Archive | Tháng Hai 2012

Thế giới nói về Người

“… Chúng ta được tiếp xúc với một người. Người ấy là một phần lịch sử của châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta không chỉ được tăng thêm về sự hiểu biết mà chúng ta còn lớn lên về tầm vóc. Được gặp Người ấy, một con người từng trải khiến chúng ta trở nên tốt hơn.

… Thật là một điều hân hạnh được gặp con người vĩ đại và có sức hút mãnh liệt đối với chúng ta. Mặc dầu trong thế giới ngày nay còn có khác biệt và xung đột, nhưng được gặp Bác Hồ, chúng ta thật sung sướng được thấy lòng tốt của con người… tình bạn, lòng nhân ái sẽ vượt qua tất cả”.

P.J.Nêru, Thủ tướng Ấn Độ. Trích lời phát biểu trong tiệc chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 7-2-1958

“Người không phải chỉ là một người yêu hoà bình mà còn là một nhân vật đặc biệt đáng yêu và hữu nghị, một con người không nghĩ gì đến mình, giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người không tự giam mình trong tháp ngà. Về cơ bản, Người là một con người của quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết nhất. Xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.

P.J.Nêru, Thủ tướng Ấn Độ. Bài đăng trên Báo Người yêu nước của Ấn Độ, số ra ngày 14-9-1969

“Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”.

Inđira Ganđi, Thủ tướng Ấn Độ. Điện chia buồn, ngày 4-9-1969

“… Được gặp gỡ và nói chuyện với Đồng chí Hồ Chí Minh là một ấn tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tỏ ra mình là một con người vĩ đại.

Mặc dầu những trọng trách phải gánh vác, Người vẫn thân ái, nhiệt tình và sôi nổi làm cho bạn cảm thấy thoải mái ngay”.

Giôn Gôlan, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh. Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 15-11-1969

“… Tôi chưa có dịp được hân hạnh gặp Người, nhưng qua nhiều tài liệu mà tôi đã được đọc, qua những hoạt động của Người, sự thật Người là một nhà cách mạng vĩ đại, một người vĩ đại của thời đại…”.

T.Étlandô, Thủ tướng Thụy Điển. Báo Nhân Dân, số ra ngày 9-9-1969

“Trước hết phải nói một ý nghĩa rất riêng: chúng tôi thấy và cảm thấy rằng ở Việt Nam mọi người yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh như thể yêu mẹ hoặc yêu con của mình. Mọi người yêu Người, song không phải như yêu một ông Trời, mà yêu như thể yêu mẹ hoặc yêu con. Bởi thế, tình yêu đối với Người sâu xa, vô tận. Có thể cảm thấy điều đó ở từng người Việt Nam. Đây không phải là tình yêu huyền bí, mà là một tình yêu thực tế. Nhưng cũng có cái thực tế tuyệt đẹp tới mức có thể biến thành một bông hoa. Và tình yêu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình yêu đối với hoa hoặc đối với súng, cũng như tình yêu đối với mẹ hoặc đối với con. Đó là điều mà chúng tôi cảm thấy ở Việt Nam.

… Trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh có một sức mạnh khiến người ta vững tin rằng có Người ở Việt Nam thì không thể có chuyện gì xảy ra, rằng không bao giờ vắng Người ở Việt Nam, rằng Người mãi mãi ở Việt Nam, và vì thế Việt Nam mãi mãi có Người, Việt Nam mãi mãi là của Người”.

Ađê Xantamaria, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba: Việt Nam mãi mãi có Người.
Tuần báo Cuba Bôhêmiêng, số ra ngày 12-9-1969

“Tôi đã thấy được một con người đôn hậu, vui tính, giản dị, hết sức nhạy bén đối với những người xung quanh. Đồng thời tôi cũng thường xuyên cảm nhận được tầm vóc lớn lao và siêu phàm trong nhân cách – sức mạnh trí tuệ, sự sáng suốt và ý chí của Người.

Mối liên hệ giữa Đồng chí Hồ Chí Minh với đất nước và đồng bào mình là mối liên hệ thường xuyên và vững chắc. Trong nhiều năm, Người sống xa Việt Nam, nhưng không bao giờ mối liên hệ đó suy giảm đi, đó là nguồn sức mạnh và là chỗ dựa vững chắc của Người trong những năm khó khăn nhất.

Làm cách mạng, tìm kiếm con đường đi đến tự do, đó là tính chất chủ yếu trong nhân cách của Đồng chí Hồ Chí Minh”.

Ecatêrina Vecnisêva, Đạo diễn phim Tên Người là Hồ Chí Minh. Tạp chí Tổ quốc, số 9-1985

“”Bác Hồ của chúng tôi”! Biết bao lần trong thời gian ở Việt Nam, tôi đã nghe mấy tiếng đó! Trong giọng nói trẻ trung của các em bé, trong giọng nói ngọt ngào của các cô gái, trong tiếng nói có vẻ mệt mỏi của những người già, nhưng luôn luôn những tiếng ấy vang lên một cách trìu mến, kèm theo một nụ cười rạng rỡ trên những khuôn mặt.

“Bác Hồ!” hai tiếng ấy là cả tình yêu của hơn ba mươi triệu người Việt Nam đối với vị Chủ tịch nước”.

Phêlich Pita Rôđrighết, Chủ tịch Hội Nhà văn Cu ba

“Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình…

Nếu so sánh với vũ khí thì điều đó quan trọng không kém tất cả vũ khí của hạm đội 7… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên…”.

Êlen Tuốcmerơ: Trở thành người Bác như thế nào? Sách vàng về Việt Nam, Nhà sách Viện Hàn lâm, Béclin, 1966

“Vào thăm ngôi nhà của Người, tôi càng cảm thấy Đồng chí Hồ Chí Minh vẫn sống. Từng chi tiết nhỏ cũng như toàn bộ ngôi nhà đều ánh lên sự thông thái của Người và còn nguyên dấu vết cuộc đời của một con người đầy tình yêu nhân dân, đầy yêu thương con trẻ, dào dạt tình yêu Tổ quốc, yêu những người lao động, yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Ngôi nhà nhỏ bé giản dị của Bác Hồ chứa đựng một bài học hùng hồn và rõ ràng về đức tính khiêm tốn cách mạng, trí thông minh, bình tĩnh, phục vụ nhân dân và sự nghiệp giải phóng, kiên quyết lên án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân…”.

Xaphích Horêhơ Hađen, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản En Xanvađo. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 1-6-1980

“Thái độ của Người giản dị không thể tưởng tượng được. Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt nổi bật khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Companeros, gracias!” (cảm ơn các đồng chí!) và bao giờ cũng vậy, Người nói thêm: “Que lejos estado su pais!” (đất nước của đồng chí xa quá!). Tôi ngạc nhiên hỏi Người học tiếng Tây Ban Nha ở đâu. Người kể ra trước đây, Người đã từng đi dọc bờ biển khu vực Mỹ Latinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị như thế, mặc dầu có sức hút khổng lồ trên thế giới”.

Xanvado Agienđê, Tổng thống Cộng hoà Chilê. Trích bài nói chuyện với nhà báo Pháp Rêgi Đơbray, đăng trên Báo Pruntô Phinan (Chilê). Báo Cứu quốc, số ra ngày 16-5-1971

“Đến thăm ngôi nhà của Đồng chí Hồ Chí Minh đã giúp chúng tôi hiểu biết hơn nữa và khắc sâu thêm lòng kính yêu Người. Chúng tôi biết nói gì bây giờ? Một tấm gương tuyệt đẹp mà Đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu lên trong cuộc đời khiêm tốn, giản dị của mình…”.

Đanien Naamê, Uỷ viên Bộ Chính trị Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Xiri. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 30-3-1982

“Có biết bao nhiêu tấm gương cổ vũ lớp người trẻ đứng vào hàng ngũ của phong trào cộng sản. Hồ Chí Minh đã và đang là những tấm gương như vậy.

Bởi vậy, Đồng chí Hồ Chí Minh đã dựng nên một đài kỷ niệm sống vĩ đại ở nước Cộng hoà Liên bang Đức”.

Hơbớt Misơ, Chủ tịch Đảng Cộng sản Cộng hoà Liên bang Đức. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 16-12-1976

“Trong những năm công tác ở Việt Nam, tôi đã nhiều lần nhìn thấy và được nghe Đồng chí Hồ Chí Minh nói… Chỉ riêng vóc dáng bên ngoài của Người cũng khiến những người xung quanh có ấn tượng không sao quên được. Những “nét đặc biệt” trên khuôn mặt Người là chòm râu bạc điển hình của các cụ già Việt Nam, và đôi mắt kỳ lạ có một không hai: luôn luôn tươi trẻ, linh hoạt, rực sáng, pha chút hóm hỉnh, cái nhìn chăm chú, tinh anh nhưng hiền hậu, dễ mến. Ai cũng ngạc nhiên thấy dáng đi của Người lúc nào cũng nhẹ nhàng, cử chỉ, động tác lúc nào cũng gọn gàng, dứt khoát và giọng nói, tiếng cười lúc nào cũng nhiệt tình, tươi trẻ. Sự quan tâm chân thành của Người đối với những ai được tiếp chuyện, thái độ ân cần, niềm nở đặc biệt của Người đã tạo nên bầu không khí thoải mái, thân ái ngay từ những phút đầu gặp gỡ. Cũng như tất cả những ai mong muốn được gặp Người, tôi sửng sốt thấy Người kết hợp được một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn tính giản dị và lòng nhân đạo hiếm có với ý chí sắt đá và lòng dũng cảm vô song của một chiến sĩ cách mạng.

Hồ Chí Minh thuộc đội ngũ chiến sĩ cách mạng chân chính, xuất sắc của chủ nghĩa Lênin. Những chiến sĩ thuộc đội ngũ này chẳng những tiếp thu và thực hiện học thuyết Lênin vĩ đại trong thực tế mà còn bằng phẩm chất cá nhân của mình, bằng tấm gương của đời mình thể hiện sức hấp dẫn mạnh mẽ của tư tưởng cộng sản. Một nhà báo đã hỏi Xanvađo Agienđê, người con quang vinh của nhân dân Chilê: “Ba đức tính nào của những nhà hoạt động chính trị mà Ngài muốn có và Ngài sẽ lấy ai làm gương?” Agienđê trả lời: “Liêm khiết, nhân đạo và vô cùng khiêm tốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người là tấm gương sáng cho tất cả những người cộng sản Việt Nam, cho toàn thể nhân dân Việt Nam về việc phải chăm lo lợi ích xã hội, phải lôi cuốn quần chúng theo mình, phải tổ chức phong trào thi đua, phải ủng hộ tất cả những gì tiên tiến, tích cực, phải mở rộng phê bình, và tự phê bình, phải đấu tranh cho kỷ luật sắt, phải nâng cao nhiệt tình của quần chúng, phải động viên các tầng lớp nhân dân rộng rãi đứng lên đấu tranh quyết liệt chống kẻ thù, lập chiến công và xả thân cho tự do, độc lập của Tổ quốc.

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng yêu quý thiếu nhi. Bản thân Người vốn không được hưởng hạnh phúc gia đình, nên Người đã dành tất cả tấm lòng yêu thương của người cha cho hàng triệu trẻ em ở Việt Nam mà Người đã gọi trìu mến là các cháu.

Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối quan hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Bằng toàn bộ cuộc đời và hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các chiến sĩ xuất sắc khác đấu tranh cho sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản, đã chứng minh cho chân lý bất di bất dịch sau đây: người nào yêu Tổ quốc mình tha thiết thì cũng không khi nào phản bội lại các lý tưởng của tình đoàn kết quốc tế và ngược lại, chỉ những người theo chủ nghĩa quốc tế một cách kiên định thì mới là người yêu nước chân chính, mới đem lại lợi ích to lớn cho Tổ quốc mình, nhân dân mình”.

Épghênhi Cabêlép (Liên Xô): Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985

“Phải nói Bác Hồ cực kỳ nhã nhặn, vô cùng lịch thiệp và thoạt nhìn thấy Người thật hấp dẫn…

Tôi còn nhớ có lần từ ngoại ô về, Người có một quả táo to lắm. Ông để dành mãi để làm quà cho con gái tôi mà Người đã coi như cháu mình. Ông là Bác Hồ thì mọi việc đều trở nên hết sức đơn giản.

Người tỏ ra có quyền lực lãnh đạo đối với mọi người bằng tấm lòng nhân hậu, chí công vô tư, bằng tuổi tác, bằng trí thông minh và trình độ học thức, nói chung bằng tất cả vốn văn hoá cách mạng đã tích tụ được ở Pháp, ở Nga và có thể ở nhiều nơi khác. Đó là một nhân vật trung tâm điều hành công việc… hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư. Trong ánh mắt những người xung quanh, và người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ” .

Tướng P.Valuy (Pháp): Trả lời phỏng vấn Tạp chí Hành tinh Hành động, Pari, tháng 3-1970

“… Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này – hơi giống Ganđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Ông là một người bônsêvích kỳ cựu và là một thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp (có điều gì xa lạ hơn đối với một nông dân bình thường?). Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của đời sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh, và thắng lợi của họ… Ông là một thành viên của thế giới cộng sản lâu năm hơn Mao và ông đã tập hợp quanh mình một số rất đông những thanh niên ưu tú. Ông đã trải qua cách mạng, chiến tranh, phát triển sau chiến tranh và một cuộc chiến tranh nữa mà không hề thanh lọc người nào. Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng độc nhất không có xáo trộn (theo những người nghiên cứu lịch sử của Đảng này) chủ yếu là nhờ đức tính quán xuyến của vị lãnh tụ của họ, vị lãnh tụ này đã phối hợp được hoàn toàn nghệ thuật chính trị lâu dài và trước mắt.

