Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đến Matxcơva hòa giải quan hệ Trung – Xô

Sau khi bất đồng giữa hai đảng Trung Xô được công khai, Ban lãnh đạo đảng Việt Nam hết sức quan tâm. Khi hội nghị Bắc Đới Hà vừa kết thúc thì Hồ Chí Minh đã tới đây gặp lãnh đạo Trung Quốc và biểu thị ông chuẩn bị đi Matxcơva khuyên hòa giải, làm công tác Khơrutxop một chút, hy vọng bất đồng Trung Xô có thể thông qua đàm phán giải quyết, Hồ Chí Minh đề nghị triệu tập ba hội nghị, trước tiên là hội đàm hai đảng Trung Xô, rồi thảo một tuyên bố, sau đó triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới thông qua tuyên bố này.

kieu1608022010.jpg

Ngày 10 – 8 – 1960, trong khi đi bơi tại bãi biển, Mao Trạch Đông đã nói chuyện với Hồ Chí Minh. Mao nói đồng chí là người có lòng tốt, tôi thấy về cơ bản ý kiến của các đồng chí là tốt. Các đồng chí muốn tăng cường đoàn kết là tốt. Khơrutxop rút chuyên gia từ Trung Quốc về, không cho máy móc, nhưng lại cử chuyên gia và đưa máy móc tới Ấn Độ. Như thế cũng tốt. “Tôi không tin không có chuyên gia, người Trung Quốc sẽ chết hết!” Vì thế rốt cuộc ai là bè bạn, ai là kẻ thù? Vấn đề này phải làm cho rõ. Trên vấn đề này, chúng tôi và Khơrutxop có bất đồng. Hiện nay Khơrutxop là đại biểu của chủ nghĩa xét lại, tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tấn công vào mặt trận xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản chủ nghĩa quốc tế. Ông ta tỏ ra rất thân tình với chủ nghĩa đế quốc và phái phản động các nước, cùng đứng với bọn chúng. Nghe những lời nói đó của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vô cùng kinh ngạc, lập tức nhận thức được “cách nói này là nghiêm trọng”.

Mặc dù vậy, Mao Trạch Đông vẫn tán thành biện pháp giải quyết bất đồng hai đảng Trung Xô bằng con đường nội bộ giữa các đảng cộng sản. Ông nói với Hồ Chí Minh, có thể thảo luận nội bộ, không tranh luận công khai, không được bộc lộ chia rẽ trước mặt kẻ thù. Trong thời gian sung đột biên giới Trung – Ấn, Khơrutxop đã để cho Tass ra một tuyên bố, nghiêng về phía Ấn Độ, chỉ trích Trung Quốc. Tuy vậy chúng tôi vẫn không muốn công khai hóa bất đồng này. Hậu quả của bất hòa Trung Xô sẽ vô cùng nghiêm trọng, vì vậy tôi tán thành đồng chí đi Matxcơva.

Hồ Chí Minh trao đổi với Mao Trạch Đông, ông cần nói với Khơrutxop bốn vấn đề Trung Quốc không đồng ý với Liên Xô. Thứ nhất là thời đại của chúng ta và vấn đề chủ nghĩa đế quốc, thứ hai là vấn đề chiến tranh và hòa bình, thứ ba là vấn đề chung sống hòa bình, thứ tư là vấn đề quá độ hòa bình. Ông còn chuẩn bị nói với Khơrutxop là các đồng chí Trung Quốc chủ trương dùng biện pháp bình thường để giải quyết bất đồng giữa các đảng anh em, tức xuất phát từ nguyện vọng đoàn kết thông qua thảo luận, tiến hành phê bình và tự phê bình giải quyết bất đồng giữa hai đảng Trung Xô, đạt được mục đích đoàn kết trên cơ sở mới.

Mao Trạch Đông tán thành kiến nghị của Hồ Chí Minh nói, những ý kiến của chúng tôi Matxcơva đã biết, bây giờ đồng chí hòa giải dùng tư cách người thứ ba tới nói cũng tốt.

Hồ Chí Minh thậm chí có kiến nghị, sau khi đoàn đại biểu hai đảng Trung Xô hội đàm, tốt nhất là Mao Trạch Đông nên đến Matxcơva hội đàm với Khơrutxop, nhưng Mao Trạch Đông không đồng ý nói, hiện nay người ta chửi tôi đã tới mức ngậm máu phun người, tôi tới bàn cái gì? Hơn nữa đảng tôi còn rất nhiều người, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình còn có Bành Chân nữa, một, hai năm nữa sẽ nói. Bản thân Khơruxop đã quá nhiều, thậm chí đã nói đến muốn đưa thi thể Stalin tới Trung Quốc. Mao Trạch Đông hỏi Hồ Chí Minh, đồng chí tán thành hay không tán thành đưa thi thể Stalin tới Trung Quốc? Hồ Chí Minh trả lời để ở Liên Xô mới phải, làm sao đưa sang Trung Quốc được.

Chuyến đi hòa giải tại Matxcơva của Hồ Chí Minh ít nhiều cũng có một  số tác dụng. Trung ương  đảng cộng sản Lên Xô đồng ý hai đảng Trung Xô hội đàm và khởi thảo một tuyên bố.

Sau khi từ Matxcơva trở về, Hồ Chí Minh gặp lại Mao Trạch Đông, và nói trên các vấn đề như tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, thực hành chuyên chính vô sản, làm cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản… Khơrutxop nhất trí với ý kiến của các đồng chí Trung Quốc. Thế nhưng trong tình hình quốc tế hiện nay, trên các vấn đề như chiến tranh và hòa bình, chung sống hòa bình, quá độ hòa bình… còn có những điểm chưa nhất trí với cách nhìn của đảng cộng sản Trung Quốc. Người lãnh đạo Liên Xô chỉ trích, từ năm 1958 trở đi nhiều sự tình Trung Quốc không nói với Matxcơva và cũng không thương lượng, như việc Trung Quốc đưa ra khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”, tiến hành “đại nhảy vọt” và phong trào cộng sản nhân dân, đề xuất gió đông thổi bạt gió tây, sửa chữa mộ Thành Cát Tư Hãn..

Mao Trạch Đông biểu thị, thực chất của quan hệ Trung Xô là khống chế và phản khống chế. Họ muốn quản chúng tôi đến chết, chúng tôi không chống sao được? Matxcơva thực hiện chủ nghĩa nước lớn, chúng tôi không chống không được, không có dư địa cho sự thỏa hiệp ở đây. Còn đại nhảy vọt, công xã nhân dân, trăm hoa đua nở là lạp xường kiểu Trung Quốc, chúng tôi không tính tới việc bán ra ngoài!

Tuy vây quan hệ Trung Xô sau đó ngày một xấu đi, đó là điều mọi người đều biết.

Nguồn: Tạp chí Xưa&Nay

hochiminhhoc.com

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tiền đề tạo mọi thắng lợi

Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của ngành, Đảng ủy Sở Giao thông- Vận tải  chỉ đạo các Chi bộ, tổ chức đoàn thể… triển khai Cuộc vận động  “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách tích cực, nghiêm túc, có hiệu quả. Gắn Cuộc vận động vào từng nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn cụ thể và mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên phải tự xây dựng cho mình một phong cách học tập tấm gương đạo đức của Bác với tinh thần cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư…

Để thực hiện Cuộc vận động  có chiều sâu, trở thành nền nếp trong mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, ngay sau khi Tỉnh ủy phát động Cuộc vận động, Đảng ủy Sở thành lập Ban chỉ đạo Cuộc vận động, nhằm triển khai, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện tấm gương của Bác ở mỗi lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Đảng ủy tổ chức Hội nghị quần chúng lấy ý kiến tham gia đóng góp vào dự thảo báo cáo đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của cán bộ, công nhân viên chức toàn Đảng bộ. Qua đó, ban hành, niêm yết chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên trong toàn cơ quan. Đảng ủy còn tổ chức 3 hội nghị quán triệt nội dung Cuộc vận động cho toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng. 100% đảng viên xây dựng bản tự phê bình, kiểm điểm và chương trình học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều ý kiến đánh giá của quần chúng về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, từ đó rút kinh nghiệm những mặt chưa được và tiếp tục phát huy những mặt tích cực. Cuộc vận động đã trở thành nội dung quan trọng, định kỳ trong các kỳ sinh hoạt Đảng hàng tháng ở mỗi Chi bộ cũng như toàn Đảng bộ.

Các phong trào thi đua, học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Bác nhận được sự hưởng ứng tích cực ở mỗi phòng, ban chuyên môn như: Phong trào lao động, sáng tạo hiệu quả, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; các phong trào sưu tầm sách, báo, tạp chí về Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa, văn nghệ ca ngợi chủ đề về Bác… Thông qua các phong trào này, từ đảng viên đến quần chúng đều tự ý thức bản thân và có trách nhiệm phấn đấu, vươn lên. Kết quả thiết thực đạt được từ các phong trào trên là đã thực hành được tiết kiệm, chống lãng phí, tạo thêm nguồn thu nhập chính đáng cho mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng, với mức thu nhập tăng 33% theo lương hàng tháng. 2 đề tài khoa học về sáng kiến cải tiến trong công tác đào tạo lái xe và sáng kiến sử dụng bột bê tông màu tham gia dự thi cấp tỉnh. 1 đồng chí đạt giải trong cuộc thi kể chuyện về Bác do Đảng ủy cấp trên phát động. Cơ quan, công sở gọn gàng, sạch đẹp, văn minh, lịch sự.

Kết quả lớn nhất mà ngành Giao thông đạt được trong quá trình triển khai, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đó chính là sự ghi nhận của tỉnh và nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn xây dựng, quản lý đường sá, cầu cống. Hệ thống giao thông của Bắc Ninh hiện nay đã khác xa so những con đường rải cấp phối đồi và những tuyến đường đất liên xã, liên thôn lầy lội, bụi bẩn khi mưa, nắng của những ngày đầu mới tái lập tỉnh. Giờ đây, các tuyến Quốc lộ qua địa bàn tỉnh đều được xây dựng khang trang, hiện đại, hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường liên xã, đường giao thông nông thôn và đường đô thị cơ bản được rải nhựa, bê tông hóa. 40 cây cầu và hàng nghìn cống thoát nước được xây mới.

Cùng với đó là dịch vụ vận tải cũng có bước phát triển vượt bậc với mạng lưới vận tải công cộng khép kín. Tất cả các địa phương trong tỉnh đều có xe buýt đi qua và nối liền với các tuyến xe buýt của các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang, không những đáp ứng nhu cầu đi lại thuận tiện cho nhân dân mà còn góp phần đáng kể trong công tác bảo đảm ATGT, nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông. Đặc biệt, Sở đang triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển giao thông, vận tải đến năm 2020 với quy mô hoàn chỉnh mạng lưới giao thông, vận tải khang trang, hiện đại, không những phục vụ đắc lực nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội trước mắt mà còn đáp ứng về lâu dài. Đây sẽ là hướng mở để nhanh chóng đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp trong tương lai gần.

Bài, ảnh: Giang Ninh

baobacninh.com.vn

Đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò, Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân.

Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội Nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban Đời sống mới”, nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, dân chủ và khoa học. Nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của “Ban Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục Sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cửa, trường học, bệnh xá bị đổ bao nhiêu. Khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân.

Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”. Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự. Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: “Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được”. Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nữa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình.

Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự Hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự Hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cũng đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân. Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi: “Tết vừa qua gia đình đón, Tết có vui không?”. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn Tết không vui. Bác hỏi: “Vì sao?”. Cụ kể lại: Gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn Tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui, Bác bảo: Làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”.

Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền lợi của nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo./.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Câu chuyện nhỏ – Bài học lớn

(ĐCSVN) – Qua những câu chuyện về Bác, mỗi chúng ta đều cảm nhận được ý nghĩa nhân sinh sâu sắc thể hiện trong từng lời nói, cử chỉ của Người để từ đó cùng nhau tu dưỡng, rèn luyện theo gương Bác Hồ kính yêu.

Những câu chuyện về Bác – đó là những câu chuyện tuy ngắn gọn nhưng lại vô cùng sâu sắc, khắc hoạ rõ nét và sinh động chân dung một con người – một vị lãnh tụ thiên tài nhưng rất đỗi giản dị, thanh cao với tình yêu thương bao la dành cho con người. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác là tài sản vô giá cho thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo. Nhận thức được điều đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (NN – PTNT) đã coi việc “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là một hoạt động để hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà quan trọng hơn, mỗi câu chuyện còn là một bài học để từng cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động soi mình, để tự tu dưỡng, rèn luyện, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Kể chuyện về Bác – đó là việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế lại rất khó, bởi ai ai trong chúng ta cũng biết và cũng có thể kể một vài câu chuyện về Người. Nhưng kể cho hay, cho diễn cảm và quan trọng hơn để câu chuyện có sức lan toả đối với người nghe thì không phải ai cũng làm được. Trong bối cảnh sáp nhập Bộ NN – PTNT và Bộ Thuỷ sản, công việc bộn bề nhất là về cơ cấu tổ chức, bộ máy, cán bộ… còn nhiều việc phải giải quyết song Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT vẫn xác định huy động sự tham gia của toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động trong cơ quan tham dự cuộc thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, coi đây là “điểm nhấn” vừa cụ thể nhưng cũng hết sức sinh động để thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động. Tuy nhiên, để việc triển khai có ý nghĩa thực sự ở 71 tổ chức cơ sở đảng với 3.132 đảng viên trong toàn Đảng bộ không phải là một việc dễ dàng, nó đòi hỏi lãnh đạo Đảng uỷ phải có sự chỉ đạo sâu sát và kiên quyết ngay từ đầu. Với tinh thần đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT đã có những văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể kịp thời tới cơ sở. Các đồng chí là thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo được phân công đã xuống từng đơn vị giải đáp những thắc mắc, giám sát việc triển khai thực hiện. Hệ thống tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những câu chuyện về Người cũng được lãnh đạo Đảng uỷ chuẩn hoá và cung cấp đầy đủ. Để thống nhất phương thức tổ chức Hội thi “Kể chuyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT đã chỉ đạo Đảng bộ Cục Bảo vệ thực vật tiến hành làm điểm để các đảng bộ, chi bộ trực thuộc dự, cùng rút kinh nghiệm đồng thời triển khai có hiệu quả ở cơ quan, đơn vị mình. Điều đặc biệt là Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ quan Bộ NN – PTNT đều diễn ra với tinh thần “Câu chuyện nhỏ – Bài học lớn”, tiết kiệm triệt để, tránh bệnh phô trương, hình thức nhưng vẫn đảm bảo sự hấp dẫn. Một điểm khá sáng tạo tại các Hội thi “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ NN – PTNT là Ban Tổ chức đã coi khán giả không chỉ là những người đi xem, cổ vũ mà còn là những… người trong cuộc. Những câu nói, những hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với ngày tháng vẻ vang của dân tộc, những tác phẩm của Người, những địa điểm mà Bác đã từng gắn bó trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cũng được Ban Tổ chức biên tập thành những câu hỏi giành cho khán giả. Chính điều đó đã góp phần tạo không khí sôi nổi, thu hút một lượng lớn khán giả tham dự trong mỗi cuộc thi. Những câu trả lời của khán giả cùng với phần trình bày sáng tạo, kết hợp hài hoà với hình ảnh, âm nhạc của các thí sinh đã biến những buổi thi thành những ngày hội, những buổi sinh hoạt chính trị đầy ý nghĩa.

