di chúc lịch sử, trong đó Người khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể có kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, con nước, còn người

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và quyết tâm chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn ở miền Nam, lập nên chiến thắng vĩ đại vào mùa xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2. Giương cao hai ngọn cờ: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Từ khi đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh luôn ấp ủ trong lòng mình một hoài bão là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được ấm no hạnh phúc, mọi người trong xã hội được bình đẳng, không còn chế độ người bóc lột người. Tư tưởng đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động Cách mạng gần 60 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người cho rằng, độc lập rồi mà nhân dân không được ấm no hạnh phúc, không được học hành thì nền độc lập đó cũng trở nên vô nghĩa, không thực hiện được mục đích cuối cùng của cách mạng và như vậy là có tội với dân tộc. Cho nên, việc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, không chỉ Người đã hấp thụ chủ nghĩa Mác – Lênin, được Cách mạng Tháng Mười Nga soi sáng, cổ vũ, mà với thiên tài của mình, Người đã nhìn thấy xu hướng phát triển của lịch sử, của thời đại là chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thì mới thực hiện triệt để mục tiêu của cách mạng nước ta, nếu không thì cũng chỉ mới một nửa cách mạng.

Về lý luận và thực tiễn đã chứng minh luận điểm độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn, và đó là sự lựa chọn duy nhất của người cộng sản, của cách mạng vô sản ngoài ra không có con đường nào khác. Cũng phải khẳng định rằng con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật, hơp với tiến trình lịch sử – tự nhiên. Nhưng đây cũng là một sự lựa chọn khó khăn đối với rất nhiều nước trong thế giới đương đại. Điều này lý giải vì sao hiện nay có rất nhiều nước giành được độc lập rồi nhưng vẫn còn dừng lại ở cách mạng dân tộc, dân chủ, chưa tiến lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí có những nước đi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa. Ngay cả Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sau khi tan rã lại quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa gia nhập NATO, một liên minh quân sự của các nước đế quốc mà cách đây không lâu là một đối trọng của các nước Đông Âu.

Đối với Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ đầu đã xác định rõ con đường đi của mình là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”7. Đây là một quyết định sáng suốt, dứt khoát có ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của đất nước ta, dân tộc ta. Chính nhờ giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên sau khi giải phóng một nửa đất nước ở miền Bắc vào năm 1954 và giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, Đảng ta chủ trương thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và 25 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước tuy còn nhiều khó khăn, thử thách lớn lao phải vượt qua, nhưng những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được trong mấy chục năm qua nhất là 15 năm đổi mới đất nước có ý nghĩa quan trọng. Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: nước ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Với đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng ta, đất nước ta tiếp tục phát triển đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

3. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, chống chia rẽ, bè phái

Đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn, thường trực trong con người Hồ Chí Minh. ở Người, hai từ Đoàn kết được vận dụng nhuần nhuyễn trong mỗi hành động, mỗi lời nói đối với mọi người ở đâu, bao giờ Người cũng luôn luôn nói đến đoàn kết nhất trí, nói đến sức mạnh của tập thể, của cộng đồng. Bởi lẽ, đó chính là nguyên nhân dẫn đến mọi thắng lợi, biến yếu thành mạnh, biến khó thành dễ. Người nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Chính nhờ có đoàn kết nhất trí, chung sức, chung lòng mà từ buổi bình minh của lịch sử và trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước ông cha ta đã chiến thắng biết bao kẻ thù, vượt qua biết bao gian lao thử thách để giữ cho sự phát triển vững bền của đất nước sự trường tồn của con Lạc, cháu Hồng.

Ngay trong những thời điểm kháng chiến ác liệt nhất chống kẻ thù xâm lược, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn Đảng toàn quân toàn dân đoàn kết chống kẻ thù. Người hiệu triệu: “Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc”. Và “Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn răng chịu đựng nền tự do muôn ngàn đời sắp tới thì cũng bỏ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính thì cuộc trường kỳ kháng chiến của chúng ta nhất định vững vàng”8.

Hồ Chí Minh không chỉ là người thừa kế và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc ta từ ngàn xưa mà Người còn là một tấm gương sáng về thực hiện đoàn kết. Nội hàm về đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, nó bao hàm cả sự khoan dung đối với mọi người và sự đấu tranh tự phê bình và phê bình trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đoàn kết tất cả các lực lượng, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc, đoàn kết trong đảng và ngoài xã hội, đoàn kết Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. “Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ, đồng bào ta trở thành những người anh hùng. Do đó chúng ta đã đánh thắng các liên minh ghê tởm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai”.9

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đoàn kết nhất trí, làm sao cho triệu người như một, đồng tâm hiệp lực nhất hô bá ứng thì bất cứ nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn Đảng ta “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình”.Và không chỉ thế, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến sự đoàn kết quốc tế, đến các đảng cộng sản anh em. Người tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng cũng rất đau lòng vì sự bất hòa của các đảng anh em và “mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đại đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình”.

Đối với Hồ Chí Minh chỉ có một nguyên tắc là đoàn kết nhất trí, do đó Người rất ghét những tư tưởng chia rẽ bè phái. Coi đó như một loại kẻ thù nguy hiểm cần phải chống lại, cần phải kiên quyết đấu tranh. Nếu không sẽ làm suy yếu nội bộ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng với chế độ. Trong thực tế Đảng ta đã vận dụng đúng đắn tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh nên đã tập hợp được tất cả mọi lực lượng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác cho đến thắng lợi hoàn toàn.

4. Tư tưởng Hồ Chi Minh về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

Ngay trong những ngày đầu tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy một sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam – một dân tộc anh hùng có bốn ngàn năm lịch sử, một dân tộc giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc này vẫn ngẩng cao đầu, không chịu khuất phục trước lưỡi lê, họng súng và uy vũ của quân thù. Nhưng Hồ Chí Minh cũng tự đặt ra cho mình một câu hỏi. Vì sao, với một dân tộc anh hùng như vậy, nhưng không đánh đuổi được thực dân Pháp xâm lược, mà phải chịu 80 năm đô hộ? Phải chăng, lúc đương thời chưa có những lãnh tụ cách mạng đủ sức, đủ tầm để vạch ra đường lối đúng đắn chống thực dân, phong kiến. Phải chăng, ông cha ta chưa biết khơi dậy sức mạnh của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc? Về một khía cạnh nào đó những vấn đề nêu trên thật có lý, nhưng không hoàn toàn đúng. Bởi, ngoài những lý do đó còn có vấn đề nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, biết đánh và biết thắng kẻ thù, biết kết hợp sức mạnh bên trong và sức mạnh bên ngoài, sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã có công lao to lớn trong việc gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Người luôn coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Do đó, Người chủ trương khơi dậy sức mạnh của dân tộc, động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn dân, huy động tối đa sức người, sức của vào công việc kháng chiến và kiến quốc. Mặt khác, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, của các đảng cộng sản anh em cả về tinh thần lẫn vật chất, cả đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao làm cho kẻ thù ngày càng bị cô lập bị chia rẽ và suy yếu.

Lịch sử đấu tranh chống thực dân, đế quốc và phong kiến của nhân dân ta đã chứng minh, trong những thời điểm khó khăn, phức tạp nhất, quyết liệt nhất, nếu biết phát huy sức mạnh tổng hợp từ bên trong và bên ngoài, biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại thì sẽ nhân sức mạnh của cách mạng, của dân tộc lên gấp nhiều lần. Và đó là một trong những nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng, cho sự phát triển bền vững của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

TS. Phạm Hảo (Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4(41)/2000)

hochiminhhoc.com

Mấy suy nghĩ về việc học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm guơng đạo đức Hồ Chí Minh được Đảng phát động đến nay đã gần hai năm. Đã có rất nhiều hình thức sôi động đem lại những hiệu quả thiết thực cho phong trào có ý nghĩa sâu sắc này. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều bài viết về đạo đức, tác phong sinh hoạt của Bác; nhiều tin tức phản ảnh sự hưởng ứng rộng khắp cuộc vận động ở các ngành, các địa phương. Đáng chú ý là cuộc thi kể chuyện đạo đức Bác Hồ do Ban Chỉ đạo cuộc vận động Trung Ương phát động, đã làm tăng thêm sự sôi động từ cơ sở đến các ngành ở Trung Ương trong phong trào này. Buổi tổng kết đã được tổ chức trọng thể ở Hà Nội và đích thân đồng chí Tổng Bí thư trao giải thưởng cho những người đoạt giải cũng đã chứng minh tính chất quan trọng của cuộc thi.

Tuy nhiên, dư luận rộng rãi cho là cuộc vận động vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, còn có tính chất rầm rộ phô trương chứ chưa đi sâu vào thực chất yêu cầu đề ra. Điều mà xã hội quan tâm đã học rồi, nhưng làm theo Bác mới là quan trọng. Và việc làm theo đó, trước hết phải là trong cán bộ, Đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo từ Trung Ương đến cơ sở. Mặt khác, những việc làm theo đó đã đạt được những hiệu quả cụ thể, thiết thực như thế nào phải được thông báo rộng rãi để khích lệ phong trào, đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu.

Thực ra, đạo đức Bác Hồ đã được Bác cô đọng trong mấy chữ: “Trung với nước, hiếu với dân” và “cần – kiệm – liêm – chính, chí công vô tư”. Bác cũng đã giải thích rõ cần, kiệm, liêm, chính là thế nào trong bài viết rất sâu sắc và súc tích từ năm 1949*. Ở Bác Hồ, đạo đức gắn liền với tác phong sinh hoạt, lề lối làm việc, quan hệ ứng xử, văn hoá giao tiếp. Đương nhiên, tình hình kinh tế xã hội thời hoạt động của Bác khác với hiện nay, nhưng tác phong, đạo đức của Bác vẫn luôn là một hình mẫu vừa mang tính bền vững, vừa mang tính thời sự cho mọi đối tượng trong xã hội chúng ta, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cả dân sự và quân sự, cả thế hệ hôm nay và mai sau.

Học tập và làm theo Bác cũng không phải cứng nhắc, làm y như Bác một cách thô thiển. Ngày trước, khi đi công tác, giờ ăn trưa, Bác không vào trụ sở của tỉnh vì ngại phiền địa phương, Bác cùng anh em lái xe, cần vụ, giúp việc đưa cơm nắm ra ăn và trải ni-lông nằm nghỉ dưới gốc cây, sau đó mới vào làm việc. Nay thì các vị nguyên thủ của ta không thể làm thế. Vì nếu làm như thế thì có thể bị cho là giả tạo! Nhưng cái chính là phải học và làm theo cái gương không gây phiền hà cho địa phương của Bác.

Có chuyện kể lại rằng, thời chống Pháp, giấy viết hiếm, Bác thường nhặt các phong bì còn một mặt viết được để sử dụng. Bây giờ thì trong các cơ quan không ai làm như Bác vì giấy viết không phải quá hiếm, nhưng cái cần học tập ở Bác là phải biết tiết kiệm, cái gìvật gì còn dùng được thì sửa sang mà dùng, không tốn tiền nhà nước để mua sắm mới. Nhưng hiện nay thì các cơ quan nhà nước ta còn quá lãng phí: ô tô còn chạy tốt đã thay, bàn ghế còn tốt đã phế đi để đóng mới; vào dịp cuối năm, mừng Tết thì Thiệp chúc mừng và lịch biếu được in vô tội vạ, trong khi nhiều học sinh nghèo không có tiền mua sách giáo khoa.