Nhưng đối với nhân dân, ông luôn luôn là biểu tượng mà họ cần có: ông cũng là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hoà nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc bộ quần áo đơn giản nhất, cách mặc của ông không khác người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà người phương Tây đã chế giễu trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hoà mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành người Tây hơn là người Việt Nam, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát, trong một nước mà khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người ngoài, tính giản dị của ông Hồ là một điều có sức mạnh. Địa vị càng cao, ông càng giản dị và trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Năm 1952, giữa cuộc chiến tranh, ông có thể kết thúc một cuộc họp của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cách nói với Hội nghị: Về một người cách mạng và một Đảng cách mạng, nhà văn lớn của Trung Quốc, Lỗ Tấn, đã có câu thơ:

Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ
Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng.

“Nghìn lực sĩ”, ông giải thích, “là kẻ địch mạnh như thực dân Pháp và can thiệp Mỹ hoặc là những khó khăn gian khổ”. “Các nhi đồng” có nghĩa “là quần chúng nhân dân yêu chuộng hoà bình hoặc là những việc làm có lợi cho nước nhà, cho Đảng”.

Bằng tư cách lãnh đạo xuất sắc như vậy, ông Hồ đã góp sức cải tạo một thời đại. Trong những thập niên 20 và 30, ông đã là một trong những người chỉ trích mạnh bằng lời nói đối với chế độ thực dân, một tiếng nói đơn độc và thường bị làm ngơ. Trong thập niên 50, ông là người đã lập ra một bộ máy chính trị và quân sự, lãnh đạo một nước nông nghiệp lạc hậu trong một cuộc cách mạng thành công chống lại một sức mạnh phương Tây – một cuộc chiến tranh không những đã chấm dứt nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam mà còn chấm dứt cái thần thoại về quyền bá chủ của người da trắng và địa vị thấp kém của những người có màu da khác ở khắp thế giới thực dân. Nó còn làm lung lay lòng tin của một thế hệ da trắng vào các tư tưởng và chế định của họ, làm cho họ không nghĩ rằng cái tư tưởng của chế định đó là hay nhất, và chỉ có vấn đề là các tư tưởng và chế định đó từ Âu, Mỹ, nơi mà chúng phát triển tới áp đặt ở châu Á và châu Phi một cách cần mẫn. Cái mà ông Hồ đã đề ra trong cuộc chiến tranh cách mạng thành công chống Pháp và trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đã có một tác động lớn lao đối với phương Tây và thế giới kém phát triển. Và ở đây, thế hệ trẻ đặc biệt hiểu và có cảm tình với một ông Hồ đã làm hơn cha anh họ nhiều. Thật vậy, thậm chí nước Mỹ đang đánh nhau với quân đội của ông Hồ, cuốn sách xuất bản ở Mỹ nói về những tác phẩm của ông, Hồ Chí Minh nói về cách mạng lại khoe: “Được viết từ trong thời gian biệt xứ và trong chiến đấu đây là kinh thánh chính trị được một nửa thế giới noi theo”.

Khắp thế giới kém phát triển, sau Điện Biên Phủ, người Bắc Việt Nam đã được đối xử với một niềm kính trọng đặc biệt. Họ đã tự tiến hành lấy cuộc chiến tranh của họ và họ đã chiến thắng, không còn nghi ngờ gì nữa về điều đó. Việt Nam, một nước nhỏ, đã chứng minh cho người châu Á, châu Phi thấy rõ là có thể đánh bại được người phương Tây, dù là về mặt đạo lý, thể chất hay tinh thần. Nhưng người Bắc Việt Nam đã đánh bại một nước lớn phương Tây. Họ đã chiến thắng vì họ anh dũng hơn, tinh khôn hơn và trung thành hơn đối với sự nghiệp của họ. Thế nhưng, đối với tầm quan trọng phi thường của ông Hồ, đối với cuộc đời phong phú của ông và đối với vị trí của ông như là biểu tượng của cuộc nổi dậy của những người da màu nghèo khổ chống lại người da trắng giàu có, điều đáng lấy làm lạ là ở phương Tây người ta biết ít về ông.

Nhưng ông Hồ không cố ý tìm kiếm những cái trang sức cho quyền lực, vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân và với lịch sử đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách và những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ thấy. Người ta cảm thấy ở ông Hồ một niềm tự tin: mình là ai, cái mình đã làm, một niềm tin sâu sắc đến nỗi không khó khăn gì mà không làm cho nhân dân thấy được điều đó. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển, nơi mà trong một thời gian ngắn từ một nông dân nghèo lên địa vị một người đứng đầu nhà nước, thường làm đề tài cho người ta bàn tán xôn xao và gây ảnh hưởng nhiều hơn là những vật kỷ niệm tự mình xây dựng nên”.

Đâyvit Hênbớcxtơn: Hồ, Nxb. Răngđôm Haosơ, Niu Oóc, 1971

“Đặc điểm nổi bật của Đồng chí Hồ Chí Minh là đức tính nhân hậu toát ra từ con người của Đồng chí. Thái độ ân cần, niềm nở của Đồng chí với bất kỳ ai: gái, trai, trẻ, già, do đó Đồng chí đã gây được thiện cảm của họ ngay từ lúc ban đầu gặp gỡ. Người ta thấy ở Đồng chí vốn sống dồi dào, một sự hiểu biết rộng lớn, với trình độ văn hoá của một người mà không ai quên rằng người đó đã là nhà báo, một nhà văn và một nhà thơ trong số những nhà báo, nhà văn, nhà thơ ưu tú nhất ở Việt Nam.

Từ con người Đồng chí còn toả ra ánh sáng của người chiến sĩ cách mạng đã hoạt động tích cực ngay từ những ngày còn nhỏ tuổi, của nhà yêu nước, yêu dân tộc yêu xứ sở mình và suốt đời chỉ có một mục đích là làm sao cho dân tộc mình được tự do.

Đồng chí Hồ Chí Minh không muốn ai sùng bái mình, nhưng hiếm có một lãnh tụ lại được người ta tôn kính như Người. Đó là lòng yêu mến tuyệt đối của cả một dân tộc đối với Người, khi cả dân tộc đó đều thấy có mình trong con người đó và con người đó đã hy sinh tất cả cho dân tộc mình”.

Lêô Phighe. Bài đăng Báo Nhân đạo. G.Lacutuya trích đăng trong: Hồ Chí Minh, Nxb. Sơi, Pari, 1967

sites.google.com

Hồn Việt, bản sắc Việt trong “Tuyên ngôn Độc lập”

Một sự kiện cách đây 66 năm, không những đi vào lịch sử nước ta mà còn hiện diện vinh danh trong lịch sử thế giới. Đó là ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập(TNĐL), khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là áng văn bất hủ, sánh vai cùng nhiều áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sau “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”: Nam quốc sơn hà Nam đế cư… gắn với cuộc kháng chiến chống giắc Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ của  Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi “Tuyên cáo” về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân ta, từ địa vị nô lệ đứng lên giành độc lập, tự tổ chức ra nhà nước của mình. Áng hùng văn bất hủ này thực sự là một Di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Đọc TNĐL của Bác Hồ, chúng ta nhận ra qua từng lời văn với ngôn ngữ rất chắt lọc của Bác, không những mang tính pháp lý hiện đại, có tầm quốc tế về nội dung, mà còn mang đậm hồn Việt, bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thô-mat Giê-phe-son soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Thô-mat Giê-phe-son. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, dễ hiểu hơn:“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt theo văn phong Việt, phong cách Việt, tính quần chúng hóa rất cao.

Từ chỗ mọi người, Bác đã đưa ra khái niệm lớn hơn, bao quát hơn: Mọi dân tộc, mang đầy đủ ý nghĩa quốc tế vô sản. Đó là một sự suy rộng mang đậm nét Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguyên văn trong TNĐL, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng sự suy rộng ra thành chân lý mang tầm thời đại. Cũng theo quan điểm, tư tưởng quốc tế vô sản, từ cách nhìn “toàn cầu hóa”, tháng 5-1969, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu mai sau, Người đã viết: “… Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn biện: Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà La-dy Bo-rơ-ton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Thô-mat Giê-phe-son vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho TNĐL năm 1776 của nuớc Mỹ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Giá trị rất quan trọng của TNĐL là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên thế giới. Nó khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thế giới, nhất là cộng đồng các quốc gia, các dân tộc đang vươn tới giành tự do, độc lập. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản TNĐL, một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, ông A-Pat-ti, phụ trách đơn vị OSS cộng tác với Việt Minh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho rằng: Ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Để nâng cao giá trị của bản TNĐL vừa mang tính hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng, sau khi soạn thảo, Bác đã đem bản thảo trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc.“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”… Riêng câu nói đó trước khi chính thức đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình đã toát lên tính dân tộc, tính đại chúng trong cách nói và viết của Người. Nó thực sự gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo mục tiêu của một thể chế ưu việt: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trích dẫn những câu chữ rất chọn lọc trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, Bác Hồ muốn mọi công dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới hiểu rằng: Hai nước thực dân, đế quốc to trên thế giới “tuyên bố” như thế, nhưng lại đi xâm lược, tước đoạt quyền tự do, độc lập của các dân tộc khác. Từ đó, lên án thực dân Pháp, đứng sau là quan thầy Mỹ, đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta trong 80 năm, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp trên con đường phát triển tất yếu của nhân loại. Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã minh chứng một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các nước nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn.

Để chứng minh cái quyền tất yếu của dân tộc ta: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức. Vì thế, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ  không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiện. Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ  cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn  đã thấy trên chính trường quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ngày 2 -9-1945 là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

Theo GS.TS. Đinh Văn Đức: Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hay “Bình Ngô Đại cáo”… đều được viết bằng chữ Hán.  Phải đến “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là một tuyệt phẩm của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại – Một hòn ngọc văn hoá có giá trị rất quý báu và trường tồn lâu dài, như chính hồn Việt, dân tộc Việt, con người Việt.

Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện. Bản TNĐL có ba nội dung quan trọng, vừa mang tính khẳng định, vừa là lời hiệu triệu hùng hồn, với những tu từ học và ngắt câu, chốt câu rất độc đáo:

“… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

      Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

      Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

   … Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

      Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

      Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận. Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức  cực kỳ chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do. Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng.

Ngôn ngữ của Tuyên ngôn Độc lập là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế giới”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị… Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi Quân đồng minh vào nước Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ quyền.

Chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Tính dân tộc và tính đại chúng trong TNĐL thể hiện rõ nét ở những câu, từ vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa dễ hiểu để mọi tầng lớp trí-công-nông-binh đều hiểu rõ. Các từ như “thẳng tay”, “tắm”, “nòi giống ta”, “tận xương tủy”, “giết nốt”, “gan góc” hoàn toàn là Việt ngữ, không hề vay mượn, pha tạp chút nào. Ví dụ như: “Chúng đã thẳng tay chém giết”… “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược… Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ… Chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng…”

Đã 66 năm, từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Bác Hồ kính yêu của chúng ta soạn thảo và đã đọc tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với biết bao hy sinh mất mát, nhưng đã “đánh thắng  hai để quốc to là Pháp và Mỹ”, mọi người dân Việt Nam đều thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn mang bên mình như một thứ hành trang không thể thiếu được. Đó là lời hiệu triệu của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập cùng lời hiệu triệu đanh thép và trường tồn ấy vẫn luôn luôn tươi rói trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bùi Văn Bồng

xaydungdang.org.vn

Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Bác Hồ 12Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trước khi đi xa đã căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình được xem là nguyên tắc, quy luật phát triển Đảng, là biện pháp tốt nhất để củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi một tổ chức tốt lên, phần xấu bị mất dần đi.

Trong từng hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh có cách nói khác nhau để đạt được mục đích song Người thường đặt lên trước tự phê bình, sau đó mới đến phê bình. Người cho rằng mỗi cán bộ, đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, cũng như phải tự soi gương, rửa mặt hằng ngày. Hơn nữa, nếu biết tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người luôn nhắc nhở, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình”. Người coi tự phê bình và phê bình là công cụ đắc lực để rèn luyện cán bộ, đảng viên nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ hơn. Người thẳng thắn chỉ rõ “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Tuy nhiên, Người cũng lưu ý để làm được việc đó thì không dễ, “vì người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Người lưu ý cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng từ trên xuống dưới không những phải “luôn luôn dùng” mà còn “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”. Để tự phê bình và phê bình có kết quả thì mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, phải tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, không nể nang, qua loa đại khái, hình thức, không giấu giếm và cũng không thêm bớt khuyết điểm, đặc biệt “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, “phải học tập chủ nghĩa Mác- Lênin và thấm nhuần chính sách của Đảng”. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng mạnh mẽ lên án, phê phán những ai giấu khuyết điểm, không dám thẳng thắn nhận khuyết điểm “Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa được, thì mọi việc đều hỏng”. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh thẳng thắn thừa nhận có lúc Đảng cũng mắc sai lầm song khẳng định rõ: “Đảng ta dũng cảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa”. Hồ Chí Minh và Đảng ta thừa nhận cái sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc thời kỳ 1954 – 1956 và quyết tâm sửa chữa, đã đem lại kết quả tốt đẹp. Nông thôn dần dần ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, chính quyền dân chủ nhân dân được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Những kết quả đó là cơ sở, tiền đề vững chắc đưa miền Bắc nhanh chóng bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Thực tế một lần nữa chứng minh tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và làm theo sự thật” đã tạo ra một cuộc cách mạng to lớn. Cuộc cách mạng ấy đã đem đến sự đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế. Chính quyết tâm đổi mới ấy của Đảng và cả dân tộc đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đến nay, sau hơn 20 năm nhìn lại, đất nước đã và đang có sự chuyển mình to lớn, kinh tế tăng trưởng nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị- xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao.

