Tag Archive | Nông dân

Người nông dân 30 năm sưu tầm tư liệu về Bác Hồ

Bác với nhân dân

Tiếp tục đọc

Đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò, Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân.

Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội Nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban Đời sống mới”, nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, dân chủ và khoa học. Nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của “Ban Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục Sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cửa, trường học, bệnh xá bị đổ bao nhiêu. Khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân.

Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”. Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự. Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: “Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được”. Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nữa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình.

Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự Hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự Hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cũng đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân. Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi: “Tết vừa qua gia đình đón, Tết có vui không?”. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn Tết không vui. Bác hỏi: “Vì sao?”. Cụ kể lại: Gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn Tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui, Bác bảo: Làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”.

Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền lợi của nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo./.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông nghiệp- nông dân – nông thôn

Từ thủa lọt lòng vào mùa hè năm Dần (1890) ở vùng quê Xứ Nghệ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã sống trong cảnh làng quê với cây đa, giếng nước, luỹ tre xanh… 5 tuổi, bé Cung theo cha mẹ vào Huế, khi cả nhà nghỉ chân trên đỉnh Đèo Ngang, Cung nhìn ra biển thấy những thuyền buồm chạy theo chiều gió, Cung cho đó là những con bò đi trên ao lớn…(1).

Theo cha vào Huế lần thứ 2, đầu thời vua Duy Tân, Nguyễn Tất Thành học ở Quốc học Huế. Khi này tại Kinh đô thường xảy ra nhiều cuộc biểu tình của nông dân tỉnh Thừa Thiên chống sưu, chống thuế, Nguyễn Tất Thành và bạn đồng môn đã làm thông ngôn(2) giúp bà con nói rõ yêu sách với bọn thống trị, bị cảnh sát săn lùng, Nguyễn Tất Thành phải vào học tiếp chương trình tiểu học Pháp – Việt ở Quy Nhơn. Nghe lời cha, Nguyễn Tất Thành đi dần vào phương nam, tháng 6-1911 đã xuất dương tìm đường cứu nước.

Bốn tháng sau khi từ Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (giữa tháng l0-1923), đã đọc bài tham luận nói lên tình cảnh nông dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp bóc lột. Người nói:

“Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế khi không những nông dân ở Phương Tây, mà cả nông dân ở Phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị áp bức và bóc lột nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế của các đồng chí. Nếu đem so sánh người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam, người ta có ấn tượng rằng: Khi nông dân Nga đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, thì trong lúc đó, người nông dân Việt Nam đang bị treo ngược đầu xuống đất (?!)”(3).

Người đã dịch “Tuyên ngôn của Hội nghị Quốc tế Nông dân” (tháng 4-1924) ra tiếng Việt để gửi về nước.

Trong bài “Tổ chức dân cày” ở cuốn “Đường cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc viết: “Vì sao phải tổ chức dân cày?… Tây đồn điền choán ruộng thế nào?… Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?… Muốn thoát khỏi vòng vây cay đắng ấy thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng… Có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống”(4).

Sau khi trở về Tổ quốc năm 1941, Bác viết bài thơ lục bát “Dân cày” đăng trên báo Cứu quốc (1-8-1941), lời thơ thống thiết, kêu gọi “Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào… Mai sau thực hiện chương trình: Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền” (nghĩa là theo chương trình Việt Minh, nông dân ai cũng có ruộng cày)(5).

Ngày 3-9-1945 tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đã đề nghị phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất để diệt giặc đói do phát xít Nhật, thực dân Pháp gây nên.

Năm 1949, cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đã chuyển sang giai đoạn mới, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh giảm tô 25% để bồi dưỡng sức của nông dân tá điền. Cũng năm đó, trong bài “Dân vận”, Người viết: “Cán bộ canh nông thì hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát với dân (số đông là nông dân – VAP) thiết thực bày vẽ cho dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách chọn giống, ủ phân, làm cỏ”(6)… để phát triển sản xuất nông nghiệp. Đã có 2 lão nông chi điền được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động tại Đại hội “Liên hoan chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc” giữa năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc. Từ năm 1953 đến 1956 cuộc phát động giảm tô và cải cách ruộng đất được tiến hành từ Liên khu 4 trở ra, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực.

Không chỉ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp Người mới tổ chức tăng gia sản xuất, có đất ta trồng, có bãi ta chơi, thuận đường sang Bộ Tổng, tiện lối tới Trung ương mà khi về Thủ đô, bên cạnh nhà sàn, Bác cho làm một ao cá lớn, Người nuôi rất nhiều cá, đã có thời gian các địa phương đến đây nhận cá giống về nuôi trong các ao cá Bác Hồ.

Sinh thời, ngay cả khi tuổi đã cao, Hồ Chủ tịch thường xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi. Bác đã tát nước gầu sòng, đạp guồng đưa nước vào ruộng, hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương.
Trong những năm chống Mỹ ác liệt, Người đã viết thư khen nhiều xã viên, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn giỏi. Người rất quan tâm đến thời vụ sản xuất. Báo Nhân Dân ngày 15-1-1967 đã đăng bài của T.L (Bác Hồ). “Phải cấy chiêm xong trước tết”. Người thưởng huy hiệu cho những nông dân xuất sắc, đồng thời Người cũng phê bình trên báo một số bộ, ngành, một số xã, HTX làm ăn kém cỏi, đùn đẩy trách nhiệm, gây nên hệ quả là “dân cần quan không vội”!

Tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 12 (khoá 3) ngày 16-1-1966, Người nói: “Bác lên thăm nhà máy chè Phú Thọ, các đồng chí chuyên gia nói rất sẵn sàng dạy cho ta 20 cán bộ để làm thí điểm cách trồng chè cho tốt, nhà máy chè nghe như thế rất mừng. Nhà máy gửi báo cáo lên Bộ Nông Lâm. Ông Bộ Nông Lâm nói việc dạy học phải hỏi Bộ Giáo dục, chúng tôi không giải quyết. Lên Bộ Giáo dục, thì Bộ Giáo dục nói đây là việc trồng chè, chúng tôi không giải quyết được. Gần 2 năm không giải quyết. Khi Bác lên thăm tình cờ các chuyên gia nói lại. Khi về Bác gặp ông nông lâm, Bác nói nhất định phải cho 20 cán bộ học cái này; ông nông lâm giải quyết. Thế là học được”(7).

Cuối năm 1959 Bác viết bài “Tết trồng cây” kêu gọi toàn dân hưởng ứng. 10 năm sau trên báo Nhân Dân, 5-2-1969 lại đăng bài “Tết trồng cây” của T.L (Bác Hồ). Người biểu dương thành tích 10 năm nhân dân ta từ miền núi đến đồng bằng, ven biển đã trồng được hàng vạn hecta cây các loại; xã Đô Lương (Lạng Sơn) trong 5 năm (1964-1969) đã trồng được 270 ha rừng, đã bán cho Nhà nước và thị trường 2.000 m3 gỗ và củi. Nhờ có trồng cây, nên thuỷ lợi cũng tiến bộ, hơn 100ha ruộng trước kia bỏ hoá nay đã trở thành ruộng 5 tấn, hai năm 1967-1968 đóng góp nghĩa vụ lương thực được 271 tấn thóc, thu nhập của hợp tác xã năm 1965 được 16.250 đồng, năm 1967 đạt đến 50.240 đồng… Các địa phương phải học tập và thi đua với nơi có phong trào trồng cây khá. Bác còn nhắc chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa.

Câu nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây” của Bác Hồ đã trở thành mục tiêu, phương châm hành động của cả nước.

Ngày 15-5-1965, nhân dịp mừng 75 tuổi, Bác Hồ đã viết xong bản thảo Di chúc đầu tiên, trong đó có đoạn: “Nhân dân lao động ta (chủ yếu là nông dân – VAP chú thích) ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ… Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân…

Sau khi tôi qua đời… tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm… Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”(8).

Tháng 5-1968, Bác lại viết tiếp vào dự thảo bản Di chúc:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta… Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”(9).

Lời Di chúc sâu sắc, đầy ý nghĩa với tam nông, nhưng Người rất tôn trọng nguyên tắc, chỉ có ý đề nghị, còn phần quyết định thuộc về Trung ương Đảng và Chính phủ sau này.

Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng khoá 10 năm 2008 đã ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó xác định:

“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…”.

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tinh thần của nghị quyết này, nông nghiệp Việt Nam sẽ phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh tạo nền tảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vững mạnh.

_____________________

(1) Theo Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng. (2) Hồ Chí Minh – Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Nghệ An 2003, tr.16. (3) Việt Nam-Những sự kiện lịch sử 1919-1945 tr.60, NXB Giáo dục 2-2002. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.308-311. (5) Sđd, tập 3, tr.201. (6) Sđd, tập 5, tr.699. (7) Sđd, tập 12, tr.21. (8, 9) Sđd, tập 12, tr.498-504.
Vừ A Páo

xaydungdang.org.vn