Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam

Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ chí Minh luôn coi báo chí và những người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân.

Cuộc đời hoạt động của Người không tách rời hoạt động báo chí. Người làm báo là để làm cách mạng và để làm cách mạng Người đã trở thành một nhà báo. Các tác phẩm báo chí của Người có nội dung vô cùng sâu sắc và hết sức mẫu mực về hình thức thể hiện, tạo nên một phong cách độc đáo – phong cách báo chí Hồ Chí Minh.Theo Người, báo chí chúng ta chỉ có một đề tài xuyên suốt là: “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (1). Để thực hiện được nội dung đó, báo chí cách mạng phải có tính chiến đấu với tính cách là biểu hiện cao nhất của tính đảng, là bản chất, là tiêu chí cao nhất của báo chí cách mạng. Điều đó trước hết thể hiện ở đường lối chính trị của tờ báo. Báo chí thực chất là hoạt động chính trị, thông tin trên báo chí quan trọng nhất là thông tin chính trị. Theo Người, báo chí là công cụ đấu tranh giai cấp, là vũ khí đấu tranh cách mạng. Tính tư tưởng cách mạng của báo chí quyết định chất lượng, tác dụng của báo chí. Để bảo đảm tính tư tưởng, tính đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện được tính chiến đấu, tính giáo dục và tính quần chúng của báo chí. Người nói: “Đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo cũng phải có tính chiến đấu mới làm báo tốt được. Viết một bài báo mà loại được những yếu tố cá nhân cũng là một cuộc đấu tranh” (2).

Báo chí phải biểu thị rõ ràng sự nhiệt tình ủng hộ hay phản đối một quan điểm, một vấn đề, một sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội nào đó khi trong xã hội còn đấu tranh giai cấp. Người khẳng định: ‘”Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén – bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới” (3).

Tất nhiên yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng là một cơ sở khác đương nhiên để Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ, chức năng của báo chí. Xã hội và cùng với nó là so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng luôn thay đổi, đòi hỏi Đảng phải tùy thuộc hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để đưa ra các nhiệm vụ cho báo chí cách mạng. Muốn hoàn thành những nhiệm vụ của mình, báo chí cách mạng phải có những nguyên tắc chỉ đạo nhất quán của nó. Nguyên tắc đó là gì? Bác Hồ khẳng định: “Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở những người làm báo, khi viết phải trả lời rõ: “Viết cho ai xem? Viết để làm gì?; “Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì?” (4). Những câu hỏi Người đặt ra chính là đòi hỏi báo chí phải xác định rõ đối tượng tiếp nhận thông tin. Việc xác định đó nhằm hình thành phương pháp sáng tạo phù hợp cho nhà báo.

Người chỉ rõ: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng” (5). Vì vậy, cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài … Việc xác định đúng đối tượng phục vụ của báo chí cũng có nghĩa là nhà báo phải biết chọn lựa những nội dung gì nên viết, cái gì không nên viết. Viết phục vụ nhân dân thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. “Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” (6). Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động.

Thực hiện lời dạy của Người, 85 năm qua, báo chí cách mạng nước ta đã thể hiện là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trong công tác tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta không ngừng tiến lên và giành được những thành tựu to lớn. Lớp lớp đội ngũ nhà báo Việt Nam luôn trung thành với lý tưởng của Đảng, kiên định vững vàng trong những biến động của lịch sử; có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giành độc lập dân tộc, đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ngừng ra sức phấn đấu rèn luyện “trí sáng, tâm trong, bút sắc”, thực hiện sứ mệnh cao quý của người cầm bút, sáng tạo nhiều tác phẩm báo chí có chất lượng cao hơn.

Vấn đề đặt ra cho nhà báo cách mạng là sự ý thức tự giác đầy đủ vai trò trách nhiệm của mình trên cơ sở nhận thức rõ ràng về bản chất chế độ, bản chất nền báo chí cách mạng. Chỉ có một niềm tin vững chắc trên cơ sở đó mới giúp các nhà báo hành nghề một cách tự do. Mà tự do theo Bác Hồ thì cũng chính là quyền phục tùng chân lý. Và chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân… Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân tức là phục tùng chân lý. Chân lý đó là rất cụ thể. Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là một yêu cầu rất rõ ràng, một điều kiện nhân văn không thể chối cãi để đạt đến tự do.

Thực hiện tư tưởng của Người về báo chí, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo báo chí, do đó, báo chí đã phát triển khá nhanh về số lượng, đến nay cả nước có 706 cơ quan báo chí in; 528 tạp chí; trên 500 đài truyền thanh, truyền hình cấp huyện, 05 báo điện tử lớn, hàng chục trang báo điện tử là cánh tay nối dài của báo in, hàng trăm trang thông tin điện tử, hàng ngàn website, với hơn 17.000 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo. Phần lớn các cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và định hướng chính trị, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, báo chí có bước phát triển về số lượng, trình độ, tham gia ngày càng tích cực vào quá trình truyền thông. Các cơ quan báo chí từng bước nâng cao về chất lượng; đã thực hiện tốt chức năng là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân, có những đóng góp tích cực, quan trọng vào những thành quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của quá trình đổi mới ở nước ta. Những thành công cũng như hạn chế trong hoạt động của mỗi cơ quan báo chí gắn liền với những ưu khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của từng tổ chức đảng.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cũng chính là quán triệt ý thức trách nhiệm chính trị xã hội của báo chí. Làm báo thực chất là làm chính trị. Ý thức nghề nghiệp của người làm báo trước hết là ý thức chính trị. Đó là ý thức về một lập trường chính trị cách mạng, là thái độ bảo vệ chế độ, bảo vệ dân tộc, bảo vệ giai cấp, kiên quyết chống lại sự phá hoại của kẻ thù. Đó là các cơ sở gốc rễ để mỗi nhà báo tự vượt lên trên những tính toán vụ lợi, cống hiến toàn tâm, toàn lực cho sự nghiệp cách mạng.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, mỗi nhà báo cần nắm vững, thấm nhuần tư tưởng báo chí cách mạng của Người, vận dụng sáng tạo vào hoạt động tác nghiệp của mình. Trong điều kiện hiện nay, để xứng đáng là chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa của Đảng, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, những người làm báo phải xây dựng lập trường chính trị vững vàng, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, kỹ năng làm báo, giữ vững sự trong sáng của đạo đức nghề nghiệp.

—–

1. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Ths. Nguyễn Huy Ngọc

xaydungdang.org.vn

Nâng cao tính định hướng đối với báo chí điện tử theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Bất kỳ một tờ báo chính trị nào cũng đều có tính định hướng, tức là xu hướng chính trị của tờ báo. Báo chí nước ta giữ vai trò là người tuyên truyền, cổ động, người tổ chức tập thể, một trong những động lực của phong trào cách mạng, đội quân tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng càng không thể tách rời yếu tố định hướng chính trị – tư tưởng.

Đến cuối năm 2009, cả nước ta có 706 cơ quan báo chí in, 67 đài phát thanh-truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang tin điện tử của các cơ quan báo chí in và hàng ngàn trang tin điện tử của các cơ quan đảng, nhà nước và các đoàn thể, hội, hiệp hội, các doanh nghiệp. Hầu hết các cơ quan báo chí đã bám sát thực tiễn của đời sống xã hội, thực hiện đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước; thông tin nhanh nhạy, đầy đủ, toàn diện về mọi diễn biến của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội ở trong nước và quốc tế, đặc biệt là các sự kiện lớn, đáp ứng tốt quyền được thông tin của nhân dân. Đồng thời, báo chí thực hiện tốt chức năng là diễn đàn của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, kịp thời phát hiện và biểu dương những gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến. Điều đáng ghi nhận là phần lớn các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm tôn chỉ, mục đích, ngày càng thể hiện rõ tính chuyên nghiệp cũng như đạo đức nghề nghiệp. Nhiều cơ quan báo chí đã năng động, tích cực trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác, tích cực đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái… Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ quan báo chí và nhà báo có những biểu hiện chưa nghiêm túc trong quá trình thực hiện Luật Báo chí, làm giảm hiệu quả thông tin báo chí, ảnh hưởng không tốt đến kỷ cương xã hội; vẫn còn một số cơ quan báo chí, nhất là báo chí điện tử thông tin không chính xác, thiếu nhạy cảm về chính trị; một số báo chí điện tử còn nặng thông tin về tiêu cực, có nhiều tin bài chạy theo thị hiếu tầm thường để “hấp dẫn” người đọc, ít chú ý đến việc phát hiện, cổ vũ, biểu dương những gương người tốt, việc tốt, những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một số báo chí điện tử còn sơ hở trong sử dụng lại tin bài của nước ngoài, có báo còn đăng cả những thông tin mật của Nhà nước, những bí mật kinh tế liên quan đến hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, cần tăng cường công tác định hướng thông tin của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo về báo chí đối với báo chí nói chung, báo chí điện tử nói riêng và đẩy mạnh việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được những người làm báo cách mạng Việt Nam suy tôn là nhà báo cách mạng bậc thầy. Tư tưởng và những chỉ dẫn của Người luôn là định hướng soi đường cho báo chí cách mạng nước ta. Người từng chỉ rõ “… Tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”(1). Người cho rằng: “Cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”(2); và như thế “nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”(3).