40 năm đã qua đi, song Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là cẩm nang thần kỳ giúp cho Đảng hoạch định đường lối chiến lược để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tự phê bình và phê bình vẫn là nguyên tắc cơ bản, không thể thiếu trong xây dựng và phát triển Đảng ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Thạch Văn Chung
(Văn phòng Tỉnh uỷ)

tinhdoanbg.gov.vn

65 năm Thanh Hoá làm theo lời Bác

Kỷ niệm 65 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hóa (20-2-1947 – 20-2-2012)

Bác Hồ tham gia kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hoá trong lần về thăm Sầm Sơn

65 năm kể từ ngày lần đầu tiên Bác Hồ về thăm, khắc sâu những lời khen ngợi, dặn dò, phê bình cũng như sự chỉ bảo ân cần của Bác qua mỗi lần Người về thăm; học và làm theo tấm gương đạo đức của Người, Thanh Hoá đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực…

Thanh Hoá – mảnh đất “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh ra những bậc anh hùng hào kiệt, nhà văn hoá lớn của dân tộc như Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Văn Hưu, Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ… Mảnh đất và con người nơi đây đã góp phần không nhỏ vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, thấy được vị thế và tầm quan trọng của Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần trực tiếp về thăm cũng như gửi thư động viên, thăm hỏi, biểu dương những thành tích của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá.

Ngày 20-2-1947, Bác Hồ về thăm Thanh Hoá lần đầu tiên và khai hội với đồng bào Thanh Hoá tại thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn); buổi chiều Bác gặp và nói chuyện với các đại biểu  thân sĩ, trí thức, phú hào; buổi tối nói chuyện với nhân dân thị xã Thanh Hoá ở trước Nhà thông tin thị xã. Qua các buổi nói chuyện, Bác bày tỏ mong ước Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hoá làm sao để xây dựng tỉnh nhà thành một tỉnh kiểu mẫu. “Tỉnh Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu, thì phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu. Quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu”(1). Bác cũng chỉ rõ xây dựng tỉnh “kiểu mẫu” trên mọi mặt phải bắt đầu từ cá nhân mỗi người trước tiên: Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu, một nước kiểu mẫu… Trước lúc chia tay, Bác nhắn gửi tha thiết tới đồng bào với lời hẹn ngày trở lại: “Đồng bào trong tỉnh hãy xắn tay áo làm đi, lần sau về đây tôi sẽ thấy mỗi người là một người “kiểu mẫu”(2).

Mười năm sau, ngày 13-6-1957, nhân dân Thanh Hoá vinh dự được đón Bác về thăm lần thứ hai. Người đã khen ngợi và ghi nhận những đóng góp to lớn của nhân dân Thanh Hóa trong vai trò “hậu phương lớn” của kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là sự chi viện sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong buổi nói chuyện, Người không chỉ nhắc đến những người con ưu tú mưu lược, dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì cách mạng như Lò Văn Bường, Trần Đức, Tô Vĩnh Diện, Lê Công Khai… chẳng những làm vẻ vang cho cả tỉnh mà còn vẻ vang cho cả non sông gấm vóc Việt Nam. Bác còn biểu dương những công trình kinh tế mà Thanh Hoá xây dựng được trong quá trình khôi phục và cải tạo kinh tế miền Bắc xã hội chủ nghĩa như đập Bái Thượng, đê sông Mã, sông Chu; những địa phương có nhiều thành tích xoá nạn mù chữ trong phong trào bình dân học vụ như xã Vĩnh Khang… Tình cảm của Bác qua hai lần về thăm là nguồn cổ vũ, động viên kịp thời, thôi thúc nhân dân Thanh Hóa tiếp tục chi viện sức người, sức của, quyết tâm chiến đấu hy sinh vì lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập tự do” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Năm 1960, tại Đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ VI, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu và căn dặn địa phương những lời thật tâm huyết. Người nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong phong trào thi đua yêu nước: “Thi đua tốt là phải làm nhanh, nhiều, tốt, rẻ. Bốn chữ ấy đi liền với nhau. Nhanh, nhiều nhưng không tốt, không rẻ là không được”(3). Bác luôn mong muốn và tin tưởng tổ chức công đoàn và lực lượng công nhân sẽ làm gương xung phong cho đồng bào ở hậu phương. Bác đã chia sẻ những khó khăn với bà con nông dân về nền nông nghiệp cũ kỹ và lạc hậu. Muốn nông nghiệp của Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung phát triển phải có biện pháp cải tiến nông cụ hiện có theo hướng đơn giản, ai cũng làm được. Muốn làm được công việc này thì công nhân phải giúp nông dân một cách có kế hoạch. Sự chỉ bảo ân cần và những lời động viên của Bác trong buổi gặp gỡ ấy mãi là kỷ niệm sâu sắc trong tiềm thức mỗi người con tỉnh Thanh được gặp và trực tiếp nghe Bác dặn dò.

Về thăm Thanh Hoá lần thứ 3 này, Bác đã có dịp nghỉ lại ở khu vực Đền Cô Tiên – Sầm Sơn là tặng phẩm vô giá của thiên nhiên, bãi biển kỳ thú, nên thơ cùng với nhiều sử tích từ ngàn xưa để lại. Sau khi đi thăm và thưởng ngoạn cảnh đẹp của Sầm Sơn, Bác đã tắm biển và kéo lưới cùng bà con ngư dân, gặp gỡ và trao đổi với cán bộ ở đây. Bác căn dặn: Nếu nơi đây có một hệ thống dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách nghỉ mát để tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây… Khắc ghi lời dạy của Người, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Sầm Sơn đã từng bước phát huy thế mạnh kinh tế biển, đưa ngành du lịch – thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng và phát triển khu du lịch Sầm Sơn trở thành một trong những địa danh nổi tiếng, là niềm tự hào của ngành du lịch Thanh Hoá cũng như du lịch cả nước.

Ngày 16-12-1961, Bác trở lại thăm Thanh Hóa. Thời gian ấy, miền Bắc bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội đồng thời làm nghĩa hậu phương lớn, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam chống Mỹ, cứu nước. Bác đã đến thăm Nhà máy cơ khí Thanh Hoá, Hợp tác xã Thành Công. Người ân cần thăm hỏi các cháu trường mầm non, thăm Hợp tác xã nông nghiệp điển hình Yên Trường (Yên Định). Nói chuyện với đồng bào, cán bộ, Bác khẳng định: “… Tỉnh ta có ngót 12 vạn đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động, đó là một lực lượng rất lớn. Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên cần phải thực sự xung phong gương mẫu tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống quan liêu mệnh lệnh, chống lãng phí, tham ô… Ra sức phát triển và củng cố tốt Đảng và Đoàn; đoàn kết toàn dân. Làm được như thế thì Thanh Hoá chắc sẽ trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”(4). Bốn lần Bác về thăm Thanh Hóa đều là những mốc thời gian quan trọng của cách mạng cả nước nói chung, của nhân dân Thanh Hóa nói riêng.

Người không chỉ trực tiếp về thăm mà còn nhiều lần gửi thư biểu dương, khen ngợi và tặng huy hiệu của Người cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong sản xuất và chiến đấu. Trong thư gửi đồng bào Thanh Hóa tháng 6-1950, Bác đã viết: Tôi thay mặt bộ đội địa phương cảm ơn đồng bào và thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào. Người khen ngợi ba xã xuất sắc nhất trong chiến đấu và sản xuất là Tân Tiến, Hoằng Lộc và Đông Anh. Đặc biệt, Bác tặng riêng một lá cờ, phần dưới cờ là chữ Hồ Chí Minh cho xã Đông Anh vì đã có thành tích cao nhất giúp bộ đội địa phương 3.800.000 đồng.

Tháng 11-1954, Bác gửi thư, tặng quà và huy hiệu cho cán bộ, đồng bào, thanh niên, dân công ở công trường xe lửa và đập sông Chu. Năm 1961, Bác khen các cấp lãnh đạo tỉnh đoàn kết nhất trí, tận tụy phục vụ nhân dân, chấp hành chỉ thị của cấp trên một cách nghiêm chỉnh. Ngày 19-5-1964, Bác gửi thư khen tuổi trẻ Thanh Hoá cùng với tuổi trẻ Nghệ An đã vượt qua gian khổ, xây dựng tuyến đường sắt Thanh Hóa – Nghệ An. Năm 1967, biết tin các trung đội nữ dân quân Thanh Hóa như trung đội dân quân gái Hoa Lộc (Hậu Lộc), Thanh Thủy (Tĩnh Gia), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Hà Tiến (Hà Trung)… lập thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, Bác đã viết thư khen ngợi: “… Cùng với thành tích to lớn chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ cả nước ta, chiến công của các cháu làm rạng rỡ thêm truyền thống của phụ nữ Việt Nam dũng cảm đảm đang. Bác vui lòng khen ngợi các cháu và tặng mỗi cháu một huy hiệu”(5).

Bên cạnh đó, Bác còn thẳng thắn phê bình, kỷ luật những biểu hiện sống xa dân, những việc làm ảnh hưởng đến lợi ích của dân của một số cán bộ, đảng viên. Bác cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo cụ thể hơn nữa, đi sâu, đi sát hơn nữa vào quần chúng nhân dân, phải tuyệt đối tránh tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, tránh tác phong quan liêu mệnh lệnh, từng bước khắc phục lề lối làm việc luộm thuộm. Phải hết sức chú trọng bồi dưỡng cán bộ cũ và dìu dắt những cán bộ trẻ tiến lên… Những lời động viên khen ngợi và phê bình kịp thời của Bác mang tầm vóc, ý nghĩa thật lớn lao, có sức lan tỏa mạnh mẽ! Những cá nhân, đơn vị nào được khen ngợi thì phấn khởi tin tưởng; tổ chức nào, cơ sở nào bị phê bình thì kịp thời sửa chữa, khắc phục, những tổ chức, cơ sở chưa được Bác khen thì càng phấn đấu hơn nữa.

Mỗi việc làm của Người đối với nhân dân Thanh Hoá cho chúng ta thấy hình ảnh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc thật gần gũi, giản dị và ấm áp biết bao! Tư tưởng, đạo đức và tấm gương của Người luôn tỏa sáng, là niềm tin để nhân dân Thanh Hóa cũng như nhân dân cả nước chung sức đồng lòng, phấn đấu xây dựng tỉnh Thanh trở thành một tỉnh “kiểu mẫu”, đạt nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực như niềm tin và sự mong mỏi của Người!

Đã 65 năm kể từ ngày lần đầu tiên Bác Hồ về thăm, Thanh Hoá đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Với tiềm năng, lợi thế vốn có của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Thanh Hóa đã đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn diện từ 7,8% (năm 2005) tăng lên 13,5% (năm 2011), trong đó thu nhập bình quân đầu người đến năm 2011 đạt 4,9 triệu đồng/người/năm. Số hộ đói nghèo từ 46,77% (năm 2001) giảm xuống còn 30% (năm 2011). Các ngành kinh tế lâm, nông nghiệp, xây dựng và dịch vụ là những ngành đang được tỉnh đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu. Nhiều khu công nghiệp mới được quy hoạch với quy mô lớn để mở rộng các ngành nghề công nghiệp: Chế biến sản phẩm từ rừng, sản xuất đá gra-nit, thủy điện… Nhiều năm nay, du lịch vẫn là một trong những ngành đem lại lợi nhuận phát triển kinh tế chủ yếu, nâng cao đời sống của người dân Thanh Hoá. Trong tương lai, ngoài tiềm năng khai thác du lịch biển, Thanh Hóa đã và đang triển khai nhiều dự án khai thác và xây dựng nhiều khu du lịch sinh thái, du lịch gắn liền với những địa danh, tên tuổi của các vị anh hùng dân tộc sinh ra trên mảnh đất này.

Cùng với phát triển kinh tế, công tác giáo dục, y tế cũng được tỉnh quan tâm và phát triển đồng bộ. Bác dạy: “Ban Văn hoá phải tìm những cách không cần tốn tiền mà học được, như “gia đình học hiệu”, “tiểu giáo viên”, cả làng chung gạo nuôi một thầy giáo… Không có giấy thì viết vào cát, không có bút thì dùng lẽ tre…”(6). (lẽ tre: một đoạn cành tre nhỏ, từ địa phương Nghệ Tĩnh). Làm theo lời Người, những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh, đội ngũ làm công tác giáo dục Thanh Hóa đã kiên trì, bền bỉ thực thi xóa mù chữ, dạy bình dân học vụ, bổ túc văn hóa cho đông đảo các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Vì vậy, trình độ dân trí, trình độ văn hóa của người dân và cán bộ địa phương được nâng lên rõ rệt. Từ năm 2004, 11/11 xã, thị trấn có số trường được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Cả tỉnh đã xây dựng được 15 trường đạt chuẩn Quốc gia. Hằng năm, khánh thành trên dưới 18 làng, bản, cơ quan văn hoá, trong đó có trên 60% số hộ đạt gia đình văn hóa… Hiện có gần 30 bệnh viện đa khoa và 37 trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân tỉnh Thanh với thái độ phục vụ tận tình, chu đáo.

