Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Học tập lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm của Bác Hồ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm. Sự giản dị, khiêm tốn, tiết kiệm ấy mãi mãi là tấm g­ương sáng cho các thế hệ sau noi theo, nhất là trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hiện nay.

Sau khi tiếp quản Thủ đô (10/10/1954), Trung ư­ơng bố trí Bác ở và làm việc trong ngôi nhà cao tầng, đồ sộ, vốn là nơi ở của viên toàn quyền Đông Dư­ơng. Bác không đồng ý và sau đó chọn một căn phòng nhỏ trư­ớc đây là nơi ở của ng­ười thợ điện trong Phủ toàn quyền, đồng thời bảo anh em phục vụ quét dọn ngôi nhà đồ sộ ấy làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi. Chỉ một việc đó thôi, đã có bao nhiêu điều đáng nói về vị Chủ tịch nư­ớc: Không ham lầu son gác tía, mà gần gũi với nhân dân lao động, dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em…

Thấy đôi dép cao su của Bác đã cũ, anh em phục vụ đề nghị cho thay đôi dép mới nhưng Bác chư­a đồng ý, vì thấy dép vẫn còn dùng đư­ợc. Có ngư­ời mạnh dạn th­ưa với Bác là một đôi dép chỉ có hai đồng rưỡi. Như­ng Bác giải thích: “Vấn đề không phải là hai đồng rưỡi mà phải xem là đã cần thay dép mới chư­a? Đôi dép của Bác còn dùng đ­ược thì chư­a nên thay!”. Nhiều lần đi thăm các địa ph­ương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Theo Bác, xuống thăm các địa ph­ương, cơ quan, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém, Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh nh­ư vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã đư­ợc báo trư­ớc là Bác có mang cơm theo, như­ng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi đ­ược mời Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Thiết nghĩ, việc học tập và làm theo t­ư tư­ởng, đạo đức Bác Hồ trong việc thực hành lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm cần phải triển khai sâu rộng trong xã hội. Nhữ­ng lời dạy, nhữ­ng việc làm của Bác cần đư­ợc ôn lại, soi lại và làm cho nó bừng sáng trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Theo BCB

khcncaobang.gov.vn

Vị trí, vai trò của đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với công việc.

Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.

Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.

+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Hồng nhung (Theo haugiang.gov.vn)

khcncaobang.gov.vn

Học tập tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hoá kiệt suất của dân tộc Việt Nam và của nhân loại đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ tư tưởng có giá trị về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta.

Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết! Thành công! Thành công! Đại thành công

Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại mới làm thay đổi vận mệnh đất nước và từ chính những cuộc đấu tranh ấy, lịch sử đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình.

Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng của Bác là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tập hợp, tổ chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Bác nhận định: Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà là tư  tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng  Việt Nam. Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng. Qua thắng lợi của Cách mạng tháng 8, Bác đã chỉ ra: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó? Một phần là vì tình hình quốc tế có lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết…Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó”. Vì vậy, Bác nhấn mạnh “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Bởi vì đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nhiệm vụ củ quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, người tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.

Dù cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau song chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Bác luôn được xây dựng, hoàn thiện và tuân theo những nguyên tắc nhất quán là: Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người;  Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân; Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững; Đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn  trên tinh thần phê bình, tự phê bình vì sự thống nhất bền vững; Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Như vậy đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở và phải đi đến việc thực hiện đoàn kết quốc tế, nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là yếu tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn và đưa cách mạng Việt Nam lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Qua 20 năm đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước hợp với lòng dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân có bước đa dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủ xã hội được phát huy. Tuy nhiên, hiện nay trong khi sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh toàn dân thì việc tập hợp nhân dân vào mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân và ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào thiểu số,…

Vì vậy, trong điều kiện nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay thì việc quan trọng là phải khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao ý chí tự cường dân tộc, trong chính sách đoàn kết phải chú ý phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người, mỗi bộ phận  để mọi việc từ lãnh đạo, quản lý đến sản xuất kinh doanh, học tập và lao động đều có năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao. Đồng thời, phải khắc phục những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân tương ái của dân tộc, giải quyết đói nghèo, thu hẹp khoảng cách, ranh giới giữa đồng bằng và miền núi, giữa nông thôn và thành thị, củng cố khối đại đoàn kết 54 dân tộc, chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo, các tập quán tốt đẹp của dân tộc, kiên quyết loại trừ những âm mưu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để gây rối.

Trong tất cả người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều tiềm ẩn tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể, cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

Hồng Nhung (TH)
Theo http://www.scribd.com

khcncaobang.gov.vn

Quan điểm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (Kỳ II)

3. Tinh thần trách nhiệm là gì?

Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công.

Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v… là không có tinh thần trách nhiệm.

… Tinh thần trách nhiệm là: Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ.

… Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ.

Tinh phần trách nhiệm,
ngày 31-12-1951, sđd, t.6, tr. 345-346.

4. Tiết kiệm

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải tiêu cực.

Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu,
tháng 5-1952, sđd, t.6, tr. 485.

5. Người cán bộ cách mạng

Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:

Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường.

Tận trung với nước. Tận hiếu với dân.

Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không…

Người cán bộ cách mạng, tháng 3-1955, sđd, t.7, tr. 480.

6. Tự do tư tưởng

… Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.

Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý.

Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý.

Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 21-7-1956, sđd, t.8, tr. 216

7. Đạo đức cách mạng

Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang…

Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng. Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập.

Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó cũng là biểu hiện của đạo đức cách mạng.

… Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

Đạo đức cách mạng,
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr.283- 285.

Đạo đức cách mạng là bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đạo đức cách mạng là đạo đức tập thể, nó phải đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng chủ nghĩa xã hội.

Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên lao động Việt Nam,
ngày 24-3-1961, sđd, t.10, tr. 306

8. Thi hành đạo đức cách mạng

… Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân…

Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng…

Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng…

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.

9. … Muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản phải có những con người cộng sản chủ nghĩa, nghĩa là phải có những người có đạo đức cộng sản. Nước ta cũng áp dụng đúng tinh thần như thế: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đạo đức xã hội chủ nghĩa không phải ở đâu cũng biểu hiện giống nhau. Ở nước ta, đạo đức xã hội chủ nghĩa là cần kiệm xây dựng nước nhà. Mọi người thi đua học tập theo cách xã hội chủ nghĩa, lao động theo xã hội chủ nghĩa, có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Các cô, các chú, các cháu ở đây thì thi đua học tập để về phục vụ việc xây dựng nước nhà.

Nói chuyện với sinh viên và cán bộ Việt Nam đang học tập và công tác ở Mátxcơva,
ngày 29-10-1961, sđd, t.10, tr. 679.

10. … Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân. Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái “thiện” và cái “ác”, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân.

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ.

Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an,
ngày 16-5-1959, sđd, t.9, tr. 448.

11. … Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi.

… Loài người đang thức tỉnh; nhưng muốn tự giải phóng hoàn toàn, thì còn phải đấu tranh. Thế mà giờ đây người thầy đột ngột từ giã chúng ta, chưa được trông thấy kết quả cuối cùng của sự nghiệp của mình.

Những người có tâm huyết làm sao mà có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức, nam và nữ, há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại là tiến lên hay sao? Tiến lên!

Lê-nin và các dân tộc Phương Đông,
tháng 7-1924, sđd, t.1, tr. 295, 297.

12. … Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

Trả lời các nhà báo nước ngoài,
tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 161.

13. … Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang.

Thư gửi đồng bào Nam bộ,
tháng 6-1946, sđd, t.4, tr. 246.

14. … Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả.

Vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.

Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được.

Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói
ngày 13-6-1955, sđd, t.7, tr. 572.

quangbinh.gov.vn

Quan điểm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (Kỳ I)

1. . Nhân nghĩa trí dũng

a) Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà… không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã… không e, không sợ gì thì việc gì phải họ đều làm được.

b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

e) Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?

Sửa đổi lối làm việc,
Tháng 10-1947, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 251-253.

2. Cần kiệm liêm chính

Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính…

Thiếu một đức, thì không thành người.

Cần

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai…

Tục ngữ ta có câu: nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khỏe.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.

Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.

Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.

Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng…

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là Cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác…

… Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội lỗi với đồng bào, với Tổ quốc…

Kiệm

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau như hai chân của con người.

Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không.

Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

… Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong 1 giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ…

Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Liêm

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc; hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam…

Chính

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính, là người Thiện.

Làm việc Tà, là người Ác.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), Chính là Thiện.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác…

Cần kiệm liêm chính, tháng 6-1949, sđd, t.5,tr.631,632-643

quangbinh.gov.vn

Hồ Chí Minh – biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng – một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Hồ Chí Minh vừa là một nhà đạo đức học vừa là biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh là hình ảnh sống của một lãnh tụ nhân dân, được nhân dân tin yêu và coi như ngọn cờ của toàn dân tộc, nhưng rất gần gũi với nhân dân, không tự cho phép mình đứng trên nhân dân và đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính đặc quyền, đặc lợi. Ở Người tỏa ra hào quang của một cuộc đời cao thượng, một tâm hồn trong sáng xưa nay hiếm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức không chỉ thể hiện trong các bài nói, viết của Người về đạo đức mà còn thể hiện trong hoạt động thực tiễn. Phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp trí thông minh, óc sáng suốt với lòng nhân đức, nghị lực kiên cường và đức tính khiêm tốn hiếm có, là hiện thân của những đức tính tốt đẹp nhất của dân tộc. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Tư cách người cách mạng” là vấn đề được Hồ Chí Minh đề cập đầu tiên khi Người viết tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927) nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta, giáo dục, đào tạo những lớp cán bộ cách mạng đầu tiên của Đảng, của dân tộc. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng biểu hiện ở những giá trị cốt lõi: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tinh thần quốc tế trong sáng. Với Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là là phẩm chất quan trọng nhất, là nền tảng của người chiến sĩ cách mạng; là linh hồn của một con người, một xã hội, một chế độ; là giá trị tinh thần có ý nghĩa như một sức mạnh vật chất to lớn giúp cho người cách mạng vượt qua mọi thử thách để thực hiện lý tưởng, mục tiêu của mình. Bác chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Mặt khác, đạo đức cách mạng phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí.

Vấn đề đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện, cụ thể và sâu sắc với mọi đối tượng, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong các mối quan hệ của con người, từ đó, Người khái quát thành những chuẩn mực giá trị chung nhất, cơ bản nhất mang tính phổ quát của nền đạo đức cách mạng Việt Nam. Những vấn đề đạo đức cách mạng mà Người đặt ra đối với cán bộ, đảng viên chính là nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời để ngăn chặn, khắc phục những hiện tượng tha hóa, tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, cậy quyền, cậy thế, lợi dụng quyền lực, tham quyền cố vị… Người nhấn mạnh: Đạo đức cách mạng không phải tự nhiên mà có. Nó do rèn luyện, giáo dục hằng ngày của mỗi người, từng tổ chức mà hình thành, phát triển. Cũng như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vậy, để có đạo đức cách mạng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi người, trên cương vị công tác của mình phải thể hiện trong thực tiễn phong trào cách mạng bằng nhận thức và những việc làm cụ thể. Xa rời thực tiễn, tách mình khỏi phong trào đấu tranh cách mạng của đất nước, dân tộc thì không thể có đạo đức cách mạng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của người cách mạng, sự thống nhất  giữa đức và tài là một vấn đề có tính nguyên tắc. Người khẳng định đức là “gốc” không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài mà giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau cả trong nhận thức và hành động thực tiễn. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo.

Bên cạnh đó, Người luôn quan tâm đến việc “xây” phải đi đôi với “chống”, nâng cao đạo đức cách mạng phải đi đôi với quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là mẹ đẻ của những tư tưởng không đúng, là kẻ thù nguy hiểm nhất của người cách mạng. Muốn trở thành người cách mạng chân chính không thể không loại trừ chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể. Nó là mẹ đẻ ra tất ca mọi tính hư, nét xấu như lười biếng, so bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô v.v… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”.

Một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh phải do những con người đạo đức xây dựng. Không tạo ra được một xã hội lành mạnh về đạo đức, lối sống thì xã hội sẽ mất động lực phát triển. Không xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức thực sự mẫu mực, thực sự là tấm gương sáng dẫn dắt đạo đức xã hội, để cho tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tâm lý sùng ngoại, chạy theo lợi ích cá nhân… diễn ra, thì chúng ta không thể vững vàng hội nhập với thế giới, và đó là nguy cơ đe doạ đến sự lãnh đạo của Đảng và sự phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng…”. Đại hội đòi hỏi chúng ta: “Trong những năm tới phải dành nhiều công sức, tạo được chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng”. Chúng ta cần thấy rõ rằng, trong tình hình hiện nay, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân vẫn giữ nguyên giá trị và tính thời sự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Người không chỉ để lại cho Đảng ta, nhân dân ta một sự nghiệp vĩ đại mà còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một di sản tinh thần vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài. Chính vì lẽ đó, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa to lớn đối với vận mệnh của cách mạng nước ta. Việc học tập và làm theo đạo đức, tấm gương Hồ Chí Minh là trách nhiệm và tình cảm của tất cả mọi người, của mọi cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, giáo dục học tập về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi đến thức tỉnh được lương tâm của mỗi con người, làm cho mỗi người tự mình hình thành được trong mình một “tòa án lương tâm” đủ sức phán xét thật nghiêm khắc về đạo đức làm người của chính mình; phải tu dưỡng suốt đời, phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục. Và thiết nghĩ, có làm được như vậy thì cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mới có thể đạt được hiệu quả thiết thực.

LÊ HOÀNG VIỆT LÂM

quangbinh.gov.vn

Tìm hiểu tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ nhiều năm nay, tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Đã có nhiều bài tham luận, bài viết, bài báo về đề tài này. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi xin tiếp cận đề tài đó ở những vấn đề sau đây:

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng vào lực lượng và trí tuệ của nhân dân.

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã dạy cán bộ, đảng viên bài học “Nước lấy dân làm gốc”. “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc lực lượng chính là ở dân”. Vì vậy, Người đề ra “cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”(1).

Tin tưởng vào lực lượng và trí tuệ của nhân dân là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Trong hoàn cảnh đất nước càng gian khổ thì lại càng phải tin vào khả năng cách mạng, tin vào lực lượng quần chúng nhân dân. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam non trẻ đứng trước những thử thách ngàn cân treo sợi tóc. Ngân quỹ quốc gia chỉ vẻn vẹn có hơn 1 triệu đồng bạc rách, nhưng lại có rất nhiều việc phải chi tiêu, nhiều vấn đề phải giải quyết. Chỉ còn cách duy nhất là dựa vào dân, tin vào dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phong trào thi đua yêu nước, phát động “Tuần lễ vàng” kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân với Chính phủ. Đáp lại niềm tin của Cụ Hồ, chỉ trong một thời gian ngắn, với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã quyên góp vào nền tài chính quốc gia được hơn 20 triệu đồng và hơn 370 kg vàng.