Theo tư tưởng của Người, chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân lý đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Để thực hiện được chân lý đó, phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng. Muốn vậy, cần tiếp tục nâng cao tính định hướng chính trị trong hoạt động báo chí. Hiện nay, ở một số báo điện tử cần khắc phục xu hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, coi nhẹ chức năng chính trị tư tưởng của báo chí cách mạng; thiếu nhạy bén chính trị, có khuynh hướng “thương mại hoá” đơn thuần, chạy theo thị hiếu tầm thường, nặng thông tin về những hiện tượng tiêu cực, yếu kém, mặt trái của xã hội, thổi phồng, khoét sâu vào các thiếu sót, khuyết điểm, làm “nóng” lên một số vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, của các ngành, địa phương. Tránh thông tin sai sự thật, suy diễn chủ quan, khi biết sai không cải chính hoặc cải chính không nghiêm túc; khai thác và sử dụng thông tin của báo chí nước ngoài thiếu chọn lọc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, truyền thống văn hoá của dân tộc… Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, công tác lãnh đạo, quản lý báo điện tử cần tập trung vào một số vấn đề sau:

1. Cần lãnh đạo, quản lý hệ thống báo chí điện tử bảo đảm đúng định hướng chính trị tư tưởng.

Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý hệ thống báo chí điện tử. Định hướng chính trị tư tưởng có ý nghĩa như “kim chỉ nam” dẫn đường mọi hoạt động. Báo chí nước ta là báo chí xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn liền với dân chủ XHCN, không phục vụ mục đích, quyền lợi của riêng một cá nhân, lực lượng nào nên không thể tách rời yếu tố định hướng chính trị tư tưởng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: Tăng cường sự lãnh đạo của đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong các cơ quan báo chí. Khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, nhất là xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém, vì lợi ích vật chất cá nhân cục bộ(4). Định hướng chính trị tư tưởng đối với báo chí điện tử phải báo đảm một số vấn đề cơ bản sau:

– Phải thông tin nhanh, trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới.

– Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng cơ sở vật chất cho thời kỳ quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

– Phản ánh kịp thời và hướng dẫn dư luận xã hội; là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân.

– Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác.

– Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Để bảo đảm định hướng chính trị tư tưởng đối với hệ thống báo chí điện tử, công tác lãnh đạo, quản lý cần tập trung thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, ban hành văn bản hướng dẫn và những quy định cụ thể phù hợp thực tiễn; cung cấp thông tin định hướng về hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội lớn của đất nước để báo chí điện tử có căn cứ thực hiện.

Hai là, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ những người làm báo nói chung, báo chí điện tử nói riêng, nhất là tổng biên tập, phó tổng biên tập, những người trực tiếp quyết định chất lượng cũng như tính định hướng của báo chí điện tử.

Ba là, xây dựng, quản lý tốt quy trình làm báo chí điện tử, bảo đảm vừa tạo điều kiện cho phóng viên, biên tập viên tác nghiệp thuận lợi, nhanh nhạy, vừa bảo đảm quy trình duyệt tin bài của người có trách nhiệm trong cơ quan báo chí (tổng biên tập hoặc phó tổng biên tập được uỷ quyền). Bốn là, phát huy vai trò của các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan chủ quản trong việc định hướng chính trị tư tưởng cho báo chí điện tử.

2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin, tuyên truyền, xây dựng phong cách làm việc theo hướng chuyên môn hoá cao.

Định hướng chính trị tư tưởng được thể hiện bằng chất lượng thông tin của báo chí nói chung, trong đó có báo chí điện tử. Điều này đặt ra vấn đề cần nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ. Muốn vậy, báo chí điện tử cần có sự chuyên môn hoá cao. Chuyên môn hoá của báo chí điện tử tập trung ở một số vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, mỗi tờ báo phải bám sát tôn chỉ, mục đích của mình để có bản sắc riêng, tránh sa đà, thương mại hoá, thông tin dàn trải, sao chép, xa rời định hướng. Thứ hai, mỗi tờ báo phải xây dựng hệ thống tổ chức, xác định số lượng chuyên mục, trang chuyên đề… cho phù hợp. Trên cơ sở đó, có sự phân công, phân cấp đội ngũ phóng viên, biên tập viên theo những phòng, ban chuyên đề, bộ phận công tác nhất định, có tính chuyên sâu.

3. Phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật và nghiệp vụ.

Yếu tố làm nên tính ưu việt của báo chí điện tử chính là khoa học-công nghệ, song những hạn chế, khuyết điểm của báo chí điện tử cũng có nguyên nhân từ yếu tố này. Để báo chí điện tử phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật, nghiệp vụ cần tập trung vào một số vấn đề chính sau:

– Có biện pháp để sớm “chuẩn hoá” một số tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật đảm bảo cho một tờ báo điện tử hoạt động.

– Mở rộng hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm với nước ngoài về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và quản lý báo chí điện tử.

– Có biện pháp quản lý tên miền, bản quyền tên và thiết kế báo, bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống báo chí điện tử.

– Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phóng viên, nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí điện tử có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ nghiệp vụ và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, làm chủ được hệ thống hạ tầng hiện đại.

————

(1): Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, H. 2.002, tập 9, tr. 414.
(2): Sđd, tập 11, tr.441.
(3): Sđd, tập 9, tr.415.
(4): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, H. 2006, tr.285.

Nguyễn Công Dũng
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

xaydungdang.org.vn

Tuyên ngôn Độc lập – Cơ sở pháp lý nền tảng cho sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và đọc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-9-1945. Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý đặt cơ sở nền tảng cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là kim chỉ nam cho quá trình đấu tranh bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia của Nhà nước ta.

1. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền và xứng đáng được hưởng quyền tự do và độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là hợp với lẽ phải.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh nêu một sự thật hiển nhiên đã được ghi trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1). Đó là những quyền thiêng liêng, không ai được xâm phạm. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh đã nâng quyền cá nhân của con người lên thành quyền của cả dân tộc, một sự suy rộng hợp lý, sắc sảo. Người viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(2). Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là “những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Từ đó, Tuyên ngôn Độc lập đã đanh thép tố cáo chủ nghĩa thực dân Pháp, chủ nghĩa phát xít Nhật đã trắng trợn chà đạp lên những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc Việt Nam. Núp dưới khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”, với chiêu bài “khai hóa văn minh”, chủ nghĩa thực dân Pháp đã xâm lược Việt Nam, áp bức đồng bào ta, đầu độc nhân dân ta, kìm hãm dân tộc ta trong sự bần cùng, suy nhược, đẩy nòi giống ta vào thảm họa diệt vong. Đó là hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”(3). Bằng thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tuyên ngôn Độc lập đã vạch trần sự áp bức tàn bạo của bọn thực dân, phát xít về mọi mặt. “Về Chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man…

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta…”(4).

Về văn hóa, chúng “thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…”(5).

Về kinh tế, “chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy…”(6).

Mặt khác, Tuyên ngôn Độc lập đã ca ngợi sự gan góc của nhân dân Việt Nam, dũng cảm đứng về phe Đồng minh chống lại nạn hủy diệt loài người của chủ nghĩa phát xít, giành lại quyền độc lập dân tộc. Trong cuộc chiến đấu ấy, thực dân Pháp đã không những không cùng với Việt Minh đứng về phe Đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít, không những “không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”(7), cấu kết với Nhật ra sức chém giết đồng bào ta. Dưới hai tầng áp bức Nhật – Pháp, đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ, nhất là công nhân và nông dân ngày càng bị bần cùng hóa cao độ, khốc liệt nhất là hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói vào cuối năm 1944 đầu năm 1945. Đó là tội ác trời không tha, đất không dung của chúng. Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã dũng cảm đứng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa, đem sức ta giải phóng cho ta, giành lại quyền độc lập dân tộc.