Thanh Hóa đã và đang dần trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội, giáo dục, quốc phòng mạnh của cả nước. Mỗi bước đi lên của tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hoá luôn khắc sâu những lời khen ngợi, dặn dò, phê bình cũng như sự chỉ bảo ân cần của Bác qua mỗi lần Người về thăm. Đó là niềm tin, động lực tinh thần vô giá để nhân dân Thanh Hoá vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước xây dựng tỉnh Thanh ngày càng vững mạnh, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đưa tỉnh trở thành tỉnh “kiểu mẫu” như sinh thời Bác Hồ hằng mong.

———–

(1), (2): Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 5, tr.63.
(3), (4): Sách đã dẫn, tập 10, tr.178; tr.486.
(5): Sđd, tập 12, tr.315.
(6): Sđd, tập 5, tr.67.        

Phạm Thị Nhung
Trường Sĩ quan Lục quân 2 HT: 3cb36 Tam Phước, Biên Hoà, Đồng Nai

xaydungdang.org.vn

Tài ứng khẩu của Bác

Bác là một lãnh tụ, nhưng khi hoà mình với nhân dân, không chỉ bằng những lời giáo huấn đơn điệu, mà là sự kết hợp hài hoà giữa tác phong quần chúng, những lời nói bình dị, dễ hiểu và khả nǎng gây cười, sự dí dỏm tự nhiên. Phản xạ, ứng đáp nhanh nhạy trước mọi tình huống ở Bác có nét đặc trưng riêng, đã trở thành thói quen phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận, thích ứng với mọi hoàn cảnh xung quanh.

Đó là kết quả của một trí tuệ mẫn tiệp của thái độ, phong cách quần chúng. Bác luôn tạo nên một không khí hoà đồng, một mối liên hệ gần gũi giữa người nói, người nghe, xoá đi những cách biệt, những suy nghĩ tự ty của người dân trước lãnh tụ và đưa lại không khí tự nhiên vốn có giữa con người với con người. Nó không dừng lại ở nghệ thuật ứng xử mà là phản xạ tự nhiên của lãnh tụ rất nhân dân.

Một lần tại bữa tiệc do Hầu Chí Minh (người góp phần đưa Bác ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch) chủ nhiệm Cục chính trị đệ tứ chiến khu chiêu đãi, hôm đó có Bác và Nguyễn Hải Thần cùng dự. Nguyễn Hải Thần rất tự phụ về vốn Hán học của mình và nhân dịp này đã ra một vế đối: “Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh, lương vị đồng chí, chí giai minh” (Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh hai vị đồng chí, chí đều sáng). Khi mọi người còn đang nghĩ vế đáp, thì Bác ứng khẩu: “Nhĩ cách mệnh ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách (anh cách mạng tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách). Chỗ khó và hay của về đối là hai chữ “chí và minh” là tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc, cái tài tình của vế đáp của Bác là vừa kịp thời, hợp cảnh và chuẩn chỉnh cả ý lẫn từ nhưng nâng tầm nhận thức, tư tưởng cao hơn, mang tính cách mạng hơn. Hầu Chí Minh hết lời ca ngợi người đối đáp “đối tuyệt lắm, tuyệt lắm”. Nguyễn Hải Thần cung kính thốt lên: “Hồ Tiên sinh, tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục”.

Nǎm 1946 Bác sang Pháp, người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác vui vẻ nói: “Chú cứ hỏi, Bác trả lời đầy đủ”. Đến câu thân sinh Bác là gì? Bác cười, trả lời hóm hỉnh: “Bác là Hồ Chí Minh thì, ông cụ thân sinh là… Hồ Chí Thông!”. Mọi người nhìn nhau cười vui vẻ. Một lần có nhà báo nước ngoài hỏi Bác: “Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn A’i Quốc không?”. Bác trả lời: “Ông cứ đến ông Nguyễn A’i Quốc mà hỏi”. Lần khác nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi: “Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài, vào tù ra khám, nay làm Chủ tịch nước. Chủ tịch thấy có thay đổi trong đời mình không?” Bác trả lời hóm hỉnh: Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng dẫn ra dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước đi đâu cũng có hai đồng chí mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?”

Nǎm 1946, trên đường từ Pháp về Việt Nam đến vùng biển Cam Ranh, Bác nhận đươc bức điện của Đô đốc Đác-giǎng-li-ơ xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là giễu võ dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. Đác giǎng-li-ơ giọng mỉa mai bóng gió: “Thưa ông Chủ tịch ông đã được đóng bộ khung rất đẹp của hải và lục quân đó”- Bảc thản nhiên mỉm cười: “Đô đốc biết đó, giá trị là ở bức họa chứ không phải bộ khung. Chính bức hoạ đem lại giá trị cho bộ khung”. Bất ngờ và cay cú trước tài ứng xử thông minh của Bác, cả hai không dám nói xách mé nữa mà to ra rất lịch lãm và kính phục.

Lần khác, Bác lên tàu đàm phán với Đô đốc Đác-giǎng-li-ơ ở Vịnh Hạ Long, khi gặp Bác chủ động ôm hôn Đô đốc, các đồng chí đi theo thắc mắc, Bác nói: “Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì”. Hôm sau báo chí đưa ảnh và bình luận… “Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết”.

Khi bàn về quy định các phù hiệu đi lại trên xe của ủy ban liên hiệp thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, phía Pháp đề nghị trên xe có hai lá cờ một bên của ta một bên của Pháp, còn phía dưới là cờ chính quyền Bảo Đại. Việc được hỏi ý kiến Bác. Bác bảo cứ chấp nhận đi rồi sẽ có những diễn biến lý thú. Đúng như Bác nói, khi xe đi đến đâu dân cũng chế giễu lá cờ ǎn theo ngoại bang. Chuyện tếu lan khắp nơi “3 cột 3 cờ” có ý nhạo báng cờ Bảo Đại. Bọn bù nhìn nguỵ quyền phản đối đòi thay đổi. Ta lấy cớ, đó là ý của Pháp nêu ra.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có một cán bộ cao cấp nước ngoài khi đứng trước hàng quân cứ nói thao thao bất tuyệt nào là chê ta cái này cái nọ, cứ yêu cầu làm theo họ thế này thế kia. Bác nghe, rất bực nhưng không nói gì. Đến giờ nghỉ, cùng ngồi uống nước Bác giới thiệu đồng chí Hoàng Đạo Thuý trước đây là hướng đạo sinh, nay là cán bộ phụ trách công tác thông tin của quân đội. Vị cán bộ nọ hết sức thắc mắc vì sao lại giao một nhiệm vụ quan trọng như thế cho một hướng đạo sinh, Bác bảo, “Nước chú khác, nước chúng tôi khác”, Ông ta chắc hiểu ý Bác.

Đầu nǎm 1950, Chính phủ nước “anh cả” mở tiệc chiêu đãi trọng thể Chủ tịch nước láng giềng của ta. Hôm chiêu đãi có mời Bác đến dự. Khi chuyện trò Bảc hỏi đồng chí Chủ tịch nước “anh cả”: “Các đồng chí đã ký hiệp ước với nhau, nhân dịp tôi ở đây chúng ta cùng ký một hiệp ước với nhau”. Chuyến đi của Bác lúc đó là đi bí mật, nên đồng chí Chủ tịch trả lời Bác là: “Người ta sẽ nói đồng chí ở đâu đột ngột đến thì không tiện”. Bác trả lời: “Cái đó dễ thôi, đồng chí cho một chiếc máy bay, đưa tôi bay một vòng trên trời, sau đó cho người ra đón, rồi quay phim chụp ảnh đưa tin là ổn”.

Nǎm 1967 Liên Xô quyết định tặng Bác huân chương Lênin. Nếu Bác từ chối không nhận thì không thuận cho quan hệ ngoại giao. Bác vốn xưa nay chưa bao giờ nhận huân chương, lần này Bác có cách từ chối khéo. Bác viết thư chỉ xin hoãn việc trao huân chương, chờ khi nào giải phóng hoàn toàn Tổ quốc lúc đó Bác sẽ thay mặt nhân dân Việt Nam, nhận huân chương cao quý đó – Hôm sau các báo ở Liên Xô đǎng trang trọng trên trang nhất quyết định tặng huân chương của Bác. Qua đó nhân dân Liên Xô càng yêu quý Bác hơn.

Nhớ lần Bác đến thǎm một nông trường ngoại ô Ki-ép, Bác đi xuống nơi công nhân đang lao động, thấy Bác ǎn mặc giản dị ai cũng quý, cũng muốn đến gần. Khi đó có một cô công nhân đứng cạnh Bác mạnh dạn hỏi: “Thưa Bác, cháu trộm nghĩ một mình Bác chắc không tiêu hết lương Chủ tịch nước?”. Bác nhẩm tính và vui vẻ trả lời:”Thế tính ra lương cháu gấp đôi lương Bác đấy”.

Hồi kháng chiến chống Pháp, Bác thường đi xuống thǎm các đơn vị cơ sở. Một lần đi thǎm xưởng quân giới Lê Tổ. Bác trả lời các câu hỏi của anh chị em ngắn gọn dễ hiểu. Có người hỏi, khi nào thì đồng tiền Việt Nam trở lại giá trị như khi nó mới có, Bác trả lời: “Khi các cô các chú tǎng gia sản xuất tǎng hai lần thì nó trở lại hai lần tǎng ba lần nó trở lại ba lần”. Có người hỏi, Đảng ta sắp ra công khai, vậy Bác có ra không, tên thật Bác là gì? Khi nói đến Bác có ra không? Cả hội trường cùng cười. Bác nói: “Đấy, cười là trả lời rồi đấy”. “Tên thật Bác là Bác”. Có câu hỏi: “Khi nào thì Bác có Bác gái?” toàn thể reo cười, Bác trả lời:”Khi nào có thì Bác sẽ trả lời” Câu hỏi tiếp: “Phụ nữ các nước dân chủ họ làm gì ạ?”. Bác trả lời: “Họ cũng lao động tǎng gia sản xuất, và học hát, các cô các thím thua họ ở chỗ học hát”…

Nǎm 1948, nhân ngày phong Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bác vui vẻ ra câu đối “Giáp phải giải Pháp”, Các vị có mặt gặp thế bí vì câu vế đối nói lái này gói gọn ý Đại tướng Giáp phải giải giáp được thằng Pháp. Ông Tôn Quang Phiệt nhìn Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Vǎn Hiến đọc vế đối “Hiến tài, hái tiền” Bác khen vế đối hay, đạt cả ý lẫn lời, nên Bác tặng tác giả một quả cam.

Sau một cuộc họp lớn, giữa trưa hè nắng đẹp, mọi người đề nghị ra sân chụp chung ảnh với Bác, mọi người đứng đâu vào đấy cả rồi, thợ ảnh cứ chạy bên này bên kia chọn góc chụp, Bác đứng cạnh nhà thơ Tú Mỡ Bác nói vui: “Chú chụp nhanh không thì tất cả bọn này thành Tú Mỡ cả,” Mọi người được phen cười vui vẻ. Bác vừa nói theo nghĩa tiếng Pháp (Tout là tất cả, mỡ là mồ hôi) vừa theo nghĩa tiếng ta, ngụ ý dí dỏm, vui vẻ.

Đồng chí Nguyễn Đǎng Bảy, thời kỳ kháng chiến là phóng viên nhiếp ảnh thông tin Trung ương, khi chụp được một số ảnh của Bác, anh em bàn đưa ra trưng bày triển lãm. Hôm đó Bác tình cờ vào xem. Đồng chí- đang hý hoáy trang trí, Bác hỏi: “Chú treo được bao nhiêu bức ảnh tất cả?”. Đồng chí Bảy trả lời Bác là được tất cả 20 tấm ạ, Bác nói: “Hơn chứ, chú đếm lại xem thử”. Đồng chí đếm đi tính lại cũng chỉ có 20. Lúc ấy, Bác cười, chỉ vào mình và nói: “Còn đây là chiếc thứ 21 chứ”.

Hôm khai mạc lớp chỉnh huấn có vui vǎn nghệ. Có đồng chí xung phong lên đọc thơ của Huy Cận, Bác hỏi vui “Cái tác thật (tác giả bài thơ) có ở đây không?”. Nhà thơ Huy Cận thưa có “Thế thì mời tác thật lên đọc thơ của mình cho nó thật hơn”. Sau Bác hỏi “Có chú nào dân tộc Mường lên hát một bài tiếng Mường cho mọi người thưởng thức”. Có đồng chí xung phong đọc bài thơ lục bát tiếng Kinh, đọc lơ lớ bỏ hết dấu, Bác bảo “đấy không phải tiếng Mường”.

Bác đến thǎm nhà chị Loan (người kéo cờ ở quảng trường Ba Đình ngày 2-9) ở chiến khu vào đến nhà thấy đông con nhỏ, Bác nói vui? “ồ tưởng đây là nhà cô Loan, hoá ra mình vào nhầm nhà trẻ”. Biết Bác phê bình khéo, chị gượng cười vả báo cáo: “Thưa Bác đây là “tiểu đội” của vợ chồng cháu đấy ạ”, Bác vui vẻ bảo chị tập trung “tiểu đội”, cứ lần lượt bé nhất đứng trước để Bác chia kẹo, chị đang loay hoay sắp xếp đội hình, Bác bảo “Tiểu đội trưởng cũng đứng vào hàng chứ”, Bác chia kẹo cho các cháu và cho cả chị nữa. Khi đến lượt chị, Bác nói vui: “Bác khen là cô đã có công nuôi dạy các cháu ngoan”.

