Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Xây dựng chính quyền “Thân Dân” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiếp nhận dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc và thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân. Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn luôn luôn tôn trọng, tin tưởng và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Chính vì vậy, cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Về thực chất, đây cũng chính là tư tưởng thân dân. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, là thân dân.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

Vậy thì vì sao ta phải xây dựng chính quyền “Thân dân”? Hồ Chí Minh giải thích: dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước. Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Dân như nước, cán bộ như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.

Chính quyền “Thân dân”, phải là chính quyền hiểu dân, nghe được dân nói, nói được cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu của họ, biết được họ đang suy nghĩ gì, trăn trở cái gì? Họ mong muốn những gì? Và họ đang mong đợi gì ở chính quyền, nhất là ở người lãnh đạo, quản lý; phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi quyết sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân. Tháng 10-1945, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “…Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(1) . Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Theo Người: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(2) .

420.jpgTheo Hồ Chí Minh thì cán bộ là công bộc, là đầy tớ trung thành của nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Từ thực tế, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê phán nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì khệnh khạng như “ông quan” và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức, vì vậy mà quần chúng không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, không phải vì lợi ích của quần chúng. Việc đặt ra chương trình làm việc, kế hoạch hành động, tuyên truyền, nhiều cán bộ cũng không hỏi xem quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn biết cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.

Là người phục vụ nhân dân, cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Theo Người: Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Điều này cho thấy, Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của Đảng và Nhà nước, mà trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là lãnh đạo không có nghĩa là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Bởi vì: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(3).

Trong Nhà nước của dân thì dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Cũng trên ý nghĩa đó, các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là “công bộc” của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.

Chính những tư tưởng của Người về vấn đề thân dân đã chỉ đạo cho hoạt động cách mạng của chúng ta trong việc huy động sức mạnh vật chất và tinh thần phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng mối quan hệ đoàn kết toàn dân. Hiện nay, đại đa số cán bộ, đảng viên ta đã nhận thức và làm tốt việc coi trọng nhân dân, vì nhân dân phục vụ, làm cho kinh tế, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện…

Tuy nhiên, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập cùng những thiếu sót, khuyết điểm chủ quan của chúng ta trong lãnh đạo, quản lý cũng như trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước nên thời gian qua ở nước ta, các hiện tượng tiêu cực xã hội phát triển, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống. Tệ tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, có nguy cơ làm biến chất Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước và chế độ, làm giảm sút mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nguy hại cho sự nghiệp cách mạng.

Trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, những biểu hiện như quan liêu, cửa quyền, vô cảm với nhân dân, xa dân, sách nhiễu dân đang có nguy cơ phát triển. Sự tha hóa của một bộ phận cán bộ có chiều hướng phát triển, thể hiện ở xa dân, sách nhiễu dân, tệ quan liêu, tham nhũng… Cán bộ lãnh đạo một số nơi còn lúng túng trước nhiệm vụ đặt ra, hội họp nhiều nhưng giải quyết công việc chưa hiệu quả, không sâu sát thực tế…

Đối thoại giữa chính quyền và người dân chưa thường xuyên. Còn đùn đẩy, né tránh trách nhiệm nên giải quyết khiếu nại, tố cáo chậm. Bệnh che giấu khuyết điểm, nơi này đổ lỗi cho nơi kia còn khá phổ biến… Tình trạng hành dân, khinh dân, thậm chí lợi dụng quyền hành để bắt dân cống nạp, vẫn xảy ra ở nơi này nơi kia trong bộ máy chính quyền các cấp, kể cả cấp cơ sở, ở các vùng nghèo, vùng sâu.

Nhiều cơ quan công quyền thường có thói quen ra những mệnh lệnh, những quyết định bắt người dân phải thi hành mà không tham khảo ý kiến của nhân dân. Ở nhiều địa phương việc xây dựng Quy chế dân chủ còn hình thức, trên thực tế người dân chưa được thực hiện quyền chính đáng của mình. Chính quyền một số nơi, nhất là ở cơ sở, nơi trực tiếp với nhân dân nhưng lại xa dân, ít quan tâm đến đời sống của nhân dân, không chú ý tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và tâm tư, nguyện vọng của dân, phong cách chỉ đạo, quản lý nặng về quan liêu, mệnh lệnh, vô cảm trước khó khăn, vất vả của dân. Những chủ trương liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của dân không được đưa ra bàn bạc, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân hoặc giải thích cho nhân dân hiểu rõ để nhân dân tự giác chấp hành. Vì vậy, một số quyết định của chính quyền cấp cơ sở không được nhân dân đồng tình, có nơi khiến nhân dân bất bình, là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.

Để khắc phục được tình trạng đó, đòi hỏi chính quyền các cấp, những “đày tớ”, “công bộc” của dân, có bổn phận phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của dân giao, chịu sự kiểm soát của dân và sẽ bị tước quyền nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Để phục vụ nhân dân, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có giác ngộ sâu sắc về mục đích sống, mục đích hành động và việc làm của mỗi người, để trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là tấm gương sáng để quần chúng nhân dân noi gương. Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân chỉ có được khi chính quyền các cấp có cán bộ, đảng viên thực sự thân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa chính trị yêu nước, thương dân, lấy dân là gốc được soi sáng và phát triển rực rỡ, trở thành chân lý khoa học, kim chỉ nam cho hành động. “Thân dân”, luôn coi dân là gốc, là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên những người đại diện cho chính quyền, đoàn thể các cấp phải tự đặt mình vào địa vị của người dân mà mình đại diện để hiểu, suy xét, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất , mong muốn của người dân. Có lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của dân thì đại biểu dân cử mới thực hiện tốt việc “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến cho dân ta phải hết sức tránh”. Bởi, ta có yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.

Xây dựng chính quyền “Thân dân” biểu hiện ở việc cán bộ, đảng viên thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi do pháp luật quy định. Tức là, phải trung thành với mục tiêu lý tưởng, với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, phải hướng đến một nền hành chính, một tổ chức, một bộ máy phục vụ nhân dân; luôn gương mẫu hoàn thành kế hoạch được giao và nếu có chức vụ phải biết sử dụng quyền lực để giao việc, kiểm tra, theo dõi, đánh giá, phê bình, khen thưởng một cách công minh chính trực; phải lắng nghe và dựa vào quần chúng nơi cơ quan để xây dựng quy chế làm việc, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu tài chính, các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, làm cho cơ quan đoàn kết nhất trí; không xu nịnh, không ưa nịnh, không chia bè chia cánh, cục bộ, bản vị; phải luôn đề cao trách nhiệm vì dân để giải quyết nhanh chóng, kịp thời những chế độ, chính sách liên quan đến người dân; phải thận trọng trong việc xem xét, quyết định các vấn đề hệ trọng có ảnh hưởng đến quyền bình đẳng, quyền lợi của các tầng lớp nhân dân. Khi nhân dân có ý kiến, khiếu nại, tố cáo, kể cả tố cáo cá nhân mình, thì phải biết bình tĩnh lắng nghe, phân tích và có thái độ kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, nếu quyết định của mình chưa đúng. Không né tránh, đùn đẩy, gây phiền hà và khó khăn, tốn kém cho dân…

Nói và thực hành “Thân dân” trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay càng đòi hỏi chính quyền các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gần dân, sát dân, luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của dân, nhằm giải quyết kịp thời những nhu cầu và lợi ích chính đáng, thiết thực và cụ thể của quần chúng; phải từ trong dân, từ ý chí và tâm trạng của dân để phục vụ nhân dân.

