Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO (*)

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà Katherine Muller-Marin – Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội đã có bài phát biểu nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động của tổ chức này.

Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của Nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn. Đại hội đồng cho rằng việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Đại hội đồng cũng coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Trên cơ sở những suy xét này, Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt là những sự kiện diễn ra tại Việt Nam.

Quyết định của UNESCO cũng căn cứ vào những đóng góp của Hồ Chí Minh cho năm lĩnh vực hoạt động của UNESCO. Tôi xin được nhắc lại một vài đóng góp đó:

Trong lĩnh vực văn hóa, chúng ta thấy Hồ Chí Minh bên cạnh tư cách là một nhà thơ, rất quan tâm đến việc bảo vệ và bảo tồn di sản. Sắc lệnh Số 65 được Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành tháng 11 năm 1945 quy định rằng việc bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ rất cần thiết để xây dựng nước Việt Nam.

Quyết định này còn cấm phá hủy đình, chùa, đền đài, điện thờ, hoặc những nơi thờ cúng, các lâu đài, thành quách, và lăng mộ, cũng như các đồ vật, sắc chỉ, văn bằng, tư liệu, sách báo có giá trị cho lịch sử, dù có tính tín ngưỡng hoặc không. Người cũng quan tâm đến việc khôi phục nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống trên khắp đất nước.

Bảo vệ và bảo tồn là những nhiệm vụ rất quan trọng trong UNESCO. UNESCO khuyến khích việc nhận diện, bảo vệ và bảo tồn di sản văn hóa cũng như di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên khắp thế giới – những di sản được coi là có giá trị nổi bật đối với nhân loại, như đã được thể hiện trong Công ước của UNESCO liên quan đến việc Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và trong Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Một ví dụ khác của Hồ Chí Minh liên quan đến công tác bảo vệ và bảo tồn này là Sắc lệnh công nhận Lễ hội Giỗ tổ Hùng vương, một sự kiện yêu nước nhằm mục đích ghi nhớ công lao to lớn của ông cha, đồng thời nhấn mạnh sức mạnh tinh thần của một dân tộc thống nhất.

Từ thuở ban đầu, Hồ Chí Minh đã nhận ra bản chất hỗn hợp của nền văn hóa Việt Nam. Người nói: “Văn hoá Việt Nam là kết quả của sự tác động qua lại giữa Đông và Tây”. Người cũng tin rằng văn hóa là kim chỉ nam cho mọi dân tộc với ý nghĩa là nó giúp nâng cao nhận thức của công chúng, phục hồi sức sống của dân tộc, và đảm bảo các quyền con người, trong khi khẳng định các quyền kinh tế, chính trị và Người cũng quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế và chính trị và tin rằng văn hóa phải thẩm thấu vào toàn xã hội và đến với từng thành viên để phát huy tiềm năng sáng tạo của họ.

Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin. chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ như: Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, Tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1921 và sáng lập ra Báo Thanh niên – tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành Tổng Biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo quốc gia chính của Đảng Cộng sản Việt Nam – Báo Nhân Dân, được xuất bản tại Hà Nội và là cơ quan ngôn luận chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và người dân làm chủ đề thời sự chính. Viết cho giai cấp lao động, các tờ báo cách mạng phải lột tả thực tế đời sống của người lao động và hướng dẫn họ trong cách cư xử và hành động nhằm giúp họ cải thiện điều kiện sống của mình.

Một số người nói rằng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí Việt Nam, một giả định hợp với logic bởi suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ, cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người, đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người.

Hội Nhà báo Việt Nam cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; khởi đầu chỉ với 200 hội viên nhưng giờ đây đã lên đến hơn 16.000 người.

Tôi nhận thấy một điều lý thú là vào năm 1946, trên cương vị Chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia, trong đó có một đơn vị thống kê chịu trách nhiệm tập hợp các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, và lý thú hơn nữa là cả các số liệu về văn hóa.

Giờ đây, chúng ta đang làm việc với sự hỗ trợ của Viện Thống kê UNESCO cùng Tổng cục Thống kê và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Việt Nam để xây dựng một Khung hành động cho Thống kê Văn hóa Việt Nam nhằm trợ giúp cho việc xây dựng và triển khai chính sách dựa vào thực tiễn, bởi lẽ văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững.

Trên những lĩnh vực khác, tôi nhận thấy trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến các vấn đề của phụ nữ. Người cho rằng để giúp chị em tham gia vào các hoạt động xã hội, sự phân biệt giữa nam và nữ cần xóa bỏ và chính phủ cần phải có chính sách khuyến khích phụ nữ cùng nam giới tham gia vào sản xuất, quản lý kinh tế và hoạt động văn hóa. Người cũng viết trong Di chúc là Đảng và Chính phủ nên có những kế hoạch để đảm bảo ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động, kể cả lãnh đạo, và rằng chị em cần phải phấn đấu vươn lên.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách.

Liên quan đến khoa học xã hội và với những khái niệm về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới được UNESCO quảng bá, Việt Nam đang ra sức đóng góp cho khu vực và thế giới. Một phong cách mới của ngoại giao Việt Nam đã xuất hiện khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Bộ Ngoại giao được thành lập trong tháng 8 năm1945 khi nội các lâm thời được công bố. Ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao cho đến tháng 3 năm 1947.

Về khoa học tự nhiên, Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và cải thiện chất đất.

Sự quan tâm của Người đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới cũng thể hiện thái độ tích cực đối với môi trường. Tôi có thể hiểu được tại sao chúng tôi luôn được mời tới các lễ trồng cây. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm.

Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên.

Trong lĩnh vực giáo dục, tôi nhận thấy điều thú vị là Người cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành ở bất cứ đâu, dùng than, mặt đất, hoặc lá chuối làm bút và giấy. Người sáng suốt khi chỉ ra rằng một người đã biết đọc, người đó cần tiếp tục học tập bởi người biết chữ có thể quên cách đọc nếu họ không có gì đễ đọc. Người tuyên bố rõ ràng rằng Chính phủ và Bộ Giáo dục có nhiệm vụ cung cấp sách báo phù hợp với từng cấp độ của người đọc.

Từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chức trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới, và đảm bảo phát triền bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có một mối tương liên giữa ý nghĩ của Hồ Chí Minh rằng “mục tiêu cuối cùng của việc học là trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này với bốn trụ cột của việc học đã được Ủy ban về Giáo dục cho thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản cho việc định hình lại giáo dục. Ủy ban cảm thấy là giáo dục suốt đời dựa trên bốn trụ cột:

Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có dễ hiểu thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai.

Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu.

Học để làm người có nghĩa là cung cấp những kỹ năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt.

Học để chung sống ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Tôi xin kết thúc bài phát biểu của mình với những ý nghĩ sau:

Nếu một con thuyền ra khơi mà không định trước bến đỗ, thì gió thổi hướng nào là không quan trọng? Con thuyền có thể cập bất kỳ bến nào. Biết được bến đỗ mà ta muốn đến có nghĩa là ta có một tầm nhìn rõ ràng về nơi đó. Điều đó có nghĩa là kiểm soát tốc độ gió và sức lực để tới được bến đỗ đó.

Có được một vị Chủ tịch như Hồ Chí Minh, người được nhiều người không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới tôn vinh như anh hùng dân tộc, giống như có được một biểu tượng giúp chúng ta có được một tầm nhìn, chỉ cho đất nước một bến đỗ an toàn cho đất nước. Và hơn thế, một lãnh tụ như thế cũng chỉ cho ta cách kiểm soát phong ba bão táp thông qua lòng tự hào, lao động cần cù và quan hệ hòa hiếu.

Giờ đây, tôi xin cùng dân tộc Việt Nam kỷ niệm ngày sinh của một nhân vật vĩ đại, người đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại và trong lịch sử của đất nước này. Xin chúc tất cả quý vị một tương lai phồn thịnh và thái bình./.

Katherine Muller-Marin
Theo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Đảng với dân như cá với nước…”

Bác Hồ đã khẳng định: “Đảng với dân như cá với nước”. Đó không chỉ là nguyên lý quán xuyến trong mọi hoạt động của Đảng mà còn là một bài học xương máu quyết định sự sống còn của Đảng. Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu luôn là minh chứng đau lòng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H 2002, t.10, tr.4). Chính vì thế, Đảng được nhân dân tin theo, sức mạnh vô địch của Đảng ta là từ nhân dân mà ra.

Trong thời kỳ hoạt động bí mật cũng như khi Đảng lãnh đạo nhân dân trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta luôn được nhân dân cưu mang, giúp đỡ, đùm bọc, chở che. Trên khắp mọi miền đất nước đã xuất hiện biết bao tấm gương sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Đó là tấm gương của những người luôn “Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng/ Tấm lòng son chói sáng ngàn thu”;“Chết nằm xuống còn hôn cờ Đảng”, mặc cho giặc khảo tra “Cắn răng thà chết, không xa Đảng mình”. Là thời kỳ mà biết bao đồng bào, chiến sĩ, những người cộng sản đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Rất nhiều gia đình cả cha và con đều hy sinh. Nhiều bà mẹ có chồng và các con đều là liệt sĩ, nhưng không hề nuối tiếc và ta thán. Tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ của Đảng khi đó luôn vì nhân dân phục vụ, thực sự là công bộc của dân.

Ngày nay, những lời dạy của Bác về mối quan hê giữa Đảng với dân càng có ý nghĩa khi “một bộ phận không nhỏ đảng viên không còn gần gũi, gắn bó với họ như ngày xưa. Thậm chí có nhiều nơi, nhiều lúc có một số cán bộ, đảng viên không khác xa mấy bọn hào lí thời cũ. Họ cũng chè chén xa hoa, ăn đút lót, hù dọa, hạch sách, quát nạt dân. Nhiều cán bộ, đảng viên sống xa cách dân, chỉ thấy quần chúng là đối tượng bị lãnh đạo, phải giáo dục, được ban phát. Quần chúng nhân dân muốn gặp nhữngđầy tớcủa mình thì thật khó khăn, cách bức, thậm chí có lúc bị hoạnh họe, hù dọa”, “những hành động việc làm cụ thể nhiều khi không dựa vào dân; dân không được biết, được bàn, ngay cả với những vấn đề thiết thân của họ. Do vậy, nguy cơ lớn nhất đối với Đảng Cộng sản cầm quyền là thoát ly quần chúng; cán bộ, đảng viên của Đảng đối lập với những người sinh ra, nuôi dưỡng, đùm bọc, hi sinh vì mình” (Hoàng Tùng – Tạp chí Cộng sản, số 2, 1999).

Thực tế cho chúng ta thấy, nhiều cán bộ, đảng viên đã không gục ngã trước mũi tên, hòn đạn của kẻ thù trong chiến tranh, nhưng lại không vượt qua được những cám dỗ của tiền tài, địa vị khi họ nắm quyền lãnh đạo. “Trong gian khổ, hi sinh họ dựa vào dân, được dân che chở nhưng khi cách mạng thắng lợi, được sung sướng, nhiều người lại quên mất dân”, “có người vẫn dạy người khác là phải nâng cao đạo đức cách mạng, học tập gương Bác Hồ nhưng họ lại cho phép bản thân mình làm khác đi. Khoảng cách giữa nói và làm hiện nay còn rất xa. Nhiều cán bộ, đảng viên không phải làđầy tớ, công bộccủa dân mà thật sự trở thành nhữngông quan cách mạng” (Hoàng Tùng).