Nhớ lần Bác đến thǎm một gia đình cán bộ, thấy ba cháu gái xinh xắn ra chào Bác, Bác hỏi vợ chồng chủ nhà tên các cháu là gì, chị chủ nhà thưa Bác tên các cháu là Thu Thuỷ, Thu Thảo, Thu Vân, Bác cười hiền lành và nói: “Sao đặt “vǎn chương”: thế, gọi là Thu Ngô, Thu Sắn, Thu Khoai có hay không”. Khi ra về Bác bảo “Nói vui thế thôi, chứ những tên Việt Nam ấy rất đẹp”. Đồng chí Tạ Quang Bửu sinh cháu trai đầu lòng, Bác có chai mật ong, Bác gửi tặng cháu, tự tay Bác viết “nhãn hiệu” tặng cháu Quang. Thời gian sau, Bác ghé vào thǎm nhà đồng chí Bửu, Bác gọi âu yếm “Thằng Quang đâu? Tháng :”xã xệ” đâu ra ông bế nào”. Rồi Bác chụp ảnh với cháu và không quên gửi tặng ảnh cho cháu.

Một lần đến dự cuộc họp Trung ương thấy một cô gái đứng cạnh đường, chào Bác, Bác hỏi, cháu đứng đây làm gì, được biết cô là lính bảo vệ, Bác hỏi vui: “Thế cháu bảo vệ Bác thì ai bảo vệ cháu?”. Có lần Bác đến thǎm một địa phương, đồng chí Bí thư tỉnh ủy đứng lên thưa với Bác, có câu “Thưa Bác Hồ, vị cha già dân tộc”, Bác ngoảnh lại nói với mọi người “Bác chưa già đâu”. Buổi đó Bác được tặng ba bó hoa, Bác hỏi đồng chí Bí thư: “Theo chú thì Bác nên tặng hoa cho ai?”. Đồng chí trả lời Bác? “Thưa Bác, Bác tặng cho phụ nữ, thanh niên”. Bác cười và nỏi vui: “Phụ nữ, thanh niên không tặng Bác thì thôi”. Bác xuống sân tặng một cụ già cao tuổi nhất, một cháu thiếu nhi và cho bộ đội.

Lần Bác tiếp các anh hùng quân đội, Bác hỏi: “Chú nào hạ đựợc nhiều máy bay nhất?”. “Thưa Bác đồng chí Cốc ạ”. Mọi người đồng thanh trả lời. Bác gọi:”Chú Cốc lên đây Bác bắt tay”. Bác nói: “Nǎm nay mong chúng ta có nhiều Cốc hơn nữa”. Đến thǎm đại hội chiến sỹ thi đua toàn quốc, Bác đến gần một cô gái và hỏi: “Đơn vị cháu có mấy người trong đoàn?” Cô gái lúng túng trả lời: “Thưa Bác, chỉ một mình cháu được đi thôi ạ”, Bảc dí dỏm: “Thế đơn vị cháu nhiều người tiêu cực thế à, chỉ được một mình cháu?”. Một đoàn cán bộ vào gặp Bác, Bác mời ǎn kẹo, nhưng ai cũng nghe Bác nói chuyện chứ không muốn ǎn, thấy thế Bác bảo “Không ai ǎn kẹo thì Bác cho mang về”. Lúc đó Bộ trưởng Nguyễn Vǎn Huyên; hóm hỉnh nói “Bác cho ta đưa cả về”, Bác cười vui nói ngay:” Bác cho đưa kẹo về, đĩa phải để lại Bác còn tiếp khách chứ”.

Nhớ lần đi “dã ngoại” bữa ǎn mang theo có thịt bò, đến bữa ǎn đồng chí Vũ Kỳ chỉ vào đĩa thịt, hỏi đồng chí bảo vệ: “Đố biết là thịt gì?”. Đồng chí này trả lời là thịt bò, đồng chí Vũ Kỳ hỏi tiếp: “Nhưng mà thịt bò gì chứ? “, đồng chí bảo vệ đang bǎn khoǎn chưa kịp trả lời, đồng chí Vũ Kỳ nói tiếp: “Đây là thịt bò rừng, loại này đặc biệt lắm, người ta không bắn được nó mà phải dùng muối bỏ vào bẫy rồi mới bắt được nó”. Đang lúc lúng túng lại nghe kể có vẻ ly kỳ nên đồng chí bảo vệ chǎm chú lắng nghe, tưởng như thật. Thấy vậy, Bác vỗ vai vừa cười, vừa hỏi:”Thế Bác đố chú một cân sắt nặng hơn hay một cân bông nặng hơn”. Nghe Bác đố, lúc đầu đồng chí định trả lời là cân sắt nặng hơn, nhưng nhìn ánh mắt vui vẻ của Người, đồng chí bình tĩnh cân nhắc khi trả lời là nặng bằng nhau. Bác nói đùa vui: “Cân sắt chắc nặng hơn chứ” như muốn nói thịt bò nào mà chẳng giống nhau, cái chính là phải trả lời dứt khoát để khỏi người ta vặn vẹo, quanh co.

Một lần đến thǎm đơn vị bộ đội, đi đường xa trời nắng, nhưng tới nơi Bác đi thǎm anh em ngay, Bác đến thǎm nơi ǎn chốn ở, thǎm nơi sinh hoạt vǎn hoá, thấy tờ báo tường viết câu “Hồ Chủ tịch muôn nǎm” kẻ đẹp nắn nót nhưng không có dấu, Bác bảo vui “Ư` đúng Bác đi mệt, Hồ Chủ tịch muốn nằm”, rồi Bác hỏi: “Sao viết không có dấu người đọc có thể đọc sai ý”, có dồng chí trả lời Bác là thêm dấu nó mất đẹp đi, Bác nói: “Các chú viết đẹp nhưng chưa đúng nên mất đẹp đi đấy, chữ Việt ta rất đẹp khi đúng đủ dấu càng đẹp hơn”.

Lần đến thǎm xã Sài Sơn, thấy tấm biển treo trên trụ sở Việt Minh xã có dòng chữ không dấu “TRU SO VIET MINH” Bác liền đọc… “Sô viết mình”, rồi Bác bảo các chú viết thế ai mà đọc đúng được. Tấm biển được thêm dấu nên rõ ràng hơn, ai mới biết chữ cũng đọc được. Bác vào thǎm nông trường Sông Hiếu, cùng đi với đồng chí giám đốc vào trung tâm nông trường, Bác chỉ câu khẩu hiệu viết không dấu, Bác hỏi: “… LAM TRA NOI SONG” là gì? Đồng chí thưa Bác câu khẩu hiệu là “hưởng ứng chiến dịch Lam Trà nổi sóng”. Bác bảo: “Thế thì chú phải cho một người đứng đây để đọc dịch câu khẩu hiệu đó chứ”. Khi Bác thǎm xong nông trường thì câu khẩu hiệu cũng được sửa xong. Lần Bác đi qua nhà máy cơ khí Gia Lâm, đến trước cổng nhà máy thấy dòng chữ to chạy dài trên cổng nhà máy “NHA MAY CO KHI GIA LAM”, Bác bèn đọc “nhà mày có khỉ già lắm’, Bác phê bình chữ viết phải có dấu để người đọc khỏi nhầm.

quangbinh.gov.vn

Hiểu thêm về bài viết “Cần – kiệm – liêm – chính” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và thực hiện nghiêm minh những đức tính cần kiệm liêm chính. Người xem đây là nguyên tắc, là phẩm chất cơ bản có liên quan mật thiết với các nhiệm vụ và công tác hoạt động cách mạng khác nhau và thiếu chúng thì khó dẫn đến thành công một cách trọn vẹn, triệt để.

Bác Hồ cuốc đất trồng rau trong vườn Phủ Chủ tịch. Ảnh: Tư liệu

Trong bài viết “Cần, kiệm, liêm, chính” đăng trên báo Cứu Quốc số ngày 30-5, 31-5, 1-6 và 2-6 năm 1949, ngay ở phần mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những vấn đề trên trong tương quan với các quy luật của tự nhiên và xã hội bằng 6 câu thơ như sau:
“Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông,

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người”.

Qua đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao 4 đức tính trên như điều kiện cần đối với mỗi người trong đời sống và hoạt động xã hội. Nếu là người tham gia hoạt động cách mạng trực tiếp, 4 đức tính ấy lại càng phải quán triệt và hành động triệt để hơn, có hiệu quả hơn, nghiêm minh hơn.

Nội dung của 4 đức tính trên thật giản dị, dễ hiểu, dễ thuộc. Theo Bác, Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, bền bỉ trong công việc cụ thể của mình. Cần phải gắn với kế hoạch, nếu không thì mọi việc sẽ rối tung, kém hiệu quả. Cần phải đi với chuyên, cần cù mà dốt nát thì hiệu quả thấp, có khi trở thành phá hoại. Điều này đến nay vẫn còn nguyên giá trị nhận thức và thực tiễn. Về nội dung chữ Kiệm, Bác viết: Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, bừa bãi. Lãng phí là kẻ thù của tiết kiệm. Hiện tại, không ít người lãng phí và lợi dụng của công để làm việc riêng, thiếu tinh thần chí công vô tư. Đó là điều đáng trách, nếu không muốn nói là nhỏ nhen, tầm thường, dẫn đến tham ô, lãng phí. Liêm, theo Bác, đó là trong sạch, không tham lam. Chữ Liêm, theo Bác, còn phải hiểu theo nghĩa rộng là trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Có như thế, thì không bao giờ vụ lợi. Tất cả vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Chữ Liêm theo tinh thần, đạo đức của người cách mạng cao cả là thế!

Nội dung của Chính, theo Bác là “không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì không đúng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Hiểu rộng ra là phải làm theo chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; không làm sai, không vì lợi ích cá nhân để ngày càng phát huy điều chính, giảm và tiêu diệt điều tà.

Quan niệm về nội dung của cần, kiệm, liêm, chính của Bác Hồ thật rõ ràng, giản dị mà sâu sắc, có giá trị lớn trong việc vận dụng vào học tập, rèn luyện một cách sáng tạo, cụ thể của từng người, từng cơ quan, đoàn thể trong từng hoàn cảnh khác nhau. Những nội dung trên đã thành phẩm chất cơ bản trong tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Bác luôn xem 4 đức tính trên là “chính sách lớn, đạo đức lớn”. Từng cá nhân, cơ quan, tập thể, từng ngành nghề căn cứ vào từng nhiệm vụ, từng giai đoạn, từng yêu cầu mà phải hiểu đúng và có sáng tạo 4 đức tính ấy một cách linh hoạt, đa dạng, tránh cứng nhắc. Bác thường nhấn mạnh và đề cao 4 loại tiết kiệm: đó là tiết kiệm tiền, tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, tiết kiệm thời giờ. Một yêu cầu sinh tử của Bác là kiệm phải đi liền với cần “như hai chân của con người”. Cần không phải chỉ thuần tuý là cần cù làm việc mà quan trọng hơn là phải có chất lượng, có hiệu quả, có năng suất cao. Cả cuộc đời của Bác Hồ là tấm gương sáng cho những đức tính cao đẹp nói trên. Mỗi việc làm, mỗi suy nghĩ và hiệu quả công việc cách mạng của Bác là một bài học cụ thể, sinh động của 4 đức tính cần, kiệm, liêm, chính mà không giấy mực nào ghi lại hết được.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ, chúng ta phải hiểu bản chất và nội dung cụ thể của cuộc vận động lớn này. Nếu không, dễ rơi vào hình thức chủ nghĩa, phản tác dụng. Mà muốn hiểu và làm đúng, thì chỉ soi vào từng ý kiến, từng bài viết và từng việc làm của Bác sẽ liên hệ thấy rõ mình làm đến đâu, hiểu đến mức nào và làm sai, vi phạm đến mức nào. Có như thế, cuộc vận động mới đi vào chiều sâu, đúng bản chất. Những hiện tượng tiêu cực, sai phạm của các cơ quan, cá nhân mà hàng ngày báo chí nêu là có thật, là tiếng chuông báo động về tình trạng xuống cấp đạo đức, có nguy cơ suy đồi, băng hoại về nhân cách trong xã hội hiện nay. Đảng và Nhà nước ta nhận thấy và dự cảm được điều này nên đã kịp thời chấn chỉnh và có biện pháp, chính sách lớn trong việc chống tham ô, lãng phí, chống tiêu cực – đặc biệt là trong cán bộ có chức, có quyền. Đó là động thái đúng đắn và tích cực nhằm thanh lọc và giáo dục, xử phạt nghiêm minh để đưa xã hội tiến lên, đem lại lòng tin cho mọi người đối với một xã hội tốt đẹp, công bằng, dân chủ và văn minh. Muốn vậy, phải hướng vào những mục tiêu vừa diện, vừa điểm; vừa trước mắt, vừa lâu dài; vừa vĩ mô, vừa vi mô… mới mong đạt được hiệu quả thiết thực và triệt để. Trong muôn vàn bài học đạo đức của Hồ Chí Minh, bài học về cần, kiệm, liêm, chính có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta hiện nay.

