Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Cụ già người Mông bốn lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Cụ Thào A Chiêu đã trên cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi nhớ lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu và công tác, đôi mắt lại trở lên linh hoạt khác thường, giọng nói nghe còn sang sảng: “Cả đời, bố vinh dự nhất là đã từng bốn lần được gặp Bác Hồ…”.

Bác Hồ gặp gỡ đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang. (Ảnh: hanoi.vnn.vn)

Hỏi thăm nhà cụ Thào A Chiêu ở xã vùng cao Hồng Thu, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, người dân nơi đây ai cũng biết. Khi đến được nhà, đợi mãi gần đúng Ngọ, mới thấy một cụ già có mái tóc bạc, chống chiếc gậy tre chậm rãi bước về từ khu rừng xanh mướt còn ẩn hiện trong mây mờ.

Cụ Chiêu mà người dân địa phương quen gọi là cụ Thào sinh năm 1928, có bề dày thành tích chiến trận khiến nhiều người kính nể: Tham gia du kích, tiễu phỉ, rồi gia nhập quân đội chính quy đi giải phóng miền Nam, tham gia chiến tranh biên giới và giúp bạn Lào đánh giặc. Chính những năm tháng đối diện với hoàn cảnh mong manh giữa sự sống và cái chết ấy, cụ đã may mắn và vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần.

Cụ Thào mở đầu câu chuyện bằng cách chỉ vào cái tai bên trái của mình mà rằng: “Con phải nói to thì bố mới nghe thấy”. Mới hai năm trước, nhân một lần các bác sỹ Bệnh viện Quân Y 103 về Sìn Hồ khám chữa bệnh cho bà con, cụ đi khám thì được các bác sỹ lấy ra từ tai bên trái một cục máu đen khô đét, to gần bằng nửa đầu ngón tay út. Lúc ấy cụ Thào đã thốt lên: “Sướng quá bác sỹ ơi, cái tai tôi nhẹ quá, nghe rõ quá”. Nhưng sau đấy vài tháng, cái tai trái của cụ cứ từ từ ù đặc, đến nay thì không còn nghe thấy gì nữa.

Cụ kể: Năm 1962, trong một trận quyết chiến ở bên Lào, cụ vác trên vai khẩu “Đê ca” 82 và bắn liền một mạch 12 phát, trong khi các xạ thủ khác chỉ dám bắn 6 phát. Bắn đến quả cuối cùng thì máu mũi, máu tai, máu miệng ứa ra, cụ ngất lịm đi, sau một tuần mới nói được trở lại. Cụ Thào được máy bay của ta chuyển về Hà Nội điều trị tại Bệnh viện Quân Y 108, sau 8 tháng tai vẫn ù.

Chính cái lúc tưởng chừng như không thể qua nổi ấy, ông được gặp Bác Hồ. Bác mặc “chiếc áo thường dân, màu cỏ úa”, vào thăm, động viên các thương binh được chuyển từ chiến trường Lào về. Toàn là những thương binh nặng “người mất tay, người mất chân, băng bó khắp người…”. Cụ Thào bảo “nhìn cảnh ấy, nhiều người không dám vào thăm đâu”. Cụ tiếc là “lần được gặp Bác Hồ lần 3” này không nghe được lời Bác Hồ nói vì tai ù đặc.

Gia đình cụ Thào có 7 anh em trai, cụ là con thứ sáu. Năm lên 13 tuổi, mẹ của cụ ốm nặng qua đời, còn người bố bị giặc Pháp bắt đi tù vì “tội” theo cách mạng. 7 anh em tự đùm bọc rau cháo nuôi nhau. Sau 5 năm bị Pháp bắt đi biệt tích, tưởng không còn hy vọng gì, bố của cụ Thào được tha về. Kể từ đó cụ Thào được nghe bố kể nhiều chuyện về Bác Hồ, về người dân các dân tộc nghe theo Đảng, theo Bác Hồ đứng lên đấu tranh bảo về Tổ Quốc ở khắp nơi trong cả nước và cho tới mãi sau này cụ Thào mới được bố nói cho biết trong 5 năm ở tù của thực dân Pháp, người bố của cụ đã gặp và được các cán bộ cách mạng giác ngộ.

Đến năm 1951, có 4 cán bộ bộ đội trong đó 3 người giới thiệu tên là Bằng Quốc Bảo, người Dao quê ở Bắc Cạn; Phan Quang Sử, người Thái ở Việt Bắc; Lương Trọng Viễn, quê ở Yên Bái… đến nhà cụ Thào, bắt liên lạc với người bố của cụ. Suốt một tháng trời hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng, vận động bà con dân bản xã Hồng Thu thành lập đội du kích, chuẩn bị đánh Pháp, 4 bộ đội được gia đình cụ Thào cùng bà con nơi đây bảo vệ, tiếp tế lương thực, thực phẩm và dẫn đi ẩn náu ở một hang đá thuộc địa bàn bản Chung Sung A.

Cụ còn nhớ: “Cứ nửa đêm, khi gà gáy là bố lại mang gạo, thực phẩm vào hang đá cho bộ đội”. Hưởng ứng lời kêu gọi, vận động của bộ đội, cả nhà cụ Thào đều tham gia đội du kích. Lúc đầu đội chỉ có 17 người nhưng càng về sau càng có nhiều người tham gia, đến đầu năm 1953 quân số tăng lên đến 30 người, trong đó có 5 phụ nữ.

Cụ Thào nhẩm tính, từ đầu năm đến cuối năm 1953, đội du kích xã Hồng Thu do ông Giàng A Tùng là Đội trưởng (nay đã mất) đã đánh 22 trận, góp một phần không nhỏ vào chiến thắng chung, giải phóng quê hương Sìn Hồ ngày 19/12/1953.

Đầu năm 1954, cụ Thào nhập ngũ, được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội địa phương C835, hành quân xuống vùng thấp Sìn Hồ tiễu phỉ hoành hành ở các xã Pu Sam Cáp, Noong Hẻo, Nậm Cuổi, Căn Co. Chỉ trong vòng 3 tháng, người Tiểu đội trưởng này và đồng đội tham gia 16 trận tiễu phỉ. Bây giờ, cụ vẫn còn nhớ trận cuối cùng đánh từ 4 giờ sáng đến khoảng 11 giờ trưa mới ngừng tiếng súng. Sáng sớm hôm sau, ba tên phỉ đầu sỏ phất cờ trắng cùng khoảng 600 tên lính mang gần 400 khẩu súng các loại xin hàng. Kể từ đó, Sìn Hồ sạch bóng phỉ.

Tháng 10/1954, trong buổi tổng kết chiến dịch Điện Phiên Phủ, cụ vinh dự được Đại tá Bằng Gia, Quân khu trưởng Quân khu Tây Bắc thay mặt Chính phủ trao tặng Huân chương chiến công hạng Nhất và cũng là người vinh dự cùng lên nhận Cờ thi đua của Chính phủ tặng Lai Châu (cũ). Sau đó cũng chính cụ là người duy nhất của huyện Sìn Hồ, là chiến sỹ thi đua được về Quân khu Tây Bắc (Sơn La) gặp và nghe Bác Hồ nói chuyện. Đây chính là lần đầu tiên cụ Thào được gặp Bác.

Tại một cái lán gianh nhỏ, cạnh khu rừng của Quân khu Tây Bắc, có khoảng 30 chiến sỹ tiêu biểu thuộc các dân tộc khu vực Tây Bắc cùng về dự. Bác Hồ đến, mặc bộ quần áo nâu, có một cái túi to ở vạt áo. Bác cười hiền từ, đi bắt tay từng chiến sỹ. Bác nói chuyện tình hình chiến thắng của Cách mạng trên các mặt trận, chừng 15 phút, với giọng trầm ấm. Bác kết thúc với câu “Chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi hoàn toàn, nhưng chưa phải đã hết giặc, mong các chú cố gắng tiếp tục chiến đấu, khi hoà bình nếu còn sống Bác sẽ nói chuyện nhiều hơn”.

Lần thứ hai, cụ Thào vinh dự được gặp Bác Hồ vào buổi lễ tuyên bố thành lập khu tự trị Thái – Mèo ở Sơn La. Bấy giờ cụ là một trong 3 đại biểu của huyện Sìn Hồ đại diện cho dân tộc Mông đi dự lễ. Cụ vẫn nhớ, lần ấy, Bác mặc chiếc áo sỹ quan màu xanh, chùng gần đầu gối. Cụ thổ lộ, cũng vì được gặp Bác Hồ, nghe Bác nói mà như được tiếp thêm sức mạnh, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Cách mạng sẽ thành công và sự thực đã là như vậy.

Một lòng theo Đảng, cụ tích cực vận động con cháu và bà con xung quanh không nghe theo kẻ xấu. 3 người con của cụ đều đã trưởng thành, trong đó một người con trai tiếp tục được bản Chung Sung A tín nhiệm bầu làm Trưởng bản.

Khi chúng tôi nóng lòng muốn biết “lần thứ tư” cụ gặp Bác Hồ trong trường hợp nào thì ông cụ bỗng lặng đi giây lát, nhìn chúng tôi với đôi mắt đượm buồn. Đó là năm 1993, tỉnh Lai Châu (cũ) tổ chức cho những cựu chiến binh về thăm Lăng Bác. Cụ Thào bảo “gặp Bác lần này Bác không nói được như trước, Bác nằm nhìn vẫn thế, chỉ có điều gầy hơn trước nhiều thôi!”.

Có lẽ cũng như hàng triệu người dân Việt Nam bấy lâu nay, trong lòng cụ Thào, Bác Hồ chỉ đang nằm ngủ!

Nguyễn Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Cụ bà dân tộc Thái 3 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Vi Thị Hoá, cô gái Thái vùng Tây Bắc thủơ nào, nay đã 80 tuổi, đã kém minh mẫn, nhưng khi kể lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu, công tác, đôi mắt cụ vẫn bừng sáng: “Ba lần được gặp Bác là niềm vinh dự của đời tôi”.

80 tuổi, cụ Vi Thị Hoá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người đảng viên 60 năm tuổi Đảng. Những năm trước cụ Hoá còn sức khoẻ cụ luôn luôn là một cán bộ hưu trí gương mẫu, hoà giải viên tích cực của Phường Lào Cai, thành phố Lào Cai (Lào Cai). Tài sản vô giá đối với cụ vẫn giữ vẹn nguyên là 2 tấm ảnh đen trắng, tấm ảnh hồi cụ được làm trong ban Chủ tịch đoàn ngồi cùng Bác năm 1964 và tấm ảnh cụ chụp khi Bác đang năm trong linh cữu thuỷ tinh trong suốt khi Người mới từ trần năm 1969.

Cụ Hoá hồi tưởng lại 50 năm về trước: Ngày ấy tôi là một trong những đại biểu tiêu biểu trong đoàn đại diện cho Thanh Niên Việt Nam tham dự liên hoan thanh niên thế giới lần thứ 4 tổ chức tại thủ đô Bucarest (Romania). Đang háo hức chuẩn bị cho ngày lên đường thì tôi cùng 2 người bạn trong đoàn được gọi đi có việc. Khi đến nơi tại khu căn cứ du kích bí mật Tuyên Quang, tôi vô cùng mừng rỡ vì mới biết mình được gặp Bác Hồ.

Bác căn dặn: “Các cháu sang dự liên hoan phải đoàn kết với thanh niên thế giới và thanh niên Pháp, tranh thủ sự ủng hộ của thanh niên Pháp, thể hiện mong muốn hoà bình của Việt Nam”. Khắc ghi lời Bác, noi theo gương của Người, tôi và các bạn đã khẳng định bản lĩnh và phong thái của người Việt Nam. Tham gia rất nhiều các hoạt động chung với thanh niên các nước, trong số đó có 2 thanh niên Pháp là Hăng-đi-Mac-tanh và Rây-Mông-Điêng, sau này đóng góp sức lực không nhỏ trong công cuộc đấu tranh chính nghĩa, ủng hộ hoà bình tại Việt Nam.