Những lý lẽ ấy khẳng định: Cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam là bộ phận khăng khít, là sự tiếp nối tiến trình đấu tranh vì “lẽ phải”, vì sự tiến bộ của loài người, là cuộc đấu tranh giành lại quyền thiêng liêng nhất của các dân tộc. Chính vì những lẽ đó, dân tộc Việt Nam “phải được tự do”, “phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”(8). Đó chính là nhân đạo và chính nghĩa! Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng quyền tự do và độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là hợp với công lý và lẽ phải.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận con người dưới hai phương diện: cá nhân và cộng đồng. Cho nên, quyền độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết là một nội dung cơ bản và quan trọng của quyền con người. Đây là một sự đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho nhân loại về mặt nhận thức cũng như thực tiễn về vấn đề quyền con người. Tuyên ngôn về quyền dân tộc của Hồ Chí Minh đánh dấu một mốc son trong lịch sử đấu tranh vì sự tiến bộ của nhân loại và vẫn còn nguyên giá trị thời sự trong giai đoạn hiện nay. Trong thời đại mới, đấu tranh cho quyền con người không chỉ có đấu tranh cho quyền cá nhân con người mà còn đấu tranh cho quyền dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền cơ bản của cá nhân con người thống nhất hoàn toàn với quyền cơ bản của dân tộc, cho nên đấu tranh cho quyền cá nhân con người phải đảm bảo bảo vệ quyền độc lập, quyền tự quyết của dân tộc. Quyền cá nhân con người chỉ thật sự được bảo vệ, khi quyền dân tộc được đảm bảo, dân tộc có độc lập thì dân quyền mới tự do và dân sinh mới hạnh phúc. Đấu tranh cho quyền con người là nhân đạo và chính nghĩa khi sự đấu tranh ấy vừa đảm bảo những quyền cơ bản của cá nhân con người trong một cộng đồng dân tộc, đồng thời cũng đảm bảo những quyền cơ bản cho dân tộc ấy; đấu tranh bảo vệ quyền cá nhân con người thì đồng thời không được xâm phạm vào quyền độc lập, quyền tự quyết của dân tộc. Hiện nay, nhân danh đấu tranh cho quyền cá nhân con người, một số kẻ đã xâm phạm trắng trợn vào quyền cơ bản của dân tộc. Sự xâm phạm thô bạo quyền dân tộc ắt sẽ dẫn đến xâm phạm quyền cá nhân con người.

Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là ngọn cờ cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của cả hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới. Nó thức tỉnh các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành lại những quyền cơ bản cho dân tộc mình.

Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để giành lại quyền tự do và độc lập, vì vậy, nhân dân Việt Nam nguyện đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập.

2. Tuyên ngôn Độc lập đặt cơ sở pháp lý cho cuộc Tổng tuyển cử và sự ra đời của bản Hiến Pháp 1946

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã nhiều lần đánh thắng quân xâm lược phong kiến phương Bắc, giành lại nền độc lập dân tộc, giữ vững bờ cõi nước nhà. Chúng ta đã có những áng “thiên cổ hùng văn” được coi như các bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bờ cõi đất nước. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là sự tiếp nối tinh thần cốt lõi của các bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, đồng thời phát triển các giá trị cốt lõi ấy theo đà phát triển hợp quy luật của nhân loại. Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định việc giành lại quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam mà còn tuyên bố thoát ly khỏi chế độ thực dân, từ bỏ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên một chế độ xã hội mới mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Đó là chế độ Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn Độc lập ghi rõ: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”(9). Đây chính là cơ sở pháp lý nền tảng cho việc chấm dứt hoàn toàn chế độ quân chủ phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, dân chủ, cộng hòa. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử diễn ra vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Trong cuộc Tổng tuyển cử đó, “Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”(10). Đây là thành quả to lớn về mặt chính trị mà Cách mạng tháng Tám đã mang lại cho nhân dân ta. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân được sử dụng lá phiếu của mình để bầu ra bộ máy nhà nước phục vụ cho lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý đầu tiên tạo cơ sở cho việc thiết lập Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là quản lý xã hội bằng pháp luật. Việc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện để quản lý xã hội là điều quan trọng nhất, mà trước hết là phải ban hành Hiến pháp – đạo luật gốc, giữ vai trò như “thần linh pháp quyền”, nói như ngôn ngữ hiện nay là giữ vai trò tối thượng trong việc chi phối và điều hành mọi quan hệ xã hội. Từ nhận thức sâu sắc đó, khi nước nhà vừa giành được độc lập, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định ngay việc thoát ly hẳn chế độ quân chủ, thiết lập chế độ Dân chủ Cộng hòa. Đây là cơ sở pháp lý nền tảng cho việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp 1946. Bởi lẽ, nói đến dân chủ là nói đến pháp luật. Trong chế độ Dân chủ Cộng hòa, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau; mọi quyền dân chủ của nhân dân phải được thể chế hóa bằng pháp luật, phải được pháp luật bảo vệ, ngược lại, hệ thống pháp luật là công cụ quan trọng nhất đảm bảo và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, là hành lang vận động của dân chủ, là giới hạn phạm vi của dân chủ, đảm bảo cho dân chủ nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Do đó, sau khi tuyên bố nền độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáng ngày mồng 2-9-1945, ngay ngày sau đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị với Chính phủ 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó nhiệm vụ cấp bách thứ ba là soạn thảo và ban hành hiến pháp. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”(11). Rõ ràng, khẳng định việc thiết lập chế độ Dân chủ Cộng hòa, Tuyên ngôn Độc lập đã tạo ra cơ sở pháp lý cho sự ra đời của Hiến pháp 1946. Đây là những viên gạch đặt nền móng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tuyên ngôn Độc lập, Tổng tuyển cử, và Hiến pháp 1946 có quan hệ hữu cơ với nhau. Tuyên ngôn Độc lập đã tạo cơ sở pháp lý nền tảng cho việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử và sự ra đời của bản Hiến pháp 1946. Đến lượt mình, Hiến pháp 1946 ra đời đã thể chế hóa thành hiến pháp tất cả những nội dung cốt lõi của Bản Tuyên ngôn Độc lập, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho những điều mà Tuyên ngôn đã tuyên bố – những thành quả vĩ đại mà Cách mạng Tháng Tám đã mang lại cho nhân dân Việt Nam. Hiến pháp 1946 cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chính nhân dân bầu ra từ Chính phủ đến cơ sở. Đây là những nhân tố quan trọng nhất tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Việc nhanh chóng tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn về thực tiễn. Đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với tư cách là một nước độc lập, có chủ quyền đấu tranh để giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Việc nhân dân bầu ra được bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật đã tạo ra một bộ máy nhà nước mạnh đủ sức tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược, đưa đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

———-

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG. H.2002, tập 4, tr.1.
(4, 5, 6, 7) Sđd, tr.2.
(8) Sđd, tr.4.
(9) Sđd, tập 4, tr.3.
(10, 11) Sđd, tr.8.

Ths. Nguyễn Thị Thu Trang
Giảng viên chính, Khoa Tư tưởng HCM, Học viện CT-HC Khu vực III

xaydungdang.org.vn

Yêu cầu cơ bản đối với người lãnh đạo khi đánh giá, sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo đến công tác bồi dưỡng, đào tạo cho Đảng một đội ngũ cán bộ thực sự vững mạnh, có đủ đức, đủ tài để đưa con thuyền cách mạng đến bến bờ vinh quang. Người cho rằng: “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” và “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu” (1).

Người cũng luôn căn dặn cán bộ các cấp, nhất là lãnh đạo phải tỉnh táo lựa chọn người để bố trí công việc cho đúng. Làm lãnh đạo mà không biết dùng người, hoặc dùng người một cách thiên lệch, thiếu đúng đắn thì không xứng với cương vị được giao. Cho nên, Người yêu cầu khi đánh giá, sử dụng cán bộ phải đúng và khéo, đảm bảo cả khoa học lẫn nghệ thuật.

Muốn sử dụng đúng và khéo, trước hết phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ. Đánh giá cán bộ phải toàn diện, khách quan, công tâm. Muốn hiểu cán bộ, trước hết phải tự biết mình, biết đúng sự phải trái của mình thì mới biết đúng sự phải trái của người khác. Nếu không biết sự phải trái của mình thì chắc không nhận rõ người tốt hay xấu. Hồ Chí Minh cũng phê phán những chứng bệnh mà người lãnh đạo hay mắc phải là: tự cao, tự đại, ưa nịnh, chán, ghét những người chính trực; đem lòng yêu, ghét mà đối với người, dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người không hợp với mình. Kết quả là họ làm sai mà mình vẫn  bao che, bảo hộ, khiến cho họ ngày càng thoái hóa, biến chất. Còn đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết”. Như thế, không chỉ làm hại tới uy tín của Đảng mà còn làm hỏng cả người lãnh đạo. Người lãnh đạo phạm một trong những bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính màu, không bao giờ thấy rõ cái sự thật những cái gì mình thấy.

Do đó, khi lựa chọn cán bộ phải dựa trên những tiêu chuẩn nhất định và phải biết cách dùng cán bộ cho đúng. Theo Hồ Chí Minh, người lãnh đạo phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa; phải biết giúp đỡ những đồng chí còn kém, giúp họ tiến bộ; phải sáng suốt, tỉnh táo mới khỏi bị “bọn vu vơ bao vây mà xa cách cán bộ tốt”; phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí ấy mới gần gũi mình.

Để cán bộ yên tâm làm việc, theo Người, lãnh đạo phải có gan cất nhắc cán bộ. Cất nhắc cán bộ, phải vì công việc, như thế công việc nhất định “chạy”. Trước khi cất nhắc phải nhận xét rõ ràng, thấy được những mặt tích cực, những điểm hạn chế trong từng người cụ thể để có hướng sử dụng đúng. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục mà gây nên “mối lôi thôi” trong Đảng. Khi cất nhắc cán bộ phải vì tập thể, tránh động cơ cá nhân, áp đặt vô nguyên tắc, thiếu dân chủ, cần vì sự ổn định và phát triển của cơ quan, đơn vị chứ không phải vì ai ngồi vào vị trí này, ai ngồi vào vị trí kia.

Phải biết khiến cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến đóng góp ưu, khuyết điểm của lãnh đạo. Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo mà lại thực hành tốt dân chủ rộng rãi trong Đảng; khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Có nhiều việc hay, việc dở một phần do cán bộ có đủ năng lực hay không, nhưng một phần cũng do cách lãnh đạo có đúng hay không. Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn được tích lũy từ kinh nghiệm thực tiễn công tác. Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ.

Cũng theo Bác, trước khi giao công tác cho cán bộ, phải bàn kỹ với họ. Nếu họ gánh không nổi, chớ miễn cưỡng giao việc đó cho họ. Khi đã giao cho họ thì cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp xếp đầy đủ, vạch rõ những điểm chính và những điểm khó khăn có thể xảy ra. Một khi đã quyết định rồi thì “thả” cho họ làm, khuyên họ cứ cả gan mà làm và phải hoàn toàn tin họ. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược chiến thuật và nhiệm vụ đã quyết định rồi, vị Tổng tư lệnh không cần tham gia vào những vấn đề nhỏ nhặt. Phải để cho các cấp chỉ huy có quyền “tùy cơ ứng biến”, có như thế mới phát triển tài năng của họ được. Nếu không tin cán bộ, sợ họ làm không được, rồi thì việc gì cấp trên cũng nhúng tay vào, kết quả thành chứng bao biện mà công việc cũng không xong. Cán bộ sinh ra nản chí, ỷ lại, mất hết sáng kiến.

Đối với cán bộ mắc sai lầm, theo Người, lãnh đạo phải giúp đỡ họ một cách chí tình, làm cho họ tự giác thấy được nguyên nhân của sai lầm và tác hại của nó, để có biện pháp khắc phục, sửa chữa một cách tích cực và hiệu quả. Không phải khi cán bộ có sai lầm mà đã vội cho họ là “động cơ gì”, “mục đích gì”… Những cách nghĩ như thế đều không đúng. Sửa chữa sai lầm một phần là trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm bằng giải thích, thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo là điều nên làm, nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, nhưng không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Vấn đề là phân tích rõ ràng mức độ sai lầm nặng hay nhẹ một cách thấu tình, đạt lý mà dùng hình thức xử phạt cho đúng, khi xem xét các vấn đề phải dựa trên cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng; đây là yếu tố cần trong lãnh đạo, chỉ huy và cũng là tính nhân văn trong quan hệ cấp trên, cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức.

Cách đối xử với cán bộ cũng là một điểm trọng yếu trong tổ chức công việc; đối xử khéo, đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc “vấn đề cán bộ quyết định mọi việc”. Phê bình, xử phạt đúng chẳng những không làm mất thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng, trái lại còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, uy tín thể hiện càng tăng.

Sức mạnh của đội ngũ cán bộ nói chung và của từng cán bộ nói riêng chỉ được phát huy, phát triển khi được đánh giá, sử dụng đúng với tài năng của họ. Nếu đánh giá cán bộ không đúng, hoặc là quá cao, hoặc là quá thấp sẽ dẫn tới sử dụng “không đúng người, đúng việc”, “như vậy là có hại cho dân, cho Đảng”. Theo Bác, đánh giá cán bộ không những để sử dụng mà qua đó còn nâng đỡ họ, tạo điều kiện cho họ phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm; có thái độ khách quan, khoa học, không thổi phồng, tô son, không bôi đen, bóp méo. Phải đứng trên quan điểm, lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét, đánh giá, không định kiến, hẹp hòi, “cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất”. Không nên chỉ nhìn vào những hạn chế, khuyết điểm không thuộc về bản chất mà phải thấy được mặt tích cực, khả năng phát triển để có hướng sử dụng cho phù hợp với từng loại cán bộ trên từng lĩnh vực công tác.

Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, để có cơ sở đánh giá đúng về cán bộ phải đặt họ vào trong hoàn cảnh cụ thể, nghiên cứu họ qua hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, do yêu cầu từng cương vị, chức trách và khả năng vận dụng cụ thể của từng người có khác nhau nên kết quả hoạt động thực tiễn không thể như nhau. Do đó, khi đánh giá về cán bộ “không nên chỉ xét mặt ngoài, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”. Một người cán bộ, khi trước có sai lầm nhưng không phải vì thế mà người ta sai lầm mãi. Vì như vậy, sẽ không thấy được sự vận động, phát triển và tiến bộ của cán bộ, chẳng khác nào “đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau”.

Đánh giá cán bộ là một khâu trong công tác cán bộ, phải tuân thủ nguyên tắc tổ chức. Tuy nhiên, trong thực tế, đánh giá cán bộ không thể không chịu ảnh hưởng và thông qua lăng kính chủ quan. Bởi vậy, để khắc phục những hạn chế chủ quan, đòi hỏi người lãnh đạo khi xem xét, đánh giá cán bộ phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của cơ quan tham mưu để có kết luận về cán bộ một cách chính xác. Phẩm chất và năng lực của cán bộ có thể không phản ánh trung thực trước cấp trên, song không thể che đậy được trước sự nhìn nhận của mọi người trong cơ quan, đơn vị, do đó “phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới. Nếu ý kiến các đồng chí cấp dưới đúng, ta phải theo…”(2)

Để có được kết quả đánh giá chính xác về cán bộ phụ thuộc rất lớn vào vai trò người lãnh đạo. Phẩm chất và năng lực của người cán bộ chỉ được phản ánh một cách trung thực khi người lãnh đạo có tư cách, có quan điểm và phương pháp đánh giá đúng, thực sự có cái tâm trong sáng. Bác rất quan tâm đến nhân cách của người lãnh đạo và yêu cầu trước khi xem xét, đánh giá cán bộ thì người lãnh đạo phải xem xét lại chính mình. “Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”. Bên cạnh những yêu cầu về trình độ lý luận chính trị, đạo đức, lối sống còn đòi hỏi cán bộ lãnh đạo về trình độ năng lực tổ chức thực tiễn, trình độ chuyên môn, am hiểu công tác lãnh đạo, hiểu biết về con người và tâm lý con người, các phương pháp làm việc với mọi người… Từ đó, xây dựng một tập thể hoạt động có mục tiêu rõ ràng và tiềm lực sáng tạo cao, biết phát huy sức mạnh tập thể, sử dụng các cơ quan tham mưu và cán bộ dưới quyền có hiệu quả. Vì vậy, năng lực tổ chức thực tiễn là yêu cầu tối quan trọng đối với người lãnh đạo ở mọi cấp.

Thực tế, trong thời gian vừa qua công tác cán bộ có những lúc, những nơi chưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ, còn có những bất cập trong xem xét đánh giá. Tệ kéo bè kéo cánh, ai hợp với mình thì người chưa tốt cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau; ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là chưa tốt, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm những điều không đúng, cục bộ… làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Trong vấn đề dùng cán bộ, Bác cũng đề cập việc kết hợp cán bộ tại chỗ với cán bộ do cấp trên điều về, nhưng tốt nhất là tạo nguồn cán bộ tại chỗ, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ tại chỗ; nếu không có và thiếu, mới điều cán bộ nơi khác về.