V.I.Lênin từng khẳng định: Chúng ta sẽ mất tất cả khi những người cộng sản trở thành quan liêu. Căn bệnh quan liêu, xa rời quần chúng đã và đang diễn ra khá trầm trọng. Điều này đã được đề cập đầy đủ trong Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Để khắc phục những hiện tượng xa rời bản chất tốt đẹp của Đảng, xa rời quần chúng nhân dân cần thực hiện các giải pháp đồng bộ mà Nghị quyết đã chỉ rõ. Đồng thời Đảng và Chính phủ cần có những chế tài cụ thể để mọi cán bộ, đảng viên chịu sự kiểm soát của dân, mở rộng dân chủ, kỷ luật thích đáng để trừng trị nghiêm khắc những ai xâm phạm lợi ích, quyền làm chủ của dân. Cần giữ vững quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân. “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hi sinh” phải là nghĩa vụ, trách nhiệm của những người cán bộ, đảng viên. Phát huy sức mạnh “Đảng với dân là một”. Một khi mỗi cán bộ, đảng viên đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, nhất định Đảng sẽ được nhân dân tin yêu, mối quan hệ với dân từ đó ngày càng gắn bó. Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xứng đáng với sự tin yêu mà nhân dân đã dành cho Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân. Mỗi người dân Việt Nam sẽ thấy tự hào, hạnh phúc được đi trên con đường mà Bác đã lựa chọn, chiến đấu dưới lá cờ của Đảng và Bác kính yêu:

Không gì vinh bằng chiến đấu dưới cờ
Đảng chói lọi, Hồ Chí Minh vĩ đại !”
(Tố Hữu)

Nguyễn Thị Ý

xaydungdang.org.vn

Nhà 67 – nơi Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu

Bàn làm việc của Bác Hồ tại nhà 67 trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Ảnh: L.Q.V

Nhà 67 – được gọi tên theo năm công trình xây dựng và hoàn thành (năm 1967) được xây dựng theo Chỉ thị của Bộ Chính trị bố trí nơi làm việc cho Bác để phòng tránh chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Bác đã ở làm việc và đi xa từ đây, để lại bao tiếc thương cho nhân dân cả nước. Ngôi nhà này cũng đơn sơ giản dị như bao ngôi nhà khác ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Căn nhà hoàn thành ngày 20/7/1967, một thời gian sau do chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ diễn ra ngày một ác liệt, Bác mới đồng ý chuyển xuống làm việc ở đây. Nơi đây cũng là nơi Bác họp với Bộ Chính trị bàn và ra những quyết định quan trọng liên quan đến vấn đề xây dựng kinh tế ở miền Bắc, đường lối ngoại giao, đường lối quân sự cho hai miền.

Đây cũng là nơi Bác tiếp các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương Cục miền Nam, ở Quân khu V ra họp và làm việc như: Đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Võ Chí Công… Buổi họp đầu tiên của Bộ Chính trị tổ chức tại đây là nghe đồng chí Lê Đức Thọ báo cáo về diễn biến của Hội nghị Pa-ri, đồng thời chuyển một số bức họa của các bạn người Pháp gửi tặng Bác. Có lần Bộ Chính trị đang họp thì máy bay địch đến bắn phá Hà Nội, Bác và đồng chí Văn Tiến Dũng gọi điện thoại động viên các đơn vị quân đội và dân quân tự vệ tại Hà Nội đã bắn rơi máy bay Mỹ…

Các đồng chí lãnh đạo bên quân đội thường được Bác gọi tới báo cáo với Bác về tình hình chiến sự. Đồng chí Phùng Thế Tài báo cáo về tình hình chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tại miền Bắc và chiến công của quân dân miền Bắc bắn rơi máy bay và bắn chìm tàu chiến của đế quốc Mỹ. Đồng chí Lê Ngọc Hiền – Cục trưởng Cục Tác chiến thường xuyên báo cáo Bác về tình hình chiến sự tại miền Nam. Trong phòng treo 2 bản đồ: Bản đồ theo dõi bố trí binh lực địch ở miền Nam, bản đồ theo dõi các bước leo thang bắn phá miền Bắc của Đế quốc Mỹ để cho Bác tiện theo dõi diễn biến chiến sự.

Năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút nhiều nhưng Bác vẫn tiếp khách và làm việc bình thường. Ngày 19/5.1969 – đúng sinh nhật, Người tiếp đồng chí Nguyễn Hữu Mai – Bộ trưởng Bộ Điện – Than đến báo cáo công việc của ngành. Đối với ngành công nghiệp quan trọng này bác thể hiện sự quan tâm đặc biệt.

Chiều 24/8/1969, Bác cùng đồng chí Tố Hữu nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát bài “Diễn ca Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp”, nghe xong Người căn dặn đồng chí Tố Hữu nên phổ biến cách tuyên truyền bằng hình thức diễn ca này để bà con nông dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm.

Bác quan tâm chỉ đạo xuất bản sách người tốt việc tốt viết về nông dân với chủ đề “Hậu phương thi đua với tiền phương”. Không chỉ đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân mà đối với các ngành, các giới, các địa phương, Người đều dành sự quan tâm sâu sát. Bác thường gửi thư khen, tặng huy hiệu đến những người có thành tích trong lao động, trong chiến đấu và là tấm gương tốt trong tu dưỡng đạo đức… do đài báo phát hiện, do các ngành, đoàn thể đề nghị.

Nhân dịp kỷ niệm Đảng ta 39 tuổi (3/2./1969), tại ngôi nhà này, Bác đã viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là bài báo cuối cùng Người viết đăng trên Báo Nhân Dân. Bài báo được Bác trao đổi ý kiến nhiều lần với đồng chí Tố Hữu, Bác yêu cầu đồng chí Cù Văn Chước ngồi bên để ghi lại những ý kiến của Bác về nội dung bài báo này. Bài báo đã trở thành tài liệu quan trọng trong hệ thống các bài viết của Người về công tác xây dựng Đảng.

Từ bài giảng cho lớp cán bộ đảng viên ở Quảng Châu “Tư cách người cách mạng” đến khi người viết Di chúc trước lúc đi xa và dặn lại “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Ngày 17.8.1969, theo lịch, các bác sĩ kiểm tra sức khỏe phát hiện thấy tim Bác không bình thường, đã đề nghị Người không lên thang gác nhà sàn nữa. Bác đồng ý chuyển ở hẳn tại nhà 67.

Tuy sức khỏe kém đi nhiều nhưng Bác vẫn nghe đồng chí Cù Văn Chước – người giúp việc cho Bác đọc báo chí để nắm bắt tình hình và vẫn xử lý công việc hằng ngày của một vị Chủ tịch nước. Ngày 24/8/1969, sức khỏe của Người đã diễn biến phức tạp, tối hôm đó, một cơn đau tim đột ngột làm cho Bác mệt hơn. Từ ngày 25/8/1969, nhà 67 trở thành nơi chăm sóc, chữa bệnh cho Người.

Năm ấy lũ tràn về, nước trên sông Hồng lên to. Tại giường bệnh Bác vẫn quan tâm nhắc Bộ Chính trị phải tìm mọi cách phân lũ không để nước tràn về Hà Nội, để đồng bào không bị lâm vào cảnh lụt lội. Khi đồng chí Phạm Văn Đồng đến bên giường Bác báo cáo về kết quả phân lũ, Người nở nụ cười, khuôn mặt rạng ngời mãn nguyện. Người dặn đồng chí Phạm Văn Đồng: “Các chú nhớ bắn pháo hoa để đồng bào vui, Bác sẽ cố gắng gặp đồng bào mươi phút…”.

Người đã không dự lễ Quốc khánh cùng đồng bào như ước nguyện được. Người đã ra đi nhẹ bước tiên vào hồi 9h47 phút ngày 2/9/1969, vào chính ngày Người đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cách đó 24 năm về trước.

Theo Đỗ Văn Phú
(Theo tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam những ngày đầu cách mạng

Văn hóa luôn là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Kế tục sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và Chính phủ phát động toàn dân xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhân dịp đầu xuân 2011, chúng tôi xin giới thiệu bài tường thuật buổi làm việc của Hồ Chủ tịch về văn hóa với đại biểu đoàn văn hóa lâm thời Bắc Bộ đã được đăng trên Tạp chí Tri Tân số 205, tháng 9/1945, trang 4-5.

Tri Tân là tạp chí có khuynh hướng dân tộc, yêu nước chuyên về khảo cứu, số 1 ra ngày 3/6/1941, trụ sở 349 Phố Huế – Hà Nội, do cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng làm chủ nhiệm. Đều đặn ra hằng tuần, Tri Tân đã thu hút được đông đảo các cây bút có uy tín thời đó như Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (sau là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên Hoàng Minh Giám (nhà văn, tác giả Bóng nước Hồ Gươm), Biệt Lam Trần Huy Bá, Đặng Thai Mai (nguyên Viện trưởng Viện Văn học, Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996), Vệ Thạch Đào Duy Anh (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), Kiều Thanh Quế… đến các cây bút trẻ mới xuất hiện nhưng sớm gây được tiếng vang như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi…

5h chiều 7/9/1945, ban quản trị lâm thời đoàn văn hóa Bắc Bộ đang họp tại nhà văn hóa (hội Khai trí Tiến đức cũ) thì có tin điện thoại của Bộ Ngoại giao cho biết rằng Cụ Hồ Chí Minh – Chủ tịch Chính phủ lâm thời muốn hội đàm với đại biểu đoàn văn hóa khoảng 19h.

Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến Cụ Hồ Chủ tịch.

Biết tiếng Cụ đã lâu, lần đầu được gặp Cụ trong bộ y phục quá giản dị, chúng tôi không giấu nổi sự cảm động. Nét mặt gân guốc, đôi mắt quắc thước, điệu bộ hồn nhiên bộc lộ một tinh thần tranh đấu cương quyết và một tâm hồn nhân đạo, chân thành.

Hồ Chủ tịch với Luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giáo sư Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại thoái vị), ông Vũ Đình Huỳnh (người đeo kính đen đứng sau ông Vĩnh Thụy) – Bí thư của Hồ Chủ tịch, ông Ngô Quang Châu, ông Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, ông Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Đình Thi (từ trái sang phải).

Sau mấy lời giới thiệu của anh Nguyễn Hữu Đang, anh Trương Tửu nhân danh Chủ tịch Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ Việt Nam, chào mừng Cụ Hồ, tán thành cuộc cách mạng dân chủ vừa đắc thắng và đặt lòng tín nhiệm vào tài năng sáng suốt của Cụ trong công việc lãnh đạo dân tộc đường giải phóng.