Sau ngày giải phóng thủ đô năm 1955, Bác Hồ đã đến thăm, chúc Tết và động viên Trường dân tộc thiểu số Trung ương nơi mà cụ Hoá đang học. Những lời Bác dạy, dặn dò hàng trăm học sinh như nuốt lấy từng lời. Thế hệ học sinh của trường ngày ấy bây giờ người còn, người mất, song đều trưởng thành, toả về với đồng bào các dân tộc đem theo lời căn dặn với mong muốn của Bác năm xưa trở thành hiện thực trên quê hương đổi mới.

Tại Hội nghị cán bộ nữ miền núi ở thủ đô Hà Nội năm 1964, Bác Hồ không chỉ đến dự mà còn tham gia Đoàn chủ tịch. Cụ Vi Thị Hoá vô cùng vinh dự được ngồi trong Đoàn chủ tịch điều hành Hội nghị cùng với Bác, Bác xưng hô thân mật “Bác” và “các cô” đầm ấm tình cảm đại gia đình.

Bác biểu dương khen ngợi và giao nhiệm vụ cho chị em theo cách riêng của Bác thật rõ ràng, cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Bác nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết các dân tộc, phụ nữ cũng là người chủ của đất nước, phải phấn đấu lao động sản xuất, xây dựng gia đình, xây dựng đời sống mới, cố gắng học tập. Bác giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ các cấp ở miền núi phải ra sức phát triển đảng viên, đoàn viên phụ nữ, đào tạo, giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc. Bác hứa sẽ thưởng cho những chị em có thành tích xuất sắc.

Cô Hoá ngỡ ngàng, rưng rưng cảm động, không ngờ bận rộn là thế mà Bác vẫn quan tâm, theo dõi từng bước tiến bộ của mình và chị em. Bác nói “Hiện nay, chị em miền núi đã tiến bộ nhiều như cô Vi Thị Hoá ở Nghĩa Lộ, là tỉnh uỷ viên…”.

Năm 1969, trong đoạn đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Nghĩa Lộ về Hà Nội viếng Bác có Vi Thị Hoá. Bác nằm đó, bình yên như đang trong giấc ngủ. Vi Thị Hoá cùng 3 người trong đoàn được đứng 15 phút bên linh cữu, cùng với các đồng chí cảnh vệ, canh gác giấc ngủ cho Người. Để mặc nước mắt rơi, cố dồn nén tiếng nấc nghẹn ngào vào sâu thẳm trong tim, bằng tất cả nghị lực, tình cảm sâu lắng và lòng thành kính, Vi Thị Hoá đứng nghiêm trang bên linh cữu Người, lòng thầm gọi mãi: Bác…Bác ơi…

Ba lần được gặp Bác, hai tấm ảnh kỷ niệm, không chỉ là niềm trân trọng, vinh dự của riêng cụ, mà còn là niềm tự hào của các thế hệ con cháu trong gia đình. Đây cũng là tình cảm chân thành, niềm vinh dự tự hào chung của phụ nữ và nhân dân các dân tộc Tây Bắc với vị cha già kính yêu của dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Bùi Thanh Hải
TTXVN

cpv.org.vn

Theo hành trình “Bác Hồ và nước Pháp”

(Dân trí) – Hơn 200 hình ảnh, tài liệu quý mô tả lại con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có gắn liền với nước Pháp đã được chính một phụ nữ gốc Pháp kỳ công tìm hiểu, sưu tầm và khám phá trong hơn 2 thập kỷ nay.

Bô sưu tập có tên “Hồ Chí Minh và tình hữu nghị Việt – Pháp” vừa được bà Dominique de Miscault giới thiệu tại triển lãm cùng tên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh TT-Huế chiều 17/5.

Bộ sưu tập gồm 3 phần: “Nguyễn Ái Quốc ở Paris” giới thiệu những hình ảnh và tài liệu quý về những hoạt động của Người tại Pháp được khai thác từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia Pháp ở các thành phố Aixcen Provence, Fontainbleau và Paris; “Những dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh trên đất Pháp” giới thiệu những địa danh Bác từng hoạt động như thành phố Tour với sự kiện tham gia đại hội lần thứ 18 của đảng Xã hội Pháp; và “Ảnh chụp các địa điểm Nguyễn Ái Quốc từng đến, đã từng sống hoạt động” như cảng cũ Marseille, số 9 ngõ Compoint…

Những tài liệu quý hiếm này một phần được trích ra từ các phòng lưu trữ thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây, Cảnh sát Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào. Trong đó một số trang tài liệu mới tỷ lệ 1:1 có xuất xứ từ Sở Mật thám Trung kỳ về Nguyễn Ái Quốc và các thành viên trong gia đình của Người.
Bà Dominique de Miscault đã có hai thập kỷ tìm hiểu, khám phá con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quãng thời gian đó, bà đã dành 7 năm tiến hành sưu tập riêng về Bác.

“Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Việt Nam là niềm say mê, tâm huyết và là sự nghiệp của tôi. Đi khắp nước Pháp để thu thập những bức ảnh, tài liệu – nơi vị chủ tịch vĩ đại các bạn đã đến. Tôi xin trao tặng toàn bộ triển lãm này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế với ước vọng người dân sẽ hiểu nhiều hơn về Bác”, bà Dominique thổ lộ.

Hiện người phụ nữ này đang làm việc cho hội hữu nghị Việt – Pháp (AAFV) – một trong những tổ chức quốc tế đầu tiên triển khai các hoạt động ủng hộ vụ kiện các nạn nhân Việt Nam nhiễm chất độc da cam. Bà đã có hàng trăm cuộc triển lãm ở Pháp, Nga và Tây Âu. Riêng Việt Nam, Dominique đã thực hiện 12 cuộc triển lãm tại Thủ đô Hà Nội, TPHCM và Huế.

Yêu sách 8 điểm đòi quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam.

Phiếu nhận dạng Nguyễn Ái Quốc của chính quyền thực dân Pháp lập năm 1931 trong vụ bắt giam Người tại Hồng Kông.

Lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh của Chính phủ Pháp tại Dinh Thủ tướng Pháp 2/7/1946

Một số trích đoạn hồ sơ C-3268 của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Hồ Chí Minh) do sở mật thám Trung kỳ lập để theo dõi.

Chân dung và thẻ tù của Bác tại Hồng Kông tháng 6/1931

Nhiều cái tên của Bác đã từng dùng trong thời gian tranh đấu.

Đại Dương

dantri.com.vn

Gặp người 10 năm bảo vệ Bác Hồ

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 10 năm vinh dự được cận kề bên Bác, ông Lê Minh Thưởng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Hăng say kể về những giây phút quý giá bên Bác Hồ, ông Thưởng “sung” đến nỗi cởi phăng cả áo khoác.

Ông Lê Minh Thưởng, xóm 2, Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An, năm nay đã bước qua cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng trong ông vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 10 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt hơn, ông còn sở hữu tấm ảnh cực kỳ quý giá lưu giữ hình ảnh ông được chụp với Bác Hồ và gần đủ các Ủy viên Bộ Chính trị trước khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trở thành người thiên cổ một ngày.

Những ngày cuối năm Canh Dần, chúng tôi tìm về thăm ông Thưởng, mong được nghe ông kể những câu chuyện xưa. Có lẽ nhờ mấy chục năm công tác trong ngành công an, được rèn luyện nhiều, nên dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông còn khỏe lắm; tác phong nhanh nhẹn, trí óc minh mẫn, giọng nói to khỏe, nước da đỏ rắn giữa cái giá rét hơn 10 độ C.

Chỉ vào một bức ảnh đen trắng được lồng trong khung kính treo trang trọng trên tường nhà, ông rành rọt đọc tên từng người trong ảnh: các ông Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng,… Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Vũ Kỳ. Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa; ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Ông Thưởng cho biết sở dĩ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có trong ảnh vì khi đó đang bận đi công tác. Bức ảnh được chụp năm 1967, nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ. Với ông Thưởng, bức ảnh này là báu vật vô giá của cả đời ông.

Cũng có lúc ông trầm ngâm như tiếc nhớ một thời được sát cánh bên Người.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thời kháng chiến chống Pháp, năm 1958, ông Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Ngay sau đó, ông được gia nhập lực lượng Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Chẳng bao lâu sau ông được triệu tập về học ở Trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Những ngày đầu ông chỉ được bảo vệ vòng ngoài nơi Bác Hồ làm việc; chỉ được gặp Bác những khi Bác tập thể dục hay đi bách bộ. Không lâu sau ông Thưởng được giao trực tiếp bảo vệ Bác không chỉ ở Phủ Chủ tịch mà cả những lúc Bác đi công tác. Sau khi Bác mất, ông Thưởng được điều về công tác ở Cục Cảnh sát nhân dân, sau đó đi học chuyên tu. Năm 1980, ông được chuyển về Công an Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).
Trên cương vị này ông đã cùng đồng đội lập nhiều chiến công như bắt gọn nhóm tội phạm do Tọng (Trương Hiền), Sáu Côi… cầm đầu nổi tiếng liều lĩnh một thời ở đất thành Vinh. Sau này ông Lê Minh Thưởng nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác. Phần thưởng nào cũng quý nhưng quý hơn cả là Huy hiệu Bác Hồ ông được Bác tặng năm 1968.

Hơn 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, ông chỉ là người phục vụ, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, việc nào không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”, ông Thưởng nhớ lại.

Được khuyến khích, ông Thưởng đã hỏi và được Bác giải thích nhiều chuyện như: sự tích con cá gỗ, chùa Bảo Minh ở đường Hùng Vương tại sao có tên khác là chùa Các Tút…. Bác vẫn gọi tấm mành treo quanh nhà sàn là tấm sáo như nhân dân Nghệ An vẫn gọi. Điều đó chứng tỏ dù xa quê nhiều chục năm, Bác không quên cả những việc nhỏ nhất.

Một lần Bác đi công tác Hải Phòng, xe đang chạy thì một đàn vịt của dân đang băng qua đường. Lái xe cố tránh nhưng không được, mấy con bị cán chết. Đến nơi Bác đã chỉ thị cho lái xe quay lại đền cho dân, hết bao nhiêu về bảo lại với Bác. Một tình huống khác cũng làm ông Thưởng nhớ mãi không bao giờ quên. Mồng 2 Tết năm 1966, Bác đi chúc tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh, khi về đoàn đi theo đường qua phà Phả Lại.

Mặc dù bến phà Phả Lại đã nhận được chỉ thị phải chuẩn bị 2 phà, 1 để chạy thường xuyên, 1 để phục vụ khách đặc biệt. Tuy nhiên không biết vì sao hôm đó bến phà chỉ có được một chiếc nên từ 6 – 7 giờ sáng phà không chạy, nhiều người cần qua sông bị dồn lại. Khi xe Bác đến và lên phà, mặc dù lực lượng bảo vệ đã cố ngăn nhưng nhiều người đi đường vẫn chen lên bằng được. Trên phà nhiều người đã trút sự bực dọc lên chiếc xe ôtô, có người đã văng tục.

Bức ảnh quý giá được ông Thưởng coi như báu vật. Trong ảnh, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, hàng đầu. Ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Thấy vậy Bác đã chỉ thị cho phà chạy chậm lại rồi xuống xe và nói: “Bác xin lỗi bà con” và sau đó chúc Tết mọi người. Khi thấy Bác xuất hiện, cả những người có mặt trên phà và những người ở hai bên bờ đã nhiệt liệt hoan hô. Nhiều người đã không quản nguy hiểm bơi ra phà để được tận mắt nhìn thấy Bác. Phà cập bến, trước khi lên xe Bác không quên nhắc lực lượng công an và nhân viên bến phà bằng mọi cách không được để một ai bị chết đuối.

Mười năm được gần Bác, ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác: Bác không bao giờ uống rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng cốc nhưng không uống. Đi thăm và làm việc ở đâu Bác không bao giờ cho phép tổ chức theo kiểu “tiền hô hậu ủng”…

Biết bao câu chuyện, bao kỷ niệm khó quên, bao bài học làm người trong quãng thời gian 10 năm bên Bác. Đó là món quà mừng tuổi quý nhất ông Thưởng vẫn dành cho con cháu mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Nguyễn Duy – Sỹ Lập
dantri.com.vn

Từ Cảng Sài Gòn Bác đi tìm hình của nước

(Dân trí) – Bến cảng Sài Gòn (nay là Bến Nhà Rồng) một ngày giữa năm 1911, cách đây vừa đúng 100 năm, đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong ký ức mỗi người dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh…

Nhà Rồng là một trong những công trình kiến trúc được thực dân Pháp xây dựng khá sớm ở Sài Gòn nhằm phục vụ mục đích khai thác thuộc địa, có tên là cảng Sài Gòn. Tòa nhà này có kiểu dáng mô phỏng kiển trúc Tây Âu thế XIX nhưng trên nóc lại đắp những con rồng theo kiểu phương Đông. Vì thế người Sài Gòn sau này gọi tòa nhà này là Nhà Rồng và bến cảng nơi có tòa nhà là Bến Nhà Rồng.

Cảng Sài Gòn xưa, nơi người thanh niên tên Ba bắt đầu cuộc hành trình lịch sử trong vai một người đầu bếp (ảnh tư liệu)

Nhà Rồng và Bến Nhà Rồng ngày nay là một di tích lịch sử quý giá gắn với tình cảm thiêng liêng của mỗi người Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc.

Trong bài báo “Đến thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc” đăng trên tạp chí Ngọn lửa đỏ Liên Xô số ra ngày 23/12/1923, nhà báo Ôman-đen-sơ-tan đã ghi lại lời kể của Bác Hồ: “Vào tuổi 13, lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Đây chính là những suy nghĩ ban đầu dẫn đến chuyến ra đi lịch sử vào giữa năm 1911 (5/6/1911) của anh Ba phụ bếp, sau này là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vào đầu năm đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời trường Quốc học Huế vào Nam dạy học ở Trường tư thục Dục Thanh (Phan Thiết) do một nhóm văn thân yêu nước sáng lập. Đây là nơi người thanh niên giàu nghị lực lưu lại và dạy học một thời gian ngắn trước khi vào Sài Gòn. Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành càng thấy rõ, dù ở Nam kỳ thuộc địa hay Trung kỳ bảo hộ, Bắc kỳ thuộc địa – nửa bảo hộ, ở đâu nhân dân cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Người lên đường sang Âu, Tây để xem nhân dân các nước ấy làm thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Ba, xin vào làm phụ bếp cho một tàu buôn có tên là Đô Đốc La-tút-sơ Tơ-rê-vi-lơ (Amiral Latouche Trêville) thuộc hãng vận tải Hợp Nhất của Pháp. Con tàu ngẫu nhiên được gắn tên mình vào sự nghiệp của người anh hùng giải phóng dân tộc – danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh. Bến cảng Sài Gòn khi ấy trở thành nơi xuất phát của cuộc hành trình vĩ đại tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, mà nói theo cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên là cuộc hành trình “Đi tìm hình của nước”.

… và Bến Nhà Rồng nay (Ảnh: Lao Động)

Rồi từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, từ sự tìm thấy “con đường giải phóng” đến cuộc đấu tranh thắng lợi để giải phóng dân tộc và giai cấp, bẻ gãy gông xiềng thực dân – phong kiến, giành độc lập, tự do vẫn còn là chặng đường dài đầy gian nan, thử thách, nhưng dưới sự dìu dắt lãnh đạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đoàn kết một lòng, không quản ngại hy sinh, liên tiếp giành thắng lợi vẻ vang, mở ra những trang sử huy hoàng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam ta.

Cảng Sài Gòn một ngày giữa năm 1911, cách đây vừa đúng 100 năm, đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong ký ức mỗi người dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh…

Phạm Thành Nghi (sưu tầm)
dantri.com.vn

Hồ Chí Minh – Rạng ngời cốt cách vĩ nhân trong ánh sáng đời thường

Ảnh tư liệu

“Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

Muôn vàn tình thương yêu

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tư tưởng thân dân, trọng dân, coi nguyện vọng của nhân dân, hạnh phúc của nhân dân là những điều tối thượng.

Chính vì vậy, Người đã nguyện dành cả cuộc đời mình để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”([i]).

Công cuộc giành độc lập, thống nhất của Tổ quốc không thể tách rời với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh tâm niệm: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”([ii]). Ngay từ ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người đã nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành.

Để làm được điều đó, Người đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giặc dốt. Thương nhân dân đời sống khó khăn, Người nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Đặc biệt, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”([iii]).

Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi quần chúng, thật thà, ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, giấu sai lầm; khiêm tốn, gần gũi quần chúng; không được kiêu ngạo, phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành thắng lợi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù uy tín rất cao, có khả năng thu hút, tập hợp quần chúng rất lớn nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người tự cho mình là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đó là tư cách rất đúng đắn của vị lãnh tụ Đảng cầm quyền trong giai đoạn nhân dân giữ vai trò làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội mới.

Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.

Trái tim, khối óc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nghĩ về việc nước, về phong trào cách mạng ở năm châu bốn bể mà còn hằng lo cả đến bếp ăn của bộ đội, nhà tắm cho nông dân, nơi an dưỡng của người già, trại trẻ cho các cháu nhỏ… Biết bao câu chuyện thường ngày đã nói lên tình thương yêu con người, sự quan tâm rất cặn kẽ, tỉ mỉ của Người đối với đồng bào, đồng chí và chiến sĩ.

Làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Giữa cánh đồng khô nóng Ấn Độ, những giọt nước mắt cảm thông của Người đã rơi trên vai ông lão nông dân áo quần rách nát. Đưa anh hùng Trần Thị Lý đi thăm vườn Phủ Chủ tịch, Bác không đưa chị đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân chị dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng vết thương trên đầu. Vào các dịp lễ Tết, điều đầu tiên Bác nghĩ tới là đi thăm các trường con em miền Nam. Bác bảo: “Các cháu xa nhà, xa quê. Mong người thân lắm. Để Bác đến thăm cho các cháu đỡ buồn“.

Ngay cả với những người lầm đường, lạc lối hay phạm sai lầm, lòng thương yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng thành lòng khoan dung. Người nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ”([iv]).

Người kêu gọi nhân dân “khoan hồng đại độ” đối với những ai tham gia ngụy quân, ngụy quyền và căn dặn cán bộ nên “đối đãi nhân đạo với các tù binh” để “cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước“([v]). Trong chiến dịch Biên giới 1950, khi đi thăm trại tù binh, Bác đóng giả một cụ già nông dân và Người cũng lại cởi tấm áo ngoài của mình cho một đại úy thầy thuốc…

Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta

Cuộc sống đời thường đạm bạc nơi chiến khu Việt Bắc, theo Bác suốt những năm dài kháng chiến là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của cuộc kháng chiến. Bác yêu cầu chỗ ở cho Bác phải là nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển khi có động.

Cách chọn địa điểm dựng lán trại của Bác được anh em ghi thành bài văn vần như sau: “Trên có núi, dưới có sông – Có đất ta trồng – Có bãi ta vui – Tiện đường sang Bộ Tổng – Thuận lối tới Trung ương – Nhà thoáng gió, kín mái – Gần dân không gần đường”. Bác giao hẹn: lán cho Bác có chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy được các vật dùng để ở vách, lán không to quá, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc và nơi nghỉ. Làm lán không cầu kỳ mà giản dị, bằng vật liệu sẵn có xung quanh như tre, luồng hoặc nứa. Đồ dùng bày biện phía trong lán lại càng đơn giản hơn: một bàn, một ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ nhỏ, một ít sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hai hòn sỏi bóp luyện tay… để cạnh.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, nhưng Bác không về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì Bác bảo, Bác chứ không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Bác đã từng ở trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Khác hẳn với công trình kiến trúc đồ sộ, bề thế như Phủ Chủ tịch và các ngôi nhà xây dựng bằng những nguyên liệu bền vững như sắt, thép, xi măng,… trong khu vực, ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ bình thường, được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Việt Bắc: nhà hai tầng, xung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng.

Nét kiến trúc thanh nhã, trang trí không cầu kỳ này khiến công trình trở thành một kiến trúc độc đáo, mang sắc thái riêng nhưng rất hài hoà với thiên nhiên và các công trình kiến trúc xung quanh. Trong nhà sàn bố trí đơn giản, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác: Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày.

Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước rộng hơn 3.000m2 trước nhà sàn, Bác nuôi cá vì theo Người nuôi cá ở đây vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc khi Người cho cá ăn. Nhà sàn của Bác hoà hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng của Bác cũng thật giản dị. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe ôtô, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần. Rồi bộ bà ba nâu, bộ quần áo kaki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Bác thích món cá kho, bát canh và quả cà xứ Nghệ. Bác thích ăn những con cá Bác tự nuôi, những ngọn rau Bác tự trồng và còn chia những thứ đó cho các đồng chí sống gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng, Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối hay đi bên bờ ruộng như một cụ già nông thôn thực thụ. Bác còn bế em nhỏ hoặc ngồi bón cơm cho trẻ như bất kỳ một người bình thường nào ta gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng, lúng túng.

Là Chủ tịch nước nhưng trong nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, không nhờ vả hay ỷ lại cho người khác làm thay mình, việc nào không làm được Bác mới nhờ đến những anh em phục vụ. Tất cả những chi tiết đó, hình ảnh đó tự nói lên nhiều điều: một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, luôn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của một lãnh tụ mẫu mực.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe Pôbêđa do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không“.

Bác rất nghiêm khắc trong việc tự phê bình, Bác căn dặn cán bộ phải “tự phê bình cái sai của mình trong mỗi việc làm, mỗi trận đánh giống như rửa mặt hàng ngày cho sạch vết nhơ”([vi]).

Đồng chí giúp việc của Bác kể rằng, có lần Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác một cành san hô to, đẹp lắm, màu sắc trắng hồng như ngọc. Bác thích lắm dùng làm quà biếu người lãnh đạo một Đảng anh em. Mọi việc thu xếp xong. Cành san hô để ở nhà khách Phủ Chủ tịch, chờ Bác ra xem lần chót rồi bỏ vào hòm, ô tô đợi sẵn, chở ra sân bay, gửi đi. Lúc để ở nhà khách, anh em xúm lại xem. Thấy nó đẹp quá ai cũng trầm trồ. Ai cũng muốn nhìn và ai cũng muốn sờ một chút. Xô đẩy thế nào đó, một anh lỡ tay đánh rơi, vỡ làm đôi. Mọi người sợ quá, sợ đến mức không dám đứng đấy mà nhận lỗi của mình nữa.

Bác cũng bị bất ngờ, tưởng xong đâu đấy hết, thì đã vỡ rồi. Bị bất ngờ như thế nhưng một nét nhíu lông mày Bác cũng không có, một lời nói nặng càng không có nữa. Bác làm vui trước cho anh em. Bác biết là anh em sợ lắm, làm thế nào trấn tĩnh được tinh thần anh em: “Thôi, phận san hô nó mỏng manh, con san hô về đất rồi. Anh em đi đâu, gọi các chú ấy ra đây. Bây giờ Bác, cháu ta tính thế nào nhỉ, lại đây cùng nhau bàn xem gỡ cái chuyện này thế nào“. Cuối cùng phải lấy một bức ảnh to của Bác, Bác đề tặng và ký vào gửi biếu. Người lỡ tay đánh vỡ con san hô thấy Bác độ lượng như vậy, cảm động, giàn giụa nước mắt.

Nhưng mà câu chuyện chưa hết. Đến buổi tối hôm đó, làm việc với đồng chí phụ trách văn phòng xong, Bác bảo: “Hôm nay còn thừa thì giờ, bây giờ chú kể cho Bác nghe cành san hô ấy bị vỡ thế nào?“. Đồng chí này kể lại từ đầu. Bác phát hiện chi tiết này: người đánh vỡ là đồng chí lái xe. Bác bảo: “Thế này nguyên nhân không phải là lỡ tay, giá như là chú, phụ trách văn phòng, hay một chú nào khác có nhiệm vụ cầm cành san hô đặt vào hòm mà đánh vỡ thì đúng là lỡ tay. Đây không phải. Chú lái xe thì có nhiệm vụ gì sờ vào cành san hô. San hô đẹp thì để anh em nhìn ngắm, được rồi, muốn sờ tay vào nó cũng được, nhưng cứ từng người, việc gì phải xúm vào, rồi người xô đằng này, người đẩy đằng kia. Và không có tổ chức, không có nền nếp, xúm vào như thế cho nên mới đi đến chỗ có người lỡ tay ẩy nó rơi vỡ. Nguyên nhân ở trong tổ chức và nếp làm việc, không phải ở chỗ lỡ tay. Nói lỡ tay là nói qua loa cho xong. Nếu chú thấy đúng như thế, lần nào họp, anh em bàn lại chuyện này rút kinh nghiệm, sửa đổi đi. Bảo là lỡ tay, đến lần sau, có cái tặng phẩm đẹp lại xúm vào xem, lại xô, lại đẩy, lại rơi vỡ lần nữa, lại lỡ tay lần nữa“([vii]). Bác là như thế. Một sai sót nhỏ cũng không bỏ qua, rút kinh nghiệm để sửa chữa, nhưng vẫn không nói nặng một lời nào.

Sinh hoạt của Bác bình thường như­ cán bộ và nhân dân, chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng chân thành của Bác, tấm lòng của một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân.

Năm 1946, hồi Bác sang Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp, ở khách sạn, Bác không ngủ trên giường mà ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt lấy quần áo lót… Các đồng chí cùng đi cảm thấy kỳ lạ vì giữa một thủ đô hoa lệ, thành phố ánh sáng như Pari mà Bác cứ khăng khăng giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo gương Bác để tự kiềm mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống ở đây. Đồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước mình còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì thói quen sống giản dị, khiêm tốn là thói quen tốt, cần rèn luyện để giữ nó.

Một nhà báo Australia viết rằng: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn. Cả cuộc đời Bác là tấm gương sáng về sự tận tụy, đức hy sinh vì nước, vì dân, không một chút riêng tư.

Hơn 40 năm đã trôi qua, mỗi một câu chuyện về Bác đều trở thành một bài học vô giá về nhân cách. Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức của Bác vẫn đang bay cao, tỏa sáng, để tạo dựng nên lớp lớp những chiến sĩ, những cán bộ, những con người của thế hệ Hồ Chí Minh mới trọn đời vì nước, vì dân, vì hòa bình, độc lập và sự tiến bộ trên thế giới. Đúng như lời Thủ tướng Ấn Độ I.Gandi đã từng ca ngợi: “Tên tuổi của Người sẽ trường tồn như nhân dân của Người. Đức độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”([viii]).

Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

[i] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.240
[ii]Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.56
[iii] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.380
[iv] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.246
[v] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.28
[vi] Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb Chính trị quốc gia, t.2, tr.205
[vii] Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Sđd, t.2, tr.595
[viii]Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, 1970, t.1, tr.160

dvt.vn

Tầm vóc lịch sử, ý nghĩa thời đại sâu sắc của Tuyên ngôn độc lập

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại

dvt.vn

Ra đi để Tổ quốc trở về…

Ảnh tư liệu

100 năm trước đây, năm 1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Từ sự kiện lịch sử phi thường ấy đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử sẽ mãi ngẫm ngợi trong việc lý giải vì sao một người thanh niên chỉ mới 21 tuổi đời – tuổi đẹp nhất, tuổi bắt đầu lớn lên về mặt nhận thức, lại có thể có cách nhìn vượt tầm, mẫn tiệp đến mức phải ngỡ ngàng? Chân lý ban đầu thật ra rất giản dị: Muốn đánh bại kẻ thù thì phải hiểu rõ kẻ thù.

Nguyễn Tất Thành đã ra đi để tìm hình của nước (Chế Lan Viên), để đổi thay cả một cách tư duy, cách hiểu, cách tiếp cận đúng những giá trị tốt đẹp nhất giá trị độc lập dân tộc, giá trị con người. Nơi “đến” đầu tiên và khá dài là thành phố Boston- quê hương của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên của loài người trong thời đại tư bản chủ nghĩa (17/12/1773). Thành phố đó cũng là cái nôi để khai sinh ra một nhà nước hoàn toàn mới: Nhà nước Cộng hòa chưa có mô hình tiền lệ, nhà nước tam quyền phân lập, nhà nước với bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ. Với bản Tuyên ngôn đó, những giá trị thiêng liêng của con người: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc được khẳng định.

Cách đi và đến đó không hề ngẫu nhiên vì chúng ta sẽ được xác quyết một cách rõ ràng: So với tất cả những nhân vật nổi tiếng của thời cận hiện đại, chưa có một ai sống nhiều ở nước ngoài như Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc. Nếu Hoa Kỳ (nơi Nguyễn Tất Thành đã sống từ 1911 – 1913) cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên; thì nước Anh (Nguyễn Tất Thành sống từ khoảng 1913-1917) là nơi khai sinh ra nền công nghiệp hiện đại – mà, dù muốn hay không, đất nước nào cần phát triển, hiện đại hóa cũng phải đi theo mô hình đó. Nước Pháp là cái nôi văn minh, ánh sáng của châu Âu, cũng là “nước mẹ bảo hộ” cho Đông Dương mà Nguyễn Tất Thành cần tìm hiểu nhiều nhất và cũng là nơi Người sống lâu nhất trong thời gian ở Tây Âu, từ khoảng 1917 đến cuối năm 1923. Tiếp theo là nước Nga, quê hương của Cách mạng Tháng Mười và Trung Quốc – một trong những nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử loài người.

Thống kê như thế để thấy rằng không một lãnh tụ nào của phong trào cách mạng vô sản thế giới đi nhiều, hiểu rộng như Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc- Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Lẽ dĩ nhiên, vì đã sống ở các nền văn minh khác nhau nên sự so sánh để lựa chọn điều tốt nhất là vấn đề nguyên tắc của tư duy, của rất nhiều trăn trở và thao thức. Có thể mô hình xã hội XHCN còn có nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu thì thực tế đã chỉ ra rằng, con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã chọn là con đường ngắn nhất để dân tộc Việt Nam đến với độc lập, tự do; là con đường tốt nhất để Tổ quốc Việt Nam thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu; là con đường phù hợp nhất với một dân tộc còn chậm phát triển.

Một trong những thành quả to lớn nhất mà Nguyễn Ái Quốc đã “tìm thấy” từ trong truyền thống dân tộc và từ trong 30 năm hoạt động, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài là vấn đề đoàn kết. Đã có khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” nhưng vào tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng, ngoài giai cấp vô sản thì phải liên kết, tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, phân hóa mọi đối tượng có thể phân hóa được để tạo nên sức mạnh tổng hợp bách chiến bách thắng cho dân tộc Việt Nam.

Một thế kỷ đã đi qua kể từ mùa Hạ năm 1911 và, 70 năm cũng đã trôi qua kể từ mùa Xuân năm 1941 – ghi dấu sự ra đi và trở về của vị lãnh tụ vĩ đại. 30 năm cho một lần đi khắp năm châu, bốn biển, đủ hết tất cả những nền văn minh đáng kể nhất trong lịch sử từ hiện đại đến cổ đại (từ Mỹ đến Trung Quốc). Phải chăng Hồ Chí Minh đã làm đúng như những gì Người đã trải qua: Từ thực tế cách mạng và hiệu quả nhất là cách mạng Mỹ (trước Cách mạng Tháng Mười) của chỗ đứng hiện đại để lần giở lại lịch sử, dùng lịch sử để soi rọi nó cho ánh sáng của tầm nhìn mới, con đường mới rực rỡ, chan hòa? Với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, lịch sử không bao giờ lặp lại bằng cách áp dụng cứng nhắc các nguyên tắc cũ mòn, thiếu hiệu quả. Hiểu về Người là phải hiểu rõ mục đích muôn một của tìm kiếm, hành động và thành công là Tổ quốc Việt Nam trở thành một quốc gia hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới .

Hà Văn Thịnh

dvt.vn

Chuyện của một ngày lịch sử

Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đã diễn ra như thế nào? Nhà văn Sơn Tùng kể chi tiết trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”.

Ngày 2 tháng 6 năm 1911.

Anh Ba mặc quần áo trắng, toát lên màu thanh khiết tóc rẽ đường ngôi bên phải, chải mượt, chân đi dép xăng-đan. Anh đi khoan thai xuống tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Tàu Đô đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin.

Được sự giới thiệu của ông chủ sự cảng Nhà Rồng, anh Ba gặp viên thuyền trưởng. Thuyền trưởng Lu-I Ê- đu-a Mai-sen trạc tuổi gần bốn mươi, tiếp anh Ba dưới buồng khách của con tàu. Ông ta quan sát diện mạo anh Ba với một thái độ trọng nể. Ngay từ phút đầu, ông Mai-sen đã để ý tới đôi mắt to, dài và sáng của anh Ba. Ông chìa hai bàn tay ra trước mặt, nói :

– Ô! Nhìn anh, tôi ưa lắm, tốt lắm. Tiếc là trên con tàu của tôi không còn có loại công việc hợp với anh

– Mai-sen lật lật quyển sổ nhân sự để trước mặt. Ông lại nhìn anh Ba, hỏi: – Anh biết đọc chữ Pháp chứ?

– Thưa ông Mai-sen, tôi đọc được ạ.

– Ồ…! Tốt, tốt lắm. – Mai-sen chỉ vào trang sổ nhân sự và nói bằng tiếng Pháp: – Đây. Anh xem, vừa mới sáng nay, tôi đã nhận thêm bốn người An-nam. Danh sách bốn người đây. – Mai-sen đọc tên từng người: – Đặng Quang Giao, Lê Quang Chi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tri.

Anh Ba chau mày, những ngón tay gõ gõ trên mặt bàn. Hai mắt anh Ba như phủ một lớp sương chiều. ông Mai-sen đọc được những băn khoăn trong đôi mắt anh Ba :

– Tôi biết những người như anh muốn làm cánh chim bay trên những miền đất lạ. Tiếc là, trên con tàu của tôi chỉ còn cần một chân phụ bếp.

Hai mắt anh Ba bừng sáng :

– Thưa ông Mai-sen, tôi đề nghị ông nhận tôi vào chân phụ bếp ấy.

– Ồ… ! – Mai-sen nhìn anh Ba, hơi ngờ vực. – Một thư sinh như anh chịu không nổi đâu. Công việc làm bếp ở con tàu này rất nặng nhọc. Hằng ngày phải lo những bữa ăn cho cả trăm người với nhiều khẩu phần khác nhau; riêng hành khách có vé hạng nhất đã bốn mươi người.

Anh Ba chìa hai bàn tay ra trước ông Mai-sen :

– Ông xem những vết chai sạn trên bàn tay của tôi.

Mai-sen cầm lấy bàn tay anh Ba ngắm, mỉm cười :

– Người phương Tây chúng tôi rất tin khoa xem tướng bàn tay. Tôi không sành bói toán, nhưng bàn tay anh ngón thon dài thế này thì viết chữ đẹp, có năng khiếu mỹ thuật và âm nhạc. Anh được cả hai cái lớn: con mắt và bàn tay. Tôi biết một câu rất hay mà người An-nam hay dùng : “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.

– Ông đã xem tướng tôi, ông có tin là tôi làm được phụ bếp không?

– Tôi muốn nhận anh vào một công việc hợp với khả năng của anh, ít ra cũng là một chân thư ký trên con tàu của tôi. Để anh giữ chân phụ bếp, phí quá – ông ta hạ giọng: – Thôi được, từ ngày mai – Ông ta nhìn lên tấm lịch – ngày mai là mồng 3 tháng 6, anh xuống tàu nhận việc. Tôi sẽ báo cho ông quản bếp để tiếp nhận anh đúng 8 giờ sáng mai. Tháng đầu tiên này tôi tạm cấp lương cho anh là 45 phơ-răng. Được chứ?

Anh Ba cười :

– Tôi sẽ làm việc xứng đáng với sự tin dùng của ông.

Ông Mai-sen còn đưa cho anh Ba một tấm thiếp in hình con tàu rẽ sóng đại dương, có chữ ký của ông, và một cuốn sách mỏng, cỡ bỏ túi, ngoài bìa cũng có hình con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Ông dặn cẩn thận:

– Anh giữ cái các để tiện việc lúc lên bến, lúc xuống tàu. Cuốn sách nhỏ này giúp anh hiểu về hãng Sác-giơ Rê-uy-ni và con tàu của chúng tôi hoạt động như thế nào…

Rời con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, trên đường về xóm, anh Ba vừa đi vừa xem tập sách nhỏ của ông Mai-sen đưa. Anh đọc nhẩm : Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin thuộc hãng tàu Sác-giơ Rê-uy-ni. Con tàu này thuộc loại lớn nhất của hãng và cũng là tàu có cỡ của đầu thế kỷ 20. Chiều dài của con tàu: 120 mét 10, rộng 15 mét 20, trọng tải là 5.572 tấn, chạy bằng máy hơi nước với 2.800 sức ngựa. Tàu có thể chạy một mạch những 12.000 hải lý, không cần phải ghé bến. Trong lòng con tàu được thiết kế hiện đại, tiện nghi. Đáy tàu là một bể chứa nước ngọt, tới 900 tấn. Có hầm chứa than : 150 tấn. Tầng trên của con tàu là các buồng làm việc, nghỉ ngơi, phòng giải trí vui chơi của các sĩ quan và thủy thủ. Tiếp đến là dãy phòng đủ cho bốn chục khách đi vé hạng nhất. Ở giữa khoang tàu, phần dưới cùng là ba nồi hơi lớn, các cỗ máy lớn và bếp nấu, nơi nghỉ của các người làm bếp, bồi bàn… Xem đến trang giới thiệu về khu vực nhà bếp, anh Ba mỉm cười : mình sẽ được làm bạn với Táo quân.

Út Huệ ngồi bên bậc cửa vá áo, đầu nghiêng nghiêng. Một giọt nắng lọt qua mái nhà thủng, đậu trên tóc và chảy sáng xuống gò má. Hai lọn tóc mai dài xuống quá đuôi mắt. Hai con mắt to, dài, đen láy ấp ủ một nỗi buồn sâu kín, cặp môi tươi như một cánh hoa nở dưới cái mũi dọc dừa. Cả gương mặt Út Huệ như một hòn ngọc sáng.

Út Huệ tay lảy kim trên miếng vá của tấm áo anh Ba, lòng thẫn thờ, thầm nghĩ : Mấy hôm nay anh Ba hơi khang khác với mọi ngày. Anh trầm lặng, không còn vui tính khơi lên cho anh em trong nhà những trận cười phải ôm lấy bụng. Hằng ngày ảnh ăn rất ít, không còn giữ mức mỗi bữa ba bát nữa. Ảnh ăn không được, mình làm thêm món để ảnh ăn ngon miệng, ảnh lại gắp chia đều lên bát cho từng người. Đêm nào ảnh cũng thì thầm với ba, với anh Tư cho mãi tới khuya. Hình như ảnh không nói những chuyện gì đó với các anh Sáu Đen, Chín Mập. Ảnh cũng giữ kín cả với mình. Mà cũng phải thôi, mình là phận gái…

Đang mải nghĩ, nghe tiếng chân anh Ba ở ngoài cảng đi về, Út Huệ giật mình đặt vội tấm áo xuống đầu gối, ngước nhìn anh Ba, mỉm cười, đon đả :

– Anh đã về. Em ngỡ anh về muộn nên chưa soạn cơm nước chi cả.

– Nấu muộn một tí đợi anh em về đông đủ cùng ăn nóng, càng tốt, cô Út ạ.

Anh Ba vẻ mặt buồn buồn, ngồi xuống sập gỗ.

Bàn chân anh miết qua miết lại trên nền nhà, giọng nói không tự nhiên :

– Có một việc riêng, hôm nay tôi mới có dịp nói với cô Út.

Hai má Út Huệ ửng đỏ, mắt chớp chớp, môi mấp máy, hai lúm đồng tiền ẩn hiện trên má. Cô ngước nhìn thoáng anh Ba, cúi xuống liền, nói hơi run :

– Có điều chi anh Ba thấy cần dạy bảo em, em…

– Ấy chết! Chuyện riêng của tôi chứ đâu dám “dạy bảo” gì, hở cô Út?

Út Huệ đã bình tĩnh hơn :

– Anh đã tin em, anh cứ nói ra. Dù có quá sức em, em cũng ráng giúp anh.

Anh Ba nhìn ra xa, giọng trầm trầm :

– Tôi không ở đây nữa… Mai sớm, tôi… đi… xa…

Út Huệ rùng mình. Cái kim trên tay tuột xuống nền nhà. Cô bối rối, tay run run nhặt cây kim lên, môi mim mím. Hai người như bị hẫng, ngồi im lặng. Út Huệ nói, giọng nghèn nghẹn :

– Sao anh không ở đây nữa với ba em, với anh Tư…?… Mà anh đi mãi đâu, có vẻ hệ trọng vậy ạ?

– Tôi đi… xa lắm… đi khỏi nước mình, cô Út ạ. – Anh chùng giọng: – Ai mà chẳng muốn có một cuộc sống êm đềm bên cạnh những người thân yêu. Nhưng, tình cảnh nước mình, tôi không thể ngồi yên một chỗ, xây dựng cho riêng mình một tổ ấm được.

– Anh đi chừng bao lâu thì anh trở về đây?

– Cô Út! Ngày trở về, – anh Ba nói – cô Út hiểu thấu cho : ngày về của tôi xa mù mịt, tôi cũng chẳng định liệu trước được.

Út Huệ nắm chặt tấm áo vá trong tay mình, nén tiếng khóc từ trong cổ họng. Cô định nói thêm, nhưng tiếng ông già Đờn đã oang oang ngoài đầu ngõ hẻm. Chưa vào nhà, ông già đã hỏi con gái :

– Đã có đồ nhậu tối nay chưa, Út?

Út Huệ giấu mặt buồn, cúi xuống tấm áo vá, thưa :

– Dạ… Con chưa ra chợ, ba ạ.

Thấy anh Ba đã về đang ngồi trên sập giữa nhà, ông già vui vẻ :

– Ồ thầy cháu về rồi à?

– Cháu cũng vừa về được một lúc chú ạ. Mấy ảnh sao chưa về chú?

– Bọn nó biểu, mai sớm cháu đi, bọn nó ghé tiệm mua đồ nhậu, thức suốt đêm nay với cháu mà.

Ông già dặn nhỏ con gái, giọng bồi hồi :

– Út à. Anh Ba mầy hổng còn ở lại đây nữa. Ảnh đi vượt vời sang tận các nước Âu Mỹ kia. Mơi anh mầy đã đi sớm. Con ra chợ mua cái ăn, mua những thứ ngon, mắc mấy cũng được, ăn với nhau bữa cơm cuối cùng mà…

Út Huệ mím mím môi, cắn vội sợi chỉ, trao cái áo đã vá lành cho anh Ba, nói lảng :

– Những đường kim về sau vì vội nên không được đều anh vui lòng, nghe.

– Trời đất, cô Út cẩn thận quá. Cảm ơn cô Út.

Út Huệ sập rèm mi ướt, giọng nói đượm chút dỗi :

– Vá miếng áo có là chi đâu mà anh Ba cảm ơn em.

Anh Ba cười. Ông già Đờn dặn thêm con gái :

– Con nhớ mua một miếng thịt heo nạc, rặt nạc, nghe hông. Rồi mua dừa lấy nước kho với thịt. Kho thiệt khô. Nhớ mua nước mắm hạng nhất kho thịt mới để được lâu. Con cũng đừng mua gạo thường, mua gạo nàng thơm nắm mới dẻo.

Ông ngồi bên cạnh anh Ba, ngậm cái tẩu thuốc, mắt ông mơ màng bóng khói :

– Bước chân xuống tàu có lẽ là phải ăn cơm Tây rồi. Cháu chịu khổ mang cơm nắm theo. Chú nghĩ chắc còn lâu lắm cháu mới được ăn cơm trên đất quê mình. Hạt gạo, củ khoai, con cá, lá rau, quả cà, trái ớt, chút nước mắm, tí dấm… những món ăn của quê mình bình thường vậy mà thiếu nó ta không chịu nổi!

– Cảm ơn chú. Chú và cô Út đã săn sóc cháu nhiều mà cháu chưa đền đáp được gì!

– Đừng, cháu đừng nghĩ vậy. Cháu sắp rời xứ sở, hãy nghĩ về chặng đường phía trước…

*
*    *

Bóng tối trùm xuống xóm thợ. Những tiếng rao đêm lang thang trong ngõ hẻm. Tiếng chửi rủa của bà già, tiếng khóc gào than vãn, tiếng quát tháo của người say rượu và bao nhiêu thứ tiếng ồn ào hỗn độn dấy lên trong đêm như biển động.

Không khí trong nhà ông già Đờn cũng đang như trước giờ cơn bão đến.

Hai chiếc chiếu trải rộng giữa nhà. Một mâm thức ăn đầy ngộn đặt giữa chiếu. Ông già Đờn ngồi sát anh Ba. Anh Tư Lê, Chín Mập, Sáu Đen ngồi vòng tròn quanh mâm. Người nào cũng đăm chiêu, ít nói. Họ uống rượu từng tợp đủ thấm môi, không như mọi ngày, tu một người hết cả chén. Chẳng mấy ai cầm đũa nhắm. Người nào cũng luôn luôn trăn trở thế ngồi. Không khí trầm lặng kéo dài. Anh Ba định kể một câu chuyện vui vui thì Tư Lê ca bài Nam ai, buồn xé ruột. Tiếp đến Chín Mập hát bài Lý chiều chiều, Sáu Đen hát tích Nguyệt Nga cống Hồ. Hát xong, Sáu Đen nài nỉ anh Ba hát giặm Nghệ Tĩnh. Anh Ba vẻ lúng túng. Ông già Đờn đỡ lời :

– Cuộc vui đêm nay tiễn thằng Ba đi, tụi bây và tao phải làm hết mọi chuyện, đừng để thằng Ba nó phải dính vô một việc chi, nghe hông. – ông già so dây đàn : – Bữa nay tiễn Ba nó đi Tây, tao cho tui bây nghe trọn cả bài “ca lòng” của tao.

Nước mắt ông già rơm rớm, giọng ông buồn buồn :

Một… mối… tình… câm
Tình câm… một.. mối
Chàng… đã… ra… đi…
Chẳng nói lời… chi
Ôi cảnh… biệt… ly…
Thiếp ngóng…. theo… chàng…
Sông nước… mênh… mang…
Kéo neo… tàu… chạy…
Nước… mắt… tiễn…đưa…
Chàng đi… chàng đi…
Muôn trùng… sóng vỗ…
Thiếp giữ… tình câm…
Tình câm… theo… chàng…

Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đều ngồi xo ro gục trên cánh tay và mỗi người đuổi theo một kỷ niệm của riêng mình.

Anh Ba chống tay đỡ cằm, máng tóc dày đổ xuống trán, mắt anh hướng vào một điểm sáng tụ dưới chiếu, nhưng trong đầu anh hiện lên lớp lớp những gương mặt thân yêu mà anh đã ghi nhớ từ tuổi ấu thơ. Cả hình ảnh các ông già mù hát dạo ở quê hương, ở Huế, ở Phan Thiết cũng hiện lên trong đầu anh. Và bao nhiêu bài ca anh đã từng nghe cũng đang văng vẳng giữa tâm hồn anh : Nước Nam ta sao lại có Tây?…

Út Huệ một mình một đèn, nước mắt giọt ngắn giọt dài tại buồng trong. Hai bàn tay Huệ vắt, nắm, vỗ vỗ nắm cơm gạo nàng thơm dẻo quẹo. Đặt nắm cơm vào tấm bẹ cau trắng mịn như lụa, Huệ ngồi thừ nhìn không chớp mắt. Tiếng đàn ca phòng ngoài vọng vào, cô chẳng để vào tai mình. Cô mở hòm lấy quyển vở, lật lật từng trang, nói thầm : Chữ anh Ba dạy cho mình. Anh Ba đã cầm tay tập cho mình viết. Sao anh Ba không ở lại đây mãi mãi? Lúc nào anh Ba cũng nói “cứu nước, thương đồng bào mình sống cực”!

Tiếng còi tàu chở khách sang Thủ Thiêm kéo một hồi dài. Út Huệ giật mình và chợt nhớ đã sáng đêm. Út Huệ cầm tấm khăn rằn của anh Ba mua dạo nọ, lau nước mắt. Bỗng Huệ nhớ hồi nhỏ Huệ được nghe mẹ ru :

Khăn thương nhớ ai mà khăn rơi xuống đất,
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai mà mắt không khô…

Út Huệ trùm khăn đi ra cửa. Trời còn nhá nhem. Sương mù giăng trên nóc nhà xóm thợ. Út Huệ lại quay vào buồng, nhìn ngọn đèn, nói : Mình thương thầm ảnh. Giờ ảnh đi xa. Đi sang Tây. Mình có nên nói với ảnh cái điều dớ dẩn của mình nghĩ không? Ôi! Ai lại ngược đời vậy bao giờ? Mình là con gái kia mà. Nhưng, ảnh ra đi liệu ảnh có đoán biết được cái điều mình nghĩ về ảnh không? Đèn ơi! Nếu anh Ba không biết điều ấy thì đèn chứng cho tấm lòng Út Huệ này nhé. Ôi ! Một người mà ai cũng yêu mến…
Sáng ngày Năm, tháng Sáu, năm Một ngàn chín trăm mười một. Sương sớm phủ nóc Nhà Rồng. Dòng sông Sài Gòn cong vòng như lưng người già đã trải qua nhiều khúc đường đời khổ ải.

Trời ngả màu chì.
Cơn mưa đen tháng sáu dấy lên.

Từ trong ngõ hẻm, anh Ba bước từng bước ung dung, mắt nhìn thẳng phía trước. Đi bên anh là ông già Đờn. Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập đi sát phía sau. Út Huệ đi sau cùng.

Con đường hẻm dài hun hút. Họ im lặng đi. Sắp đến lối rẽ vào bến cảng, họ đi chậm bước, mắt hướng ra phía những con tàu đang xả khói đen đục. Và trong mắt họ có cái ảo giác cả đất trời tròng trành, thành phố Sài Gòn chao đưa.

Anh Ba khựng bước. Anh ôm chầm lấy người ông già Đờn :

– Chú Út ơi! Các anh ơi! Út Huệ ạ – Anh nhìn vào mắt những người thợ thuyền trao gửi niềm tin.

– Nước mình, dân mình sẽ không cam chịu cảnh ngựa trâu nầy mãi được. Phải xóa bỏ kiếp nô lệ và nhất định đời thợ chúng ta sẽ đổi khác… Chúng ta tin ở tương lai, tin vào tiền đồ dân tộc…

Ông già Đờn ôm chặt lấy hai vai anh Ba, lắc mạnh :

– Ba! Chú tin… rất tin ở lời cháu vừa nói và càng tin sự quyết chí ra đi vì nước vì dân của cháu. Chúc cháu đi được trơn bọt lọt lạch, chân cứng đá mềm!

Ông ôm chặt anh Ba vào ngực mình, bộ tóc muối tiêu của ông xõa rộng xuống vai anh. Rời ông già Đờn, anh Ba bước đến với ba người thợ trẻ. Tư Lê cầm chặt tay anh Ba, giọng nghẹn ngào :

– Tôi không cùng đi với anh được, nhưng cái bụng của tôi mãi mãi ở bên anh. Ở lại bến cảng này, tôi sẽ làm việc và sống theo như anh đã bày biểu, căn dặn.

Sáu Đen, Chín Mập, hai người cầm hai tay anh Ba nhìn nhau. Và lần đầu tiên anh Ba thấy ở mắt hai người thợ “có đá trong đầu” này rơm rớm lệ. Hai người cùng nói một lúc :

– Anh Ba ơi! Anh đi, để lại trong mắt chúng tôi cái chữ…

Anh Ba chợt nhìn sang út Huệ thì ông già Đờn giục con gái :

– Út! Con đi với anh Ba một quãng đường nữa…

Gió cửa sông thổi giục từng cơn. Anh Bạ chắp tay giơ cao xá xá ông già Đờn và các bạn đang quay bước trên đường về.

Anh Ba im lặng đi bên Út Huệ. Mắt Út Huệ luôn luôn nhìn về hướng con tàu rồi liếc nhìn anh Ba. Chưa bao giờ Út Huệ thấy anh Ba đẹp trai như lúc này. Cô lâng lâng như đang ở trong mơ và thấy anh Ba là chàng hoàng tử trong truyện cổ tích…

Anh Ba bất chợt nhìn Út Huệ, nhìn con tàu. Anh rùng mình. Một luồng giá lạnh từ đỉnh đâu xuống gan bàn chân như phân chia con người anh làm hai. Anh dừng lại :

– Sắp hết giờ lên tàu rồi. Út… đi với tôi, đến đây là… Út về kẻo…

Út Huệ vẫn ôm trên tay mình cái gói nho nhỏ, mắt chớp chớp nhìn vào mắt anh Ba. Tiếng Út Huệ nhẹ như gió thoảng :

– Em muốn nói với anh… chỉ sợ… anh cười em!

– Ấy! Đến giờ này mà Út Huệ còn chưa thiệt tin tôi?

Út Huệ bối rối. Cái gói cầm trên tay cứ trao qua trao lại, nhưng Huệ vẫn hết nhìn con tàu đang xả khói lại nhìn anh Ba.

Giọng út Huệ bồi hồi :

– Anh nói đi anh!

Anh Ba lúng túng :

– Điều nói được, tôi đã nói với Huệ từ hôm qua rồi.

– Lúc này khác với ngày hôm qua. Em muốn được nghe anh nói với em một tiếng giữa phút giây nầy, anh Ba ạ!

– Hôm qua, hôm nay và mãi mãi tôi nhớ tấm lòng của Huệ cũng như bao nhiêu tấm lòng vàng khác đã cứu giúp tôi trong những phen hoạn nạn, lúc sẩy nhà ra thất nghiệp.

– Anh Ba luôn luôn nhớ đến những người có lòng tốt với mình, nhưng anh có biết người khác nhớ anh đến cháy ruột cháy gan không? – Út Huệ nghẹn ngào nói.

Anh Ba sững sờ… Út Huệ biết mình đã buột miệng lỡ lời vội nói khỏa lấp :

– Em biết anh là con chim bằng, chiếc lồng son không thể nào nhốt được.

Anh Ba nhấn từng tiếng chắc và ấm :

– Phải có tự do! Huệ ạ, Tổ quốc ta, nhân dân ta phải có độc lập tự do chứ không thể nô lệ mãi được!
– Ước mơ ấy, khát vọng ấy liệu có thành sự thật ở quê mình không anh?

– Vì mất nước mà phải lìa nhà. Nếu không tìm ra phương kế giành lại độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân thì tôi không về mà cũng chẳng ai mong đợi làm gì!

Út Huệ run run, cái gói trên tay như muốn rơi xuống, nước mắt giàn giụa :

– Anh! Cơm nắm. Em nấu cho anh bữa cơm cuối cùng nầy. Cầm lấy anh! Đi đi… anh!
Anh Ba đỡ gói cơm trên tay Huệ. Một tiếng gọi lẫn trong tiếng khóc bật ra từ trái tim người con gái Sài Gòn :

– Anh Ba! Em…

Út Huệ ôm mặt chạy trở về. Anh Ba cầm nắm cơm trong tay. Âm thanh thành phố Sài Gòn đổ dồn xuống cửa sông như trùm lấy anh. Anh nghe tiếng còi tàu nhọn hoắt khoan vào không gian nhức nhối. Anh bước sải dài, vội vã xuống tàu. Gương mặt người con gái Sài Gòn chập chờn trước mắt anh như một búp sen quê hương. Và cả khuôn mặt Việt Nam choán lấy trái tim anh!

Út Huệ lại quay lại chạy theo xuống bến tàu.

Con tàu chở anh Ba mờ mờ phía chân trời. Lê Thị Huệ chắp tay trên ngực nhìn theo, khấn trước đất trời :

Sông ơi!
Đừng mọc đá ngầm…
Biển ơi!
Đừng dựng sóng dữ…
Anh đi thuận gió xuôi buồm…
Hỡi những phương trời xa lạ…
Hãy đón lấy Anh…
Một chàng trai nước Việt…
Anh là của Nước của Dân…
Tất cả đợi Anh về…

dvt.vn

Bác Hồ ở “thủ đô gió ngàn”.

(DVT.vn) – “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ”. Cái “nhà sàn đơn sơ” nơi Bác Hồ tiếp nhà thơ Tố Hữu năm 1947 ấy là ở đâu? Tân Trào hay Định Hóa?

HÀM CHÂU

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ…

Trước kia, đọc mấy câu thơ hết sức quen thuộc ấy của Tố Hữu, tôi thường tự hỏi: Vậy cái “thủ đô gió ngàn”, nơi “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ” ấy nằm ở đâu trong chiến khu Việt Bắc bao la? Phải chăng là ở Tân Trào, Sơn Dương?

Phải đến gần đây, sau bốn lần “về nguồn” thăm Định Hóa, tôi mới biết rõ chốn “suối dài xanh mướt nương ngô” kia chính là ở Định Hóa.

Sở dĩ Định Hoá được chọn làm “thủ đô xanh” – hay còn gọi là “thủ đô gió ngàn” – trong những ngày đầu kháng chiến, bởi vì trước hết đây là vùng núi non hiểm trở, quân Pháp khó sử dụng xe cơ giới đánh chiếm. Nhưng ta thì lại có thể sử dụng mạng đường mòn xuyên rừng và đường ngựa thồ chằng chịt để liên lạc với vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng nước ta, cũng như với các cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Hoa Nam lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền kiêm soát của Tưởng Giới Thạch. Định Hoá không quá xa miền xuôi như vùng căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), tiện cho việc kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến trong cả nước.

Ngay từ năm 1906, nhà yêu nước Phan Bội Châu từ Quảng Châu trở về Định Hoá, đã có ý định xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp, nhưng không thành. Bởi vì, lúc bấy giờ, mới chỉ có địa lợi, chứ thiên thời chưa xuất hiện, và nhân hoà cũng chưa rõ nét. Phải đến thập niên 1940, thì mới hội đủ cả ba yếu tố đó.

Chúng ta còn nhớ, đến cuối tháng 8/1945, cách mạng mới thành công trong cả nước. Nhưng, riêng Định Hoá, thì sớm hơn nhiều. Rạng sáng 26/3/1945, Cứu quốc quân và tự vệ địa phương đã nổ súng đánh chiếm đồn lính khố xanh Chợ Chu. Rồi vào ngày 18/4/1945, 130 đại biểu đồng bào bảy dân tộc trong châu đã họp tại Bản Lác, bầu ra Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời .châu Định Hoá. Cán bộ và nhân dân Định Hoá luôn kiên trung với cách mạng.

Tập thể dục ở chiến khu.

Trong tám năm chống Pháp, Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh vùng Phú Đình (Định Hoá) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên ngọn núi Hồng. Bác thường “ung dung yên ngựa trên đường suối reo” qua lại trên con đường ngựa thồ vượt đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét. Nơi đây có cánh rừng phách, một loại cây thân gỗ khá lớn, lá rực vàng lúc thu sang, đã đi vào thơ Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Theo lời Bác dặn, những cái lán Bác ở phải đạt mấy tiêu chí sau đây:

Trên có núi,
Dưới có sông,
Có đất ta trồng,
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối đến Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái,
Gần dân, không gần đường.

Rất tiện cho công việc mà cũng rất đẹp, xét từ góc nhìn “phong thuỷ” cổ xưa hay sinh thái học hiện đại.

Trong bài Quê hương Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi từng miêu tả ngôi nhà sàn của Bác Hồ ở Định Hóa bằng những câu thơ thật giản dị, sáng trong:

Một nhà sàn đơn sơ vách nứa
Bốn bên suối chảy cá bơi vui
Đêm đêm cháy hồng lên bếp lửa
Ánh đèn khuya còn sáng trên đồi

Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
Cả đời người là của nước non…

Trong cuốn Những năm tháng bên Bác (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1985), đồng chí Hoàng Hữu Kháng kể:

“Chúng tôi làm cho Bác một cái “lầu”, tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí núi rừng ẩm thấp. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái đều chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ.”

Bác Hồ và các đồng chí giúp việc.

Cái “lầu” mà đồng chí Kháng kể chính là ngôi nhà sàn ở Khuôn Tát, Định Hoá.

Qua cuốn Chiến đấu trong vòng vây (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ta biết thêm: Bữa cơm của Chủ tịch nước lúc bấy giờ “phần lớn là sắn do cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng. Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối”. Những hôm có khách, nếu săn thú trong rừng, câu cá ngoài suối chẳng được gì, thì Chủ tịch tiếp khách bằng “món đặc biệt trong ống tre, món thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều muối và ớt mà Chủ tịch thường dùng trên đường đi công tác.”

Năm 1947, những dãy núi chung quanh thung lũng Chợ Chu còn nhiều khỉ vượn. Cán bộ miền xuôi, nhất là thanh niên Hà Nội quen “sống vui phố hè” giữa “Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”, những ngày đầu mới lên Định Hoá, nghe “vượn hót, chim kêu suốt cả ngày”, cảm thấy man mác một nỗi buồn nhớ thành phố, nhớ đồng bằng. Vẫn là tiếng “vượn hót, chim kêu” ấy thôi, nhưng Bác lại cảm thấy “hay”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Bác Hồ chia vui với bà con thôn bản trong mùa gặt ở chiến khu.

Đúng là cảnh vật được cảm nhận qua tâm trạng con người. Như Nguyễn Du miêu tả, qua tâm trạng của Thuý Kiều trong những năm lưu lạc ê chề, thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Là nhà cách mạng từng trải, được tôi luyện qua lao tù ngục thất, quen nằm gai nếm mật, Bác Hồ luôn lạc quan. Hơn nữa, vào năm 1947, lực lượng cứu nước đã đông đảo, hùng mạnh hơn nhiều so với năm 1941, khi Bác mới về nước, ở trong hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Trong bài thơ Chúc năm mới, Đinh Hợi -1947, Bác viết những lời hào sảng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông…

Bác vui vì thấy rõ:

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng…
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông…

Chính vì tin chắc vào sức mạnh quật cường của cả dân tộc nhất tề đứng dậy “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Bác mới có thể sáng tác nên bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc với âm hưởng lạc quan như vậy. Một số vị trí thức, nhân sĩ trong Chính phủ kháng chiến, lúc bấy giờ tuổi còn khá trẻ, như luật sư Phan Anh, xin được họa bài thơ này của Bác. Một không khí tin tưởng bao trùm khắp các cơ quan trung ương. Cuộc sống núi rừng với choé rượu cần, bát nước chè tươi, bắp ngô nếp nướng, và đôi khi có miếng thịt rừng quay, hóa ra cũng không đến nỗi buồn, mà còn có nét nào đó… “thật là hay”!

Giản dị như một nhà nông, Bác uống bát nước chè xanh với người dân.

Hai câu cuối nói lên tình cảm thuỷ chung của Bác: Sau ngày kháng chiến thành công, Bác sẽ trở lại thăm chiến khu xưa, không bao giờ quên những con người chất phác đã từng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với mình.

Bài thơ của một nhà cách mạng hiện đại, thế mà lại toát lên cốt cách thanh cao của một nhà hiền triết phương Đông cổ đại “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

dvt.vn

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu nhi dịp Tết Trung thu và 1/6

(DVT.vn) – Trung thu đến gần, đọc lại những bức thư này khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Bác. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện đang lưu giữ khá nhiều bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu niên nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu và ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Những bức thư này do Văn phòng Trung ương Đảng chuyển giao cho Bảo tàng từ trước năm 1959.

Đáng chú ý là cuốn sách có nhan đề Tập thư Bác Hồ, tập hợp một số bức thư Bác gửi cho thiếu nhi từ năm 1945 đến năm 1954, của Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cứu quốc Liên khu V, miền Nam Trung Bộ.

Năm 1954, cuốn sách đã được in ra thành nhiều bản để phát hành và tuyên truyền vào dịp Tết Trung thu với mong muốn “Các em sẽ chăm chỉ đọc ôn lại các bức thư của Bác, ghi sâu và làm theo lời Bác dạy để xứng đáng là cháu yêu của Bác”.

Sách có kích thước 14,5 x 10 cm, gồm 18 trang, in 2000 quyển và được kiểm duyệt theo giấy phép in số 493 của Ban Ấn loát miền Nam Trung Bộ.

Bác Hồ vui tết Trung thu với các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế, ngày 27/9/1958.

Năm 1945, nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho thiếu niên nhi đồng cả nước. Với tình cảm thương yêu trìu mến nhất, Người hòa mình với các em: “Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Đố các em biết vỡ sao? Là vì… Trung thu năm nay đã được tự do và các em đã thành những tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Người gửi tới các cháu “trăm cái hôn thân ái”.

Tiếp đến là Thư Trung thu 1948. Đó là năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ nên thư của Người cũng chất chứa bùi ngùi thương xót.

Người thấu hiểu những khó khăn mà thiếu nhi phải chịu đựng: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người thấy “áy náy”, thấy “căm giận bọn thực dân phản động Pháp”. Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Bác Hồ cùng các cháu thiếu nhi quốc tế trong đêm liên hoan mừng ngày Quốc tế thiếu nhi tổ chức tại Phủ Chủ tịch, ngày 31/5/1960.

Năm 1949 là năm kháng chiến thứ ba và cũng là Trung thu thứ ba các cháu thiếu nhi “phải ăn Tết thiếu thốn hơn trước”. Đó cũng là ý đầu tiên trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ và chia sẻ. Dù vậy, Người vẫn chúc các cháu “vui hơn”.

Bằng lời lẽ giản dị phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, Người phân tích để thiếu nhi thấy những thành tích cụ thể, thiết thực mà các cháu đã làm được trong khó khăn của cuộc kháng chiến, qua đó biểu dương và khen ngợi. Từ sâu thẳm lòng mình, Người bộc bạch: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1950, Người cũng có thư gửi các cháu. Vẫn là sự băn khoăn “Đáng lẽ các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như con trẻ Liên Xô”, Người phân tích cho thiếu nhi hiểu dân tộc ta kháng chiến thắng lợi thì các cháu “sẽ đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”. Dù còn nhiều khó khăn, vui buồn, Người vẫn không quên “gửi các cháu nhiều cái hôn”.

Trung thu 1951, Người mở đầu thư bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viêt mấy dòng
Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Sau khi thông báo đã nhận được thư của nhi đồng vùng tạm bị chiếm và thư của nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua, Người giải thích về ý nghĩa của ngày 1/6 và căn dặn thêm các cháu những việc nên làm, phải làm trong sinh hoạt đội, trong học tập và cả khi vui chơi để trở thành người có ích cho Tổ quốc.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế vui tết Trung thu, tại vườn hoa Phủ Chủ tịch.

Trung thu 1952 là năm đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ niềm thương nhớ thiếu nhi ở mọi vùng đất nước. Lời lẽ trong thư Người ẩn chứa nỗi buồn lo cho các cháu. Người biểu dương tinh thần tiến bộ của thiếu nhi, “đã biết yêu nước, ghét giặc, đều chăm học, siêng làm… biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tăng gia sản xuất và tiêt kiệm”. Đặc biệt, Người tỏ lòng thương xót khi thấy tinh thần chiến đấu hi sinh dũng cảm của các cháu ở vùng tạm chiếm “đã giữ bí mật để giúp đỡ các cán bộ và bộ đội”. Cuối thư, Người lại có bài thơ:

Ai yêu các nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh.
Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh…

Năm 1952, nhân ngày 1/6, Người gửi thư cho thiếu nhi, nhấn mạnh tinh thần Quốc tế để các cháu hiểu rõ và cùng nhau giữ gìn hòa bình, dân chủ.

Trung thu 1953, Người lại có bài thơ gửi cho các cháu với mong muốn “Thu sau so với thu này vui hơn”.

1/6/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng tới toàn thể thiếu nhi trong nước và quốc tế. Người mong các cháu “ngoan ngoãn, mạnh khỏe, vui vẻ, tiến bộ”.

Có thể nói, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu niên nhi đồng chiếm một mảng lớn trong tâm hồn của Người. Thực tế, chúng ta thấy, ở đâu và lúc nào bên cạnh Người cũng có các cháu. Không chỉ thiếu nhi trong nước mà thiếu nhi quốc tế cũng luôn quây quần quanh Bác .

Năm 1954, nước ta được hưởng nền hòa bình sau chín năm kháng chiến chống Pháp. Điều trước tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ đến là các cháu thiếu niên nhi đồng. Người viết thư (khi là văn xuôi, khi bằng những vần thơ) để khen ngợi, biểu dương tinh thần của các cháu trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng thời, Người cũng bày tỏ lòng thương yêu, nhớ nhung thiếu nhi ở cả hai miền Nam, Bắc. Người viết cho các cháu bằng cả tấm lòng thương yêu vô hạn: “Trăng thu trong đẹp, sáng rọi khắp nơi, từ Nam đến Bắc. Cũng như lòng Bác yêu quý tất cả các cháu miền Bắc và miền Nam“.

Tình cảm bị kìm nén bấy lâu, đến năm 1954 Người mới được thỏa lòng vì thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Trong thư, Người tỏ ý xin lỗi “Vì bận việc quá” nên “không rảnh làm thơ gửi các cháu“. Cuối thư, Người không quên chúc các cháu “Vui mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành“, để:

Đến ngày Nam Bắc vui chung
Các cháu xúm xít thì lòng ta vui.

Nhưng, niềm vui của Người chưa trọn vẹn vì Người còn một điều trăn trở. Một nửa đất nước chưa được độc lập. Người vẫn còn một nỗi niềm khi nhớ đến các cháu thiếu nhi miền Nam. Các cháu vẫn còn phải sống trong hoàn cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Từ xúm xít được Người thể hiện trong hai câu thơ kết của bức thư làm chúng ta cũng xúc động theo Người.

Ước vọng đó của Người ngày nay chúng ta đã làm được: Bắc, Nam đã liền một dải. Đất nước hòa bình thịnh vượng đang sánh vai tiến bước cùng các nước trong khu vực và toàn cầu. Thiếu niên nhi đồng Việt Nam cũng đang được hưởng một nền giáo dục tiên tiến, được cả xã hội quan tâm và yêu thương.

Vui Tết Trung thu, đọc lại những bức thư này của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Người. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi. Người được cả thế giới ngưỡng mộ và gọi bằng cách thân mật là Bác Hồ! Bác Hồ kính yêu!

Lê Minh Độ

dvt.vn

Trong chiếc gương kỉ vật

(DVT.vn) – Chiếc gương có tấm hình Bác Hồ đã theo suốt cuộc đời một người lính thông tin, thôi thúc anh sống, chiến đấu và cứu mạng anh trong tình huống bất ngờ.

Hồi kí của Đặng Trường Lưu

Nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975

Trong số chín anh em cùng xung phong vào bộ đội của xã tôi dạo mùa hè năm 1967, Hoạt là người thân với tôi nhất, ít tuổi hơn nhưng anh đã có vợ và con anh chào đời cũng vừa mấy tháng. Anh là người ít nói, ưa hoạt động, xốc vác và chân tình. Khi vào chiến trường, Hoạt và tôi ở cùng tiểu đội trong tiểu đoàn bộ binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận B5. Một thời gian sau, cả tiểu đoàn chuyển sang phối thuộc với Trung đoàn 132 thông tin chiến lược của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ khẩn trương xây dựng đường dây trần xuyên Trường Sơn, phục vụ cho Trung ương chỉ huy cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân ở Huế.

Nhiệm vụ mới như người lính thông tin, nhưng công việc chủ yếu của chúng tôi là vận chuyển trên vai hàng nghìn tấn vật tư, vật liệu như: tách sứ, dây sắt, dây đồng, bu-lông, ốc vít…, từ bãi đổ hàng (của các binh trạm có đường ô-tô) đến từng cột mốc trên tuyến để lắp đặt, dựng lên một con đường âm thanh lịch sử, qua bao đỉnh cao trên nghìn mét, qua sông Sê-bang-hiêng, hay Sê-pôn ù ù thác réo, qua những vực sâu nhìn xuống mà sởn gai người.

Bộ đội vượt Trường Sơn (Ảnh tư liệu: Internet).

Chiến dịch kết thúc, chúng tôi vừa củng cố đường dây thông tin, vừa tổng kết kinh nghiệm. Hoạt được bình bầu là chiến sĩ thi đua, là Dũng sĩ Quyết thắng, hai lần được mặt trận tặng bằng khen. Anh là gương sáng của đơn vị.

Cuối năm 1968, chúng tôi có lệnh hành quân ra bắc an dưỡng. Hoạt được đưa lên làm cần vụ cho thủ trưởng trung đoàn. Sự xốc vác và kiệm lời của anh được thủ trưởng vô cùng tin cậy. Sau ba tháng nghỉ ngơi và tập huấn, chúng tôi lại hành quân vào mặt trận. Thủ trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ chiến sĩ xuất sắc được ở lại dự Đại hội “Thi đua lập công” toàn binh chủng, tổ chức ở Hà Nội. Hoạt cũng nằm trong số đại biểu được bầu, đại diện cho lực lượng bộ đội thông tin đang đối mặt quân thù trên khắp chiến trường miền nam. Sau đại hội, Hoạt được tranh thủ ghé thăm nhà một tuần. Đứa con gái, lúc này đã biết bám chặt vào quần mẹ, vừa ngọng nghịu hát bài “Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê” vừa chằm chằm nhìn vào người lính lạ lẫm mà mẹ bảo phải gọi bằng bố.

Khi tiểu đội đang triển khai công việc trên tuyến thì Hoạt xuất hiện. Anh em xôn xao và thực sự cảm động khi anh kể chuyện cứ nằng nặc xin thủ trưởng cho phép trở về tiểu đội cũ. Với một người như anh, cuộc sống trong vòng tay đồng đội hẳn ý nghĩa hơn nhiều. Mà thật vậy, nếu không có sự trở về để cùng “nếm mật nằm gai” với tôi và anh em tiểu đội, thì làm sao tôi với anh lại có được những kỉ niệm tuyệt vời trong câu chuyện mà tụi sắp kể ở đây, khi bộ đội thông tin toàn quân đang long trọng chuẩn bị kỉ niệm 40 năm Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Tấm ảnh Bác Hồ và kỉ niệm không thể quên trong đời người lính

Giữa những ngày Bác mất (tháng 9/1969), Hoạt và tôi được cử đi tăng cường cho trung đội khảo sát địa hình, chuẩn bị cho một nhánh đường dây mới. Chúng tôi chạm trán với lực lượng thám báo do đối phương thả xuống, đang len lỏi dò dẫm trong rừng hòng phát hiện nơi đóng quân và tuyến dây trần thông tin lợi hại của ta. Ác một nỗi là trang phục của chúng y hệt bộ đội ta: cũng mũ tai bèo, áo quần Tô Châu xanh lá, cũng súng AK báng gập thay vì bộ quần áo rằn ri biệt kích.

Trong khi cả trung đội khảo sát vừa bắn vừa rút nhanh khỏi khu rừng có khả năng chỉ trong ít phút thành tọa độ bom lửa, Hoạt và tôi bị thương. Chúng tôi tỉnh dậy thấy mình bị trói chặt, nằm trong một hang đá, giữa bao nhiêu đôi mắt ngầu đỏ, mở ra trừng trừng của những người dân đen đủi, hốc hác, đàn ông và đàn bà, người già và con trẻ. Ấy là những người Lào Thơng sống sót, chui lủi trong hang đá ven tây Trường Sơn, dọc hai bờ Sê-băng-phai.

Tôi và Hoạt nhìn nhau, sau khi đã nhận ra chợt ngơ ngác và khó hiểu vì những cái nhìn căm giận ấy. Khi mọi người xô đẩy rồi cùng nhau quỳ xuống, nhìn vượt qua đầu những người Lào Thơng khốn khổ, tôi và Hoạt cùng kinh ngạc nhận ra một bàn thờ được xếp lên bằng những tảng đá, và khói trầm đầm đìa ngút ngát từ một miếng vỏ cây đang cháy. Mấy nải chuối xanh xếp thành vòng tròn quanh cây chuối còn nguyên những tàu lá xanh mướt. Trên bẹ chuối lớn, người ta xăm hình một ngôi sao 5 cánh cùng những vạch tỏa ra tựa hồ ánh sáng. Họ ngồi im lặng và khóc, lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào. Không hiểu tiếng Lào, càng không biết tí gì thứ ngôn ngữ líu ríu như chim của những người Thơng kia, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Hồ, Hồ, Hồ…

Thế là rõ. Tin Bác Hồ của chúng ta vừa mất đã đến được với những người dân Lào dưới chân Trường Sơn. Ai đã báo tin cho họ hay sự mách bảo của trời đất? Cái bàn thờ được dựng lên trong hang đá kia với biểu tượng ngôi sao khắc vào bẹ chuối thay bức chân dung mà họ không sao có được cùng với khói hương từ vỏ cây trầm đã nói lên tất cả. Chúng tôi lẳng lặng khóc. Một lát, những người Lào Thơng đứng lên, người cầm nỏ, kẻ cầm dao, nhiều người cầm đá, chậm rãi và dữ tợn, tiến về phía chúng tôi. Thì ra, họ nghĩ chúng tôi là biệt kích. Trong giờ phút đau thương, họ muốn hành xử kẻ thù.

Giữa khoảnh khắc vô cùng nguy hiểm ấy, Hoạt vùng vẫy, la hét: “Tôi là lính Bác Hồ! Tôi là lính Bác Hồ! Lấy cái gương trong túi cho tôi!”. Đầu anh ngúc ngoắc và cằm đập liên hồi xuống phía ngực. Một thanh niên với mảnh khố rách bươm tiến đến, thò tay vào túi áo của Hoạt, lấy ra chiếc gương tròn, to gần bằng miệng bát đưa cho già làng. Ông lão không thể hiểu câu nói của Hoạt: “Mở ra, mở vành nhựa ra, ở bên trong…”. Một cô gái xin nhận chiếc gương, đem đến bàn thờ đá, quỳ xuống và lẩm nhẩm điều gì đó. Rồi như được thần linh mách bảo, cô kéo lật vành tròn nhựa.

Ảnh tư liệu minh họa (Nguồn: Internet).

Từ phía trong, kẹp giữa tấm nhựa và miếng kính, đột ngột rơi ra tấm ảnh hai mẹ con, người thiếu phụ trẻ ôm đứa bé gái mũm mĩm: Hẳn đó là vợ con Hoạt. Một mảnh giấy báo gấp tư được mở ra. Gần như cùng một lúc, tất cả ồ lên và quỳ xuống. Đó là tấm ảnh Bác Hồ cầm ống nói được chụp ở Việt Bắc cùng với bức thư khen bộ đội thông tin in ngay dưới bức ảnh. Lập tức, chúng tôi được cởi trói. Hoạt nhanh nhẹn găm mảnh báo cũ hình Bác Hồ ấy vào bẹ chuối trên bàn thờ, dưới hình ngôi sao tỏa sáng. Trong không gian thiêng liêng hang đá Trường Sơn và mùi trầm thơm ngát, tôi và Hoạt cứ để cho dòng nước mắt đầm đìa tuôn chảy.

Sau những ngày được chữa chạy, vết thương đã tương đối lành, chúng tôi tìm về đơn vị đường dây của mình. Suốt chặng vượt rừng ấy, Hoạt kể tôi nghe về mảnh báo mà anh cắt từ tờ báo quân đội, phát hành trong ngày Đại hội thi đua của binh chủng ở Hà Nội, rồi kể về tấm ảnh vợ con, kể về chiếc gương xin được từ một người lính khi gặp nhau trên bến phà Xuân Sơn, kẻ ra Bắc đi học, người về lại chiến trường. Tấm ảnh vợ con cùng mẩu báo có hình Bác Hồ và bức thư của Người, anh kín đáo giấu vào chiếc gương, giữa hai lần kính và nhựa.

Tại sao phải giấu diếm thế? Kỉ luật chiến trường quy định: Những người lính đi B không được phép để lộ nhân thân của mình. Với anh, đây là chứng tích của một kỉ niệm đẹp, là niềm vinh dự lớn. Lời Bác khen Bộ đội Thông tin cũng là lời nhắc nhủ bản thân anh phải luôn gắng để vượt lên qua bao gian khổ và sống chết.

Những bí mật về bức ảnh “đặc biệt” ấy

Sau chiến thắng 1975, tôi về quê thăm nhà. Tôi không quên tìm đến gia đình những người đồng đội. Trong chín anh em đi cùng tôi đợt ấy, năm người hi sinh và đã có giấy báo tử gửi về. Riêng Hoạt, vợ và con anh vẫn trông chờ mỏi mắt. Tôi không giúp được gì cho chị, bởi tôi cũng không một manh nha tăm tích của anh. Sau cái lần bị thương và thoát hiểm trước cơn giận dữ do hiểu lầm của những người Thơng bên Lào hạ, nhờ tấm ảnh Bác Hồ và bức thư in trên mảnh báo mà Hoạt bí mật giấu trong chiếc gương, chúng tôi tìm về đơn vị. Hoạt được điều sang một đơn vị thông tin khác của chiến trường khu 5. Hai đứa bặt tin nhau từ đó.

Mãi cuối năm 1976, người ta mới đưa giấy báo tử cùng những di vật của Hoạt về gia đình. Anh đã hi sinh anh dũng từ mùa xuân năm 1974, trong một trận càn dữ dội của đối phương tràn lên trên núi, khi anh đang cố gắng ngụy trang đoạn đường dây rải hớ hênh qua khoảng trống của rừng.

Năm ngoái, sau ngày giỗ của Hoạt, vợ anh mời tôi nán lại. Trong câu chuyện nhỏ to, gián đoạn bởi những giọt nước mắt cạn kiệt, chị hỏi tôi nhiều về người chồng yêu quý, trong những câu hỏi, gợn lên một điều: Di vật mà anh để lại trong ba lô, có một chiếc gương. Đó không phải là chiếc gương của chị. Chị không tặng gương cho chồng trước lúc đi xa như nhiều người đàn bà khác, bởi chị nghĩ: “Chiến tranh khốc liệt thế, đạn bom sống chết là thế, tấm gương làm sao tránh được rạn vỡ!” Vậy thì ai đã tặng tấm gương ấy để đến lúc anh hi sinh, tấm gương vẫn nằm gọn trong đáy ba lô mà về đây với chị? Phải chăng…

Thì ra vậy! Người vợ suốt mấy chục năm lấy tuổi thanh xuân nuôi con thờ chồng ấy vẫn có một điều canh cánh không thể tự trả lời. Tôi bỗng cảm thấy mình có lỗi với mẹ con chị, có lỗi với vong linh của Hoạt. Sau đề nghị khẩn khoản của tôi, chị vào buồng, mở tủ lấy ra chiếc gương được bọc kỹ trong vuông vải ka-ki màu đỏ. Tôi đỡ lấy chiếc gương và thầm mong một lần nữa, phép màu lại hiện ra.

Bộ đội thông tin liên lạc (Ảnh tư liệu: Internet).

Quả thế! Tấm ảnh mẹ con chị và mảnh báo in hình Bác Hồ cầm ống nói, cùng bức thư của Người vẫn còn nguyên đó, dù đã ố vàng và dính bết vào nhau. Phải thận trọng bóc dần từng tí một. Mấy chục năm rồi, những dòng chữ nhỏ li ti vẫn đủ nét để tôi còn đọc được trong nghẹn ngào: “Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ thông tin liên lạc”… “đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa…”, “…Cho xứng đáng là những chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”… Tấm gương mà anh giữ trọn trong ngực áo mình chính là cuộc đời trọn vẹn của anh, là tấm gương vĩnh cửu, làm sao có thể lu mờ hay rạn vỡ!

Không thể nói thêm điều gì, tôi và chị lặng ngắm di ảnh của anh. Rồi chị đứng lên, cầm bức ảnh, cùng tôi mở khung kính, ộp vào đó mảnh báo có hình Bác và bức thư của Người. Chị run run treo lại tấm ảnh của người chồng yêu quý, người chiến sĩ thông tin đã sống, chiến đấu và hi sinh, xứng đáng với lời khen của vị lãnh tụ thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, trước khi anh về cõi vĩnh hằng.

Ngoài sân, chiều đã bắt đầu chạng vạng. Cả khung trời phía tây chợt bừng lên những nan quạt khổng lồ màu đỏ tía. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ về thời cuộc, về tình người, về những thế hệ đã đi qua cuộc chiến suốt gần thế kỉ, tôi xin chị được thắp thêm mấy nén nhang cho anh, rồi thầm gọi: “Hoạt ơi!”.

Tháng 12 năm 2008

dvt.vn