Như người xưa từng nói: “Nguy cơ lớn nhất đối với một đất nước là trong nước có người tài mà không biết, biết mà không dùng, dùng mà không tin”. Để kêu gọi, nhắn nhủ những người hiền tài ra giúp nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tìm người tài đức” đăng Báo Cứu quốc, số 411, ra ngày 20/11/1946. Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”. Chính nhờ tấm lòng rộng mở, đầy khoan dung, được thừa kế từ truyền thống lâu đời của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho tầng lớp nhân sĩ, trí thức đem hết công sức của mình vào sự nghiệp cách mạng. Ngay các quan lại cao cấp trong triều đình Huế, trong Chính phủ Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe,… cũng đã được ánh hào quang từ Người soi rọi, dẫn đường. Cụ Vũ Đình Hòe đã viết trong Hồi ký: “tôi đã từng nghe bạn bè nói đến Nguyễn Ái Quốc một cách cung kính, nhưng mãi đến Cách mạng Tháng Tám thành công mới được giáp mặt với Người tức thì bị chinh phục ngay bởi đôi mắt Hồ Chí Minh”. Giáo sư Tôn Thất Tùng cũng đã viết những dòng rất xúc động về Bác Hồ: “Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là người cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con“…

Trong bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam (tổ chức tại Hà Nội từ 5 – 10 tháng 9 năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(2).

Những việc Người tiến hành, những vấn đề Người nêu ra để thực hiện là sự vận dụng sáng tạo quan điểm lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và phát triển nó trong từng giai đoạn của cách mạng.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân.

Nước lấy dân làm gốc” vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là bí quyết thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân và do nhân dân xây dựng. Nghĩa là phải phát huy tinh thần làm chủ và tinh thần sáng tạo của nhân dân; nhân dân phải được tham gia một cách thực tế vào công việc quản lý sản xuất và đời sống của mình; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua các tổ chức đoàn thể đại diện như: Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ. Những vấn đề liên quan đến đường lối chính sách, đến cơ chế tổ chức có liên quan đến sinh mệnh, cuộc sống, tương lai hy vọng của hàng chục triệu quần chúng, nếu không có ý kiến của quần chúng, không tập hợp được trí tuệ của quần chúng sẽ không tránh khỏi những hạn chế sai lầm.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Phải ra sức thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị. Theo Người “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”, “Có dân chủ thì dân mới tin, mới dám nói, mới có sự sáng tạo”, do đó mới tạo nên động lực. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân… Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3).Vì vậy, phải thực hiện một nền dân chủ của nhân dân, đảm bảo lợi ích chính đáng của dân, dân chủ thực sự cho dân. Đồng thời cũng phải đề ra quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng cho mỗi công dân làm theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Đó là mối quan hệ khăng khít “Vì dân” và “Do dân”.

Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề Nhà nước, vấn đề chính quyền; làm thế nào để xây dựng được một nhà nước mà chính quyền thực sự thuộc về nhân dân và làm thế nào để mọi quyền hạn đều là của dân, mọi quyền hành thuộc về nhân dân. Diễn đạt thì dễ nhưng thực hiện được nguyên lý đó là cả một vấn đề khó khăn phức tạp. Dân làm chủ chỉ ở phạm vi hẹp, còn ở phạm vi rộng thì chỉ có thể làm chủ gián tiếp thông qua người đại diện của mình. Vì vậy, quan trọng là phải có một cơ chế để quyền làm chủ của nhân dân không bị vi phạm và nếu có bị vi phạm thì sẽ được ngăn chặn kịp thời. Vấn đề chính vẫn là ở những con người đại diện cho quyền lực của nhân dân, đang thực thi các công vụ trong bộ máy của chính quyền. Bộ máy chính quyền ấy chỉ đúng là của dân khi mà họ luôn là “Đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký của Bác Hồ kể chuyện: Có lần đồng chí hỏi Bác Hồ về kinh nghiệm chữa bệnh nóng giận. Bác Hồ hỏi: Bác đã khi nào nóng giận với chú chưa? Đồng chí Vũ Kỳ trả lời: Chưa ạ!. Bác Hồ nói “Chúng ta tôn trọng nhau”. Một bài học đáng ghi nhớ ở đây là đồng chí Vũ Kỳ là người giúp việc của Bác Hồ, thì rất khó có thể nóng giận với Bác. Nhưng Bác Hồ là cấp trên của đồng chí Vũ Kỳ mà không khi nào nóng giận với cấp dưới, vì Người có lòng yêu thương, quý trọng con người. Tình cảm đó xuất phát từ tâm can, thể hiện thành phong cách làm việc và thái độ ứng xử hàng ngày với con người, với nhân dân của Bác.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, nghiêm khắc phê phán những biểu hiện vi phạm lợi ích của nhân dân.

Với quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem mình là người phục vụ quần chúng, chịu trách nhiệm trước quần chúng. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của tệ quan liêu, xa dân, khinh dân, đặc biệt là thói kiêu ngạo “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai, “không tin dân” để dẫn đến chỗ “dân không tin” làm hại đến uy tín của Đảng, của Chính phủ. Trong điện gửi các cán bộ chính quyền và đoàn thể miền Nam Trung Bộ năm 1950, Người phê bình: “…Máy móc, ép buộc đồng bào, nhiều việc quá trình độ, dân không hiểu, không thích. Đã thấy sai lầm mà không kịp thời sửa chữa, kịp thời báo cáo. Dùng thói quan liêu, chỉ biết ra lệnh, ép buộc dân chúng đóng góp”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân…”. “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(6). Những thói tham ô, lãng phí, quan liêu hại đến sức lực tiền của của nhân dân đã bị Người lên án mạnh mẽ. Một trong những bằng chứng cụ thể là việc Người đã phê chuẩn án tử hình đối với Trần Dụ Châu, nguyên Đại tá, Giám đốc Nha quân nhu – Tổng cục Cung cấp (nay là Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng) can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Vụ án này được xét xử vào ngày 5/9/1950 tại chiến khu Việt Bắc. Có thể coi là vụ án tham nhũng điển hình xảy ra trong bối cảnh Đảng, Nhà nước, quân và dân ta còn gặp muôn trùng khó khăn, ăn đói, mặc rét nhằm đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết thúc phiên tòa, hai bị cáo trong vụ án này là Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu bị tuyên phạt với mức án cao nhất – tử hình. Bản án đã nhanh chóng báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi cân nhắc, Người đã bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu. Quyết định xử tử hình Trần Dụ Châu của Bác thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Nhân dân đã thấy rõ: Chính quyền và đoàn thể không bao giờ dung túng một cán bộ nào làm bậy, dù cán bộ cao cấp đến đâu đi nữa.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ chỉ lo trách nhiệm với cấp trên thôi thì chưa đủ phải lo trách nhiệm với dân trước hết. Phải lấy trách nhiệm với nhân dân làm động lực để hoàn thành tốt công việc, rồi mới đem công việc đó báo cáo với cấp trên. Người phê phán những cán bộ “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối quân chủ. Miệng thì nói phụng sự quần chúng, nhưng họ làm trái ngược với phương châm chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Phỏng theo quan điểm “Tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (nghĩa là: khó khăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ), trong các tác phẩm, bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập đến để căn dặn cán bộ, Đảng viên. Năm 1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi thanh niên, các cán bộ đoàn phải thực hiện cho được: “các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước nguời ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước”(7). Năm 1955, trong bài “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ chiến sĩ “Lo, thì lo trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”(8). Tháng 3/1961, trong bài “Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ mỗi người phải ra sức góp công, góp sức để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” mà phải “chí công, vô tư” và phải có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người khẳng định: “Đó mới là đạo đức của người Cộng sản” và “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”(9).