Th.S Nguyễn Năng Nam
Phòng Chính trị, Học viện Khoa học Quân sự


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.4, tr.56-57.
[2] Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.375.
[3] Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.323.

nhoNguoicha

Đồng chí Phạm Văn Đồng – Tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó…

1. Nửa đầu những năm 20 thế kỷ trước, Phạm Văn Đồng cũng như nhiều thanh niên trí thức trong nước bí mật tìm đọc những tài liệu của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài truyền về. Anh đã tìm thấy trong đó nhiều điều mới, tiến bộ và mong được gặp gỡ trực tiếp. Và “cơ may” đã đến (theo từ dùng của Phạm Văn Đồng): Cuối năm 1926, Phạm Văn Đồng được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Từ đó, đến “cơ may” thứ hai là năm 1940 Phạm Văn Đồng cùng Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh (Trung Quốc) tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì “sức hấp dẫn” của người Thầy dậy lý luận đã gắn bó trọn đời Phạm Văn Đồng với tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp đó, Phạm Văn Đồng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ học tập kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sau đó được cử về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở khu Cao Bắc Lạng.
Về phần mình, Hồ Chí Minh sớm thấy phẩm chất cách mạng và sự tin tưởng ở Phạm Văn Đồng. Do đó, liên tục trong gần 30 năm (1940-1969) từ sau lần gặp nhau thứ hai tại Côn Minh đến khi Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng luôn luôn được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được sự dìu dắt, đào tạo thành nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong đó 15 năm cuối đời, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã cùng sống sinh hoạt và làm việc trong khu Phủ Chủ tịch. Thời kỳ đầu về tiếp quản Thủ đô, Hồ Chí Minh không ở trong Dinh Toàn quyền mà ở trong ngôi nhà của người thợ điện còn Phạm Văn Đồng ở ngôi nhà của người quản lý Dinh toàn quyền. Hai nhà chỉ cách nhau một sân nhỏ. Hàng ngày hai người thường bàn việc nước, tiếp khách, cùng sinh hoạt. Vì vậy giữa hai con người – hai nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta càng có nhiều quan hệ thân thiết. Giữa họ, tình thầy trò, đồng chí hoà quyện vào nhau nên nghĩa tình sâu nặng, đạo lý sống và lý tưởng cách mạng cao cả vì nước vì dân.

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó, ngay cả khi Hồ Chí Minh đã đi xa. Đã hơn 40 năm qua, nhưng hình ảnh Phạm Văn Đồng cố kìm nén xúc động trong giờ phút truy điệu, đưa tang người Thầy, người đồng chí chiến đấu gần gũi của mình – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hiện lên trước mắt mọi người…

2. Trọn cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng đã gắn liền với công cuộc giải phóng và xây dựng đất nước ta, là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh. Điều này không chỉ thể hiện qua hoạt động thực tiễn của Phạm Văn Đồng như vừa phác hoạ trên đây, mà còn được thể hiện khá rõ thông qua những trang viết của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì vậy, ngay sau cách mạng Tháng Tám, nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5-1948, Phạm Văn Đồng đã có những nhận xét xác thực và khâm phục trong tác phẩm Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc: “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực…Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết”(1). Cũng trong tác phẩm này Phạm Văn Đồng còn rút ra 4 bài học ở người thầy của mình là: Học trung với nước, hiếu với dân, đoàn kết toàn dân, học phấn đấu …Và phải học suốt đời cũng không sao học hết được nhưng “Mọi người Việt Nam đều học được Hồ Chủ tịch”.

Đặc biệt từ sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng đã dành nhiều công sức để nghiên cứu cuộc đời, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa để tỏ lòng biết ơn người thầy vừa để thực hành tấm gương đạo đức và góp phần tuyên truyền giáo dục tư tưởng đạo đức của Người cho toàn xã hội. Chỉ 5 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng cho xuất bản tác phẩm “”Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại”. Từ đầu những năm 90, sức khoẻ yếu, đôi mắt nhìn không rõ nữa, nhưng Phạm Văn Đồng vẫn miệt mài nghiên cứu Hồ Chí Minh.

Đồng chí Nguyễn Tiến Năng nguyên trợ lý cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho biết: Nhiều khách quốc tế cũng như đồng chí trong nước trong những lần thăm, làm việc đã đề nghị Thủ tướng viết Hồi ký để người đọc biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí qua các thời kỳ cách mạng. Câu trả lời chung là: “Viết hồi ký thường đụng chạm đến người này, người nọ và thông thường là đề cao “cái tôi” của mình hơn mọi người, hơn cả tập thể. Tôi không viết hồi ký mà chỉ tập trung viết về Bác Hồ. Nhưng viết về Bác là điều cực kỳ khó bởi người ta (cả trong nước và ngoài nước) đã viết hàng trăm cuốn sách về Bác, vậy mình viết cái gì và viết như thế nào, thật không dễ”(2). Biết vậy nhưng Phạm Văn Đồng vẫn vượt khó viết về người thầy, người đồng chí gần gũi – lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Trong khoảng thời gian chưa đầy một thập niên, Phạm Văn Đồng đã dành tâm lực nghiên cứu và cho xuất bản hàng loạt công trình về Hồ Chí Minh. Đó là “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”(1990), “Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai” (1991), “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh” (1993), “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” (1998)… Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, thông qua những hoạt động lý luận và thực tiễn sinh động trong quá trình tiếp nhận sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và trên cương vị một đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm, Phạm Văn Đồng trong các tác phẩm nêu trên đã minh chứng đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh và vai trò quan trọng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người trong suốt tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc trước kia và trong công cuộc đổi mới hiện nay. Phạm Văn Đồng đánh giá cao sự nhạy bén về chính trị, tính cách mạng sâu sắc và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc xây dựng và chấn hưng đất nước ngày nay. Khó có thể phân tích, đánh giá hết những luận điểm khoa học, những giá trị to lớn các công trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì đó là sự nghiên cứu khoa học sâu sắc, với những trải nghiệm của một nhân chứng lịch sử, một nhà lãnh đạo cao cấp, một nhà văn hoá lớn của dân tộc. Ở đây, chỉ xin được nêu ra một vài nhận xét đánh giá nhằm minh hoạ một phần giá trị của những công trình nghiên cứu ấy. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, Phạm Văn Đồng đã lý giải sâu sắc về mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người với thời đại, với công cuộc giải phóng dân tộc mình: “Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, bốn nhân tố ấy kết hợp và hoà nhập vào nhau, tạo thành sự vận động của lịch sử, bắt đầu từ một con người, thông qua một dân tộc và một thời đại, cuối cùng đưa đến một sự nghiệp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là điều Hồ Chí Minh tìm kiếm lúc rời nước ra đi, ấp ủ lúc trở về, tâm niệm suốt cuộc đời, cho đến những lời trong Di chúc”(3). Những luận điểm chính Phạm Văn Đồng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và những kinh nghiệm của Hồ Chí Minh – người thày dạy lý luận của mình: “Chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ”(4). Theo gương Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng tiếp tục khẳng định nội dung cách mạng và tính sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là tín điều, mà là lý luận và phương pháp luận về sự phát triển có quy luật của thiên nhiên, xã hội và con người, sự phát triển ấy luôn luôn biến hoá một cách biện chứng, từ đó lý luận và phương pháp luận cũng chuyển động sáng tạo, không ngừng phong phú và giàu sức sống mới, theo những bước tiến triển của lịch sử và sự nghiệp cách mạng của con người(5)”.