Để kết luận cho bài viết sơ lược này, xin dẫn ý kiến của một sử gia người Mỹ – bà Stenson – nhận định về Hồ Chí Minh: “Một số đông người đã bị tha hoá chạy theo đời sống vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức, coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống thì nhân loại lại tìm về tấm gương sáng ngời nhân cách Hồ Chí Minh – một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp theo”. Đó chính là nền tảng, là đạo đức thuộc về thì quá khứ, hiện tại và tương lai – Đạo đức Hồ Chí Minh./.

Hồ Thế Hà

baonamdinh.com.vn

Bác Hồ – tấm gương sáng về việc luyện tập sức khỏe

Bác Hồ hiểu rõ vai trò của việc tập luyện TDTT đối với sức khoẻ con người. Chính vì thế Bác lấy việc tập luyện như một lẽ sống giản dị: “Tập TDTT để giữ gìn tăng cường sức khoẻ, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân được nhiều hơn nữa”, nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Bác vẫn duy trì một nếp tập luyện đều đặn thường xuyên. Trong những năm đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tình thế cách mạng hiểm nghèo, giặc đói, giặc dốt hoành hành, thù trong giặc ngoài đe doạ, dù bận trăm công nghìn việc, không mấy đêm Bác được ngon giấc ngủ, nhưng sáng sáng Bác vẫn không bỏ việc tập luyện. Khi giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng ác liệt, Bác lại càng coi trọng việc tập luyện TDTT để phục vụ công cuộc chống ngoại xâm.

Những tấm hình do các nhà nhiếp ảnh, quay phim ghi được về Bác Hồ tập võ dân tộc, Bác hướng dẫn, dạy cách đánh cận chiến của võ tay không chống trả đối phương có kiếm, thương, thậm chí có súng ở bên bờ sông Phó Đáy (Tuyên Quang) những năm kháng chiến. Cảnh Bác Hồ chơi Bóng chuyền trong rừng Khâu Lấu, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang lúc Bác 57 tuổi, thật sự cảm động. Hình ảnh Bác Hồ đi ngựa trên đường công tác, tập bơi suối giữa cái rét giá thấu xương ở rừng Việt Bắc. Ngoài ra, Bác còn ưa thích tập môn đi bộ và leo núi.

Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Bác Hồ có kiểu tập nhảy “dậm chân tại chỗ” thật lạ và thú vị. Số là “Phòng Chủ tịch nước”- nơi làm việc của Bác cách các lán khác thường từ dăm chục mét đến ba bốn trăm mét. Đường đi lên lán hay xuống suối, đến nhà ăn đều được Bác cho đặt những rào chắn cao từ 10 – 15cm đến mức cao nhất trên 40cm. Mỗi khi đi qua, Bác và mọi người phải chụm chân nhảy không được lấy đà. Tập sức bật tại chỗ như vậy khá “trường kỳ” nhưng rõ ràng đạt hiệu quả. Cách rèn luyện “vượt chướng ngại” như thế, giúp Bác có thêm sức khoẻ dồi dào.

Nhà quay phim Liên Xô cũ đã đưa vào các phim Việt Nam trên đường thắng lợi, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Cây tre Việt Nam hồi thập niên 50 một số hình ảnh tập luyện của Bác khá đẹp. Một tờ báo của Liên Xô đã viết rất sâu sắc về hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tập luyện thể dục, chơi thể thao cùng với lối rèn luyện thân thể sáng tạo, đã góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp vang lừng thế giới.

Những năm 1956, 1957 các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô phát động phong trào Rèn luyện thân thể để lao động và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều nước bạn đã nêu tấm gương tập luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mọi người theo.

Tết Giáp Ngọ, Bác nhận ra khả năng thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ tháng 5/1954 Bác quyết định chuyển cơ quan về Thái Nguyên lấy rừng Vai Cầy, xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ làm “bản doanh kháng chiến”. Nguyên đội trưởng Đội 1, Tạ Quang Chiến lúc đó là Đội trưởng Thanh niên xung phong (TNXP) 36, cùng các đồng chí Hoàng Hữu Kháng, Phan Mỹ, đơn vị C.272 được Bác giao nhiệm vụ về Vai Cầy xây dựng cơ quan. Một thời gian ngắn, ngôi nhà sàn giản dị được dựng kín đáo mà ngay cả chiến sĩ C.272 lúc đó cũng không một ai biết địa danh này là ở vùng nào, vì nguyên tắc bảo mật không ai hỏi ai. Nhiều bô lão như các cụ Bế Văn Khoa, Triệu Văn Vượng, Triệu Sơ kể rằng: “Ngày đó đứng ở ngọn đồi cao trước mặt, thường thấy một cụ già làm việc trong Nhà sàn. Đặc biệt sớm, chiều nào cũng thấy cụ ra tập thể dục hoặc đánh bóng chuyền ở bãi cỏ dưới chân đồi cùng một số thanh niên. Nhiều bữa các cụ còn thấy cụ già xuống suối tắm, bơi ở khúc suối rộng, mà đáy suối có nhiều đá tròn bằng nắm tay. Mãi về sau các cụ mới biết đó là Bác Hồ. Trên bàn làm việc của Bác thấy có mấy viên đá lấy từ đáy suối này lên. Bác dùng để tập nắm bóp bàn tay, quay cổ tay mỗi khi nghỉ giải lao, Chiến sĩ phục vụ gọi là “tạ an-te” cải tiến…

Sau ngày về lại Thủ đô, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác chưa một ngày “quên” tập thể dục. Bên nhà sàn trong Phủ Chủ tịch hiện nay, suốt 15 năm (1955-1969) nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, bác sĩ… phục vụ Bác, đều nhớ mãi hình ảnh Bác tập thể dục, tập quyền hoặc bài Thái cực quyền. Đôi khi Bác ra câu cá, chăm cây bên hồ cá. Mỗi sáng, sau lúc tập thể dục xong Bác lại chăm chút mấy dò phong lan rừng do bộ đội Trường Sơn biếu Bác. Khi bước sang tuổi “xưa nay hiếm” Bác vẫn rất khoẻ, da dẻ hồng hào.

Tháng 12/1961, Bác sang thăm Trường Trung cấp TDTT trung ương (nay là trường Đại học TDTT I), hơn 500 sinh viên Khoá 2 đang tập võ dân tộc. Bác ra sân tập xem, thấy các nữ sinh tay cầm kiếm chưa đúng, Bác đã ra tận nơi uốn nắn động tác sai, rồi Bác còn căn dặn thêm “Võ dân tộc của cha ông ta rất giàu tính chiến đấu”.

Từ năm 1958 Bác Hồ thường dành thời gian quý báu đón các đoàn vận động viên, cầu thủ các nước mỗi khi đến thi đấu hữu nghị ở nước ta như các đội Bóng đá: Vương quốc Campuchia, Vương quốc Lào, CHDC Đức, Angiêri, Miến Điện (Myanma), Liên Xô (nay là Liên Bang Nga), CHDCND Triều Tiên, Trung Quốc, Rumani, Cu Ba… Nhiều danh thủ ở các môn: Bơi, Bóng bàn, Bóng chuyền, Điền kinh các nước đều có kỷ niệm sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đầu năm 1963 nhân khai mạc tuần Thể thao hữu nghị Việt Nam-Campuchia (tháng 2), Việt Nam-Lào (tháng 3), Bác Hồ ra sân vận động Hàng Đẫy dự, sau đó còn tiếp các VĐV ở Phủ Chủ tịch. Cuối năm 1963 giải Bóng đá Quân đội các nước XHCN (SKDA) diễn ra tại Việt Nam. Bác gặp mặt thân mật với tất cả cầu thủ các đội tại Phủ Chủ tịch. Năm 1965, giặc Mỹ leo thang đánh phá dữ dội miền Bắc, các đoàn VĐV Cu Ba, Trung Quốc sang thi đấu hữu nghị, vẫn được Bác Hồ gặp và hỏi chuyện VĐV tại Phủ Chủ tịch. Chiều ngày 19/12/1966, hơn 120 cán bộ, VĐV Việt Nam đi dự GANEFO châu Á ở Campuchia thắng lợi trở về, Bác hỏi chuyện thi đấu, ăn ở, tình cảm của bà con Việt kiều sống ở Pnôm Pênh. Rồi Bác Hồ khen hai xạ thủ Trần Oanh, Nguyễn Mạnh Hùng, danh thủ Bơi Vũ Thị Sen, VĐV Điền kinh Trần Hữu Chỉ cùng đoạt HCV được Bác tặng Huy hiệu.

Năm 1967 Bác Hồ da diết nhớ miền Nam. Bác dự định vào tiền tuyến lớn thăm đồng bào, chiến sĩ. Bác đã dành thời gian cho đợt tập luyện dã ngoại này. Đồng chí Vũ Kỳ kể: “Hồi đó mỗi ngày Bác tập hành quân từ 5 đến 10km có hôm tăng lên tới 20km đường rừng, băng đèo, vượt sông. Bác cũng đeo ba lô nặng 25kg”. Bác chưa kịp về Nam, những người có dịp may luyện tập với Bác những ngày đó càng hiểu hàm ý câu thơ Tố Hữu viết: “Bác nhớ Miền Nam nỗi nhớ nhà, Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”. Thư viết ngày 31/3/1960 gửi Hội nghị cán bộ TDTT toàn miền Bắc của Bác đã chỉ rõ: “Cán bộ TDTT thì phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác”. Ngành TDTT và giới TDTT cả nước càng nhớ Bác, phấn đấu làm theo lời Bác Hồ dạy và noi theo tấm gương đạo đức của Người suốt cuộc đời.

Trương Xuân Hùng
Tổng Cục Thể Thao

vo-thuat.net

Đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây dựng đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo Người, đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân tạo nên sức mạnh vĩ đại để dân tộc ta vượt qua muôn vàn thách thức, chiến thắng mọi kẻ thù để đi tới thắng lợi. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[1]. Với Hồ Chí Minh, đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, “Cách mạng nhất định thành công. Ta thành công chính vì ta đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”[2]. Người khuyên cán bộ, đảng viên của Đảng phải thương yêu, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng đoàn kết trong Đảng phải thể hiện ở tư tưởng và hành động; tư tưởng, hành động phải thống nhất; Đảng tuy nhiều người, song khi tiến hành thì chỉ như một người; trong Đảng không thể có tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược; bằng mặt, không bằng lòng. Sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động trong Đảng trước hết phải dựa trên nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng. Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi, vận động toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, mà chính Người là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, là linh hồn của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người đã thu hút, tập hợp, cảm hóa mọi người bằng chính tấm gương tận trung với nước, tận hiếu với dân; bằng chính cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; bằng tình thương yêu vô hạn đối với con người, trước hết là những người lao động. Sự hài hòa giữa tư tưởng và hành động, nói luôn đi đôi với làm và đạo đức, nhân cách của Người đã thật sự quy tụ mọi lực lượng trong xã hội, trở thành động lực, sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Từ thực tiễn suốt 79 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam và hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta càng ý thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Kinh nghiệm cho thấy, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, thì khi đó, nơi đó cách mạng đạt được thành tựu và phát triển. Ngược lại thì cách mạng gặp khó khăn, thậm chí còn gây tổn thất nghiêm trọng. Với bài học kinh nghiệm đó, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ phải không ngừng chăm lo củng cố sự đoàn kết thống nhất và tình đồng chí trong Đảng; thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình; xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; đây là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, luôn lợi dụng khó khăn, khuyết điểm để bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chúng dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn mua chuộc, kích động, nói xấu, chia rẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm giảm uy tín của Đảng. Hơn lúc nào hết, tư tưởng Hồ Chí Minh: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công còn nguyên giá trị, là động lực, là nguồn sức mạnh to lớn trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

Để giữ gìn, phát huy đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, xây dựng đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tình cảm giai cấp, tình đồng chí.

Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng được xây đắp trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Hiểu Chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu Chủ nghĩa Mác-Lênin được”[3]. Hai tiếng “đồng chí” là chỉ những người đồng tâm, nhất chí, có chung lý tưởng, mục tiêu đấu tranh vì hạnh phúc và sự giải phóng con người. Người cộng sản hiểu, tin Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải như tín đồ tôn giáo, mà tin tưởng ở tính cách mạng, khoa học của học thuyết đó. Học thuyết đó thể hiện chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, do đó, đoàn kết, thống nhất trong Đảng được xây dựng dựa trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, thương yêu con người. Hồ Chí Minh dạy: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết”[4].

Hai là, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén, là động lực bên trong giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên đoàn kết, tiến bộ. Do đó, tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phê bình việc chứ không phê bình người và phải thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày”. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là “cách tốt nhất”, là “thang thuốc” hay nhất, hữu hiệu nhất để phát huy ưu điểm, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm. Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý tới nâng cao đạo đức cách mạng đồng thời với kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, coi như hai mặt của một quá trình tu dưỡng, phấn đấu của người cộng sản. Đây cũng là nội dung cơ bản để đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Ba là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tính tổ chức, tính kỷ luật, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Theo Hồ Chí Minh, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Đoàn kết phải trên cơ sở nguyên tắc, nhiệm vụ của người đảng viên, gắn dân chủ với tập trung, dân chủ với kỷ luật; mở rộng dân chủ đi đôi với đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Tập trung không đối lập với dân chủ mà chỉ đối lập với tình trạng tản mạn, tùy tiện, vô tổ chức. Dân chủ là để đi đến tập trung. Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ, thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và kỷ luật”[5]. Chỉ có như vậy mới tạo cho Đảng sự thống nhất cao về tư tưởng, ý chí và hành động, vững vàng trong mọi khó khăn, thử thách. Dân chủ trong Đảng là phải làm cho tất cả đảng viên tự do biểu đạt tư tưởng, nhu cầu, đóng góp ý kiến của mình cho Đảng với ý thức trách nhiệm cao. Các cấp uỷ đảng phải bảo đảm thực hành dân chủ từ cơ sở. Mặt khác, cần thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách nhằm tạo cơ sở bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Bốn là, tăng cường kiểm tra để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng và nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết trong Đảng.

Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Kiểm tra giúp cho cấp uỷ kịp thời phát hiện và ngăn chặn nguyên nhân, xử lý hiện tượng mất đoàn kết. Đồng thời biểu dương kịp thời và có biện pháp cụ thể, thiết thực giúp cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên không ngừng chăm lo vun đắp cho khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Hồ Chí Minh viết: “Muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm soát khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”[6].

[1] Hồ Chí Minh.Toàn tập. Tập 12. NXBCTQG, H1996, tr 497.
[2] Hồ Chí Minh.Toàn tập. Tập 11. NXBCTQG, H1996, tr 467
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, H.1996, tr.554.
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.1996, tr.552.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H.1996, tr.241.
[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.1995, tr.287.

Vũ Phú Dũng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo

Nước ta là nước đa tôn giáo, song có hai tôn giáo mà số tín đồ đông nhất là Phật giáo và Công giáo.

Là một người cộng sản theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ phản đối, bài xích các tôn giáo. Người luôn luôn tỏ thái độ tôn trọng và đề cao vai trò của những vị đã sáng lập ra các tôn giáo. Người nói: “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và chúa Giê-su đều giống nhau. Thích Ca và Giê- su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là mẫu mực của sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng. Người không hề có sự phân biệt đối xử giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, giữa người có đạo và người không có đạo. Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo là tư tưởng nhất quán và trở thành chính sách lớn của Bác.

Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng là quyền tự nhiên của người Việt Nam. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, quan tâm giáo dục cán bộ chính quyền, quân đội và các đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, bảo vệ đền chùa, nhà thờ các tôn giáo.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào lương hay giáo đều là người Việt Nam, đều là người lao động và sự nghiệp cách mạng là việc lớn, 1à sự nghiệp chung không phải chỉ của một hai người. Người kêu gọi: “Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”(3).

Người dạy: “Ngày nay, đồng bào cả nước, giáo và lương, đều đoàn kết chặt chẽ, nhất tâm nhất trí như con một nhà, cương quyết giữ vững tự do độc lập…”

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh rõ ràng nổi lên quan điểm bỏ qua những dị biệt nhỏ để giữ lấy cái tương đồng lớn; vượt qua những khác biệt về đức tin, lối sống… để giữ lấy tình đoàn kết dân tộc, giữ lấy mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc.

Giữa tháng 10 năm 1945, vào ngày lễ hành nguyện Phật giáo, trong một bữa tiệc chay được tổ chức tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), có tín hữu hai tôn giáo (Công giáo và Phật giáo) tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Mặc dầu hai tôn giáo có hai giáo lý khác nhau nhưng tôn giáo nào cũng từ bi nhân đạo mà ra, thì không lý gì lúc này cùng là con dân Việt Nam, lại không thể có sự đoàn kết giữa hai tôn giáo được”.

Trong bức thư gửi các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 14-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”(7)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo không chỉ xuất phát từ thực tế đất nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc, từ tinh hoa văn hóa dân tộc, từ lý luận Mác – Lê nin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng… mà còn từ tình cảm yêu thương, lòng nhân ái của Người với đồng bào các tôn giáo. Tấm lòng ấy là bản sắc Hồ Chi Minh luôn biết hòa vào quần chúng, hiểu họ yêu gì, ghét gì và mong muốn điều gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc có một ý nghĩa rất to lớn. Nó đã trở thành cơ sở cho việc hình thành chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ ta trong các giai đoạn cách mạng nhằm phát huy được mặt tích cực của đạo đức tôn giáo trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Kể từ luận cương cách mạng tư sản dân quyền năm 1930 đến Nghị quyết Đại hội VII của Đảng năm 1996, từ Nghị quyết đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945 đến Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 và trong các bản Hiến pháp của nước ta, Đảng và Nhà nước đều nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo.

Nguyễn Xuyến

sites.google.com

Bác Hồ bốn lần học võ

TP – Bác Hồ luôn chú ý việc phát triển thanh niên nói riêng và con người Việt Nam nói chung một cách toàn diện. Bản thân Bác rất gương mẫu rèn luyện, trong đó có rèn luyện sức khỏe. Sinh thời, Bác bốn lần học võ…

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng anh chị em trong cơ quan tập võ dân tộc trong giờ nghỉ – Ảnh: TTXVN

Năm 1913, tại London

Anh quốc là quê hương của phong trào hướng đạo thế giới (phong trào do Huân tước Baden Powell sáng lập năm 1907).

Trong thời gian ngắn ở London, nhận thấy tổ chức này có thể có ích về sau để tập hợp thanh thiếu niên vào tổ chức giáo dục, rèn luyện nhiều mặt, khơi dậy lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, gắn bó trong cộng đồng bình đẳng…, Bác Hồ đã tham gia, là hướng đạo sinh đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 31/5/1946, Người gửi thư nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Hội Hướng đạo Việt Nam.

Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục đầu tiên của nước ta Vũ Đình Hòe trong hồi ký có kể năm 1948, một lần sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ có đốt lửa trại. Trại trưởng Hoàng Đạo Thúy giới thiệu Chủ tịch danh dự khai lửa. Mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác bước ra vừa đi vừa múa hát bài “Hướng đạo ca”: Anh là anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ….

Ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), thư ký riêng của Bác, có lần nói vui:  “Bác Hồ có võ đấy! Võ Tây thì học từ năm 1913 ở bên Anh, võ Tàu năm 1925, còn võ ta thì…”.

Năm 1925, ở Quảng Châu

Sau nhiều lần đề nghị được về gần Tổ quốc để hoạt động gắn với phong trào trong nước, ngày 25/9/1924, Bác nhận được quyết định của Quốc tế Cộng sản cho phép rời Mátxcơva về Quảng Châu – Trung Quốc.

Trên danh nghĩa công khai Người lấy tên Lý Thụỵ dân địa phương làm phiên dịch cho Trưởng phái bộ Liên Xô M.M. Bôrôđin, cố vấn chính trị bên cạnh Tổng thống Trung Sơn và là phóng viên của hãng Rosta Cục Thông tin Liên Xô. Trong tổ chức mang bí danh Đồng chí Vương.

Khoảng mươi năm trước đây có một bài báo Tết viết về Bác Hồ học võ. Cố Thiếu tướng Cục trưởng Cục Cảnh Vệ Bộ Công an Hoàng Hữu Kháng nhắc lời Bác: “Ngày trước ở nước ngoài Bác cũng tập võ để luyện sức khỏe…”.

Được hỏi, ông Vũ Kỳ cho biết, đây là thời gian thuận lợi nhất Bác đã tranh thủ nghiên cứu lịch sử, văn hóa Trung Quốc,học thêm tiếng Hoa, và học võ thuật rất bài bản. Điều này giải thích lý do sau này Bác tập võ rất nhanh và mọi động tác tiến thủ đều rất điêu luyện.

Đó là do Người hết sức tận dụng hoàn cảnh thuận lợi trong Trường Quân chính Hoàng Phố có các đồng chí sinh hoạt cùng chi bộ trong Đảng Pháp ở Paris từ năm 1921 như Chu Ân Lai, Bành Bái, rồi Trương Thái Lôi đi cùng chuyến từ Mátxcơva về đây với Bác, và các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ, nhận người của ta vào học từ lớp đầu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn…Chính số anh em này đi học về dạy lại cho Bác.

Năm 1945, trên nóc Bắc Bộ Phủ

Tình hình tại Hà Nội từ sau ngày 9/9/1945 càng hết sức căng thẳng vì có thêm đội quân ô hợp của Trung Hoa Quốc dân đảng sang nước ta để giải giáp quân đội Nhật hoàng.

Chúng còn mưu đồ “Hoa quân nhập Việt cầm Hồ”, đem theo lũ Việt gian trong hai đảng Việt quốc, Việt cách nhằm lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh. Những vụ bắt cóc, ám sát cán bộ xảy ra ngày ngày.

Tòa khâm sứ cũ, 12 Ngô Quyền là điểm ngắm số một của đủ loại gián điệp các nước. Việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ được Trung ương đặc biệt chú ý…

Riêng Bác, đã lâu chỉ quen tập thể dục thể thao, để “quân tử phòng thân”, Người đề nghị anh Kháng, tức Lý, xem có bài quyền nào dễ hướng dẫn cho Bác cùng tập. Anh Lý lĩnh ý, Bác cháu sẽ tập bài Bát bộ liên hoa quyền.

Anh nghĩ tuổi Bác đã 55, tập nhanh cũng phải mất một tuần. Nhưng không ngờ, Bác cháu trên sân thượng, sáng từ 5 giờ, tối lúc trăng lên, chỉ 3 ngày Bác đã lắp ráp, lướt những đường quyền mềm mại, nhanh nhẹn, rồi lại đột nhiên trụ vững các thế: Thái Sơn áp đỉnh, Độc cước phi thân…

Những năm trên chiến khu Việt Bắc, sáng, tối, sau bài tập thể dục, Bác vẫn luyện các bài quyền, và động viên, hướng dẫn cả các vị bộ, thứ trưởng cùng tập. Khó có ai không tập theo lời Bác.

Năm 1955, trong Phủ Chủ tịch

Ở Hà Nội điều kiện đã tốt hơn nhưng tuổi Bác đã 65. Trung ương đề nghị Bác, mời một chuyên gia Trung Quốc sang hướng dẫn môn tập hiện đại, phù hợp.

Vậy là tối tối, 8 giờ, trong Phủ Chủ tịch, trên bãi cỏ khuất sau vườn cây, Giáo sư Cố Lưu Hinh từ ngoài phố Phan Đình Phùng đi vào đã thấy có mặt Bác. Người trong bộ đồ lụa nâu đứng chắp tay chào sư phụ đúng luật nhà võ.

Bác học rất nhanh, chỉ nhìn thầy hướng dẫn một lượt là tập theo chuẩn xác. Cố giáo sư hết lời khen ngợi: Hiếm thấy!, Hiếm thấy!…

Hôm chia tay sư phụ, Bác mời cơm cảm tạ. Trước khi vào bữa, Bác chủ động đề nghị được “biểu diễn thu hoạch” đợt học để sư phụ phê bình. Giáo sư cúi đầu, chắp tay: “không dám!”, “không dám”, chỉ xin Chủ tịch, nếu được, cho xem bài Thái cực quyền do chính Người tự biên cho phù hợp với mình.

Bác đi bài quyền nhẹ nhàng, uyển chuyển hết sức điêu luyện. Khi vào thế kết thúc thu thân vái chào, vị giáo sư vội đứng lên chắp tay: Hấn hảo! Chuẩy hảo! Chinh phục Chủ xị! (Rất tốt! Cực tốt! Kính phục Chủ tịch!)…

Ông Vũ Kỳ cho biết, khi làm bất cứ việc gì, dù nhỏ hay lớn, Bác đều có kế hoạch và chủ trương 1- biện pháp 10. Như tập võ, Bác luôn nhớ các động tác rồi vẽ ra, dán lên chỗ dễ thấy, càng thuộc nhanh và nhớ lâu.

Ông còn “tiết lộ”: chỉ các vị công phụ tập luyện các môn pháp ở trình độ cao mới biết các thế võ điêu luyện thể hiện cái thần của từng tư thế chính là sự nhuần nhuyễn của pháp thiền động trong bất kỳ trường phái dưỡng sinh hay võ thuật nào mà Bác Hồ đã đạt tới trình độ đó do Người kiên trì rèn tập lâu năm phối hợp giữa luyện Khí – Tâm – Hình – Thở theo thuyết lý Thiên Địa Nhân nhất thể của phương Đông.

Vì vậy, Bác mới được tổ chức Khoa học giáo dục và Văn hóa thế giới UNESCO tôn vinh là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại – một vĩ nhân uyên thâm văn hóa Đông Tây kim cổ.

Trịnh Tố Long

tienphong.vn

Xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Với bản chất cách mạng và khoa học, Đảng ta đã không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, kiên cường lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi gian nan thử thách, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc. Có thể nói, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – một Đảng đạo đức và văn minh, cách mạng và khoa học – là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật của cách mạng XHCN, là nhân tố bảo đảm sự phát triển đúng đắn của đất nước. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo đúng nghĩa của nó và càng không thể có CNXH.

Hiện nay, nhân loại đã trải qua thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, một kỷ nguyên có nhiều diễn biến hết sức phức tạp và sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã khẳng định thế và lực đi lên của chúng ta. Điều ấy đòi hỏi Đảng ta phải vững mạnh, đủ tầm, đủ bản lĩnh, trí tuệ để đưa đất nước phát triển bền vững cả về chính trị và kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa; xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh theo đúng lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Là người cộng sản không thể viết lên trán mình chữ cộng sản là đã được quần chúng tin yêu, mà phải bằng hành động gương mẫu, bằng phẩm chất, đạo đức, tài năng của mình thể hiện ở những việc làm ích nước, lợi dân, thực sự phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người… thì mới được quần chúng yêu mến, tin tưởng. Và Người khẳng định: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và thời đại. Chỉ khi nào Đảng Cộng sản thực sự là tổ chức của những người có đạo đức và văn minh cao, thì Đảng mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN. Đó là sự lựa chọn khách quan của lịch sử. “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”.

