Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đoàn kết là một truyền thống quý báo của dân tộc ta. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã hun đúc nên con người Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, sống thuỷ chung, nhân ái và sự cố kết cộng đồng sâu sắc thể hiện ở triết lý: “thương người như thể thương thân”; “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, toàn dân góp sức”. Truyền thống văn hoá ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo giáo dục cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an dựa trên giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng phải là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, phải hoàn thiện mình để lãnh đạo đất nước. Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn chiến lược, Người đều nhắc nhở phải chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Một trong những vấn đề mà người luôn đặc biệt quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên đó là phải giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người coi việc giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Thật vậy, Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã gắn bó với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, sinh tồn trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ Đảng là những người xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, chủ yếu là công nhân và nông dân, nhưng đều cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu và cùng chung lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và CNXH, là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng không có lợi ích riêng tư nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Và đoàn kết thống nhất thực sự là động lực chủ yếu của sự phát triển của Đảng. Thống nhất là cơ bản, các hình thức đấu tranh nội bộ mang tính chất xây dựng góp phần quan trọng củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguyên tắc cơ bản nhất trong các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nguyên tắc đó phản ảnh quy luật vận động và phát triển của Đảng. Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” là bao gồm cả sự đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, và chỉ có sự đoàn kết cơ bản và rộng rãi như thế mới thật sự là sức mạnh vô địch, cơ sở cho mọi thắng lợi và thành công của cách mạng. Thống nhất trong Đảng là sự thống nhất cao nhất và toàn diện nhất. Từ đó thống nhất về hành động. Có thể nói đoàn kết thống nhất trong Đảng là vấn đề sinh tử của toàn Đảng và từng đảng bộ các cấp.

Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất trong Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình cảm thương yêu đồng chí đậm đà văn hóa phương Đông; giữa truyền thống dân tộc và tính tiên tiến của giai cấp công nhân thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đoàn kết là sức mạnh. Đảng ta là một Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tất cả cán bộ đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết, tất cả các đảng viên dù ở những cương vị khác nhau cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho. Sinh thời Chủ tịch Hồ Minh không chỉ đề ra những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp để xây dựng, củng cố, giữ gìn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của Đảng, toàn quân, toàn dân mà chính Người đã cảm hoá, cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng tấm lòng “Trung với nước, hiếu với dân”; bằng phẩm chất “cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Người là hiện thân của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Sự thống nhất hài hoà giữa tư tưởng và hành động, đạo đức, nhân cách, sự mẫu mực trong lời nói và việc làm vì lợi ích dân tộc, giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự trở thành động lực, sức mạnh to lớn cảm hoá giáo dục, rèn luyện xây dựng tình đoàn kết giữa cấp trên, cấp dưới, giữa đảng viên với quần chúng, giữa quân và dân, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành.

Muốn xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức của Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tự học tập, rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, tuyên truyền, vận động để mọi đảng viên, quần chúng tự nhận thức được sự cần thiết phải đoàn kết, từ đó tự giác tham gia xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong mọi tổ chức của Đảng; phải có chủ trương chính sách, chế độ chăm lo lợi ích chính đáng của tất cả mọi người. Người căn dặn, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là một tấm gương đoàn kết, mẫu mực từ lời nói đến việc làm vì lợi ích của dân, của nước, thực sự làm hạt nhân đoàn kết trong chi bộ đảng.

Để mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt trong tổ chức đảng được phát huy sức mạnh, cần phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, độc đoán chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng trong tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt để xây dựng, củng cố giữ gìn mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng là người tổ chức, hướng dẫn, lãnh đạo khối đại đoàn kết, do vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trí tuệ, cách mạng, thống nhất, phải luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Với Hồ Chí Minh đoàn kết thống nhất trong Đảng không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời mà phải là một chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết không đơn thuần là tập hợp lực lượng mà cao hơn nó là bộ phận hữu cơ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”. Do đó, Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người: “Cách mạng nhất định thành công, ta thành công chính vì đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”.

Và theo Bác, chính sự đoàn kết làm cho mọi người hành động thống nhất, không bị gượng ép, bắt buộc. Vì thế, Bác gọi “Đảng ta là một bà mẹ rất nghiêm ngặt và cũng rất hiền từ”. Bác cũng khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”.

Đã 42 năm kể từ ngày Bác đi xa và 81 năm xây dựng và phát triển của Đảng và của cách mạng nước ta, chúng ta tự hào về đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại. Càng tự hào, chúng ta càng phải quyết tâm làm theo lời căn dặn trước lúc đi xa của Bác: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

K.A (t/h)

soctrang.gov.vn

Đường Kách Mệnh

Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

I – Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

1. Thế giới 

Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự tiếp nối và phát triển những tư tưởng giải phóng con người của nhân loại. Nó đã trở thành vũ khí tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Được học thuyết khoa học và cách mạng soi đường, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản như: Đảng xã hội – dân chủ Nga được thành lập (1903); Đảng Cộng sản Pháp được thành lập (1920); Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (1921)…

Năm 1917, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Cách mạng Tháng Mười Nga là bằng chứng khẳng định giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời cũng báo hiệu thời kỳ đấu tranh giành thắng lợi của giai cấp vô sản thế giới bắt đầu.

Năm 1919, Quốc tế III – Bộ Tham mưu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được thành lập. Quốc tế III đã quan tâm đến cách mạng thuộc địa. Bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã tác động trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Đối với Nguyễn Ái Quốc, Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin là bước tiến nhảy vọt và dứt khoát trong nhận thức tư tưởng của Người. Người quyết định chọn chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng cứu nước. Như vậy, thời đại đã mở ra điều kiện mới – cả tư tưởng chính trị và cả tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở các nước. Chính thời đại cũng dẫn dắt phong trào cách mạng các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạo chung của cách mạng vô sản.

2. Việt Nam 

Đặc điểm nổi bật của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẫn cơ bản là: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và giữa giai cấp phong kiến Việt Nam với toàn thể nhân dân (chủ yếu là nông dân). Yêu cầu của lịch sử lúc này là phải giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó để đưa dân tộc tiến lên.

Dưới ách thống trị của thực dân – phong kiến, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản, nhưng rút cuộc, đều không giải quyết nổi nhiệm vụ mà lịch sử đang đặt ra, nhân dân đang mong đợi là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến.

Bước vào những năm 20 của thế kỷ XX, trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc màu chính trị khác nhau, như: Tâm tâm xã ( l923 – 1925), Hội phục Việt (1925), Đảng thanh niên (1926), Thanh niên cao vọng Đảng (1926 – 1929), Tân Việt cách mạng Đảng (1926 – 1930), Việt Nam quốc dân Đảng (1927 – 1980). Song, các tổ chức yêu nước này thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ như một đảng cách mạng khoa học, cho nên, họ không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử.

Thực tiễn lịch sử đang đòi hỏi phải có một tổ chức mới, được xây dựng trên cơ sở hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công.

II- Tư tưởng cơ bản và nội dung của tác phẩm 

1. Tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Mục đích tác phẩm được tác giả chỉ rõ: “Muốn sống thì phải cách mệnh”. “Hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi”. Thà chết tự đo còn hơn sống nô lệ, quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác phẩm. Có thể nói, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ tác phẩm.

Tác phẩm cũng chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của độc lập tự do và vạch con đường cụ thể để giành thắng lợi.

Tinh thần xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, phải giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc.

Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là quan điểm tư tưởng chỉ đạo con đường cách mạng Việt Nam. Giải phóng nhân dân phải gắn với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc phải theo quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp vô sản phải gắn bó với nhau. Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều phải giải quyết trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo. Tác giả đưa dẫn chứng các cuộc cách mạng trên thế giới để đi đến khẳng định rằng, cách mạng Việt Nam phải giành thắng lợi triệt để: “Muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh; phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Cách mạng phải độc lập và sáng tạo, tự lực, tự cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn công, chủ động tiến công, quyết giành thắng lợi. Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, nhưng cũng phải có đóng góp cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những tư tưởng cơ bản trên đã nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao.

2. Nội dung của tác phẩm 

a) Tư cách một người cách mệnh 

Tư cách một người cách mệnh được đặt lên vị trí hàng đầu của tác phẩm. Nội dung gồm 3 phần:

– Tự mình phải cần kiệm – liêm chính – vị công vong tư. Giữ chủ nghĩa cho vững…

– Đối người phải: với từng người thì khoan thứ. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người.

– Làm việc phải : Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể.

Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ bản của đạo đức mới – đạo đức của người cộng sản. Đó là phải có đức và tài, trí và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người cộng sản. Đó là con người một lòng một dạ. Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ chức, với đoàn thể. Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân. “Tư cách người cách mệnh” khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng cá nhân, đặt mình lên trên tổ chức, đề cao cái tôi đạo đức của người đảng viên cộng sản được đề cập trong tác phẩm phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng rất đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về đạo đức của người cách mạng. “Tư cách người cách mệnh” đã dễ dàng chinh phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức học ở Việt Nam.

b) Con đường cách mệnh 

Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”.

Từ đó, tác giả xác định các loại cách mạng:

– Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776; Nhật cách mệnh năm 1864.

– Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911.

– Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917.

Tác giả giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy. Từ phân tích mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, tác giả xác định tính chất cách mệnh. Dân tộc cách mệnh là dân tộc nô lệ đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi để giành độc lập tự do. Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình.

Về dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh, tác giả đều lấy ví dụ Việt Nam. Khi kết luận, tác giả cũng nói đến sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh ở Việt Nam. Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân tộc để tiến lên giải phóng giai cấp. Việt Nam phải làm cả dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh.

Tác giả phân tích kỹ Cách mạng tư sản Pháp 1789, Cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và chỉ ra kinh nghiệm lịch sử của các cuộc cách mạng này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật”. Từ lịch sử và thực tiễn, tác giả đã định hướng cho các mạng Việt Nam là đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga “theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Tác giả cũng xác định rõ bạn và thù của cách mệnh Việt Nam. Đế quốc Pháp đã chà đạp lên nền độc lập của dân tộc, đặt ách áp bức bóc lột đối với nhân dân ta. Do đó, đế quốc Pháp vừa là kẻ thù của dân tộc và cũng là kẻ thù của giai cấp. Tác giả phân biệt rạch ròi giữa đế quốc Pháp và nhân dân Pháp trước hết là công nông Pháp. Từ đó, nêu mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam với giai cấp cách mệnh Pháp nói riêng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản chính quốc nói chung.

Còn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả có phân loại: điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh công nông, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày. Việc xác định đúng, chính xác kẻ thù cơ bản là chủ nghĩa đế quốc Pháp có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, trong việc tập hợp lực lượng, phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù, nhằm tăng sức mạnh cho cách mạng. Đây là tầm tư duy của thiên tài rất biện chứng, cách mạng và khoa học vượt lên tầm tư duy đương thời của nhiều người cho rằng, đã địa chủ tất nhiên sẽ là kẻ thù của cách mạng, là đối tượng đứng về phía đế quốc.

c)Về lực lượng cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Công nông là người chủ cách mệnh “là vì công nông bị áp bức nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”. “Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.

Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, thái độ của các giai cấp trong xã hội, đối với cách mạng để vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp, không giáo điều, máy móc. Vì vậy, lực lượng cách mạng vừa đông, vừa mạnh, nhưng vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

d) Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế)”. Người đưa ra những dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục để xác định lực lượng đồng minh quốc tế của cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Cách mạng Việt Nam cũng phải liên minh với cách mệnh Pháp và có thể thành công trước cách mệnh Pháp. “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”.

Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới cũng đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam. Đã là đồng chí thì sung sướng cực khổ phải có nhau.

Như vậy, về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh nêu 3 vấn đề lớn:

– Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.

– Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này.

– Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua lại. Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc.

Với những luận điểm trên, tác phẩm đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế của đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng.

đ)Về phương pháp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương pháp cách mạng giữ vai trò hết sức quan trọng: “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó. Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc làm được”. Đó là:

– Phải làm cho dân giác ngộ.

– Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.

– Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân.

– Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người”… “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.

– Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành công. Tác giả đưa ra cách tổ chức quần chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ…

– Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời cơ.

Tóm lại, tác phẩm đã nêu lên những quan điểm cơ bản về phương pháp cách mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tổng kết kinh nghiệm cách mạng các nước. Những quan điểm đó là cơ sở cho Đảng xây dựng phương pháp cách mạng của mình.

Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mệnh. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin. “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Nguyễn Ái Quốc luôn có ý thức xây dựng lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng triệt để của Đảng. Những tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Người là những phác thảo cho đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người phân tích sâu sắc lịch sử cách mạng Nga để quán triệt bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Người đề cập gần như xuyên suốt tác phẩm. Toàn bộ tác phẩm đã thể hiện nội dung đó.

Bằng tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng yêu cầu bức bách của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

III- Ý nghĩa của tác phẩm 

1. Tác phẩm Đường cách mệnh có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam.

– Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng.

Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới – tư tưởng của giai cấp công nhân.

– Về chính trị: Tác phẩm xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhận cho cán bộ và quần chúng công nông. Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng. 

Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ .

– Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng như công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ… để Đảng tập hợp quần chúng, chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.

2. Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích. Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc.

Tác phẩm cũng là một hình mẫu của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam của tác giả. Ví dụ: Lênin cho rằng, cách mạng thuộc địa chỉ có thể giành được thắng lợi khi có sự giúp đỡ của cách mạng chính quốc, khi cách mạng vô sản chính quốc đã giành thắng lợi, nhưng tác phẩm phát hiện thêm rằng, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động tích cực đối với cách mạng chính quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê nin bàn nhiều về vấn đề giải phóng dân tộc. Tác phẩm chỉ rõ dân tộc và giai cấp kết hợp với nhau, giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản…

Tác phẩm Đường cách mệnh đã thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sự chuyển biến căn bản, nhanh chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ và đông đảo quần chúng, chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng.

Như vậy, trước khi Đảng ra đời, ở Việt Nam đã có sự thống nhất về tư tưởng chính trị và tổ chức. Đó là điều kiện trực tiếp giữ vững sự thống nhất trong Đảng ngay từ khi mới thành lập cũng như sau này. Tác phẩm Đường cách mệnh là một kho tàng tri thức lý luận cách mạng Việt Nam, là sự thể hiện tư tưởng cơ bản của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Giá trị của tác phẩm càng được khẳng định khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Theo Giới thiệu tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngnghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Nxb CTQG, H, 1999.

(Nguồn : Website Đảng Cộng Sản Việt Nam)

sites.google.com

Quán triệt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyên tắc này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam và trở thành phương châm “Nói đi đôi với làm”. “Nói đi đôi với làm” đã trở thành lẽ sống, phương châm làm việc, nguyên tắc hoạt động của Người.

Hồ Chủ tịch về thăm nhân dân xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc – Anh: TL

“Nói đi đôi với làm” theo tinh thần của Hồ Chí Minh đòi hỏi: Một là, “Nói” phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai; Hai là, không được “nói một đằng, làm một nẻo”; Ba là, tránh nói, tránh hứa mà không làm. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vì vậy, xét về bản chất, “nói đi đôi với làm” không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn của Hồ Chí Minh. Vì vậy, với Hồ Chí Minh, từ việc nhỏ tới việc lớn, từ việc riêng tới việc chung, Người bao giờ cũng “miệng nói, tay làm, tai lắng nghe”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã thấm nhuần sâu sắc đặc trưng truyền thống văn hoá phương Đông là “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn thuyết” nên nhiều khi Người đã giải thích lý luận bằng thực tiễn, bằng hành động, bằng việc làm, Người chỉ làm mà không nói. Bởi lẽ, đối với Việt Nam và phương Đông, cũng có khi chẳng cần nói mà chỉ cần làm, thấy làm đúng, làm phải, mọi người khắc làm theo. Đó là “nói” không cần lời, là “vô ngôn” nhưng biểu hiện bằng hành động và có hiệu lực trong thực tiễn. Chẳng hạn, để sâu sát cơ sở, hiểu dân, trong khoảng từ 1955-1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cơ sở địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội… Như vậy, mỗi năm Người có hơn 70 lần xuống cơ sở, mỗi tháng có tới 6 lần gặp gỡ, tiếp xúc với quần chúng. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó, sâu sát với quần chúng, với cơ sở, với thực tiễn như thế nào. Có thể nói, cái tinh tuý của truyền thống văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông đã được Hồ Chí Minh kế thừa, trau dồi, trở thành cái “thần” rất Hồ Chí Minh. Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã nhận xét: “Mọi lời nói, việc làm của Hồ Chí Minh đều thiết thực và cụ thể ”.1 Nói là làm, thường là làm nhiều hơn nói, có khi làm mà không cần nói, tư tưởng hiện ra trong hành động.

Hồ Chí Minh luôn phê phán những cán bộ chỉ biết nói mà không biết làm dù chỉ là một việc nhỏ thiết thực. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên đã nói thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Đối với Đảng ta, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra là lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”2.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XI của Đảng thì việc học tập, quán triệt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn. Từ nhận thức đúng những tinh thần của Nghị quyết Đại hội XI, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy phải tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết trên thực tế. Nghị quyết có phản ánh đúng cuộc sống nhưng không được tổ chức thực hiện tốt trong cuộc sống thì nghị quyết vẫn chỉ là nghị quyết.

Để học tập, quán triệt tốt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy và toàn Đảng cần thực hiện tốt những biện pháp sau:

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, lãnh đạo, quản lý phải thực sự trở thành tấm gương sống cho nhân dân noi theo, phải thực sự đi trước để nhân dân đi theo. Đúng như Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”3. Chỉ trên cơ sở này, cán bộ, đảng viên mới thu phục được quần chúng, mới cảm hóa, lôi kéo họ tạo thành phong trào thực tiễn rộng lớn để xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện nghị quyết của Đảng. Hiện nay, phần đông cán bộ, đảng viên có phong cách làm việc sâu sát cơ sở, gần dân, thân dân, nói đi đôi với làm. Tuy nhiên, vẫn còn bộ phận không nhỏ cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền, có những biểu hiện nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng, làm một nẻo, thất hứa với nhân dân. Hiện trạng này đã làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, làm cho dân xa Đảng. Điều này càng đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên từ việc nhỏ đến việc lớn, từ việc riêng đến việc chung, từ trong lối sống đến công tác chuyên môn nghiệp vụ luôn luôn phải nỗ lực thực hiện phương châm “Nói đi đôi với làm”.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong đó có tấm gương về phong cách làm việc “Nói đi đôi với làm” của Người. Kiên quyết thực hành trong toàn Đảng phong cách nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm; kiên quyết không được để xảy ra tình trạng thất hứa với nhân dân dù là việc nhỏ nhất. Các cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải làm gương thực hiện. Thực hiện nghiêm yêu cầu về rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra: “Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân”. Mỗi đảng viên phải tự mình phấn đấu thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng viên làm bất kỳ việc gì cũng phải gương mẫu”.

Thứ ba, cùng với thực hành phương châm “Nói đi đôi với làm” thì phải đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đưa ra khỏi các cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ nói không đi đôi với làm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch của cán bộ, đảng viên trong phong cách làm việc nói chung, trong việc thực hành phương châm “Nói đi đôi với làm” nói riêng.Trong đánh giá, sử dụng cán bộ cán bộ thì “lấy hiệu quả thực tế của công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương, cơ sở; đổi mới cách ra nghị quyết, tăng cường tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Tiếp tục “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục, giảm bớt giấy tờ, hội họp; sâu sát thực tế, cơ sở; nói đi đôi với làm”.

Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy và toàn Đảng nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt những biện pháp trên là góp phần thiết thực thực hành phong cách làm việc Hồ Chí Minh. “Nói đi đôi với làm”; góp phần lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và trực tiếp góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

Nguồn: PGS. TS Trần Văn Phòng/Đại Đoàn Kết
Viện trưởng Viện Triết học – Học viện CT- HC Quốc gia Hồ Chí Minh

1. Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp. NXB Sự thật, Hà Nội, 1990, trang 64 – 65
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG, H. 2000, tập 5, tr.250
3. Sđd, tập 5, tr.552

baoangiang.com.vn

Nguyên tắc Phê bình và tự phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức, cán bộ. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó vì Đảng luôn luôn được xây dựng, tự đổi mới và tự chỉnh đốn theo tư tưởng Hồ Chí Minh để Đảng thật sự là một Đảng cách mạng chân chính như mong muốn của Người.

Một trong những tư tưởng có tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng của Bác là Tự phê bình và phê bình được thể hiện rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”. Theo Hồ Chí Minh đây là vũ khí sắc bén nhất để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh và là quy luật phát triển của Đảng. Người nhận thức sâu sắc rằng, tuy Đảng ta gồm những người có tài, có đức, phần đông là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất …, nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Người nói: “Đảng ta không phải ông thánh và cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó ở trong xã hội mà ra”. Từ đó, Người khẳng định: “Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm”, do vậy trong Đảng phải luôn luôn tự phê bình và phê bình, mà phê bình và tự phê bình “phải ráo riết”, “ triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt”. Cách phê bình cũng phải thành thật, giàu lòng nhân ái, khách quan. Thái độ phê bình phải có văn hoá, mang tính chất xây dựng chứ không phải nói xấu nhau. Những người bị phê bình thì phải vui vẻ nhìn nhận để sửa chữa. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.

Bản chất của “tự phê bình và phê bình” là hoạt động đấu tranh trong nội bộ Đảng để khắc phục sửa chữa những mặt, những khuynh hướng, những yếu tố tiêu cực lạc hậu trong tổ chức đảng và đảng viên; tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực để khuyến khích, biểu dương, phát triển. Nếu ví Đảng ta như một cơ thể sống, thì những khuyết nhược điểm là bệnh tật trong người và tự phê bình và phê bình là hoạt động “khám bệnh” và trị bệnh cho con người. Nhưng đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ, tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau, mà phải đấu tranh bằng phê bình và tự phê bình.

Tự phê bình theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là “cá nhân thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa và để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã vi phạm. Phê bình là thấy ai có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”.

Theo Người, có thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm thì mới phê bình người khác được chân thực và thẳng thắn. Mặt khác, trong thực tế, tự phê bình thường khó khăn hơn phê bình. Cần tự phê bình tốt để có thể phê bình tốt. Vì thế, Người thường đặt tự phê bình trước phê bình. Người nói: “Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không giấu diếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách nào mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa”. Bác cũng nói: “Tự phê bình và sửa chữa có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình mà muốn đánh thắng kẻ địch; tự mình không cải tạo được mình mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy, người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng là “luật”, là “quy luật”, là “vũ khí sắc bén” làm cho Đảng trong sạch vững mạnh. Trước hết, tự phê bình và phê bình là “luật” – ở chỗ, đó là một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong sinh hoạt Đảng nhằm không ngừng nâng cao tinh thần đoàn kết trong Đảng. Mọi tổ chức Đảng, đảng viên phải thấy đó là trách nhiệm của mình. Tự phê bình và phê bình là “quy luật” tồn tại và phát triển của Đảng; vì thông qua tự phê bình và phê bình, cán bộ, đảng viên mới thấy rõ yếu kém để khắc phục sửa chữa, thấy ưu điểm để phát huy. Tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén” vì qua đấu tranh phê phán những việc làm sai trái để làm trong sạch nội bộ Đảng. Mác, Ăngghen cho rằng tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của Đảng cách mạng. Lênin tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Nga, đã nói: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay đều bị tiêu vong do tự cao tự đại vì không biết cái gì đã tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ không dám nói lên nhược điểm của mình. Chúng ta không sợ nói lên nhược điểm của chúng ta; những nhược điểm đó chúng ta sẽ học được cách khắc phục…”.

Về mục đích của “tự phê bình và phê bình”, Bác Hồ viết: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn. Những người cách mạng cần phải kiên quyết thực hành tự phê bình, không thực hành tự phê bình thì không xứng đáng là người cách mạng. Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình”. Tự phê bình và phê bình cũng theo Bác Hồ, là cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Ðoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Đối tượng của “tự phê bình và phê bình” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cái cũ, cái tiêu cực, lỗi thời, cái không phù hợp với thời đại, cái sai trái trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ đảng viên.

Về phương pháp của “tự phê bình và phê bình”, Người chỉ rõ: “Tự phê bình là cá nhân cơ quan hoặc đoàn thể thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết để tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Yêu cầu các tổ chức Đảng và đảng viên phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, cấp trên phải tự phê bình trước cấp dưới và tổ chức tốt phê bình, tự phê bình từ dưới lên. Tự phê bình phải thẳng thắn, thật thà, trung thực trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đồng thời cần phải tránh việc lợi dụng phê bình để đả kích, vu cáo gây bè phái hay trù dập người phê bình thẳng thắn. Phê bình là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người, là thực hành dân chủ, do vậy người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang đúng mực, phê bình phải đúng với thực tiễn khách quan, không được đem ý chủ quan của mình để áp đặt cho người khác”.

Trước những ý kiến cho rằng, tiến hành tự phê bình và phê bình là vô hình trung vạch rõ khuyết điểm của Đảng, của Chính phủ, của mình cũng như đồng chí mình, và như vậy kẻ địch sẽ lợi dụng để phá hoại Đảng, Hồ Chí Minh lập luận: làm người khó ai tránh khỏi lỗi lầm, thiếu sót. Đảng ta là một tổ chức chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, tập hợp những chiến sĩ trung kiên, thông minh, dũng cảm…, nhưng Đảng cũng từ trong xã hội mà ra, không phải “trên trời rơi xuống” nên không tránh khỏi khuyết điểm, thiếu sót. Người chỉ ra nhiều lý do khách quan, chủ quan dẫn tới nhiều thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí sai lầm của cán bộ, đảng viên. Điều đó là lẽ bình thường, quan trọng là thái độ của những người cộng sản ra sao trước những lỗi lầm mắc phải. Nếu “sợ mất oai tín và thể diện”, không quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, đó là điều bất bình thường. Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Hồ Chí Minh cho rằng: khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình thì giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào là có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm, không chết “cũng la lết quả dưa ”. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà “nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”.

Đặt vấn đề như vậy, rõ ràng Hồ Chí Minh không “siêu nhân hoá” con người cán bộ, đảng viên mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và nêu quan điểm tự phê bình và phê bình chính là thang thuốc “xổ bệnh” rất có hiệu nghiệm để tẩy trừ những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ đảng viên, nhằm làm cho họ sống cao đẹp hơn, phục vụ cho nhân dân được nhiều hơn.

Để phê bình và tự phê bình đạt được kết quả mong muốn, theo Bác điều có ý nghĩa then chốt là phải “phê bình cho đúng”. Phê bình cho đúng chẳng những không làm giảm thể diện, uy tín của người bị phê bình, trái lại, còn làm cho sức mạnh, uy tín của Đảng và cán bộ đảng viên tăng lên. Muốn phê bình cho đúng, trước hết phải xác định đúng mục đích và đối tượng phê bình. Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân mình khi phê bình người khác không phải là soi mói, “bới lông tìm vết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, cần phải tránh triệt để hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. Người xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải phê người. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”. Người nhấn mạnh: Đối với cơ quan lãnh đạo cũng như đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể phải hết sức gương mẫu trong việc thực hiện tự phê bình và phê bình, tuyệt đối không được “phùng mang trợn mắt” làm thui chột tinh thần của đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh phê bình, tự phê bình.

Theo Bác, có thái độ đúng với những khuyết điểm, thiếu sót và tìm ra phương pháp phê bình thích hợp là điểm có ý nghĩa mấu chốt trong nâng cao hiệu quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người cũng nghiêm khắc lên án thái độ, cách xử lý không đúng đắn trước những khuyết điểm, thiếu sót của tổ chức đảng hay cán bộ, đảng viên. Khi có người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thái độ đúng của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không “đao to búa lớn”, vội vàng chụp mũ cho họ là “cơ hội chủ nghĩa” rồi đi đến cảnh cáo “khai trừ” một cách áp đặt. Muốn cho họ thành tâm sửa chữa, phải tiến hành giải thích rõ ràng, làm cho họ tự nhận thấy sai sót của mình để vui lòng sửa chữa. Để làm được điều đó, “phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”. Phê bình “khôn khéo” ở đây, theo Hồ Chí Minh, là phải đồng thời vạch rõ ưu điểm và khuyết điểm, tránh dùng những lời mỉa mai, chua cay đâm thọc, không được hữu khuynh “a dua”, “tâng bốc” mà phải phê, tự phê một cách “ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang thêm bớt”.

Sự “khôn khéo” còn thể hiện ở chỗ tiến trình tự phê bình và phê bình phải được đặt trong khuôn khổ của tổ chức, có sự lãnh đạo chặt chẽ. Lãnh đạo, chỉ huy phải khơi dậy được tinh thần dân chủ không chỉ trong Đảng mà cả trong quần chúng nhân dân. Làm như thế mới tránh được hiện tượng đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân dù có ý kiến cũng không dám nói, không dám đấu tranh phê bình. Hồ Chí Minh cho rằng: Họ không dám nói không phải họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ: nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là đằng khác. Do không dám nói ra nên họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản, sinh thói không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng, “ trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm” sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Người nêu bật kinh nghiệm: “cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết”.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phê bình phải được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Làm được như vậy, theo Người: các sai lầm khuyết điểm sẽ được rửa sạch ngay khi nó mới phôi thai. Còn “nếu để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hăng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”, như thế là không thực hiện đúng mục đích của tự phê bình, phê bình, không vì sự tiến bộ mà còn mất dần đảng viên, cán bộ.

Những ý kiến về phê bình cho đúng của Hồ Chí Minh vừa nói lên tính Đảng, vừa nói lên tính nhân văn, văn hoá của người phê bình. Muốn sửa chữa sai lầm khuyết điểm đi đến sự tiến bộ thì phải dựa vào lòng tự giác của đảng viên, cán bộ và dùng biện pháp giải thích, thuyết phục. Điều đó là hết sức cần thiết nhưng như thế không có nghĩa là không giải quyết bằng con đường tổ chức. Người chỉ ra lỗi lầm cũng có “việc nhỏ, việc to”, nếu không dùng biện pháp xử phạt thì kỷ luật của Đảng cũng trở nên lỏng lẻo, và điều đó cũng là sự mở đường cho bọn cố ý dễ dàng phá hoại Đảng ta. Do vậy, để tự phê bình và phê bình được tăng thêm hiệu quả thì phải kết hợp chặt chẽ với biện pháp tổ chức, soi xét kỹ lưỡng từng trường hợp để có hình thức xử lý thích hợp.

Là một chiến sĩ cộng sản đã từng trải, dày dạn kinh nghiệm, với nhãn quan chính trị hết sức nhạy bén, Hồ Chí Minh sớm nhìn thấu được nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm. Người đã chỉ ra một cách cụ thể và đồng thời bốc trúng thang thuốc “xổ bệnh” có hiệu quả cao là tiến hành phê bình trong Đảng. Phê bình cho đúng được Hồ Chí Minh luận giải trong tất cả các đề mục của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đều toát lên tư tưởng của Người về tình yêu thương con người, vì sự tiến bộ của mỗi đảng viên, cán bộ. Người cỗ vũ và chỉ rõ cho mỗi đảng viên, cán bộ con đường tự giải thoát và giúp nhau giải thoát khỏi mọi chứng bệnh, vượt lên mọi cám dỗ thấp hèn, thực sự là con người mới xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động lớn: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để cuộc vận động đạt được mục tiêu đề ra thì giải pháp hàng đầu là tiến hành phê bình, tự phê bình mà điểm then chốt của nó là phải phê bình cho đúng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách đây hơn 60 năm ở trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Phê bình cho đúng cũng chính là một biểu hiện của sự thấm sâu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong mỗi chúng ta.

Trong thực tế hiện nay, một số tổ chức Đảng xuất hiện những biểu hiện lệch lạc trong phương pháp tự phê bình và phê bình, như sau: Tự phê bình thì ít hoặc không chịu tự phê bình nhưng phê bình thì nhiều, làm ra vẻ ta đây hăng hái đấu tranh chống tiêu cực; phê bình vu vơ, phê bình không có địa chỉ rõ ràng; phê bình theo cách đặt điều, theo kiểu lợi dụng phê bình để bôi xấu nhau, để hạ bệ người mình không ưa, nhất là biết người đó sẽ được đề bạt. Trong các đợt sinh hoạt Ðảng tự phê bình và phê bình, thường có thái độ “giữ mình”, ngồi im, nếu thấy đồng chí phê bình mình thì giả vờ thành khẩn nhận cho qua chuyện; giả vờ thành khẩn nhận và hứa sửa chữa khuyết điểm khi được tập thể phê bình, nhưng thực chất nhận và hứa cho qua chuyện. Hiện tượng hữu khuynh, né tránh, kém tính chiến đấu của không ít cán bộ, đảng viên, cá biệt có tình trạng tranh thủ phê bình để tâng bốc, nịnh bợ cấp trên… đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tự phê bình và phê bình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi hiện tượng đó là sự giấu diếm khuyết điểm, giống như người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc, trong khi những người khác biết rõ nhưng cũng làm ngơ. Hữu khuynh né tránh, thực chất là một biến tướng của chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng cơ hội trong tình hình mới và là nguyên nhân của hiện tượng độc đoán, chuyên quyền, định kiến, trù dập người phê bình của những cán bộ có chức, có quyền… làm cho cấp dưới và quần chúng “Dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”. Tự phê bình và phê bình vốn đã mang tính chiến đấu, ngày nay tính chiến đấu đó càng đòi hỏi cao hơn. Không thể dung nạp hiện tượng độc đoán, gia trưởng, hữu khuynh, né tránh của cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Người nói: “Cán bộ nào không dám công khai nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”.

Mỗi thời kỳ phát triển của cách mạng đặt ra những nhiệm vụ chính trị cụ thể và cũng đặt ra những yêu cầu mới trong nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu và nhiệm vụ lãnh đạo công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội hiện nay là một sự nghiệp to lớn nhằm củng cố vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đảng không thể hoàn thành sự nghiệp lãnh đạo đầy khó khăn đó nếu không chú trọng xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt, nếu Đảng không thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với những thành công và ưu điểm, Đảng cũng còn bộc bạch những khuyết điểm, yếu kém, những biểu hiện chưa ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, đổi mới và chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và cũng là đòi hỏi tự thân của Đảng. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó đặc biệt là coi trọng nguyên tắc Tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ thường xuyên và tất yếu trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh./.

AD

soctrang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách của một vĩ nhân không chỉ ở tầm dân tộc, mà ở tầm thời đại, tầm nhân loại. Chính vì thế, Người đã được thế giới tôn vinh là danh nhân văn hóa. Trong thế giới biến động như hiện nay thì nhân cách trong sáng, thanh tao của Hồ Chí Minh lại càng nổi cao vời vợi.

Những năm 20 của thế kỷ XX (1925 – 1927) khi mở lớp tập huấn cho cán bộ đầu tiên – những hạt giống cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu bằng bài nói về Tư cách một người cách mệnh. Và cả sau này, khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, thì với Người, chủ đề nổi bật trong giáo dục, rèn luyện cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, quân đội vẫn là vấn đề đạo đức cách mạng. Từ “Thư gửi các UBND các bộ, tỉnh, huyện và làng” (tháng 10/1945), “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969) cho đến Di chúc, Người đã ân cần nghiêm khắc nhắc nhở “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm nguy cơ tha hóa của người cán bộ, đảng viên khi ở vào vị trí quyền lực. Người thường xuyên nhấn mạnh: Cái tạo nên sức mạnh của Đảng là ở nơi mỗi cán bộ đảng viên biết thực hiện lời nói đi đôi với việc làm, tự mình nêu gương trước từ việc lớn đến việc nhỏ, lúc gian khổ khó khăn cũng như khi thành đạt. Trong lần nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa thứ 5. Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác nói:

“…Mình phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tì tì thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được?”.

Những ai đang dầm mình trong đam mê quyền lực, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, bỏ rơi lý tưởng cách mạng hoặc lý tưởng chỉ còn trên đầu lưỡi, che đậy cho tham vọng thấp hèn, tội lỗi hãy nhớ lại cuộc sống của Bác, lời dạy của Bác về tư cách đạo đức của người cách mạng để suy ngẫm, soi xét mình, tăng thêm nghị lực cho cái thiện chiến thắng cái ác trong mỗi con người.

Tham ô, buôn lậu đã trở thành quốc nạn không chỉ gây nên thiệt hại vô cùng to lớn về kinh tế, mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào Đảng, Nhà nước. Bác chỉ rõ: “Tham ô là trộm cướp… Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám… Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận…

Tham ô, lãng phí, quan liêu là một “thứ giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình…

Năm 1962, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, Bác lại nói: “Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư…

Nếu nhà ai bị mất cắp, mất trộm, thì hô hoán lên và cả xóm, cả làng đuổi bắt kẻ trộm. Khi của công bị mất cắp, mất trộm thì mọi người đều có trách nhiệm vạch mặt kẻ gian và đưa nó ra trước pháp luật, vì mọi người đều có nghĩa vụ giữ gìn của công… Tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân…”.

Bác chỉ rõ: kẻ địch gồm có ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm.

Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to .. Loại thứ ba là chủ nghĩa cá nhân”.

Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Hồ Chí Minh cho rằng, chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lợi ích cá nhân”, nhưng trong chủ nghĩa xã hội thì “mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể…”.

Chúng ta đang nghiên cứu để hiểu sâu hơn di sản Tư tưởng, Đạo đức Hồ Chí Minh nhằm kế thừa, vận dụng và phát triển vào hoàn cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện đổi mới và mở cửa… Có thế nói, nhiều người trong chúng ta, kể cả một số cán bộ, đảng viên và người có chức, có quyền, đã thực hiện không tốt, thậm chí lãng quên nhiều bài học vỡ lòng cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ những ngày đầu sau khi cách mạng Tháng Tám thành công và không ngừng nhắc lại cho đến khi Người sắp qua đời. Học lại và nhất là thực hiện cho tốt những bài học ấy là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của tất cả chúng ta từ các đồng chí Trung ương đến mọi người dân bình thường, để khẩu hiệu “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” không phải là một câu sáo rỗng.

(Theo tạp chí xây dựng Đảng)

sites.google.com

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Đoàn người biểu tình ngày 19-8-1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã có chủ trương, đường lối đúng đắn, vạch ra con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi từng bước trong hai cuộc tổng diễn tập đầu tiên 1930-1931, 1936-1939. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân tin tưởng, đi theo tiếng gọi của Đảng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, bền bỉ, anh dũng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó đặc biệt là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã có chủ trương, đường lối đúng đắn, vạch ra con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi từng bước trong hai cuộc tổng diễn tập đầu tiên 1930-1931, 1936-1939. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân tin tưởng, đi theo tiếng gọi của Đảng.

Đầu năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Theo dõi sát diễn biến của chiến tranh, Đảng ta nhận định: “Nếu cuộc chiến tranh thế giới lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”(2).

Nhận định của Đảng dựa trên cơ sở phân tích khoa học và lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin một cách biện chứng, khách quan, toàn diện, thể hiện tư duy nhạy bén của Đảng về quy luật vận động tất yếu: Có áp bức, có đấu tranh. Nhận định này chứng minh tầm vóc, tư duy chiến lược của Đảng và Bác Hồ sớm nhận thấy quy luật vận động cách mạng, dự báo thời cơ cách mạng, nhanh chóng triển khai, thực hiện nhiệm vụ để thúc đẩy cách mạng từng bước phát triển. Tức là, không thụ động chờ thời cơ, mà sáng tạo, tích cực, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng, từng bước tạo thế, lực và thời, thúc đẩy thời cơ nhanh chóng chín muồi.

Nắm vững thực tế và yêu cầu đòi hỏi bức thiết của lịch sử, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã liên tiếp họp Hội nghị Trung ương 6 (11-1939), 7 (11-1940), 8 (5-1941). Nội dung của 3 Hội nghị đã đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xác định kẻ thù trước mắt của cách mạng Việt Nam là đế quốc và tay sai. Giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Đặt và giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi mỗi nước Đông Dương. Chuyển đổi hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh từ công khai hợp pháp, nửa hợp pháp sang bí mật bất hợp pháp.

Nghị quyết Trung ương 8 khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(4); nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”(5). Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành: Cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với khẩu hiệu: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Đầu năm 1945, phát xít Đức đang bên bờ diệt vong, phát xít Nhật lâm vào tình thế khốn quẫn. Đúng như dự báo của Đảng, mâu thuẫn Nhật – Pháp ở Đông Dương đã lên tới đỉnh điểm giống như “cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ”. Ngay đêm mồng 9-3, khi Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị và đưa ra Văn kiện lịch sử vô cùng quan trọng, đó là Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Nội dung Chỉ thị xác định: Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là phát xít Nhật, Việt gian tay sai và chủ trương thay khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu“đánh đuổi phát xít Nhật”. Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước và làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thực hiện khởi nghĩa từng phần ở những địa phương có điều kiện.

Với quyết tâm phải giành cho được độc lập, tự do, Đảng ta chỉ đạo tích cực xây dựng lực lượng cách mạng, chủ động đón thời cơ, nổi dậy giành chính quyền, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Một cao trào cách mạng phát triển rộng rãi, sôi nổi, phong phú về hình thức và nội dung như: Phong trào phá kho thóc của Nhật cứu đói cho dân, phong trào khởi nghĩa từng phần diễn ra ở nhiều nơi và giải phóng hàng loạt các thị xã, châu, huyện ở các tỉnh phía Bắc… Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Tiếp đó, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) ra nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, thống nhất các lực lượng quân sự thành Việt Nam giải phóng quân. Như vậy, những chủ trương đấu tranh của Đảng trong cao trào kháng Nhật, cứu nước là bước chuẩn bị quan trọng để cả nước sẵn sàng tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.

Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng đồng minh. Trong nước, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời cơ thắng lợi đã tới! Bác Hồ đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Ngày 14-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định thời cơ đã đến, quyết định tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào Đông Dương, đêm 13-8-1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền,

Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Không khí Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Cả dân tộc muôn người như một, vùng lên. Hành động vùng dậy, lay trời chuyển đất của hàng triệu quần chúng đã tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào các cơ quan đầu não của bọn Việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của phát xít Nhật và các thế lực thù địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành chính quyền đã thành công rực rỡ trong cả nước vào ngày 28-8-1945.

Như vậy, chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu bước ngoặc lịch sử vĩ đại, là thắng lợi vô cùng to lớn trên con đường cứu nước và giải phóng dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn khi bắt gặp Chủ nghĩa Mác – Lênin. Thắng lợi này đã chứng tỏ nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(7).

Trong quá trình đấu tranh giành lại chủ quyền dân tộc, non sông gấm vóc, Cách mạng Tháng Tám với những bài học quý về nghệ thuật tạo thế và lực, về tập hợp lực lượng, nhất là nghệ thuật chớp thời cơ đã trở thành biểu tượng sáng ngời của ý chí quật cường của dân tộc ta, thôi thúc cả dân tộc đồng lòng, chung sức, anh dũng, bền bỉ đấu tranh, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mốc son chói lọi ấy đã, đang và luôn luôn tỏa sáng, thôi thúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tạo ra thế và lực mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

______

(1). Văn kiện Đảng, toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 2, tr.2.
(2). Sách đã dẫn, tập 7, tr.100.
(3). Sđd, tập 7, tr.113.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 1, tr.466.
(5), (6). Sđd, tập 3, tr.554.
(7). Sđd, tập 6, tr.159.

Phạm Thị Nhung, Trần Trung Nhàn
Trường Sỹ quan Lục quân II

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với tuổi trẻ và mùa Xuân

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa. Ảnh tư liệu

Trong cuộc sống hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam. Qua từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Bác luôn đề ra phương hướng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và phát huy sức mạnh của tuổi trẻ cũng như củng cố xây dựng các tổ chức Đoàn, Hội.

Ngay sau khi đất nước độc lập, trong thư gửi học sinh cả nước ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác Hồ đã khẳng định: “… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…” và trong cái Tết độc lập đầu tiên, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Bác viết: “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội…”, ngày 17 tháng 8 năm 1947 trong thư gửi thanh niên, một lần nữa Bác Hồ lại khẳng định: “… Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó…”

Là người sáng lập, theo dõi, tổ chức và rèn luyện thanh niên ngay từ những ngày đầu thành lập, cho đến khi tổ chức Đoàn TNCS trở thành đội hậu bị và cánh tay đắc lực của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại hòa bình độc lập cho Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bác Hồ vô cùng xúc động nói trong lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn thanh niên lao động Việt Nam năm 1960: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”. Ngày 18-1-1963 trong bài nói chuyện với cán bộ nhân dân Kiến An – Hải Phòng, Bác nhấn mạnh: “Đảng cần phải giúp đỡ Đoàn thanh niên phát triển tốt, đồng thời phải chọn những đồng chí Đoàn viên kinh qua thử thách va đã đủ điều kiện đưa họ vào Đảng”.

Rõ ràng, trong tư tưởng của Bác Hồ, tư tưởng vận động thanh niên là một kho tàng về tư duy chính trị, mà quan điểm lý luận luôn được phát triển phù hợp với thực tế khách quan mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, có tác dụng định hướng cho thế hệ trẻ.

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Bác đã để lại lời căn dặn trong bản di chúc: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Bồi dưỡng cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết…”.

Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đặt trọn niềm tin vào thế hệ trẻ. Những đóng góp của thanh niên vào thành quả của những năm đổi mới đã khẳng định quyết tâm của thế hệ trẻ Việt Nam là ra sức lao động, học tập, rèn luyện và tuyệt đối trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng, quyết tâm đưa nước ta trở thành nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh như mong muốn của Bác lúc sinh thời.

Bùi Huy – Theo website Tuổi trẻ Đà Nẵng
tinhdoanbg (Theo: tieuhocdanghai.com)

tinhdoanbg.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

CPV- Bằng đường lối chính trị đúng đắn, bằng mục tiêu chính trị đúng đắn với sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Hồ Chí Minh đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.

Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước hết là việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Hai là, xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Ngay khi Đảng ra đời, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Mặt trận chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Ba là, kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “Vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

ĐTH – ĐQ

sites.google.com

Tuyên ngôn độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

1-Cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc

Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa của Việt Nam.

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc. Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ . Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, cách mạng Tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn lập quốc, tuyên ngôn dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn độc lập mang tinh thần Cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng Tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn độc lập và Tuyên ngôn độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Cách Mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã. Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất. Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác.

2- Cuộc cách mạng hướng đích tới các giá trị và mục tiêu phát triển

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta không chỉ là một cuộc cách mạng giải phóng mà còn là một cuộc cách mạng phát triển.

Lập nên chính quyền cách mạng, làm lọt lòng chính thể dân chủ cộng hòa và nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đó mới chỉ là bước khởi đầu của sự nghiệp dựng xây sáng tạo. Cách mạng Tháng Tám còn tiếp tục biết bao những việc lớn lao khác ngay sau ngày độc lập, tập trung mọi nỗ lực của quốc dân đồng bào trên tư cách những người chủ của xã hội mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quản lý của nhà nước, bắt tay ngay vào việc giải quyết những công việc cấp bách. Đó là chống giặc đói, chống giặc dốt, xây dựng chính thể, soạn thảo Hiến pháp, tổng tuyển cử tự do bầu ra quốc hội, gây dựng đời sống văn hóa mới, cải tạo gột rửa những tàn tích thực dân phong kiến, đoàn kết lương giáo, thực hiện tự do tôn giáo và tín ngưỡng, thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, hữu nghị, hợp tác, là bạn của tất cả các nước dân chủ. Chương trình hành động ấy của Chính phủ và nhân dân ta dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ rệt tính thiết thực, hữu ích, chủ động và sáng tạo của một sự nghiệp xây dựng xã hội dân chủ vì dân . Điều ấy càng cho thấy tính chất phát triển của cuộc cách mạng với sức mạnh và nền tảng dân là gốc của nước, cách mạng là sự nghiệp sáng tạo của quần chúng nhân dân .

Trong những ngày đầu dựng nước, Hồ Chí Minh đã đặc biệt nhấn mạnh: chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng những quyền tự do dân chủ mà họ xứng đáng được hưởng. Hơn nữa, dân đã có quyền làm chủ thì dân cũng có nghĩa vụ của người chủ.

Cách mạng Tháng Tám đã nêu cao chủ nghĩa yêu nước chân chính của dân tộc, đã cố kết và phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc để giành độc lập tự do, nhất là ở những thời điểm bước ngoặt hệ trọng khi toàn dân, toàn quốc phải đứng lên, đánh bại dã tâm xâm lược, cướp nước của đế quốc thực dân.

Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đánh bại chủ nghĩa thực dân, cả cũ lẫn mới, hoàn thành sứ mệnh giải phóng đồng thời từng bước xây dựng kiến thiết đất nước trong suốt cuộc hành trình hơn 6 thập kỷ qua – Đó là sự vận động không ngừng không nghỉ của Cách mạng Tháng Tám, của dân tộc Việt Nam trong tiến trình phát triển cách mạng.

Giải phóng để phát triển, đổi mới để phát triển, và giờ đây Việt Nam đang nỗ lực hướng tới phát triển bền vững, vượt qua những điểm nghẽn của phát triển bằng những đột phá, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại, đẩy mạnh cải cách hành chính và tư pháp, xây dựng xã hội dân chủ với Nhà nước pháp quyền, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng như văn kiện Đại hội XI đã chỉ ra – đó là sự phát triển hợp lôgíc của tinh thần Cách mạng Tháng Tám từ lịch sử đến hiện tại.

3- Sứ mệnh và trọng trách của Đảng, sức mạnh tự bảo vệ của cách mạng

Cách mạng Tháng Tám, năm 1945 do Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Một Đảng mới 15 tuổi, với số lượng đảng viên chưa đầy 5.000 người đã có thể lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước. Điều đó nói lên sự trưởng thành mau chóng của Đảng, uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của một Đảng cách mạng chân chính với đường lối chính trị đúng đắn, vận dụng sáng tạo khoa học và nghệ thuật của đấu tranh cách mạng để nắm bắt đúng thời cơ, hành động mau lẹ và sáng suốt, nhất là biết phát huy cao độ sức mạnh của truyền thống yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh đã từng tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Quy luật ấy của đấu tranh cách mạng cũng là quy luật của muôn đời, được Đảng ta và Hồ Chí Minh vận dụng và phát huy trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới khi tình thế và thời cơ cách mạng đã xuất hiện, đã chín muồi trong những tháng năm lịch sử bên thềm của cách mạng 1941-1945. Nhớ lại lịch sử 70 năm về trước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Pắc bó (Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở trong nước, đưa ra quyết định đúng lúc về chuyển hướng cách mạng, tập trung cao độ, toàn lực cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do.

Nắm vững thời cơ, nhận rõ xu thế, chủ động xây dựng lực lượng, kết hợp tuyên truyền vận động chính trị với đấu tranh vũ trang, bằng sức mạnh của toàn dân, sức đoàn kết của muôn dân để tạo nên sức mạnh và sự bền vững của cách mạng, đó là bí quyết đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Đảng lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám bởi trước hết ở phương hướng chính trị sáng suốt, đúng đắn, kết hợp được trí tuệ, mưu lược, lòng dũng cảm, đức hy sinh, quyết giành độc lập tự do cho Tổ quốc ở thời điểm bước ngoặt quyết định số phận của cả dân tộc.

Chính ở những năm tháng đang vần vụ cơn giông bão sắp tới gần của cách mạng, giữa núi rừng Việt Bắc, Hồ Chí Minh căn dặn: “Bây giờ thời cơ cần kíp lắm rồi, dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải quyết tâm giành cho được độc lập”. Và tại căn cứ địa cách mạng, Hội nghị quốc dân Tân Trào đã vang lên lời hiệu triệu toàn dân, toàn quốc đồng bào vùng dậy, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Đó là lúc giờ cứu nước thiêng liêng đã điểm, là lúc lời hịch cứu nước ban ra, kết tinh hồn thiêng sông núi, vang vọng truyền thống tự ngàn xưa của ông cha cổ vũ toàn thể quốc dân đồng bào tiến lên dưới lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Thời – Thế và Lực đã hội đủ. Đảng ta, trong sức mạnh của dân tộc, của nhân dân làm nên ngọn nguồn sức mạnh của Đảng, với tinh thần Thời đại, có nguồn sáng dẫn dắt bởi Mác-Lênin – Hồ Chí Minh cùng với đức quả cảm hy sinh vì dân, vì nước đã đảm trách xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà dân tộc giao phó, ủy thác trong cuộc cách mạng này.

Mười lăm năm chuẩn bị, trải qua bao thử thách, hy sinh, bao anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã ngã xuống, lấy máu đào mà nhuộm thắm lá cờ Tổ quốc để có chiến thắng huy hoàng trong cách mạng, một cuộc cách mạng nổ ra đồng loạt, từ miền ngược đến miền xuôi, từ nông thôn đồng bằng đến đô thị trong khắp mọi vùng miền của Tổ quốc. 15 năm chuẩn bị để khởi sự thắng lợi trong 15 ngày, ít đổ máu nhất, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong toàn dân, toàn quân, chính trị trọng hơn quân sự, bởi đây là chiến tranh nhân dân, là cách mạng thấm nhuần tính chất dân tộc – nhân dân và dân chủ . Đảng làm tròn trọng trách lịch sử trong lãnh đạo cuộc khởi nghĩa toàn dân, cung cấp một mẫu mực kinh điển trong lịch sử đấu tranh cách mạng với mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và dân tộc.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta đã ở vào vị thế của một Đảng cầm quyền khi mới 15 tuổi. 81 năm đã trôi qua trong lịch sử quang vinh của Đảng gắn liền với những bước phát triển rực rỡ nhất của truyền thống dân tộc trong Thời đại Hồ Chí Minh. Đảng đã cầm quyền 66 năm nay, cũng là 66 năm lịch sử Cách mạng Tháng Tám. Đội ngũ Đảng ta giờ đây với hơn 3,7 triệu đảng viên, đông gấp 760 lần so với hồi Cách mạng Tháng Tám. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Bác Hồ đã đánh thắng hai đế quốc to, đã hoàn thành vẻ vang cách mạng giải phóng, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trong thế giới nhân loại. Đất nước ta đã từng bước đổi thay, trong lao động hòa bình và sáng tạo, nhân dân ta đã xây dựng đất nước ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như khát vọng, tâm nguyện của Bác Hồ. Đổi mới đã diễn ra vừa đúng 25 năm, 1/4 thế kỷ, đã đưa nước ta vượt thoát ra khỏi khủng hoảng và ra khỏi tình trạng kém phát triển, đã có mặt trong danh mục các nước có thu nhập trung bình. Đại hội XI của Đảng vừa qua đã đưa ra những quyết sách chiến lược, phấn đấu tạo nền tảng để đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu trên con đường phát triển nhanh và bền vững với ba đột phá lớn về thể chế, hạ tầng kỹ thuật và chất lượng nguồn nhân lực, quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ – đó là một trong những mối quan hệ tổng quát, cơ bản và chiến lược, thể hiện sâu sắc vai trò, trách nhiệm của Đảng, chức năng của Nhà nước và địa vị người chủ của nhân dân. Thực hiện thắng lợi các mục tiêu của đổi mới, của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó cũng là thực hiện những mục tiêu, lý tưởng và giá trị mà cuộc Cách mạng Tháng Tám 66 năm về trước đã sinh thành, đã tạo ra hiệu ứng xã hội rộng lớn, lâu dài trong đời sống của đất nước – dân tộc – con người Việt Nam hôm nay và mai sau, với tầm vóc của một cuộc cách mạng phát triển, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội .

Thành tựu to lớn đã đạt được, cơ hội ngàn vàng cho phát triển đã mở ra và chúng ta đã đón kịp. Song khuyết điểm, hạn chế, yếu kém cũng không ít, thách thức nguy cơ trên con đường phát triển cũng không kém phần nghiệt ngã. Âm hưởng lịch sử của Cách mạng Tháng Tám vẫn đang thúc giục chúng ta trong mọi việc lớn, nhỏ hàng ngày. Ý thức rõ trọng trách đối với dân tộc, Đảng ta xác định xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh là then chốt, đặt xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền đủ năng lực, trí tuệ, bản lĩnh và đạo đức để dẫn dắt toàn dân tộc vững bước đi tới tương lai là nhiệm vụ hàng đầu trong những nhiệm vụ trọng yếu của nhiệm kỳ Đại hội XI. Di huấn của Lênin, cách mạng phải có sức mạnh tự bảo vệ và Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng chân chính cách mạng, là đạo đức, là văn minh, ra sức tu dưỡng đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân đang tiếp tục nhắc nhở, hối thúc chúng ta, thường trực trong suy nghĩ và hành động của Đảng, của dân. Sinh thời Bác căn dặn chúng ta, làm cách mạng để đem lại độc lập tự do hạnh phúc cho dân. Phải làm cho dân tin tưởng, dân yêu mến, dân ủng hộ, dân giúp đỡ và dân bảo vệ. Đó là sức mạnh tự bảo vệ tốt nhất của cách mạng, của chế độ và của Đảng cầm quyền vào lúc này. Phấn đấu làm được như vậy là cách tốt nhất, thiết thực nhất và cũng hệ trọng nhất đối với Đảng và nhân dân ta trong mỗi dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 trên Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

GS.TS Hoàng Chí Bảo

xaydungdang.org.vn

Bên Bác – “Lòng con trong sáng hơn”

Thiếu úy chuyên nghiệp Nguyễn Huy Công - đại diện tiêu biểu phong trào “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”

Ngày nối ngày, được phục vụ nhân dân và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác, dự Lễ chào cờ và tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Đoàn 275, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mỗi người, dù trực tiếp đứng gác tiêu binh danh dự, hay canh phòng bảo vệ mục tiêu luôn nỗ lực hết mình, thể hiện sự tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự đối với từng đoàn khách để Lăng Bác luôn là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào trong nước, bầu bạn quốc tế. Thiếu úy chuyên nghiệp Nguyễn Huy Công là một trong những người lính trẻ mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người lính cận vệ bên Lăng Bác.

Tháng 6 năm 2007, tốt nghiệp loại giỏi Trường Trung cấp Trinh sát của Tổng cục II, Nguyễn Huy Công đã được Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn về công tác tại đơn vị. Anh tâm sự: cầm Quyết định điều động trên tay nhưng mình vẫn chưa tin đó là sự thật. Suốt tuổi thơ cắp sách đến trường và nhất là từ khi trở thành người chiến sỹ đến nay, tôi chỉ ước ao được một lần về Thủ đô Hà Nội để vào Lăng viếng Bác Hồ mà chưa toại nguyện. Bây giờ được về làm người chiến sỹ ngày đêm canh giấc ngủ của Người, còn niềm vui sướng nào bằng?. Tôi tự hứa với lòng mình rằng: Bên Bác – “lòng con trong sáng hơn”.

Bước vào môi trường công tác mới, Công không tránh khỏi những bỡ ngỡ. Đơn vị đóng quân giữa Thủ đô ngàn năm văn hiến, cảnh vật, môi trường, nơi sinh hoạt, học tập đều khác xa so với Đồn Biên phòng nơi anh từng công tác trước đây. Trên hết, yêu cầu nghiệp vụ của đơn vị làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ ở Lăng Bác phải “nghiêm trang, chuẩn mực, tinh thông, nhạy bén”. Mọi cán bộ, nhân viên, chiến sỹ mới về đều phải trải qua một thời gian tập huấn nghiệp vụ. Là học viên giỏi của Trường Trung cấp Trinh sát, nhưng nhìn những động tác võ thuật “điêu luyện” của các đồng chí trong Đội Trinh sát thể hiện, mà Công thật khâm phục: “Liệu mình tập luyện đến bao giờ mới được như anh em ”. Nhưng ngày, đêm “Khổ luyện thành tài”, kết thúc khóa tập huấn, Công được đánh giá đạt kết quả xuất sắc và được điều động về làm nhiệm vụ gác thường trực mục tiêu T22 của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ca gác đầu tiên phục vụ Đoàn khách vào tham quan công trình, Công đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vừa về đơn vị, thật bất ngờ Công nhận được thư của người cha ở quê nhà Hồng Sơn, Đô Lương, Nghệ An gửi ra. Đến bây giờ Công vẫn luôn khắc ghi lời cha dặn: “Về công tác tại Lăng Bác là một vinh dự thật đặc biệt không chỉ của con, của gia đình mình, mà cả quê hương ta đấy. Con phải cố gắng nhiều để không phụ lòng tin của các anh chỉ huy đơn vị và bà con quê mình, con nhé…”.

Sau thời gian ngắn vừa làm, vừa tích luỹ kinh nghiệm, Công đã mạnh dạn trao đổi, bàn bạc với anh em trong Tiểu đội, thống nhất đề nghị với Chỉ huy Đội đăng ký vọng gác T22 là “Vọng gác thanh niên” và Công là người đầu tiên đăng ký mọi ca gác của mình đều “kiểu mẫu”. Lời nói đi đôi với việc làm, những ca gác của Công dẫu trưa hè nóng như đổ lửa hay những đêm đông mưa phùn gió bấc, thời tiết giá rét như “cắt da, cắt thịt”, Công vẫn chỉnh tề trong bộ lễ phục, trang nghiêm đứng gác, duy trì, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, nhanh chóng, chính xác người, hàng hóa ra vào mục tiêu, khu vực đảm nhiệm. Những khi anh em trong Tiểu đội ốm đau, thiếu vắng, Công xung phong gác thêm ca giúp đỡ đồng đội. Những trường hợp ra vào công trình sai quy định, đều được Công nghiêm túc chấn chỉnh, nhắc nhở. Chính vì vậy, gần 2000 ca gác trôi qua, nhưng đối với Công chưa một lần để xảy ra sai sót.

Trưởng thành từ thực tiễn, Công được bổ nhiệm cán bộ Tiểu đội. Anh luôn quan tâm giáo dục, động viên, giúp đỡ mọi người. Bằng hành động gương mẫu của mình, Công đã giúp đỡ nhiều chiến sỹ trong Tiểu đội, Trung đội sửa chữa khuyết điểm cùng nhau tiến bộ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tiểu đội do Công phụ trách 2 năm liền (2008, 2009) không có trường hợp vi phạm khuyết điểm để cấp trên phải phê bình, nhắc nhở. Mục tiêu canh gác T22 luôn dẫn đầu trong toàn Đoàn 275 về tính trang nghiêm, mẫu mực, tinh thông, nhạy bén.

Năm 2008, 2009, Công được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng Tiểu đội nuôi quân trong thời gian làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sỹ mới tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội. Đây là nhiệm vụ mới, nhưng trách nhiệm đặt lên hàng đầu, Công đã đặt mình vào cương vị “người nội trợ”, “anh nuôi” trong một gia đình lớn để lo toan việc ăn, việc ở cho đơn vị, coi cán bộ và chiến sỹ mới trong Đội huấn luyện như những “người anh”, “người em” ruột thịt của mình để chăm sóc, giúp đỡ. Công đã tự học hỏi kinh nghiệm nấu, chế biến các món ăn vừa đảm bảo tiêu chuẩn, định lượng, dinh dưỡng phục vụ bộ đội luyện tập vất vả. Sau mỗi bữa ăn, Công lại kiểm tra rút kinh nghiệm. Chỉ khi nào nhìn bộ đội ăn hết khẩu phần, nghe thấy chiến sỹ nói ăn ngon miệng, Công mới yên tâm. Và 2 khoá liền Công được tặng Giấy khen về hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Không chỉ là một cán bộ Tiểu đội gương mẫu, Công còn là thành viên Tổ võ thuật và là một “Cây sáng kiến” của đơn vị. Với tính thông minh, khéo tay và cùng với sự say mê nhiệt tình trong công việc, Công đã thiết kế mô hình bia tập bắn AK bài 1 rút gọn rất hiệu quả. Từ mục tiêu bia số 4, số 7, số 8 với cự ly bắn từ 100, 150, 200 m, Công đã thu nhỏ kích thước bia và cự ly bắn theo tỷ lệ 1/2, để phù hợp với địa điểm tập luyện của đơn vị. Chính vì vậy, kết quả bắn súng của Đội Trinh sát đặc nhiệm 3 năm trở lại đây đều cao hơn hẳn so với các đơn vị khác. Sáng kiến của Công đã được các đơn vị áp dụng và là mô hình “bia bắn rút gọn” được giới thiệu là sáng kiến hay, thiết thực tại Đại hội Thi đua Quyết thắng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng vừa qua. Phát huy thành tích Chiến sỹ thi đua năm 2007 ở Trường Trung cấp Trinh sát, hai năm 2008, 2009, Nguyễn Huy Công liên tục được công nhận là chiến sĩ thi đua cơ sở và được Bộ Tư lệnh đề nghị trên xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quân.

Vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn vừa là Phó Bí thư chi đoàn, Công tích cực tham gia các hoạt động phong trào Đoàn thanh niên của đơn vị, tích cực đề xuất và trực tiếp tổ chức sôi nổi phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao. Đặc biệt, Công là “chủ bút” của những “công trình” báo tường rất công phu và đẹp mắt. Đó là những tác phẩm nghệ thuật, luôn được giải nhất trong các lần Hội thi Báo tường của Đoàn cơ sở 275. Với những thành tích đó, Nguyễn Huy Công đã vinh dự được bình chọn là đại biểu đại diện cho thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dự Lễ tuyên dương “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ ” cấp toàn quân tổ chức vào dịp kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Suy nghĩ về tương lai của mình, Công tâm sự: “Những thành tích vừa qua luôn gắn với sự động viên, giúp đỡ của đơn vị, của gia đình. Tôi mong muốn được đi học đào tạo cơ bản để trở thành người cán bộ chính trị, tiếp tục phục vụ và cống hiến nhiều hơn cho đơn vị”.

Ngọc Hảo
tinhdoanbg(Theo: bqllang.gov.vn)

tinhdoanbg.gov.vn

Thế giới nói về Người

“… Chúng ta được tiếp xúc với một người. Người ấy là một phần lịch sử của châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta không chỉ được tăng thêm về sự hiểu biết mà chúng ta còn lớn lên về tầm vóc. Được gặp Người ấy, một con người từng trải khiến chúng ta trở nên tốt hơn.

… Thật là một điều hân hạnh được gặp con người vĩ đại và có sức hút mãnh liệt đối với chúng ta. Mặc dầu trong thế giới ngày nay còn có khác biệt và xung đột, nhưng được gặp Bác Hồ, chúng ta thật sung sướng được thấy lòng tốt của con người… tình bạn, lòng nhân ái sẽ vượt qua tất cả”.

P.J.Nêru, Thủ tướng Ấn Độ. Trích lời phát biểu trong tiệc chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 7-2-1958

“Người không phải chỉ là một người yêu hoà bình mà còn là một nhân vật đặc biệt đáng yêu và hữu nghị, một con người không nghĩ gì đến mình, giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người không tự giam mình trong tháp ngà. Về cơ bản, Người là một con người của quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết nhất. Xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.

P.J.Nêru, Thủ tướng Ấn Độ. Bài đăng trên Báo Người yêu nước của Ấn Độ, số ra ngày 14-9-1969

“Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”.

Inđira Ganđi, Thủ tướng Ấn Độ. Điện chia buồn, ngày 4-9-1969

“… Được gặp gỡ và nói chuyện với Đồng chí Hồ Chí Minh là một ấn tượng không thể nào quên được. Đây là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tỏ ra mình là một con người vĩ đại.

Mặc dầu những trọng trách phải gánh vác, Người vẫn thân ái, nhiệt tình và sôi nổi làm cho bạn cảm thấy thoải mái ngay”.

Giôn Gôlan, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Anh. Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 15-11-1969

“… Tôi chưa có dịp được hân hạnh gặp Người, nhưng qua nhiều tài liệu mà tôi đã được đọc, qua những hoạt động của Người, sự thật Người là một nhà cách mạng vĩ đại, một người vĩ đại của thời đại…”.

T.Étlandô, Thủ tướng Thụy Điển. Báo Nhân Dân, số ra ngày 9-9-1969

“Trước hết phải nói một ý nghĩa rất riêng: chúng tôi thấy và cảm thấy rằng ở Việt Nam mọi người yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh như thể yêu mẹ hoặc yêu con của mình. Mọi người yêu Người, song không phải như yêu một ông Trời, mà yêu như thể yêu mẹ hoặc yêu con. Bởi thế, tình yêu đối với Người sâu xa, vô tận. Có thể cảm thấy điều đó ở từng người Việt Nam. Đây không phải là tình yêu huyền bí, mà là một tình yêu thực tế. Nhưng cũng có cái thực tế tuyệt đẹp tới mức có thể biến thành một bông hoa. Và tình yêu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình yêu đối với hoa hoặc đối với súng, cũng như tình yêu đối với mẹ hoặc đối với con. Đó là điều mà chúng tôi cảm thấy ở Việt Nam.

… Trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh có một sức mạnh khiến người ta vững tin rằng có Người ở Việt Nam thì không thể có chuyện gì xảy ra, rằng không bao giờ vắng Người ở Việt Nam, rằng Người mãi mãi ở Việt Nam, và vì thế Việt Nam mãi mãi có Người, Việt Nam mãi mãi là của Người”.

Ađê Xantamaria, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba: Việt Nam mãi mãi có Người.
Tuần báo Cuba Bôhêmiêng, số ra ngày 12-9-1969

“Tôi đã thấy được một con người đôn hậu, vui tính, giản dị, hết sức nhạy bén đối với những người xung quanh. Đồng thời tôi cũng thường xuyên cảm nhận được tầm vóc lớn lao và siêu phàm trong nhân cách – sức mạnh trí tuệ, sự sáng suốt và ý chí của Người.

Mối liên hệ giữa Đồng chí Hồ Chí Minh với đất nước và đồng bào mình là mối liên hệ thường xuyên và vững chắc. Trong nhiều năm, Người sống xa Việt Nam, nhưng không bao giờ mối liên hệ đó suy giảm đi, đó là nguồn sức mạnh và là chỗ dựa vững chắc của Người trong những năm khó khăn nhất.

Làm cách mạng, tìm kiếm con đường đi đến tự do, đó là tính chất chủ yếu trong nhân cách của Đồng chí Hồ Chí Minh”.

Ecatêrina Vecnisêva, Đạo diễn phim Tên Người là Hồ Chí Minh. Tạp chí Tổ quốc, số 9-1985

“”Bác Hồ của chúng tôi”! Biết bao lần trong thời gian ở Việt Nam, tôi đã nghe mấy tiếng đó! Trong giọng nói trẻ trung của các em bé, trong giọng nói ngọt ngào của các cô gái, trong tiếng nói có vẻ mệt mỏi của những người già, nhưng luôn luôn những tiếng ấy vang lên một cách trìu mến, kèm theo một nụ cười rạng rỡ trên những khuôn mặt.

“Bác Hồ!” hai tiếng ấy là cả tình yêu của hơn ba mươi triệu người Việt Nam đối với vị Chủ tịch nước”.

Phêlich Pita Rôđrighết, Chủ tịch Hội Nhà văn Cu ba

“Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình…

Nếu so sánh với vũ khí thì điều đó quan trọng không kém tất cả vũ khí của hạm đội 7… Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên…”.

Êlen Tuốcmerơ: Trở thành người Bác như thế nào? Sách vàng về Việt Nam, Nhà sách Viện Hàn lâm, Béclin, 1966

“Vào thăm ngôi nhà của Người, tôi càng cảm thấy Đồng chí Hồ Chí Minh vẫn sống. Từng chi tiết nhỏ cũng như toàn bộ ngôi nhà đều ánh lên sự thông thái của Người và còn nguyên dấu vết cuộc đời của một con người đầy tình yêu nhân dân, đầy yêu thương con trẻ, dào dạt tình yêu Tổ quốc, yêu những người lao động, yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Ngôi nhà nhỏ bé giản dị của Bác Hồ chứa đựng một bài học hùng hồn và rõ ràng về đức tính khiêm tốn cách mạng, trí thông minh, bình tĩnh, phục vụ nhân dân và sự nghiệp giải phóng, kiên quyết lên án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân…”.

Xaphích Horêhơ Hađen, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản En Xanvađo. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 1-6-1980

“Thái độ của Người giản dị không thể tưởng tượng được. Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt nổi bật khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Companeros, gracias!” (cảm ơn các đồng chí!) và bao giờ cũng vậy, Người nói thêm: “Que lejos estado su pais!” (đất nước của đồng chí xa quá!). Tôi ngạc nhiên hỏi Người học tiếng Tây Ban Nha ở đâu. Người kể ra trước đây, Người đã từng đi dọc bờ biển khu vực Mỹ Latinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị như thế, mặc dầu có sức hút khổng lồ trên thế giới”.

Xanvado Agienđê, Tổng thống Cộng hoà Chilê. Trích bài nói chuyện với nhà báo Pháp Rêgi Đơbray, đăng trên Báo Pruntô Phinan (Chilê). Báo Cứu quốc, số ra ngày 16-5-1971

“Đến thăm ngôi nhà của Đồng chí Hồ Chí Minh đã giúp chúng tôi hiểu biết hơn nữa và khắc sâu thêm lòng kính yêu Người. Chúng tôi biết nói gì bây giờ? Một tấm gương tuyệt đẹp mà Đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu lên trong cuộc đời khiêm tốn, giản dị của mình…”.

Đanien Naamê, Uỷ viên Bộ Chính trị Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Xiri. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 30-3-1982

“Có biết bao nhiêu tấm gương cổ vũ lớp người trẻ đứng vào hàng ngũ của phong trào cộng sản. Hồ Chí Minh đã và đang là những tấm gương như vậy.

Bởi vậy, Đồng chí Hồ Chí Minh đã dựng nên một đài kỷ niệm sống vĩ đại ở nước Cộng hoà Liên bang Đức”.

Hơbớt Misơ, Chủ tịch Đảng Cộng sản Cộng hoà Liên bang Đức. Sổ ghi cảm tưởng Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 16-12-1976

“Trong những năm công tác ở Việt Nam, tôi đã nhiều lần nhìn thấy và được nghe Đồng chí Hồ Chí Minh nói… Chỉ riêng vóc dáng bên ngoài của Người cũng khiến những người xung quanh có ấn tượng không sao quên được. Những “nét đặc biệt” trên khuôn mặt Người là chòm râu bạc điển hình của các cụ già Việt Nam, và đôi mắt kỳ lạ có một không hai: luôn luôn tươi trẻ, linh hoạt, rực sáng, pha chút hóm hỉnh, cái nhìn chăm chú, tinh anh nhưng hiền hậu, dễ mến. Ai cũng ngạc nhiên thấy dáng đi của Người lúc nào cũng nhẹ nhàng, cử chỉ, động tác lúc nào cũng gọn gàng, dứt khoát và giọng nói, tiếng cười lúc nào cũng nhiệt tình, tươi trẻ. Sự quan tâm chân thành của Người đối với những ai được tiếp chuyện, thái độ ân cần, niềm nở đặc biệt của Người đã tạo nên bầu không khí thoải mái, thân ái ngay từ những phút đầu gặp gỡ. Cũng như tất cả những ai mong muốn được gặp Người, tôi sửng sốt thấy Người kết hợp được một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn tính giản dị và lòng nhân đạo hiếm có với ý chí sắt đá và lòng dũng cảm vô song của một chiến sĩ cách mạng.

Hồ Chí Minh thuộc đội ngũ chiến sĩ cách mạng chân chính, xuất sắc của chủ nghĩa Lênin. Những chiến sĩ thuộc đội ngũ này chẳng những tiếp thu và thực hiện học thuyết Lênin vĩ đại trong thực tế mà còn bằng phẩm chất cá nhân của mình, bằng tấm gương của đời mình thể hiện sức hấp dẫn mạnh mẽ của tư tưởng cộng sản. Một nhà báo đã hỏi Xanvađo Agienđê, người con quang vinh của nhân dân Chilê: “Ba đức tính nào của những nhà hoạt động chính trị mà Ngài muốn có và Ngài sẽ lấy ai làm gương?” Agienđê trả lời: “Liêm khiết, nhân đạo và vô cùng khiêm tốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người là tấm gương sáng cho tất cả những người cộng sản Việt Nam, cho toàn thể nhân dân Việt Nam về việc phải chăm lo lợi ích xã hội, phải lôi cuốn quần chúng theo mình, phải tổ chức phong trào thi đua, phải ủng hộ tất cả những gì tiên tiến, tích cực, phải mở rộng phê bình, và tự phê bình, phải đấu tranh cho kỷ luật sắt, phải nâng cao nhiệt tình của quần chúng, phải động viên các tầng lớp nhân dân rộng rãi đứng lên đấu tranh quyết liệt chống kẻ thù, lập chiến công và xả thân cho tự do, độc lập của Tổ quốc.

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng yêu quý thiếu nhi. Bản thân Người vốn không được hưởng hạnh phúc gia đình, nên Người đã dành tất cả tấm lòng yêu thương của người cha cho hàng triệu trẻ em ở Việt Nam mà Người đã gọi trìu mến là các cháu.

Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối quan hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Bằng toàn bộ cuộc đời và hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các chiến sĩ xuất sắc khác đấu tranh cho sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản, đã chứng minh cho chân lý bất di bất dịch sau đây: người nào yêu Tổ quốc mình tha thiết thì cũng không khi nào phản bội lại các lý tưởng của tình đoàn kết quốc tế và ngược lại, chỉ những người theo chủ nghĩa quốc tế một cách kiên định thì mới là người yêu nước chân chính, mới đem lại lợi ích to lớn cho Tổ quốc mình, nhân dân mình”.

Épghênhi Cabêlép (Liên Xô): Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985

“Phải nói Bác Hồ cực kỳ nhã nhặn, vô cùng lịch thiệp và thoạt nhìn thấy Người thật hấp dẫn…

Tôi còn nhớ có lần từ ngoại ô về, Người có một quả táo to lắm. Ông để dành mãi để làm quà cho con gái tôi mà Người đã coi như cháu mình. Ông là Bác Hồ thì mọi việc đều trở nên hết sức đơn giản.

Người tỏ ra có quyền lực lãnh đạo đối với mọi người bằng tấm lòng nhân hậu, chí công vô tư, bằng tuổi tác, bằng trí thông minh và trình độ học thức, nói chung bằng tất cả vốn văn hoá cách mạng đã tích tụ được ở Pháp, ở Nga và có thể ở nhiều nơi khác. Đó là một nhân vật trung tâm điều hành công việc… hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư. Trong ánh mắt những người xung quanh, và người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ” .

Tướng P.Valuy (Pháp): Trả lời phỏng vấn Tạp chí Hành tinh Hành động, Pari, tháng 3-1970

“… Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này – hơi giống Ganđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Ông là một người bônsêvích kỳ cựu và là một thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp (có điều gì xa lạ hơn đối với một nông dân bình thường?). Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của đời sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh, và thắng lợi của họ… Ông là một thành viên của thế giới cộng sản lâu năm hơn Mao và ông đã tập hợp quanh mình một số rất đông những thanh niên ưu tú. Ông đã trải qua cách mạng, chiến tranh, phát triển sau chiến tranh và một cuộc chiến tranh nữa mà không hề thanh lọc người nào. Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng độc nhất không có xáo trộn (theo những người nghiên cứu lịch sử của Đảng này) chủ yếu là nhờ đức tính quán xuyến của vị lãnh tụ của họ, vị lãnh tụ này đã phối hợp được hoàn toàn nghệ thuật chính trị lâu dài và trước mắt.