Trong “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, Phạm Văn Đồng tập trung nghiên cứu Hồ Chí Minh về con người, đặc biệt về “con người Việt Nam trong lịch sử Việt Nam” và “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam”. Trong hầu hết các trang viết của tác phẩm này Phạm Văn Đồng quán triệt sâu sắc sự quan tâm của Hồ Chí Minh về nỗi thống khổ của người dân Việt Nam nô lệ và những biện pháp, tư tưởng của Hồ Chí Minh để giải phóng toàn diện con người Việt Nam khỏi ách áp bức dân tộc, giai cấp để con người Việt Nam được hưởng quyền dân sinh, dân trí, dân chủ (6). Hơn thế, theo Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh không chỉ tìm con đường giải phóng cho con người Việt Nam mà còn giải phóng cho con người nước khác(7). Từ đó, Phạm Văn Đồng khái quát về quá trình hình thành con người Hồ Chí Minh và nêu ra một cách tiếp cận rất khoa học và tổng quát về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh: “Sự hình thành con người Hồ Chí Minh là một quá trình trải dài suốt đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Về tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi có nói đó là sự kết hợp hài hoà giữa 3 nguồn: truyền thống dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin và thành quả nhiều học thuyết xưa nay ở Đông Tây. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói gộp lại, đó là tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phong cách, tất cả trở thành con người Hồ Chí Minh, biểu hiện trong mọi cử chỉ và hành động, lời nói và việc làm, ứng xử trong mọi tình huống(8). Từ đó, Phạm Văn Đồng chỉ ra mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay: “Cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự nghiệp đổi mới là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(9). Điều này góp phần khẳng định vai trò nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Mimh (cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin) trong các văn kiện của Đảng ta.

Những công trình nghiên cứu cuối đời của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh thực hiện với sự giúp đỡ nghe đọc và ghi chép của các đồng chí thư ký giúp việc. Tuy nhiên, những công trình ấy lại có nội dung khoa học, mang tính tổng kết sâu sắc, gắn bó chặt chẽ của sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh với cuộc sống hôm nay. Trong đó, công trình “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” được hoàn thành và xuất bản năm 1998 có một vị trí đặc biệt trong quá trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người. Ngoài phần phụ lục “Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc”(trích từ Văn hoá và đổi mới), “Hồ Chí Minh và cuộc sống”, “Hồ Chí Minh về đạo đức” và “Hồ Chí Minh và các tầng lớp nhân dân” (trích từ: Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai), trong tác phẩm này, Phạm Văn Đồng đã tổng kết những hiểu biết mới nhất của mình và của xã hội về: Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, Phương pháp luận và phong cách Hồ Chí Minh và mối quan hệ của những bài học kinh nghiệm, vai trò quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay. Điều đặc biệt trong tác phẩm này, một lần nữa Phạm Văn Đồng lại lý giải thêm nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đó là lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam mà nột dung chủ yếu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nó là sự vận dụng sáng tạo và có phát triển học thuyết Mác-Lênin trong hoàn cảnh Việt Nam, một nước thuộc địa và phong kiến từ đầu thế kỷ đến nay và mai sau.”(10). Và từ đó Phạm Văn Đồng chỉ ra cho chúng ta thấy rõ hơn sự cần thiết phải học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước: “Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, một công trình nghiên cứu không chỉ để hiểu biết và đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh mà điều quan trọng hơn là vận dụng một cách sáng tạo nhằm đóng góp vào quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam”(11).

Nội dung thứ hai trong tác phẩm này là Phạm Văn Đồng quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về dân tộc. Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Rút lại tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về con người với những khả năng thiên biến vạn hoá của nó”(15) và: “Hồ Chí Minh luôn luôn bắt đầu từ con người, từ nhân dân, từ dân tộc để cuối cùng trở về con người, nhân dân và dân tộc, đó là điểm xuất phát đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng của cách mạng”(12).

Không chỉ nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, trong những năm cuối đời Phạm Văn Đồng còn nhiều bài viết đề cập đến đời sống nhân dân, gìn giữ sự đoàn kết và thắt chặt quan hệ giữa Đảng với nhân dân, những trăn trở trước những biểu hiện suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên…Chỉ 1 năm trước khi đi xa, Phạm Văn Đồng còn viết bài báo: Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhân ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước những thành tựu to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự lo âu trước những tiêu cực đang nảy sinh trong xã hội; đặc biệt ở một bộ phận đảng viên, những người có chức quyền đang biến chất. Theo đồng chí, cần phải tiếp tục chỉnh đốn Đảng ngang tầm với nhiệm vụ và xứng đáng với Đảng của Hồ Chí Minh. Ở đây, một lần nữa xin được khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc những nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam và xin được khâm phục và ngợi ca cuộc đời một con người suốt đời sống và chiến đấu với lý tưởng của Đảng, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh và là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, không chỉ có Phạm Văn Đồng viết nhiều và học tập tốt tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Song có thể nói, Phạm Văn Đồng là người có sớm (13) và nhiều công trình nghiên cứu về Con người, Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là những trang viết hay, có hàm lượng khoa học cao và tính chính trị sắc bén thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ Phạm Văn Đồng là nhà nghiên cứu, nhà văn hoá và là học trò xuất sắc – người đồng chí chiến đấu trung thành của Hồ Chí Minh kính yêu. Và vì vậy, Phạm Văn Đồng còn là tấm gương tiêu biểu trong việc nghiên cứu và thực hành tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Đồng chí Phạm Văn Đồng là bậc lão thành, trường thọ. Ông là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta, là học trò xuất sắc và gần gũi, người đồng chí chiến đấu rất mực trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tấm gương thực hành tư tưởng đạo đức của Đồng chí được phản ảnh trong các tác phẩm trên đây không chỉ là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổng kết những trải nghiệm cuộc đời, những phát hiện mới về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay mà còn là lời nhắn gửi – một thông điệp đối với chúng ta trong việc đẩy mạnh việc học tập nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay./.