Nhưng liệu qua việc tổ chức Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đủ để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ về Bác? Câu trả lời chắc chắn là chưa. Bởi hiệu ứng mà Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đem lại như chúng ta thấy trong thời gian qua là vô cùng to lớn. Song nó cũng đòi hỏi phải có một quá trình, có một thời gian cần thiết để kịp “khắc sâu” trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, cụ thể hoá thành hành động, thành những chuẩn mực đạo đức hàng ngày. Vậy phải làm sao để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có hiệu quả? Mỗi đơn vị, mỗi tổ chức cơ sở đảng sẽ có những bước đi, cách làm khác nhau. Riêng Đảng bộ cơ quan Bộ NN – PTNT đã chỉ đạo để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động bằng một hình thức khá sáng tạo. Đó là: xây dựng kế hoạch để cử lần lượt từng đảng viên tìm hiểu, nghiên cứu các câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, liên hệ thực tiễn công tác sau đó kể lại trong các buổi sinh hoạt chi bộ. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với từng đảng viên và trong thời gian qua đã được thực hiện rất nghiêm túc. Đảng uỷ Bộ NN – PTNT cũng đặt ra kế hoạch: hàng năm, vào dịp 19/5, cấp uỷ sẽ tổ chức lấy phiếu điều tra đối với cán bộ, đảng viên, người lao động tại cơ quan, đơn vị về những câu chuyện hay, thể hiện sâu sắc tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được các đảng viên kể tại chi bộ. Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cũng khuyến khích cán bộ, đảng viên trong cơ quan sưu tầm những câu nói hay, những câu chuyện đặc sắc về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để làm tài liệu giáo dục đồng thời thường xuyên phát hiện, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ về “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà trọng tâm là các phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Những khẩu hiệu, panô với nội dung thực hiện văn minh nơi công sở gắn với những chuẩn mực đạo đức mà Hồ Chủ tịch đã nêu cũng đang được khẩn trương hoàn tất.

Đồng chí Nguỵ Thị Tiến Cừ – Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT, đồng thời là Phó Ban chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” khi trao đổi với chúng tôi đã cho biết: Cuộc vận động diễn ra mới được 1 năm, trong quá trình triển khai, đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo cán bộ, đảng viên trong cơ quan, qua đó đã thu được kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi, được cấp trên đánh giá cao. Trong thời gian tới, Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT sẽ có nhiều hoạt động, nhiều cách làm hưởng ứng Cuộc vận động một cách sáng tạo và hiệu quả hơn nữa và đó cũng chính là những bông hoa “Người tốt – Việc tốt” của cán bộ, đảng viên toàn ngành kính dâng lên Bác.

Minh Châu

cpv.org.vn

Cần và kiệm

Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Biên Giới. Nơi ở của Người di chuyển theo các trận đánh, có khi chỉ là túp lều cỏ dựng tạm vài hôm (1950)

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn luôn nhắc nhủ mình trước hết phải cần kiệm để xây dựng quê hương, đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta phải “Cần, kiệm liêm, chính” Trước hết là phải cần và kiệm.

Cần là cần cù chịu khó. Trên đời này, bất cứ một người nào, bất cứ làm một việc gì – muốn tốt – trước hết phải cần cù chịu khó. Bất cứ một người nào, bất cứ làm một việc gì – muốn tốt cũng đều phải mất nhiều thời gian và công sức.

Người nông dân nhiều đời phải chân lấm tay bùn, phải hai sương một nắng, phải dậy sớm thức khuya, phải đầu tắt mặt tối mới mong có được những vụ lúa chín vàng. Thợ thuyền nhiều đời phải cần mẫn tay búa, tay choòng, tay vô lăng, bánh lái mới mong có được những mẻ quặng, mẻ dầu thô, những mẻ thép, xi-măng, những mẻ “vàng đen”, những con đường, những cây cầu, những toà nhà làm đẹp cho quê hương, làm giàu cho đất nước.

Không phải chỉ cần cù chịu khó, mà hơn thế nữa, người lao động phải lao động hết mình, lao động sáng tạo, phải vận dụng hết những kinh nghiệm và kỹ năng lao động của mình, đồng thời phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất vào sản xuất. Có như thế, lao động mới có năng suất cao, hiệu quả kinh tế cao, chất lượng tốt.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, lại có câu “Năng nhặt chặt bị”. Cha ông ta đã truyền dặn cho con cháu phải cần cù chịu khó. “Có công mài sắt” thì “có ngày nên kim”. Cứ cần cù chịu khó ắt sẽ có ngày no ấm.

Sau ngày hoà bình thống nhất ở nước ta, hết thời bao cấp chuyển sang thời kỳ cơ chế thị trường, nhiều công ty, xí nghiệp, nhà máy phải giải thể. Vào những năm ấy, hàng vạn người lao động phải nghỉ việc, về mất sức, về hưu non với những đồng lương hết sức ít ỏi. Tìm được việc làm lúc ấy rất khó. Bởi thế, bóc lạc gia công cho công ty ngoại thương dù chỉ là thời vụ, thu nhập không đáng là bao người ta cũng cho là hết ý. “Thứ nhất đi Đức, thứ nhì đi Nga, thứ ba bóc lạc”. Bóc lạc thôi, nhưng cứ có việc mà làm, cứ cần cù chịu khó thì cũng tạm ổn.

Nhưng, cần cù chịu khó chưa đủ. Cần cù chịu khó phải đi đôi với tiết kiệm, không được lãng phí. Trước hết là tiết kiệm của cải vật chất trong kinh doanh, sản xuất. Đối với các đơn vị quốc doanh, ngoài quốc doanh và gia đình phải có kế hoạch và thực hiện tốt các kế hoạch về lao động, về vốn, về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, về nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, kế hoạch sản xuất, bảo quản, vận chuyển một cách hợp lý. Phải bảo đảm tránh được ít nhất tình trạng kém phẩm chất, rơi vãi, thất thoát tiền vốn và nguyên, nhiên, vật liệu trong tất cả các khâu của quá trình kinh doanh sản xuất.

Tiết kiệm của cải vật chất trong tiêu dùng là ăn, mặc, ở, đi lại, chơi bời giải trí như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, với điều kiện kinh tế của đất nước mình, đơn vị mình, gia đình mình. Đó chính là tiết kiệm của cải vật chất cho gia đình mình, đơn vị mình, cho quê hương đất nước.Đất đai cũng là một dạng của cải vật chất đặc biệt. Bỏ phí đất đai chính là lãng phí của cải vật chất. Các cụ xưa đã dạy: “Tấc đất tấc vàng” và nhắc nhở con cháu: “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang/Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn đồng bào và chiến sỹ ta phải “ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”. Tăng gia sản xuất trước hết là cấy lúa, trồng khoai, là quảng canh, chuyên canh, thâm canh, xen canh gối vụ, tăng năng suất. Nhiều địa phương ở nước ta hiện nay đang thực hiện “dồn điền đổi thửa”, “chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi”, áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, xây dựng nhiều cánh đồng 50 triệu đồng/héc-ta/năm. Đó chính là tiết kiệm đất đai, phát huy tiềm năng cao nhất của đất nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dạy đồng bào và chiến sĩ ta phải “trồng cây gây rừng”. Vâng theo lời Người, trẻ, già, trai, gái, các ngành, các cấp, cả nước thi đua trồng cây gây rừng, trồng cây phủ xanh đồi trọc, trồng cây lấn biển, trồng cây làm “lá phổi xanh” cho thành phố.

Đất đai không chỉ là của cải vật chất đặc biệt để tăng gia sản xuất. Đất đai còn là của cải vật chất khi trở thành nguyên liệu sản xuất nữa. Từ đất, con người đã làm ra gạch ngói, gốm sứ và nhiều vật liệu xây dựng, mặt hàng mỹ nghệ cao cấp khác.

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đất đai còn là nơi để xây dựng những khu công nghiệp lớn, những công trình lớn phục vụ quốc kế dân sinh cho đất nước.

Đáng buồn thay, trong quá trình đô thị hoá đất nước hiện nay, do việc lập kế hoạch và thực thi xây dựng các công trình không đồng bộ đã để nhiều héc-ta, nhiều trăm héc-ta đất bị hoang hoá hàng năm, hàng vài ba bốn năm. Hoặc do không có kế hoạch và biện pháp xử lý nước thải và rác đồng bộ đã dẫn đến nhiều cánh đồng, nhiều vùng đất bị ô nhiễm nặng ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đời sống của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến các vùng sản xuất nông nghiệp lân cận. Tình trạng ấy chính là biểu hiện của sự lãng phí đất đai – tài sản vật chất đặc biệt của quốc gia, của đất nước.

Thời gian cũng là một loại của cải vật chất đặc biệt. Tiết kiệm thời gian chính là làm sao để cho thời gian sống và làm việc của mỗi một con người chúng ta ngày càng có ý nghĩa hơn. Trước hết là làm sao trong mỗi đơn vị thời gian của người lao động có số lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao nhất. Làm sao trong mỗi đơn vị thời gian của một phường, một xã, một cơ quan, doanh nghiệp, một tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… có ngày càng nhiều người tốt, việc tốt, việc thiện, nét đẹp văn hoá.

Tổ chức nào bè phái, mất đoàn kết, họp hành kéo dài, đề ra và bàn những việc không thiết thực, phải họp hành kéo dài nhưng kết quả lại ít, đó chính là lãng phí thời gian, lãng phí của cải vật chất.

Những con người lười biếng, không chịu học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không chịu lao động cống hiến hết mình cho gia đình, cho xã hội, chỉ tìm cách ăn chơi đua đòi, hưởng thụ, lao vào những trò chơi không lành mạnh vô bổ, thậm chí lao vào những “trò chơi giết người” như chích hút ma tuý, sa vào các quán đèn mờ mại dâm, HIV/AIDS, động lắc… Những con người ấy đã lãng phí thời gian của mình, đánh mất tuổi xuân của mình.

Tục ngữ có câu “Miệng ăn núi lở”. Đúng là vậy. Dù con người ta ăn rất ít, mỗi bữa bất quá là ba bốn bát cơm, một khúc cá kho, một vài quả cà… thậm chí chỉ bát cháo cầm hơi… Nhưng bữa nào cũng phải ăn, ngày nào cũng phải ăn, năm nào cũng phải ăn. Sáu mươi, bảy mươi, tám mươi, chín mươi xuân đằng đẵng phải ăn… Cho nên, nếu con người không làm mà chỉ ăn thì quả thật “núi cũng phải lở”.

Các cụ xưa lại có câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Có làm mới có ăn. Có cống hiến mới có hưởng thụ. Huống chi là không làm! Huống chi là “ăn tàn, phá hại”.

Của cải vật chất ở trên đời này không phải bỗng dưng mà có. Lại càng không phải là vô tận. Vì thế mỗi một con người sống trên cõi đời này phải lao động, lao động và lao động cật lực, lao động hết mình, lao động đến “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới mong có được của cải vật chất. Có được của cải vật chất cho ngày hôm nay rồi nhưng phải nghĩ đến của cải cho ngày mai, cho những ngày yếu đau hoạn nạn, cho những người láng giềng và cộng đồng khi họ gặp bất hạnh mà mình cần chia sẻ. Rồi phải nghĩ cho bố mẹ già, cho con, cho cháu, cho chắt nữa… Bởi thế con người phải lo của cải vật chất cho hôm nay, còn phải lo “của để dành” nữa.

Vì thế, lao động hết mình vẫn chưa đủ. Còn phải tiết kiệm, không bao giờ được hoang phí.

Tuy nhiên, những năm qua, ở đâu đó trên khắp cả nước, vẫn còn tình trạng những cỗ máy, dàn máy bị bỏ chơ vơ mưa nắng giữa trời, nhiều công trình, nhiều cây cầu, nhiều toà nhà xây dựng dang dở, giơ gọng sắt lên trời nhiều ngày nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không ai ngó ngàng tới, nhiều công trình bị “rút ruột” hoặc vì thiếu trách nhiệm dẫn đến chết yểu… Tất cả tình trạng đó là lãng phí, gây tổn hại hàng tỷ đồng, nhiều tỷ đồng cho Nhà nước, tổn hại bao nhiêu sức người, sức của của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đức tính cần kiệm. Vâng lời Người, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn luôn nhắc nhủ mình trước hết phải cần kiệm để xây dựng quê hương, đất nước.

Theo PHẠM MINH GIANG
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đội hình chào cờ tiến ra Quảng trường Ba Đình

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện từ sáng ngày 19/5/2001, nhân dịp kỷ niệm 111 năm Ngày sinh của Người. 10 năm qua, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trang trọng hơn 7 ngàn lần lễ chào cờ, tạo được ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Tổ quốc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Ngay từ ngày khánh thành Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975), trước Lăng Bác, ngày cũng như đêm, luôn tung bay lá cờ Tổ quốc. Việc treo, hạ cờ khi đó không diễn ra thường xuyên, không thực hiện nghi lễ. Nhớ lại những ngày đầu, đồng chí Triệu Văn Siền, nguyên Đoàn trưởng Đoàn H75 cho biết: “Chỉ khi nào lá cờ bạc màu, rách, cuốn nhiều vòng quanh cột cờ, hoặc chuẩn bị kỷ niệm những ngày lễ lớn, những chiến sỹ Cảnh vệ vũ trang mới hạ lá cờ cũ xuống và thay lá cờ mới, bằng phương pháp thủ công”.


Tự hào Việt Nam

Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đất nước, con người Việt Nam. Mọi người đều mong muốn các nghi thức, nghi lễ và mọi hoạt động diễn ra nơi đây thật trang trọng. Theo Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng thì ý tưởng thực hiện nghi lễ chào cờ từ hơn 10 năm về trước xuất phát từ việc: Đầu năm 2000, Hãng Truyền hình NHK của Nhật Bản đến Ban Quản lý Lăng đề nghị được ghi hình Lễ kéo cờ trước Lăng Bác, để tuyên truyền về những ngày lễ lớn năm 2000 của Việt Nam. Nhưng sau đó, Bạn không thực hiện, vì ta chưa có nghi lễ treo, hạ cờ. Biết được thông tin như vậy. Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh, khi đó đã quyết định: Ta phải thực hiện nghi lễ chào, hạ cờ trước Lăng Bác”.

“Lễ chào cờ, hạ cờ trước Lăng Bác là nghi thức quốc gia, được thực hiện nơi trang trọng và thiêng liêng, nên phải nghiên cứu kỹ cách thức tổ chức để báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Thủ tướng Chính phủ. Cách tổ chức tốt nhất là cử Đoàn cán bộ sang nghiên cứu, học tập kinh nghiệm chào cờ ở Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc”. Đó là suy nghĩ mà Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn nhớ lại.

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng

Đến tháng 8/2000, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định giao nhiệm vụ luyện tập nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác cho Đoàn H75, đơn vị chuyên làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ. Những cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự có chiều cao từ 1m7 trở lên, quân dung đẹp và động tác điều lệnh đội ngũ chuẩn được tập trung luyện tập. Đội hình chào cờ gồm 37 đồng chí. Khối trưởng và vác Quân kỳ là sỹ quan. Còn lại, 3 đồng chí trong Tổ Quốc kỳ, 2 đồng chí bảo vệ Quân kỳ và 30 đồng chí thành 10 hàng ngang trong khối nghi lễ đều do chiến sỹ đảm nhiệm.

Là khối trưởng đầu tiên, đồng chí Nguyễn Anh Thi, nguyên Đội trưởng đội Tiêu binh kể lại: Được giao nhiệm vụ chúng tôi rất tự hào, nhưng cũng đầy nỗi lo. Suốt 4 tháng dòng, nắng cũng như mưa, ngày đêm cán bộ, chiến sỹ dày công luyện tập. Từng động tác đi đều, đi nghiêm, vác súng, bồng súng … đều phải tập cơ bản lại từ đầu. Khó nhất là động tác tung cờ khi chào cờ và động tác thu cờ khi hạ cờ. Bàn cách xử lý tình huống khi cờ xoắn vào cột, không lên, hoặc không xuống được; kể cả khi mất điện phải quay bằng tay. Mọi động tác phải thuần thục, trang nghiêm, không được sai sót, dù là nhỏ nhất. Chỉ một khẩu lệnh hô: “Chào cờ!…. Chào” mà đến 4 sỹ quan tập đi tập lại nhiều lần. Khẩu lệnh đó mười năm rồi, nay nghe lại, tôi vẫn nghẹn lòng xúc động”.

Sau buổi thực hiện Lễ chào cờ “Đón chào thiên niên kỷ thứ 3” vào 0giờ ngày 1/1/2001 thành công tốt đẹp. Ban Quản lý Lăng đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ quyết định từ ngày 19/5/2001 thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác.

Từ 5 giờ 30 sáng ngày 19/5/2001, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất. Trên Quảng trường Ba Đình, hàng ngàn người là bộ đội, công an, công nhân, nông dân, trí thức, đủ các lứa tuổi, cả các phụ lão, thiếu niên, nhi đồng và đoàn viên thanh niên đã tề tựu đông đủ. 6 giờ 24 phút, bản nhạc “Vừng đông đã hửng sáng” từ các loa truyền thanh vang lên, 37 cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự (hiện nay là 34 đồng chí), do đồng chí Nguyễn Anh Thi, Khối trưởng và đồng chí Vũ Quý Dương vác Quân kỳ hùng dũng, oai phong tiến ra Quảng trường.

6 giờ 30 phút, sau lời thông báo: “Sắp đến giờ thực hiện nghi lễ chào cờ, đề nghị đồng bào trên Quảng trường ngừng mọi hoạt động, đứng tại chỗ, hướng về phía cột cờ, để nghi lễ được thực hiện trang trọng”, khẩu lệnh “Chào cờ!…. Chào” vang lên, Quốc thiều cử hành, cờ Tổ quốc từ từ được kéo lên, hàng ngàn, hàng vạn ánh mắt dõi theo trầm trồ khen ngợi. Ông Nguyễn Văn Tân, cán bộ hưu ở Khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm thật cảm động nói: Sau khi dự buổi lễ đầu tiên, từ đó đến nay, 10 năm rồi, sáng và tối nào tôi cũng đi dạo trên đường Hùng Vương, đường Độc Lập, quanh 240 ô cỏ của Quảng trường Ba Đình, ngắm Lăng Bác, đường Bắc Sơn với Tượng đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, thấy Thủ đô đẹp tuyệt vời. Mỗi khi nghe Quốc ca và nhìn lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên trước Lăng Bác, tôi thật xúc động, thật tự hào, trang trọng và thiêng liêng quá. Với tôi, Quốc ca Việt Nam là bài hát hay nhất. Tổ quốc Việt Nam lúc nào cũng đẹp nhất. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc”.

Kể từ ngày hôm đó, không kể thời tiết nắng nóng, dông bão, hay mưa rét, cứ sáng sáng vào 6 giờ mùa hè, hoặc 6 giờ 30 phút mùa đông, Lễ chào cờ trước Lăng Bác được tiến hành trọng thể và hạ cờ vào lúc 21 giờ được thực hiện. Suốt 10 năm, với gần một ngàn lần đi khối trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Tuấn, Phó Đội trưởng Đội Tiêu binh danh dự, cho biết: Chỉ khi nào mưa ngập trắng đường Hùng Vương, tràn lên cả thềm sỏi phía Đông, thì mới thực hiện nghi lễ rút gọn. Còn khi mưa vừa, hoặc bắt đầu nghi lễ, dẫu thời tiết thế nào, cũng đều phải thực hiện thật trang nghiêm. Gặp buổi mưa to, gió lớn, lễ phục ướt sũng, giầy ngập trong nước, nhưng ý chí, nghị lực của mọi người đều quyết tâm “tiếng hát, át tiếng mưa”, để nghi lễ không bị gián đoạn. Thực hiện đúng lời dạy của Bác: Khó khăn nào cũng vượt qua”.
Mười năm trôi qua, với 12 lớp chiến sỹ Tiêu binh danh dự của các tỉnh Hòa Bình, Thái Bình,

Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Thái Nguyên đã và đang có vinh dự đặc biệt: Thực hiện nghi lễ chào cờ trước Lăng Bác. Để giữ mãi hình ảnh lá cờ Tổ quốc luôn tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Bác, giữ mãi hình ảnh tuyệt đẹp Việt Nam – Hồ Chí Minh trong lòng đồng bào và khách quốc tế mỗi khi về viếng Bác và tham quan khu vực Lăng của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh

bqllang.gov.vn

Một lần đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Với Trung tá về hưu Lương Văn Vở một lần được lái xe cho Bác Hồ là vinh dự vô cùng lớn lao. Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng với ông từng lời nói, cử chỉ, việc làm của Bác đều trở thành những hình ảnh đẹp trong ký ức không thể nào quên.

Hành trình đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Trong biết bao ký ức cuộc đời, ông Lương Văn Vở 75 tuổi ở phường Suối Hoa (thành phố Bắc Ninh) vẫn luôn dành một vị trí trang trọng nhất cho kỷ niệm lần được gặp Bác. Ông xúc động kể lại câu chuyện của hơn 50 năm về trước.

“Năm 1958, Bác Hồ về thăm căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Theo yêu cầu của cấp trên cần có đồng chí lái xe giỏi, quen đường rừng, núi, đèo, dốc, để đưa Bác đi. Còn đồng chí lái xe chính cho Bác đi sau để khi quay về lái cho quen đường. Lúc đó, tôi đang là lái xe của đồng chí Lê Quảng Ba, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Sáng sớm, tôi được chỉ huy đơn vị thông báo sẽ nhận nhiệm vụ lái xe cho Bác. Bấy lâu chỉ được nhìn Bác qua ảnh, nghe giọng Bác nói trên đài, nay sẽ được trực tiếp lái xe cho Bác. Vinh dự lớn lao ấy làm tôi vô cùng xúc động. Mặc dù có kinh nghiệm lái xe đường rừng núi, nhưng trong lòng cũng không khỏi lo lắng vì đây là lái xe cho Bác Hồ. Tôi lập tức đi kiểm tra và chuẩn bị xe thật cẩn thận.

Khoảng 9 giờ sáng, xe của Bác đến Bộ Tư lệnh Quân khu tại Thái Nguyên. Giây phút đầu tiên được gặp Bác, tôi rất hồi hộp. Bằng tác phong nhanh nhẹn, Bác chủ động bắt tay tôi và tươi cười nói: “Chú lái xe của Tư lệnh trẻ lắm!”. Cử chỉ thân mật của Bác khiến tôi thấy ấm áp và gần gũi biết bao. Theo bố trí, tôi lái xe cho Bác Hồ, đồng chí Lê Quảng Ba cùng ngồi để tiện trao đổi công việc.

Cả đoàn khởi hành, đi trước là xe làm nhiệm vụ dẹp đường và bảo vệ. Đường hồi đó hẹp, xấu, đèo, dốc cao cua liên tiếp cây cối rậm rạp khó đi. Xuất phát được vài trăm mét, Bác hỏi tôi: “Chú học lái xe bao giờ mà trẻ thế?”. Đồng chí Lê Quảng Ba báo cáo Bác: “Đồng chí Vở học khóa đầu tiên trường lái xe Tiến Bộ khi trường chuyển từ Quảng Tây, Trung Quốc về nước và được giữ lại làm giáo viên. Quân khu sang nhà trường xin về làm lái xe cho Tư lệnh vì đồng chí học giỏi nhất trường. Đồng chí còn tham gia thêm công tác thanh niên, làm Bí thư chi đoàn Bộ tham mưu Quân khu”. Bác bảo ngay: “Chú làm Bí thư thanh niên bản thân phải gương mẫu, trong sáng, làm tốt, nói thật, sống ngay thẳng. Luôn giản dị, khiêm tốn và biết vận động anh, em cùng làm tốt. Phải thương yêu đồng chí và giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ”.

Suốt hành trình, Bác tranh thủ thời gian trao đổi, dặn dò đồng chí Lê Quảng Ba rất nhiều điều. Còn tôi thì tập trung tất cả tinh thần để lái xe cho thật tốt, làm sao vừa an toàn vừa thật êm để Bác đỡ mệt. Những chặng đường này với tôi đã rất quen thuộc. Tôi nhớ từng ổ gà, đoạn cua, con đèo… Lái thạo ở những cung đường khó nhất như: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Colia… với những dốc cao, đường hẹp, cua tay áo. Sau khi thăm và nghỉ trưa tại Tỉnh ủy tỉnh Bắc Cạn, đoàn đi thẳng lên Cao Bằng. Sáng hôm sau, tôi lại được lái xe đưa Bác đi thăm những nơi Người từng ở và làm việc, thăm một số gia đình đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Buổi trưa, trước khi về xuôi, Bác đã khen tôi: “Chú Vở trẻ nhưng lái xe rất giỏi! Đưa Bác vượt qua đường dài, xấu mà không thấy mệt mỏi…”.

Hơn một ngày được bên Bác là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu đậm về tấm gương đạo đức của Người. Với cấp dưới, Bác gần gũi, tận tình chỉ bảo. Với đồng bào, Bác ân cần thăm hỏi, động viên. Bác luôn căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải không được quên công ơn của đồng bào đã cưu mang, giúp đỡ cách mạng. Nhắc nhở ăn uống phải đơn giản, phải tiết kiệm trong sử dụng tiền của nhân dân… Tất cả với tôi có ý nghĩa khích lệ to lớn để tiếp tục cố gắng phấn đấu tu dưỡng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Lời Người soi sáng đường ta đi

“Khi chưa được gặp Bác, tôi đã sớm đi theo con đường cách mạng của Đảng. Khi được gặp Bác, tôi càng thấy con đường mình đi là đúng đắn”, ông Vở chia sẻ. Sự chia sẻ bằng trải nghiệm từ chính cuộc đời.

Ông Lương Văn Vở sinh năm 1935 trong 1 gia đình nghèo (ông Vở cùng 3 anh, chị của mình phải chịu cảnh đi ở cho nhà giàu để nuôi thân) thuộc huyện Việt Yên (Bắc Giang). 15 tuổi tham gia cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chiến đấu trong vùng địch hậu, tham gia tiễu phỉ ở vùng Đông Bắc rồi được đi học lái xe… Từ đó, cuộc đời như gắn với buồng lái cơ động khắp các chiến trường.

Đi cùng những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhiệm vụ liên tục thay đổi, đối diện với biết bao gian khổ, hứng chịu sự hành hạ của bệnh sốt rét rừng, 4 lần bị sức ép của bom, 3 lần bị thương, trải qua 3 lần phẫu thuật mà vẫn còn mảnh đạn trong người… nhưng thương binh hạng 2/4 Lương Văn Vở vẫn luôn tâm niệm: “Trong tim tôi khắc ghi lời Bác dạy vượt qua khó khăn vững vàng vị trí chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”.

Trọn nghĩa với nước non, bước ra khỏi cuộc chiến về trong thời bình tiếp tục công tác rồi nghỉ hưu, ông Vở vẫn không ngừng phấn đấu để xứng đáng là người đảng viên, “bộ đội cụ Hồ” gương mẫu trong mọi công việc: ngược xuôi tất bật vận động, xin tài trợ để thành lập Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh và tổ chức thành công cho đồng đội đi thăm chiến trường xưa (gia đình ông Vở đã ủng hộ hơn 10 triệu đồng); động viên con cháu ủng hộ tích cực các loại quỹ nhân đạo… Nay dù tuổi đã cao, sức đã yếu, vết thương hay tái phát nhưng ông Vở vẫn vững vàng một niềm tin: “Tôi sẽ tiếp tục cùng đồng đội tích cực cống hiến sức lực và trí tuệ góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh như Bác Hồ hằng mong”.

Bài: Bảo Anh

baobacninh.com.vn

Tư duy đổi mới và phát triển trong Di chúc Bác Hồ

Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại.

>> Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

"Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn..." - Ảnh tư liệu

Tư duy cải cách, đổi mới xuất hiện ở tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1919 khi Người đòi “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách ban hành những đảm bảo cho người bản xứ cũng như người Âu”. Tư duy đó được nâng cao, mang nội dung khoa học và cách mạng dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin. Người quan niệm “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới”, và “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Ngay từ năm 1923, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”.

Di chúc kết tinh tinh thần đổi mới của Hồ Chí Minh mà trước hết là đổi mới tư duy. Ngoài nội dung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và phong trào cộng sản quốc tế, toàn bộ Di chúc bàn về tương lai của đất nước với “một kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Về kinh tế, Di chúc nói tới việc “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”. Về văn hóa, Di chúc đề cập việc “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Ngay cả khi bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ,Di chúc cũng thể hiện niềm tin chắc chắn, nhất định thắng lợi, rồi “ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.Người suy nghĩ “về một kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để xây dựng lại đất nước đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh”.

Từ phác thảo một kế hoạch bao quát về mở rộng kinh tế, phát triển công tác vệ sinh, y tế, giáo dục, quốc phòng, công việc thống nhất Tổ quốc, tư duy đổi mới sáng suốt nhằm xây dựng và phát triển đất nước có thể nhận rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nỗi bận tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là Đảng cầm quyền. Tại sao như vậy?

Một là, Người hiểu rõ sứ mệnh của Đảng cầm quyền rất nặng nề, vì từ xóa bỏ sang xây dựng là hai loại quy luật hoàn toàn khác nhau. Người chỉ rõ “thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Phải tạo lập một lực lượng sản xuất hiện đại và cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Hai là, Đảng cầm quyền, cán bộ đảng viên có quyền lực nên có thuận lợi cho Đảng lãnh đạo, nhưng từ hai mặt của quyền lực nên cũng là “mảnh đất” làm nảy sinh nhiều thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Ba là, từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, không chỉ khó khăn về lực lượng sản xuất, về kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mà một điều đáng quan ngại là tư duy tiểu nông gắn với những nếp sống, thói quen, ý nghĩa và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng nghìn năm.

Trong Di chúc, Hồ Chí Minh coi “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là cuộc chiến đấu khổng lồ”. Sự hư hỏng ở đây không đơn giản chỉ là vật chất mà nguy hại hơn là con người, tư tưởng, tổ chức. Người lường tới những khó khăn, phức tạp cho cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, vượt qua khó khăn, chiến đấu với niềm tin nhất định thắng lợi.

Tóm lại, Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại. Đó cũng chính là chân giá trị lý luận và thực tiễn của Di chúc Bác Hồ trong thời đại ngày nay.

PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG
Theo Quân đội nhân dân

tuoitre.vn

Học tập, làm theo tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc sống rất giản dị, khiêm nhường, song cũng rất vĩ đại; Người không những là nhà cách mạng lỗi lạc mà còn là một con người giàu lòng nhân ái, có sức lôi cuốn, cảm hóa sâu sắc.

Những câu chuyện kể về Người, cho thấy trong đời, ai đó dù chỉ một lần được tiếp xúc, gặp gỡ, được sống bên Người đều có thể học tập và nhớ mãi cảm xúc khó quên, kỷ niệm tình người nồng ấm của Bác. Đối với các thế hệ thanh niên, nét tâm lý tình cảm đặc biệt đó ở Người dành cho cũng vô cùng sinh động. Có thể nói cả cuộc đời và sự nghiệp giáo dục cách mạng của Người, là hết lòng chăm lo cho sự tiến bộ, hạnh phúc và tương lai của các thế hệ trẻ Việt Nam.

Trước lúc đi xa về với tổ tiên, thế giới người hiền, Người đã không quên viết Di chúc dặn lại: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”1.

Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thiết nghĩ, người làm công tác thanh niên ngày nay cần phải bắt đầu từ những kinh nghiệm, những nét tâm lý tình cảm của Bác Hồ đến với họ. Để truyền lại cho thanh niên những tri thức, giá trị văn hóa đạo đức của Bác cần nghiên cứu và vận dụng tốt những yêu cầu sau.

Khi nói và viết cho thanh niên phải xuất phát trên cơ sở cảm xúc, tình cảm chân thật, phù hợp với nhân cách tuổi trẻ.

Theo Bác Hồ, người đi tuyên truyền xây dựng phong trào thanh niên phải là người hơn ai hết phải có năng lực am hiểu về tâm-sinh lý thanh niên; phải làm sao hòa nhập vào họ, bằng một cảm xúc thực sự tự đáy lòng mình. Hiểu biết và yêu mến thanh niên nên khi tiếp xúc, giao lưu với họ, Người thường có phong thái tự nhiên, thân tình cởi mở. Trong những lời dạy của Người bao giờ cũng tạo cho người nghe một cảm xúc, một niềm tin yêu, lạc quan hướng tới tương lai. Với một cảm xúc tươi trẻ, phấn khởi Người nói: “Là người theo dõi tổ chức thanh niên từ bước đầu chỉ có 8 cháu, ngày nay trông thấy có hàng triệu đoàn viên, thanh niên… phát triển mơn mởn như hoa mùa xuân… Vì vậy, Bác rất tự hào sung sướng thấy mình như trẻ lại, thấy trong tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”. Thực tiễn hoạt động cách mạng, Người đã khéo léo thể nghiệm về vai trò và quy luật, yếu tố tình cảm; vừa là điều kiện vừa là phương tiện đồng thời là nội dung giáo dục rất quan trọng đối với thanh niên. Người viết: “phải xuất phát từ tình cảm cách mạng, tình yêu thương con người… Có như thế, mới tìm ra cái đúng cái hay”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên “cần phải đi vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề một cách thiết thực”.

Nói và viết cho thanh niên cần phải chú ý gắn liền với những nội dung có tính định hướng tư tưởng, giáo dục các giá trị đạo đức, tình cảm và lý tưởng cách mạng cho thanh niên.

Đặc trưng tâm lý thanh niên, là nét tâm-sinh lý của lứa tuổi đầu đời, tuổi nhân cách đã và đang trưởng thành. Đây là lứa tuổi sôi nổi, nhạy cảm, nhu cầu thẩm mĩ cao, ôm ấp nhiều ước mơ, hoài bão, có sức khỏe và cảm xúc mạnh; dễ đến với cái mới, ham thích khám phá; có tâm hồn vô tư trong sáng, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh. Trong cuộc sống họ thường tự khẳng định, đề cao vai trò, vị trí của mình; mong được xã hội, người xung quanh tin tưởng, thừa nhận như một thành viên tích cực. Mặt khác, những hạn chế của lứa tuổi này, xu hướng nói chung, phẩm chất thói quen ứng xử và các thuộc tính tình cảm chưa ổn định; do vốn kinh nghiệm, kỹ năng sống còn ít; nhãn quan về chính trị, lý tưởng nghề nghiệp thường chưa thật chín muồi, tâm trạng dễ thay đổi, chán nản…

Trong phương hướng, nhiệm vụ trong công tác thanh niên, cần tăng cường giáo dục tình cảm cách mạng và các giá trị cho họ; nhất là những chuẩn mực giá trị đạo đức, lý tưởng của Đảng cho họ. Nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng A.x. Ma-ca-ren-cô viết: “Giáo dục tính cách Bôn-sê-vích chân chính là giáo dục tình cảm con người. Tôi tin rằng nếu chúng ta không giáo dục một cách đúng đắn thì cũng có nghĩa chúng ta chẳng giáo dục gì cả”.

Nặng tình yêu quê hương, đất nước và đặc biệt đối với lớp trẻ, nên chúng ta thường thấy trong các lời nói của Người, chan chứa tình cảm thân thương; nó như thắp sáng ngọn lửa tình cảm cách mạng, niềm tin và ý chí vươn lên cho tuổi trẻ. Tết Nguyên đán (1945-1946), trong một cảm xúc mới; Bác nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Do đó, nhà giáo dục cần phải khéo léo lồng ghép nội dung bồi dưỡng tình cảm cách mạng cho thanh niên; thông qua các phong trào hoạt động của tuổi trẻ hình thành thế giới quan, niềm tin vào mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Nói và viết đúng những vấn đề bức thiết, nguyện vọng, nhu cầu của thanh niên hiện nay.

Ngày nay thế hệ trẻ không ngừng được phát triển trên nhiều lĩnh vực, họ xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ “Đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt… có chí tiến thủ”. Nhận thức đúng chân lý đó, không chỉ giúp cho chúng ta bỏ được mặc cảm về những hạn chế lớp trẻ, mà còn có được cái nhìn đúng đắn, niềm tin về họ và nêu cao hơn tinh thần trách nhiệm đối với thanh niên. Tâm lý chung của nhà giáo dục và của người lớn như Người chỉ rõ: “Nếu so với thanh niên lớp trước trong đó có cả Bác thì thanh niên ta ngày nay sung sướng hơn nhiều”; song “một bộ phận khá đông thanh niên chưa hiểu thấu rằng tất cả lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang, vì vậy họ chưa thiết tha yêu nghề, thường “đứng núi này, trông núi nọ”… Thanh niên ta cần phải hiểu rằng: bất kỳ công việc gì, mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều là vẻ vang, đều là anh hùng”.

Bằng tình cảm chân tình, trên sự nắm bắt, hiểu được quy luật tình cảm, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, người đi giáo dục phải xem xét toàn diện về thanh niên mới tìm ra cái đúng cái hay và có cách làm sáng tạo, khéo léo, có sức thuyết phục lôi cuốn họ. Cán bộ Đoàn phải là người luôn đi đầu, gương mẫu, quan tâm đời sống tình cảm thanh niên, hiểu rõ cả tâm – sinh lý của họ, nhiệt tình giúp họ giải quyết các vấn đề một cách cụ thể, hiệu quả. Nguyện vọng bức thiết của đa số thanh niên hiện nay là vấn đề học hành, nghề nghiệp, việc làm. Để đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng bức thiết đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên cần phải thấm nhuần và làm theo lời dạy của Bác. Nêu cao vai trò gương mẫu, nói phải đi đôi với làm. Thường xuyên quan tâm, có chính sách, biện pháp giúp thanh niên có động cơ, thái độ đúng đắn và nhiệt tình cách mạng. Không ngừng tự học, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận và năng lực công tác.

Đại tá Ths Đào Văn Trường

1- Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia HN, 1999, tr26.

baobacninh.com.vn

Hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Kinh thánh đã dạy: “Khởi thuỷ là lời nói”; Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thuỷ là hành động”.

Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, nói là để làm. Người là tấm gương sáng ngời về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Những tư tưởng trên được chứng minh một cách hùng hồn bằng cả cuộc đời hoạt động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những quyết định lịch sử ở những bước ngoặt lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Năm 1911, 21 tuổi, Người đi nước ngoài tìm đường cứu nước. Năm 1920, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng cho dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam; cùng với Đảng dẫn dắt giai cấp và dân tộc trên mọi chặng đường thắng lợi của cách mạng: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Đế quốc Mỹ, mở đường cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp nêu gương đi đầu về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo lời dạy của Người:

Về ý thức trách nhiệm: Khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, làm một cách tự giác, theo lương tâm, lương tri, theo nhu cầu nội tâm của cá nhân mình. Nếu làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ; thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm.

Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Có trách nhiệm với đất nước theo lời dạy của Người “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết, tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hi sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”. “Trung với nước, hiếu với dân”, “Tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Lý tưởng cao cả của Đảng ta, của cán bộ, đảng viên là phục vụ nhân dân. “Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân trước hết, đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; đó là lẽ sống cao quý nhất của người cách mạng”. “Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Quan tâm chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân theo tinh thần “Nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, là Đảng và Chính phủ có lỗi”. “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì dân mà làm việc. Không được tự cao, tự đại, khinh rẻ dân, chê bai dân. Hướng dẫn nhân dân tự chăm lo cho đời sống của mình.

Góp phần đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn, vì lợi ích của nhân dân theo lời dạy của Người: “Cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc.

Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân phải luôn quán triệt cán bộ là công bộc, là đầy tớ của dân: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”. “Luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy” hoặc “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết mà không làm”.

Nói đi đôi với làm, nêu gương bằng những hành động thực tế là một trong ba nguyên tắc Hồ Chủ tịch chỉ ra về rèn luyện đạo đức cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người là một tấm gương sáng ngời thực hiện nguyên tắc đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Hơn nữa, chúng ta còn thấy Người nói ít nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức Người làm mà không nói. Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành nêu gương đi đầu về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

Đỗ Ngọc Uẩn

baobacninh.com.vn

Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi!

Cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi lại thấy bâng khuâng, nao nức. Hơn 10 năm qua, gia đình tôi tạc hàng nghìn pho tượng Bác Hồ xuất phát từ nỗi niềm biết ơn và sự kính trọng chân thành!”-bà Nguyệt, 79 tuổi ở thôn Quảng Bố, xã Quảng Phú (Lương Tài) xúc động tâm sự với chúng tôi.

Xã Quảng Phú nổi tiếng từ xưa bởi đa dạng nhiều ngành nghề cơ khí, luyện kim, đúc đồng, đồ gia dụng… nhưng người nặng lòng theo đuổi nghề tạc hình ảnh Bác thì duy nhất chỉ có gia đình bà Nguyệt. Từng công tác ở Tổng cục chính trị với nhiệm vụ đúc huân huy chương cho cán bộ và chiến sỹ, khi trở về quê được thừa hưởng nghề truyền thống đúc đồng, để tỏ lòng kính yêu cảm phục vị lãnh tụ dân tộc, gia đình bà đến với công việc đúc hình tượng Bác một cách thầm lặng. Bước khởi đầu vào nghề đầy khó khăn và gian nan, nhiều pho tượng phải làm đi làm lại nhiều lần, vất vả nhất là ở khuôn mặt Bác, đòi hỏi người thợ phải có đức tính kiên trì và tâm huyết. Song khó khăn nhất vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bà phải đi khắp nơi để giới thiệu sản phẩm, tìm đầu ra cho sản phẩm nghệ thuật độc đáo này. Thời gian đã nuôi dưỡng và cất cánh ước mơ hoài bão lớn của cuộc đời khi sản phẩm tượng Bác Hồ đã có đơn đặt hàng thường xuyên từ Bộ Quốc Phòng, Tổng cục chính trị… điều đó đã tạo nguồn lực cho bà mở rộng quy mô sản xuất. Hiện nay, cơ sở của gia đình bà Nguyệt mỗi năm sản xuất được khoảng 1500-2000 pho tượng các loại, tạo việc làm ổn định cho gần 20 lao động với mức thu nhập từ 2-3 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, còn có một số thợ lành nghề như anh Tạ Văn Công, thôn Tuyên Bá (Quảng Phú) sau khi được bà truyền dạy những kỹ năng, đã có thể tự mang vật liệu về gia đình sản xuất. Anh Công tâm sự: “Tôi gặp bà Nguyệt và đến với nghề cũng bởi cái duyên.  Tình yêu và sự tôn thờ của bà về Bác, khiến những người thợ ai cũng mến phục làm theo. Mỗi khi hoàn thiện một pho tượng về Bác là tôi cảm thấy mình như lớn khôn và hạnh phúc “Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi!”.

Anh Đỗ Huy Long (con trai út bà Nguyệt) tận tình giới thiệu cho chúng  tôi các khâu công đoạn gia công pho tượng: từ nung chảy kim loại đổ vào khuôn, rồi thực hiện các thao tác kỹ thuật gọt rũa đánh bóng, hoàn thiện sản phẩm. Nghe qua thì giản đơn, nhưng để tạo ra một bức tượng không dễ chút nào, đòi hỏi người thợ phải có trí tưởng tượng, sức bền bỉ, lòng kiên trì và niềm đam mê sáng tạo. Anh Lê Văn Thảo, công nhân kỹ thuật (Quảng Ninh) chia sẻ: “Đúc tượng là một quá trình làm việc vất vả với những kỹ thuật phức tạp, lắm công phu. Lúc đầu về đây làm rất khó khăn, nhưng nhờ sự tận tình hướng dẫn các thao tác tôi đã dần quen và thành thục.

Trong ngôi nhà khang trang giữa làng, chúng tôi nhãn mãn chiêm ngưỡng tượng Bác Hồ ken chặt kín, phong phú đủ loại nhỏ to, chất liệu. Hình tượng Bác trong các tác phẩm điêu khắc luôn hiện lên vẻ mềm mại và sống động lạ thường.  Anh Long cho biết: Đúc tượng chân dung là một lĩnh vực rất khó vì chân dung mỗi người có một hình dáng khác nhau, nhất là khi đúc chân dung vị cha già của dân tộc thì đòi hỏi người nghệ nhân phải thổi được hồn để tạo lên một sản phẩm tượng đồng giống như thật người bên ngoài. Được biết trong tháng 7 tới, khoảng 500 pho tượng Bác Hồ của gia đình bà Nguyệt được hoàn thiện giao cho Bộ Quốc Phòng hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Bức tượng Bác Hồ không chỉ thể hiện sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật đúc đồng nơi đây đạt độ tinh sảo độc đáo, giầu tính nghệ thuật mà còn bày tỏ niềm tôn kính, tình yêu thiêng liêng dành trọn của những người thợ đúc đồng Lương Tài với Bác.

Bài: Đông Bích – Mạnh Tiến

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo lời Bác là tâm nguyện suốt đời”

Chân thành, cởi mở và không ngại khó khăn, luôn có cách làm sáng tạo, hiệu quả trong mọi phong trào- đó là hình ảnh người cựu TNXP, cựu chiến binh Nguyễn Thanh Khiết, 62 tuổi, thôn Tử Nê (Minh Đạo, Tiên Du). Ông là tấm gương tiêu biểu tích cực trong cuộc vận động “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình ảnh bộ đội cụ Hồ “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” trong bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao đã gieo vào tâm trí chàng thanh niên trẻ Nguyễn Thanh Khiết một hình tượng lý tưởng thúc giục ông làm đơn tình nguyện nhập ngũ năm 1965. Không đủ sức khỏe ông quay sang làm đơn cùng hơn 200 thanh niên của quê hương Tiên Sơn lên đường vào đơn vị TNXP Quyết Thắng, tham gia làm các con đường giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường đi cầu Treo, cầu Cài, đường ngầm Cầu Lường, đường xuống các bến phà Bố Hạ, Lục Nam (Bắc Giang), Đáp Cầu và Cầu Phao… Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, chàng TNXP Nguyễn Thanh Khiết hồi đó đã cùng đồng đội quyết tâm “sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”. Sau đó, ông được đơn vị cử đi học tại trường THCN Đường sắt 3 năm. Đúng dịp chuẩn bị nhận công tác mới, có đơn vị bộ đội về tuyển quân, ông lại làm đơn tình nguyện, xung phong đi bộ đội và huấn luyện tại Đoàn 4, Bộ Tư lệnh thông tin.

Qua hơn 20 năm quân ngũ ở cương vị nào ông cũng tâm niệm lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ đối với TNXP: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ông được tham dự Đại hội Đoàn toàn quân lần thứ 3 ở Hà Nội, được vào Phủ Chủ tịch, được nghe đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác Hồ) kể những mẩu chuyện xúc động về Bác.

Mang tinh thần của TNXP và bộ đội cụ Hồ ông trở về quê hương, gia đình và tham gia công tác xã hội. Nghỉ hưu được 20 năm thì 19 năm tham gia công tác tại địa phương, ông cùng vợ con tăng gia sản xuất, làm thêm nghề phụ, từng bước đưa cuộc sống gia đình ổn định và phát triển. Vẫn phong thái trẻ trung và lòng nhiệt huyết với các phong trào, người TNXP năm xưa nay là Phó Chủ tịch Hội cựu TNXP huyện Tiên Du, Chủ tịch Hội CCB xã Minh Đạo với bao thành tích đáng nể. Đặc biệt ông đã đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lan tỏa trong quần chúng.

Bản thân ông đã nhận thức được tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác, luôn kính trọng và ghi nhớ công ơn to lớn của Bác đối với dân tộc. “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là biện pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, giữ vững lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng”.- ông Khiết chia sẻ. Ông đã dành nhiều thời gian, công sức sưu tầm, tìm hiểu các câu chuyện về Bác, ra tận Bảo tàng Hồ Chí Minh để xin tư liệu, lựa chọn những câu chuyện mà mình ấn tượng nhất để xây dựng đề cương, tích cực luyện tập kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác. Bằng tình cảm tha thiết và kính trọng của mình, ông dự thi ở các cấp đều đạt giải cao: Giải nhất cụm 38, Nhất huyện Tiên Du, Nhất tỉnh Bắc Ninh và giải 3 khu vực I các tỉnh phía Bắc tại vòng thi sơ khảo toàn quốc, mang niềm vinh dự tự hào cho quê hương. Đặc biệt, năm 2009 vừa qua, ông vinh dự là đại biểu tham dự Hội nghị đại biểu cựu TNXP tiên tiến toàn quốc, Đại hội thi đua CCB gương mẫu toàn quốc lần thứ 5… Ông đã được Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, hội khen thưởng, ghi nhận có nhiều thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua nhiều năm liền.

Nay tuổi đã ngoài 60, với cương vị Chủ tịch Hội nhiều năm liền, ông Khiết đã cùng tập thể chăm lo xây dựng Hội vững mạnh, đi đầu trong các phong trào VHVN-TDTT của địa phương cũng như tham gia các cuộc vận động ủng hộ nghĩa tình như quỹ “Vì người nghèo”, quỹ khuyến học, ủng hộ hội viên CCB có hoàn cảnh khó khăn… “Tôi luôn tự nhủ, khi nào còn sức lực, còn trí tuệ thì còn cống hiến, vì học tập và làm theo gương Bác là tâm nguyện suốt đời tôi”.

Bài: Thu Huyền

baobacninh.com.vn