Hơn nửa thế kỷ qua nhưng những yêu cầu cơ bản đối với người lãnh đạo khi đánh giá cán bộ mà Người chỉ dẫn vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục định hướng, soi đường để chúng ta quán triệt và thực hiện tốt chiến lược cũng như công tác cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ vẫn là nhân tố cơ bản, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới. Quán triệt tinh thần Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “, để đẩy mạnh khâu làm theo trong đánh giá cán bộ hiện nay, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, cấp ủy các cấp, đứng đầu là người lãnh đạo, cần quán triệt, nâng cao nhận thức hơn nữa về vị trí, tầm quan trọng và nguyên tắc đảng trong đánh giá cán bộ, có chính sách sử dụng cán bộ đúng. Đây là công việc được tiến hành thường xuyên, thận trọng đúng với ý nghĩa là khâu khởi đầu trong công tác cán bộ. Đánh giá chính xác những ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ là cơ sở để bồi dưỡng, đào tạo cán bộ gắn liền với sử dụng, cất nhắc cán bộ, đáp ứng sự vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng. Sử dụng cán bộ tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Vì vậy, trong chính sách sử dụng cán bộ phải rất coi trọng đúng lúc, đúng người, đúng việc, không phải vì thân tình, nể nang  mà “đẻ” ra tổ chức để bố trí công việc, làm cho bộ máy thêm cồng kềnh, trì trệ. Tránh tình trạng “thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng”.

Hai là, cấp ủy phải có tầm nhìn chiến lược trong quy hoạch cán bộ. Bởi quy hoạch cán bộ sẽ làm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, vừa giải quyết nhiệm vụ trước mắl, vừa giải quyết nhiệm vụ lâu dài. Để quy hoạch cán bộ được tốt, trước hết, phải đánh giá đúng thực trạng cán bộ, tìm rõ nguyên nhân mạnh, yếu của đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở đó và xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức mà dự kiến, đề xuất công tác cán bộ trong thời gian tới, chú ý tạo được nguồn cán bộ. Quy hoạch nên gắn với độ tuổi để trẻ hóa, có kế cận hợp lý, tránh hẫng hụt cán bộ. Khi đã quy hoạch rồi nên quan tâm, chăm lo bồi dưỡng với nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với từng loại cán bộ.

Ba là, khi đánh giá cán bộ phải toàn diện, khách quan, biện chứng, không định kiến hẹp hòi, không bảo thủ, vị kỷ cá nhân, căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ ở từng cương vị, chức trách làm cơ sở để đánh giá; kết hợp chặt chẽ giữa đánh giá cán bộ với đánh giá đảng viên. Các cấp ủy khi xem xét cán bộ phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: “Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa học, khách quan, công tâm theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và nhân dân để lựa chọn cán bộ ” (3).

Bốn là, đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ trên cơ sở cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ ở từng cương vị, chức trách. Tiêu chuẩn cán bộ khác với điều kiện cần có ở người cán bộ. Điều kiện là những yếu tố cần thiết như bằng cấp, độ tuổi, giới tính…Những yếu tố đó là điều kiện cần thiết để phát huy tốt vai trò cán bộ, nhưng chưa đủ nói lên chất lượng cán bộ. Điều kiện chỉ cần đề ra tối thiểu, còn tiêu chuẩn thì đòi hỏi phải đề ra tối đa. Vì vậy, không nên đánh đồng, lẫn lộn tiêu chuẩn với điều kiện trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Ngoài tiêu chuẩn chung đối với cán bộ, ở những vị trí cụ thể chúng ta cũng phải xác định rõ những tiêu chuẩn phù hợp, không nên dập khuôn máy móc, đem một khuôn mẫu bất biến, khô cứng của loại cán bộ này để định hình và xem xét với mọi loại cán bộ khác.

Năm là, khi đánh giá, xem xét cán bộ cần bảo đảm tính toàn diện cả về trình độ đào tạo với năng lực thực tiễn. Quá trình xem xét, đánh giá không nên xem nhẹ một yếu tố nào, bởi không khéo sẽ rơi vào “chủ nghĩa kinh nghiệm” hoặc “lý thuyết suông”. Sự chính xác và hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý và đánh giá của cấp ủy, chỉ huy ở từng cơ quan, đơn vị. Chúng ta cũng phảỉ xác định rõ: Nâng cao trình độ học vấn là một nhu cầu thực sự để bảo đảm cho bản thân người cán bộ đủ điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải ai cũng cố gắng có được trình độ học vấn cao để công tác tốt hơn. Thực tiễn cho thấy, đã có không ít trường hơp cán bộ do bổ nhiệm “nhầm” không những không thúc đẩy được cơ quan, đơn vị phát triển mà còn để lại gánh nặng. Căn bệnh quan liêu, độc đoán, hẹp hòi, ích kỷ, mất dân chủ… phần nào cũng có nguyên nhân bắt nguồn từ những cán bộ có năng lực hạn chế đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền. Nâng cao trình độ học vấn trong xã hội văn minh hiện nay là điều cần thiết nhưng phải kết hợp chặt chẽ giữa trình độ đào tạo với năng lực thực tiễn, đây là một trong những yêu cầu về tiêu chuẩn của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

Chu Văn Lộc
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

———————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H 1995, tập 5, tr.273.
(2) Sách đã dẫn, tập 5, tr.281
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, NXBCTQG, H 2001, tr.141.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về bố trí, sử dụng cán bộ

Phải khéo dùng cán bộ – Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ tài mà dùng người, thì hai người đều thành công.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG,H.2002, tập 5, tr.274.

Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe (…). Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy.

Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 4, tr.39.

Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi đã cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ.

Sđd, tập 5, tr.282.

Bất kỳ ai, có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng.

Sđd, tập 10, tr.466-467.

Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ. Không nên coi thường cán bộ trẻ. Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần, cho mình là người có công lao, hay có thái độ “cha chú” với cán bộ trẻ, đảng viên trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là “trứng khôn hơn vịt”, “măng mọc quá tre”. Thời đại của ta hiện nay rất oanh liệt. Xã hội, thế giới phát triển rất nhanh. Thế mà các đồng chí lớn tuổi lại coi thường cán bộ trẻ là không đúng. Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm.

Sđd, tập 12, tr.211.

Phải phân phối cán bộ cho đúng – Thí dụ: Trong một nơi quan trọng ở một thành thị to thì phải phái những cán bộ có quan hệ khăng khít với quần chúng. Họ là người trong quần chúng mà ra, có sáng kiến, tinh thần, chắc chắn, chí khí vững vàng. Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.

Sđd, tập 5, tr.274-275.

Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước.

Sđd, tập 5, tr.276.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng về Xây dựng Đảng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Trước lúc đi xa, Người chỉ tiếc một điều là “không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”1.Trong bốn năm cuối cuộc đời mặc dù bận nhiều việc nhưng người vẫn chọn những khoảng thời gian thư thái nhất viết Di chúc để lại cho hậu thế, phòng khi “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột”2.Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng nhận thấy tầm nhìn xa, trông rộng của Người. Đọc Di chúc, mỗi chúng ta đều cảm nhận được tình cảm gần gũi của một người Ông, người Bác, người Cha và thấy mình phải có trách nhiệm cao hơn, quyết tâm cao hơn để thực hiện Di chúc.

Bằng lời lẽ mộc mạc nhưng vô cùng súc tích, Di chúc tuy ngắn gọn nhưng bao chứa toàn bộ tình cảm và tư tưởng của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với các thế hệ Việt Nam. Trong Di chúc, ngoài 79 chữ nói “Về việc riêng” tương ứng với 79 mùa xuân của mình, Người dành trọn tình cảm cho dân, cho Đảng. “Trước hết nói về Đảng”, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Người đến vấn đề xây dựng Đảng và xuyên suốt là tư tưởng về tăng cường, củng cố, giữ vững sự đoàn kết thống nhất cội nguồn sức mạnh của Đảng. Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Người khẳng định sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được xây dựng, củng cố trên cơ sở vì mục đích cao cả “một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc”. Chỉ trên cơ sở đó trong Đảng mới có sự thống nhất về ý chí và hành động “triệu người như một” để chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, vượt qua bất cứ khó khăn trở ngại nào.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết chặt chẽ mà mới tròn một tuổi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên cao trào cách mạng 1930-1931; 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhờ đoàn kết, thống nhất mà Đảng đã tập hợp được lực lượng, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc và thời đại vào cuộc kháng chiến trường kỳ suốt 30 năm, đánh thắng hai đế quốc là Pháp và Mỹ, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Cũng chính nhờ sự đoàn kết, thống nhất ấy mà hơn hai mươi năm qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi sự nghiệp Đổi mới.