———————————–

(1) Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Phạm Văn Đồng, ngày 6-5-2000
(2) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Đồng chí Phạm Văn Đồng với cách mạng Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2006, tr.225
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. ST, H.1990, tr.39
(4) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.85
(5) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.81-82
(6) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, Nxb.CTQG, H.1993,tr.50-60
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.116
(8) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.117
(9) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.35
(10) , Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh,Nxb.CTQG,H.1998, tr.23
(11) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.87
(12) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.94
(13) Theo chúng tôi biết, Bài báo đầu tiên viết về Hồ Chí Minh là bài:” Kính chúc Hồ Chủ tịch sống lâu muôn tuổi” của Đồng chí Trường Chinh đăng trên báo Nhân Dân số đầu tiên

Theo PGS.TS Lê Văn Tích
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì III)

18. Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn;
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.

Nhật ký trong tù, Sđd, t.3, tr.350.

19. Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư, thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm…

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 251-252.

20. … Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình.

Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình.

Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm.

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 261, 267.

21. Đối với người

… Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người…

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

Đối với việc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết tâm làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết tâm làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cần, kiệm, liêm, chính, tháng 6-1949, sđd, t.5, tr. 644-645.

22. … Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

… Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó.

… Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người.

Đạo đức cách mạng, tháng 12-1958, sđd, t. 9, tr. 291, 292, 293.

23. … Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên càng phải giữ vững lập trường giai cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trau dồi đạo đức cách mạng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng.

Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới, ngày 3-2-1963, sđd, t. 11, tr. 23.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì II)

13. Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và Nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó.

Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.

Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng. Không đến nơi đến chốn.

Kết quả nhỏ là: Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần.

Kết quả nặng là: Phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi.

Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp…

14. Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.

Thí dụ: Cấp trên vì công việc, phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.

Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng, người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.

Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất loạt, không kể thương nặng hay nhẹ.

Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.

Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ cho đủ mọi người mới chịu làm.

Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng…

15. Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái…

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 255-261.

16 … Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo.

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh ngày 2-9-1951, sđd, t. 6, tr. 292-293.

17. Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể. Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta.

Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng.

… Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội. Ví dụ: Tên A tham ô 1.000 đồng, tên B lãng phí 1.000 đồng. Kết quả tai hại đến của công thì B cũng chẳng khác gì A.

Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm hàng nghìn con người đến công trường, nhưng chưa có việc gì làm hay là người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước, v.v…

Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.

… Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung.

Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô…

Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

– Nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

– Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm…

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước,
ngày 24-7-1962, sđd, t. 10, tr. 573-574, 575.

quangbinh.gov.vn

Con đường hình thành đạo đức mới, phê phán những hiện tượng phi đạo đức (Kì I)

1. Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư, tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình.

Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình.

2. Bệnh lười biếng – Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì giành lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.

3. Bệnh kiêu ngạo – Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình.

Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.

4. Bệnh hiếu danh – Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.

5. Thiếu kỷ luật – Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên, vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.

6. Óc hẹp hòi – Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.

7. Óc địa phương – Bệnh này tuy không xấu bằng bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ. Đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng ích lợi to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể.

8. Óc lãnh tụ – Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi.

Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một phút cỏn con, đã thấm vào đâu! Mà so với những sự nghiệp to tát trong thế giới, càng không thấm vào đâu.

Cố nhiên, Đảng ta mong cho có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ, được dân tin, dân phục, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý của Đảng, của dân tộc. Song, những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra; chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ, làm anh hùng mà được.

Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ.

9. Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch.

Thí dụ việc tổ chức – Trong báo cáo thì làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có. Hạng người nào cũng có. Có hàng vạn hàng ức người. Nhưng khi soạn lại cặn kẽ, hỏi lại rõ ràng, những nơi đó có bao nhiêu người, những tổ chức đó đã làm việc gì, cán bộ đã đến đó mấy lần, đã làm gì cho những tổ chức đó, thì chưa có gì thiết thực hết.

Thế là không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm.

10. Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa.

Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.

Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái , đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

11. Bệnh cận thị – Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ. Thí dụ: Việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước gạo trong các bộ đội.

Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn.

12. Bệnh “cá nhân”

– Việc gì không phê bình trước mặt để nói sau lưng. Khi khai hội thì không nói, lúc khai hội rồi mới nói. Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Muốn sao Làm vậy.

– Muốn làm xong việc, ai có ưu điểm cũng không chịu học theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình.

– Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình.

– Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí.

– Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ.

– Gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình.

– Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích.

– Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn.

– Tự cho mình là “cách mạng già”, “cách mạng cũ”; việc to làm không nổi, việc nhỏ không chịu làm. Làm việc thì lờ mờ, học hành thì biếng nhác.

– Biết mình có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi.

Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Mắc phải bệnh đó thì sẽ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới.

quangbinh.gov.vn

Cần – Kiệm – Liêm – Chính

(TT&VH) – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”; Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ muốn cho xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin dân phục dân yêu. Muốn được dân tin dân phục dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”.

Cần: Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Người siêng học tập thì mau tiến. Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến. Siêng hoạt động thì có sức khỏe. Người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no. Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh. Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh. Muốn cho chữ cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc.

Bác Hồ trong ngày tết trồng cây

Cây gỗ bất kỳ to nhỏ đều có gốc và ngọn. Công việc bất kỳ to nhỏ đều có điều nên làm trước, nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để làm sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế sẽ hao tổn thời giờ, mất công nhiều mà kết quả ít. Siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau. Kế hoạch lại phải đi đôi với phân công để nhằm vào hai điểm: công việc (làm trước sau) và nhân tài (năng lực ai vào việc nấy). Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Cần là phải biết cách nuôi dưỡng, phân bổ cả tinh thần, vật chất và lực lượng của mình một cách hợp lý để làm việc lâu dài.

Đêm 30 Tết năm 1957, Bác đến thăm ba đồng chí cảnh vệ trực Phủ Chủ tịch và dạy anh em cách pha trà. Lượt nước đầu tiên và thứ hai, Bác đều rót vào một chiếc ca to, đậy kín lại. Lượt nước thứ ba, Bác rót ra 4 chén con để mọi người cùng uống. Tiếp những lượt nước sau, Bác chuyển trà từ ca vào ấm rồi thêm nước sôi vào, nhờ thế nước trà vẫn đậm đà. Cuối buổi, Bác mới nói: “Nghe nói mấy chú đầu tháng “trung nông”, giữa tháng “bần nông”, cuối tháng “cố nông” như thế là chi tiêu không kế hoạch. Nếu các chú chi tiêu theo lối pha trà của Bác thì vừa đủ tiền tiêu, vừa khỏi phải trả nợ”.

Kiệm: Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không kiệm, làm chừng nào, xào chừng nấy như cái thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được. Thời giờ cũng phải được tiết kiệm như của cải. Của cải hết còn có thể làm thêm nhưng khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo trở lại được. Biết tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người khác.

Thánh hiền có nói: Một tấc bóng là một thước vàng. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Kết quả chữ cần kiệm to lớn như vậy cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành cần kiệm.