Lời nói thủng thẳng và rành rọt, Cụ Hồ cảm ơn anh em trong giới văn hóa:

– Theo ý riêng của tôi, lời Cụ Hồ nói, trong sự giải phóng dân tộc và kiến thiết một nước Việt Nam mới, nhiệm vụ của các ngài trong giới văn hóa cũng rất là nặng nề quan trọng. Dân tộc chúng ta đã bước sang một giai đoạn mới tất nhiên phải có một chính thể mới và một văn hóa mới. Khi chúng ta còn bị nô lệ thì văn hóa của chúng ta cũng mang nặng những dấu tích nô lệ. Bây giờ độc lập, văn hóa cũng phải có những dấu tích độc lập. Phải độc lập trước đã rồi văn hóa mới phát triển được. Dân tộc còn bị áp chế, hàng triệu đồng bào chúng ta vẫn còn chết đói đầy đường thì các ngài có thể ngồi trong tháp ngà mà sáng tác được không? Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là: Củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn cho đất nước một văn hóa mới và phải làm thế nào cho văn hóa Việt Nam sẽ chiếm được một địa vị trong nền văn hóa thế giới.

– Thưa Cụ, lời anh Trương Tửu đáp lại, toàn thể anh em trong giới văn hóa chúng tôi, bao lâu nay, vẫn sống trong sự áp bức ngột ngạt của chính sách thực dân. Tuy vậy dù cường quyền áp bức đến bực nào, anh em chúng tôi cũng vẫn cố gắng vươn đến một ánh sáng, vươn đến độc lập và tự do. Ngày nay sự giải phóng của dân tộc đã thực hiện một phần rất lớn. Các ánh sáng tự do cần thiết cho sự phát triển của văn hóa mà chúng tôi hằng khao khát đã nhờ sự giải phóng ấy mà bắt đầu tưng bừng, cho nên đối với chúng tôi, tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà trong lúc này cũng tức là tranh đấu cho sự giải phóng của nền văn hóa Việt Nam.

Cụ Hồ Chủ tịch gật đầu tỏ ý bằng lòng:

– Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, tranh đấu cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới. Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

Cụ nói tới đây thì anh Nguyễn Đức Quỳnh xin phép Cụ trình bày một vài ý kiến:

– Thưa Cụ, lời anh Quỳnh nói, Cụ đã nói đến tính cách khoa học của văn hóa mới, chúng tôi xin đề cập đến sự hợp tác của các nhà kỹ thuật, chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia. Theo chỗ chúng tôi nhận xét, ít lâu nay thì các nhà kỹ thuật chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia hình như vẫn còn chút ít ngần ngại khi muốn hợp tác với Chính phủ để thi thố tài năng của mình. Họ là những người sống bằng kỹ nghệ và chỉ muốn làm việc cho kỹ thuật. Họ muốn được quyền đứng ngoài những xu hướng chính trị của đảng phái để phụng sự Tổ quốc.

Mắt Cụ Hồ sáng hẳn lên. Cụ với tay cầm quản bút ghi trên một tờ giấy để trước mặt Cụ (chúng tôi thấy Cụ ghi bằng chữ Hán), Cụ đặt quản bút xuống chậm rãi nói:

– Tôi nhờ ngài thanh minh với tất cả những anh em trong giới kỹ thuật chuyên môn rằng: Nước Việt Nam không phải của Việt Minh. Nước Việt Nam là của quốc dân Việt Nam. Chính phủ lâm thời hiện thời này không phải là Việt Minh là của toàn thể quốc dân.

Cụ dừng lại giơ tay phải lên như muốn xua đuổi một điều ngộ nhận của nhiều người đối với Chính phủ, và nói tiếp:

– Đấy ngài xem… Trong Chính phủ lâm thời có cả vua, quan lại cũng có, địa chủ cũng có, nông dân cũng có, công nhân cũng có. Đây là một Chính phủ Liên hiệp quốc gia, không có màu sắc quốc gia nào lấn át cả. Lúc này bất cứ người nào miễn là có tài và đừng phản cách mạng thì có thể phụng sự được quốc gia, toàn quốc. Trong lúc chung quanh mình bao nhiêu người đói khát, mình có thừa thóc gạo, phải đem mà giúp ích cho đồng bào. Nếu có thể mà lúc này không đem tài năng ra phụng sự quốc dân thì không những quốc dân có quyền chê trách mà ngay đến chính anh có tài đó cũng phải chê trách. Chừng như có một ý kiến gì mạnh mẽ mới nảy ra trong óc Cụ, mắt Cụ bỗng trở nên hân hoan và nghiêm trọng. Đôi mắt Cụ như lắng sâu vào trào lưu tiến hóa của lịch sử. Và Cụ hỏi:

– Thật chưa bao giờ dân nước chúng ta có một sự đoàn kết rộng đến thế. Bổn phận chúng ta ngày nay – bổn phận của các ngài là làm sao cho sự đoàn kết rộng ra, càng ngày càng sâu xuống, phải củng cố sự đoàn kết ấy cho nó bắt rễ xuống, cho nó bền chặt mãi.

Cụ dừng lại, cảm động, gian phòng im lặng.

Sợ mất thêm nhiều thì giờ của Cụ, anh Trương Tửu liền tường trình đại cương công việc của đoàn văn hóa Bắc Bộ Việt Nam đang tiến hành:

1. Tổ chức cuộc trưng bày văn hóa.

2. Dự thảo một chương trình của tuần lễ văn hóa.

3. Vận động đại hội nghị toàn quốc văn hóa.

Nghe nói tiếng “toàn quốc”, Cụ Hồ gật đầu:

Đại hội nghị toàn quốc văn hóa… phải, phải làm thế mới được. Từ trước đến giờ, chính sách thực dân Pháp đã chia rẽ chúng ta nhiều lắm rồi. Tôi mong rằng các ngài cố gắng làm được như thế, tổ chức mau chóng cuộc đại hội nghị văn hóa toàn quốc, gây được mối liên lạc mật thiết của quốc dân và văn hóa. Chính phủ sẽ giúp đỡ các ngài những phương tiện để thực hành công việc đó.

Công việc đã kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ mở cửa phòng bước vào, rút đồng hồ ở túi ra ghé tai Cụ Hồ báo cáo việc gì đó… Chúng tôi đoán rằng Cụ sắp phải tiếp đoàn đại biểu của giới khác, vội đứng dậy. Anh Trương Tửu thay mặt anh em trong đoàn văn hóa cảm ơn Cụ một lần nữa. Cụ cũng đứng dậy, nhờ chúng tôi chuyển lời chào của Cụ đến tất cả anh em trong đoàn văn hóa, và ngỏ ý mong anh em đoàn kết chặt chẽ với quốc dân để cùng tranh đấu cho sự giải phóng dân tộc.

Sau khi bắt tay Cụ Hồ Chủ tịch, chúng tôi lui về, trong lòng chan chứa cảm tình thành thực và tín nhiệm đối với Cụ Chủ tịch Chính phủ lâm thời.

Đến ngày 24/11/1946, Đại hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội với sự góp mặt của các đại biểu từ Bắc chí Nam. Đại hội dự kiến họp trong 7 ngày nhưng vì thực dân Pháp ngày càng lộ bộ mặt gây hấn, ngày kháng chiến toàn quốc đã gần kíp, Đại hội chỉ họp trong 1 ngày. Báo Cứu quốc thời đó đưa tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và phát biểu ý kiến trong vòng 40 phút. Nhưng hiện nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bài phát biểu đó của Người

Kiều Mai Sơn

cand.com.vn

Sáng mãi tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh

Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân chứa đựng giá trị đạo đức, nhân văn cao quý và sức mạnh tinh thần to lớn, chỉ đường cho lực lượng Công an nhân dân suốt hơn sáu thập kỷ qua. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Công an nhân dân phải gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng nhân dân, khắc phục những khuyết điểm, hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Công an và nhân dân.

Những ngày tháng năm này, chúng ta lại nghe vang lên lời tôn vinh của Đảng ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây đúng 40 năm:

“Từ buổi thiếu niên đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao đẹp và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Cách đây 20 năm, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc ra quyết định “về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại; ghi nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn”.

Bác Hồ về thăm quê nội làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An, tháng 6/1957. Ảnh: Tư liệu.

Toàn Đảng, toàn dân ta, các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau vô cùng hạnh phúc, tự hào được có một vị lãnh tụ tối cao là Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng rực rỡ nhất của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng, đạo đức và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọng lại sâu lắng trong Di chúc của Người:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng của thế giới”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh, giáo dục, rèn luyện và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Từ rất sớm, Người đề ra sáu điều về tư cách, đạo đức phải có ở người Công an nhân dân:

Đối với tự mình, phải cần kiệm liêm chính
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép
Đối với công việc, phải tận tụy
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo

Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân chứa đựng giá trị đạo đức, nhân văn cao quý và sức mạnh tinh thần to lớn, chỉ đường cho lực lượng Công an nhân dân suốt hơn sáu thập kỷ qua. Ngày nay, phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy” hòa quyện với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” đã trở thành một sinh hoạt chính trị sâu rộng trong lực lượng Công an nhân dân đang tiến theo con đường cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong bất cứ tình huống nào, lực lượng Công an nhân dân, cả chính quy và không chính quy, luôn công tác, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, nhiều khi hy sinh cả tính mạng của mình, để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiệm vụ đó ngày càng phức tạp và khó khăn, gian khổ và quyết liệt, nhưng lực lượng Công an nhân dân, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Công an nhân dân phải gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng nhân dân, khắc phục những khuyết điểm, hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Công an và nhân dân.

Hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang gây ra những thiệt hại nặng nề đến kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều nơi trên thế giới, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên đang diễn ra với tính chất ngày càng nguy hiểm.

Bác Hồ nói chuyện về tình hình cách mạng trong nước và thế giới với cán bộ, chiến sỹ bảo vệ và phục vụ những ngày ở Chiến khu Việt Bắc.

Ở nước ta, đại đa số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta, đứng trước những khó khăn về kinh tế – xã hội, vẫn vững vàng, tin tưởng ở Đảng, Nhà nước, ở công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển tốt đẹp của đất nước. Nhưng tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, kể cả tội phạm xuyên quốc gia, sử dụng công nghệ cao đang có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và xã hội ta hòng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ ta, từng bước lái đất nước ta đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa.

Tình hình đó đòi hỏi Công an nhân dân hơn lúc nào hết càng phải học tập, làm theo sáu điều Bác Hồ dạy và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đem hết trí tuệ, sức lực ra để công tác, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Lý tưởng, mục tiêu cao đẹp của lực lượng Công an nhân dân là góp phần tích cực nhất bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đấy là tấm lòng và là việc làm thiết thực nhất của lực lượng Công an nhân dân kỷ niệm lần thứ 119 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng Người.

Sáng mãi trong nhân dân và lực lượng Công an nhân dân Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh!

Hồng Hà (Nguyên Bí thư Trung ương Đảng)

cand.com.vn

Bác Hồ trên tem thế giới

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân Văn hóa thế giới – Anh hùng giải phóng dân tộc – Vị lãnh tụ kính yêu của Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều trên tem bưu chính Việt Nam và đã trở thành một chuyên đề sưu tập đặc sắc đối với người chơi tem trong và ngoài nước. Đặc biệt, với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc, một số nước trên thế giới cũng phát hành tem bưu chính mang hình ảnh Người, xin được giới thiệu cùng các bạn.

Ngày 19/5/1970, Cuba phát hành 1 bộ gồm 7 tem “Kỷ niệm 80 năm ngày sinh Hồ Chí Minh” do họa sĩ Felix René Mederos Pazos (1933-1996) thiết kế. Ông đã 2 lần sang Việt Nam thực tế trong 2 năm 1969, 1972 để vẽ một số tranh về chiến tranh Việt Nam. Bộ tem thể hiện cảnh sinh hoạt và chiến đấu của quân dân 2 miền rất sinh động như : công binh xưởng, gặt lúa, lớp học dưới địa đạo… Trong đó có một mẫu tem với giá mặt cao nhất 13 centavo (xu) mang hình chân dung Hồ Chủ Tịch trên nền cờ đỏ sao vàng. Phong bì ngày đầu tiên có chân dung Người, bản đồ Việt Nam bị chia cắt tượng trưng bởi 2 màu xanh đỏ và hình ảnh người nông dân Việt Nam. Đây là bộ tem đầu tiên của thế giới về Hồ Chủ Tịch.

Ngày 19/5/1972, Cuba tiếp tục phát hành một bộ gồm 3 tem “Hội nghị lần thứ ba về phản đối chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương” trong đó có một mẫu tem giá mặt 3 centavo mang hình ảnh Jose Marti và Hồ Chí Minh – 2 vị cha già dân tộc, 2 lãnh tụ cách mạng vĩ đại trên nền hình ảnh cách điệu của quốc kỳ Cuba và Việt Nam. Ngày 19/5 vừa là ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, vừa là ngày mất của Jose Marti.

Ngày 02/9/1970, kỷ niệm 1 năm ngày mất của Hồ Chủ Tịch và 25 năm quốc khánh nước Việt Nam DCCH, Bưu điện CHDC Đức phát hành 1 tem nằm trong series 7 tem có phụ thu mang tiêu đề “Việt Nam bất khả chiến bại”. Đây là series những con tem có phụ thu để gây quỹ ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Con tem này mang hình chân dung Hồ Chủ tịch với dòng chữ tiếng Đức màu đen “Tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh” và màu đỏ “Việt Nam bất khả chiến bại”, giá mặt 20 + 5 pf (xu).

Để chào mừng Hiệp định Paris về Việt Nam vừa được ký kết, ngày 17/02/1973, Cộng hòa Algeria Dân chủ và Nhân dân (vùng Bắc Phi) phát hành một con tem giá mặt 0.40 dinar. Con tem mang hình ảnh bản đồ Việt Nam thống nhất màu nâu đỏ nổi bật trên bán đảo Đông Dương màu vàng nằm bên Biển Đông xanh thẳm với chân dung Hồ Chủ Tịch đặt trang trọng trong khung hình oval. Con tem mang dòng chữ tiếng Pháp “Tôn vinh nhân dân Việt Nam” và ngày ký hiệp định Paris về Việt Nam “27.1.1973”.


Kỷ niệm 90 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch, ngày 12/7/1980, Liên Xô phát hành một tem giá mặt 6 kopeck. Trên tem, chân dung Hồ Chủ Tịch được vẽ rất đẹp bằng màu xanh lam nổi bật trên nền lá cờ đỏ sao vàng bên cạnh cột cờ Hà Nội.

Kỷ niệm 1 năm ngày mất của Chủ tịch Kim Nhật Thành, ngày 08/7/1995, CHDCND Triều Tiên phát hành 1 bộ gồm 1 block và 3 tờ tem nhỏ (sheetlet) “Lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành sống mãi với chúng ta”. Bộ tem được thiết kế dựa theo ảnh tư liệu thể hiện hình ảnh Kim Chủ tịch với các nhà lãnh đạo thế giới. Trong đó có một tờ tem nhỏ gồm 2 tem giá mặt 30 jon (xu) mang 2 hình ảnh : Kim Chủ tịch đàm đạo với Hồ Chủ Tịch tháng 11/1958 và Kim Chủ tịch bắt tay đón tiếp người anh hùng huyền thoại Che Guevara tháng 12/1960.


Kỷ niệm 25 năm Hiệp ước hợp tác hữu nghị Lào-Việt, ngày 18/7/2002, CHDCND Lào phát hành 1 bộ gồm 2 tem “Hợp tác Lào-Việt” trong đó có 1 tem giá mặt 3.500 kip mang hình ảnh Hồ Chủ Tịch đang đàm đạo với Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản – Chủ tịch Đảng NDCM Lào, Chủ tịch nước CHDCND Lào. Hình ảnh 2 vị lãnh tụ trên tem được vẽ giản dị bằng 2 màu đen trắng.


Năm 2000, Dominica Liên hiệp (Commonwealth of Dominica) – một quốc gia nhỏ ở vùng Caribbe phát hành một tờ tem gồm 17 tem giá mặt 55 cent “Thế kỷ 20, 1960-1969” nằm trong series tem “Thiên niên kỷ 1000-2000”. Tờ tem này được in rất đẹp với hình ảnh nhiều sự kiện lớn trong thập niên 60 của thế kỷ 20, trong đó có có 1 tem mang sự kiện Hồ Chủ Tịch từ trần năm 1969. Trên tem là hình chụp lại một khung ảnh chân dung Hồ Chủ Tịch có chữ ký của Người, đặt trên nền cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam với dòng chữ “Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Bắc Việt Nam, từ trần”.

Ngày 15/3/1999, Cộng hòa quần đảo Marshall phát hành tờ tem “Thập kỷ của hiểm họa và phát triển 1950-1959” (Dedicate of Peril and Progress) gồm 15 tem giá mặt 60 cent nằm trong series tem “Thế kỷ 20”. Tờ tem này thể hiện nhiều sự kiện quan trọng trong thập niên 50 của thế kỷ 20. Con tem thứ 9 trong tờ tem này mang tên “Hoàng hôn trên đế chế thực dân” (Sun Sets on Colonial Empires) với chân dung Hồ Chủ Tịch bên cạnh bản đồ Việt Nam màu đỏ rực bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 và hình ảnh những chiến sĩ Điện Biên phất cao lá cờ đỏ “Quyết chiến, quyết thắng” trên nóc hầm tướng Pháp De Castries. Hình vẽ và màu sắc của tờ tem này rất đẹp.

Năm 2001, Rwanda phát hành bộ tem “Thiên niên kỷ” gồm nhiều tờ tem nhỏ, mỗi tờ có 4 tem với giá mặt 300 Rwanda Franc để tôn vinh các vĩ nhân trên mọi lĩnh vực của thế giới trong Thiên niên kỷ vừa qua. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện diện trên tờ tem thập kỷ 40 với hình với chân dung trông thật phúc hậu. Trên lề tờ tem này là hình ảnh người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (Pháp) tháng 12 năm 1920 và hình ảnh Hồ Chủ Tịch cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm bộ đội diễn tập năm 1957.

Đặc biệt, trong năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã được UNESCO tôn vinh là Danh nhân Văn hoá Thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc, một số quốc gia đã trân trọng phát hành tem về Người. Đó là :

Liên Xô : ngày 03/2/1990 phát hành 1 tem giá mặt 10 kopeck. Chân dung Hồ Chủ Tịch trên tem đẹp, nghiêm nghị. Trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh 1890-1969” bằng tiếng Nga.

Cuba : ngày 19/5/1990 phát hành 1 tem giá mặt 50 centavo. Chân dung Hồ Chủ Tịch trong bộ quân phục màu xanh lá trên tem dựa theo ảnh chụp “Bác Hồ sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954”. Nền tem là hình ảnh cách điệu của quốc kỳ Việt Nam và Cuba liền một dải hình chữ Z. Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Tây Ban Nha. Phong bì ngày đầu tiên của con tem này có in hình chân dung Hồ Chủ Tịch trên một lá cờ đỏ được dập nổi (embossed) và in khắc chìm (engraving) rất đẹp.

CHDCND Lào : ngày 11/5/1990 phát hành 1 bộ gồm 3 tem mang những hình ảnh sau : Hồ Chủ Tịch nói chuyện với đồng bào (40 kip), Hồ Chủ Tịch bắt tay Hoàng thân Xuphanuvong (1909-1995) – Chủ tịch nước CHDCND Lào (60 kip), Hồ Chủ Tịch giơ tay vẫy chào (160 kip). Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Pháp và Lào. Phong bì ngày đầu tiên của bộ tem này có hình Hồ Chủ Tịch đeo kính gần giống với phong bì ngày đầu tiên của Việt Nam nhưng dấu hủy đặc biệt là hình chân dung của Người.

CH Ấn Độ : phát hành một tem ngày 17/5/1990 giá mặt 2 rupee mang hình chân dung Hồ Chủ Tịch và ngôi nhà sàn giản dị của Người ở vườn Phủ Chủ tịch. Họa sĩ đã dùng 2 màu nâu và xanh mạ làm nổi bật chân dung Hồ Chủ Tịch. Trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh” bằng chữ Ấn Độ và chữ Latin. Phong bì ngày đầu tiên của tem này được minh hoạ bằng bức ảnh “Hồ Chủ Tịch sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954” và bức ảnh nổi tiếng của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Lâm Hồng Long “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” chụp ngày 03/9/1960.

Cộng hòa Madagascar (tên cũ là Cộng hòa dân chủ Madagascar) : phát hành một tem ngày 19/10/1990 giá mặt 350 Franc Malagasy thể hiện chân dung Hồ Chủ Tịch rất phúc hậu như một tiên ông với khuôn mặt đầy đặn, hồng hào; râu tóc trắng như cước; nụ cười hiều hậu luôn nở trên môi. Trên tem có dòng chữ tiếng Pháp “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam”.

vn.360plus

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12-1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định. Sau đó, tháng 1-1968, hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng chiến công chiến lược.

Từ sau cuộc họp Bộ Chính trị, Bác chỉ thị cho các cán bộ chỉ huy các chiến trường:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu”.

Đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác – kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết, vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác “gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta”; “chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!”. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Chiều ngày 1-1-1968, Bộ Chính trị đến, Bác căn dặn thêm công việc. Bốn giờ chiều, Người lên máy bay trở lại Bắc Kinh để chữa bệnh theo quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ. Ở Bắc Kinh, Bác nghỉ ở Ngọc Tuyền Sơn, khu tịnh dưỡng của lãnh đạo nước bạn. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đến Bắc Kinh để báo cáo và xin ý kiến Bác. Ngày 20-1-1968, đồng chí Lê Đức Thọ đến. Ngày 25-1-1968, trên đường từ Hungari về, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghé qua Bắc Kinh xin chỉ thị cuối cùng của Bác về chiến dịch Mậu Thân.