Hệ giá trị của Đảng và dân tộc ta được hun đúc, kết tinh từ nhiều truyền thống tốt đẹp: Yêu nước, đoàn kết, kiên cường chống giặc ngoại xâm, cần cù lao động… Trong Di chúc, Người xác định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của cả dân tộc ta”Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng được Hồ Chí Minh so sánh với “con ngươi” trong đôi mắt. Đối với mỗi người, không giữ được con ngươi thì đôi mắt sẽ hỏng, nhận thức và hành động sẽ khó khăn, kém hiệu quả. Đối với Đảng, không có sự đoàn kết, thống nhất thì Đảng sẽ không đủ năng lực, trí tuệ lãnh đạo nhân dân. Do đó, Người căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Di chúc của Người không những chỉ cho chúng ta thấy được vai trò đặc biệt quan trọng của sự đoàn kết, tính tất yếu của việc giữ gìn, củng cố, phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng mà còn chỉ ra những nguyên tắc quan trọng, hiệu quả nhất để xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất đó: “Trong Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Để xây dựng sự đoàn kết, thống nhất của Đảng theo Di chúc của Người, chúng ta phải thực hiện tốt một số yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, phải thực hành dân chủ rộng rãi. Nhờ dân chủ mà Đảng ta đã khơi dậy, phát huy cao nhất trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Nhờ dân chủ mà trong Đảng đã khắc phục được tình trạng bè cánh, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa rời quần chúng. Thực hành dân chủ rộng rãi nghĩa là phải dân chủ thực sự, dân chủ thường xuyên, dân chủ từ Trung ương đến cơ sở. Nhưng, dân chủ phải gắn với tập trung. Tập trung dân chủ là nguyên tắc sống còn và cũng là biện pháp tốt nhất để xây dựng Đảng ta. Bảy mươi chín năm qua, nhờ quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ mà Đảng ta không ngừng lớn mạnh, vượt qua bao thử thách, lãnh đạo nhân dân ta xây dựng, bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN và đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay. Kiên quyết đấu tranh chống lại những biểu hiện trong thực hành dân chủ hình thức. Lợi dụng dân chủ để truyền bá những quan điểm, tư tưởng cá nhân, xâm hại đến lợi ích chung, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong xã hội.

Thứ hai, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, là quy luật phát triển của Đảng. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh coi đây là biện pháp tốt nhất để củng cố, phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng. Người yêu cầu tự phê bình và phê bình phải thường xuyên, nghiêm túc, không nể nang, qua loa đại khái, hình thức. Người hiểu rõ, đã là con người thì ít, nhiều đều có khuyết điểm, nhưng quan trọng là phải nhận rõ khuyết điểm, không được che giấu khuyết điểm, tự phê bình để sửa chữa, khắc phục, vươn lên tự chiến thắng thói hư tật xấu của mình. Đối với đồng chí, đồng đội, Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải phê bình một cách thẳng thắn, chân thành nhằm giúp đồng chí, đồng đội nhận rõ sai lầm, sửa chữa để không ngừng tiến bộ. Như vậy, mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho bản thân và đồng đội ngày càng tiến bộ hơn; tuyệt đối không vì mâu thuẫn cá nhân, động cơ cá nhân mà phê bình theo kiểu “vạch lá tìm sâu”, “bới lông tìm vết” nhằm trù dập, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là công việc thường xuyên; ngừng tự phê bình và phê bình tức là ngừng tiến bộ, là thoái bộ. Từ ngày thành lập đến nay, đặc biệt trong 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn lấy tự phê bình và phê bình làm nguyên tắc xây dựng và phát triển Đảng. Tuy nhiên, cũng còn không ít cơ sở, đảng viên thực hiện nguyên tắc này chưa thường xuyên, chưa nghiêm túc, thậm chí còn để những kẻ cơ hội chui vào hàng ngũ của Đảng mưu cầu lợi ích cá nhân. Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc hơn, thực hiện triệt để hơn vấn đề này để Đảng luôn trong sạch, làm cho uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao.

Thứ ba, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Trên cơ sở tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì mới thực hành được “dân chủ rộng rãi”, mới “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”. Không có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau sẽ dẫn đến dân chủ hình thức, tự phê bình và phê bình không nghiêm túc hoặc lợi dụng dân chủ, lợi dụng phê bình để trả thù cá nhân.

Năm tháng qua đi nhưng bản Di chúc của Người sẽ còn sống mãi, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước tiến lên. Kính yêu và biết ơn Người, 40 năm qua chúng ta đã sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương vĩ đại của Người, chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện tốt Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và làm theo Di chúc của Người.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12. Nxb CTQG, H.2002, tr.512.
(2) Sđd, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H.2002, tr.510.

Đại tá, TS. Nguyễn Trung Thông Khoa Triết học, Trường Sĩ quan Chính trị

xaydungdang.org.vn

Họa sĩ trình bày báo Nguyễn Ái Quốc

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng thiên tài, danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bài này chỉ đề cập một lĩnh vực nhỏ trong sự nghiệp vĩ đại của Người.

Thế hệ làm báo cách mạng Việt Nam, gần một thế kỷ được thừa hưởng những bài học, nghệ thuật sáng tạo tác phẩm báo chí xuất sắc, tiêu biểu, độc đáo của Nhà báo số một Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ ở cách hòa nhập hiện thực đời sống, chắt lọc sự kiện, thể hiện nội dung thông tin sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục mà còn tiếp nhận từ Người phương pháp trình bày mặt báo sao cho lôi cuốn bạn đọc.

Các tờ báo Người cùng khổ, Tạp chí Quốc tế Nông dân, Thanh niên, Việt Nam hồn, Thân ái, Lính cách mệnh, Việt Nam độc lập, Cứu quốc… do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và tổ chức quy trình xuất bản in đậm dấu ấn phong cách trình bày độc đáo, sát hợp yêu cầu người đọc và hoàn cảnh cụ thể.

Tờ Người cùng khổ xuất bản tại Pa-ri in chữ Pháp dành cho bạn đọc có trình độ nhất định, đặc biệt là các nhà hoạt động chính trị, hoạt động xã hội, tầng lớp trí thức tiến bộ Pháp những năm 1922, 1923 nên bố cục mặt báo từ trang một đến trang bốn theo phong cách phương Tây. Những thông tin chính luận, cập nhật, có ảnh hưởng rộng đều được sắp xếp ở vị trí quan trọng, nhiều cột báo với tít in đậm hơn.

Để tạo ấn tượng mạnh, buộc người đọc quan tâm ngay khi cầm tờ báo, ngoài tên bài được in chữ to, chạy suốt trang còn có tít phụ, giúp người đọc nắm bắt nhanh “cái thần”, “cái hồn” của bài báo. Ngay trong một bài, cần thu hút bạn đọc, nhà báo Nguyễn Ái Quốc cho sắp một kiểu chữ in nghiêng. Báo Người cùng khổ in kỹ thuật ty-pô, sắp chữ chì, in khuôn đúc trên máy lăn ngang, chưa phải hiện đại nên bố trí nhiều kiểu chữ rất phức tạp, nhưng với năng lực làm báo thành thạo, nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn bố trí in cả tranh châm biến, tranh đả kích. Từ năm 1922 đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã cho in trên tờ Người cùng khổ gần 30 bức tranh đả kích, châm biếm, điển hình là các bức “Mau lên! Đi”, “Tố cáo những kẻ gây ra vụ đàn áp ở Tu-lan-ca-mon”, “Xe xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà, nhưng chúng vẫn còn khá nhiều. Bằng chứng ư?”, “Văn minh bề trên”, “Chủ nghĩa tư bản”. Trang một báo Người cùng khổ được bố trí đậm đặc các bài, tin quan trọng, nhiều bài chỉ trình bày tít rồi cho tiếp sang trang sau.

Cách trình bày khái quát các chủ đề tập trung của số báo nổi bật lên trang một của nhà báo Nguyễn Ái Quốc từ năm 1922 đã có ảnh hưởng quyết định tới việc chỉ đạo tổ chức xuất bản các tờ báo Tranh đấu (1930), Cờ vô sản (1930.), Tiền phong (1937), Dân chúng (1937), Tiếng nói của chúng ta (1938), Cờ giải phóng (1942) Cứu quốc (1942), Sự thật (1945), Nhân Dân (l951). Đặc biệt là hệ thống báo đảng sau này đều căn cứ tôn chỉ, mục đích, đối tượng bạn đọc mà có hình thức trình bày hợp lý.

Khi xuất bản báo Thanh niên, in chữ Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc), nhà báo Nguyễn Ái Quốc không rập khuôn cách trình bày như báo Người cùng khổ. Người xác định đối tượng báo Thanh niên là các tầng lớp yêu nước, học sinh, sinh viên, trí thức, người lao động không biết chữ nên việc sắp xếp tin, bài ngắn gọn, từng cột báo có phi-lê dọc phi-lê ngang cho người đọc dễ dàng tiếp nhận.

Điều kiện hoạt động bí mật, tài chính nghèo nàn nên báo “Thanh niên” không thể in ty-pô (in máy). Nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã khắc phục khó khăn bằng cách dùng bút sắt viết từng cột báo, kể cả măng-sét (tên báo Thanh niên) trên giấy sáp để tạo khuôn rồi quay rô-nê-ô, mỗi khuôn in độ 200 bản. Để tạo cảm xúc vui cho bạn đọc, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp vẽ tranh biếm họa, đả kích, tranh cổ động lên mặt khuôn, điển hình là bức “Lênin với vấn đề giải phóng dân tộc” in số 68 ngày 7-11- 1926 kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ 21-6-1925 đến đầu tháng 5-1927, nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng ngòi bút sắt trình bày ma-két 88 số báo Thanh niên để có gần 170.000 bản báo gửi về Việt Nam, sang Thái Lan, góp phần thức tỉnh, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí giành độc lập dân tộc và là tài liệu hướng dẫn, huấn luyện cán bộ, chỉ rõ đường lối đấu tranh, phương pháp tổ chức đoàn thể quần chúng cách mạng trước lúc Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930.

Văn Khải

xaydungdang.org.vn

Di sản Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho chúng ta đi đến tương lai tươi sáng của dân tộc và nhân loại

Lê Hữu Nghĩa - GS,TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

TCCS – Là sự kết tinh của truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của thời đại chúng ta bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử nhân loại.

“Là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập.

“Là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đầu tiên đã lãnh đạo nhân dân ta thi hành Bản án chế độ thực dân ở Việt Nam mà còn cùng nhân dân các dân tộc thuộc địa thực hiện bản án đó, xóa đi sự áp bức, nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên hành tinh của chúng ta.

Là “tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” giữa các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam thực hiện mục tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình, đồng thời Người cũng “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Là “vị Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, cuộc đời, sự nghiệp và di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ở thời đại hiện nay.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với Người, đồng thời là cơ hội để chúng ta nhận thức đầy đủ hơn nữa những giá trị trong di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại.

Một là, di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Độc lập dân tộc là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa thực dân – một trong những điều sỉ nhục lớn của loài người – đã đem xiềng xích, áp bức, đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật… đè nặng lên số phận các dân tộc nhược tiểu. Giành lại tự do, độc lập là khát vọng cháy bỏng của các dân tộc bị áp bức trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là một trong những người tượng trưng cho ý chí và khát vọng đó. Người đã nêu lên một chân lý nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người được coi là một chiến sĩ đi tiên phong trong việc thức tỉnh dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc và phẩm giá con người.

Chiến lược của Người là:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.

Người không chỉ coi trọng đại đoàn kết dân tộc, giải quyết thành công mối quan hệ dân tộc với giai cấp, mà còn hết sức coi trọng tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với các lực lượng yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới, kể cả với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ. Người đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống xâm lược, đưa hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn. Đường lối chiến lược đó được loài người tiến bộ thừa nhận là đường lối chiến lược hoàn hảo của thời đại chúng ta.

Tư tưởng và tấm gương đấu tranh bất khuất cho độc lập, tự do của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX. Nhiều quốc gia độc lập đã thừa nhận ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của cách mạng Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày nay, tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn giữ nguyên sức sống. Hàng trăm nước sau khi thoát khỏi chế độ thuộc địa vẫn đang bị kìm hãm trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Một số cường quốc đang lợi dụng toàn cầu hóa, lợi dụng thế mạnh về kinh tế – tài chính, khoa học – công nghệ cao để mở rộng biên giới lợi ích quốc gia, xâm phạm độc lập và chủ quyền của các nước đang phát triển, đe dọa hòa bình, an ninh chính trị – xã hội của các nước này. Trong tình hình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, độc lập phồn vinh cho đất nước mình, đồng thời cho tất cả các dân tộc, vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, vẫn là mục tiêu và khát vọng của loài người trong thời đại ngày nay.

Độc lập dân tộc ở Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Theo Người, “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”(1). Người tìm thấy giá trị của độc lập, tự do, hạnh phúc trong mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học, vì vậy, Người khẳng định “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(2).

Chủ nghĩa xã hội ở Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều cứng nhắc, xa lạ với lợi ích vật chất và tinh thần của con người, mà nó hết sức cụ thể và thiết thực. Người nói: chủ nghĩa xã hội là “làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(3)…

Có thể gọi đó là chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh”, một quan niệm về chủ nghĩa xã hội phù hợp với quan niệm truyền thống của dân tộc Việt Nam và hợp với xu thế của thời đại hiện nay.

Tất nhiên, quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, lại trải qua 30 năm chiến tranh tàn phá, là một quá trình lâu dài và gian khổ, chưa thể có ngay đời sống vật chất và văn hóa cao. Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, chúng ta vẫn có thể từng bước phấn đấu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, có đời sống đạo đức lành mạnh và có mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Mác – Lê-nin kết hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam, với khát vọng công bằng, bác ái của loài người. Vì vậy, các dân tộc, trong khi từ chối con đường đau khổ của chủ nghĩa tư bản, có thể tìm thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình.

Ngày nay, nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội, về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, trong sự thay đổi đó vẫn có những điều cơ bản không hề thay đổi, đó là khát vọng về một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, nhân đạo, văn minh, nói chung là lý tưởng mà Hồ Chí Minh đã nêu lên và suốt đời theo đuổi. Đi theo chỉ dẫn đó, công cuộc đổi mới ở Việt Nam gần 25 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực đất nước và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng được biết đến rộng rãi trên thế giới. Nhiều nước Mỹ La-tinh, từ thực tế phát triển của mình, đang có ý tưởng đi tìm một mô hình về “chủ nghĩa xã hội cho thế kỷ XXI”, phù hợp với đặc thù Mỹ La-tinh. Sau nhiều công trình tưởng niệm đã có về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ni-ca-ra-goa, Vê-nê-xu-ê-la,… vừa qua, ác-hen-ti-na đã khởi công xây dựng công trình tượng đài Hồ Chí Minh ở Thủ đô Bu-ê-nốt Ai-ret – thêm một biểu hiện mới về ảnh hưởng và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh đang lan tỏa tại khu vực Mỹ La-tinh.

Hai là, di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của khát vọng hòa bình Việt Nam, của tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người thiết tha với hòa bình – một nền hòa bình chân chính gắn liền với độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Kiên định về chiến lược đồng thời cũng hết sức linh hoạt về sách lược để giữ gìn hòa bình, Hồ Chí Minh đã kiên trì con đường thương lượng, đối thoại nhằm giải quyết mối xung đột Việt – Pháp bằng phương pháp hòa bình.

Đến khi kẻ thù buộc nhân dân Việt Nam phải đứng lên cầm súng kháng chiến, Người vẫn không buông ngọn cờ hòa bình, vẫn liên tục gửi thư đến Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, kêu gọi họ hãy hướng chính sách của nước Pháp vào con đường chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Những người từng đối thoại với Hồ Chí Minh đều tỏ lòng kính trọng đối với “một con người mềm dẻo, kiên nhẫn, ôn hòa, luôn luôn tìm cách hòa giải về thể thức chuyển hóa”, đều ca ngợi Hồ Chí Minh là “người luôn luôn biết giải quyết những vấn đề khó khăn với nụ cười trên môi”.

Khẳng định Việt Nam là “một bộ phận trong phe hòa bình, dân chủ thế giới”(4), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chính sách đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(5), “nhằm xây đắp nền hòa bình thế giới”(6).

Hồ Chí Minh là người đã bắc những nhịp cầu hữu nghị, đẩy mạnh việc giao lưu, tiếp xúc, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc – một cơ sở để duy trì và củng cố hòa bình.

Nhân dân thế giới hiểu rõ cuộc đời chiến đấu hơn 60 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình mà còn vì hạnh phúc và phẩm giá của các dân tộc bị áp bức. Bản án kết tội chủ nghĩa thực dân của Người đã có tiếng vang rộng rãi, góp phần thức tỉnh nhiều dân tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh tự giải phóng.

Sau khi Việt Nam giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng giáo dục nhân dân về lòng yêu hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, biết kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dẫn đầu nhiều cuộc đi thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước láng giềng ở châu Á… Đến đâu, Người cũng nói lên tình cảm chân thành và nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam được sống trong hòa bình, độc lập, có quan hệ hữu nghị với tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu ái, đoàn kết, thân thiện giữa các dân tộc, không phân biệt chủng tộc và màu da. Ngay từ năm 1930, Người đã viết:

“Rằng đây bốn bể một nhà,
Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em”(7)

Người là hiện thân cao đẹp của tình hữu nghị giữa các dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho chính sách mở cửa và hợp tác rộng rãi của Việt Nam với thế giới trên mọi lĩnh vực. Ngay từ khi nhà nước Dân chủ Cộng hòa non trẻ của Việt Nam vừa mới thành lập, còn trong vòng vây bốn bề của hệ thống tư bản thế giới, chưa được một quốc gia nào công nhận, cuối tháng 12-1946, trong lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Hồ Chí Minh đã chủ động tuyên bố: Việt Nam dành thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, đường sá giao thông cho buôn bán và quá cảnh quốc tế; Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc; Việt Nam sẵn sàng ký kết, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, những hiệp định an ninh và những hiệp định có liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân…

Trong tuyên bố đó, Hồ Chí Minh đã nói rõ: Việt Nam không chỉ chiến đấu vì những quyền lợi thiêng liêng của mình mà còn “chiến đấu cho một sự nghiệp chung: đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế” và “cho an ninh ở biển Đông”.

Trả lời phóng viên báo Pháp Regards, Người nói “Chúng tôi muốn lập với nước Pháp những mối quan hệ kinh tế và văn hóa trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi và cộng tác thẳng thắn và tin cậy lẫn nhau… Đồng thời, chúng tôi muốn lập quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác, trước hết là các nước châu Á”(8)

Đó là những tư tưởng có tầm nhìn xa, đi trước thời đại, đặt nền móng cho chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa, hợp tác làm ăn với nước ngoài của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.

Ba là, các vấn đề văn hóa, đạo đức, nhân cách trong di sản Hồ Chí Minh

Sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nghiệp và tư tưởng thấm đậm giá trị văn hóa bởi Người đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại cho nhân dân quyền sống đích thực của con người và góp phần cùng loài người loại trừ một trở lực trên con đường tiến tới văn minh là chủ nghĩa thực dân, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân loại.

Những giá trị văn hóa đó càng thêm sâu sắc khi Người chủ trương giác ngộ nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ các quy luật phát triển của xã hội, nhận rõ mục đích đấu tranh và con đường giải phóng, tin chắc vào sự thắng lợi mà kiên quyết tự đứng lên làm cách mạng và xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột và tạo ra những điều kiện phát triển toàn diện cho con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia xây dựng nước nhà”(9).

Chủ trương “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, trong bất kỳ điều kiện nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú trọng phát triển văn hóa, nâng cao dân trí, giáo dục đạo đức, tạo điều kiện cho mỗi người tận lực phát triển những năng lực sẵn có của mình.

Nền văn hóa mới của Việt Nam, theo Người, phải kết hợp tốt giữa việc kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước nồng nhiệt kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Văn hóa phải thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa phải chống lại tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ. Văn hóa phải làm cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình được hưởng.

Với quan niệm “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(10), Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sự dốt nát cũng là một kẻ thù. Người chủ trương phải phát triển tốt nền giáo dục thì mới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mới tiến kịp sự phát triển chung của nhân loại. Xác định rõ học tập để làm việc, làm người, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Người thường xuyên nhấn mạnh tới nhiệm vụ giáo dục lý tưởng, giáo dục đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Người khẳng định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”(11).

Văn hóa có cốt lõi là đạo đức. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người không chỉ để lại một hệ thống quan điểm về đạo đức mới mà còn là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động, giữa nói và làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của sự toàn thiện, toàn mỹ về đạo đức: yêu đồng bào, yêu nhân loại; triệt để cách mạng và vô cùng nhân từ; uyên bác mà cực kỳ khiêm tốn; nguyên tắc về chiến lược nhưng rất linh hoạt về sách lược; nhìn xa trông rộng nhưng rất thiết thực cụ thể; vĩ đại mà rất mực bình dị; là nhà thơ trong người chiến sĩ cách mạng. Người là hình mẫu về nhân cách cao đẹp của người cách mạng, là nhà lãnh đạo gần gũi của nhân dân, được nhân dân thân thiết gọi là Bác Hồ. Người là kết tinh những giá trị cao quý nhất của văn hóa – đạo đức Việt Nam. Vì vậy thật có ý nghĩa khi Đảng Cộng sản Việt Nam phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tư tưởng và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn vào sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự tôn vinh của UNESCO đối với Người vừa là “Anh hùng giải phóng dân tộc” vừa là “Nhà văn hóa kiệt xuất” là một sự vinh danh kép, theo nghĩa: Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công văn hóa – đạo đức vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng và nâng cao phẩm giá con người, đó là một sự nghiệp anh hùng, đồng thời đó cũng là một sự nghiệp văn hóa cao cả nhất. Do đó, di sản Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản tinh thần vô giá của nhân dân Việt Nam mà còn là di sản văn hóa chung của toàn nhân loại, mãi mãi soi đường cho chúng ta đi đến tương lai tươi sáng của nhân loại./.

Lê Hữu Nghĩa
GS,TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

_________________________________________________________________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 4, tr 56
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 305
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 17
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 6, tr 451
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 220
(6) Báo Cứu quốc, số 57, 3-10-1945
(7) Nhật ký chìm tàu (hiện chưa tìm lại được)
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 386
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 36
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 8
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 642

hochiminhhoc.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về thi đua ái quốc

…Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,

Làm cho tốt,

Làm cho nhiều.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.444.

Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước. Sách đã dẫn

(Sđd), tập 6, tr.270.

Phải thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Nhiều, nhanh tức là cần. Tốt, rẻ tức là kiệm. Cần, kiệm tức là phải tăng năng xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ, phải đi đôi với đảm bảo an toàn lao động, phải biết quý trọng con người.

Sđd, tập 10, tr.94.

Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải nửa tâm nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ…

Đó là những đức tính cách mạng mà chúng ta cần phải học tập các anh hùng, chiến sĩ thi đua.

Sđd, tập 9, tr.200.

Các chiến sĩ thi đua, các cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải làm đầu tàu trong mọi việc, phải dìu dắt người chậm tiến để cùng nhau tiến bộ.

Sđd, tập 10, tr.95.

Càng thắng lợi, càng phải thi đua, càng thi đua, càng mau thắng lợi. Cần phải phát triển rộng rãi thi đua, để làm sao cho người người thi đua, ngành ngành thi đua.

Sđd, tập 6, tr.625.

Để đảm bảo phong trào thi đua thắng lợi vẻ vang, cần có hai điều: Một là cán bộ và công nhân phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ tập thể; hai là kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần.

Sđd, tập 11, tr.388.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về mùa xuân

Xưa kia người ta chỉ mừng Xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình với những câu chúc tụng như: “Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái”.

Ngày nay chúng ta mừng Xuân rộng rãi, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới. Xuân này là một xuân cực kỳ tươi đẹp, nó tổng kết thắng lợi to lớn của loài người mấy năm trước và mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa những năm sau.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.44.

Tục ngữ có câu: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân”. Thật đúng như vậy. Mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa Xuân mọi công việc làm được tốt, thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt.

Sđd, tập 10, tr.53.

Sang năm mới, chúng ta phải cố gắng thi đua hơn nữa, cố gắng vượt những khó khăn, để tranh lấy nhiều thắng lợi hơn nữa.

Sđd, tập 6, tr.143.

Trăm năm trong cõi người ta,
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan.
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian,
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân.

Sđd, tập 10, tr.39.

Chúng ta ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, để Xuân sau thắng lợi hơn Xuân này.

Sđd, tập 10, tr.47

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cách mạng Tháng Mười

Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.300.

Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Sách đã dẫn (Sđd) tập 12, tr.301.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười.

Sđd, tập 12, tr.303.

Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ có khả năng lật đổ nền chuyên chính của bọn bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội bảo đảm cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng…

Sđd, tập 8, tr.560.

Con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, mà Lênin vĩ đại đã vạch ra cho nhân dân lao động toàn thế giới, cho các dân tộc bị áp bức và cho cả loài người tiến bộ đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Sđd, tập 11, tr.495.

Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại… là vô cùng sâu sắc.

Sđd, tập 12, tr.309.

Từ Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đến cuộc kháng chiến của Việt Nam thắng lợi, những trận đấu tranh cực kỳ gian khổ khó khăn, nhiều khi phải hy sinh xương máu, những người cách mạng lớp trước đã phụ trách và đã xây dựng nền tảng để cho thanh niên tiến lên.

Sđd, tập 10, tr.308.

Nhờ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, nhờ sự hình thành và phát triển của phe xã hội chủ nghĩa, nhờ sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, hiện nay hàng trăm triệu nhân dân trên thế giới, trước kia là những nô lệ quằn quại dưới gót sắt của bọn thực dân, nay đã giành được tự do, độc lập.

Sđd, tập 10, tr.550-551.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người làm công tác tổ chức, cán bộ

Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi.

– Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa.

– Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ.

– Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt.

– Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, thì các đồng chí mới vui lòng gần gụi mình.

Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.279.

Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.105.

Mình là người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán.

Sđd, tập 5, tr.105.

Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng.

Sđd, tập 5, tr.278.

Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình, cũng không phải là dễ.

Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu.

Sđd, tập 5, tr.277.

Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.

Sđd, tập 5, tr.241.

Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng.

Sđd, tập 5, tr.243

xaydungdang.org.vn