Những sinh hoạt của Bác như thế có thể coi là chuyện thường ngày. Ở nước ta, trong cuộc đấu tranh chống lãng phí, nếu các cán bộ, công chức đều có ý thức học tập và làm theo tấm gương tiết kiệm như Bác, chắc sẽ đem lại lợi ích không nhỏ. Nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đến nay mới đạt 1.000 USD một đầu người trong một năm, nhưng xem ra việc tiêu xài ở các cơ quan công quyền vẫn còn khá lãng phí.

Vừa qua, trong kỳ họp Quốc hội cuối năm, khi thảo luận về chống lãng phí, có đại biểu đã phát biểu là nước ta đang có bệnh “hoành tráng” nghĩa là cái gì cũng muốn cho oai, phô trương, hình thức, tiêu tiền công không tiếc! Đấy là chưa nói đến việc lãng phí thời gian, công sức. Nếu Bác còn sống, chắc Bác sẽ phê bình nghiêm khắc.

Năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang rất ác liệt, chính quyền còn rất non trẻ, nhưng trong đội ngũ cán bộ đã có biểu hiện quan liêu, cục bộ, hẹp hòi, địa phương…, Bác đã viết tài liệu “Sửa đổi lề lối làm việc” để cho cán bộ Đảng, nhà nước, quân đội học tập nhằm chống các căn bệnh trên. Bác đề cao đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng. Có thể nói, tất cả những điều Bác viết trong tài liệu này cho đến nay vẫn đậm tính thời sự, đặc biệt trong tình hình mà “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đang diễn ra nghiêm trọng**.

Do đó,việc phát động cuộc vận động học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết, nếu không nói lẽ ra cần phải sớm hơn. Nhưng học chỉ là một vế, còn vế quan trọng hơn là làm theo, vì đây mới là mục tiêu chủ yếu của cuộc vận động. Dư luận cả nước hy vọng là trong thời gian tới, việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác sẽ gặt hái được nhiều kết quả thiết thực, cụ thể, to lớn hơn.

Cuối năm 2008

honvietquochoc.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ là minh chứng cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc mà còn là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đây là một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho thành công của cách mạng Việt Nam.

images332462_BH.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển từ cơ sở lý luận, thực tiễn của mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) và đặt ách thống trị ở nước ta cho đến đầu thế kỷ XX, các ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã liên tục dấy lên. Nhân dân ta đã chiến đấu rất quyết liệt và anh dũng, song tất cả đã bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Bởi lẽ lãnh đạo các cuộc kháng chiến là các sỹ phu, văn thân mang nặng ý thức hệ phong kiến hoặc ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, đường lối cứu nước không rõ ràng. Thực tiễn lịch sử các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ rằng, không thể giải quyết vấn đề dân tộc, giành độc lập dân tộc dựa trên những quan điểm phong kiến, hay tư sản.

Lịch sử dân tộc đặt ra một đòi hỏi cần có một lực lượng lãnh đạo đất nước với một con đường cứu nước mới, có khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân tộc để đưa dân tộc ta đến độc lập tự do thực sự. Trong điều kiện lịch sử ấy, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Điểm xuất phát và là động lực tinh thần của sự ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc là để luôn nhắc nhở bản thân và cổ vũ đồng bào mình. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đã nghiên cứu khảo sát nhiều cuộc cách mạng trên thế giới. Nghiên cứu cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Mỹ 1776, cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, Người đã chỉ ra rằng, mặc dù cách mạng tư sản đã thành công, chủ nghĩa tư bản đã xây dựng và phát triển hàng trăm năm ở những nước này, nhưng “công nông vẫn cực khổ”, vì tính chất không triệt để của cách mạng tư sản, trong thì “tước lục công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa”.

Nghiên cứu Cách mạng Nga và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người dã rút ra kết luận quan trọng: Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như thực dân Pháp khoe khoang bên An Nam. Người rút ra kết luận: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”[1]. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là cách mạng vô sản”[2].

Tư tưởng này của Người đã chỉ ra rằng, ở Việt Nam cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa địa chủ với nông dân, giữa giai cấp vô sản với tư sản, giữa toàn dân tộc với thực dân đế quốc xâm lược phải theo lập trường của giai cấp công nhân. Cuộc cách mạng đó phải dựa vào lực lượng của toàn dân tộc, của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng. Xuất phát từ quan điểm đó, Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam. Sau nhiều năm chuẩn bị, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng vào mùa xuân 1930. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Người soạn thảo đã khẳng định tư tưởng con đường cứu nước đúng đắn là phải gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và xã hội. Đường lối chiến lược đó đáp ứng nhu cầu lịch sử của dân tộc và phù hợp với xu thế thời đại.

Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng hy sinh, phấn đấu vì độc lập thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng hết lòng phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Với những thắng lợi mà nhân dân ta đã giành được, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế ngày càng rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và thế giới. Những thắng lợi đó có được là nhờ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu. Đây chính là minh chứng hùng hồn về sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”[3].

Vậy mà hiện nay, một trong những ngón đòn tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc. Các thế lực thù địch cố chứng minh rằng, mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một nước nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối; rằng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc; rằng Hồ Chí Minh du nhập học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin đã dẫn đến cảnh “nồi da nấu thịt”.

Theo họ ở nước ta hiện nay chỉ nên đề ra giải quyết vấn đề dân tộc còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Thực chất của những luận điệu xuyên tạc lừa mị ấy là phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam; tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp tư sản. Những quan điểm ấy đã bị cả lý luận và thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua bác bỏ.

2. Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, là tiền đề để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đặt cách mạng dân chủ nhân dân trong phạm trù của cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội chính là tính toàn diện, triệt để của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ thực tế xã hội Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh chỉ rõ mâu thuẫn chủ yếu, nổi bật cấp bách cần giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai bán nước. Vì vậy, ở giai đoạn đầu của cách mạng cần đặt vấn đề dân tộc lên trên hết. Từ đó, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu cốt yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam là giành độc lập dân tộc.

Đây là quan điểm mà Hồ Chí Minh kiên trì và nhất quán từ khi Người tìm ra con đường cách mạng Việt Nam. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã triệu tập và chủ trì hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám của Đảng (5-1941). Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc.

Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[4]. Ở đây, rõ ràng vấn đề giai cấp được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với lợi ích quốc gia dân tộc, vấn đề dân tộc được giải quyết theo lập trường của giai cấp công nhân, chứ đâu phải là sự “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người đã cố tình xuyên tạc. Thực tiễn cho thấy, mục tiêu độc lập dân tộc được đặt ra và giải quyết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thông qua đội tiền phong của của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam đã thức tỉnh cổ vũ động viên cả dân tộc Việt Nam đấu tranh chống thực dân, đế quốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng tám 1945 đã minh chứng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau cách mạng Tháng tám năm 1945, độc lập dân tộc đứng trước thủ thách mới, bảo vệ độc lập dân tộc lúc này là sự sống còn đối với đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Thời kỳ đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cùng với tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc phải đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước. Như vậy, với Hồ Chí Minh để đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề cần giải quyết trước tiên là phải có độc lập dân tộc. Giành độc lập dân tộc mới có điều kiện xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang nội dung sâu sắc và triệt để. Đó phải là một nền độc lập thật sự, các quyền dân tộc cơ bản được bảo đảm, độc lập, dân chủ phải trên nguyên tắc nước Việt Nam của người Việt Nam; độc lập phải gắn với quyền tự quyết dân tộc.

3. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được tiến hành triệt để, bảo đảm cho nền độc lập dân tộc được giữ vững, nhân dân có đời sống ấm no, tự do hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”[5]. Đây là sự khẳng định một hướng đi mới phù hợp với xu thế của thời đại, khác về căn bản so với các lãnh tụ của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Giải thích vì sao cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống ấm no cho nhân dân ta. Đó là cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khăn nhất”[6]. Từ bản chất của nó, chủ nghĩa xã hội, tạo ra các khả năng điều kiện phát triển bền vững của dân tộc, loại bỏ được ách thống trị nô dịch dân tộc. Với ý nghĩa ấy cách mạng xã hội chủ nghĩa là làm cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được tiến hành triệt để; đồng thời tạo ra những cơ sở bảo đảm cho nền độc lập dân tộc được giữ vững.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên xác định cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như nước ta có khả năng tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Người, sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc đã thức tỉnh nhân dân các dân tộc bị áp bức: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi”; và Người chỉ ra các khả năng, điều kiện để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; Xây dựng củng cố tăng cường khối liên minh công nông trí thức làm hạt nhân xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; Phối hợp chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng vô sản ở chính quốc (cách mạng vô sản Pháp). Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng ở các nước thuộc địa có thể và cần phải nổ ra trước cách mạng vô sản ở chính quốc là hoàn toàn đúng đắn sáng tạo.

Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lừa mị rằng, ở Việt Nam hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết vấn đề dân tộc, dân chủ theo chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh, nên gác định hướng xã hội chủ nghĩa lại. Từ đó họ đòi đổi tên nước, đổi tên Đảng. Ý đồ xấu xa, nham hiểm của các thủ đoạn xuyên tạc, lừa mị đó là bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa đất nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong 25 năm đất nước đổi mới đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cái bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đại tá, TS Trần Ngọc Tuệ
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng
Theo CPV.ORG.VN

[1] .Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập1, tr.416.
[2] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập10, tr.9.
[3] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập10, tr.128.
[4] . Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113.
[5] . Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập12, tr.305.
[6] .Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2002,tập9, tr.156.

hochiminhhoc.com

Đạo đức yêu nước thương dân – một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử dân tộc, chúng ta thấy hơn một ngàn năm bị phương Bắc thống trị thì cũng hơn một ngàn năm dân tộc Việt Nam đã kiên trì cuộc đấu tranh yêu nước bất khuất – để giành lại đất nước mở ra kỷ nguyên phát triển rực rỡ.

Mở đầu là hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Đất nước sau 190 năm bị đặt dưới ách đô hộ của nhà Hán, dân tình khốn khổ trăm bề, hai Bà đã phát động cuộc chiến đấu với khẩu hiệu: Khôi phục sự nghiệp của các vua Hùng. Mặc dù chỉ giữ được nền tự chủ 3 năm (40-43) nhưng tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tất cả các thế hệ người Việt Nam chúng ta. Tiếp bước hai bà Trưng, bà Triệu ở tuổi 23 đã phất cờ: Cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng giữ, đánh đuổi quân Ngô, dựng quyền tự chủ, cởi ách nô lệ cho giang sơn… Ý chí cao cả của Bà Trưng, Bà Triệu chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta lúc ấy cao biết chừng nào.

Với ý chí không chịu khuất phục kẻ thù phất cờ khởi nghĩa của Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Phùng Hải; rồi đến cuộc nổi dậy năm 905 của Khúc Thừa Dụ đã nắm quyền cai trị toàn bộ đất nước trong thực tế, chấm dứt ách đô hộ của người Hán. Người Hán mở hai cuộc phản kích hòng đặt lại ách đô hộ, nhưng đã bị Ngô Quyền đánh bại trên sông Bạch Đằng năm 938, chấm dứt vĩnh viễn thời kỳ Bắc thuộc.

Thân dân vốn là chính sách nổi tiếng của các vua Hùng. Vua và dân cùng đi săn khi bắt được những con thú rừng (hươu, nai…) vua chỉ ăn bộ lòng còn thịt thì để nhường thần dân. Các triều Lê, Lý, Trần đều có chính sách sử dụng những người có tài năng, đức độ trong nhân dân, trong các tôn giáo; mở cửa cho sự du nhập các trào lưu tư tưởng của nước ngoài, khuyến khích sự chọn lọc, đồng thời Việt hoá, biến những giáo lý chính trị đạo đức của Nho giáo thành những tín điều yêu nước, thương dân, tín nghĩa với bạn bè, hoà thuận trong gia đình, kính trọng ông bà, cha mẹ, vợ chồng hiếu nghĩa, yêu thương lẫn nhau, lên án tệ chuyên quyền, áp chế và cuộc sống sa đoạ của vua, quan.

Trong bài hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, có những câu nổi bật để lại cho đời về lòng yêu nước, đồng cam cộng khổ giữa chủ tướng và quân sĩ. “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận chưa thể xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù… Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ ta thăng chức, lương ít ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười…”.

Nguyễn Trãi trong Đại Cáo Bình Ngô đã tỏ rõ tư tưởng yêu dân, thương dân, tin dân, nên “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cũng đã khẳng định rõ ràng tư tưởng vì dân, vì nước trong chiếu lên ngôi: “Ta sinh ra ở đất Tây Sơn, không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì gặp thời loạn, muốn giúp đời yên dân mà phải đứng ra gánh vác việc nước. Xong việc, ta sẽ trả lại tất cả, không ham phú quý. Ta sẽ làm một người thường, cưỡi một con lừa đỏ, rong chơi mọi miền đất nước cho thỏa lòng mong ước”.

Trải bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại thịnh đạt ở nước ta đã kiên trì chính sách lấy nước làm trọng, lấy dân làm gốc, vua tôi một lòng, cha con nhất trí, anh em gắng sức nên thời loạn đã động viên được toàn dân, trẻ già, trai gái, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc đứng lên kiên quyết chống giặc, bảo vệ đất nước. Trong thời bình đã thực hiện chính sách yên dân, bồi dưỡng sức dân, trọng dụng những người hiền tài, mong sao cho “Thôn cùng xóm vắng vơi đi những nỗi hờn giận, oán sầu“. Lê Thánh Tông đã thành công trong cải cách hành chính xây dựng một nhà nước pháp quyền nhưng cũng coi trọng cả nhân trị: “Pháp trị đi đôi với nhân trị mà nền tảng là: Tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, tư tưởng yêu nước, bảo tồn từng tấc đất của ông cha, tư tưởng an dân – lo sao cho dân được an cư lạc nghiệp”.

Hồ Chí Minh đã nâng cao đạo đức yêu nước thương dân thành trung với nước, hiếu với dân trong thời đại mới.Không giống những thanh niên con nhà khoa bảng cùng thời, lập chí lập thân bằng việc dùi mài kinh sử để thi đỗ làm quan, mưu cầu cuộc sống khá giả hơn người, Hồ Chí Minh có chí hướng khác hẳn. Bất bình trước cảnh mất nước, cuộc sống người dân nô lệ, lầm than, xã hội bất công, Người đã dấn thân vào con đường cứu nước cứu dân. Tháng 5-1908, khi còn là một học sinh ở Huế, Người đã tham gia cuộc biểu tình của nông dân 6 huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên đòi giảm phu đài, tạp dịch, sưu cao thuế nặng. Sau đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành không học ở trường Quốc Học Huế nữa mà theo cha vào Quy Nhơn.

Sớm có lòng yêu nước thương dân, Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, tự lao động nuôi sống bản thân, quyết chí tìm đường cứu dân cứu nước. Qua 30 năm bôn ba đất khách quê người, Hồ Chí Minh càng đau lòng về tình cảnh các dân tộc thuộc địa bị chủ nghĩa đế quốc, tư bản bóc lột thậm tệ và sự bất công xã hội ở ngay những nước giàu có nhất. Người đã ý thức được một xã hội vô đạo đức sẽ đẻ ra biết bao tai hoạ mà Người đã chứng kiến ở những nơi Người đã đi qua. Trong con người Hồ Chí Minh, lý tưởng giải phóng dân tộc gắn liền với lý tưởng xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng, ở đó quan hệ giữa người với người là quan hệ tình người, nhân nghĩa. Bởi thế khi về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, ngay từ những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên, Người đã có bài giảng quan trọng về đạo đức cách mạng “Tư cách của người cách mệnh” và trước khi qua đời bài viết cuối cùng của Người cũng là: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Hồ Chí Minh nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân“(1).Xây dựng xã hội đạo đức là lý tưởng của Hồ Chí Minh. Lý tưởng ấy thể hiện trong lý tưởng sống của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(2).

Đạo đức trung và hiếu có từ ngàn xưa của dân tộc ta, được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo trong thời đại mới: Trung với nước, hiếu với dân. Hồ Chí Minh cho rằng quần chúng nổi dậy lật đổ chế độ cũ tất yếu là người làm chủ chế độ mới. Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là bước ngoặt chưa từng xuất hiện trong lịch sử của dân tộc ta, trở thành sức mạnh vô biên để kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đên chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).

Hồ Chí Minh gắn liền trung với hiếu, hiếu với trung. Chưa thấy người có hiếu mà phạm tội bất trung. Người cán bộ, đảng viên chân chính phải là người vừa trung với nước vừa hiếu với dân. Không thể xứng đáng làm người công bộc, người “đầy tớ thật trung thành” của nhân dân nếu không quan tâm đến những khó khăn, thiếu thốn, khốn khổ của nhân dân thậm chí còn tìm cách chiếm đoạt của cải, ức hiếp tinh thần của dân. Hồ Chí Minh răn dạy và yêu cầu cán bộ, đảng viên: “Việc gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” .Trong bài “Đạo đức cách mạng”, viết năm 1958, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân. Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”(4).Theo đồng chí Hoàng Tùng nguyên Bí thư Trung ương Đảng: “Hồ Chí Minh luôn luôn từ chối nắm quyền lực. Khi bị Quốc tế cộng sản phê phán một cách không công bằng và không được giao công tác, Người không hề oán giận, nhưng kiên trì chân lý. Nhiều lần Người từ chối nhận chức Tổng Bí thư. Khi làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Người vẫn nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”(5).Có thể nói, Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời kết tinh đạo đức trung với nước hiếu với dân từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam đã nâng lên tầm cao mới trong thời đại ngày nay. Trước khi từ biệt cõi trần, Người viết trong Di chúc:“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(6). Chúng ta mãi mãi thấm sâu lời căn dặn của Người: “Giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7).

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 5, tr.252-253, 698. (2) Sd, tập4, tr.161. (4) Sd, tập 9, tr.288. (6,7) Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, BCTTW ĐCSVN, H.1969. (3) Tư­ duy truyền thống tư tưởng Hồ Chí Minh của Hoàng Tùng, NXBCTQG, H.1998, tập 2, tr.113.

Hà Văn Tải

quangbinh.gov.vn

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Chuyện về người phụ nữ hai lần gặp Bác:

Bà Phạm Thị Thược bây giờ (ảnh chụp tại nhà khách T.78, nơi bà Thược đã ở đây từ gần 7 năm qua.

Một phụ nữ đã sống, chiến đấu cho quê hương đất nước. Sau đó, bà lấy chồng là người nước ngoài làm nhà báo, chuyên viên chiến dịch Điện Biên Phủ, biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam đầu tiên. Khi theo chồng về nước, bà cũng làm việc cho một số cơ quan bên đó. Như để trải lòng và nguôi ngoai nỗi nhớ nhà, trong tâm trí của bà luôn khắc ghi lời hứa thiêng liêng với Bác Hồ là sẽ trở về quê hương trong những ngày cuối đời…

Để thực hiện lời hứa về chuyện sinh ra rồi mất đi sẽ trên đất nước Việt Nam thương yêu của mình, bà phải xa con cháu để trở về quê hương. Và nỗi lòng ấy như được sẻ chia khi chúng tôi tiếp chuyện bà. Đó là ước nguyện của bà Phạm Thị Thược (nguyên quán ở Thái Nguyên). Bà sinh trưởng trong nỗi bất hạnh cùng nhiều đau thương, trái ngang. Nhưng cũng không vì thế mà bà chịu đầu hàng số phận.

Ký ức trở về

Sau một hồi tâm sự, như hồi tưởng lại thời thơ ấu khó khăn cùng những tháng ngày gian khổ, bà kể lại: “Lúc mới được sinh ra thì bố lấy vợ hai, mẹ bỏ tôi lại cho ông bà nội. Hằng ngày, ông bà nội phải xin sữa những người có con nhỏ ở trong xóm làng để nuôi tôi. Khi gần 14 tuổi, ông bà nội mất, tôi phải di tản lên chiến khu Việt Bắc (Thái Nguyên) tìm mẹ nhưng mẹ đã có chồng khác.

Không ở được với mẹ, tôi xin đi dân công tải đạn nơi chiến trường phía Bắc và được giữ lại trong đơn vị quân nhu (sau này là đơn vị hậu cần). Sau đó, tôi kết hôn với một bác sĩ quân y, sinh được một đứa con gái đặt tên là Nguyễn Thị Trọng Hiền. Niềm vui chưa tày gang, ngay sau đó là nỗi buồn khi chồng tôi hy sinh nơi chiến trường.

Ngày giải phóng Hà Nội, tôi về với gia đình bên chồng ở phố Kim Mã và bán tân dược theo bằng cấp của chồng để lại. Một thời gian sau, tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam tại 58 phố Quán Sứ – Hà Nội mai mối tôi với đồng chí Tarrago làm chuyên gia ở Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, do yêu cầu của Đảng và Nhà nước chuyển chồng tôi sang Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam làm biên tập chương trình phát thanh thời sự quốc tế vào năm 1955.

Nghĩ lại, tôi vẫn cảm thấy sợ vì mình không biết tiếng Đức để nói với chồng, nhưng bản thân thì đặt trọn niềm tin vào tổ chức lãnh đạo của Đảng. Đám cưới của chúng tôi được lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam đứng ra tổ chức. Chúng tôi nhận được nhiều lẵng hoa chúc mừng hạnh phúc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các lãnh đạo cao cấp của Quân đội, Bộ Ngoại giao và các cơ quan Sứ quán nước ngoài.

Sau lễ cưới, chúng tôi được ở trong toà nhà số 8 Hồ Xuân Hương, Hà Nội. Lúc đó, ông Phạm Ngọc Thạch (Bộ trưởng Bộ Y tế), ông Phạm Huy Thông (Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ở chung toà nhà) và Giáo sư Tôn Thất Tùng (công tác bên Bệnh viện Việt Đức, bạn của chồng tôi lúc công tác ở bên Pháp) đã giúp đỡ chúng tôi mọi trở ngại về ngôn ngữ.

Một vinh dự lớn lao là vợ chồng tôi được Bác Hồ mời cơm tại Phủ Chủ tịch. Tại đây, chúng tôi gặp ông trưởng lễ tân Nguyễn Việt Dũng, sau đó là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Năm 1964, Đảng và Nhà nước giải quyết cho tôi đi theo chồng, trở về phục vụ cho đất nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Khi chuẩn bị lên đường theo chồng về nước, gia đình tôi lại được Bác mời ăn cơm và dặn dò.

Gặp Bác, tôi chỉ biết khóc mà không nói được lên lời. Thấy vậy, Bác liền nói những lời căn dặn: “Cháu đi theo chồng cũng là một nghĩa vụ lớn, vì đồng chí Tarrago là người có đóng góp công lao to lớn cho Tổ quốc Việt Nam và là một đồng chí vô sản quốc tế đến làm nghĩa vụ với cách mạng Việt Nam. Người vợ của đồng chí là người con gái của đất nước Việt Nam anh hùng, cháu phải làm sao cho xứng đáng với người vợ của người chiến sĩ cách mạng vô sản quốc tế. Đây cũng là nghĩa vụ của người con gái Việt Nam với Tổ quốc”.

Thấy tôi khóc nhiều quá, chồng tôi đã hứa với Bác: “Nếu vợ tôi qua đời trước, xin hứa với các ngài là tôi sẽ đưa thi hài vợ tôi bằng chuyên cơ về Việt Nam để chôn cất theo truyền thống của người Việt Nam là “lá rụng về cội”. Lời hứa của tôi như vậy, nhưng nếu tôi chết trước vợ, tôi sẽ không thực hiện được lời hứa này với các ngài”. Chính vì lời hứa của chồng tôi với Bác nên tôi mong muốn bản thân mình thực hiện lời hứa thiêng liêng này.

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Đó là lời hứa thiêng liêng mà chồng tôi đã hứa với Hồ Chủ tịch và các lãnh đạo của Đảng lúc bấy giờ. Dù thế nào, bằng mọi giá tôi cũng muốn thực hiện ước nguyện với Bác, với đất nước của mình. Giờ đây, tuổi đã cao (gần 80 tuổi), tôi nói lại những suy nghĩ của quá khứ này cũng là để mọi người hiểu dù đi đến chân trời góc bể nào thì con người Việt Nam cũng sẽ luôn tìm về nguồn cội.

Cũng bởi một lý do nữa là giờ đây khi phải xa con cháu nên không còn ai bên cạnh để lo cho mình. Ai cũng cần tình yêu thương thật sự, nhất là những người già như tôi. Chính vì thế, khi trở về đất nước của mình, tôi vẫn còn nhiều người thân ở ngoài Bắc, mong mọi người thân đón nhận sự trở về của mình. Thế nhưng, sự thật không được như mong muốn. Nó khiến tôi ngỡ ngàng, cứ suy nghĩ miên man và không thể thốt thành lời.

Từ phải sang, ông Trần Duy Hưng, bà Phạm Thị Thưọc, ông Lê Quý (TGĐ Đài Tiếng nói VN đầu tiên và trợ lý của ông Qúy).

Một phần do chồng tôi mất năm 1988, nên lời hứa của chồng tôi với Bác Hồ đã không thực hiện được. Tôi thay chồng thực hiện lời hứa với Người cũng là thực hiện cho tâm nguyện của tôi, một người con được sinh ra trên đất nước Việt Nam sẽ lại trở về với đất nước Việt Nam yêu quý. Thế là, từ năm 1990 đến nay, tôi vẫn sống với nỗi cô đơn của người phụ nữ già nhưng không quên được lời hứa mà chồng đã hứa với Người. Lời hứa đó cứ in sâu trong tâm nguyện của bản thân tôi.

Lý do mà tôi phải sống cô đơn cũng một phần vì các con đã có gia đình riêng nên tôi vẫn một mình đi về Việt Nam. Đến năm 2001, tôi về Việt Nam ở hẳn cho đến nay. Những năm đầu tôi sống ở Tuyên Quang, sau lên Thái Nguyên rồi vào Vũng Tàu và cuối cùng là TP HCM. Hơn 6 năm, tôi ở tại Nhà khách T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Đảng phía Nam, số 145 Lý Chính Thắng, phường 7, quận 3, TP HCM.

Không biết cái ngày “gần đất xa trời” sẽ đến lúc nào và lo lắng cho hậu sự của mình nếu có xảy ra thì ai, cơ quan nào đứng ra tổ chức đám tang cho mình? Vì vậy nên tôi mong rằng những ước nguyện của mình nếu qua đời cũng chỉ biết nhờ vào Ban lãnh đạo Nhà khách T.78 lo hậu sự.

Thiết tha hơn nữa là mong các cơ quan chức năng giúp tôi thực hiện mong ước được “ra đi” trên mảnh đất Việt Nam quê hương yêu dấu. Đây chính là lời hứa thiêng liêng của chồng tôi đã hứa với Bác và là ước nguyện thiết tha nhất trong cuộc đời mình.

Cũng chính vì lời hứa với Người nên tôi mong các con của tôi là Nguyễn Thị Trọng Hiền Tarrago – Kleivert và Antoine Tân Việt Tarrago hiểu bố mẹ của chúng đã được Bác Hồ quan tâm, dạy bảo. Và vì đất nước Việt Nam có Bác Hồ là niềm kính yêu của cả thế giới nhân loại. Cũng là để các con, cháu của tôi luôn nhớ mãi và ghi sâu trong tim chúng có dòng máu của con người, đất nước Việt Nam anh hùng.

Sau khi theo chồng sang Cộng hoà Dân chủ Đức, bà đã tham gia hoạt động, làm việc ở Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ Giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức. Bà đã đóng góp nhiều công lao vào việc nêu cao tinh thần “uống nước nhớ nguồn” vì mình là người Việt Nam. Bên cạnh đó, bà cũng tham gia, giúp chồng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ biên tập phát thanh tình hình quốc tế. Nhất là mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Đức.

Thiên Hùng (ghi theo lời kể của bà Phạm Thị Thược)

cand.com.vn

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh – một giá trị đặc trưng cho văn hoá hoà bình

Thế kỷ XX đã qua với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc chiến tranh khu vực lớn nhỏ. Nỗi khủng khiếp trước thảm họa Hirốima và Nagasaki đến nay vẫn chưa thôi nhức nhối trong trái tim nhân loại. Trái đất càng trở nên mong manh hơn khi vũ khí hủy diệt ngày càng được hoàn thiện, sự tích lũy ngày càng lớn, đủ sức làm nổ tung cả hành tinh bé nhỏ của chúng ta.

Hòa bình là khát vọng của nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mấy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình. Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, bước vào thiên niên kỷ mới, loài người càng thấm thía nhận ra rằng không thể giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng vũ khí mà phải bằng thông cảm, hiểu biết, đối thoại, bằng văn hóa khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hoà bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung.

“Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người, ở niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém; từ đó Người nhắc nhở chúng ta “phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. “Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ”.

Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với cách mạng, Người cũng khuyên “không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới,… mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung”. Để làm được điều đó, Người nhắc nhở chúng ta phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi. “Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu”.

Chính sách đại đoàn kết và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng một dạ đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ, hy sinh.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của văn hoá nhân loại, là chấp nhận giao lưu, đối thoại, tìm ra cái chung, nhằm đạt tới sự hoà đồng, cùng phát triển.

Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hoá. Trong khi chống Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hoá Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây. Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao lưu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận đối thoại về giá trị, là truy tìm cái chung, cái nhân loại để hòa đồng. Người đã viết: “Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”.

Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu số chung cho mọi cuộc đối thoại. Người nói với người Pháp: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng, bác ái độc lập”.

Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức – nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Mùa hè năm 1946 tại Paris, Người đã tiếp một nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo xác tín, chống cộng. Sau này, ông ta đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình lời của Hồ Chí Minh trong buổi gặp: “Mục đích của Chính phủ ta là đeo đuổi chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Để đạt hạnh phúc đó mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Giễu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi đau của người đồng thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm cứu khổ loài người”.

Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá mừng Chính phủ liên hiệp lâm thời vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn làm gì, ta phải theo nấy”.

Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J.Sainteny thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào'”.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người và mỗi dân tộc. Người nói: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng một cử chỉ hòa bình: đưa yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxay (1919). Nhưng Người biết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, bởi vậỵ, Người cũng đã nói từ rất sớm: “Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hòa thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai, thích cánh với năm châu”.

Trong cuộc xung đột Việt – Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình, nên Người đã chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng: ký Hiệp định sơ bộ 6.3 rồi “Tạm ước 14.9; không quản bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình. Rất tiếc, thiện chí đó đã không được đáp lại.

Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ, Người đã luôn luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược phản động Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý. Người đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho quân ta và cho cả quân địch. Người nói một cách xúc động: “Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay là người Việt đều là người”. Người nhắc nhở mục tiêu của chúng ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của địch chứ không phải là đánh tiêu diệt hoàn toàn chúng trên chiến trường. Ta hiểu vì sao Người không tán thành cách gọi một trận đánh chết nhiều người là một trận đánh “đẹp”! Người nói: “Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại giỏi hơn”, nên theo binh pháp của cha ông, “đánh vào lòng người là hơn hết, đánh vào thành trì là thứ hai”, vì vậy Người tất coi trọng địch vận, ngụy vận, coi “khéo ngụy vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch”.

Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta bắt trong chiến tranh, Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, phải đối xử khoan hồng đối với họ để “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”. Người chỉ thị cho Bộ tài chính của ta cấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp bị bắt 200 đồng/mỗi tháng, trong khi mức ăn của bộ đội ta chỉ có 150 đồng/tháng, với lý do “ta có thể chịu kham khổ được, nhưng đối với họ cần phải rộng rãi hơn”. Một lần đến thăm trại tù binh Pháp bị bắt trong chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì lạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo người đang mặc, trao cho anh ta.

Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, (6-1947), một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt chuyến Người sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là bạn, có đoạn viết: “Chúng ta đã từng là những người bạn tốt… Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!… Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta trở thành bạn hữu của nhau”.

Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử! Chúng ta chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc, chứ không vì lý do nào khác. Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu ra trò, cao thượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn! Người đã làm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp, một dân tộc mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng.

Qua đó, có thể thấy: khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh không phải là một sách lược mà là sự kế tục và phát triển truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử và cũng là sự thể hiện bản chất nhân văn, chính nghĩa của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Khoan dung cũng là một biểu hiện sức mạnh của cách mạng, chỉ có những cuộc cách mạng chân chính, được lòng dân, mới có sức thuyết phục, cảm hóa trái tim, khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc và chống đối.

Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua đi, nhưng loài người vẫn đang phải sống trong “một nền hòa bình nóng”. Nhiều nơi vẫn đang diễn ra những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu về lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc và tôn giáo. Do thiếu một thái độ khoan dung, người ta tự coi mình là độc tôn, đi tới dị hóa, kỳ thị với tất cả cái gì không phải là mình! Ngược lại, cũng đang có những thế lực mưu toan lợi dụng cái gọi là “bản chất chung của con người” để áp đặt cho các dân tộc khác những giá trị xa lạ với truyền thống văn hóa của họ. Khi không áp đặt được, họ sẵn sàng dùng sức mạnh của bom đạn, sắt thép để khuất phục ý chí của một dân tộc có chủ quyền. Chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đe dọa quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc trong hòa bình, tự do, độc lập; quyền được lựa chọn con đường phát triển riêng theo lý tưởng và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Chính trong điều kiện đó, giáo dục, bồi dưỡng và phát triển lòng nhân ái, khoan dung đang là một yêu cầu cấp bách, trong đó tấm gương khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh đang được nhắc nhở như một giá trị tiêu biểu cho đặc trưng văn hóa của thế kỷ XXI – văn hóa hoà bình.

GS. Song Thành, Viện Hồ Chí Minh

quangbinh.gov.vn

Độc lập cho Tổ quốc là mục đích cao nhất

Bìa cuốn sách "Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng".

“Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình…”.

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2011), 100 năm ngày Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước (1911-2011), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Hội Xuất bản Việt Nam, dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông đã cho ra mắt đông đảo bạn đọc cuốn sách “Hồ Chí Minh – Người mang lại ánh sáng”. Sách do Nhà xuất bản Thời đại ấn hành.

Cuốn sách tập hợp 61 bài viết của nhiều tác giả quốc tế và Việt Nam, cung cấp những tư liệu quý về cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Có thể thấy trong tập sách này sự góp mặt của các tác giả thuộc nhiều quốc tịch khác nhau như: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Ba Lan, Hàn Quốc và Việt Nam.

Ngay ở bài đầu tiên, cũng là tên tập sách, là bài viết của nhà báo Stanley Karnow đăng trên tạp chí Time. Stanley là cây bút đã từng đoạt giải Pulitzer và là một chuyên gia về Việt Nam, nổi tiếng với cuốn sách “Việt Nam: A history”. Phải nói thêm, Time là một tạp chí uy tín của Mỹ, phát hành toàn thế giới, đã nhiều lần đưa hình ảnh chân dung Hồ Chí Minh và các sự kiện về Việt Nam lên trang nhất. Time đã bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chính khách, khoa học, văn nghệ sĩ… có ảnh hưởng lớn nhất đến hành tinh của chúng ta trong thế kỷ XX.

Tác giả Stanley viết: “Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình… Đối với người Mỹ, đây là cuộc chiến tranh dài nhất và là lần thất bại đầu tiên trong lịch sử của họ. Nó còn làm thay đổi nghiêm trọng cách nhận thức về vai trò của họ trên thế giới”.

Có thể kể ra trong cuốn sách những bài viết thú vị của tác giả nước ngoài như: “Những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Franz Faber, “Hồ Chí Minh – Từ Cách mạng đến thần tượng của Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh – Nhà cách mạng Đông Dương” của báo Nhân đạo Alain Ruscio, “Hồ Chí Minh và các giá trị phương Đông” của Georges Boudarel, “Những quan hệ đầu tiên giữa Hồ Chí Minh với Đảng Trung Hoa” của Qiang Zhai, “Kremli và Hồ Chí Minh” của I.B.Bukharkin, “Một nhà văn Nhật viết về Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp” của Kiyosi Komatsu, “Kỷ niệm về Hồ Chí Minh” của Lise London… Mỗi người viết, từ nhận thức đánh giá và kỷ niệm riêng đã cho bạn đọc thấy rõ hơn tầm vóc quốc tế của Người và lòng kính trọng, khâm phục của bạn bè quốc tế, trong đó có cả những người không cùng chính kiến dành cho Người.

Nhà nghiên cứu người Pháp gốc Việt Pierre Brocheux nhận định: “Ông (Bác Hồ – PV) đã bộc lộ những đức tính và thiên tài gắn bó với con người ông và được mọi người thừa nhận. Một đặc điểm tư tưởng của ông là không hề có óc giáo điều, từ chối xóa bỏ hết mọi cái của quá khứ văn hóa, sự lo toan xây dựng cây cầu nối giữa quá khứ và hiện tại và bằng cách chọn lọc trong quá khứ những cái mà ông có thể kích thích hiện tại…Tính hài hước, tính nhạy cảm và sự gần gũi của ông đã khiến cho nhiều người đã biết ông trong những năm 1920 ghi nhớ trong kỷ niệm khi họ nhắc lại. Đấy là những nét đã hấp dẫn những ai đã gần ông hay có tiếp xúc với ông trong cuộc sống hàng ngày.

Nhà báo Đức F.Faber may mắn có nhiều dịp được đi với Bác Hồ về cơ sở đã kể lại: “Tôi đã có thể ngồi bên Người hàng giờ liền và được thấy rõ những đức tính tuyệt vời của Người, trên tư cách một vị lãnh đạo nhà nước và cũng trên tư cách một con người, mà ngay những kẻ chống đối tệ hại nhất cũng không thể hạ thấp Người được.

Tác giả người Pháp Georges Boudarel nhắc lại một câu nói của Bác Hồ: “Trong đoàn thể của chúng ta có những người chỉ biết nói, nói hàng 2-3h đồng hồ, nói mênh mông trời đất. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là, những việc thiết thực cho địa phương. Những người như vậy thì không thể dùng vào công việc cụ thể”. Và Boudarel kết luận: “Chân dung đẹp nhất của Hồ Chí Minh là gì? Xét cho cùng đã có trong đạo đức kinh: Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng. Người giỏi tác chiến không tỏ ra hung hăng. Người khéo thắng địch không giao phong với địch. Người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người”.

Bác Hồ với đại biểu Quốc hội. Ảnh: Bùi Á.

Riêng trong quan hệ của Người với các bậc cách mạng tiền bối của Việt Nam theo nhiều khuynh hướng khác nhau, dẫu có lúc bất đồng, nảy ra các cuộc tranh luận, nhưng trước sau Người đều thể hiện niềm kính trọng yêu nước, yêu dân của các vị. Và điều đặc biệt là, các bậc cao niên ấy về sau đều chung lời khen ngợi và gửi gắm niềm tin vào một bậc hậu sinh có thể gánh vác vận nước là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Có tư liệu về lời các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền nhắn nhủ mọi người: “Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”.

Trong bức thư bằng chữ Hán gửi quốc dân, cụ Huỳnh đã viết: “Người thân yêu kính mến nhất của đồng bào quốc dân chúng ta là Hồ Chí Minh tiên sinh. Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia, chân đi khắp năm châu, mát trông xa vạn dặm, nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ… Là người nổi tiếng kiên cường, bất khuất và ngang ngạnh trước bạo lực và cường quyền”. Cụ còn nói: “Ông Hồ không đồng xu dính túi. Nói về bằng cấp thì ông không tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta, không ai bì kịp. Sự hiểu biết của ông Hồ rất xa, rất rộng”.

Kể lại những câu chuyện về Người trong một cuốn sách quý, mỗi người Việt Nam sẽ có thêm niềm tự hào và động lực để tiếp tục sự nghiệp xây dựng đất nước. “Hồ Chí Minh – người mang lại ánh sáng” sẽ tiếp tục mang ánh sáng của Người soi rọi con đường của dân tộc hôm nay

Phương Trang

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí Sư bà Thích Nữ Diệu Không

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Sư bà dạy tôi: “Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, mà tôi đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi) đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao. Bà Tâm Hải bảo tôi:

– Sư bà Thích Nữ Diệu Không rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp Bà và đề nghị Bà viết cho một bài. Tôi đến xin gặp Sư bà ngay nhưng lúc ấy Sư bà không có ở Huế.

Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ. Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự.

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình Người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm Người như một bậc Thầy.

Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo Chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.

Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi Chí lớn,
Lòng thành trong sạch Nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ thì có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.


Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác là Mùa thu Bính Thìn năm 1976, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (GS Bác cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch:

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách Thuyền quy,
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi.

Thích Nữ Diệu Không dịch:

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi.

(Mùa thu Bính Thìn, 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long – Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưaThăm tháp Quảng Đức(chùa Hòa Giai, Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịchThăm trường Quảng BáĐêm thu trên Hồ TâyĐi thăm mộ… và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi thăm lăng Hồ Chủ tịch:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù Người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời Di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà.

Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo. Sư bà dạy tôi:

– “Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!”.

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng… không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng và người thân của liệt sĩ ít dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận.

Sau chiến dịch Huế – Xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng. Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân” đứng ra xin chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan là một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế và chắc chắn không còn có nhà báo chuyên viết chuyện châm biếm sâu sắc Hoàng Thiếu Phủ sau này nữa.


Sư bà Diệu Không và các ông (hàng đứng, từ trái sang):
Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Ân sau ngày đất nước thống nhất
tại Hà Nội. Ảnh TL gia đình Hồ Đắc.

Và, anh trai của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế sẽ khó lòng được yên ổn để đi đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn, ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng Cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Nam Trung phần từ Huế vào đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng.

Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sỹ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo. Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật Sư.

Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện ngày 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch:

Tặng Việt Nam độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt này.

Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ, không những biết rõ sự nghiệp cứu nước của Bác mà còn đồng hành cùng hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Mặc dù, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam, nhưng theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo.

Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo Chánh / Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông”. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Vài nét về Sư bà Thích Nữ Diệu Không

Sư bà Thích Nữ Diệu Không, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42, thế danh Hồ Thị Hạnh, sinh 24/12/1905, quê ở làng An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, con gái của Đại thần Hồ Đắc Trung, em ruột của những người có tên tuổi như Tổng đốc Hồ Đắc Điềm, Bác sĩ Hồ Đắc Di, Đệ nhất Giai phi của vua Khải Định Hồ Thị Chỉ, Sư bà Diệu Huệ (thân mẫu của nhà bác học Bửu Hội)…

Tuổi nhỏ bà theo Nho học, lớn lên theo Tây học. Bẩm chất thông minh, xinh đẹp. Năm 24 tuổi (1929), bà kết duyên với ông Tham tá Cơ mật viện Cao Xuân Xang (con trai cụ Cao Xuân Dục). Năm 1930, bà sinh Cao Xuân Chuân, không lâu sau đó ông Tham tá thất lộc. Tình nghĩa của bà chỉ vỏn vẹn 11 tháng. Bà thủ tiết thờ chồng, nuôi con và hoạt động từ thiện xã hội với Đạm Phương nữ sử (thân mẫu của nhà văn Hải Triều Nguyễn Khoa Văn).


Bà Hồ Thị Hạnh thời trẻ.

Năm 1932, bà vào ở chùa Trúc Lâm, được học Phật với tổ Giác Tiên sau các vị Mật Khế, Đôn Hậu, Vĩnh Thừa, Mật Hiển, Mật Nguyện và Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Cuối năm 1932, bà lên chùa Khải Ân để cộng trú với Sư bà Thể Yến, Hướng Đạo (tức sư bà Diệu Viên).

Năm 1933, bà thành lập Ni viện ở Tổ đình Từ Đàm. Năm 1934, lập nên Ni viện Diệu Đức – Ni viện đầu tiên ở Huế. Năm 1938, bà vào chùa Giác Linh, tỉnh Sa Đéc để lập trường đào tạo Ni giới.

Năm 1949, bà khai sáng Hồng Ân Ni tự. Năm 1952, khởi xướng lập chùa Bảo Quang, chùa Bảo Thắng ở Đà Nẵng.

Năm 1953, xây dựng chùa Tịnh Nghiêm ở Quảng Ngãi. Năm 1960, xây dựng Ni viện Diệu Quang ở Nha Trang.

Năm 1961, lập chùa Dược Sư ở Gò Vấp, lập chùa Từ Nghiêm ở Chợ Lớn.

Năm 1963, tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo để chống lại chính sách bất bình đẳng tôn giáo của dòng họ Ngô, bà liền tham gia cuộc tuyệt thực ở chùa Ấn Quang. Khi Ủy ban Liên phái quyết định có thể phải hy sinh thân mạng, bà xin tự thiêu trước. Nhưng rồi Ni chúng phải y theo Tăng chúng, Hòa thượng Thích Quảng Đức được vị Pháp thiêu thân trước.

Cũng thời gian đó, bà bí mật nhờ cháu là Bác sĩ Bửu Hội đưa hồ sơ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo ra nước ngoài. Nhờ đó thế giới biết rõ tội ác của chính quyền Diệm.

Năm 1964, bà dựng chùa Diệu Giác ở Thủ Đức và góp phần xây dựng Đại học đường Vạn Hạnh. Năm 1965-1966, lại một lần nữa bà dấn thân cho cuộc tranh đấu đòi dân chủ dân quyền. Pháp nạn 1966 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1967, tạo lập Tịnh xá Kiều Đàm ở đường Công Lý – Sài Gòn. Năm 1968, vâng lời Giáo hội Thừa Thiên, đứng ra lo công tác xây cất Cô nhi viện Bảo Anh ở Tây Lộc – Huế và Cô nhi viện Diệu Định ở Đà Nẵng, để có nơi nuôi dưỡng con em mồ côi do chiến tranh gây ra.

Năm 1970, bà biến trụ sở nhà in Liên Hoa cũ thành Tịnh xá Kiều Đàm, tổ chức đào tạo cán bộ y tế cấp tốc, lập các trạm y tế Hồng Ân, Diệu Đế, Hòa Lương để cứu giúp dân bị thương tích trong chiến tranh.

Năm 1975, tổ chức các hoạt động hưởng ứng công cuộc Giải phóng miền Nam. Năm 1986, tuy tuổi già sức yếu, bà vẫn đứng ra vận động và trực tiếp trùng tu chùa Đông Thuyền.

Về văn hóa, bà đã để lại những áng thơ hay, nhiều bản dịch kinh, luận như: Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Đại Trí Độ Luận, Thành Duy Thức Luận, Kinh Duy Ma Cật.

Bà quản lý hai tờ báo Phật giáo Viên Âm và Liên Hoa từ số đầu tiên cho đến ngày đình bản.

Sư bà viên tịch vào ngày 23/8 năm Đinh Sửu (nhằm ngày 24/9/1997), hưởng thọ 93 tuổi, 65 năm ở chùa và được 53 hạ lạp.

honvietquochoc.com.vn

Chúng tôi là cận vệ Bác Hồ

Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, một sĩ quan Cảnh vệ nhớ lại.

Sáng tháng Năm rộn rã nắng đẹp. Ông Nguyễn Ngọc Cẩn và bà Lưu Thị Tính lại cùng các cựu sĩ quan Cảnh vệ vào Lăng viếng Bác, thăm lại Nhà sàn và Khu Di tích Phủ Chủ tịch, nơi họ đã có những năm tháng được bảo vệ Bác Hồ. Ông Cẩn và bà Tính có lẽ là đôi vợ chồng duy nhất cùng là Cảnh vệ, cùng được bảo vệ, phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Vợ chồng ông Cẩn, bà Tính (bên phải) cùng các cựu sỹ quan bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí Bộ Chính trị tiền bối.

Ông Nguyễn Ngọc Cẩn có thời gian 20 năm làm công tác Cảnh vệ, từng được bảo vệ, phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sinh năm 1933 tại Mê Linh (Hà Nội), ông Cẩn tham gia cách mạng từ sớm rồi đi thanh niên xung phong lên Việt Bắc. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, ông được tuyển vào Cảnh vệ từ năm 1955. Xúc động nhớ lại lần đầu được gặp Bác, ông kể: Hôm ấy, tôi cùng anh Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục Cảnh vệ) đi vào Nhà sàn. Bên bờ ao cá, chúng tôi thấy Bác đang nói chuyện với các đồng chí Phan Mỹ (Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng) và Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. Anh Kháng lên tiếng chào Bác và hai đồng chí lãnh đạo, tôi thì quá xúc động cứ đứng ngây người mất một lát mới cất được lời chào. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp Bác, nhìn thấy Bác gần như vậy. Bác mặc bộ quần áo bà ba giản dị, chân đi đôi dép cao su quen thuộc từ những năm kháng chiến ở Việt Bắc. Bác hỏi anh Kháng: “Chú này là ai?”. Sau khi nghe anh Kháng báo cáo, Bác nhìn tôi tỏ ý hài lòng: “Trông chú nhanh nhẹn, hoạt bát. Chú cố gắng phấn đấu, làm việc cho tốt!”.

Ngày ấy, mỗi lần Bác đi công tác nước ngoài, anh em Cảnh vệ tiễn Bác ngay tại Nhà sàn, chỉ một số ít được tháp tùng Bác sang sân bay Gia Lâm. Chúng tôi thường đứng thành hàng bên Nhà sàn, bịn rịn từ biệt và chúc Bác thượng lộ bình an. Bác lần lượt bắt tay từng người. Bác luôn nhắc nhở những anh em trẻ phải học tập nâng cao trình độ… Tôi nhớ một lần Bác đi công tác ở Liên Xô; khi Bác trở về, chúng tôi tổ chức đón Bác tại Nhà sàn. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe, gia đình của chúng tôi. Rồi Bác quay sang đồng chí lãnh đạo phòng là anh Nguyễn Tất Liêm, hỏi: Năm nay, chú có bố trí cho anh em nghỉ mát không? Anh Liêm báo cáo cụ thể với Bác, đơn vị đã bố trí cho anh em đi nghỉ mát, ai quê ở xa còn được kết hợp nghỉ phép… Bác tỏ ý hài lòng, rồi lấy quà chia cho chúng tôi.

Bảo vệ Bác Hồ thăm Đền Hùng năm 1962 (Ông Nguyễn Ngọc Cẩn ngồi thứ tư từ trái sang). Ảnh do ông Nguyễn Ngọc Cẩn cung cấp.

Một vinh dự lớn lao với ông Cẩn và bà Tính. Năm 1961, ông bà lập gia đình với nhau. Trong đám cưới của đôi trẻ, Hồ Chủ tịch do bận công tác đã ủy nhiệm người thư kí của mình là đồng chí Vũ Kỳ đến mừng. Ông Cẩn nhớ lại: Trước ngày làm đám cưới, tôi suy nghĩ mãi rồi quyết định mời Bác đến dự, chúc phúc cho chúng tôi. Hôm ấy, trên đường đưa Bác từ Phủ Chủ tịch về Nhà sàn, khi đi bộ tới ao cá, tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, cháu sắp lập gia đình. Hai vợ chồng cháu kính mời Bác đến dự đám cưới ạ!”. Bác nhìn tôi, đôi mắt Bác thật vui, rồi hỏi: “Vậy vợ chú là ai?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, vợ cháu là cô Tính, cũng là quân của anh Kháng ạ”…

Món quà cưới Bác Hồ dành cho vợ chồng ông Cẩn là một đôi hài nhung, mà mãi sau này hai ông bà mới biết đó chính là quà của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tặng Hồ Chủ tịch, để dùng giữ ấm đôi chân trong mùa đông.

Kỷ niệm khó phai mờ trong kí ức của vợ chồng ông Cẩn là tình cảm giữa Bác Hồ với Bác Tôn, hai vị lãnh tụ tiêu biểu cho đại đoàn kết dân tộc. Năm 1968, Bác Tôn tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã đến chúc thọ người bạn già, ôm hôn thắm thiết và tặng Bác Tôn hai câu thơ: “Càng già, chí khí càng dai/ Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn Già”.

Những lần tiếp khách, đặc biệt là tiếp cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ hay các cháu nhi đồng miền Nam, Bác Hồ đều nhắc bộ phận Văn phòng, Thư ký nhớ mời Bác Tôn cùng dự. Hình ảnh Bác Hồ, Bác Tôn tiếp và ôm hôn các đại biểu, dũng sĩ, các cháu nhi đồng là những thông điệp ấm áp, tràn đầy niềm tin vào khối đại đoàn kết dân tộc, vào thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Từ năm 1967, sức khoẻ Bác Hồ đã giảm nhiều, bước chân đi không còn nhanh nhẹn như xưa; một lần cùng Bác Tôn xuất hiện trước đông đảo đồng bào, Bác Hồ bảo: “Để tôi nắm tay Cụ đi cho đỡ run, đồng bào khỏi thấy!”. Câu nói ấy của Bác Hồ đã khiến anh em Cảnh vệ và những người chứng kiến trào nước mắt, thương hai Bác vô cùng.

Bác Hồ cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cán bộ, chiến sĩ Cảnh vệ (Xuân Quý Mão 1963). Ảnh: Tư liệu.

Ông Cẩn còn nhớ, Bác Tôn là người năng hoạt động, tập luyện thể thao, Bác rất thích đi xe đạp ra ngoại thành vào buổi sáng sớm. Về sau, anh em Cảnh vệ, bác sĩ lo ngại Bác Tôn tuổi đã cao, lỡ đi xe đạp mà bị ngã thì hậu quả khó lường. Anh em đề nghị Bác Tôn không đi xe đạp nữa, nhưng Bác cười hồn hậu: “Đạp xe để rèn luyện sức khỏe, đến ngày thống nhất đất nước còn có sức đi thăm đồng chí, đồng bào!”. Nghe Bác Tôn nói vậy, anh em Cảnh vệ hiểu lòng Bác, nhưng vẫn rất lo lắng, bèn báo cáo với đồng chí Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận thư ký văn phòng của Bác Hồ và Bác Tôn.

Ngày 2/9/1969, ông Cẩn đón Bác Tôn từ nhà riêng ở 35 Trần Phú (Hà Nội) vào nơi Bác Hồ nằm nghỉ trong một căn nhà phía sau Nhà sàn. Ông cũng là người chứng kiến giờ phút Bác Hồ lâm chung, có Bác Tôn và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đứng quanh giường bệnh. Những dòng nước mắt chảy dài và tiếng khóc thổn thức của những người đồng chí, người học trò xuất sắc của Bác; không ai kìm nén được lòng mình trước tổn thất lớn lao của cả dân tộc… Ngay trong ngày hôm ấy, ông Cẩn đã ghi lại những dòng cảm xúc của mình vào một cuốn sổ: “Bác ơi, Bác đi xa thật rồi ư? Nỗi đau này quá lớn với chúng con, những người lính Cảnh vệ từng được bảo vệ, phục vụ Bác”…

Trước lúc tạm biệt tôi, ông Cẩn lại tỉ mỉ gói ghém cẩn thận những cuốn sổ của mình và những bức ảnh được chụp chung với Bác Hồ, vốn đã trở thành tài sản vô giá với gia đình ông. Tôi bắt chặt tay ông, đôi bàn tay ấm áp của người sĩ quan Cận vệ của Bác Hồ và Bác Tôn. Trong nắng tháng Năm rạng rỡ, mái tóc trắng như cước của ông bồng bềnh trên đôi mắt chứa đầy kỷ niệm.

Người chứng kiến việc Bác Hồ đề nghị Bác Tôn không nên đi xe đạp ra đường phố nữa, chính là bà Lưu Thị Tính. Bà Tính kể: Hôm ấy, như thường lệ tôi vào kiểm tra bảo đảm an toàn bữa ăn của Bác Hồ, thì đúng lúc Bác Hồ mời Bác Tôn dùng cơm. Sau bữa cơm, hai Bác đàm đạo khá lâu. Rồi Bác Hồ thân mật nói với Bác Tôn, đại ý: “Về tuổi tác thì Cụ hơn tôi, nhưng về nhiệm vụ Nhà nước phân công, thì tôi là cấp trên. Nay Cụ đã tuổi cao, sức yếu; đề nghị Cụ không nên đi xe đạp ra ngoài phố nữa, lỡ té ngã thì rất nguy hiểm… Cụ bảo trọng là phúc lớn cho đất nước”.

Khang Anh

cand.com.vn

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời – Sự thật về DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”

LÊ TRỌNG VĂN (San Diego, California)

Trước hết, xin có đôi lời, tôi chỉ là người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và nòi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào. Sở dĩ, tôi viết bài này vì nhận thấy gần đây có nhiều người viết sai sự thật lịch sử về Hồ Chí Minh.

Lý do tôi viết bài này

Hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày lễ Độc lập của nước Việt Nam; để tưởng nhớ đến sự nghiệp cách mạng và công ơn Bác đã lãnh đạo, quy tụ được trí thức, chủ trương toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập thắng lợi, nên tôi viết bài này.

Đối với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của riêng Việt Nam mà đích thực, Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới. Người đã đi tiên phong trong công cuộc giải phóng dân tộc của các nước bị trị bởi thực dân trên toàn thế giới. Không phải bây giờ tôi mới nói điều này mà tôi đã viết trong quyển: Việt Nam – Những sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20, trang 201, xuất bản tại Mỹ năm 2005:


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại mặt trận Đông Khê (1951). Ảnh TL.

Tất cả công trạng ông Hồ đòi được và nhờ vậy sau này ông Diệm được hưởng, quốc vương Lào Savang Vatthana, ông hoàng Norodom Sihanouk của Cao Miên, đòi được độc lập năm 1954; Tunisie được trả độc lập năm 1956, Madagascar năm 1960, Sénegal năm 1960, Congo năm 1960, Cộng hòa Nam Phi năm 1962, Algérie năm 1962; Ấn Độ thuộc địa Anh được độc lập năm 1947 (ngày 14/8/1997 họ mới kỷ niệm 50 năm độc lập), Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949, Mã Lai Á thuộc địa Anh được độc lập năm 1957, Singapore năm 1958. Chỉ riêng Philippines được Mỹ tự ý trao trả độc lập năm 1946. Tất cả đó là do công của ông Hồ và Đảng cộng sản Việt Nam đứng lên lãnh đạo cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ thuộc địa, chế độ thực dân trên toàn thế giới”.

DVD Sự thật về Hồ Chí Minh chỉ là ác ý, bịa đặt, nói xấu

Mới đây, ở nước ngoài; một nhóm chống Cộng và chống luôn cả dân tộc đã hồ hởi làm ra một DVD Sự thật về Hồ Chí Minh. DVD đó là “sản phẩm trí tuệ” của linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo? Và hai người này đồng thời lập ra một tổ chức có tên gọi là “Phong trào Quốc dân đòi đổi tên Sài Gòn”.

Thật ra, người ta chỉ mượn danh Lm. Lễ để lôi kéo những người công giáo vào cho đông. Đằng sau DVD này là nhiều tổ chức, trong đó có Việt Tân và có nhiều chuyên viên làm phim thực hiện.

Mặc dù DVD được phát không và đã được vận động ồn ào, quảng cáo rầm rộ trên nhiều báo, nhiều đài, nhiều trang web; nhưng đa số người Việt di tản thầm lặng không mấy hưởng ứng, đến nỗi phải quảng cáo phát không và gửi đến tận nhà không mất cước phí.

Sau khi DVD Sự thật về Hồ Chí Minh được tung ra, thì đã có nhiều bài viết đả kích và cũng có nhiều người lên tiếng ủng hộ trong giới chống Cộng.

Tôi cũng được một người bạn gửi tặng DVD quảng cáo Sự thật về Hồ Chí Minh, tôi đã xem hai lần, nhưng trong đó không có gì về sự thật Hồ Chí Minh cả, mà chỉ nói vớ va, vớ vẩn về đời tư của ông. Những người này nói ông Hồ Chí Minh có nhiều tên. Ngày sinh nhật không phải ngày 19 tháng 5. Ông có nhiều vợ và đã làm đơn xin việc với Phủ Toàn quyền Đông Dương…

Chẳng lẽ họ không biết rằng, một người muốn hoạt động chống thực dân phải có nhiều tên để che giấu lý lịch của mình. Họ cũng không biết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những 1205 bài báo và có tới 53 bút danh. Còn nói Hồ Chí Minh có nhiều vợ thì mọi người đều biết rằng lúc về Hà Nội, Bác chỉ sống độc thân cho tới lúc mất.


Hồ Chủ tịch lội suối đi công tác. Ảnh TL.

Cái mà mọi người để ý đến là Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu gì trong việc cứu nước? Về vấn đề làm việc hay xin việc làm với chính quyền bảo hộ, tôi cho rằng nếu muốn chống lại kẻ địch thì cách tốt nhất nên đi sâu vào nội bộ địch. Họ đã cố tình hiểu sai, viết sai và nói sai với mục đích xuyên tạc sự thật.

Rõ ràng việc làm ra DVD này là không trung thực và hàm hồ vì những người có liên hệ đến DVD Sự thật về Hồ Chí Minh đều là những người có lập trường chống Cộng. Hơn nữa, họ không phải là những nhà viết sử chân chính. Họ không phê bình Hồ Chí Minh hay việc làm của ông mà toàn là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu. Xét ra, họ không đủ tư cách để viết hay nói về cuộc đời của Hồ Chí Minh.

Phản tác dụng của nhóm làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh

Hai tác giả của DVD là Lm. Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo đã có nhiều tai tiếng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Nhất là trong vụ Bùi Đình Thi (cựu đại úy của miền Nam), Lm. Lễ đã ra làm chứng trước Tòa án Mỹ nhằm buộc tội ông Thi nên bị nhiều người phản đối. Còn ông Trần Quốc Bảo, người đứng đầu tổ chức đảng Phục Hưng Việt Nam có liên hệ với Việt Tân cũng là đại diện của “Phong trào Quốc dân đòi lại tên Sài Gòn”.

Với Lm. Lễ, xin hãy đọc một đoạn sau đây thì biết Lm. Lễ là người như thế nào? Trong Thư ngỏ đăng trên báo Người Việt gửi Lm. Nguyễn Hữu Lễ của ông Joseph Minh Tong (minh7us@yahoo.com) viết:

Xin hãy trở về với “Thiên chức linh mục” của mình và xin linh mục hãy từ bỏ những bài báo, e-mail và những cụm từ không mấy tốt đẹp mà dân gian vẫn dùng kèm theo với chữ “cha” để diễn tả.

Xin hãy dẫn dắt đoàn chiên của ngài đến ăn những đồng cỏ xanh tươi, uống những dòng suối nước trong lành, không có độc tố hận thù, ích kỷ, nhỏ mọn. Tội nghiệp thay cho đoàn chiên Việt chúng tôi đã quá đau khổ trong bao nhiêu năm qua vì hận thù, chém giết. Xin cho chúng tôi và con cháu chúng tôi nghe chuyện yêu thương, tha thứ, rộng lượng và còn biết bao nhiêu giá trị tinh thần khác mà hơn ai hết là một mục tử ắt linh mục biết, nhưng có lẽ linh mục đã để lòng thù hận che mất đi từ khi nào.

Cái nhìn của linh mục đã quá ư hẹp hòi và văn chương của linh mục chứa đầy hận thù, ích kỷ và gương xấu. Linh mục có dự định yêu cầu bà con ở Việt Nam chấm dứt xuất ngoại, cũng như đừng gửi thư ra nước ngoài xin giúp đỡ và rồi kiều bào Việt Nam ở hải ngoại đừng gửi tiền về cho thân nhân không? Số tiền giáo dân giúp cho Giáo hội Việt Nam làm sao sánh được với số tiền khổng lồ mà bà con ở hải ngoại gửi về giúp thân nhân hằng năm”.

Việc đòi lại tên Sài Gòn

Theo tôi, phải đặt câu hỏi: Ai đòi và đòi ai?

Ông Bảo nói: Quốc dân đòi. Thật ra từ “Quốc dân” để chỉ nhân dân ở trong nước. Ngay cả ông Bảo và Lm. Lễ đã xin đổi quốc tịch Việt Nam rồi. Đâu còn quốc tịch Việt Nam nữa. Hai chữ “Quốc dân” dính liền với đồng bào trong nước. Ông Bảo lấy tư cách gì mà hiệu triệu quốc dân đồng bào?


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Ảnh TL.

Và nếu đòi được thì đòi bằng cách nào? Đòi với ai?

Chúng ta cứ xem lịch sử Hoa Kỳ thì biết, người dân Mỹ là những dân nhập cư tứ xứ, hợp chúng nhưng người ta không mang trong đầu óc hận thù, thiển cận, hẹp hòi. Miền Bắc thắng miền Nam và đi tới thống nhất đất nước Hoa Kỳ. Họ đâu có nuôi hận thù và gây chia rẽ; trái lại họ đã chung lưng đấu cật, xây dựng một Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ giàu mạnh nhất thế giới.

Bất kỳ ở bang nào tại Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ cũng lấy tên tổng thống Washington; không một bang nào là không có. Vậy thì việc đổi tên thành phố Sài Gòn ra Thành phố Hồ Chí Minh không phải là điều lạ mà là điều phổ thông trong lịch sử cận đại.

Lịch sử đã sang trang, dù những người chống Cộng ở nước ngoài có muốn thay đổi cũng không thể lật ngược được lịch sử?

Làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh để bịa đặt, nói xấu và làm tiền

Lý do tại sao họ làm ra DVD trên đây? Vì những người chống Cộng ở nước ngoài nghĩ rằng cứ đạp đổ huyền thoại về Hồ Chí Minh tất nhiên sẽ đem lại thắng lợi trong công cuộc chống Cộng. Cái tên “Hồ Chí Minh lừng lẫy khắp năm châu”, cái tên Hồ Chí Minh làm cho họ ăn không ngon, ngủ không yên nên phải tìm cách hạ cho bằng được, bất kể bằng phương tiện nào?

Mục đích của những người làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh là để trục lợi. Nhưng họ đã mua lấy thất bại vì ngây thơ tưởng rằng sẽ bán DVD được nhiều là có tiền. Nhưng sự thật lại khác hẳn, đa số Việt kiều thầm lặng không ai mua và cũng không muốn xem đồ giả được ráp nối sơ sài. Chỉ có một số ít chống Cộng lấy DVD về xem nhưng lại “quên” gửi tiền ủng hộ.