Tháng 4/1969, Bộ Chính trị họp bàn chuẩn bị tổ chức 4 ngày lễ lớn năm sau. Bác đang mệt nặng nên vắng mặt. Sau đó trên giường bệnh, nghe báo cáo lại cuộc họp, Người nói: “Các chú nên bàn bạc cho kỹ. Còn ý kiến của Bác, Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa 19/5 làm ngày kỷ niệm lớn năm 1970. Hiện nay các cháu học sinh sắp vào năm học mới, giấy mực tiền bạc dùng tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dùng để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Nhà sàn Bác Hồ

Liêm: Là trong sạch, không tham lam. Liêm có nghĩa rộng hơn là trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm. Có kiệm mới liêm được vì xa xỉ mà sinh tham lam. Tham tiền, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm. Để thực hiện chữ liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên. Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp di công – dinh tư.

Vì vậy cán bộ phải thực hành chữ liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân. Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết không chịu đút lót thì quan dù không liêm cũng phải hóa ra liêm. Vì vậy cần phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ liêm. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết thì sẽ gây nên tinh thần liêm khiết trong nhân dân.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại Mỹ năm 1965, nhân dân Hà Nội phải ăn cơm độn mỳ sợi, ngô, bột, bo bo. Bác yêu cầu: “Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiêu phần trăm, cứ độn cho Bác từng ấy, giống như cán bộ với dân”, anh em cấp dưỡng thương Bác quá bèn thưa rằng quy định các cụ già trên 70 tuổi không phải ăn độn, nhưng Bác không đồng ý. Anh em bèn xay nhỏ ngô trộn vào gọi là thì Bác vẫn nhắc lại rõ ràng: “50% cơ mà!”.

Chính: Tức là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Cần – kiệm – liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần – kiệm – liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội đều phải xác định cái đúng, cái tốt trong bản thân mình đối với mọi người và đối với công việc. Bản thân luôn tự kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa khuyết điểm và hoan nghênh người khác phê bình mình.

Với mọi người phải chân thành khiêm tốn, thật thà đoàn kết, chớ nịnh trên, xem thường dưới. Trong công việc phải để việc công lên trên việc tư, việc nhà. Bất kỳ việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, kế hoạch, cẩn thận, quyết tâm làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Mới giữ cương vị một thời gian ngắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng ra nhận trách nhiệm trước quốc dân: “Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm được việc gì đáng kể cho nhân dân. Có thể nói rằng: những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác… Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm là lỗi tại tôi. Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi”.

Trong thư riêng gửi ông Vũ Đình Hòe, Bác viết: “Việc ân xá, ân sám ở Thái Bình như thế là xong. Ông giám đốc N.V.H tỏ ra tận tâm với chức vụ, thì Chính phủ nên khen. Nhưng trong việc ở Thái Bình vừa rồi, ông ấy làm quá đáng, thì chúng ta phải phê bình giúp ông ấy sửa chữa và tiến bộ. Không vì công mà quên tội. Đó là cách chí công vô tư, để rèn luyện và cất nhắc cán bộ”.

Tại buổi họp của Hội đồng Chính phủ ngày 30/12/1967, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Chính phủ ta tuy đã cố gắng nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Trong khi người công nhân, người nông dân, người chiến sĩ hy sinh làm tròn nhiệm vụ của mình, còn chúng ta những người làm lãnh đạo có khi lại làm chưa hết nhiệm vụ của mình. Tôi nói như vậy có đồng chí không thích, nhưng tôi nói có sách mách có chứng cả. Chúng ta phải gương mẫu trong quản lý và bảo vệ của công. Việc đoàn kết nội bộ trong các Bộ, các ngành chưa được tốt. Lề lối làm việc của chúng ta cũng có nhiều điểm chưa tốt, có tình trạng là nói mà không nghĩ, nghĩ mà không quyết, quyết rồi mà không làm…”.

Để quyết tâm xây dựng đất nước, hướng tới một tương lai tươi sáng, phồn vinh trong thế kỷ mới, mỗi người cần phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “Một hột gạo, một đồng tiền là mồ hôi, nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền, do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen chợ đỏ, thụt két, buôn lậu. Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính”.

Đỗ Hoàng Linh

thethaovanhoa.vn

Người trồng cây vĩ đại

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Nếu không phải đi tìm Độc Lập, Tự Do cho Tổ quốc
Có lẽ, Bác của chúng ta muốn làm một người trồng vườn
Hãy nhìn những bức ảnh Người trồng cây
Ta thấy những nụ cười đẹp nhất
Và hãy vào thăm Ngôi nhà của Bác
Chung quanh là cả một rừng cây
Thiên nhiên tươi xanh như cuộc đời của Bác
Bảy mươi chín mùa xuân chẳng bận bụi trần!

Trên đường đi tìm hạnh phúc cho nhân dân
Người đã ươm trồng bao thế hệ
Để mãi mãi rừng cây ngăn sóng bể
Mỗi cây xanh thành cọc nhọn Bạch Đằng!

Bùi Công Bính

baonamdinh.com.vn

Học và làm theo Bác, cho “lòng ta trong sáng hơn”

(TCTG) – Cách đây 5 năm, đầu xuân Đinh Hợi vào ngày thành lập Đảng, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ngay từ những ngày đầu, Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi, nhiệt tình của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân
Qua mỗi năm, nội dung học tập và các hình thức tổ chức hoạt động tập thể nối tiếp nhau được tổ chức, tạo nên những phong trào có dấu ấn sâu đậm trong dư luận xã hội, mang lại những kết quả bước đầu đầy ấn tượng, đặc biệt là về nhận thức, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Qua thực hiện Cuộc vận động, nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đầy biến động, tác động đến lối sống của mỗi người, mỗi gia đình và xã hội, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn lời dạy của Bác “đạo đức không phải là cái gì từ trên trời rơi xuống, nó do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Với cán bộ, đảng viên, những người đã tuyên thệ dưới cờ Đảng, nguyện phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng của dân tộc qua cuộc vận động thêm một lần được ôn lại lời dạy của Bác: “Làm cách mạng là công việc to tát. Người cách mạng phải có đạo đức. Nếu không có đạo đức, tự mình tham ô, hủ hóa thì làm nổi việc gì”. Với Đảng, với những người cộng sản chân chính đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, từng trải qua những chặng đường đầy gian lao, thử thách, bao “uy vũ không khuất phục”, có dịp để suy ngẫm thêm quan niệm Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức suốt đời. Đó là: “Một Đảng, một dân tộc và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến, kính phục, không có nghĩa là hôm nay vẫn được mọi người tôn trọng, nếu như lòng dạ không trong sáng nữa, sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tổng kết 4 năm triển khai Cuộc vận động, Ban Chỉ đạo Trung ương đã báo cáo những kết quả bước đầu quan trọng của Cuộc vận động với Đại hội lần thứ XI của Đảng. Đại hội đã đánh giá cao kết quả của Cuộc vận động, nhất là trong việc hình thành nhận thức mới về việc rèn luyện đạo đức và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó yêu cầu phải đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên quan trọng trong Đảng và xã hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 14-5-2011 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nội dung việc học tập và làm theo lần này là tiếp tục những nội dung đã thực hiện trong Cuộc vận động, đồng thời có mở rộng và làm sâu sắc hơn, đặc biệt thêm điểm mới là học tập và làm theo phong cách của Bác.

Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là học tập tư tưởng đạo đức mang đậm những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với tư tưởng đạo đức tiên tiến nhất của thời đại, đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản. Đó là tư tưởng đạo đức vì con người, cho con người, vì nước vì dân, trung với nước, hiếu với dân, yêu thương, quý mến, kính trọng nhân dân. Tư tưởng đạo đức đó thể hiện một cách sống động trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong sáng, giản dị, thật sự khiêm tốn…, xuyên suốt cuộc đời của Người.

Nội dung học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung mới, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong thực hiện giải pháp đột phá cải cách hành chính. Phong cách là sự kết hợp giữa tư tưởng đạo đức, phương pháp và lối sống của mỗi người được thể hiện ra bên ngoài. Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức. Đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được tư tưởng đạo đức, nhân cách của một con người. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng đạo đức, nhân cách, phương pháp làm việc của Người, là một chỉnh thể, tạo thành một hệ thống với những thể hiện quan trọng nhất là phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt .v.v.

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Độc lập, tự chủ là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã qua thực tiễn kiểm nghiệm là sai, những cái cũ lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng nay không còn phù hợp, để tìm tòi, đi tới những cái mới mang tính thời đại, trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra. Sự sáng tạo ở Hồ Chí Minh là luôn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tìm tòi, phát triển lý luận, tìm ra cái mới phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nhận thức về các quy luật phát triển chung của xã hội và thời đại. Tư duy đó luôn hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ của mình bằng những kiến thức rất phong phú, sâu rộng.

Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung, chủ yếu là tác phong quần chúng, tác phong tập thể – dân chủ, tác phong khoa học.

Tác phong quần chúng được thể hiện qua niềm tin yêu và tôn trọng con người; sự sâu sát quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng; sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Tác phong tập thể – dân chủ Hồ Chí Minh là luôn luôn tạo ra không khí sôi nổi, hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo trong tập thể. Người chỉ ra những hệ lụy của làm việc không tập thể, không dân chủ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “nội bộ của Đảng âm u”, “uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”, cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng xa rời cán bộ, đảng viên… Tác phong khoa học Hồ Chí Minh tập trung ở những điểm chủ yếu như: làm việc đi sâu, đi sát cơ sở, có điều tra nghiên cứu, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể… Biết sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo dối trá, những phương án thiếu trung thực. Biết sử dụng bộ máy, những người cộng sự, những cơ quan giúp việc. Thường xuyên đặt ra chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng…

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là cách nói, cách viết trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc. Người đặt ra bốn vấn đề khi nói và viết là: Nói, viết cái gì?; Nói, viết cho ai?; Nói, viết để làm gì?; Nói, viết như thế nào? Đây là những vấn đề có tính nguyên tắc, định hướng cho việc nói và viết của mỗi người, nhất là đối với người lãnh đạo. Mặc dù công việc rất bận nhưng Hồ Chí Minh đã viết hơn 2.000 bài báo với hơn 100 bút danh khác nhau. Đặc trưng cơ bản trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là: chân thực, ngắn gọn, rõ ràng, trong sáng, giản dị, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, không màu mè, lắt léo, quanh co… Người căn dặn phải chống các bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, sính dùng chữ nước ngoài, thậm chí không hiểu cũng dùng; chống “thói ba hoa”…

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự ứng xử trên một bình diện văn hóa cao. Đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình, vừa chủ động linh hoạt lại vừa ân cần, tế nhị, tự nhiên, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều cảm thấy không khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không e ngại, sợ sệt, không còn sự cách biệt giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa vĩ nhân với bình dân. Trong quan hệ với mọi người, Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng, khiêm nhường, sự khoan dung, độ lượng với con người. Chính vì vậy mà sức cuốn hút, cảm hóa, cảm phục, ngưỡng mộ và thôi thúc mọi người hướng tới Người, hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống, trong công tác, học tập, trong xây dựng và phát triển…

Phong cách sống, sinh hoạt Hồ Chí Minh có nhiều nét đã trở thành huyền thoại không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với cả thế giới. Đó là sự giản dị, thanh đạm, thanh cao trong sinh hoạt hàng ngày; là cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian, không ham muốn danh lợi riêng cho mình. Đó là tình thương yêu con người quyện với tình yêu thiên nhiên, tạo nên tinh thần lạc quan của người chiến sỹ, kết hợp chặt chẽ với những rung động say mê của một tâm hồn nghệ sĩ.

Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, nhân cách, lối sống Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống của Người, để Người trở thành sự toàn vẹn, với một cuộc sống trọn vẹn. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện cuộc đời của Người, không cần đến bất cứ sự trang sức nào. Người không phải cố ý sống khác đời để mọi người ca ngợi, mà phong cách của Người xuất phát từ một triết lý nhân sinh là lấy khiêm tốn, giản dị làm nền; lấy chừng mực đức độ làm chuẩn; lấy trong sạch thanh cao làm vui; lấy gắn bó với con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trên vị trí công tác. Trên cơ sở trung thành, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng, lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong giai đoạn mới, góp phần tạo nên những động lực mới cho sự phát triển đất nước.

Học tập và làm theo phong cách làm việc Hồ Chí Minh, cần thực sự sâu sát quần chúng, tin yêu và tôn trọng quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Thực hiện và phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ trong Đảng, trong tổ chức sinh hoạt Đảng. Có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, hợp tác; có chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực. Nói và viết dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc; duy trì kỷ luật phát ngôn.

Học tập phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, xây dựng cho mình cách ứng xử có văn hóa với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em. Xuất phát từ thái độ yêu thương, quý mến con người, trân trọng con người, khoan dung, khiêm nhường, độ lượng với con người để có sự ứng xử tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình với mọi người. Xây dựng thái độ ứng xử với tự nhiên, môi trường đúng đắn, trách nhiệm, cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng môi trường sinh thái trong sạch, bền vững.

Học tập phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh, xây dựng lối sống giản dị, thanh cao, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian; tinh thần lạc quan, tự trọng và tôn trọng cộng đồng, xã hội.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh để mỗi chúng ta tự phấn đấu, vươn lên, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, làm việc có hiệu quả hơn.

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua mang lại cho chúng ta một nhận thức mới, giản dị nhưng rất quan trọng là học tập và làm theo Bác là công việc của mỗi người và mọi người.

Với mỗi người, khi trăn trở, vật lộn với cuộc sống làm cho chúng ta đôi khi sao lãng việc rèn luyện đạo đức. Với toàn xã hội, sự tập trung quá mức vào các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng để khắc phục nguy cơ tụt hậu, đuổi kịp các nước trong khu vực…, với bối cảnh kinh tế thị trường như một cơn lốc ập đến, tình trạng lệch chuẩn, loạn chuẩn trong xã hội ngày càng gia tăng. Tình trạng xem thường, không đánh giá đúng, hoặc không coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, vị tiền… đã dẫn đến những trả giá… Và Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hơn bốn năm qua đã góp phần mang đến sự thay đổi trong nhận thức, dù không phải là mới, được nhiều người chấp nhận: học tập và rèn luyện về đạo đức trước hết là của mỗi người, vì chính mình và phải luôn nêu gương về đạo đức. Sự trả giá nào đó trong những cuộc đời, gia đình và xã hội làm cơ sở để mọi người càng thấy rõ hơn “tính di truyền xã hội” của đạo đức, ý nghĩa và trách nhiệm trong sự nêu gương. Bác Hồ dạy, ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng. Đó là sự khẳng định về một nguyên tắc thực hành đạo đức, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tự mình rèn luyện đạo đức của mỗi người.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên cùng tập thể. Đứng trước những bão táp, mưa sa của cuộc sống vận động với tốc độ của âm thanh, ánh sáng thời công nghệ số, mỗi người đều cần đến một chỗ dựa từ tập thể. Việc đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị là một biện pháp quan trọng. Duy trì sinh hoạt thường xuyên, trong sinh hoạt định kỳ có nội dung trao đổi, thảo luận về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong tập thể, phát hiện những vấn đề nảy sinh về đạo đức, lối sống để chấn chỉnh, phát hiện những việc tốt, người tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến để học tập và noi theo… Hàng năm có tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, chú trọng công tác thi đua khen thưởng, động viên, khuyến khích kịp thời để các điển hình tiên tiến ngày càng nhiều thêm, nảy nở như hoa mùa xuân. Tổ chức đảng, chính quyền cấp trên chú trọng công tác kiểm tra, giúp cơ sở thực hiện đúng định hướng và có hiệu quả thiết thực.

Trong thực hiện Chỉ thị lần này cần chú trọng hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Bác Hồ đã dạy “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Điều ấy đang được thể hiện trong mục tiêu “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” của ngành giáo dục. Dạy chữ luôn luôn là quan trọng hàng đầu. Nhưng trong điều kiện cách mạng công nghệ và “thời của Internet”, không thể và không cần đưa hết tri thức của nhân loại hiện có vào các chương trình đào tạo, đặc biệt là trong các trường phổ thông. Một số môn học có thể được giảm tải, tích hợp, chuyển thành môn tự chọn theo các định hướng nhất định…, để dành thời gian cho dạy người và dạy nghề. Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng các chương trình giáo dục đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các cấp học, bậc học. Thực hiện “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đưa nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh vào chính khóa là thực hiện lời dạy của Người, đó là “giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”.

Bước vào năm mới, vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, của dân tộc, mỗi người trong chúng ta hãy tự mình học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập và làm theo Bác cho “lòng ta trong sáng hơn”./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lời Người dạy ta

Trong bao câu chữ của đời
Hiếu Trung hai chữ lời Người dạy ta
Trung là trung với nước nhà
Hiếu là hiếu với dân ta muôn đời

Trong bao câu chữ của đời
Cần, Kiệm, Liêm, Chính lời Người dạy ta
Cần, Kiệm xây dựng nước nhà
Liêm, Chính là để chúng ta thành người

Mô tả ảnh.

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Đoàn Kết lời Người dạy ta
Kết Đoàn là một bài ca
Làm nên sức mạnh dân ta bao đời

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Nhân ái lời Người dạy ta
Yêu người, yêu nước, yêu nhà
Nhân dân là gốc, bài ca muôn đời./.

Thái Ninh

baonamdinh.com.vn

Về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò về Đảng, và vấn đề đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cả cuộc đời của mình, Người đã tự thực hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn những tư tưởng và khát vọng đạo đức cách mạng; Người vừa là nhà lý luận đạo đức cách mạng, vừa là một tấm gương đạo đức trong sáng gần gũi và độc đáo nhất.

Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Và theo cách diễn đạt bình dị của Người: Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, và đi được xa. Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta tiến hành sự nghiệp vĩ đại giải phóng và thống nhất đất nước, Người đã khái quát và cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng thường xuyên nhấn mạnh: “Đảng phải là đạo đức, là văn minh”, cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng phải vừa hồng vừa chuyên, hội tụ đủ đức tài, đức là gốc; phải có sự trung với nước, và hiếu với dân. Trung với nước đó là sự trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, vì hòa bình hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Hiếu với dân đó không phải chỉ dừng lại ở chỗ thương dân, mà là phải chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng học tập dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc.

Về cần, kiệm, liêm chính, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là phẩm chất gắn liền với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể hàng ngày của mỗi con người không thể che đậy được; gắn chặt giữa nói và làm, giữa suy nghĩ và hành động. Thể hiện cụ thể:

+ Cần, là sự lao động, làm việc cần cù sáng tạo, có tổ chức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có kế hoạch, có năng suất, chất lượng cao. Những thói hư, tật xấu lười lao động, ăn bám, ăn cắp, làm láo báo cáo hay, vô tổ chức, vô kỷ luật là không phù hợp với đạo đức phẩm chất cách mạng. Bác Hồ rất ghét kẻ đạo đức giả, nói mà không làm, nói một đường làm một nẻo. Người cho rằng kẻ đó làm giảm đi lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

+ Kiệm, là tiết kiệm sức lao động, thời giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân từ cái nhỏ, đến cái lớn, không phô trương hình thức, xa xỉ, hoang phí. “Tiết kiệm là quốc sách”.

+ Liêm, là “luôn luôn tôn trọng của công, của dân”, “liêm khiết trong mọi hoàn cảnh” không tham địa vị, không tham tiền tài; không ham người tâng bốc mình. Lợi dụng chức vụ quyền hạn đục khoét của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc làm những việc trái đạo đức, trái pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân là người không liêm.

+ Chính, là “người không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình, đối với người và đối với việc. “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc sai thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Người còn dạy: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ; đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân phải tôn trọng lễ phép; đối với công việc phải tận tụy; đối với địch phải cương quyết khôn khéo”.

Về chí công vô tư, theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước cho thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người còn chỉ ra mối quan hệ: cần, kiệm, liêm chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính. Người đặc biệt lưu ý: “Trước nhất là cán bộ cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Người cũng còn chỉ ra một luận điểm rất quan trọng, có giá trị vô cùng thiết thực: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm việc trước cho người ta bắt chước”. Luận điểm này thể hiện rõ một phương châm xây dựng đạo đức là nêu gương. Không gì thiết thực hơn, có sức cảm hóa và lôi cuốn hơn trong lĩnh vực đạo đức bằng việc nêu gương tốt. Quần chúng nhân dân đã và đang phàn nàn về một số cán bộ, đảng viên không thường xuyên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, không tự phê bình và phê bình để góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Ở một số Chi, Đảng bộ thực hiện việc tự phê bình và phê bình có lúc, có nơi chỉ làm qua loa, lấy lệ. Mấy ai “dũng cảm” tự bộc bạch những hành vi tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính của mình; còn việc phê bình góp ý cho nhau thì xuê xoa “dĩ hòa vi quý” chính vì vậy một số cán bộ, đảng viên đã tự đánh mất mình không còn “cái tâm” trong sáng của người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của dân. Đó chính là do lãng quên việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà Bác Hồ đã dạy và do không thực thi nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.

Nguyễn Hoàng Long

baobinhdinh.com.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Cán bộ Đảng viên

Tư cách một người cách mệnh

Tự mình phải:

Cần kiệm.

Hòa mà không tư.

Cả quyết sửa lỗi mình.

Cẩn thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).

Hay nghiên cứu, xem xét.

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

Nói thì phải làm.

Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng tham muốn về vật chất

Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.

Với đoàn thể thì nghiêm.

Có lòng bày vẽ cho người.

Trực mà không táo bạo.

Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

Quyết đoán.

Dũng cảm.

Phục tùng đoàn thể.

Đường Kách mệnh,
Năm 1927, sđd, t.2, tr. 260.

Cán bộ là gì?

Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được.

Vậy cán bộ phải có đức tính như thế nào?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

2. Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…

3. Đối với công việc phải thế nào? Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh… Phải có kế hoạch bước đầu làm thế nào? Bước thứ hai làm thế nào? Bước thứ ba làm thế nào? Thành công thì thế nào? Nếu thất bại thì thế nào? Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay phải làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì? Phải cẩn thận, cẩn thận không phải là nhút nhát, do dự.

4. Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết.

5. Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm phải hy sinh vì Đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa
Ngày 20-2-1947, sđd, t.5, tr. 54-55.

Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

1. Cần – Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân.

2. Kiệm – Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần. Mỗi ngày, công sở cả nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì. Nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Các vật liệu cũng vậy. Nhờ các công sở tiết kiệm, mà lợi cho dân rất nhiều.

3. Liêm – Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu.

4. Chính – Mình và người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mệnh.

Đời sống mới,
Ngày 20-3-1947, sđd, t.5, tr.104-105.

15. …Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sư giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa:

– Trí – Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

– Tín – Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

– Nhân – Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

– Dũng – Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

– Liêm – Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết.

Lời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp,
ngày 10-10-1947, sđd, t.5, tr. 223-224.

16. …Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể.

…Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng.

…Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên là không nổi.

Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ,…)

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.236, 238.

17. … Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.

Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.250-251.

18. … Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.

Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu,
ngày 18-1-1949, sđd, t.5, tr. 552.

19. … Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng.

Vì vậy, đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây
ngày 10-2-1967, sđd, t.12, tr. 221-222.

20. … Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân.

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.

quangbinh.gov.vn

Người Cách mạng phải có đạo đực

Trong hơn nửa thế kỷ bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ từ một trí sĩ yêu nước đã trở thành một người cách mạng chân chính. Và với sự trải nghiệm của bản thân Bác đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về đạo đức của người cách mạng mà qua sự kiểm chứng khách quan của lịch sử, những quan điểm này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn và thực tiễn.

Vai trò và tầm quan trọng của đạo đức đối với người cách mạng đã được Bác nhấn mạnh: “người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không…” (Người cán bộ cách mạng, tháng 3-1955, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 480). Quan điểm này không chỉ đúng trong thời đại của Người mà trong thời đại của chúng ta quan điểm này vẫn là kim chỉ nam dẫn đường cho mỗi người cán bộ, Đảng viên noi theo vì ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, Đảng viên cũng là những mắt xích không thể thiếu trong hệ thống chính trị, làm việc vì mục tiêu thực hiện hoá lý tưởng của Đảng và Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nếu một mắt xích bị han rỉ sẽ ảnh hưởng tới sự vững mạnh của cả hệ thống, mà hệ thống có vững thì mỗi mắt xích mới được duy trì vì vậy giữ gìn đạo đức của người cách mạng là yếu tố vô cùng quan trọng để ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế- văn hoá- xã hội của một quốc gia, dân tộc phát triển.

Trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, Bác đã mở rộng quan điểm về đạo đức cách mạng: “Một người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quí hơn tính mệnh của mình. Bao giờ cũng quang minh, chính trực, ham cách sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc dân chúng, giữ gìn kỷ luật, chống lại “bệnh cá nhân””. Và đạo đức cách mạng không phải bỗng dưng mà có, nó là kết quả của quá trình tự đấu tranh và rèn luyện hàng ngày của mỗi cán bộ, Đảng viên. Đạo đức ấy phải được các cán bộ, Đảng viên thực hiện một cách nghiêm túc, bền bỉ trong suốt quá trình hoạt động cách mạng như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Tuy nhiên, đạo đức cách mạng không phải là những lời nói suông mà cần những hành động cụ thể. Trong bức thư Bác gửi thanh niên năm 1947, có viết Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Đây thực chất là lời căn dặn về việc “nói phải đi đôi với làm” vì nói có đi đôi với làm thì mới tạo ra sức mạnh thực tiễn và điều này đã được làm sáng tỏ trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ vì đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ, Đảng viên được thể hiện ở ý chí quyết tâm giết giặc, tinh thần quả cảm, hăng hái xông pha trên các chiến trường, sẵn sàng hy sinh xương máu vì tự do, độc lập của dân tộc nên đã động viên được toàn dân tham gia đánh giặc. Khi đất nước hoà bình, trước vô vàn khó khăn do tàn dư chiến tranh để lại, các cán bộ, Đảng viên từ Trung ương đến địa phương đã sát cánh cùng nhân dân tham gia lao động sản xuất, đưa đất nước ta từng bước thoát nghèo và trở thành  nước đang phát triển với một nền kinh tế năng động. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, muốn phát huy cao độ sức mạnh quần chúng trong việc hiện thực hoá các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng thì trước tiên các cán bộ, Đảng viên phải thực hiện tốt hành động cách mạng “nói đi đôi với làm”.

Đạo đức của người cách mạng cũng cần phải được nêu cao ở tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao. Tinh thần trách nhiệm ấy phải là: “Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm tròn nhiệm vụ”. Người cán bộ, Đảng viên là người cầm cân nảy mực trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, vì vậy nếu người cán bộ, Đảng viên không có tinh thần trách nhiệm với công việc thì chính sách sẽ không được triển khai một cách đầy đủ, chính xác đến với nhân dân, từ đó quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân sẽ không được đảm bảo, hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước không cao, do đó người cán bộ Đảng viên cũng không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào đạo đức cách mạng cũng là yếu tố quyết định đến kết quả hoạt động, công tác của người cách mạng. Tuy nhiên đạo đức ấy phải được tôi rèn trong nhân dân, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Thời đại ngày nay là thời đại của tri thức, của những tiến bộ khoa học, công nghệ, người cán bộ, Đảng viên không thể chỉ biết chính trị mà còn phải am hiểu rộng rãi nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Khi đề ra một chính sách liên quan đến lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, người cán bộ nhất thiết phải am hiểu về lĩnh vực đó, làm sao chính sách ấy có lợi cho cả doanh nghiệp và sự phát triển KT-XH của địa. Đó mới là sự biểu hiện thực tế của đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng luôn có sự kế thừa và phát triển. Người cán bộ, Đảng viên hiện nay cần nâng cao đạo đức cách mạng gắn liền với việc không ngừng học hỏi những kiến thức mới, tiến bộ của nhân loại để giải quyết công việc một cách hiệu quả, khách quan và khoa học.

Hồng Nhung

khcncaobang.gov.vn