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc Tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, vặn Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (1941) đến lúc đó 26 năm, đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ ran, tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy được truyền đi khắp mọi miền đất nước. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa Mồng Một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng từ Hà Nội báo sang: “Đánh khắp miền Nam!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng. Mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ “khai bút” đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem ra sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần “THẮNG” vút lên cao!”

“Vần THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

PHẠM MINH KHẢI

baohaugiang.com.vn

Bác Hồ trong lòng nhân dân thế giới

Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch, đây là nơi hội tụ tình cảm thiêng liêng của toàn dân ta và bạn bè quốc tế với Người. Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2005), Hànộimới xin trích đăng những tình cảm chân thành và xúc động mà bạn bè khắp năm châu khi đến thăm, nghiên cứu và hiểu thêm về cuộc đời của Bác Hồ đã lưu lại tại bảo tàng.

Suthichai Youn- Tổng biên tập Tập đoàn Xuất bản quốc gia, Băng Cốc – Thái Lan

“Chúng tôi có ấn tượng sâu sắc về chuyến tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về lịch sử và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chúng tôi, lớp người của thế hệ sau chắc chắn có thể học được những bài học quý báu từ sự cống hiến, lòng quyết tâm và tình yêu của Người dành cho dân tộc, đất nước và những con người đang đấu tranh vì tự do và hòa bình trên thế giới”.

Tôn Hồng Tuyền (Trung Quốc)

“Bác Hồ, Người là tập trung của những phẩm chất cao đẹp, đấu tranh gian khổ, cần cù, tiết kiệm của người Việt Nam, là tập trung của ý chí kiên cường, đoàn kết một lòng; Người đã đoàn kết và lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ, cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù xâm lược; Người đã có cống hiến to lớn cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”…

Lô-xép (LB Nga)

“Lịch sử dân tộc không thể tách rời lịch sử của những người đại diện vĩ đại của dân tộc đó. Điều này càng được khẳng định khi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một dân tộc cần phải hiểu và trân trọng gìn giữ lịch sử của mình, tôn kính ký ức về những người đã cống hiến cả cuộc đời mình phụng sự Tổ quốc”.

An-đu Rơ-bê-lô – UVBCT BCHTƯ Đảng CS Bra-xin

“Nhân dân Bra-xin xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn nhân dân Việt Nam và người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang nêu gương cho nhân loại.

Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cơ sở những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong xây dựng hòa bình, chủ nghĩa xã hội như đã từng giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến thắng những kẻ áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thức dậy trong trái tim các dân tộc toàn thế giới những tình cảm kỳ vọng vào tự do và bác ái giữa các dân tộc. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí chúng ta”.

Sahih Abdu Mashamoun – Cựu Đại sứ Xu-đăng tại Việt Nam

“Tôi rất vui mừng được đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và đây là cơ hội hiếm hoi để tôi học hỏi nhiều hơn nữa về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc vĩ đại, một người có học thức và tầm nhìn rộng lớn. Chính điều này đã giúp Người lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thời gian tham quan bảo tàng là vô cùng bổ ích và đã làm tăng thêm hiểu biết của tôi về lịch sử văn hóa và tư tưởng trên khắp thế giới thông qua lịch sử và cuộc đời của một lãnh tụ vĩ đại”.

Graham Kierath -(Ô-xtrây-li-a)

“Thật là một dịp tuyệt vời được tham quan và tìm hiểu về cuộc đời và thời đại của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tôi thật sự cảm nhận được không khí lịch sử và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tôi vô cùng xúc động trước những cuộc đấu tranh và sự gian khổ mà nhân dân Việt Nam đã trải qua trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do”.

Lu-ít An-đa-ny-a (Pê-ru)

“Bảo tàng Hồ Chí Minh là một biểu tượng quan trọng thể hiện sự tưởng nhớ của nhân dân Việt Nam đối với người anh hùng dân tộc bất tử của mình, đồng thời cũng là một khu triển lãm về cuộc đời mẫu mực của Người.

Đây là một đóng góp quan trọng để bảo tồn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc trên thế giới và của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những biểu tượng cao cả nhất”.

Một GS đại học Y khoa ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ

“Tôi thấy Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, một người giải phóng dân tộc Việt Nam, sau đó mới là một người cộng sản. Thấm nhuần tư tưởng của Lê-nin, Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam bị áp bức và sự bình đẳng của giai cấp”.

HNM
ANHTHU

dantri.com.vn

Chuyện về Bác Hồ với Vua bếp huyền thoại Escoffier

(Dân trí) – Laura Lam tiếp tục có viết về quãng thời gian Bác Hồ – khi đó là chàng thanh niên Văn Ba, làm việc cùng đầu bếp huyền thoại người Pháp Escoffier, với những chi tiết ít người biết về vị lãnh tụ của chúng ta.

>> Hồ Chủ tịch và “Hành trình đi tìm tự do”
>> Nguyễn Ái Quốc những năm đầu tìm đường cứu nước

Bài viết trên tiếng Anh của báo điện tử Dân trí Dtinews tại đây

“Đứng trước tòa nhà mới xây trên nền đất cũ, tâm trí tôi lại trở về với Khách sạn Carlton, nơi chàng thanh niên Văn Ba (Hồ Chí Minh) đã làm việc. Tôi mường tượng ra khu bếp lớn của vua bếp Auguste Escoffier với đội ngũ 60 nhân viên của ông ấy, tất bật chạy quanh trong những bộ áo choàng trắng cùng mũ vải trắng tinh tươm.

Khách sạn Carlton năm 1920

Trước khi chuyển đến khách sạn Carlton lộng lẫy, Escoffier đã từng làm việc cho khách sạn Savoy, nơi ông xây dựng được danh tiếng là cha đẻ của phong cách nấu ăn Pháp. Escoffier là người cung cấp thực phẩm cho nhà bếp Hoàng gia Anh, cho các phụ nữ quý tộc châu Âu, cho những người nổi tiếng và những người siêu giàu. Được Hoàng tử xứ Wales đánh giá cao, nên khi Hoàng tử trở thành Vua Edward VII năm 1901, Escoffier được giao trọng trách chuẩn bị cho bữa tiệc đăng quang của nhà vua mới. Năm 1913, ông gặp Hoàng đế Wilhelm II tại bữa tiệc chiêu đãi cấp quốc gia dành cho 146 nhân vật quyền cao chức trọng Đức. Hoàng đế đã rất ấn tượng với phong cách nấu ăn của Escoffier và dành cho ông lời ca tụng: “Tôi là Hoàng đế của nước Đức, nhưng ông là ông vua của các đầu bếp”.

Thực đơn của Escoffier gồm những món xuất phát từ những ý tưởng chỉ có ở riêng ông. Như món thịt gà đông được làm từ ký ức của ông về con tàu Jeannette bị mắc cạn trên băng năm 1881; Món bánh làm bằng quả đào là để tỏ lòng tôn kính danh ca người Australia, Nellie Melba; Món làm từ dâu tây, dứa, kem chanh là món ăn tỏ lòng kính trọng với nghệ sĩ Pháp lừng danh Sarah Bernhardt. Nhiều món ăn của ông đã trở thành những món ăn kinh điển của người Pháp.

Bí quyết của người đầu bếp huyền thoại này là sử dụng những thành phần tươi nhất và nguyên chất nhất để làm nên những món ăn với kỹ thuật cao nhất cùng tính giản đơn. Ông cũng đề cao tiêu chuẩn vệ sinh trong khi chế biến. Năm 1919, Tổng thống Poincaré đã trao tặng Escoffier Bắc đẩu Bội tinh để ghi nhận tài năng đặc biệt cũng như công lao của ông quảng bá phong cách ẩm thực Pháp. Ba năm sau đó, ông được phong chức Sĩ quan Đội sĩ quan danh dự nhân một bữa tiệc quốc gia tại Palais d’Orsay.

Khách sạn Carlton bị phá hủy trong cuộc chiến Blitz ở London năm 1940

Khách sạn Carlton là nơi được Winston Churchill (sau này là Thủ tướng Anh) yêu thích. Ngày 4/8/1914, khi Churchill đang ngồi dùng bữa trong khách sạn này, Anh đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của Đức. Chiến tranh đã bùng nổ hai ngày trước đó, khi quân Đức tấn công lính Pháp. Escoffier và Văn Ba cũng có mặt tại khách sạn khi lời tuyên chiến được đưa ra. Văn Ba đã rất phấn chấn. Anh âm thầm hy vọng cuộc chiến này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ở London, anh lặng lẽ chờ cơ hội để bộc lộ. Escoffier tiếp tục phụ trách công việc bếp núc của khách sạn Carlton cho đến hết Chiến tranh Thế giới Thứ I (8/1914 -11/1918).

Khi Văn Ba bắt đầu công việc của mình vào mùa Xuân năm 1913, anh chỉ là một chân trong nhóm rửa bát ở khu bếp của Escoffier. Với nhân viên này, không có gì hay ho khi chứng kiến những khách hàng giàu có và nổi tiếng để lại nhiều thức ăn trên đĩa sau mỗi bữa. Bất kỳ khi nào nhìn thấy một khoanh bít tết lớn hay miếng thịt gà to còn chưa được đụng đến, anh lại chuyển chúng sang một chiếc đĩa sạch và gửi trở lại nhà bếp. Một lần, Escoffier hỏi Ba “Tại sao anh không vứt những thức đó vào thùng rác như những người khác?, Ba trả lời “Những thứ này không nên vứt đi. Ông có thể mang chúng cho người nghèo”.

Escoffier lấy làm thích thú và tỏ ý rất hài lòng với câu trả lời này. “Chàng trai trẻ thân mến ơi, hãy nghe ta. Giờ thì gạt ý tưởng mang tính cách mạng đấy của anh sang một bên và ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu nướng. Nó sẽ mang đến cho anh rất nhiều tiền”.

Tấm bảng treo trên tòa nhà mới. Không có tài liệu nào của Khách sạn Carlton thoát khỏi cuộc chiến tranh. Các nhà sử học Nga và Việt Nam cùng những nguồn khác cho rằng chàng thanh niên Văn Ba đã làm việc ở Khách sạn Carlton từ năm 1913 đến 1917.

Ngay sau cuộc đối thoại này, Văn Ba được đưa lên khu vực làm bánh và Escoffier đã truyền cho anh nghệ thuật làm món tráng miệng của Pháp. Anh làm theo những hướng dẫn của vị vua bếp một cách siêng năng và với niềm thích thú thực sự. Ba học rất nhanh công thức làm các loại bánh ngọt của Pháp. Escoffier là người tiên phong trong kỹ thuật trộn các thành phần bánh, xử lý bột nhào và bí kíp nướng bánh sao cho ra lò được những chiếc bánh với lớp vỏ giòn và bóng mịn.

Ngay từ đầu, người thày thông thái của Ba đã chú ý đến sự thông minh nổi trội của cậu học trò và ông luôn đánh giá cao tính chín chắn, thái độ lịch thiệp của Ba. Năm 1917, Escoffier chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ 71 của mình. Ông đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi sau khi tìm được người sẽ kế thừa tài sản vô giá là những công thức làm món ăn của ông. Văn Ba đã theo học ông được 4 năm và là một trong những đầu bếp được ông quý mến nhất. Escoffier không nghi ngờ về việc Ba có được một sự nghiệp đầy hứa hẹn trong thế giới của các đầu bếp Pháp.

Tuy nhiên, một buổi tối, Ba đã nói chuyện với Escoffier. Tin tức về phong trào Duy Tân bị Pháp đàn áp đã đến với Ba và anh cảm thấy rất bồn chồn. Anh thông báo với Escoffier tin sẽ rời London và bắt tay vào một sứ mệnh mới. Có thể quyết định này bắt nguồn từ sự kiện ở Đông Dương, mà cũng có thể là do cuộc Cách mạng Nga bất ngờ nổ ra. Escoffier biết hoài bão chính trị của Ba rất tốt. Nhưng ông cũng cảm thấy buồn bã khi chàng thanh niên có vẻ ngoài thư sinh kia lại từ bỏ bộ đồ trắng để bắt đầu một cuộc sống mà khi ấy, ông cho là đầy những nguy cơ và không có gì chắc chắn.

Khách sạn Carlton bị Đức Quốc xã phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng vào London, thường được gọi là cuộc chiến London Blitz, trong những năm đầu 1940, sau 57 đêm Hitler ra lệnh không kích liên tục thành phố này. Đây là giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II (tháng 9/1939-thang 8/1945).”

Laura Lam
(Việt Hà dịch)

dantri.com.vn

Hồ Chủ tịch và “Hành trình đi tìm tự do”

(Dân trí) – “Hành trình đi tìm tự do” – Đó là nhan đề bài viết của Laura Lam về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó tác giả lần theo dấu chân nhà lãnh đạo kiệt xuất của Việt Nam, ngược lại những năm tháng Người rời quê hương đến Pháp để tìm đường cứu dân tộc.

>> Nguyễn Ái Quốc những năm đầu tìm đường cứu nước

Cụ tôi thường nói lính Pháp đã bắt Vua Hàm Nghi và đày ông sang Algeria đúng năm cụ sinh ra, năm 1888. Cụ được cha mẹ kể lại quân đội thực dân đã đốt làng và đàn áp phong trào kháng chiến Cần Vương như thế nào. Nhiều nhà lãnh đạo bị tra tấn và xử tử. Cuộc chiến đấu kéo dài cả thế kỷ chống thực dân Pháp kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm 1954. Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1890, là nhân vật của thời đại.

Lối vào thư viện St. Genevieve

Ở trung tâm thủ đô Paris, tôi thường đi qua Thư viện St Genevieve – một trung tâm công cộng lớn mà các sinh viên và các nhà nghiên cứu ở những trường học xung quanh và Sorbonne thường lui đến. Tám mươi năm trước, đây là nơi Nguyễn Ái Quốc rất yêu thích và chỉ cách chỗ ông ở vài phút đi bộ. Giống như Karl Marx đã dùng tất cả thời gian của mình ở phòng đọc của Thư viện Bảo tàng Anh, người cha của nền độc lập Việt Nam đã miệt mài ở St Genevieve. Phía trước mặt tiền dài và thoáng rộng của St Genevieve, hướng về Pantheon, khắc một danh sách tên những nhà văn nổi tiếng. Tôi đồ rằng Nguyễn Ái Quốc đã từng đọc những dòng chữ này khi ông tới đây, vì vậy, tôi quyết tâm đi tìm câu trả lời.

Nguyễn Ái Quốc khi sinh thời là Nguyễn Sinh Cung, đến năm 11 tuổi mới được cha đổi tên là Nguyễn Tất Thành. Ông theo học trường Quốc học Huế danh tiếng. Nhận thức của ông chịu sự ảnh hưởng rất lớn của thuyết Khổng Tử. Khi còn nhỏ, ông rất tò mò về phương Tây. Ông từng nói: “Khi tôi 13 tuổi, tôi đã từng lần đầu tiên nghe nói về Tự do, Bình Đẳng và Bác ái… Tôi muốn tự mình làm quen với văn hóa Pháp, để tìm hiểu điều gì ẩn sau những khái niệm này”.

Đối nghịch với những phép tắc ở Mẫu quốc, không có tự do, bình đẳng và lòng bác ái ở Đông Dương. Sự bóc lột của Pháp được tóm tắt đầy đau đớn trong từng từ ngữ của cụ Phan Chu Trinh, với những giam hãm, đánh đập, lột da và dóc xương người dân bản xứ.

Để ngăn chặn phong trào cải cách đang ngày một lớn mạnh, chế độ thực dân đã kiểm soát gắt gao trường học tự do duy nhất là Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 và bắt bớ những người sáng lập cùng những nhà trí thức tiến bộ khác. Là trường học đầu tiên trao quyền bình đẳng tiếp cận giáo dục cho nữ giới, Đông Kinh Nghĩa Thục cũng chủ trương ủng hộ cải cách xã hội và chính trị.

Danh sách các nhà văn nổi tiếng khắc phía trước thư viện St Genevieve

Ở tuổi 21, Nguyễn Tất Thành bắt đầu dạy chữ Quốc Ngữ và chữ Hán ở trường Dục Thanh danh tiếng tại Phan Thiết. Mỗi ngày, ông đến trường trong bộ áo dài cotton trắng, đầu đóng khăn xếp và chân đi guốc mộc. Các học trò cũng mặc quần áo dân tộc. Trường học nằm ở bên bờ phía Nam thơ mộng của sông chảy qua Phan Thiết. Thày giáo trẻ thường đưa các học trò của mình ra bờ sông để giảng dạy đạo lý và dã ngoại. Thỉnh thoảng, thày trò ngồi trên bãi đá, hát những bài ca yêu nước do chính mình sáng tác.

Nguyễn Tất Thành trở thành thày giáo được học trò rất yêu mến. Trong những buổi giảng bài như vậy, thày giáo Thành thường mở mang cho đầu óc non nớt của các trò những hiểu biết về nền văn minh phương Tây, quyền con người, sự bình đẳng, tự do cá nhân và những tư tưởng lớn của JJ Rousseau, Montesquieu, Voltaire… Tại thư viện ở Paris, ông chắc đã tiếp thu được còn nhiều hơn như vậy. Chắn chắn có nhiều tác phẩm vĩ đại khác thu hút sự chú ý của ông, như của các tác giả Shakespeare, Charles Dickens, Victor Hugo và Emile Zola.

Thực dân Pháp nghi ngờ trường Dục Thanh từ khi thày giáo Thành vẫn đang dạy học tại đây, cho rằng đây sẽ là một trường Đông Kinh nữa. Pháp lưu tâm đến hiệu sách ngay cạnh trường học, bán những tác phẩm của những nhà văn hàng đầu Việt Nam cổ vũ cho cải cách, với khẩu hiệu: “Hãy dẹp sang bên những gì lỗi thời và cổ hủ, nắm lấy cái mới và hiện đại”. Thực dân Pháp cảm thấy khẩu hiệu này đang chĩa mũi dùi vào các chính sách cai trị của chúng ở Đông Dương.

Thày giáo Thành luôn trăn trở và đã nghĩ đến việc nghỉ dạy học. Ông chứng kiến thường xuyên kiểu đối xử tàn ác của Pháp đối với người dân bản xứ và cảm thấy vô cùng tủi cực. Một lần, khi một cơn bão tràn qua tàn phá cảng Phan Rang, các viên chức Pháp đã lệnh cho các công nhân người Việt lặn xuống nước giữa lúc bão lớn để cứu thuyền. Nhiều người Việt Nam đã bị chết đuối, trong khi người Pháp xem đấy là trò tiêu khiển.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua (ảnh tư liệu).

Đầu năm 1911, thầy giáo Thành đến Sài Gòn, đổi tên là Văn Ba. Ông xin được làm phụ bếp cho tàu buôn Đô đốc Latouche Treville. Mỗi ngày, ông phải làm việc từ sáng sớm đến nửa đêm. Khi nhận việc, ông được hứa sẽ được trả 45 francs một tháng. Nhưng trước khi tàu cập cảng Marseille tháng 7/1911, ông được trao tổng số lương chỉ có 10 francs.

Lên bờ cùng một người bạn quen trên tàu, ông đi đến quán cafe vỉa hè ở Rue Cannebiere. Một người bồi bàn chào ông “Xin chào ngài!”. Ông rất ngạc nhiên và nói với người bạn: “Người Pháp ở đây tốt hơn và lịch sự hơn người Pháp ở Đông Dương”.

Trong nhiều thập kỷ sau đó, chàng thanh niên trẻ tên Thành sống ở nhiều nước khác nhau, bị truy đuổi, bị tù, vượt ngục, cả bị thực dân Pháp tuyên án tử hình. Nhưng ông vẫn làm việc không ngừng nghỉ để tranh thủ sự hỗ trợ từ những người đồng chí với khao khát cháy bỏng là chấm dứt chế độ thực dân ở quê nhà.

Ông đã luôn luôn vận động, đã thay đổi ít nhất là 45 tên và bút danh. Năm 1939, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc đã trở nên rất nổi tiếng. Năm 1945, trên Quảng trường Ba Đình, tên gọi “Hồ Chí Minh” đã cùng ông làm nên lịch sử rạng ngời với tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 8 năm sau, tại Điện Biên Phủ, mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập đã thành hiện thực. Tuyên ngôn này đã chứa đựng phần nhiều những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh học được về tự do trong một thư viện lớn ở Paris.

Laura Lam
(Việt Hà dịch)

dantri.com.vn

Nguyễn Ái Quốc những năm đầu tìm đường cứu nước

(Dân trí) – Với cái tên Nguyễn Ái Quốc và lòng yêu nước mãnh liệt, Nguyễn Tất Thành (sau này được biết đến với cái tên Hồ Chí Minh) đã bắt đầu xây dựng nền móng đầu tiên trên con đường cứu nước của mình.

Dưới đây là chuyện kể về Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng đầu tiên đi tìm đường cứu nước của tác giả Laura Lam viết riêng cho Dtinews, trang tiếng Anh của báo Dân trí điện tử.

Một bức tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc trên tạp chí Paria

Nguyễn Tất Thành đến Marseille lần đầu tiên vào tháng 6/1911. Sau một thời gian ngắn ở đây, nhà yêu nước trở lại tàu đô đốc Latouche-Tréville. Rồi con tàu rời tới Le Havre, Dunkirk và trở lại Marseille 3 tháng sau đó. Nguyễn Tất Thành đã viết một lá thư cho Tổng thống Cộng hòa Pháp, xin được tham dự Trường Thuộc địa (Colonial) với tư cách là một thực tập sinh. Trường này được thành lập vào năm 1889 để đào tạo các quan chức chính phủ đảm nhiệm các vị trí ở Đông Dương khi đó. Nguyễn Tất Thành nuôi hi vọng đây có thể là con đường hướng tới tự do ở đất nước mình.

Trong khi chờ câu trả lời, Nguyễn Tất Thành trở lại Sài Gòn, với hi vọng được gặp cha. Nhưng mọi nỗ lực tìm kiếm cha đều thất bại. Các anh chị em đã tham gia phong trào phản kháng vũ trang và chị gái đã bị binh lính thực dân bắt hai lần. Cha của Nguyễn Tất Thành cũng bị bắt giam năm 1912 và khi được thả ông bị người Pháp vẫn tiếp tục theo dõi.

Trở lại tàu, Nguyễn Tất Thành tới Marseille lần thứ ba và nhận được tin trường Colonial đã từ chối mình. Nguyễn Tất Thành trở lại tàu và tới Le Havre. Tại đây Nguyễn Tất Thành làm vườn cho một người chủ tàu và bắt đầu học để nâng cao trình độ tiếng Pháp.

Với sự giúp đỡ của người chủ tàu, Nguyễn Tất Thành nhận được việc làm tại Messageries Maritimes (công ty hàng hải cũ của Pháp), đi khắp các thuộc địa ở châu Phi. Trong một lần dừng ở Dakar, Nguyễn Tất Thành thấy một nhóm người châu Phi bị người Pháp yêu cầu lặn xuống cảng trong mưa bão để cứu các thuyền nhỏ. Nhiều người đã bị chết đuối. Nguyễn Tất Thành sau đó viết: “Người Pháp ở Pháp đều tốt. Nhưng người Pháp ở thuộc địa lại bạo tàn và vô nhân đạo. Ở đâu cũng vậy. Tôi đã chứng kiến sự đối xử tương tự ở Phan Rang. Người Pháp đã cười phá lên đầy vui vẻ trong khi những người yêu nước của chúng ta đang bị chết đuối. Đối với thực dân, mạng sống của một người châu Á, châu Phi không là gì”.

Nguyễn Tất Thành đã lênh đênh trên biển trong một thời gian dài, nhờ vậy mà tới được nhiều nơi như Rio de Janeiro, Buenos Aires, New York cùng Boston. Trong khi ở Boston, Nguyễn Tất Thành đã viết thư cho cụ Phan Chu Trinh và thông báo đang làm phụ bếp tại Khách sạn Parker House.

Năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Boston và đến London. Công việc đầu tiên của Nguyễn Tất Thành tại đây là quét dọn tuyết tại một trường học, nhưng do không thể chống chọi được với cái giá lạnh đóng băng trong suốt nhiều giờ, Thành đã tìm một công việc khác, đó là làm than. Nhưng công việc này thậm chí còn cực nhọc hơn công việc trước, phải ở trong tầng hầm tối, nóng kinh hoàng từ sáng sớm cho tới đêm khuya.

Rồi không lâu sau Nguyễn Tất Thành được thuê làm phụ bếp ở khách sạnCarlton tại Haymarket. Kỹ năng và phong cách của Nguyễn Tất Thành đã gây ấn tượng được với đầu bếp nổi tiếng Escoffier và Thành được chuyển từ rửa bát sang làm bánh. Tranh thủ thời gian rảnh rỗi, Nguyễn Tất Thành  học tiếng Anh và tham gia vào Hiệp hội công nhân nước ngoài, hiệp hội có mục đích cải thiện điều kiện làm việc ở các nhà máy của Anh.

Năm 1917 Nguyễn Tất Thành nghỉ việc ở khách sạn Carlton và qua eo biển Anh tới Pháp.

Các hoạt động chính trị của Nguyễn Tất Thành trong những năm tháng ởLondon vẫn còn chưa được biết đến. Phải khi trở lại Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu tham dự các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Tất Thành định thành lập cơ quan liên lạc với các nhóm công nhân giữa Anh Quốc và Pháp. Các hoạt động công đoàn của Nguyễn Tất Thành nhanh chóng đưa ông liên hệ với các chính trị gia cánh tả và các nhà văn. Tại cuộc họp hàng tuần của họ, Nguyễn Tất Thành thỉnh thoảng được mời phát biểu để nói về điều kiện ở Đông Dương. Khi đứng lên giữa cuộc họp, Nguyễn Tất Thành không phải là một con người bình thường, ông được chú ý bởi “đôi mắt đen bừng sáng mỗi khi ông nói và dường như xuyên thấu tâm hồn của người quan sát”.

Giới chức Pháp ở Đông Dương ngày càng để ý tới hoạt động của Thành. Vào tháng 6/1917, toàn quyền Đông Dương đã thành lập một cơ quan tình báo để theo dõi tất cả các cá nhân được xem là mối nguy hiểm an ninh cho thuộc địa châu Á này cũng như trong lòng nước Pháp. Họ đã tuyển những người Việt Nam biết nói tiếng Pháp làm điệp viên để theo dõi các hoạt động hàng ngày của Thành.

Mùa đông năm 1918, ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, là một mùa đông vô cùng khắc nghiệt, thiếu nhiên liệu, chất đốt nghiêm trọng trên toàn nước Pháp. Vào ban đêm người ta phải mang rèm cửa ra để ủ ấm thêm. Nạn thất nghiệp lan tràn khắp nơi. Thành lúc đó đang sống với cụ Phan Chu Trinh và đã giúp đỡ cụ trong studio phục chế ảnh.

Vào đầu năm 1919 Nguyễn Tất Thành biết được tin về Hội nghị Hòa bình Quốc tế được tổ chức ở Versailles. Ông đã chuẩn bị một đơn kiến nghị gửi đến Ngoại trưởng Mỹ với hi vọng có sự can thiệp để giải phóng Việt Namkhỏi chế độ thuộc địa. Và đây chính là lúc ông lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, tức Nguyễn Yêu Nước, trong bản kiến nghị.

Giữa năm 1919, người Pháp đã “liệt” Nguyễn Ái Quốc là “người nổi loạn nguy hiểm nhất”, đe dọa đến an ninh Pháp ở Đông Dương.

Laura Lam
(Phan Anh dịch)

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ Việt – Trung – Xô

Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

TS. Nguyễn Thị Mai Hoa
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,bên cạnh việc giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta chủ trương ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn trên thế giới, mà trước hết là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, đặt trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp tại thời điểm bấy giờ, khi mâu thuẫn Xô – Trung nảy sinh và ngày càng trở nên gay gắt, thì việc triển khai chiến lược đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước ta thực không hề đơn giản. Song nhờ trí tuệ thiên tài, kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam đã vượt qua thách thức, khó khăn, củng cố, giữ gìn và giữ gìn thành công tình hữu nghị lâu đời, thủy chung trước sau như một với Liên Xô, Trung Quốc.

1. Quan điểm giải quyết quan hệ Việt – Xô – Trung của Hồ Chí Minh

Nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy thử thách, gay go, ác liệt, cũng là lúc những bạn bè thân cận (Liên Xô, Trung Quốc) nảy sinh bất đồng, mâu thuẫn và quan hệ hai nước giảm sút một cách nghiêm trọng. Trong bối cảnh hai nước ra sức tập hợp lực lượng để củng cố vị trí của mình, Việt Nam trở thành “điểm nóng”, trở thành một trong những tiêu điểm thể hiện đối sách của mỗi nước và liên quan đến lợi ích của các cường quốc đại diện cho quyền lực của thế giới. Đương nhiên, Mỹ lập tức lợi dụng tình thế này, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, tiến hành chính sách chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn, để giảm sự đồng tình, viện trợ, ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Trước những chuyển biến đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta không xem nhẹ tính chất khó khăn, phức tạp của tình hình, đặt ra nhiệm vụ làm giảm thiểu tối đa tác hại của sự tranh chấp giữa Liên Xô – Trung Quốc và tiềm năng lợi dụng của Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ Việt – Xô – Trung. Quá trình xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung của Đảng và Nhà nước ta trong điều kiện hết sức nhạy cảm đó, dựa chắc vào những quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, kiên trì tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô và Trung Quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Quan điểm “củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác”(1) được Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ và hoạch định định đường lối đối ngoại chống Mỹ, cứu nước. Quan điểm này được đưa ra là kết quả nhận thức và thực tiễn hoạt động của một nhà cách mạng dày dặn kinh nghiệm, một nhà quốc tế lỗi lạc, dựa trên những cơ sở: (1). Đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam, “mọi thắng lợi của Đảng ta và của nhân dân ta không thể tách rời sự ủng hộ nhiệt tình của Liên Xô, Trung Quốc…”(2) – đó là cơ sở thiết yếu để luôn luôn giữ gìn quan hệ mật thiết với Liên Xô, Trung Quốc, bất kể mọi biến động của tình hình; (2). Đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới mà Liên Xô, Trung Quốc là những đại diện tiêu biểu, “cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho hòa bình thế giới”(3) – cơ sở tất yếu của sự kiên trì đoàn kết và “phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong phe ta”(4); (3). Mục tiêu chung, cao cả “cùng nhau chung sức phấn đấu cho tương lai tươi sáng của loài người”(5) – cơ sở bền vững để kiên trì đoàn kết, làm cho Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc đều là “anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế”(6).

Những cơ sở đó cho thấy tính nền tảng, chủ chốt, giá trị định hướng của quan điểm này trong quá trình xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung. Quan điểm này cũng phản ánh nhu cầu khách quan, mang tính quy luật và lịch sử trong quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc.

Thứ hai, không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô, Trung Quốc.

Trước những sự kiện phức tạp trong tình hình Liên Xô, Trung Quốc; giữa Liên Xô – Trung Quốc…, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý Đảng và Chính phủ ta giữ thái độ đúng mực, mọi góp ý, trao đổi cần hết sức cẩn trọng. Để đảm bảo điều đó, Hồ Chí Minh đặt tâm sức vào hai việc quan trọng: (1). Luôn giáo dục, căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ không a dua, biệt phái, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước anh em, tránh “để Trung Quốc đừng hiều lầm. Trung Quốc và Liên Xô đừng hiểu lầm nhau”(7), gây tranh cãi không cần thiết; (2). Chỉ đạo sát sao công tác tuyên truyền và cán bộ tuyên truyền phải hết sức cẩn trọng trong tác nghiệp, trong đưa tin, bình luận…“ tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai…”(8), không gây tổn thương cho quan hệ quốc tế của Việt Nam với cả hai người bạn lớn.

Cũng cần nói thêm rằng, quan điểm đó không đồng nhất với thái độ “dĩ hòa vi quý” hoặc thủ tiêu đấu tranh. Đây là biểu hiện ở mức cao nhất sự tôn trọng đối với hai nước lớn anh em, là sự tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc bang giao quốc tế – điều kiện quan trọng đảm bảo cho quan hệ Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc trong những giai đoạn khó khăn nhất không sứt mẻ.

Thứ ba, nỗ lực hóa giải, thu hẹp bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, coi đó là cơ sở để củng cố quan hệ hữu nghị Việt – Xô – Trung.

Một khi Liên Xô, Trung Quốc bất hòa, mẫu thuẫn, việc củng cố quan hệ Việt – Xô – Trung chắn chắn gặp nhiều trở ngại – đó là điều mà Hồ Chí Minh ý thức đầy đủ hơn ai hết. Gạt bỏ những rào cản trên con đường thắt chặt quan hệ Việt – Xô – Trung, hàn gắn quan hệ giữa hai nước lớn – trụ cột của phong trào cách mạng thế giới là yêu cầu thực tế, nhất là trong điều kiện “bọn đế quốc đang âm mưu phá hoại sự nhất trí của các nước xã hội chủ nghĩa, âm mưu gây một cuộc chiến tranh mới”(9), thì hơn bao giờ hết, “sự nhất trí của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu có một ý nghĩa đặc biệt to lớn”(10). Điều này được minh chứng bằng một chân lý hết sức giản đơn, nhưng giầu tính thuyết phục: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”(11). Vì thế, yêu cầu cũng là trọng trách nặng nề, Hồ Chí Minh đặt ra cho Đảng Cộng sản Việt Nam là “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em”(12). Dù trước khi đi xa, vẫn còn canh cánh bên lòng nỗi đau về “sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em”(13), thì Người vẫn luôn hy vọng và lưu giữ một niềm tin son sắt rằng, “các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”(14).

Thứ tư, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, ứng xử linh hoạt, có lý, có tình trong quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc.

Khi mâu thuẫn Xô- Trung ngày càng gia tăng, cả hai nước đều muốn tranh thủ mở rộng ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam, lái Việt Nam đi theo đường lối của mình, thậm chí có lúc còn lôi kéo và gây sức ép. Trước tình thế không mấy dễ dàng này, Hồ Chí Minh chủ trương giải quyết quan hệ Việt – Xô – Trung trên quan điểm độc lập, tự chủ, chống khuynh hướng áp đặt; kiên định lập trường đoàn kết với cả hai nước. Cách thức đạt mục tiêu được Hồ Chí Minh xác định rõ: (1). Sách lược hết sức mềm dẻo, “làm việc phải thật khôn khéo, thận trọng”(15), “nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt”( 16), chú trọng phát huy, thúc đẩy mặt tích cực trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, Trung Quốc; (2). Thuyết phục, vận động, hướng việc đoàn kết song phương Việt- Xô, Việt – Trung “trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”(17), trên nền tảng chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.

2. Tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh trong cân bằng quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế nhiều năm, với uy tín quốc tế, tài trí ngoại giao và sự hiểu biết sâu sắc các nước anh em, với mục tiêu tăng cường vững chắc quan hệ Việt – Xô – Trung, Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ ta tiến hành hàng loạt những hoạt động ngoại giao có trọng điểm, đặt vào trọng tâm đối ngoại: Giữ quan hệ cân bằng với cả Liên Xô và Trung Quốc – điều kiện tiên quyết để củng cố quan hệ với hai nước anh em. Đây là yêu cầu quan trọng, nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là thử thách to lớn trong điều kiện các quan hệ quốc tế vào thời điểm đó chồng chéo, đan xen nhau trong một tổng thể quan hệ của các siêu cường, không dễ phân định tách bạch và vượt qua được quả không hề dễ dàng. Sự thành công trong giải bài toàn khó hoàn toàn trông đợi vào tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh.

Để giữ gìn quan hệ cân bằng, đoàn kết, hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta chủ trương ứng phó nhanh nhạy, mềm dẻo với mọi biến chuyển của tình hình, đạt tới sự tế nhị và cân bằng. Điều đó được thể hiện một cách linh hoạt qua các sự kiện sau:

Thứ nhất, các chuyến thăm những năm 1956 – 1960 do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu khá là liên tục và đồng đều với cả Liên Xô, Trung Quốc: Năm 1956, thăm chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; năm 1957, thăm 9 nước, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc; trong hai năm 1959-1960, hai lần thăm Trung Quốc và Liên Xô. Còn trong hai năm 1965 và 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Trung Quốc hai lần, thì Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin cũng được Việt Nam đón tiếp trọng thị và thân thiết (2-1965), đồng thời hai đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng được cử đi thăm Liên Xô (4-1965, 3-1966).

Thứ hai, với phương châm “chưa hiểu thì chưa nên bầy tỏ thái độ” của Hồ Chí Minh, suốt thời kỳ mâu thuẫn Xô – Trung diễn ra gay gắt, trên các phương diện chính thống, Đảng và Nhà nước ta đã không bàn luận, không bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), hay đối với Cách mạng văn hóa của Trung Quốc, cũng như không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa hai bên, tránh gây ra những hiểu lầm không cần thiết.

Thứ ba, những năm 1960-1964, khi Trung Quốc thường xuyên nêu vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên Xô”, còn Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô liên tiếp gửi thông điệp (13 bức thư và thông báo(18)) đề cập đến bất đồng Xô – Trung, đề nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, thì Hồ Chí Minh vẫn luôn mềm mỏng và kiên định giải thích: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”(19); đồng thời, khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trao đổi và thông báo về các vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam với lãnh đạo Liên Xô, thì cũng đồng thời thông báo, trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc.

Thứ tư, năm 1965, Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta hoan nghênh ý kiến của Liên Xô đề nghị lập Mặt trận thống nhất và lập cầu hàng không để giúp đỡ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng khi Trung Quốc không đồng ý, thì ta tạm thời gác vấn đề này lại, đồng thời công khai cải chính những tin tức nói Trung Quốc cản trở hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc. Việt Nam không tiếp nhận công binh Trung Quốc làm đường vào miền Nam, không nhận chuyên gia Trung Quốc bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, thì cũng không tiếp nhận quân tình nguyện và bộ đội phòng không Liên Xô giúp Việt Nam bảo vệ bầu trời.

Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

3. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và quan hệ bền chặt với Liên Xô, Trung Quốc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao là một mặt trận quan trọng. Ngoại giao vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật – nghệ thuật của các khả năng, khả năng nắm vững điều có thể, mở rộng giới hạn của điều có thể, thu hẹp giới hạn của điều không thể, ở đó, phong cách, phương pháp, phương cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung đã đạt đến tầm nghệ thuật.

Trong điều kiện mâu thuẫn Xô – Trung, tăng cường, cũng cố quan hệ hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc vừa là yêu cầu chiến lược, vừa là mục tiêu bất biến của Đảng, Nhà nước ta – mục tiêu đó đạt được bằng nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện sự tổng hoà các phương pháp luận, xem xét sự vật theo quan điểm lịch sử, cụ thể, toàn diện, phát triển và sự vận dụng những cái biết: Biết mình, biết người, biết thời thế, biết chừng mực, biết biến đổi, để chủ động tận dụng mọi thời cơ, chọn đúng những công việc, giới hạn cần làm trong mỗi thời điểm lịch sử. Trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết và nắm bắt cơ hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Với nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh thần quốc tế vô sản và bằng sự nỗ lực cao độ, Đảng, Nhà nước ta đã giữ gìn tình cảm quốc tế thủy chung, trước sau như một, không ngừng củng cố quan hệ, tranh thủ được Liên Xô, Trung Quốc từng bước đồng tình, đi đến ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường, quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, giành cho ta sự giúp đỡ to lớn, quý báu về mọi mặt, đặc biệt là viện trợ quân sự. Liên Xô – nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh đã viện trợ cho Việt Nam ngoài một số vũ khí thông thường, còn phần lớn là những vũ khí hiện đại như máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo phòng không, pháo binh….Tên lửa “đất đối không” của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 24-7-1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ (20). Những năm 1955-1960, Liên Xô đã viện trợ cho ta một khối lượng hàng quân sự là 29.996 tấn (21), gồm hàng hậu cần, vũ khí, trang bị kỹ thuật. Từ năm 1961-1964, Liên Xô gửi sang Việt Nam 47.223 tấn hàng quân sự (22) – số viện trợ quân sự trong một thời gian ngắn đã tăng gần gấp đôi. Trong giai đoạn 1965-1968, khi quan hệ Việt Nam – Liên Xô có bước phát triển đáng kể, số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cũng tăng vọt: 226.969 tấn (23). Trong những năm 1969-1972, mức viện trợ quân sự của Liên Xô cho ta đạt 143.793 tấn (34). Từ năm 1973-1975, Liên Xô chuyển sang Việt Nam 65.601 tấn hàng hậu cần và trang bị vũ khí, kỹ thuật (25).

Trung Quốc cũng đã giành cho nhân dân ta sự ủng hộ, viện trợ quý báu trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc tế ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp (26), thì viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng trên 50% tổng số viện trợ nói trên. Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốc viện trợ cho ta chủ yếu là vũ khí bộ binh, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiện vận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo, mặc dù trong khoảng thời gian trên, Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, mức thu nhập bình quân tính theo đầu người còn thấp.

Các con số viện trợ cho thấy, lực lượng đồng minh chiến lược của Việt Nam trong lúc khó khăn, hay thuận lợi chủ yếu đứng về phía ta, kiên định sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, đã tạo ra cho cuộc kháng chiến của ta một sức mạnh tổng hợp cần và đủ để hạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ, bảo đảm cho nhân dân ta đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của chúng. Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của mâu thuẫn Xô-Trung, đánh bại mưu đồ của Mỹ, lợi dụng mâu thuẫn trong hệ thống XHCN, đặc biệt là giữa Liên Xô, Trung Quốc để cô lập và làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau này Mỹ phải thừa nhận, một trong những nguyên nhân đưa đến thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam là đã quá tin vào việc thông qua thủ đoạn hoà hoãn tay đôi với Liên Xô và Trung Quốc, lợi dụng bất đồng, đối địch giữa Liên Xô và Trung Quốc, thực hiện “chiến tranh bóp nghẹt” ở Việt Nam. Có lẽ, trong thực tiễn lịch sử, hiếm có trường hợp hai nước đối địch nhau lại cùng cung cấp viện trợ cho một nước thứ ba, như mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô thời kỳ này. Tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh đã làm nên điều kỳ diệu ấy. “Ôn cố tri tân” – Đó là bài học lịch sử, một mẫu mực ngoại giao mà thời kỳ hiện tại, hơn bao giờ hết, cần kế thừa, phát huy và phát triển.


Chú thích:

(1) Biên bản Hội nghị BCH TƯ lần thứ 7 (khoá II), Đơn vị bảo quản 29, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 18.
(3) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 9-1954, Đơn vị bảo quản 92, Cục lưu trữ Trung ương Đảng, tr.28.
(4) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 9-1954, Sđd, tr.28.
(5) Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 127.
(6) Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Sđd, tr.127.
(7) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 3-1966, Đơn vị bảo quản 173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(8)Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 490.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 577.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 577.
(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 287.
(12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd , tr. 511.
(15) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 3-1966, Đơn vị bảo quản 173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd tr. 319.
(17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(18)Quan hệ Việt- Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước (7.1954-4.1975), Bản đánh máy, lưu tại Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao, tr. 18.
(19) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 604.
(20])Gaiđuk. V.I (1998), Liên bang Xô-viết và chiến tranh Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, H, 1998, tr.127.
(21) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Thống kê số liệu viện trợ quốc tế, Hồ sơ 795, sô 15.
(22) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(23) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(24) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(25) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd..
(26) Chiến tranh cách mạng Việt Nam, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 601.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn