Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong vào tháng 10 – 1947, ký tên là XYZ. Khi đó, bộ máy chính quyền của chúng ta có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung sức cho sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc. Nhưng với tầm nhìn xa, thấu hiểu những vấn đề có quan hệ cốt tử với chính quyền cách mạng, Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm xây dựng và bồi dưỡng ý thức chính trị của những người cán bộ, để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta vẫn thấy nguyên vẹn giá trị to lớn của nó, nhất là đối với việc xây dựng và giữ gìn chính quyền cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sau đây chúng tôi tập trung đề cập một số vấn đề về phê bình và sửa chữa; vấn đề cán bộ, qua tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

I – Phê bình và sửa chữa lối làm việc

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Cũng vì đối tượng phê bình là đồng chí của mình và bản thân mình, mục đích vì sự vững mạnh và tiến bộ của Đảng, nên việc phê bình và thực hiện tự phê bình vừa phải nghiêm túc nhưng cũng rất thân ái: tự phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm chọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Người nêu lên những căn bệnh mà người cán bộ thường mắc phải cần phê bình, sửa chữa. Đó là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa.

Một là, bệnh chủ quan. Đó là chứng bệnh nguy hiểm gây tác hại lớn cho cách mạng. Vì mắc bệnh chủ quan, cán bộ, đảng viên ta thường giải quyết công việc xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà không căn cứ vào điều kiện cụ thể và quy luật khách quan. Do không biết nhận rõ điều kiện, hoàn cảnh khách quan, khăng khăng làm theo ý mình, nên kết quả thường nhận lấy thất bại. Người chỉ rõ nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông. Người mắc bệnh chủ quan đều coi khinh lý luận, làm việc chỉ theo kinh nghiệm của bản thân, không biết khái quát thành lý luận chung, giải quyết công việc một cách sự vụ, vụn vặt. Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Chủ nghĩa kinh nghiệm chính là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, nguyên nhân của bệnh chủ quan, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do kém lý luận hay khinh lý luận. Do đó, có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.

Vì vậy, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Ngược lại, lý luận là cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn cuốn lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận. Khi phân tích các biểu hiện của bệnh chủ quan như: kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ bệnh lý luận suông là bệnh giáo điều chủ nghĩa. Đó là sự bắt chước kinh nghiệm của người khác, kinh nghiệm của các nước anh em một cách máy móc, mù quáng; xem thường kinh nghiệm của quần chúng, không năng đi xuống cơ sở để học tập và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn…

Hai là, bệnh hẹp hòi. Đây là căn bệnh rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn cản Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa… đều do bệnh hẹp hòi mà ra! Biểu hiện của bệnh hẹp hòi là ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Bệnh hẹp hòi trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất trong Đảng. Từ trước đến nay, vì bệnh hẹp hòi mà có những sự lủng củng giữa bộ phận và toàn cục, đảng viên với Đảng, cán bộ địa phương với cán bộ phái đến, cán bộ quân sự với cán bộ mặt trận, cán bộ mới và cán bộ cũ, cơ quan này và cơ quan khác.

Bệnh hẹp hòi của cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở thói tự tôn tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Những cán bộ, đảng viên mắc bệnh này quên rằng: chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Họ cố tình không hiểu: so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, dân tộc thiểu số, anh em trí thức…). Điều đó tất yếu dẫn đến phá hoại chính sách đoàn kết, cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ba là, bệnh ba hoa. Ba hoa là nói và viết dài dòng, rỗng tuyếch, dùng chữ cầu kỳ, khó hiểu, không nhằm đúng đối tượng, quần chúng không hiểu, cho nên không có tác dụng gì cả. Người nhắc nhở: cán bộ tuyên truyền bao giờ cũng tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như có ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.

Như vậy, sửa đổi lối làm việc của Đảng ở các cấp, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trước hết phải phê bình và sửa chữa bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh giáo điều, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa… Mỗi chứng bệnh đó là một kẻ địch nguy hiểm. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để chữa khỏi những bệnh trên, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau. Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày rửa mặt. Được như vậy Đảng ta mới thực sự trong sạch, vững mạnh.

II – Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ

Cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Thực hiện tư tưởng của Người, các nghị quyết của Đảng ta đều dành sự quan tâm cho công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII của Đảng xác định, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ, mức chính xác của đường lối và việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng thắng lợi đều tùy thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ.

1 – Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì, vô luận cán bộ ở môn nào, làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở môn ấy; đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2 – Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải biết rõ cán bộ;… xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, lại bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: Phải khéo dùng cán bộ. Chúng ta phải biết tùy tài mà dùng người. Phải phân phối cán bộ cho đúng. Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: Luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ; giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc họ làm được việc, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt là dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3 – Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách. Cách thứ nhất là chỉ đạo – thả ra cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Cách thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Cách thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Cách thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Cách thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng.

4 – Về một số điểm lớn trong chính sách cán bộ. Theo Hồ Chí Minh:

– Cần hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ, các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ, từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu.

– Khéo dùng cán bộ. Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

– Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt v.v..

– Thương yêu cán bộ là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

– Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại.

Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, và trước yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; nhất là phục vụ kịp thời và thiết thực đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội X của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

quandoantanbinh.vn

“Hàng nội hóa đấy!”

Vào những tháng đầu năm 1966, đến đơn vị nào của Bộ đội Pháo binh cũng gặp hình ảnh từng đoàn quân vai đeo ba lô nặng, bao gạo, lựu đạn quấn quanh người, tốp khênh pháo, người vác đạn… chống gậy lầm lũi leo đèo, lội suối suốt đêm, gần sáng lại tản ra trú quân trong rừng, mắc võng, căng tăng, đào công sự, đào bếp Hoàng Cầm… Tất cả đều nhằm rèn luyện thật sát với thực tiễn hành quân vượt Trường Sơn đi “B dài”, thường phải ròng rã trên đường năm, sáu tháng trời… Sau ba tháng nhận trang bị mới, đúng lúc đang hối hả chuẩn bị vào Nam thì Trung đoàn 84A do đồng chí Trần Đáo, Nguyễn Lại chỉ huy trang bị pháo ĐKB và tiểu đoàn 99 trang bị A12 nhận được thông báo nhận nhiệm vụ bắn trình diễn để Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đến xem vào ngày 17-4-1966.

Buổi sớm hôm ấy, khi sương mù còn dày đặc, Bác và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng đã có mặt tại khu vực bắn trình diễn. Đồng chí Nguyễn Thế Lâm, Tư lệnh Binh chủng Pháo binh ra đón và đưa Bác cùng các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… lần lượt đi xem các trận địa đặt hai loại pháo hỏa tiễn rồi trở về đài quan sát. Bác và các đồng chí lãnh đạo cùng đi chăm chú nghe giới thiệu về tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại pháo, đạn và thành tích huấn luyện của các đơn vị. Thỉnh thoảng Bác lại gật đầu khen: “Tốt”. Khi nghe đồng chí Nguyễn Trung Lực, cán bộ Phòng Tham mưu chỉ vào cái ống tôn màu xám to như khúc ống bương giới thiệu: “Thưa Bác, đây là nòng pháo phản lực A12 do ta nghiên cứu và sản xuất”. Bác Hồ tỏ ý hài lòng cười nói với mọi người: “Hàng nội hóa đấy!”. Tất cả cùng bật cười vui vẻ, rồi đồng thanh: “Thưa Bác, đúng ạ!”.

Buổi bắn trình diễn vũ khí mới đạt kết quả tốt. Phấn khởi trước sự quan tâm của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, cán bộ, chiến sĩ đơn vị càng quyết tâm học tập tinh thông về kỹ thuật, chiến thuật và sẵn sàng chờ lệnh lên đường. Sự kiện Bác Hồ đến xem bắn trình diễn pháo hỏa tiễn đã chính thức mở ra thời kỳ Binh chủng Pháo binh liên tiếp đưa các đơn vị pháo binh lớn vào chiến trường miền Nam.

Trần Ngọc
qdnd.vn

Suốt đời tôi nhớ Bác

Suốt đời tôi nhớ BácSuốt cuộc đời tôi, những lúc khó khăn gian khổ hay vui sướng, vinh quang, tôi đều nhớ đến những hình ảnh và lời nói thân thương của Bác Hồ. Lần tôi được gặp Bác đầu tiên là năm 1950.

Ngày ấy, tôi là chỉ huy trưởng Mặt trận Bình-Trị-Thiên, nhận lệnh ra Việt Bắc báo cáo tình hình kháng chiến với Bộ Tổng tư lệnh. Dịp ấy, điều hạnh phúc nhất đã đến: Tôi được dự lễ mừng sinh nhật Bác tròn 60 tuổi, lại được ngồi ngay bên cạnh Bác. Bác ân cần hỏi chuyện về tình hình đời sống kháng chiến của đồng bào Bình-Trị-Thiên. Khi ăn cơm, Bác gắp thức ăn cho tôi. Ở bên cạnh Bác tôi cảm thấy thân thiết, tự tin hẳn lên. Tôi đưa ra tấm ảnh chân dung Bác, xin chữ ký để mang về làm kỷ niệm cho đồng bào, chiến sĩ. Bác cầm tấm ảnh rồi phóng bút ghi: “Kháng chiến nhất định thắng lợi!”, ký tên Hồ Chí Minh. Trao ảnh cho tôi, Bác ân cần:

– Chú về, cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào và chiến sĩ trong đó…

Kỷ vật thiêng liêng ấy tôi lưu giữ suốt những năm kháng chiến, thôi thúc động viên tôi luôn luôn phấn đấu, rèn luyện hoàn thành tốt nhiệm vụ và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, đúng như những dòng Bác ghi trên tấm ảnh. Vừa qua, tôi đã gửi lại tấm ảnh gốc có bút tích của Bác cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên – Huế. Hiện tại, tôi chỉ lưu giữ bản sao, được phóng lớn hơn (xem ảnh).