Nhưng đối với nhân dân, ông luôn luôn là biểu tượng mà họ cần có: ông cũng là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hoà nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc bộ quần áo đơn giản nhất, cách mặc của ông không khác người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà người phương Tây đã chế giễu trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hoà mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành người Tây hơn là người Việt Nam, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát, trong một nước mà khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người ngoài, tính giản dị của ông Hồ là một điều có sức mạnh. Địa vị càng cao, ông càng giản dị và trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Năm 1952, giữa cuộc chiến tranh, ông có thể kết thúc một cuộc họp của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cách nói với Hội nghị: Về một người cách mạng và một Đảng cách mạng, nhà văn lớn của Trung Quốc, Lỗ Tấn, đã có câu thơ:

Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ
Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng.

“Nghìn lực sĩ”, ông giải thích, “là kẻ địch mạnh như thực dân Pháp và can thiệp Mỹ hoặc là những khó khăn gian khổ”. “Các nhi đồng” có nghĩa “là quần chúng nhân dân yêu chuộng hoà bình hoặc là những việc làm có lợi cho nước nhà, cho Đảng”.

Bằng tư cách lãnh đạo xuất sắc như vậy, ông Hồ đã góp sức cải tạo một thời đại. Trong những thập niên 20 và 30, ông đã là một trong những người chỉ trích mạnh bằng lời nói đối với chế độ thực dân, một tiếng nói đơn độc và thường bị làm ngơ. Trong thập niên 50, ông là người đã lập ra một bộ máy chính trị và quân sự, lãnh đạo một nước nông nghiệp lạc hậu trong một cuộc cách mạng thành công chống lại một sức mạnh phương Tây – một cuộc chiến tranh không những đã chấm dứt nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam mà còn chấm dứt cái thần thoại về quyền bá chủ của người da trắng và địa vị thấp kém của những người có màu da khác ở khắp thế giới thực dân. Nó còn làm lung lay lòng tin của một thế hệ da trắng vào các tư tưởng và chế định của họ, làm cho họ không nghĩ rằng cái tư tưởng của chế định đó là hay nhất, và chỉ có vấn đề là các tư tưởng và chế định đó từ Âu, Mỹ, nơi mà chúng phát triển tới áp đặt ở châu Á và châu Phi một cách cần mẫn. Cái mà ông Hồ đã đề ra trong cuộc chiến tranh cách mạng thành công chống Pháp và trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đã có một tác động lớn lao đối với phương Tây và thế giới kém phát triển. Và ở đây, thế hệ trẻ đặc biệt hiểu và có cảm tình với một ông Hồ đã làm hơn cha anh họ nhiều. Thật vậy, thậm chí nước Mỹ đang đánh nhau với quân đội của ông Hồ, cuốn sách xuất bản ở Mỹ nói về những tác phẩm của ông, Hồ Chí Minh nói về cách mạng lại khoe: “Được viết từ trong thời gian biệt xứ và trong chiến đấu đây là kinh thánh chính trị được một nửa thế giới noi theo”.

Khắp thế giới kém phát triển, sau Điện Biên Phủ, người Bắc Việt Nam đã được đối xử với một niềm kính trọng đặc biệt. Họ đã tự tiến hành lấy cuộc chiến tranh của họ và họ đã chiến thắng, không còn nghi ngờ gì nữa về điều đó. Việt Nam, một nước nhỏ, đã chứng minh cho người châu Á, châu Phi thấy rõ là có thể đánh bại được người phương Tây, dù là về mặt đạo lý, thể chất hay tinh thần. Nhưng người Bắc Việt Nam đã đánh bại một nước lớn phương Tây. Họ đã chiến thắng vì họ anh dũng hơn, tinh khôn hơn và trung thành hơn đối với sự nghiệp của họ. Thế nhưng, đối với tầm quan trọng phi thường của ông Hồ, đối với cuộc đời phong phú của ông và đối với vị trí của ông như là biểu tượng của cuộc nổi dậy của những người da màu nghèo khổ chống lại người da trắng giàu có, điều đáng lấy làm lạ là ở phương Tây người ta biết ít về ông.

Nhưng ông Hồ không cố ý tìm kiếm những cái trang sức cho quyền lực, vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân và với lịch sử đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách và những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ thấy. Người ta cảm thấy ở ông Hồ một niềm tự tin: mình là ai, cái mình đã làm, một niềm tin sâu sắc đến nỗi không khó khăn gì mà không làm cho nhân dân thấy được điều đó. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển, nơi mà trong một thời gian ngắn từ một nông dân nghèo lên địa vị một người đứng đầu nhà nước, thường làm đề tài cho người ta bàn tán xôn xao và gây ảnh hưởng nhiều hơn là những vật kỷ niệm tự mình xây dựng nên”.

Đâyvit Hênbớcxtơn: Hồ, Nxb. Răngđôm Haosơ, Niu Oóc, 1971

“Đặc điểm nổi bật của Đồng chí Hồ Chí Minh là đức tính nhân hậu toát ra từ con người của Đồng chí. Thái độ ân cần, niềm nở của Đồng chí với bất kỳ ai: gái, trai, trẻ, già, do đó Đồng chí đã gây được thiện cảm của họ ngay từ lúc ban đầu gặp gỡ. Người ta thấy ở Đồng chí vốn sống dồi dào, một sự hiểu biết rộng lớn, với trình độ văn hoá của một người mà không ai quên rằng người đó đã là nhà báo, một nhà văn và một nhà thơ trong số những nhà báo, nhà văn, nhà thơ ưu tú nhất ở Việt Nam.

Từ con người Đồng chí còn toả ra ánh sáng của người chiến sĩ cách mạng đã hoạt động tích cực ngay từ những ngày còn nhỏ tuổi, của nhà yêu nước, yêu dân tộc yêu xứ sở mình và suốt đời chỉ có một mục đích là làm sao cho dân tộc mình được tự do.

Đồng chí Hồ Chí Minh không muốn ai sùng bái mình, nhưng hiếm có một lãnh tụ lại được người ta tôn kính như Người. Đó là lòng yêu mến tuyệt đối của cả một dân tộc đối với Người, khi cả dân tộc đó đều thấy có mình trong con người đó và con người đó đã hy sinh tất cả cho dân tộc mình”.

Lêô Phighe. Bài đăng Báo Nhân đạo. G.Lacutuya trích đăng trong: Hồ Chí Minh, Nxb. Sơi, Pari, 1967

sites.google.com

Hồn Việt, bản sắc Việt trong “Tuyên ngôn Độc lập”

Một sự kiện cách đây 66 năm, không những đi vào lịch sử nước ta mà còn hiện diện vinh danh trong lịch sử thế giới. Đó là ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập(TNĐL), khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là áng văn bất hủ, sánh vai cùng nhiều áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sau “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”: Nam quốc sơn hà Nam đế cư… gắn với cuộc kháng chiến chống giắc Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ của  Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi “Tuyên cáo” về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân ta, từ địa vị nô lệ đứng lên giành độc lập, tự tổ chức ra nhà nước của mình. Áng hùng văn bất hủ này thực sự là một Di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Đọc TNĐL của Bác Hồ, chúng ta nhận ra qua từng lời văn với ngôn ngữ rất chắt lọc của Bác, không những mang tính pháp lý hiện đại, có tầm quốc tế về nội dung, mà còn mang đậm hồn Việt, bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thô-mat Giê-phe-son soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Thô-mat Giê-phe-son. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, dễ hiểu hơn:“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt theo văn phong Việt, phong cách Việt, tính quần chúng hóa rất cao.

Từ chỗ mọi người, Bác đã đưa ra khái niệm lớn hơn, bao quát hơn: Mọi dân tộc, mang đầy đủ ý nghĩa quốc tế vô sản. Đó là một sự suy rộng mang đậm nét Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguyên văn trong TNĐL, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng sự suy rộng ra thành chân lý mang tầm thời đại. Cũng theo quan điểm, tư tưởng quốc tế vô sản, từ cách nhìn “toàn cầu hóa”, tháng 5-1969, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu mai sau, Người đã viết: “… Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn biện: Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà La-dy Bo-rơ-ton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Thô-mat Giê-phe-son vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho TNĐL năm 1776 của nuớc Mỹ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Giá trị rất quan trọng của TNĐL là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên thế giới. Nó khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thế giới, nhất là cộng đồng các quốc gia, các dân tộc đang vươn tới giành tự do, độc lập. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản TNĐL, một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, ông A-Pat-ti, phụ trách đơn vị OSS cộng tác với Việt Minh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho rằng: Ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Để nâng cao giá trị của bản TNĐL vừa mang tính hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng, sau khi soạn thảo, Bác đã đem bản thảo trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc.“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”… Riêng câu nói đó trước khi chính thức đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình đã toát lên tính dân tộc, tính đại chúng trong cách nói và viết của Người. Nó thực sự gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo mục tiêu của một thể chế ưu việt: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trích dẫn những câu chữ rất chọn lọc trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, Bác Hồ muốn mọi công dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới hiểu rằng: Hai nước thực dân, đế quốc to trên thế giới “tuyên bố” như thế, nhưng lại đi xâm lược, tước đoạt quyền tự do, độc lập của các dân tộc khác. Từ đó, lên án thực dân Pháp, đứng sau là quan thầy Mỹ, đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta trong 80 năm, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp trên con đường phát triển tất yếu của nhân loại. Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã minh chứng một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các nước nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn.

Để chứng minh cái quyền tất yếu của dân tộc ta: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức. Vì thế, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ  không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiện. Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ  cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn  đã thấy trên chính trường quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ngày 2 -9-1945 là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

Theo GS.TS. Đinh Văn Đức: Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hay “Bình Ngô Đại cáo”… đều được viết bằng chữ Hán.  Phải đến “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là một tuyệt phẩm của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại – Một hòn ngọc văn hoá có giá trị rất quý báu và trường tồn lâu dài, như chính hồn Việt, dân tộc Việt, con người Việt.

Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện. Bản TNĐL có ba nội dung quan trọng, vừa mang tính khẳng định, vừa là lời hiệu triệu hùng hồn, với những tu từ học và ngắt câu, chốt câu rất độc đáo:

“… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

      Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

      Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

   … Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

      Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

      Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận. Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức  cực kỳ chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do. Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng.

Ngôn ngữ của Tuyên ngôn Độc lập là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế giới”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị… Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi Quân đồng minh vào nước Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ quyền.

Chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Tính dân tộc và tính đại chúng trong TNĐL thể hiện rõ nét ở những câu, từ vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa dễ hiểu để mọi tầng lớp trí-công-nông-binh đều hiểu rõ. Các từ như “thẳng tay”, “tắm”, “nòi giống ta”, “tận xương tủy”, “giết nốt”, “gan góc” hoàn toàn là Việt ngữ, không hề vay mượn, pha tạp chút nào. Ví dụ như: “Chúng đã thẳng tay chém giết”… “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược… Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ… Chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng…”

Đã 66 năm, từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Bác Hồ kính yêu của chúng ta soạn thảo và đã đọc tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với biết bao hy sinh mất mát, nhưng đã “đánh thắng  hai để quốc to là Pháp và Mỹ”, mọi người dân Việt Nam đều thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn mang bên mình như một thứ hành trang không thể thiếu được. Đó là lời hiệu triệu của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập cùng lời hiệu triệu đanh thép và trường tồn ấy vẫn luôn luôn tươi rói trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bùi Văn Bồng

xaydungdang.org.vn