Mặt khác, nếu chúng ta xem kỹ DVD sẽ thấy trong DVD, họ đã không cắt xén được sự nghiệp cao cả cứu nước của Hồ Chí Minh.

Nếu nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy những phần tử chống Cộng ở nước ngoài chẳng làm nên trò trống gì mà chỉ biết nói ba hoa, viễn vông; sống với dĩ vãng chẳng có gì là tốt đẹp như vấn đề “cờ vàng ba sọc đỏ” chẳng hạn. Họ đều gọi cờ đó là quốc kỳ. Nếu đã là quốc kỳ thì phải có đủ các yếu tố: Lãnh thổchủ quyền và nhân dân làm gốc. Thiếu một trong những điều kiện trên đây thì sao gọi là quốc kỳ được?

Hiện tại, họ đang sống gửi trên đất người. Hơn ba chục năm chống đối Việt Nam từ chống Cộng đi tới chống lại dân tộc, chưa có lần nào đạt được thắng lợi cho dù là cỏn con. Kết quả là đi từ thất bại này đến thất bại khác; riết rồi hy vọng trở thành ảo vọng. Hiện tại thì gãy đổ, tương lai thì mù mịt, quanh quẩn chỉ đấu láo với nhau và nuôi dưỡng hận thù.

Họ không có gì để bám víu nên chỉ sống với quá khứ để tự an ủi lấy mình, sống cho qua ngày vì họ đã tự mình đánh mất quê hương.

Bước đầu tiên là họ chống giải tỏa cấm vận Việt Nam đã thất bại. Sau đó là cấm Việt kiều gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước cũng đi tong. Thứ đến, chống việc đặt quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng thất bại. Chống không cho Việt Nam vào WTO cũng thất bại. Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã lập thêm một Tòa Tổng lãnh sự Việt Nam tại Houston, Texas.

Cách đây, chừng vài năm về trước, văn hóa phẩm Việt Nam được họ gọi là văn hóa nhà quê, răng đen mã tấu, nhưng hiện nay báo chí trong nước và băng nhạc trong nước đã tấn công văn hóa chống Cộng; các cửa hàng Việt Nam bán rất nhiều đĩa nhạc xuất xứ từ Việt Nam. Thậm chí đài truyền hình Việt Nam VTV4 đã công khai và lan tràn đến với từng nhà bà con Việt kiều với nỗi vui mừng được thấy hình ảnh đẹp đẽ tuyệt vời của quê hương hàng ngày.

Cái đau đớn nhất của họ là hai vấn đề mà họ chống đều thất bại. Đó là cấm Việt kiều về thăm quê hương Việt Nam và gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước. Mỗi năm, gần đến Tết cổ truyền của dân tộc là Việt kiều về nước ăn Tết mỗi ngày có đến mấy nghìn người. Và theo con số thống kê thì Kiều hối gửi về trong năm 2008 lên đến 7 tỉ đô la.

Những nhà viết Sử chân chính mới có đủ tư cách
viết về cuộc đời Hồ Chí Minh

Điều trước tiên, phải thành thật nói rằng, những người chống Cộng và làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh không phải phê bình đúng cách mà chỉ biết đặt điều nói xấu, kể ra những điều không đúng sự thật và như vậy là bịa đặt. Họ chỉ nói theo cảm quan của riêng mình: Họ không có khả năng lý luận như những nhà viết sử chân chính và không khách quan nhìn vào những sự việc đã thực sự xảy ra.


Nhân dân nước Nga đặt hoa trước tượng đài Hồ Chí Minh
kỉ niệm lần thứ 64 ngày Quốc khánh nước Việt Nam
và lần thứ 40 ngày mất của Hồ Chủ tịch. Ảnh: Châu Hồng Thủy.

Nói chung, họ không đủ tư cách để viết về cuộc đời và việc làm của ông Hồ Chí Minh trong việc tranh đấu giành lại độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Bằng chứng khác, Hoa Kỳ là một đất nước tự do, tuy có chiến tranh Việt Nam xảy ra nhưng không vì lẽ đó mà họ cho rằng ông Hồ Chí Minh là người xấu. Nên các thư viện ở Mỹ, thư viện nào cũng có sách của người Mỹ viết về Hồ Chí Minh. Không riêng gì ở Mỹ mà ở Canada, Úc, Tân Tây Lan và cả các nước ở châu Âu, ở châu Á thì Thái Lan, Nhật… bất kỳ thư viện nào cũng có sách viết về cuộc đời Hồ Chí Minh.

Cũng vì vậy mà chúng ta thấy có nhiều tác giả người ngoại quốc từ Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan, Nhật, Pháp, Đức… viết sách về Hồ Chí Minh vì họ quan niệm Hồ Chí Minh là người của lịch sử. Sách của họ viết có dẫn chứng và trung thực khách quan.

Tôi không có khả năng liệt kê hết các tên tuổi của những tác giả ngoại quốc khác viết về Hồ Chí Minh. Xin thành thật xin lỗi quý độc giả vì điều thiếu sót này. Và sau đây là tên các tác giả viết về Hồ Chí Minh (1) mà tôi đã xem qua:

  1. Pierre Brocheux với quyển: Biography of Ho Chi Minh.

  2. Peter A. Decaro với quyển: Ho Chi Minh Rhetoric for Revolution.

  3. Peter Deway với quyển: Strategy, Tactics and Ho Chi Minh.

  4. William J. Duiker với quyển: Ho Chi Minh: A life.

  5. Charles Fenn với quyển: Uncle Ho.

  6. Frances Fitzgerald với quyển: Chairman of the Worker’s Party of Vietnam.

  7. Bamber Gascoigne với quyển: Ho Chi Minh – Nguyen Sinh Cung.

  8. Jean Lacouture với quyển: A Political Biography.

  9. Milton Osborne với quyển: A History of Ho Chi Minh trail.

  10. Sukprida Phanomyong với quyển: Prathet Viet Nam kab Lung Ho.(Nước Việt Nam và Bác Hồ).(2)

Một bằng chứng hùng hồn khác là ở Thái Lan, mặc dù Chính phủ Thái Lan thân Mỹ nhưng họ vẫn công nhận Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo có tài, có đức nên Chính phủ đã cho phép chính quyền địa phương lập ra những nhà lưu niệm để giữ kỷ vật của Bác Hồ khi Bác còn hoạt động ở Thái Lan và tổ chức cán bộ.

Hiện ở các tỉnh: Phi Chịt, Mahả Sảrakham, Sakol Nakhorn, Nakhorn Phanôm, Uđon đều có các nhà lưu niệm kỷ vật của Bác Hồ.

Tại sao Việt kiều ở Thái Lan rất sùng kính Bác Hồ? Vì rằng, họ đã thấy tận mắt những gì Bác Hồ bươn chải, gian lao, khó nhọc khi đi làm cách mạng, vì nước vì dân nên họ đặt niềm tin nơi Bác.

Chúng ta thử nghĩ xem, không nhẽ Việt kiều ở Thái Lan, tất cả đều là những người thơ ngây, nhẹ dạ. Bạn cứ đến vùng Đông Bắc Thái Lan bạn sẽ thấy Việt kiều, nhà nào cũng có bàn thờ Tổ quốc, trên bàn thờ đều có quốc kỳ nền đỏ sao vàng và ảnh bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phải thành thật mà nói rằng, Việt kiều ở Thái Lan trang trọng thờ kính Bác Hồ như một vị thánh sống. Xem như vậy đủ biết uy tín của Bác như thế nào? Dưới suối vàng Bác sẽ mỉm cười với sự nghiệp cách mạng mà Bác đã lựa chọn.

Ở nước ngoài những thành phần phản động, vô Tổ quốc làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh nhằm mục đích phá vỡ huyền thoại về Hồ Chí Minh đã mang lấy thất bại vì không được sự hưởng ứng của đa số Việt kiều thầm lặng; họ chẳng thèm để ý đến và cho đó là chuyện vớ vẩn. Cho nên nhóm làm DVD Sự thật về Hồ Chí Minh không đạt được mục đích. Trái lại, còn bị đả kích dữ dội.

Khách quan mà nói cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn đối với thế giới, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xây dựng khối hòa bình gồm nhiều dân tộc, coi nhau như bầu bạn, cùng sống với nhau trên những nguyên tắc hòa thuận hữu nghị, cùng nhau ra sức giữ gìn hòa bình thế giới”.

Người mong muốn như vậy và hành động vì mục tiêu đó – vì dân tộc và nhân loại. Vì vậy, UNESCO đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, một Nhà văn hóa lớn vì Người đã làm sáng tỏ khát vọng ý chí của các dân tộc bị áp bức, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức hòa bình vì tương lai của nhân loại.

Kết luận

Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung có giáo mác, ngựa voi. Hồ Chí Minh chỉ có tầm vông vạc nhọn và vài khẩu súng lỗi thời, so với địch là các cường quốc có máy bay, xe tăng, pháo binh, xe lội nước, tàu chiến và nhiều tiền cùng với chư hầu tay sai và đạo quân thứ năm lúc nào cũng sẵn sàng phản bội Tổ quốc để làm nội ứng cho quân thù, là một cuộc đọ sức không cân sức. Thế mà, do tài tổ chức, lãnh đạo thao lược và nhất là trí tuệ của Hồ Chí Minh đã đạt được thắng lợi và thống nhất đất nước.

Hồ Chí Minh đích thực là Anh hùng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam, và là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Cuộc đời của Người vĩ đại không chỉ trong lịch sử Việt Nam mà cả trong lịch sử thế giới.

Với riêng tôi, tôi kính trọng Bác Hồ về nhiều mặt: Trí tuệ, tài đức (cần – kiệm – liêm – chính)… Thật vô cùng cảm động lúc Bác ra đi chỉ để lại có bộ quần áo kaki và một đôi dép râu.

California, viết để kỷ niệm ngày Độc lập 2 tháng 9.

Vài dòng về tác giả

Ông Cửu Long Lê Trọng Văn từng là cố vấn tình báo của Ngô Đình Nhu. Nhưng sau biết Ngô Đình Nhu và chế độ Ngô Đình Diệm làm việc không phải vì dân tộc Việt Nam, ông Văn rút lui. Vì thế, ông đã viết rất nhiều sách lên án tội ác của chế độ Diệm (như cuốn hồi ký Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ DiệmMẹ Việt Nam, NXB ở Hoa Kỳ năm 1997). Ông cũng viết nhiều sách về Trương Vĩnh Ký, viết về những trí thức làm tay sai cho thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cách đây hơn 10 năm, ông đã có một bài viết về Bác Hồ đăng trên Đông Dương Thời Báo.


Vài tác phẩm của tác giả


(1) Những tác giả trên đây có người viết rất nhiều sách về Việt Nam và Bác Hồ.

(2) Sukprida Phnomyong là một trong sáu người con của cựu thủ tướng Thái, ông Pridi Phanomyong. Lúc làm Thủ tướng, ông Pridi đã có nhiều cảm tình với Bác Hồ. Vì thế, cho nên lúc Việt kiều mới tản cư từ Lào qua Thái Lan, Thủ tướng Pridi cho đắp đê dọc sông Mê-kông với mục đích tạo công ăn việc làm cho Kiều bào.

honvietquochoc.com.vn