Đến năm 1954, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ làm Trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp căn dặn: “Bác Hồ bảo, anh về làm việc ở Thủ đô thì phải “luôn luôn nhớ giữ nâu sồng kháng chiến”. Lời dặn giản dị ấy chính là nhắc nhở tôi phải cảnh giác trước lối sống nơi đô thị, không được sa ngã, không bị cám dỗ… luôn luôn giữ vững phẩm chất cách mạng. Ấy vậy mà trong một lần trở lại Việt Bắc, báo cáo với Bác công việc ở Hà Nội và tình hình công tác với Ủy ban Quốc tế, Bác hỏi: “Nghe nói chú mới mua một chiếc xe đẹp lắm phải không?”. Tôi giật mình trước câu hỏi của Bác, liền thưa: “Thưa Bác, do nhu cầu công tác, cần đi lại với Ủy ban Quốc tế, cơ quan phải sắm ô tô. Anh em bàn tính mãi, nếu mua xe cũ, phải mất 3.000 đồng Đông Dương. Mua xe mới thì mất 3.600 đồng, nên chúng cháu quyết định mua xe mới, vẫn tinh thần tiết kiệm, không dám xa hoa…”. Bác gật đầu, không nói gì thêm. Tôi hiểu, Bác không phê bình mà hỏi rõ ngọn ngành, thấy hợp lý nên Bác thông cảm.

Những cử chỉ, lời nói của Bác ngày ấy là sự nhắc nhở, chỉ bảo ân cần, độ lượng như tình cha con, tôi luôn ghi nhớ và vận dụng trong ứng xử suốt cuộc đời mình.

ĐÀO VĂN SỬ (ghi theo lời kể của Đại tá Hà Văn Lâu, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp)
qdnd.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thơ Tố Hữu

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi (N.B.V)

Thưa anh, anh không dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào, chuẩn bị khởi nghĩa nǎm 1945 phải không ạ?

Nhà thơ Tố Hữu (T.H): (ngạc nhiên) – Sao anh biết?

N.B.V: – Đọc bài thơ “Hồ Chí Minh” anh viết ngày 16-8-1945, người nào hiểu thơ và tinh ý một chút đều đoán là anh chưa gặp Bác.

Cũng chỉ mới nêu lên những phẩm chất cách mạng ước lệ mà nhiều nhà cách mạng vô sản có thể có. Người đọc chưa thấy một cốt cách, một dáng hình, một phẩm chất Hồ Chí Minh cá thể.

T.H: (cười) Anh hiểu tôi và hiểu thơ tôi. Hiểu nhau, tâm đắc như thế, thật sướng.

Tôi không ra dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào vì thấy tình hình gấp gáp lắm rồi, phải về Huế thành lập ngay các ủy ban khởi nghĩa nên chưa được nhìn thấy Bác. Bài thơ “Hồ Chí Minh” tôi viết ngày 26-8-1945, ba ngày sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công ở Huế, tưởng tượng về lãnh tụ Nguyễn ái Quốc trong những nǎm đi hoạt động cách mạng.

N.B.V: Thế, anh được gặp Bác lần đầu vào nǎm nào?

T.H: Huế cướp chính quyền ngày 23-8-1945. Ngày 30-8-1945, xứ ủy Trung Kỳ họp, anh Nguyễn Chí Thanh được bầu làm Bí thư xứ ủy, tôi được bầu làm phó Bí thư. Tháng 10 nǎm ấy, tôi nhận được điện Bác gọi ra báo cáo cáo về tình hình ở miền trung đặc biệt là tình hình ở Huế. Tôi đến Bắc Bộ Phủ, anh Vũ Đình Huỳnh đón và dẫn lên phòng làm việc của Bác. Nǎm ấy tôi mới 25 tuổi. Cụ đang đọc báo, nghe anh Vũ Đình Huỳnh báo cáo. Cụ ngẩng lên nhìn, thoáng vẻ ngạc nhiên. Câu đầu tiên Cụ hỏi là:

– Chú ra đây bằng gì?

-Thưa Cụ, cháu đi ô-tô.

– Ô-tô của ai?

– Ô-tô của riêng chú à?

– Dạ không, của cơ quan ạ.

Bác nghiêm nghị:

– Của cơ quan chứ không phải các quan đâu nhé! Các chú là cán bộ cách mạng chứ không là quan cách mạng mà quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu cứ nhảy cả lên ô-tô, đi việc riêng cũng bắt người ta lái!

N.B.V: Bị ngay “một đòn phủ đầu” thế, anh có ớn xương sống không?

T.H: Trong tưởng tượng của tôi trước đó, Bác phải đạo mạo oai vệ nghiêm trang chứ không thân mật, gần gũi như thế, không ngờ ông Cụ chơi chữ hóm hỉnh và sâu sắc như vậy. Cứ nói chơi chơi thế thôi nhưng là những lời dạy bảo thấm thía.

N.B.V: – Bác hỏi anh những việc gì?

T.H: – Anh biết đấy, Bác đã sống ở Huế, có rất nhiều kỷ niệm với Huế nhưng Bác chỉ hỏi tình hình chung. Bác hỏi Bảo Đại, Trần Trọng Kim và mấy ông trong nội các thân Nhật trước đây sống thế nào, các mệ trong hoàng tộc sống thế nào? Tôi báo cáo với Bác, sau khi Bảo Đại xin thoái vị, trao ấn kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời, nhà vua và hoàng tộc được đối xử tử tế; Bảo Đại ra sống ở An Định cung, còn các ông bộ trưởng nội các cũ thì chạy ra Hà Nội cả. Bác hỏi cướp chính quyền xong, có bắt bớ ai không? Tôi thưa với Bác chỉ bắt mấy tên mật tháp Pháp có tội ác. Bác hỏi làm sao phải xử bắn Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi? Chú có biết cụ Ngô Đình Khả, thượng thư Triều Nguyễn (thân sinh Ngô Đình Thúc, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm…) không ký vào bản thực dân Pháp kết tội và đòi xử tử vua Duy Tân không?

Tôi thưa với Bác khi ta giam Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi ở trại thì hiến binh Nhật đến trại giam đòi ta giao hai người ấy cho họ. Sợ lính Nhật đến cướp trại, những người phụ trách trại giam bàn nhau đem xử bắn. Nét mặt Bác lúc ấy rất trầm tư. Lát sau, Bác hỏi tôi việc chống giặc đói thế nào? Bác bảo trồng rau trồng khoai, sắn để chống đói là tốt nhưng không được phá vườn hoa để trồng rau, làm thế là cách mạng mang tiếng đấy. Mấy bãi cỏ trước Ngọ môn phải giữ gìn, bảo vệ, có trót xéo hỏng thì phải trồng lại. Bác hỏi: “Ai nấu cho các chú ǎn?” Dạ mấy ông đầu bếp trong tòa Khâm sứ ngày trước. Bác hỏi: Ngày ngày họ “dâng” lên “cao lương mĩ vị” gì? Tôi đỏ mặt:

– Thưa Cụ, chỉ có rau luộc, khoai sắn, tí cơm và chút mắm nêm thôi ạ.

Bác cười hỏi tiếp:

– Các chú có cho đầu bếp ǎn cùng không?

– Thưa Cụ, chúng cháu mời mãi, họ mới chịu.

– ǎn họ vẫn gọi là thời à?

– Vâng ạ.

Rồi Bác hỏi chuyện diệt dốt. Tôi vừa báo cáo đến phong trào bình dân học vụ thì Bác ngắt lời hỏi “cái gì, cái gì” sao không nói xóa nạn mù chữ thì ai cũng hiểu không?

Bác hỏi về không khí chuẩn bị chiến đấu ở Huế, về phong trào Nam tiến. Bác dặn đi dặn lại phải đoàn kết một lòng, phải gần dân, thương dân, nghe dân, đừng quan liêu, đừng hách dịch, tư túi.

N.B.V: Anh ngồi với Bác có lâu không?

T.H: Chưa đầy một tiếng đồng hồ.

N.B.V: Ấn tượng để lại trong anh là gì?

T.H: Bác giản dị, thân mật, không làm cho mình sợ. Bác thiết thực, cụ thể, sâu sắc và ân tình lắm.

N.B.V: Thế anh được triệu ra Trung ương nǎm nào?

T.H: Tháng 6-1946, anh Trường Chinh gọi tôi ra để chuẩn bị nhận nhiệm vụ phụ trách công tác tuyên truyền, tập hợp xây dựng lực lượng vǎn hóa vǎn nghệ. Biết mình thiếu hụt nhiều thứ về lý luận vǎn nghệ, tôi mò mẫm tìm chép những đoạn Dmiterov, Lenin, Staline nói về vǎn nghệ vô sản, chép thơ Maiakovski, Esenin, Simonov… để làm vốn.