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến cuộc sống của nhân dân.

Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của nhân dân như Người từng thổ lộ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(10). Khi nước nhà vừa giành được độc lập, Người nêu rõ quan điểm: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(11).

Năm 1955, nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định trách nhiệm của Đảng, Chính phủ đối với cuộc sống hàng ngày của dân. Người nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi…” “Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”(12). Bước sang thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Mục đích của Chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn, dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(13). Người yêu cầu Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để “phát triển kinh tế và văn hoá”, “Làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ”(14).

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa là cuộc cách mạng to lớn, phức tạp, mới mẻ, chưa có tiền tệ trong lịch sử nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cơ sở vật chất, kỹ thuật, đến sản xuất, đến hiệu quả kinh tế. Nhưng trước hết Người quan tâm đến điều kiện sinh hoạt, đến cuộc sống cụ thể của người dân như ăn, mặc, ở, đi lại. Người vừa chăm lo đến cuộc sống, vừa chăm lo đến cái chung, vừa chu đáo từng việc làm cụ thể đối với con người cụ thể thuộc các giai cấp, các tầng lớp, các lứa tuổi, từ cụ già, trẻ nhỏ, đến người tàn tật cô đơn. Mọi người dân Việt Nam đều nhận được những tình cảm chu đáo của Người đúng như lời thơ của Tố Hữu “Sữa để em thơ, lụa tặng người già”. Người căn dặn cán bộ từ trên xuống dưới “phải quan tâm đến điều kiện sinh hoạt vật chất của công nhân, phải chăm nom đến chỗ ăn, ở của người lao động”(15).

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đau đáu nỗi lòng về chăm lo cuộc sống của nhân dân, Người đã để lại những lời căn dặn tỉ mỉ những việc cần làm đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình, đối với cha mẹ, vợ con của thương binh liệt sĩ, đối với chiến sỹ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong, đối với nông dân, với việc “xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ”, “phát triển công tác vệ sinh y tế”, “sửa đổi chế độ giáo dục”… nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người. Dựa vào dân, tin vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là tạo nên sức mạnh đoàn kết và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, nhân dân. Đó là những nền tảng của công cuộc đổi mới và phát triển mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo nhân dân thực hiện.

Lê Văn Tuyên – Ngô Tuấn Anh

Chú thích:

1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T5, tr444
2. Sđd. T.10, tr.197
3. Sđd. T.5, tr.698
4. Sđd. T.5, tr.293
5. Sđd. T.6, tr.118
6. Sđd. T.4, tr.56-57
7. Sđd. T.5, tr.185
8. Sđd. T.7, tr.586
9. Sđd. T.10, tr.311
10. Sđd. T.4, tr.161,152
11. Sđd. T.10, tr.271
12. Sđd. T.7, tr.572
13. Sđd. T.10, tr.17
14. Sđd. T.10, tr.591
15. Sđd. T.10, tr.3

Theo Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện thân đạo đức – văn minh của Đảng và dân tộc ta

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó cũng là thắng lợi của ý chí, đạo đức, văn minh Việt Nam trước vũ khí, kỹ thuật và sự dã man, tàn bạo của kẻ thù

tranh_co_dong21_500.jpg
Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Công lao đó trước hết thuộc về nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất, thế hệ nối tiếp thế hệ, đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu liên tục, ròng rã 30 năm trời dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và với sự cổ vũ kỳ diệu của tư tưởng – đạo đức Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, tạo cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng một nền văn hóa mới và một nền đạo đức mới Việt Nam. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã cổ vũ, động viên các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân cách đó được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu người con anh hùng của đất nước – những chiến sĩ cách mạng kiểu mới của thời đại Hồ Chí Minh: trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Những cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng ta đã gương mẫu đi tiên phong trong cuộc đấu tranh anh hùng đó và chính họ đã cùng với nhân dân làm nên hiện tượng “kỳ diệu Việt Nam” trong thế kỷ 20, tiêu biểu cho lương tâm, vinh dự và phẩm giá con người.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới, đạo đức mới trong lịch sử dân tộc. Người đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta, nhân dân ta, truyền thống quang vinh của Đảng ta. Người nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức – văn minh” và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức = văn minh đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử dân tộc, Người còn để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc và của loài người.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân – một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

Vấn đề số một trong đạo đức của một vĩ nhân – cũng như của một người bình thường là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì? “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị – đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là “không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa trông rộng của một “phượng hoàng đại ngàn”, Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử. Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người chỉ thị: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” Vào giữa những năm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền nam Việt Nam và tăng cường cho không quân, hải quan ném bom, bắn phá dữ dội miền băc, hòng đưa chúng ta trở lại thời kỳ đồ đá! Trước tình thế đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí phách của toàn Đảng, toàn dân ta: “Dù nó ném hóa biển cũng phải giải phóng miền nam cho kỳ được!” (xem báo Nhân Dân ngày 24-5-1970). Thật “hiếm có một nhà lãnh đạo nào, trong những giờ phút thử thách, lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr 90). Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn “tự khuyên mình”: muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải “hoá lệ thành thơ” thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luộn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, “lấy dân làm gốc”. Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”

Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân. của “những người không quan trọng”, không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận”. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối vớii nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là “muôn vàn tình thân yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là “tư cách của người cách mạng”. Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Cuộc đời của Người, từ một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh đến khi làm Chủ tịch nước, sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã. Khách nước ngoài vào thăm nhà sàn của Bác Hồ đã rất xúc động khi được biết Người không hề có một chút của riêng. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.

Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết nhiều về tấm gương đạo đức của V.I.Lê-nin. Rèn luyện theo tấm gương đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân loại một tấm gương trọn vẹn, mười phân vẹn mười. ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức – văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội? Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

G.S Song Thành
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

nhoNguoicha

Để có nhân hòa

Bác Hồ trao đổi công tác quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Quân sự lần thứ năm họp vào tháng 8/1948, Bác Hồ đã nêu ra 6 yếu tố tạo nên đạo đức cách mạng của người cán bộ cộng sản là trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung. Người cán bộ có đủ 6 yếu tố này mới có thể đạt được “nhân hoà” và thực sự có uy tín trước quần chúng để người dân tin yêu, sống chết cùng mình không sợ hiểm nguy, góp phần đưa cách mạng thành công mau chóng và vững chắc.

Tư duy cổ truyền phương Đông luôn nhấn mạnh tới yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Bác Hồ từng lý giải: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: Thiên thời, địa lợi, và nhân hòa.

Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa.

Nhân hoà là thế nào

Nhân hoà là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết”.

Như vậy, theo ý tưởng của Bác Hồ, thu phục được nhân tâm là nhiệm vụ quan trọng trên hết của các cán bộ, “những người tướng của đoàn thể”.
Và để đạt được mục đích “nhân hòa”, các cán bộ cộng sản cần phải Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung. Cũng trong bài nói chuyện đã dẫn ở trên, Bác Hồ đã giải thích khá cặn kẽ nội dung của các tiêu chí trên. Theo Người, “Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng…”.