Do vậy, để xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh thì những người cộng sản Việt Nam nhất thiết phải nâng mình lên một tầm cao mới về tri thức và văn minh của thời đại.

1. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thường xuyên trau dồi đạo đức của người cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đạo đức cách mạng là nền tảng, là tiêu chuẩn đầu tiên của người cách mạng. Cốt lõi của đạo đức cách mạng là gì? Theo Hồ Chí Minh, đó là: cần, kiệm, liêm, chính. Trong lời khuyên đối với anh em viên chức ngày 17-1-1946, Người nói: để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có bốn đức tính là cần, kiệm, liêm, chính.

Và Người ví:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính

Người còn nhấn mạnh: Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức thì không thành người.

Mỗi khi chúng ta xa rời các đức ấy thì “dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Cùng với cấu trúc: Cần, kiệm, liêm, chính, Hồ Chí Minh còn đưa ra một kiểu cấu trúc khác: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Trong “Sửa đổi lối làm việc” khi nêu lên những tính tốt của người đảng viên, Người viết: “Tóm tắt tính tốt ấy gồm năm điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm… Đó là đạo đức cách mạng”. Cũng có khi Người dùng: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm để chỉ đạo đức cách mạng. Đó là một khái niệm có nội dung phong phú, nhiều mặt, nhiều nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau. Đối với người đảng viên, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, tùy theo đối tượng mà Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm đạo đức cách mạng một cách linh hoạt.

Nhưng tóm lại, Người viết: “Đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình.

Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác”.

Với cách giải thích ngắn gọn mà đầy đủ, súc tích và dễ hiểu của Hồ Chí Minh, các “đức”, các “điều” ấy trở nên gần gũi, dễ nhớ đối với mọi người, mọi giới và ai ai cũng thấy rằng mình vẫn có thể thực hiện được và cố gắng thực hiện để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp lớn lao của Đảng, của cách mạng.

Nhìn lại hơn 20 năm qua, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Đó cũng là kết quả tốt đẹp của việc rèn luyện đạo đức cách mạng; là quá trình làm mới đạo đức cách mạng cả về thực tiễn và ý thức, cả trong Đảng và trong dân. Chúng ta tự hào vì “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, năng động sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất năng lực, có bước trưởng thành, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới, góp phần xứng đáng vào thành quả chung của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc”.

Song, chúng ta rất hổ thẹn và bất bình khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân… diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Trước tình hình ấy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. Nâng cao đạo đức cách mạng trong tình hình mới, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng như những chỉ dẫn của Đảng về đạo đức cách mạng của người đảng viên trong thời kỳ mới. Có thể khái quát nội dung rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay gồm:

Một là, cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tin tưởng vào con đường đi lên CNXH; khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, không nao núng trước kẻ thù, không dao động trước khó khăn, thử thách; hăng say tham gia vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện dao động, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Hai là, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; bất luận khi nào và nơi nào cũng nêu cao tinh thần “mình vì mọi người”, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm với công việc của mình; mọi lời nói việc làm đều vì mục đích chung là xây dựng thành công CNXH, lấy lợi ích của nhân dân là trên hết; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu, đặc quyền đặc lợi; mặt khác, phải biết gần gũi, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ba là, cán bộ, đảng viên phải “học, học nữa, học mãi”; luôn khiêm tốn, cầu thị, tích cực học tập để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, có đủ phẩm chất và năng lực tham gia lãnh đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

Bốn là, cán bộ, đảng viên phải biết nhận thức đúng và nghiêm túc chấp hành mọi quy định của tổ chức, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tự giác chấp hành kỷ luật, nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình; dũng cảm và kiên quyết đấu tranh với những sai lầm khuyết điểm.

Như vậy, yêu cầu về đạo đức đối với người đảng viên của Đảng bao hàm trên nhiều khía cạnh khác nhau: đạo đức về chính trị tư tưởng, đạo đức trong sinh hoạt lối sống, đạo đức trong sinh hoạt đảng, đạo đức trong quan hệ giữa người và người, quan hệ với quần chúng nhân dân.

Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay là một cuộc đấu tranh rất phức tạp và khó khăn, kiên trì và lâu dài. Bởi vì, đó là đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu; giữa cái mới và cái cũ; giữa nhận thức và hành động… trong bối cảnh có nhiều thách thức, tiêu cực.

Do đó, phải sử dụng tổng hợp, đồng bộ nhiều giải pháp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Có thể tập trung vào các biện pháp sau:

– Đổi mới công tác giáo dục chính trị, đạo đức.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời và chính xác các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa của cán bộ, đảng viên.

– Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình.

– Phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân và báo chí trong đấu tranh chống suy thoái đạo đức.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh nêu gương, học tập người tốt, việc tốt; mà trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nhận thức đúng và hành động đúng theo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

2. Cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao năng lực trí tuệ khoa học, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Cách mạng là một nghề, nghề gì cũng phải học, học lý luận Mác-Lênin, học văn hóa, học khoa học-kỹ thuật, học ngoại ngữ… Muốn xây dựng CNXH thì phải có học thức, phải có văn hóa. Với mọi cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn” và “nghề nào cũng phải học, phải thông thạo”.

Hiện nay khi mà thời đại đã và đang tạo cho nhân loại thu được nhiều thành tựu kỳ diệu trên các lĩnh vực thì những chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thành tựu do cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại đem lại chính là những thăng hoa của văn hóa, là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Các nhân tố đó đang và sẽ là hành trang và sức mạnh tinh thần không thể thiếu được để toàn Đảng, toàn dân ta vững bước tiến vào thế kỷ XXI, một thế kỷ chứa đầy triển vọng nhưng cũng không ít thách thức.

Nâng cao trí tuệ trong tình hình mới đòi hỏi Đảng và nhân dân ta tiếp tục đổi mới tư duy. Phải hiểu cho đúng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, biết vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết và tư tưởng đó, đặc biệt là những vấn đề về CNXH vào những điều kiện lịch sử cụ thể hiện nay. Phải hiểu cho đúng thực tiễn Việt Nam và thế giới, những xu thế lớn của thời đại khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, những kiến thức về khoa học-kỹ thuật, công nghệ hiện đại, và đặc biệt là về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn mới mẻ đối với chúng ta.

Từ đó Đảng không ngừng hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước; cán bộ, đảng viên phải quán triệt và lãnh đạo nhân dân biến những đường lối, chủ trương, chính sách ấy thành hiện thực.

“Kiến thiết cần có nhân tài”. Muốn có nhân tài thì phải đào tạo. Với ý nghĩa đó, cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu. Đảng cần đẩy mạnh hơn nữa trong phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt và chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.

Quả thật, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng bao giờ cũng đặt ra những nhiệm vụ mới, với những khó khăn, thử thách mới. Sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” để “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.

Và cái khó khăn của cuộc chiến đấu mới không phải chỉ ở tầm vóc và quy mô của sự nghiệp xây dựng mà còn ở chỗ mỗi cán bộ, đảng viên phải khắc phục những yếu kém của mình, chiến thắng “giặc ở trong lòng” mình, “giặc nội xâm” ở ngay trong tổ chức mình.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều thời cơ và thách thức, vận hội và nguy cơ đan xen nhau, đang tác động qua lại hết sức phức tạp. Phải tranh thủ nắm bắt thời cơ, tận dụng vận hội, vượt qua mọi thử thách, đẩy lùi mọi nguy cơ để đưa đất nước đi lên.

Vì vậy, Đảng ta đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải có một sự nỗ lực phi thường. Sự nỗ lực ấy trước hết tập trung vào việc nâng cao hai mặt trí và đức của mỗi cán bộ, đảng viên, cũng như nâng cao mặt bằng trí-đức của toàn xã hội. Phải có cái trí ngang tầm thời đại và cái đức theo gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta mới thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển đất nước theo định hướng XHCN, chúng ta mới đi tới được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Ôn lại những chặng đường mà Đảng ta đã trải qua cùng những thắng lợi vẻ vang mà nhân dân ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, càng hiểu thêm, tin yêu thêm và tự hào thêm về dân tộc ta – một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta – Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện – một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Với chặng đường lịch sử 81 năm vẻ vang của Đảng, chúng ta có quyền tự hào mà nhắc lại nhận định sáng suốt của lãnh tụ Hồ Chí Minh:

Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no.

ThS. Trương Thị Mỹ Trang
Khoa Xây Dựng Đảng – Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi

xaydungdang.org.vn

Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo

Dân tộc Việt Nam có truyền thống hàng nghìn năm văn hiến, truyền thống hiếu học. Một trong những con người tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, có nhiều đóng góp trong việc xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Là người sáng lập ra chế độ mới, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngay sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một trong những nhiệm vụ cấp bách của chế độ mới. Bởi vì, ”một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ”Dốt thì dại, dại thì hèn”.

Theo Hồ Chí Minh, “một chế độ mới ra đời, điều cần thiết đầu tiên là phải nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục nô lệ, Thực dân Pháp muốn làm cho dân ngu để trị”. Đối với chúng ta, vấn đề không chỉ là nhận thức thế giới mà còn phải cải tạo thế giới. Muốn làm được điều đó, nói như V.l. Lê Nin, mù chữ sẽ đứng ngoài chính trị. Quan điểm của Hồ Chí Minh là phải làm cho nhân dân biết đọc, biết viết, từng bước nâng cao dân trí. Bởi vì nước ta là nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ. Công việc kháng chiến, kiến quốc, đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chúng ta phải đem tài dân, sức dân, của đân để làm lợi cho dân. Muốn làm được điều đó, cần phải có giáo dục và giáo dục lại nhân dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, giáo dục sẽ tạo ra tính liên tục của cách mạng. Trên cơ sở nâng cao dân trí, nhân dân sẽ biết quyền lợi, bổn phận, có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng. Sự thành công của các nước, không có yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục. Giáo dục sẽ tạo ra ”những nguyên liệu” không có sẵn trong tự nhiên như kỹ sư, chuyên gia, bác học… Giáo dục – đào tạo sẽ góp phần quyết định làm cho non sông Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Giáo dục tạo ra nhân cách và từng bước hoàn thiện con người.

Mặt khác, giáo dục còn là yếu tố quyết định trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ tổ chức quản lý. Giáo dục sẽ giúp cho người học có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới mà nếu không có nó thì sẽ không giữ vững được nền độc lập, không thể tham gia vào công việc kiến thiết xây dựng nước nhà dân giàu, nước mạnh. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc…” Theo Hồ Chí Minh, giáo dục chỉ phát huy hết vai trò, sức mạnh của mình khi thực hiện đúng đắn phương châm, phương pháp giáo dục. Người đã nhiều lần căn dặn các nhà giáo phải luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất Giáo dục phải kết hợp cả 3 khâu: gia đình, nhà trường và xã hội. Nếu xem nhẹ bất kỳ khâu nào cũng đều hạn chế đến kết quả của giáo dục, thậm chí có thể đưa lại những hậu quả khó lường… Hồ Chí Minh quan niệm giáo dục đào tạo là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Kết quả giáo dục phụ thuộc rất lớn vào đường lối của Đảng, trách nhiệm của chính quyền, các ngành, các cấp, các đoàn thể, của cha mẹ học sinh. Phải tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công tác giáo dục – đào tạo của Đảng. Bởi vì, giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần còn lại thuộc về vai trò của các đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để có một nền giáo dục đạt chất lượng và hiệu quả cao, thể hiện bản chất tốt đẹp của nền giáo dục XHCN thì phải thật sự dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; phải gắn liền với thi đua và phương pháp nêu gương…

Nhìn lại nền giáo dục cách mạng Việt Nam gần 60 năm qua, chúng ta càng thấy rõ một sự thật: Lúc nào và ở đâu nghiên cứu và quán triệt đầy đủ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo thì ở đó đem lại những thành tựu và niềm tự hào lớn cho nền giáo dục nước nhà. Hiện nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta coi giáo dục làquốc sách hàng đầu nhưng làm thế nào để hiện thực hóa điều đó thi chúng ta vẫn còn đang tìm tòi. Đội ngũ giáo viên vẫn đang còn phải lo toan quá nhiều việc để lo cho cuộc sống gia đình. Những biện pháp cụ thể để chặn đứng những tiêu cục, xuống cấp trong giáo dục vừa thiếu, vừa yếu, lại không đồng bộ. Trước đây, phong trào thi đua ”dạy tốt, học tốt” không bị chủ nghĩa hình thức chi phối ngày nay bệnh thành tích đang làm mờ đi thực chất giáo dục. Hai năm gần đây, việc cãi cách phương pháp ra đề thi đại học, bước đầu xác định là một vị thuốc trong thang thuốc làm giảm căn bệnh của những cơn sốt luyện thi, dạy thêm, học thêm. Đó là những kinh nghiệm cần được nghiêm túc đánh giá, tổng kết để tìm ra bước đi thích hợp cho nền giáo dục nước ta trong những năm tới.

Theo báo Lâm Đồng

dangcongsan.vn