Sau đó, tôi về làm Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa nǎm 1946. Tháng 7-1947, tôi được điều ra Việt Bắc. Mới cưới được ít lâu, tôi và Thanh, vợ tôi, cùng ra.

N.B.V: Bài thơ “Sáng tháng nǎm” anh viết trước Đại hội Đảng lần thứ 2 (tháng 1-1951) hay sau Đại hội?

T.H: Đại hội Đảng lần thứ 2 tôi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 5-1951, Bác gọi tôi đến báo cáo về công tác tuyên truyền.

Nơi ở của Bác lúc ấy dĩ nhiên là bí mật. Tôi được dẫn đến đến một cái nhà sàn nhỏ trên ngọn đồi thấp um tùm cây xanh, dưới chân đồi, suối rì rào chảy. Thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng đã cho tôi câu thơ đầy hào khí:

Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn.

Bác ở trên sân, làm việc ở dưới. Một cái bàn gỗ, một cái nghế tựa, một cái máy chữ, một cái ghế để khách ngồi và đáng chú ý nhất là cái bồ nhỏ đan bằng nứa để đựng công vǎn, chỉ thị tài liệu. Bác nuôi mấy con chim bồ câu…

N.B.V: Anh viết:

Bác bảo đi là đi
Bác bảo thắng là thắng

Liệu có sa vào sự tôn sùng cá nhân không?

T.H: Tôi nghĩ là không. Mà đó là niềm tin của dân tộc. Anh biết Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta như con thuyền nhỏ giữa sóng cồn bão táp. Không có bàn tay chèo lái vững vàng và khôn khéo của Bác thì sẽ thế nào. Nhân dân tin Bác nên tin Đảng, tin Chính phủ:

N.B.V: Có thể nói: “Sáng tháng nǎm” là bài thơ đầu tiên anh đã chạm được vào cốt cách, phong thái, tâm hồn của Bác và càng về sau càng phong phú hơn. Trong bài thơ dài Việt Bắc, anh đã khắc họa hình ảnh Bác rất đẹp.

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời.
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người.

T.H: ở Việt Bắc, đi công tác có khi Bác chống gậy đi bộ, có lúc Bác cưỡi ngựa. Tôi quan sát nhiều lần mới viết được đoạn thơ đó.

N.B.V: Ngày Bác mất (2-9-1969) anh đang công tác ở nước ngoài phải không ạ?

T.H: Không, tôi đau tim nằm điều trị ở Bệnh viện Việt – Xô. Bác mất lúc 9 giờ 47 phút ngày 2-9. Mười ba giờ, anh Xuân Thủy vào bệnh viện thǎm tôi. Vừa nhìn thấy tôi, anh khóc òa và báo tin dữ. Mặc trời mưa, tôi chạy về cǎn nhà sàn của Bác nên mới có câu thơ:

Chiều nay con chạy về thǎm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa.

N.B.V: Bài “Bác ơi” anh viết có nhanh không?

T.H: Một buổi chiều, một buổi tối là xong. Tôi viết mà nước mắt cứ trào ra.

N.B.V: Những ngày đau thương đứt ruột ấy, có vẻ như công chúng vǎn học chưa thỏa mãn với bài “Bác ơi!” của anh. Vì yêu quý thơ anh mà họ muốn đòi hỏi ở anh nhiều hơn nữa. Có vẻ như họ tâm đắc với bài “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương” của anh Việt Phương hơn. Có phải thế không?

T.H: Tôi cũng đọc được ý nghĩ ấy. Bài thơ của anh Việt Phương hấp dẫn người đọc vì giọng thơ mới lạ, vì những chi tiết đời thường của Bác mà chỉ những người ở gần Bác mới biết. Đó là một bài thơ cảm động.

N.B.V: Thơ như hoa. Mỗi loài hoa có một vẻ đẹp riêng, không nên so sánh cho hoa này đẹp hơn hoa kia nhưng ở thời điểm đó, người đọc đòi hỏi ở anh như vậy là có lý.

T.H: Chính vì vậy mà ít lâu sau, tôi thai nghén bài thơ dài “Theo chân Bác”. Tháng 11 nǎm ấy, tôi ốm, vào Bệnh viện Việt – Xô. Các bác sĩ hội chẩn xong bảo tôi bị bệnh máu trắng và chuyển tôi sang Liên Xô chữa. Các giáo sư, bác sĩ Nga cũng kết luận như thế. Một hôm tôi hỏi thật ông giáo sư viện sĩ: “Đồng chí có thể nói thật cho tôi biết tôi còn sống được bao lâu nữa?”. “Giáo sư không nói cụ thể (dại gì mà nói cụ thể!) mà chỉ bảo tôi “Có thể dùng nghị lực và lòng ham sống mà chế ngự bệnh tật”. Tôi nghĩ: chỉ cần đủ thời gian để viết bài thơ dài này…

N.B.V: Rồi anh “theo chân Bác” luôn?

T.H: (cười): Ngoài cái ý Bác là người dẫn đường cách mạng cho mình đi theo cũng có ẩn ý mà anh đã nhận ra khá tinh tế.

N.B.V: Anh viết “Theo chân Bác” ở bệnh viện Nga?

T.H: Tôi vào một cái phòng tương tự như cái kho của ta, khóa cửa lại viết. Có những khổ thơ, nước mắt trào ra ướt đẫm cả giấy:

Thôi đập rồi chǎng? một trái tim
Đỏ như sao Hỏa, sáng sao Kim
Muốn òa nức nở bên em nhỏ
Nước mắt ta đành nuốt, lặng im.

N.B.V: Viết xong, đọc lại anh có bằng lòng không?

T.H: – Tôi rất hài lòng là các ý tưởng đều đạt được. Tôi muốn nói bằng thơ hành trình cách mạng của Bác trong hành trình cách mạng của Đảng, của đất nước ta, nói bằng thơ phẩm chất kiên cường của Bác, lòng thương người và bao dung của Bác, cốt cách Việt Nam của Bác, so sánh Bác với những nhà cách mạng lớn ở các nước khác như Gandhi của ấn Độ, Tôn Dật Tiên của Trung Hoa…

N.B.V: Hơn 500 câu thơ xúc động ấy anh viết trong bao lâu?

T.H: Gần một tháng. Chính xác hơn là 26 ngày. Tôi viết xong ngày 2-1-1970.

N.B.V: Nǎm 1970 ấy tôi đang dạy ở trường cấp 3 bổ túc vǎn hóa Chu Phan ở Vĩnh Phú, kề Hà Nội. Một bạn thơ ở Hà Nội gửi cho tôi bản đánh máy “Theo chân Bác”. Giờ nghỉ giữa hai tiết học, học sinh các lớp vây lấy thầy, đòi thầy đọc và bình. Tôi vừa đọc vừa khóc. Nhiều em học sinh cũng khóc theo:

Ai nói giùm ta hết tấm lòng
Bác Hồ thương nhớ mỗi dòng sông
Mỗi hòn núi ở miền nam đó
Như thịt da ta nhỏ máu hồng

Quả thật những giây phút ấy, tôi thật thấm thía điều này:
“Nhà thơ là của nhân dân”.

T.H: Mấy tháng sau, tôi khỏi bệnh về nước. Các bác sĩ Việt Nam và Liên Xô chẩn đoán sai hay tôi được Bác phù hộ mà khỏi bệnh?

N.B.V: Ai là người được may mắn đọc “Theo chân Bác” đầu tiên?

T.H: Luật sư Phan Anh đi công tác ở Nga, đến bệnh viện thǎm tôi và tôi đọc cho anh ấy nghe. Phan Anh rất thích và nói đùa rằng viết xong bản tráng ca trữ tình này thì hồng cầu trong cơ thể tôi tǎng và bạch cầu giảm.

N.B.V: Gần Bác, anh có thấy lúc nào Bác buồn không?

T.H: Có lần tôi hỏi Bác thì Bác bảo con người ta có lúc vui lúc buồn, Bác chỉ vì miền nam chưa được giải phóng và phe xã hội chủ nghĩa có những bất đồng về tư tưởng nên trong bài thơ “Cánh chim không mỏi”, tôi có viết:

“Bác về tóc có bạc thêm
Nǎm canh bốn biển có đêm nghĩ nhiều”.

Ngoài 5 bài thơ trực tiếp viết về Bác là Hồ Chí Minh, Sáng tháng nǎm, Cánh chim không mỏi, Bác ơi, Theo chân Bác, trong rất nhiều bài thơ khác của ông, bao giờ hình ảnh của Bác Hồ cũng song hành với nhân dân, với dân tộc.

Báo Giáo dục và Thời đại, tháng 5, 2000
cpv.org.vn

Báo chí nước ngoài nói về thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh

KT (Theo NYT và các báo nước ngoài 2000/2002

Nhân dịp nhân loại bước vào thế kỷ XXI, tờ Thời báo Niu-Oóc, Mỹ đã giới thiệu tác phẩm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, dày trên 800 trang kèm theo nhiều bức ảnh đen trắng minh hoạ của tác giả, Giáo sư Sử học Uy-li-am Giôn Đu-cơ do Nhà xuất bản Hai-pơ-ron ấn hành và được coi là một công trình vĩ đại nói về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời giới thiệu của Nhà xuất bản Hai-pư-rôn thì Hồ Chí Minh là một trong số những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử thế giới hiện đại, một nhà cách mạng lỗi lạc, một chiến sỹ đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của thế giới thế kỷ XX. Nhân dịp xuân về, chúng tôi xin lược dịch và giới thiệu cùng bạn đọc bài viết này.

Với công trình đồ sộ nói trên, tác giả Giôn Đu-cơ đã khắc hoạ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị lãnh tụ thiên tài nhưng vô cùng giản dị, rất gần gũi với cuộc sống của người lao động và đặc biệt hơn, Người còn là một chính khách lỗi lạc, biết kết hợp tài tình nghệ thuật lãnh đạo để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam mau chóng tới đích. Ví dụ, để tránh cuộc chiến tranh với người Pháp và người Mỹ, Hồ Chí Minh đã đưa ra những phương kế diệu kỳ, đúc rút những kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, như của người Nga hay của người ấn Độ, vì vậy mà hạn chế được rủi ro thiệt hại. Cũng theo tác giả Giôn Đu-cơ thì Hồ Chí Minh còn mang trong mình một dòng máu dân tộc với tư tưởng nhất quán, trước sau như một, đó là mục tiêu hoá hoà bình, dân tộc, không ỷ lại vào bên ngoài, tất cả đều phải tự lực cánh sinh, biết kết hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, luôn luôn lựa chọn những giải pháp mềm dẻo, kiên trì… điều mà người Pháp và người Mỹ không làm được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt nam, người kiến tạo ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước CHXHCN Việt Nam, một quốc gia có chủ quyền và hiện nay đang trên đà phát triển, nơi được coi là chế độ chính trị, an ninh ổn định nhất khu vực, bởi vậy ngày nay tên tuổi của Người luôn luôn gắn bó với những chiến công hiển hách của Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình trí thức nghèo gốc nông dân ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nǎm 1911, Người đã bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam, một trong số những thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp nǎm 1920 và từ đó Người xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách là một chiến sỹ cách mạng quốc tế.

Sau nhiều nǎm bôn ba ở nước ngoài, đầu thập niên 40, Chủ tịch Hồ Chí Minh quay trở về Việt nam để lãnh đạo cách mạng trong nước, đưa cuộc Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 tới thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam á và sau đó 9 nǎm lại lập thêm một chiến công hiển hách nữa, chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954) chấn động địa cầu, lập lại hoà bình cho Việt Nam thông qua Hiệp định Giơ-ne-vơ. Và, những nǎm tiếp theo Người lại cùng Đảng CSVN lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Quyết tâm, mơ ước và sự tiên tri của Người đã trở thành hiện thực bằng Đại thắng Mùa xuân 1975 lịch sử, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Giôn Đu-cơ, tác giả cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh là một giáo sư lịch sử tiếng tǎm và uyên bác, ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như của đất nước Việt Nam. Ông sinh nǎm 1932 tại vùng Ê-van-xtôn, Bang I-li-noi, Hoa Kỳ, từng làm công tác ngoại giao, có mặt ở Sài gòn những nǎm 60 của thế kỷ trước, sau đó về làm giáo sư giảng dạy tại khoa lịch sử, Đại học Tổng hợp Pen-xi-lơ-va-nia. Để hoàn tất tác phẩm vĩ đại nói trên, Giôn Đu-cơ đã phải bỏ ra hàng chục nǎm trời sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc với những nhân chứng, nhất là những người đã từng sống gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhờ vào những tài liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau. Giôn Đu-cơ đã hoàn tất công trình, trong tác phẩm của mình, có lúc Giôn Đu-cơ đã trân trọng gọi Người bằng cái tên thời niên thiếu: Nguyễn Tất Thành và trích dẫn nhiều câu nói bất hủ của Người để minh hoạ. Chính vì vậy, tác phẩm rất sinh động, được đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá là một tác phẩm lớn nói về một con người vĩ đại.

Báo Nhà báo và công luận, ngày 24/1/2003
cpv.org.vn

Thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ kiên cường và lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới, phong trào giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.

Chủ tịch Xu-pha-nu-vông (Lào)

Thức tỉnh châu á là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta. Ai sẽ là người khởi sự và cái biển người đó sẽ đi đến đâu? Vấn đề này đã không giải quyết được trong những năm hoàng kim của các đế quốc thực dân châu Âu. Thậm chí có thể có người nào đó đã suy nghĩ chín chắn về vấn đề này, nhưng còn ai sẽ đưa hàng triệu quần chúng không có học thức từ chỗ quen sống yên phận, hoặc chỉ phản đối một cách mù quáng đến chỗ giác ngộ về sự nghiệp giải phóng và giành được cuộc sống thật sự của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người sáng tạo ra sự nghiệp phi thường đó.

V. Đơ-tê-rê-ca-rốp (Bun-ga-ri)

Người đã tổ chức nên Đảng, giáo dục Đảng và rèn luyện Đảng trong cuộc đấu tranh. Chính nhờ vậy mà nhân dân Việt Nam đã có được đội tiên phong của mình, một Đảng sáng suốt biết đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ của nhân dân trong một mặt trận rộng rãi để đưa họ đến thắng lợi.

Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Cu-ba)

Đồng chí Hồ Chí Minh đã để lại những công trạng bất hủ trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam cũng như của các dân tộc bị áp bức ở châu á và trên thế giới.

Nô-xa-ca Xan-dô (Nhật Bản)

Người là một nhà tổ chức cách mạng, một nhà lãnh đạo chính trị, một người đã từng bôn ba ở nước ngoài, một nhà tổ chức quân sự, một nhà văn, một nhà thơ. Rất hiếm có những người tập trung ở mình nhiều đức tính nổi bật đến thế. Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi thường.

Tổng thống X. A-giên-đê (CH Chi-lê)

Đồng chí Hồ Chí Minh kết tinh trong con người mình những đức tính vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Có thể thấy được tầm to lớn của những đức tính ấy ở sự suy sụp của các đế quốc Pháp, Nhật và của đế quốc Mỹ hiện nay, những đế quốc bị tan tác trên con đường đấu tranh của nhân dân Việt Nam cho độc lập và chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn

Đồng chí Hồ Chí Minh là tượng trưng cho chủ nghĩa anh hùng vô hạn làm cho Việt Nam trở thành tấm gương đẹp nhất của loài người. Thanh niên, công nhân, trí thức, những anh hùng đã chiến thắng tra tấn và tù đầy, tất cả đều công nhận tấm gương sáng ngời đó: Việt Nam.

R.A-ri-xmen-đi (U-ru-goay)

Đối với thanh niên và sinh viên, cuộc sống và tinh thần phục vụ nhân dân của Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là tấm gương, là nguồn cổ vũ mãnh liệt trong những cuộc thử thách về chính trị đang chờ họ trong tương lai.

Giôn Gô-lan (Anh)

Chúng ta tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh không những vì Người đã có những cống hiến vĩ đại như trên đã nói, mà còn vì đạo đức tuyệt vời của Người, và vì ánh sáng mà Người đã tỏa ra khắp nơi. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính dịu khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác. Những đức tính tốt đẹp đó của Người đã biến thành một sức mạnh mà ngày nay đang được triển khai trên thế giới.

Gioóc-giơ Mác-se (Pháp)

Hồ Chí Minh, người đem lại ánh sáng. Đó là ý nghĩa về cái tên của Người, đó là vai trò lịch sử của Người đối với nhân dân Việt Nam. Cứ mỗi giai đoạn trong cuộc đời của Người lại tương ứng với một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam mà đồng chí Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là người tổ chức. Đồng thời, trong khi làm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam tiến triển, đồng chí Hồ Chí Minh cũng góp phần vào việc xây dựng những mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước khác trên thế giới, để cùng nhau tiến bước trên con đường tương lai, nghĩa là trên con đường của chủ nghĩa xã hội.

Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Pháp)

Đồng chí Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương của một lãnh tụ cộng sản, của một nhà cách mạng vĩ đại… Tên tuổi và hình ảnh anh hùng của đồng chí Hồ Chí Minh đã đi vào từng căn nhà, bao trùm lên các đường phố, quảng trường, nhà máy, cánh đồng trên khắp đất nước chúng tôi, lên tất cả những nơi đang đấu tranh chống bất công và bóc lột, vì hòa bình và tự do.

Lui-gi Lông-gô (I-ta-li-a)

Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch, đây là nơi hội tụ tình cảm thiêng liêng của toàn dân ta và bạn bè quốc tế với Người. Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2005), Hànộimới xin trích đăng những tình cảm chân thành và xúc động mà bạn bè khắp năm châu khi đến thăm, nghiên cứu và hiểu thêm về cuộc đời của Bác Hồ đã lưu lại tại bảo tàng.

“Chúng tôi có ấn tượng sâu sắc về chuyến tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về lịch sử và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chúng tôi, lớp người của thế hệ sau chắc chắn có thể học được những bài học quý báu từ sự cống hiến, lòng quyết tâm và tình yêu của Người dành cho dân tộc, đất nước và những con người đang đấu tranh vì tự do và hòa bình trên thế giới”.

Suthichai Youn- Tổng biên tập Tập đoàn Xuất bản quốc gia, Băng Cốc – Thái Lan

“Bác Hồ, Người là tập trung của những phẩm chất cao đẹp, đấu tranh gian khổ, cần cù, tiết kiệm của người Việt Nam, là tập trung của ý chí kiên cường, đoàn kết một lòng; Người đã đoàn kết và lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ, cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù xâm lược; Người đã có cống hiến to lớn cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”…

Tôn Hồng Tuyền (Trung Quốc)

“Lịch sử dân tộc không thể tách rời lịch sử của những người đại diện vĩ đại của dân tộc đó. Điều này càng được khẳng định khi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một dân tộc cần phải hiểu và trân trọng gìn giữ lịch sử của mình, tôn kính ký ức về những người đã cống hiến cả cuộc đời mình phụng sự Tổ quốc”.

Lô-xép (LB Nga)

“Nhân dân Bra-xin xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn nhân dân Việt Nam và người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang nêu gương cho nhân loại.

Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cơ sở những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong xây dựng hòa bình, chủ nghĩa xã hội như đã từng giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến thắng những kẻ áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thức dậy trong trái tim các dân tộc toàn thế giới những tình cảm kỳ vọng vào tự do và bác ái giữa các dân tộc. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí chúng ta”.

An-đu Rơ-bê-lô – UVBCT BCHTƯ Đảng CS Bra-xin

“Tôi rất vui mừng được đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và đây là cơ hội hiếm hoi để tôi học hỏi nhiều hơn nữa về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc vĩ đại, một người có học thức và tầm nhìn rộng lớn. Chính điều này đã giúp Người lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thời gian tham quan bảo tàng là vô cùng bổ ích và đã làm tăng thêm hiểu biết của tôi về lịch sử văn hóa và tư tưởng trên khắp thế giới thông qua lịch sử và cuộc đời của một lãnh tụ vĩ đại”.

Sahih Abdu Mashamoun – Cựu Đại sứ Xu-đăng tại Việt Nam

“Thật là một dịp tuyệt vời được tham quan và tìm hiểu về cuộc đời và thời đại của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tôi thật sự cảm nhận được không khí lịch sử và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tôi vô cùng xúc động trước những cuộc đấu tranh và sự gian khổ mà nhân dân Việt Nam đã trải qua trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do”.

Graham Kierath -(Ô-xtrây-li-a)

“Bảo tàng Hồ Chí Minh là một biểu tượng quan trọng thể hiện sự tưởng nhớ của nhân dân Việt Nam đối với người anh hùng dân tộc bất tử của mình, đồng thời cũng là một khu triển lãm về cuộc đời mẫu mực của Người.

Đây là một đóng góp quan trọng để bảo tồn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc trên thế giới và của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những biểu tượng cao cả nhất”.

Lu-ít An-đa-ny-a (Pê-ru)

“Tôi thấy Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, một người giải phóng dân tộc Việt Nam, sau đó mới là một người cộng sản. Thấm nhuần tư tưởng của Lê-nin, Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam bị áp bức và sự bình đẳng của giai cấp”.

Một GS đại học Y khoa ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ

Theo Hà Nội mới, ngày 19/5/2001

Hồ Chí Minh, nhà Trung Quốc học uyên bác

Trong bài “Hồ Chí Minh, nhà Trung Quốc học đương đại vĩ đại nhất của Việt Nam”, nhà ngoại giao công tác nhiều nǎm ở Trung Quốc Dương Danh Dy đã nghiên cứu về Bác, lãnh tụ thiên tài còn là một nhà ngoại giao hiểu biết sâu sắc về Trung Quốc. Bài viết cho thấy tác giả đã thai nghén, ấp ủ đề tài này từ những nǎm tháng Bác còn sống. Nhiều suy tư và kinh nghiệm đọc, kinh nghiệm sống của tác giả đã dồn cho công việc nghiên cứu này.

Nhân kỷ niệm 111 nǎm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc Tế trân trọng giới thiệu một số đoạn trong bài viết rất có giá trị này của tác giả Dương Danh Dy*.

…Chúng ta đều biết, Bác Hồ xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán một cách cơ bản. Trình độ Hán ngữ của Bác chắc chắn đã được bổ sung và nâng cao khi Người quen biết một số nhà hoạt động cách mạng Trung Quốc ở Paris (1917-1923) như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân… (trong đó có cả nhà thơ Trung Quốc Tiêu Tam mà Bác là người giới thiệu vào Đảng Cộng sản Pháp) cũng như trong những lần Người hoạt động và bị bọn Quốc Dân đảng giam giữ ở Trung Quốc: lần thứ nhất từ nǎm 1924-1927 ở Quảng Châu (tôi dự đoán Bác đã nói được tiếng Trung Quốc trong thời gian ở Pháp – vì khi ở Quảng Châu danh nghĩa công khai của Bác là phiên dịch cho cố vấn người Liên Xô, Bôrôđin với Đảng Cộng sản Trung Quốc). Lần thứ hai từ nǎm 1938 đến đầu nǎm 1941, người từ Liên Xô qua Trung Quốc trở về nước. Lần thứ ba từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943, Bác bị bọn phản động Quốc Dân đảng giam giữ tại Quảng Tây.

Sự tinh thông Hán ngữ của Bác thể hiện ở những bài thơ Bác làm bằng chữ Hán mà chúng ta đều biết qua tập “Ngục trung nhật ký” và những bài khác. Những bài thơ làm theo thể Đường luật của Bác hay đến mức mà Quách Mạt Nhược – nhà vǎn hoá lớn của Trung Quốc phải thốt lên, nếu để lẫn với thơ Đường khó phân biệt được (đại ý). Đấy là trình độ viết. Còn trình độ nghe và nói của Bác ra sao. Ta hãy nghe người Trung Quốc đánh giá: “Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng lâu dài ở Trung Quốc, rất tinh thông Hán ngữ. Khi xem vở kịch Truy Ngư, không cần phiên dịch cũng hiểu được tám, chín phần nếu như không muốn nói là tất cả (xin mở ngoặc – đó là một trình độ rất cao). Hồ Chí Minh hiểu rõ vǎn hóa Trung Quốc, ngày 1/8/1959 đến thǎm Bảo tàng Lư Sơn. Khi vào phòng nghỉ thấy trên một chiếc bàn lớn đã để sẵn giấy Tuyên, nghiên mực và mấy chiếc bút lông to nhỏ khác nhau, vừa nhìn Hồ Chí Minh đã biết ngay dụng ý của chủ nhân là muốn mình đề chữ. Vì vậy sau khi Bí thư Đảng uỷ Cục quản lý Lư Sơn đề nghị, Người đã đi đến trước bàn hỏi các đồng chí Trung Quốc: dùng ngón tay viết có được không? Bí thư Đảng uỷ trả lời xin tuỳ Hồ Chủ tịch!

Thế là Hồ Chí Minh nghiêng người về phía trước, nhúng ngón tay vào nghiên mực viết ba chữ Hán rất có lực “Lư Sơn hảo” (Lư Sơn đẹp). Viết xong, Người rửa tay, dùng bút lông đề lạc khoản “tháng 8/1959, Hồ Chí Minh”. Bức đề chữ này được treo ở phòng trưng bày của Bảo tàng Lư Sơn.

*

…Tháng 8/1960, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc, lúc này bất đồng Trung – Xô đã công khai bộc lộ, Mao Trạch Đông sau khi trình bày với Hồ Chí Minh những nguyên nhân gây nên bất đồng đã biểu thị sẽ dùng phương thức “đoàn kết – phê bình – đoàn kết” để đối xử với Liên Xô. Hồ Chí Minh đồng ý nguyên tắc đó nhưng cho rằng “phương pháp mà các đồng chí Trung Quốc sử dụng có lúc dường như không hiểu lắm tính cách cá nhân đồng chí phương Tây cho nên hiệu quả không tốt”.

– Nói rất đúng, chúng tôi cũng phải chú ý phương thức phê bình. Mao Trạch Đông nói.

Để trình bày rõ hơn nữa quan điểm của mình, Hồ Chí Minh đã thuận tay cầm lấy bao thuốc lá giơ lên trước mặt nói: “Lấy việc mời người hút thuốc lá làm ví dụ, cầm cả bao thuốc mời người ta, người ta sẽ vui lòng nhận ngay; còn nếu quǎng điếu thuốc lá lên bàn nói “hút thuốc đi”, sẽ có người không vừa ý”. Vừa nói Hồ Chí Minh vừa quǎng thuốc lá lên bàn, rồi nói tiếp: “Sự thực không hẳn như vậy, nhưng tập quán cá nhân có khác nhau. Người phương Tây nói chung không thích phương thức mời sau. Nguyên tắc phê bình là đã biết thì nói, đã nói thì nói hết. Thế nhưng phương thức nói làm người ta không thích thì hiệu quả không tốt”.

Mao Trạch Đông gật đầu, tán thành cách nói của Hồ Chí Minh: “Phải dùng ngôn ngữ khoa học, giống như Mác, Ǎnghen, Lênin đã phê bình. Không thô bạo, phê bình phải chuẩn xác, rõ ràng, sinh động!

– Phải thêm tình đồng chí. Hồ Chí Minh bổ sung.

*

…Còn có thể nêu nhiều dẫn chứng, cho thấy sự am hiểu sâu sắc vǎn hóa Trung Quốc của Hồ Chí Minh, ở đây xin phép nêu một nhận định: Bác không những hiểu biết sâu sắc mà còn vận dụng một cách sáng tạo, dân tộc hoá những câu nói – ý nghĩ hay của Trung Quốc cổ đại vào hoàn cảnh Việt Nam đương đại:

Phải thẳng thắn nói rằng một số câu nói của Bác, mà hiện nay chúng ta thường nhắc, như:

– “Vì lợi ích mười nǎm trồng cây; vì lợi ích trǎm nǎm trồng người” bắt nguồn từ câu: “Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc; bách niên chi kế, mạc như thụ nhân” trong “Quản tử – Quyền tu”.

– “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”, bắt nguồn từ câu: “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” trong “Luận Ngữ” hoặc dịch câu thơ của Lỗ Tấn: “Hoàn mi lãnh đối thiên phu chỉ, phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu” thành: “Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ, cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng” trong dịp Đảng Lao động Việt Nam công khai ra mắt. v.v…

Tôi cảm thấy: không những Bác am hiểu sâu sắc vǎn hóa Trung Quốc mà trong tâm hồn Người dường như có một chỗ rất sâu kín, rất trân trọng, rất tình cảm dành cho nền vǎn hóa đó, đến nỗi nó đi vào Di chúc của Bác một cách hết sức tự nhiên. “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (người bảy mươi tuổi xưa nay hiếm) Bác trích và dịch thơ Đỗ Phủ và tự hào rằng mình đã vượt xa cái ngưỡng tuổi đó (nhưng có lẽ chính là để an ủi con cháu trước khi Người đi xa).

*

…Để kết thúc bài viết này, tôi muốn kể lại hai mẩu chuyện nữa về nhà Trung Quốc học – Hồ Chí Minh của chúng ta:

– Nǎm 1956, Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô – Vôrôxilôp sang thǎm nước ta, cùng đi trong đoàn có Fêđôtôp, Thứ trưởng Ngoại giao – nhà Trung Quốc học, nhà vǎn của Liên Xô. Trong dịp đó, Bác đã đến thǎm nơi ở của Chủ tịch Vôrôxilôp. Để đáp lễ, Chủ tịch Vôrôxilôp đề nghị tới thǎm nơi ở của Bác, nhưng Bác từ chối (lúc đó Bác đang ở trong cǎn phòng của người thợ sửa chữa điện của Phủ Toàn quyền cũ). Chủ tịch Vôrôxilôp giao nhiệm vụ phải đến thǎm nơi ở của đồng chí Hồ Chí Minh cho ông Fêđôtôp. Biết Bác là người tinh thông Hán học, ông này khi đề cập đến chuyện đó đã dùng câu trong kinh Lễ viết mấy dòng: “Lễ thượng vãng lai, hữu vãng vô lai, phi lễ dã” (lễ là có đi có lại, có đi không có lại, không phải là lễ). Đọc xong, Bác đồng ý để Chủ tịch Vôrôxilôp đến nơi ở của mình.

Giữa nǎm 1964, đồng chí Bành Chân – Uỷ viên Bộ Chính trị kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc thǎm Việt Nam. Lúc này quan hệ Xô – Trung rất cǎng thẳng, do thái độ đúng đắn của Đảng ta, đó đây có dư luận cho rằng Việt Nam ngả theo xét lại. Biết được điều đó, khi tiễn đồng chí Bành Chân, Bác đã đọc hai câu thơ Đường của Vương Xương Linh:

Bắc Kinh thân hữu như tương vấn,

Nhất phiến bǎng tâm tại ngọc hồ.

(Nghĩa là: Bạn thân Bắc Kinh nếu có lời hỏi thǎm, (thì thưa hộ rằng tôi) vẫn giữ một tấm lòng trong trắng như bǎng trong bình ngọc) để nói lên sự trung thành tuyệt đối của Đảng ta – của Bác – đối với chủ nghĩa Mác Lênin.

Cái hay cái tài của Bác ở đây là, Bác chỉ đổi hai chữ Lạc Dương trong nguyên vǎn thành hai chữ Bắc Kinh, là đã nói được đầy đủ cái ý định nói. Nên nhớ, hai câu thơ, hoặc cả bài thơ tứ tuyệt đó rất được phổ biến ở Trung Quốc, câu thơ đó của Bác có tác động rất lớn lúc bấy giờ.

Bắc Kinh – Hà Nội 3/9/1969-19/5/2001

Nguồn: Báo Quốc tế, ngày 16/5/2001
cpv.org.vn

Lần đầu gặp gỡ Hồ Chủ Tịch

Nguyễn Yên
(Sưu tầm và dịch)

Theo hồi ký của Raymond Aubrac (NXB Odile Jacob 1996)

Raymond Aubrac, một nhân vật lớn của cuộc kháng chiến chống Đức 1940. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, ông giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng lại nước Pháp và tham gia điều hành công việc của LHQ. Đặc biệt, ông trở thành bạn của Bác Hồ từ 1946, từng làm trung gian giữa Pháp và Việt Nam trong những cuộc thương lượng bí mật thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam.

Không hiểu tại sao, ngày 27/7/1946, tôi lại chấp thuận lời mời của người Việt Nam. Cuộc chiêu đãi người ta mời tôi là để đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris theo lời mời của Chính phủ Pháp trong khi đang diễn ra cuộc đàm phán khó khăn ở Fontainebleau.

Nói về Việt Nam, tôi quả thật không biết gì hơn đồng bào chúng tôi. Chúng tôi so sánh cuộc chiếm đóng thuộc địa như thời kỳ chúng tôi bị người Đức chiếm lĩnh.

Ngày 6/3/1946, nước Pháp ký hiệp ước công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp lúc ấy biết rõ rằng: đó là để đạt được sự quay lại Bắc kỳ của quân đội Pháp thay thế quân Trung Hoa rút đi. Cuộc đàm phán ở Fontainebleau phải xem xét nhiều vấn đề đang còn bỏ lửng. Cùng lúc đó, đô đốc D’ Argenlieu tiến hành ở Đà Lạt một cuộc thương thuyết khác nhằm giải quyết vận mệnh Đông Dương.

Được mới đến Pháp, Hồ Chủ tịch không tham gia phái đoàn ở Fontainebleau do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Đó là tất cả những gì tôi được biết về quan hệ Pháp- Việt khi một người trong ban tổ chức giới thiệu tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đi qua đám đông, người ta dẫn tôi về phía con người nhỏ nhắn tươi cười với chòm râu và đôi mắt tinh anh. Ông cụ cầm tay tôi tách khỏi đám đông bao quanh và nói:

– Ông Aubrac, tôi đã biết những việc ông làm cách đây 2 năm ở Marseille đối với đồng bào tôi. Tôi xin cảm ơn ông!

Khi chiến tranh bùng nổ năm 1939, người ta đưa đến đây hàng ngàn lao động Đông Dương để thay thế công nhân Pháp bị động viên. Sau thất trận 1940, những ngươi đó bị tập trung trong các trại để sống qua những năm tháng bị người Đức chiếm đóng. Với tư cách ủy viên Chính phủ, tôi biết họ đang ở trong tình trạng hết sức tồi tệ. Khi công việc còn được giải quyết nhanh chóng, quyết định của tôi đã được áp dụng ngay. Ban chỉ huy cũ bị gạt ra và thay vào bằng những người trung thực. Tôi để người lao động bầu đại diện của mình vào một ủy ban thay mặt họ bên cạnh ban chỉ huy trại. Nói tóm lại, tôi gắng làm những gì có thể làm được.

Từ đấy, những người lao động Đông Dương- mà nhóm có tổ chức nhất là những người Việt Nam đã tỏ thái độ biết ơn tôi. Chúng tôi nhận được một hộp kẹo sôcôla vào ngày đầu năm, được mới đến dự Tết và ăn bữa ăn Việt Nam. Lần này, việc mời tôi đến Bagatelle không hẳn là điều bất ngờ.

Khoác tay nhau trên con đường nhỏ ở Bagatelle cùng với con người mà trang đầu của báo chí đang đưa lên thành nhân vật chính của thời sự, tôi không biết nói gì với ông.

– Thưa Chủ tịch, ngài có thích Paris không?

– Tất nhiên và tôi biết từ nhiều năm trươc, nhất là khu phố Latinh.

– Chỗ Ngài ở có tốt không?

– Chính phủ ông đã thuê cho tôi một tầng của tòa dinh thự trong khu phố Khải Hoàn Môn nhưng tôi thấy không hợp. Tôi thấy thiếu một mảnh vườn.

– Tôi rất vui lòng chỉ cho Ngài xem ngôi nhà của tôi. Nhưng, tôi ở khá xa, tận ngoại ô, ở Soisy-sous Montmonrency phía Bắc Paris.

– Vậy thì ông Aubrac, tôi rất vui lòng đến thăm vườn của ông. Nếu không phiền thì tôi sẽ đến vào thứ ba tới để uống trà, cùng đi còn 2 người bạn tôi.

Chiều hôm đó, tôi báo cho Lucie, vợ tôi, biết cuộc viếng thăm của người khách nổi tiếng này.

Vào đúng ngày giờ đã hẹn, vị Chủ tịch đã đến cùng đoàn mô tô hộ tống của Sở Cảnh sát đô thành.

Bàn ăn được dọn trước trong nhà, sân nối tiếp với khu vườn không lấy gì làm rộng rãi cho lắm. Bà mẹ của Lucie cũng có mặt, bà giúp chúng tôi vì vợ tôi sắp sinh cháu. Cháu Jean Pierre 5 tuổi đã đi học về. Cháu bé Catherine đang ngủ hay chơi đâu đó ngoài vườn.

– Đúng là một khung cảnh gia đình êm ấm, nhà ông ở lớn thật. Những ai sống ở đây?

– Những người mà Ngài thấy ở đây và một cô trông trẻ.

Tôi dẫn khách đi thăm nhà cửa.

Ngôi nhà gồm 3 tầng. Sau khi thăm khắp nhà một lượt, cụ Hồ Chí Minh kết thúc cuộc viếng thăm bằng một nhận xét ngắn như là nhân dịp nói qua:

– Tầng hai của ông không có ai ở. Tôi rất thích khu vườn. Nếu tôi được ở đây thì hơn là sống trong dinh thự chính phủ ông dành cho tôi.

Tính lịch thiệp, sự quan tâm và cả tình cảm mà con người đó biểu lộ đã khiến tôi lập tức đề nghị ông đến ở cùng gia đình. Thế là đã mở ra- có thể nói là một chương mới trong cuộc đời tôi. Hay nói đúng hơn là khởi đầu cho một loạt sự kiện trải dài trong hơn 40 năm sau và đến nay, vẫn tiếp tục khi tôi viết lại hồi ức này.

Việc ông Hồ Chí Minh đến nhà tôi không phải là chuyện ngẫu nhiên. Chắc chắn là có những quan hệ đã được những người Việt phác họa.

Không phải là đảng viên cộng sản, Lucie và tôi, vẫn được coi là những người cảm tình- cái mà người ta kêu là những người bạn đường- ở đây có sự tiếp nối thái độ dấn thân liên tục của chúng tôi.

Cuộc sống chung của chúng tôi với Bác Hồ được tổ chức không mấy khó khăn. Con người có tính cách đặc biệt đó, ngoài những đức tính thiên phú còn có ngay những mối quan hệ đơn giản nhất với tất cả những người đối thoại cho dù là bộ trưởng hay nông dân. Chỉ trong chốc lát, ai cũng thấy thoải mái. Không bao giờ Người giữ khoảng cách mà thường Người tự biết làm ra vẻ là nhà lãnh đạo sống ẩn mình.

Người bạn thân nhất của ông trong 6 tuần lễ ở nhà tôi có lẽ là bà mẹ vợ tôi. Một bà nông dân vùng Bourgogne, một người có lối diễn tả bộc trực và óc thông minh sâu sắc. Bác Hồ thường gợi chuyện cho bà kể về công việc, những thói quen, những định kiến của người trồng nho chúng tôi. Ông cũng trao đổi về những người nông dân nước mình.

Mỗi buổi sáng, người ta đem đến tất cả các báo Pháp, Anh, Mỹ, Nga và Bác Hồ không có gì thích hơn là được đọc báo. Bác đọc lướt qua tất cả ngồi xổm trên bãi cỏ giữa vườn.

Nhiều lần trong tuần, Người đi thăm người hàng xóm trong làng và trở về với nhiều hoa ôm ở trên tay.

Trong ngày, nếu không đi gặp những người đối thoại ở Paris thì Người tiếp khách tại nhà. Những nhà đàm phán Fontainebleau hầu như đến gặp ông hàng ngày. Buổi chiều, Người đề nghị chúng tôi mời ăn tối những nhân vật khác nhau: các chính khách cánh hữu, cánh tả, các nhà văn, nhà báo.

Việc chợ búa và nấu ăn là một gánh nặng đối với Lucie, bà mẹ vợ và chị giúp việc. Sau mấy ngày đắn đo- với sự ngần ngại mà tôi được hưởng của nền giáo dục tư sản- Bác Hồ đề nghị đưa một ngươi bạn cũ đến giúp việc cả ngày. Đó là một đầu bếp số một đang có quán ăn ở khu phố Latinh. Vậy là bố già Ti đã chiếm lĩnh hoàn toàn nhà bếp, hầm rượu và một nhà phụ. Nhà tôi biến thành một bếp ăn Việt Nam. Là người thành thạo, luôn tươi cười đon đả, ông Ti quả là một chuyên gia lớn.

Cuối tháng 7, nhân dịp sinh nhật tôi, Bác Hồ tặng tôi một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm vẽ. Bức tranh một bà mẹ trong sáng với bàn tay và những ngón tay nhỏ thon ve vuốt đứa con của mình.

Hai ba ngày sau khi cháu Elisabeth chào đời, các cô y tá ở nhà hộ sinh Port Royal thấy một vị khách khác thường đến thăm cháu. Họ nhận ra ngay ông cụ vì hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa tin hàng ngày khắp các báo. Bác Hồ bế cháu trên tay và trước khi đặt xuống nôi đã quyết định nhận làm cha đỡ đầu cho bé. Từ ngày đó đã xảy ra một nghi thức đặc biệt cứ mỗi lần sinh nhật cháu, “người cha đỡ đầu” đều tìm cách gửi quà cho cháu cho dù xa xôi cách trở nghìn trùng và Người đang bận với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Khi cuộc đàm phán Fontainebleau kết thúc, Bác Hồ để phái đoàn về nước, Người ở lại một thời gian để ký với Marins Moutet một văn bản không mấy rõ ràng gọi là Tạm ước, đặt cơ sở để tiến tới một hiệp nghị hòng cứu vãn hòa bình.

Hồi năm 1952, tôi thường đến Praha (Tiệp Khắc). Những buổi gặp gỡ các bạn Việt Nam và nói về cuộc chiến tranh vô tận mà hai nước phải chịu đựng.

Trong những năm chiến tranh đó hai lần người ta yêu cầu tôi đi Việt Nam để gặp người bạn Hồ Chí Minh của tôi (Những yêu cầu đó xuất phát từ Vicent Auriol – Tổng thống – René Mayer- Chủ tịch Quốc hội). Tôi đã từ chối vì biết rằng họ không có gì đưa ra, chẳng qua chỉ là cái cớ cho các chính khách dựa vào đó tiếp tục chiến tranh.

Báo Công luận, ngày 18-24/5/2001
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn

Phải hoàn thành tốt công tác phòng và chống lụt, bão nǎm 1968 (4-7-1968)

Mấy nǎm gần đây, đến mùa này, ở miền Bắc nước ta thường có mưa lũ lớn, giặc Mỹ lại đánh phá đê, kè. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đã anh dũng chiến đấu, vượt nhiều khó khǎn, thêm nhiều kinh nghiệm và đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chống lụt, chống bão, chống địch.

Cả nước ta đang phấn khởi, tự hào vì miền Nam anh hùng đánh mạnh, thắng to, miền Bắc đã bắn rơi hơn ba nghìn máy bay Mỹ. Giặc Mỹ thua to nhưng vẫn rất ngoan cố, chúng vẫn dùng máy bay đánh phá các vùng đông dân và có nhiều đê. Chúng ta không được chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu.

Hiện nay đang mùa mưa lũ, ở một số nước châu á đã xảy ra nạn lụt. Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè.

Nhiều nơi đã bồi đắp xong đê. Có nơi làm khá như Vĩnh Phú, Nam Hà, Hải Hưng, Hà Bắc, nhưng cũng có nơi làm còn chậm. Nhiều xã chưa tổ chức xong lực lượng phòng và chống lụt, bão; nhiều hợp tác xã nông nghiệp chưa chuẩn bị sẵn sàng.

Các cấp tỉnh, huyện phải kiểm tra thật kỹ việc chuẩn bị ở địa phương.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và huyện phải phân công nhau trực tiếp đi xuống các xã, hợp tác xã nông nghiệp để kiểm tra đôn đốc, giúp đỡ việc chuẩn bị phòng, chống lụt, bão và đẩy mạnh sản xuất vụ mùa. Phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to, bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ.

Các đơn vị bộ đội, các cơ quan phải có kế hoạch tích cực tham gia và giúp đỡ nhân dân chuẩn bị các mặt cho tốt.

Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải có quyết tâm cao, phải chuẩn bị tốt, nhất định phải thắng thiên tai, địch hoạ trong mùa mưa lũ nǎm nay, góp phần đẩy mạnh sản xuất và giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

T.L.

Báo Nhân dân, số 5196, ngày 4-7-1968.
cpv.org.vn

Một lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sevgei Somov
Nguyễn Huy Hoàng dịch

Những năm 1960, khi tôi công tác ở Việt Nam, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam và đặc biệt là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tôi có một Album ảnh về họ.

Giữa nhiều những bức ảnh, có một bức đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, đó là bức ảnh các phi công Liên Xô chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lần, những đứa cháu tôi rón rén đến ngắm bức ảnh, chúng hỏi tại sao tôi lại được đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại sao chung quanh Người không có đội bảo vệ? Tôi nói với bọn trẻ rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, là lãnh tụ, là người thầy của dân tộc Việt Nam, Người không cần có vệ sĩ riêng, bởi ai cũng yêu quý, kính trọng Người, tất cả mọi người dân Việt Nam đều bảo vệ Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thông thái, nhìn xa trông rộng, mà còn là một con người nhân hậu và khiêm tốn, là Con Người viết hoa. Có thể đưa ra hai thí dụ. Chủ tịch hoàn toàn có điều kiện sống và làm việc trong một tòa nhà lớn, nhưng Người lại thích sống và làm việc trong một ngôi nhà sàn nhỏ, có hoa bao quanh và tự tay Người chăm sóc. Một lẵng hoa hồng luôn luôn được đặt trong phòng làm việc và bất cứ ai được Người tiếp, sau khi chia tay đều được Người tặng một bông hồng như biểu tượng của cái đẹp và lòng hiếu khách.

Một thí dụ khác. Năm 1963, Quốc hội Việt Nam quyết định trao tặng Người huân chương “Sao vàng” cao quý, nhưng Người từ chối phần thưởng, nói rằng vì lúc đó đất nước vẫn còn chưa thống nhất, tạm thời chia làm hai miền.

Tôi là người rất đỗi hạnh phúc, bởi số phận đã ban cho tôi một cơ hội không chỉ được nghe lời Người chúc Tết qua đài nhân dịp Tết âm lịch năm 1961, mà còn được gặp gỡ, nói chuyện với Người. Sau đây là câu chuyện ấy.

Vào mồng một Tết hằng năm, ở miền bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến thăm các bạn chiến đấu trong Đảng, những đồng chí đã cùng Người trải qua con đường gian khổ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Tết năm ấy, khi mọi người tiến hành công việc chuẩn bị cho chuyến công tác của Người lên phía bắc thì một chỉ thị được ban ra: chiếc máy bay trực thăng từng chở Người đã đến lúc sửa chữa định kỳ và phải hoàn thành trước ngày bay. Lãnh đạo không quân Việt Nam yêu cầu phải hoàn tất công việc để chuyến bay được thực hiện theo kế hoạch đã định.

Sáng sớm ngày Chủ tịch lên đường đi công tác, tổ lái đã có mặt ở sân bay Gia Lâm. Chúng tôi cùng vị Tư lệnh Không quân Việt Nam nóng lòng chờ Người đến. Bất chợt, tôi thấy phía trước đường băng một chiếc xe con Liên Xô “Pôbêđa” lao tới. Tôi ngoảnh về đồng chí Tư lệnh nói: “Anh cho tập hợp lại kẻo anh em phân tán, để đón Chủ tịch”. Đồng chí tư lệnh quan sát phía trước và nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tới”.

Cả nhóm kỹ sư và đội bay đứng chờ. Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra khỏi xe hơi. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa lần nào được gặp Người, nhưng tôi biết khá rõ về cuộc đời hoạt động đầy gian truân của Người. Vì vậy, trong hình dung của tôi, tôi sẽ được gặp một người khỏe mạnh, phong trần, cao lớn như một chiến binh. Đại loại, vóc dáng của Hồ Chí Minh phải là như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi từ trong xe bước ra là một người tầm thước với mái tóc gọn gàng đốm bạc, khuôn mặt điểm bộ ria cắt ngắn và một chòm râu bạc. Chủ tịch mặc bộ ka-ki trắng giản dị, đi đôi dép bình thường.

Người mỉm cười như đã quen biết chúng tôi từ lâu, đôi mắt hơi nheo ngời lên tia sáng ấm áp và nhân hậu rất đặc trưng ở Người Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là con người tôi vẫn gặp hằng ngày trên đường phố Hà Nội và trên những cánh đồng lúa Việt Nam. Tôi báo cáo với Người: Chuyến bay đã sẵn sàng, còn Người ngoái về phía tôi hỏi bằng tiếng Nga rành rọt: “Chú là quân nhân à?”. Tôi trả lời: “Vâng ạ”. Tôi biết Người nói được nhiều ngoại ngữ, nhưng quả thật tôi khó hình dung ra Người nói tiếng Nga trong sáng đến như vậy. Về sau này tôi biết được rằng, lần đầu tiên Người đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923 để học trường Đại học Quốc tế Phương Đông. Ngày 27-1-1924, trong bộ quần áo mỏng, giữa mùa đông nước Nga giá buốt, Người đã xếp hàng suốt ngày ở lối đi vào phòng khánh tiết Nhà Công đoàn để được vĩnh biệt Lê-nin…

Ngày hôm đó, chúng tôi không rời khỏi sân bay mà ở lại chờ Người quay trở về. Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi máy bay, chúng tôi lập tức đến đứng quanh Người. Tôi bước đến gần Người và đề nghị chụp ảnh kỷ niệm với các phi công Liên Xô. Và thế là chúng tôi có một bức ảnh trở thành báu vật của gia đình như thế.

Để kết thúc câu chuyện xúc động, khó quên này tôi không thể không kể thêm một chi tiết về vẻ đẹp của tâm hồn một con người thực sự vĩ đại. Khi hoa tiêu A.Xuốcnốp, bạn tôi, vừa chụp xong thì chúng tôi vội tản ra, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngăn lại. Người nói: Các chú đứng lại đã, chú chụp ảnh không có mặt trong ảnh. Một chú khác ra chụp lần nữa. Và khi đó Xuốcnốp được đứng bên cạnh Người, còn các phi công khác được chụp lần thứ hai. Trong ảnh tôi đứng bên phải Người, trong bộ áo mầu sáng.

Văn nghệ quân đội
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài về Lev Tolstoi

N.i.nikulin
Phương Phương dịch

Năm 1960, tòa soạn báo Văn học ở Moscow đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bài về văn hào Nga vĩ đại Lev Tolstoi. Khi đó vừa tròn 50 năm Tolstoi rời bỏ ngôi nhà của mình ở Yasnaia Poliana và qua đời. Năm 1960 được tuyên bố là “Năm Tolstoi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đáp lại lời đề nghị của tòa soạn.

Bài báo nhỏ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan trọng ở nhiều phương diện. Thứ nhất, đó là một tư liệu quý giá của nhân loại, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kể về bản thân mình, về tuổi trẻ của mình, về sự trưởng thành về tinh thần và nghệ thuật của mình với tư cách là một nhà văn, nhà báo. Người kể lại một cách rõ ràng với phong cách giản dị, sáng sủa, giàu hình ảnh, với sự chân thành sâu sắc, có lúc thoáng chút hài hước khi Người nhớ lại thời gian đầu làm quen với sáng tác của Tolstoi. Thứ hai, bài báo là một cứ liệu hiếm hoi về vai trò của các nhà văn cổ điển Nga và của Tolstoi trong sự hình thành văn học cách mạng Việt Nam, về sự tiếp nhận văn học hiện thực phê phán Nga của nhà hoạt động văn hóa vĩ đại Việt Nam và về nhiều điều khác. Bài báo nhỏ nhưng rất nhiều thông tin.

Đầu tiên bản dịch sang tiếng Nga của bài báo được đăng ở Moscow trên tờ Văn học số ra ngày 19-11-1960, còn nguyên bản tiếng Việt thì hai ngày sau được đăng trên báo Nhân Dân (số ngày 26-11-1960). Tạp chí Văn nghệ sau đó đăng lại. Giữa các văn bản tiếng Nga và tiếng Việt có một số chỗ khác nhau, chủ yếu là về phong cách. Trong bản tiếng Việt và bản tiếng Nga bài báo mang các tựa khác nhau. Trên báo Văn học nó có tên “Kỷ niệm về Người”.

Việc Nguyễn ái Quốc vào đầu những năm 20 quan tâm đến sáng tác của Tolstoi là điều rất tự nhiên, bởi chính Tolstoi chứ không phải ai khác trong các nhà văn cổ điển Nga có rất nhiều mối quan hệ với văn hóa phương Đông, với các nhà hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa và trong phong trào giải phóng dân tộc cuả các dân tộc châu á, trong số họ có người chiến sĩ vĩ đại đấu tranh cho độc lập của ấn Độ Mahatma Gandhi, có nhà văn Nhật Bản nổi tiếng Tokutomi Roka.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo về Tolstoi ấy ở đâu và trong hoàn cảnh nào? Câu hỏi đó từ lâu đã làm tôi quan tâm. Hóa ra, vào tháng 11 năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Moscow, Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tham dự hội nghị của các đảng cộng sản và đảng công nhân. Tôi tìm đến một số đồng chí Liên Xô phục vụ cho đoàn Việt Nam lúc đó, và đã sáng tỏ một số chi tiết.

Người ta kể cho tôi rằng ngày làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy ắp những công việc quan trọng và kéo dài 17 tiếng đồng hồ hoặc hơn thế nữa, với vài lần nghỉ ngắn ngủi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ trở về tòa nhà nhỏ hai tầng nằm trong khu phố Mosfilm ở phía tây nam Moscow, nơi Đoàn đại biểu Việt Nam nghỉ lại, sau 12 giờ đêm; 5 – 6 giờ sáng Người đã dậy và bắt đầu ngày làm việc. Người chỉ có thể được ngủ 4 – 5 tiếng. Trong điều kiện như thế, rút bớt thời gian ngủ, Người không cho phép mình được từ chối lời đề nghị của tòa soạn báo Văn học và đã viết bài báo về Tolstoi.

Còn giữ lại một cứ liệu khác về những ngày đó: cùng thời gian này cũng ở Moscow có nhà văn Nguyễn Công Hoan đến để tham dự các hoạt động kỷ niệm Tolstoi, và ông đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17-11-1960. Nguyễn Công Hoan nhớ lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong giá rét, mặc chiếc măng-tô và đội chiếc mũ lông, hồng hào, nhanh nhẹn. Thời gian của Chủ tịch quá chật hẹp, Người đang vội, cuộc nói chuyện với Nguyễn Công Hoan rất ngắn ngủi.

… Với tình cảm biết ơn sâu sắc, tôi lần nữa lại đọc lại bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Lev Tolstoi: mỗi chữ mỗi từ đều tràn đầy ý nghĩa.

Báo Sài Gòn giải phóng
cpv.org.vn