Và vì thế người cán bộ cách mạng “tuyệt đối không được khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột phải dùng hết sức mới bắt được”. Khinh địch tất sẽ thất bại”. Trong quan niệm của Bác, “Tín là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng là phải thưởng. Tín còn có nghĩa là tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn, tự cao”.
Bác căn dặn thêm: “Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”. Còn “Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh…”. Với Bác, “Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung…”.

Bác viết: “Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống…”. Theo Bác, “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon đều là bất liêm”. Bác từng kể ra những hạng người bất liêm trong tác phẩm Cần kiệm liêm chính viết xong khoảng tháng 6/1949:

“Người cán bộ cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lận chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của mình. Đều là tham lam, đều là bất liêm.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.

Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều trái với chữ Liêm…”.

Bác Hồ định nghĩa: “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”. Chữ Trung trong khái niệm mà Bác đưa ra rộng hơn chữ Trung của thời cũ…

Nếu đạt được tất cả những phẩm hạnh trên, người cán bộ cách mạng tất yếu “đắc nhân tâm”. Bản thân Bác Hồ đã luôn là một tấm gương mẫu mực về trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung. Những phẩm chất ấy đã giúp Bác luôn luôn thành công trong việc gây dựng yếu tố “nhân hòa”, dù ở bất cứ tình huống nào và vào bất cứ thời điểm nào của cách mạng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một sĩ phu lão thành ở tuổi “cổ lai hy” ngỡ như đã từng trải mọi sự đời, không còn gì để phải ngạc nhiên nữa, nhưng tháng giêng âm lịch năm 1946, sau lần đầu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã ngay lập tức thốt lên: “Dân ta có được Cụ Hồ, quả là hồng phúc!”. Cụ Huỳnh về sau còn lại một bài thơ tự vịnh nhan đề Thất thập tự tiếu (Bảy mươi tuổi, tự cười), như sau:

“Huỳnh Thúc Kháng tiếu kha kha,
Tứ phương, tam kỳ chi gia,
Hương, tộc, quốc, hữu da, vô da?
Đắc nhất tri kỷ kỳ như dĩ lão hà!”
Cụ Huỳnh tự dịch bài thơ đó như sau:
“Nghĩ ta ta cũng nực cười,
Nhà nhà ba cõi, người người bốn phương,
Hỏi đến nước, đến làng, đến họ,
Có hay không? không có? có không?
Bảy tuần đầu bạc như bông,
Được người tri kỷ thôi xong đã già”.

“Người tri kỷ” của Cụ Huỳnh ở đây chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì mến phục Bác Hồ nên Cụ Huỳnh đã không nề hà tuổi cao sức yếu tận tụy với sự nghiệp cách mạng của dân tộc cho tới tận hơi thở cuối cùng. Trước khi mất trên đường đi công tác vào ngày 21/4/1947, Cụ Huỳnh đã viết cho Bác Hồ những dòng đầy xúc động mà chỉ những tri âm, tri kỷ đích thực trên đời mới dành cho nhau: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang hạnh phúc. Chào vĩnh quyết!”.

Cũng trong giai đoạn sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Hoàng Minh Giám, một trí thức nổi tiếng thời đó, mới chỉ được làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh một khoảng thời gian ngắn, đã trầm trồ khoe với người bạn học cũ của mình từ Trường Quốc học Huế: “Cụ nhạy cảm vô cùng, thông minh tuyệt vời và có những hiểu biết cực kỳ sâu rộng. Tôi mới làm việc với Cụ một tuần lễ mà đã học tập được không biết bao nhiêu điều bổ ích…”.

Nhà báo Pháp Jean Lacouture, từng được Bác Hồ tiếp tại Bắc Bộ Phủ sau Cách mạng Tháng Tám, đã nhận xét rằng Bác “là nhân vật có tài chinh phục người đối thoại với mình ngay từ câu thứ hai”. Thời gian đó, vận nước cam go, quân Tàu Tưởng đã lợi dụng tình hình tràn vào nước ta với danh nghĩa thay mặt Đồng minh giải giáp tàn quân phát xít Nhật. Không khôn khéo, hòa hoãn đối xử với bọn chúng dễ nảy sinh tai họa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng tạo dựng được uy tín ngay cả với những tên tướng vốn rất hay “mục hạ vô nhân” như Tiêu Văn, Lư Hán, Hà Ứng Khâm…

Theo hồi ức của đồng chí Nguyễn Đức Thụy, công tác tại Ủy ban Ngoại giao Chính phủ ta trong những năm 1945-1946, Bác đã “rất bình tĩnh, đĩnh đạc” đối xử với tên trung tướng Tiêu Văn, vốn là chỗ đỡ đầu quan trọng nhất của bọn Nguyễn Hải Thần và từng tuyên bố: “Tiêu diệt Việt Minh trước rồi mới giải giáp quân Nhật sau”.

Ngang bướng, “ông kễnh”, Tiêu Văn từ chối tất cả những gì mà Chính phủ ta chuẩn bị sẵn để đón hắn như ngôi nhà cao đẹp cạnh Phủ Chủ tịch, các phương tiện đi lại tốt… Y đến ở tại tư gia của một Hoa kiều. Thấy vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đến thăm xã giao Tiêu Văn tại nhà người Hoa kiều đó.

Cách nói chuyện, ứng xử của người đứng đầu Chính phủ ta đã khiến Tiêu Văn dần bớt hung hăng và hiểu rõ hơn về quan điểm của chúng ta… Thậm chí, tới một thời điểm nào đó, quan hệ cá nhân giữa Bác với Tiêu Văn có thể nói là đã đạt được mức hữu hảo… Với Lư Hán cũng thế, sau vài ba lần tiếp xúc, Bác Hồ đã khiến cho y phải nể trọng. Đồng chí Nguyễn Đức Thụy nhớ lại: “Mỗi lần Bác đến thì Lư Hán và Mã Anh (Tham mưu trưởng của Lư Hán) đều ra cổng đón và tiễn Bác, đợi xe Bác quay đi rồi mới vào. Bác nói chuyện bằng tiếng Trung Quốc. Bác dùng cổ văn và thành ngữ của Trung Quốc nên nói ít mà ý nghĩa nhiều, họ rất khâm phục. Trong các công văn giao thiệp, họ không bao giờ dùng chữ Hồ Chủ tịch mà dùng Hồ Chí Minh tiên sinh. Đó là vì họ chưa công nhận chính quyền của ta. Nhưng lúc nói chuyện với Bác, họ đều xưng hô với Bác là Hồ Chủ tịch. Như vậy họ rất kính trọng Bác…”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của mình, đã không chỉ một lần Bác Hồ thoát được khỏi những tình huống hiểm nguy tưởng như nghìn cân treo sợi tóc chính bởi Người đã “đắc nhân tâm”, bởi Người luôn sống và làm việc không phải vì những mục đích cá nhân, mà thực sự ham muốn tột bậc của Người chỉ là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi…” (Trả lời các nhà báo nước ngoài ngày 21/1/1946).

Văn Bình An
Theo Tutuonghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Một bài báo của Bác in đúng Ngày thành lập Đảng

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và không ngừng chăm lo đến công tác xây dựng Đảng. Người mong muốn và đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trong sạch, lớn mạnh, là đạo đức và văn minh, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là một Đảng cách mạng, vì nước vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt NamChủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng 3 tháng 2 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Ban Tuyên huấn của Đảng chuẩn bị một bài báo, mà Bác đặt tiêu đề là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Ít ngày sau, bài báo được Ban Tuyên huấn gửi đến, Bác đã đọc lại, sửa chữa, và sau đó mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách Ban Tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ thư ký của Bác đến cùng nghe và góp ý kiến.  Nghe đọc xong, đồng chí Tố Hữu nói:

– Bác đã chữa hết bài báo của Ban Tuyên huấn rồi ạ. Bác cười:

– Bác chữa nhưng vẫn để lại một số ý của các chú…

Mọi người đều góp ý, đây là một bài báo có nội dung rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng. Ý Bác muốn mọi cán bộ đảng viên, từ người lãnh đạo cao cấp đến những đảng viên, đoàn viên đều phải gương mẫu, ra sức tu dưỡng để trở thành những cán bộ tốt phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Song đồng chí Tố Hữu xin Bác đổi lại tựa đề bài báo là đưa câu Nâng cao đạo đức cách mạng lên trên… Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý sửa lại tựa đề, nhưng nội dung trong bài thì cứ để như cũ.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: “Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới đem về. Chú có quét nhà ra trước không rồi mới kê chiếc tủ mới vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà?”.

Ý Bác sâu sắc như thế đấy, nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Có thể nói, đây là một trong những bài báo cuối cùng của Bác, để lại cho chúng ta. Bài báo này đã được Bác gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên Báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác cũng muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng về vấn đề quan trọng chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách  mạng.

Đã rất nhiều lần, rất nhiều lần, Bác đã nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bác dùng từ “quét sạch” để thể hiện một quyết tâm chính trị lớn.

Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, ngay phần mở đầu “Tư cách của một người cách mệnh” Bác đã viết phải “vị công, vong tư “, “biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Năm 1947, trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, Bác đã viết: “Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ”.

Lần này, trong bài báo của mình, Bác nhấn mạnh:

“Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ và đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau, và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo: “Mình vì mọi người” mà chỉ muốn “Mọi người vì mình”.

Bác vạch rõ những nguy hại do chủ nghĩa cá nhân gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”.

Chúng ta đều biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Bác Hồ cũng đã viết: “Cán bộ ta nhiều người “Cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết.

Năm 1951, trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai khai mạc tại Tuyên Quang, Bác cũng đã nói: “Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Bác cũng nhấn mạnh “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính…”.

Trong Di chúc của mình, Bác cũng dặn dò: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ này, Bác đã 4 lần nhấn mạnh chữ “Thật” và “Thật Sự”. Ý Bác là vấn đề quét sạch chủ nghĩa cá nhân nâng cao đạo đức cách mạng là vấn đề phải được hết sức quan tâm, hết sức coi trọng, chứ không thể chỉ làm qua loa, nửa vời, nói xong rồi đâu lại vào đấy. Vì như vậy sẽ làm cho nhân dân mất niềm tin.

*

Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI vừa qua, với tinh thần trách nhiệm rất cao đã ban hành Nghị quyết của Trung ương “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu:

1 – Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

2 – Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

3 – Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã chỉ rõ:

“Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó khăn, thách thức. Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp. Trong tình hình ấy, nếu Đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo để đưa đất nước tiếp tục đi lên. Vì vậy, lần này Trung ương quyết định phải tiếp tục tiến hành củng cố xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta”.

Quyết tâm ấy của Đảng đang truyền một niềm tin tưởng trong nhân dân. Toàn thể đảng viên và nhân dân đều mong muốn Đảng ta trong sạch, lớn mạnh xứng đáng là đạo đức là văn minh, để đưa nhân dân ta tiến lên những thắng lợi mới trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta.

Trong thời điểm này của đất nước, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng làm chúng ta suy ngẫm một cách sâu sắc. Tháng 6 năm 1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói:

“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và tiêu diệt nó. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Và Bác cũng chỉ ra cách làm là phải:

“Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Mùa Xuân này, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu. Và chúng ta lại nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Hải Như đã viết: “Đừng tưởng Bác Hồ chỉ có vui thôi/ Có những phút Bác Hồ buồn ghê gớm/ Ấy là lúc: Ta sai lầm to lớn/ Quên mọi người, ta chỉ thấy mình ta…”.

Nhớ Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và tất cả nhân dân ta hãy tự mình quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, như đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nói, nếu mỗi người chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động./.

Bùi Hải Bình

nhoNguoicha

Chiếc áo trấn thủ và mùa đông năm ấy (*)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tăng gia sản xuất sau giờ làm việc ở Chiến khu Việt Bắc

Mùa đông năm 1948, cơ quan chúng tôi đóng ở bản X, thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Năm ấy là năm rét nhiều, sương muối sa liên tục, hết đợt này đến đợt khác. Sáng ra, sương đóng trắng quanh nhà, có hôm đến tám, chín giờ sương vẫn chưa tan hết. Hai bàn tay, hai bàn chân buốt tê cóng.

Trước khi về nhận công tác ở gần Bác, có nhiều lần anh em phải nằm trong hang núi đá ở Võ Nhai (Thái Nguyên) để tránh quân Pháp nhảy dù. Quần áo ít, không có chăn chiếu, lại gặp cái lạnh của núi đá nên anh T bị ho. Hôm về phục vụ Bác, anh vẫn ho sù sụ suốt ngày, nhiều lúc ho quá, tức ngực tưởng long cả phổi.

Bác phải làm việc nhiều, cần yên tĩnh, nên chúng tôi làm riêng một cái lán nhỏ để Bác ngủ và làm việc ngay tại đó. Tất cả anh em chúng tôi ở lán ngoài, chỉ khi nào cần mới vào lán của Bác. Chính vì thế mà anh T đã giấu được, không để Bác biết anh bị ho.

Trước mắt Bác, anh cố làm ra vẻ khoẻ mạnh, khi nào muốn ho, anh lại lẩn ra chỗ khác. Nhưng hôm đưa thư vào lại đúng lúc tức ngực, ngứa cổ muốn ho, anh cố nín nhưng không tài nào nín được, đành bật ra mấy tiếng.

Đưa thư xong, anh vội chào Bác quay ra, thì Bác ra hiệu cho anh đứng lại. Bác lại đầu giường lấy đưa cho anh một cái áo trấn thủ mà Bác vẫn thường mặc. Bác nói:

– Chú lấy cái áo này mặc vào cho đỡ rét.

– Anh T lưỡng lự không dám nhận. Mùa rét, Bác cũng chỉ có cái áo trấn thủ với chiếc áo bông mỏng mặc ngoài. Anh còn ít tuổi khỏe mạnh, rét một tí cũng không sao, còn Bác thì già rồi, lại phải làm việc nhiều. Nghĩ vậy, anh từ chối:

– Thưa Bác, cháu mặc thế này được rồi ạ.

Như hiểu được ý của anh, Bác nói:

– Cứ lấy mà mặc. Bác đã có áo rồi. Mặc như chú thế này tài nào mà chẳng ho. Thôi mặc vào!

Nhìn đôi mắt hiền từ đầy tình yêu thương trìu mến của Bác, anh không dám từ chối nữa. Nhờ cái áo của Bác giữ ngực được ấm nên vài hôm sau anh đã đỡ và khỏi ho dần. Mỗi lần mặc cái áo, anh lại thấy rạo rực, ấm áp lạ lùng. Sự ấm áp ấy là từ cái áo và cả từ tấm lòng yêu thương, chăm sóc từng ly, từng tý đến đời sống anh em cán bộ của Bác.

(*) Tựa do Tiền phong đặt.

Chuyện về những vết mạng trên áo của Bác

Chú Bốn về đội cảnh vệ chỗ Bác từ năm 1949, là người chuyên giặt là, vá mạng quần áo cho Bác kể lại: “Quần áo Bác mặc chủ yếu có 2 bộ lễ phục. Một bộ mà anh em cảnh vệ gọi là bộ “Ka ki vàng” là bộ lịch sự, Bác mặc từ khi đọc Tuyên ngôn độc lập ở vườn hoa Ba Đình. Bộ thứ hai là bộ “kháng chiến”, được may từ khi Bác lên Việt Bắc và được mặc suốt thời kỳ kháng chiến cho đến sau này. Ngoài ra, hồi đi Chiến dịch Biên Giới năm 1950, Bác có thêm một bộ quân phục màu xanh. Sau này lại may thêm một bộ màu gụ bằng lụa Hà Đông. Bác còn có cái áo len và một chiếc khoác ngoài để mặc rét. Bộ “kháng chiến” là bộ chủ lực nên có nhiều vết mạng. Miếng mạng gần vai khá to là kỷ niệm lần Bác đi chiến dịch Biên Giới năm 1950. Bác thắt bao gạo ngang lưng, cài lá ngụy trang trên mũ, khăn mặt vắt vai. Nhiều chặng đường Bác hành quân với bộ đội, dân công. Một hôm gặp một cụ dân công, Bác cùng cụ nói chuyện và động viên: “Già như cụ còn hết lòng phục vụ tiền tuyến, làm gương cho con cháu”. Cụ dân công nói: “Tôi làm sao bì được với cụ. Cụ tóc bạc như vậy mà vẫn tham gia quân đội. Thế mới gọi là chiến sĩ bạch đầu quân”. Khi qua một đoạn suối, cụ dân công bị sảy chân may được Bác đỡ kịp. Chiếc đinh ở đầu đòn gánh cụ dân công làm rách vai áo Bác.

Miếng mạng ở khuỷu tay áo là kỷ niệm Ngòi Thia (Tân Trào, Việt Bắc). Hôm ấy họp Hội đồng Chính phủ, Bác đi ngựa, Đội trưởng Đội Cảnh vệ đi trước. Đến quãng đường vòng có cây tre đổ chặn ngang đường, ngựa của anh cảnh vệ đã qua rồi, ngựa Bác vừa phi tới, ghìm không kịp. Con ngựa đứng lại quá nhanh, Bác ngã. Anh cảnh vệ sợ quá vội nhảy xuống chạy lại đã thấy Bác gượng dậy. Con ngựa của Bác cũng khôn, nó đứng lại. Đội trưởng Cảnh vệ hỏi Bác: “Bác có làm sao không?”. Vừa kịp nhìn thấy khuỷu tay Bác có vết đất sỏi, lại có dấu máu thấm ra dưới ống quần, đầu gối Bác bị xước, máu đang rỉ ra. Bác nhìn qua rồi gạt đi: “Các chú đừng lo, ta đi thôi.”. Rồi Bác lên ngựa trước. Tới nơi họp, Bác vui vẻ tham gia hội nghị ngay, giờ nghỉ Bác mới chịu để y tá băng vết thương.

Về nhà, các anh cảnh vệ tự phê bình với Bác. Bác cũng tự phê rằng mình có khuyết điểm là giục ngựa phóng nhanh cho kịp giờ họp.

Ở gần gấu áo của Bác lại có vết thâm mờ mờ giặt nhiều lần không sạch. Đó là kỷ niệm Bác đi chống hạn. Cùng đi hôm đó có đại diện Tỉnh ủy. Gặp chỗ đồng bào đang tát nước bằng gầu giai, Bác liền bảo chú Tỉnh ủy đó cùng tát nước với Bác. Khổ nỗi, chú ấy không quen việc nhà nông. Chiếc gầu cứ lẳng nha, lẳng nhẳng, miệng gầu cứ bổ vào máng nước bình bịch. Mồ hôi mồ kê của chú ấy tháo ra như tắm.

Chú Bốn hôm đó có mặt, sợ Bác mệt nên đến xin phép Bác tát thay cho chú Tỉnh ủy. Bác trả lời nhẹ nhàng: “Không được, để chú ấy tập làm dân với Bác. Muốn lãnh đạo nông nghiệp, phải biết cách làm ăn của nông dân chứ”. Lần đó, Bác đã giúp chú cán bộ kia tập tát nước bằng được. Chỗ bùn ở dây gầu bám vào áo Bác đã khô đi nên chú Bốn về giặt xà phòng thế nào cũng không sạch.”

Theo Tiền Phong Online
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Ðảng ta và nhân dân ta. Người đã để lại cho chúng ta những bài học lớn về rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, nhân cách làm người, làm cán bộ. Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Người là một trong những bài học sinh động đó.

Làm việc khoa học là có chương trình, kế hoạch rõ ràng, cụ thể; làm việc chu đáo là phải hết sức cẩn thận, đầy đủ, tỷ mỷ. Hai mặt đó có liên quan chặt chẽ với nhau, làm tiền đề và bổ sung cho nhau để đem lại hiệu quả cao nhất cho công việc. Trong những năm tháng đi tìm đường cứu nước, lao động để kiếm sống và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, luôn luôn bị kẻ thù theo dõi, chính nhờ có tác phong làm việc khoa học, chu đáo, Bác Hồ đã vượt qua nhiều cạm bẫy của địch. Trong những năm tháng hoạt động ở Pa-ri, Thủ đô nước Pháp, nhà cầm quyền thực dân đã cử hai mật thám chuyên theo dõi những hoạt động của Người. Người Pháp đã dự báo người thanh niên mảnh khảnh đó sẽ trồng cây thập tự cho sự cáo chung của chế độ thực dân Pháp ở Ðông Dương. Năm 1923, Bác được mời sang Mát-xcơ-va (Liên Xô), dự Ðại hội V và công tác tại Quốc tế Cộng sản. Ðể bảo đảm an toàn cho chuyến đi, Người đã xây dựng một chương trình làm việc theo một lịch trình cố định: Sáng đến làm việc tại hiệu phóng đại ảnh để lấy tiền ăn, chiều đến thư viện đọc sách, tối đi dự các cuộc mít-tinh của thợ thuyền, đêm về nhà ngủ. Ðến khi mật thám phát hiện ra sự “biến mất” của Bác thì Người đã đang trên tàu bí mật đến nước Nga Xô viết. Mọi công việc đã được Bác và những đồng chí của mình xếp đặt một cách khoa học và chu đáo.

Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Bác Hồ đến Quảng Châu (Trung Quốc). Lấy bí danh là Vương, Người mở những lớp huấn luyện cán bộ chính trị để đào tạo cán bộ chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam. Chương trình huấn luyện do Bác biên soạn rất ngắn gọn và dễ hiểu. Các bài giảng cũng được thực hiện rất khoa học và chu đáo. Thời gian các lớp huấn luyện không thể kéo dài, Người tranh thủ mọi điều kiện để giúp học viên bồi bổ thêm kiến thức về văn hóa, kinh nghiệm hoạt động bí mật.

Những năm 1928, 1929, với bí danh Thầu Chín, Bác Hồ hoạt động ở Thái Lan, nơi có đông đồng bào Việt kiều sinh sống. Ðồng chí Lê Mạnh Trinh kể lại những ngày đầu gặp Bác tại Thái Lan: Việc đầu tiên là Thầu Chín đặt chương trình hằng ngày của mình: Buổi sáng lao động mấy giờ, học tiếng Xiêm mấy chục chữ, dịch mấy trang sách; buổi tối huấn luyện chính trị hoặc nói chuyện với mọi người… Thầu Chín đã làm đúng chương trình ấy. Trên đường đi công tác, Bác giảng giải cho mọi người nghe Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm. Người không bỏ phí một chút thời gian nào. Nhờ cách làm việc khoa học và chu đáo như vậy, trong thời gian ngắn Bác đã xây dựng được cơ sở cách mạng vững chắc trong bà con Việt kiều ở Thái Lan.

Ðầu năm 1941, Bác Hồ về căn cứ địa Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Công tác huấn luyện cán bộ càng trở nên cấp bách. Nhiều học trò của Bác đã trưởng thành và được Người giao mở các lớp huấn luyện cán bộ cho phong trào. Chương trình và kế hoạch các lớp huấn luyện được Người chỉ ra thật ngắn gọn nhưng rất khoa học và chu đáo: Một là, huấn luyện cho ai? Hai là, huấn luyện những gì? Ba là, huấn luyện bao lâu? Bốn là, huấn luyện ở đâu? Năm là, lấy gì ăn mà huấn luyện?

Người luôn căn dặn cán bộ khi đã xây dựng chương trình, kế hoạch cho công việc rồi thì phải quyết tâm thực hiện, kể cả những công việc cá nhân. Ðồng chí Cao Hồng Lãnh, người đã có nhiều thời gian được sống gần Bác kể lại những ngày Người còn ở Pác Bó (Cao Bằng): Suốt thời gian ở gần Bác, sáng nào tôi cũng thấy Bác tập thể dục. Ngày ngày, tôi thấy Bác năng tập cổ tay, hai tay cầm hai hòn đá lấy ở dưới suối, cứ ngồi bóp mãi. Hai mắt Bác vẫn đọc sách. Ngày mới ở Tĩnh Tây về, vào đến Khuổi Nậm thấy thế, tôi nghĩ: Trong lúc đọc sách Bác vẫn sợ hai tay bỏ không! Qua những ngày ở bên Bác, tôi đã hiểu rõ Bác làm gì cũng rất quyết tâm. Cho nên có lần Bác nói: Các chú đã biểu quyết là phải thực hiện. Không nên “biểu” rồi lại bỏ đấy. Bác cũng luôn luôn là một tấm gương sáng về quyết tâm thực hiện kế hoạch công việc. Sau ngày cách mạng thành công, toàn dân bị nạn đói đe dọa. Người kêu gọi tăng gia sản xuất để cứu đói và mỗi người cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi bữa một bơ để dành gạo giúp đồng bào bị đói. Ðến bữa cơ quan nhịn ăn để góp gạo cứu đói thì Bác được mời đi ăn cơm khách. Hôm sau Người đã kiên quyết nhịn bù.

Thời kỳ hoạt động bí mật tại căn cứ địa Việt Bắc, Bác đặc biệt chú trọng công tác giữ bí mật. Trong cơ quan, Bác giao việc cho từng người, ai biết việc người ấy. Các bộ phận công tác cũng rất gọn nhẹ, cơ động. Bác yêu cầu mỗi người có một túi đựng đồ dùng cá nhân và tài liệu lúc nào cũng mang bên người, khi cần thiết có thể nhanh chóng di chuyển địa điểm mà không để lại dấu vết.

Trong những ngày chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Bác ở trong lán nhỏ Nà Lừa ở Tân Trào (Tuyên Quang). Mặc dù đang yếu nhưng Người vẫn duy trì tác phong làm việc hết sức khẩn trương, khoa học và chu đáo. Ðại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại những ngày được làm việc với Bác ở Tân Trào: Bác làm việc không mấy lúc nghỉ ngơi. Lần nào tôi lên cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị, Bác đều tự tay đánh máy và đánh số cẩn thận, rõ ràng.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ về Thủ đô Hà Nội làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ðó là những năm tháng đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ðồng bào vừa trải qua nạn đói chết hơn hai triệu người; chính quyền cách mạng non trẻ chưa có kinh nghiệm điều hành công việc; giặc ngoài, thù trong tập trung đánh phá… Người vẫn giữ tác phong làm việc khoa học, chu đáo, cả trong những công việc đại sự của quốc gia, cả trong cuộc sống đời thường. Giờ làm việc của Bác bắt đầu từ cuộc hội ý của Thường vụ. Bác rất coi trọng nếp làm việc tập thể. Bác nói với các đồng chí Thường vụ hàng ngày sáu giờ tới chỗ Bác, có gì trao đổi rồi đi đâu hãy đi. Hai buổi làm việc của Bác thường là rất khẩn trương. Việc Ðảng, việc nước bề bộn. Lo giải quyết giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Lo đối phó ở miền Bắc, lo kháng chiến ở miền Nam. Lo việc nội trị, ngoại giao.

Ngày 3/9/1945, Người chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời. Phá bỏ những nghi thức thông thường, Người đi ngay vào nội dung cuộc họp, nêu rõ sáu công việc cấp bách phải làm. Tất cả mọi vấn đề được Bác nêu ra chỉ trong 30 phút. Những khó khăn chồng chất, phức tạp của chế độ thực dân phong kiến để lại suốt tám mươi năm, những vấn đề sinh tử, cấp bách của dân tộc đã được Bác nêu ra một cách ngắn gọn, rõ ràng cùng với những phương hướng, đôi lúc cả những biện pháp để giải quyết.

Ðể có được một tác phong làm việc khoa học, chu đáo như vậy, Người đã trải qua những năm tháng gian khổ rèn luyện, học tập và đấu tranh. Những điều Bác nêu ra trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời năm đó, ngắn gọn, cụ thể nhưng đó là tầm cao trí tuệ, dự báo cả tương lai. Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ðiều Người cảnh báo cho đến nay vẫn là điều trăn trở của toàn Ðảng, toàn dân ta về trình độ dân trí và nền giáo dục nước nhà trong thế kỷ XXI.

Ðối với Bác, mọi việc hàng ngày, bao giờ cũng được lựa chọn, sắp đặt có mục đích rõ ràng. Làm việc khoa học và chu đáo nên cùng với những công việc của đất nước, Người vẫn dành được thời gian đi thăm đồng bào, chiến sĩ, anh chị em công nhân, các cháu nhi đồng; chăm sóc vườn cây, ao cá; chơi bóng chuyền hay tập thái cực quyền; nghe một làn điệu dân ca, một câu hò xứ sở… Do làm chủ được thời gian, chủ động trong công việc, cho nên Bác luôn biểu hiện một phong cách ung dung, tự tại, lạc quan, bình tĩnh, tự tin, sáng suốt ngay cả trong những tình huống phức tạp, nguy hiểm của bản thân mình hay cùng Trung ương, Chính phủ chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những thác ghềnh, lãnh đạo toàn dân tiến hành hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Bác còn là một nghệ thuật mà Người đã đạt đến đỉnh cao, biểu hiện của nhiệt tình cách mạng luôn cháy bỏng, một quyết tâm sắt đá, một nghị lực phi thường qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, dẻo dai, luôn luôn vì lợi ích của quốc gia, dân tộc; vì hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới.

PGS, TS PHÙNG ÐỨC THẮNG
Theo Báo Nhân dân
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn