Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Bài học sâu sắc của Hội nghị Paris vẫn còn sáng mãi”

(VOV) -Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh điều này trong bài viết nhân Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Paris về Việt Nam.

VOV online xin giới thiệu toàn văn bài viết của Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh:

Bộ trưởng Phạm Bình Minh

“Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.40 năm đã trôi  qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ”.

Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc. Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp”.

Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh. Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới.

Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn.

Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”.

Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.  Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

vov.vn

Hội nghị Paris-đỉnh cao nghệ thuật ngoại giao Việt Nam

(VOV) -Hội nghị Paris là thắng lợi của nền ngoại giao cách mạng non trẻ với nền ngoại giao của một siêu cường.

Trong không khí kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), nhiều hoạt động ý nghĩa đã diễn ra trên khắp cả nước.

Đây là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, ôn lại những bài học vô giá từ cuộc đàm phán dài nhất, cam go nhất trong lịch sử Ngoại giao Việt Nam.

Nhân dịp này, phóng viên Đài TNVN phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh về ý nghĩa, cũng như những bài học từ Hội nghị Paris năm 1973.

PV: Xin Bộ trưởng cho biết ý nghĩa của Hội nghị Paris và Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam?

Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết cách đây 40 năm, là cuộc đàm phán lâu dài nhất, khó khăn, phức tạp nhất và thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Thứ nhất, Hội nghị Paris là cuộc đấu tranh kiên cường vì các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam.

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (Ảnh: .tgvn.com.vn)

Hiệp định Paris là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền, đó là “độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Vì các quyền này, dân tộc ta đã không quản ngại hy sinh trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Thắng lợi của Hội nghị Paris cũng còn là sự tiếp nối của truyền thống, thể hiện ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam quyết tâm gìn giữ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Thứ hai, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là đỉnh cao và là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ, cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh hết sức gay go, quyết liệt, nhưng cũng rất hào hùng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ.

Cùng với những thắng lợi quan trọng về quân sự, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ, tạo điều kiện cho toàn quân, toàn dân ta giành thắng lợi hoàn toàn với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, thống nhất đất nước.

Thứ ba, thắng lợi của Hội nghị Paris nói riêng và của cuộc kháng chiến của nhân dân ta khẳng định chân lý: Một dân tộc dù nhỏ yếu nhưng với chính nghĩa và quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do cho dân tộc mình, dân tộc đó sẽ chiến thắng bất kỳ lực lượng xâm lược nào. Chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, hoà bình và công lý.

PV: Thưa Bộ trưởng, Hội nghị Paris để lại những bài học gì cho chúng ta hôm nay?

Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Chúng ta có rất nhiều bài học về Hội nghị Paris. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất, đó là tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai là chúng ta giữ vững độc lập, tự chủ, là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. 

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố rất quan trọng đảm bảo thắng lợi của ngoại giao. Trong suốt quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa các binh chủng hợp thành của thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris thì sự phối hợp chặt chẽ của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại là nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi. Đây cũng là điểm chung khi một nước nhỏ phải đối phó với thách thức lớn.

Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ; góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

PV: Vậy bài học từ Hội nghị Paris đối đối với ngành ngoại giao Việt Nam là gì, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Đối với nền ngoại giao Việt Nam, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris mãi mãi là trang sử hào hùng, thể hiện cao độ nghệ thuật ngoại giao Việt Nam, là thắng lợi của nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ với nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường.

Có thể nói, những bài học kinh nghiệm này không chỉ là di sản của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc oanh liệt của dân tộc ta mà trước hết là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu của ngoại giao Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng!./.

Hồng Nhung – Anh Dũng/VOVtv
vov.vn

Chiến thắng của nghệ thuật “vừa đánh, vừa đàm”

Hiệp định Paris

(VOV) – “Hiệp định Paris được ký kết thể hiện sự đấu tranh kiên cường, bền bỉ, nhưng cũng rất sáng tạo, của các nhà ngoại giao Việt Nam”

Ngày 27/1/1973 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi với việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Hiệp định Paris là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện và đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, theo đó Hoa Kỳ đã buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Nhân kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức Triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam tại Trung tâm Triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh (29 – Hàng Bài).

Dấu son lịch sử

Với 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, Triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam đã tái hiện sinh động quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris.

Những bức ảnh được trình bày có chủ đích, giúp người xem có thể cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên đàm phán. Đồng thời thể hiện sự kết hợp tài tình giữa ba mặt trận quân sự – chính trị – ngoại giao, sự ủng hộ, cỗ vũ, của loài người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý đối với nhân dân Việt Nam, cả những giây phút khó khăn cũng như những giây phút xúc động, hân hoan trong niềm vui chiến thắng.

Ông Lưu Văn Lợi – nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ

Nhìn lại những hiện vật, tư liệu quý tại cuộc triển lãm khiến ông Lưu Văn Lợi – nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ không khỏi bồi hồi. Theo ông, Hiệp định Paris là sự kết tinh những thắng lợi trong cuộc chiến tranh kiên cường và bền bỉ của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi của tình đoàn kết quốc tế. “Việt Nam chúng tôi tuy là một nước nhỏ, so với Mỹ, chúng tôi yếu hơn nhiều, chúng tôi tự xác định rằng chúng tôi không thể thắng Mỹ về mặt quân sự, nhưng bằng ý chí, sự quyết tâm bền bỉ, chịu hy sinh gian khổ, chúng tôi đã dành được điều chúng tôi mong muốn đó là “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được” và điều đó chúng tôi đã làm được vào ngày 30/4/1975”, Nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ xúc động nói.

Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Sau 4 năm, 8 tháng và 16 ngày đấu trí, đấu lý trên bàn Hội nghị, ngoại giao cách mạng Việt Nam, mặc dù còn non trẻ, đã phát huy cao độ truyền thống ngoại giao đầy bản lĩnh, trí tuệ và nhân nghĩa của dân tộc, giành thắng lợi với việc ký kết Hiệp định Paris, mở ra cục diện mới, tạo tiền đề vững chắc cho đại thắng Mùa xuân năm 1975.

40 năm đã qua. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã sinh ra và lớn lên trong hòa bình sau ngày Hiệp định Paris được ký kết. Dù đã đi qua những đau thương, mất mát vì chiến tranh nhưng những nhân chứng lịch sử như ông Lợi vẫn có những tình cảm tốt đẹp với những người dân Mỹ yêu hòa bình, những người đã từng phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Ông Lợi hy vọng mối quan hệ giữa hai nước sẽ ngày một tốt hơn để có thể cùng nhau bù đắp cho những người thiệt thòi, mất mát do chiến tranh.

“Chúng tôi rất mừng vì quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ ngày nay đang tiến triển tốt. Như bà Hillary Clinton (Bộ trưởng Ngoại giao đương nhiệm của Hoa Kỳ) đã nói: 15 năm bình thường hóa quan hệ đầu tiên giữa Việt Nam – Mỹ đã là kỳ diệu và hy vọng, tin tưởng rằng những năm tới còn kỳ diệu hơn”, ông Lợi nói.

Nhìn quá khứ để trân trọng hiện tại

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông Nguyễn Văn Khà – nguyên Trung tá của Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, trong đoàn Việt Nam đấu tranh Mỹ thi hành hiệp định Paris. Ông kể lại: Lúc đó tôi là Phó trưởng ban trao trả, đấu tranh buộc Mỹ phải trao trả tù binh và Việt Nam trao trả tù binh của Mỹ. Tuy rằng Mỹ đã kí kết Hiệp định Paris, rút khỏi miền Nam Việt Nam nhưng phía Mỹ luôn o ép, tìm đủ mọi cách để phá việc thực thi Hiệp định. “Chúng cho phái đoàn của ta vào ở những chỗ tồi tàn, xung quanh là dây thép gai, lính gác, không cho mình đi đâu cả mà phải trong doanh trại của họ trong suốt thời gian đó. Những nguy hiểm luôn rình rập như thế, nhưng bằng ý chí cách mạng, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, nên chỗ nào Mỹ còn dây dưa thì chúng tôi sẽ đấu tranh buộc Mỹ thi hành điều đó. Và kết quả là Mỹ đã rút khỏi miền Nam sau 2 tháng (29/3/1973) “, ông Khà cho biết.

Quang cảnh Hội nghị Paris về Việt Nam, 25/1/1969

Triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký hiệp định Paris về Việt Nam thu hút đông đảo người xem, không chỉ các nhân chứng lịch sử mà còn đối với những nhà ngoại giao đương nhiệm trong ngành Ngoại giao Việt Nam. Đến dự Triển lãm, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phương Nga bày tỏ sự trân trọng, tri ân những đóng góp, hy sinh của thế hệ cha ông. Bà Nga xúc động nói: “Hội nghị Paris với việc ký kết Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam là Hiệp định thể hiện sự đấu tranh kiên cường, bền bỉ, nhưng cũng rất sáng tạo, mưu trí, đầy chất nhân văn của các nhà ngoại giao Việt Nam tại bàn đàm phán, kết hợp với nghệ thuật “vừa đánh, vừa đàm”. Đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ ngoại giao của Việt Nam hiện nay và sau này”.

Triển lãm lần này có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày như Bản gốc Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định… Có những hiện vật rất đặc biệt như Cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cu Ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Một số hình ảnh tại Triển lãm:

Đoàn đại biểu Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu dự Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết lần thứ IV tại Angie, tháng 9/1973 (Hội nghị ra Quyết định đặc biệt về Việt Nam kêu gọi phong trào Không liên kết ủng hộ Việt Nam, đòi Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn chấm dứt vi phạm Hiệp định Paris

Lãnh đạo Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Bộ phận chuyên trách báo chí và vận động phong trào tại Paris

Nhân dân Liên Xô mít tinh ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước tại Thủ đô Matxcova ngày 8/2/1965

Mít tinh tuần hành đòi Mỹ rút khỏi Việt Nam tại Quảng trường Trafagar (London, tháng 4/1969)

Ngày 27/1/1972, Hiệp định Paris được kí kết

Xoong nhôm dùng để quấy xi trong thời gian đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris

Con dấu của Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam

Hiên ngang vứt trả quần áo, các chiến sĩ Quân giải phóng giương cao cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng, hát vang bài “Vì nhân dân quên mình” trong chuyến trao trả tù binh đầu tiên tại sân bay Lộc Ninh (27/3/1973)

CTV Kim Anh/VOV online
vov.vn

Hội nghị Paris: Kỷ niệm của người trong cuộc

(VOV) -“Phòng hạnh phúc”, “cuộc bao vây hữu nghị” hay món bánh cuốn sau mỗi lần thương thảo… là những kỷ niệm khó quên.

Cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài gần 5 năm tại bàn đàm phán Paris là một cuộc đấu tranh lặng lẽ, âm thầm, cũng có lúc cao trào, dữ dội. 40 năm, cuộc đấu tranh ấy dù đã đi qua nhưng những câu chuyện kể về nó vẫn chưa bao giờ có hồi kết để chúng ta hiểu thêm về thắng lợi của nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam.

Giây phút ký Hiệp định

Suốt 5 năm tham gia bàn đàm phán Paris, nhà báo Hà Đăng-  nguyên là Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris luôn đinh ninh rằng sẽ có một ngày Mỹ phải kí kết hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Và đúng như thế, 1 tuần sau thất bại với trận “Điện Biên phủ trên không” cuối năm 1972, Mỹ đã phải nối lại bàn đàm phán. Sau đó 3 tuần thì Mỹ đã chính thức kí hiệp định theo đúng đòi hỏi của chúng ta. Đó là những đòi hỏi mà trước đó Mỹ muốn ép ta phải thay đổi bằng nỗ lực chiến tranh cuối cùng của họ- tức là trận tập kích chiến lược bằng B52 đánh vào miền Bắc Việt Nam.

Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Nhà báo Hà Đăng nhớ lại: Khi nhìn các bên kí hiệp định, tôi như được sống trong giây phút vừa hiện thực, vừa lãng mạn, mường tượng đến ngày này 2 tháng sau, khi quân Mỹ phải cuốn cờ về nước, đánh dấu sự chấm dứt của quân chiếm đóng nước ngoài ở nước ta.

Không ai có thể kìm nén sự xúc động khi chứng kiến giờ phút kí hiệp định Paris. Có được thành công ấy, những con người đã từng tham gia Hội nghị Paris như cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy hay bà Nguyễn Thị Bình- trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã trải qua những cuộc đấu trí một mất một còn.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư kí riêng của đồng chí Lê Đức Thọ vẫn nhớ: Ông Sáu Thọ vốn là một người thích làm thơ, yêu thơ ngay cả khi bị giam cầm trong chốn ngục tù. Ấy thế mà, suốt 5 năm đàm phán tại Paris, ông không làm nổi một bài thơ.

Tháng 6/1968, bác Thọ được Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo làm cố vấn đặc biệt, sang dự cuộc nói chuyện với Mỹ ở Paris. 5 năm trời bác không làm một bài thơ nào. Tất cả tâm hồn, trí tuệ và suy nghĩ của bác đều tập trung cho cuộc đàm phán với Mỹ- một nước gây ra chiến tranh với chúng ta, hùng mạnh hơn chúng ta về mọi mặt, với những nhà ngoại giao sừng sỏ”, ông Lưu Văn Lợi cho biết.

“Phòng hạnh phúc”, “bao vây hữu nghị”

Với những thành viên trong đoàn đàm phán, không ai có thể quên kỷ niệm về “Phòng hạnh phúc”. Đó là “ám hiệu” về căn phòng bí mật chống nghe trộm. Ông Phạm Ngạc-nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế, Bộ Ngoại giao nói: “Chúng tôi gọi đó là “Phòng hạnh phúc” bởi vào đó là yên tâm lắm, thoải mái trao đổi không sợ lộ bí mật. Hồi xưa lúc Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang họp hội nghị Fontainebleau phải ra ngoài đi dạo. Khi chúng tôi sang Geneve cũng vậy, phải đi ra ngoài vườn nói chuyện để không bị nghe lén. Còn khi vào “Phòng hạnh phúc thì lại yên tâm trao đổi về kế hoạch tác chiến đấu tranh ngoại giao.

Còn với ông Nguyễn Khắc Huỳnh- nguyên Vụ trưởng Vụ tổng hợp, Bộ Ngoại giao ấn tượng không thể phai mờ là những cuộc “bao vây hữu nghị” mà bạn bè quốc tế dành cho phái đoàn của ta: Tôi còn nhớ, khi tôi sang Italy, cuộc mít tinh vừa kết thúc thì hàng vạn thanh niên bao vây hội trường nơi chúng tôi đến phát biểu. Tôi quay lại nói với đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Italy là “chúng tôi bị bao vây rồi đấy”, thì ông ấy nói “đó là cuộc bao vây hữu nghị, rất hữu nghị, là biểu hiện tình cảm của nhân dân Italy với những người Việt Nam, những người Việt Nam đang chiến đấu, đàm phán ở Paris”.

Không chỉ có sự đoàn kết của bạn bè quốc tế mà sự ủng hộ của bà con Việt Kiều tại Paris cũng chính là nguồn động lực để những người con xa quê đang ngày ngày đấu tranh với kẻ thù trên bàn đàm phán có thêm niềm hi vọng. 5 năm đàm phán cũng là 5 cái Tết xa quê đối với những ai tham gia hội nghị Paris. Thiếu thốn tình cảm, nhưng hương vị của ngày Tết cổ truyền dân tộc thì không thiếu bởi những thành viên của đoàn đàm phán được sống trong tình cảm thương yêu, trìu mến của bà con Việt Kiều.

Ông Phạm Ngạc nhớ mãi cuộc gặp gỡ với bà con vào dịp Tết năm 1971. Không chỉ là những món ngon quê nhà, họ còn được thưởng thức những vở kịch, vở cải lương do chính đồng bào mình thể hiện tại thủ đô Paris.

Dịp đó chúng tôi rủ nhau đến nhà tương tế của Paris gặp gỡ, diễn văn nghệ. Anh chị em bên đó chủ yếu là trí thức miền Nam, họ đã chọn cải lương để hát. Anh Tổng thư kí- Nguyễn Ngọc Hà cũng đóng vai chính, có lúc đưa cả vợ con lên sân khấu. Các bạn sinh viên cũng hát những bài hát cách mạng, kháng chiến. Đó là chương trình vui nhất”, ông Ngạc kể.

Món bánh cuốn sau mỗi lần thương thảo

Và không mấy ai biết rằng, món bánh cuốn Việt Nam cũng có mặt ở Paris sau những lần thương thảo tại hội nghị. Chuyện kể rằng, đồng chí Xuân Thủy đã giao cho nhà bếp chuẩn bị món bánh cuốn, nước chấm cà cuống để mỗi khi thương thảo thành công sẽ cùng tổ chức liên hoan. Ông còn cho mời phía đối phương thưởng thức món ăn dân dã này khi hai bên đạt được nguyện vọng của mình trên bàn đàm phán.

Ông Tăng Văn Soát, bảo vệ đoàn nhớ lại: Nhiều khi có những cuộc họp phát sinh của hai đoàn lớn, cần gặp nhau để bàn bạc. Những ngày ấy chúng tôi cũng phải phục vụ cho cuộc họp. Thấy gu của họ thích ăn bánh cuốn, ông Xuân Thủy chỉ đạo làm ngay. Làm bánh cuốn ngay ở nơi họp, khi nào cuộc họp thành công thì mang bánh cuốn, nước mắm cà cuống ra chiêu đãi hai đoàn.

Kỷ niệm về 5 năm đàm phán tại hội nghị Paris không bao giờ có thể kể hết. Điều đó cũng giống như viết về một câu chuyện dưới nhiều góc độ khác nhau thì con mắt nhìn cũng vô vàn chi tiết không giống nhau. Chỉ có điều, mỗi câu chuyện là một kí ức không thể phai mờ và rất đáng trân trọng, cũng giống như giờ phút chúng ta có trong tay hòa bình thật đáng quý biết bao!./.

Nhóm PV/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Sách ảnh về Hội nghị Paris: Lời tri ân

(VOV) – Những nhân vật chưa từng xuất hiện và những nội dung lần đầu được tiết lộ qua những bức ảnh hiếm.

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, một số thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris như các ông Trịnh Ngọc Thái, Phạm Ngạc, Lưu Văn Lợi và nữ nhà văn Mỹ Lady Borton ra mắt cuốn sách ảnh Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973. Diễn tiến quá trình đàm phán, lễ ký kết Hiệp định Paris, Định ước quốc tế hay nội dung các cuộc họp chính thức và bí mật lần đầu hé lộ qua những bức ảnh hiếm.

Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt VNDCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn VNDCCH ở 11 phố Darthe

Năm 2008, trong chuyến công tác tại Paris, Pháp, nhà văn Lady Borton vô tình thấy một bức ảnh đen trắng về Hội nghị Paris về Việt Nam. Đó là một bức ảnh rất đẹp nhưng lại thiếu chú thích khiến nhiều người không hiểu tại sao giữa Paris lại có một bức ảnh của Việt Nam. Ý tưởng thực hiện một cuốn sách ảnh về quá trình đàm phán Hiệp định Paris len lỏi trong tâm trí bà từ đó. Trở lại Việt Nam, bà đã cùng một số thành viên đoàn đàm phán Hội nghị Paris năm xưa biên soạn cuốn sách “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”.

Nhà văn Lady Borton kể: “Đầu tiên chúng tôi chỉ định làm một danh sách của 150 hình ảnh. Nhưng trong quá trình thực hiện tôi hay hỏi: Bác Thái ơi, thế lúc bác viết bản thảo thì ông Xuân Thủy làm gì. Bác Thái bảo ông Thủy làm thơ. Thế là tôi thấy cần đưa thơ của ông Xuân Thủy vào đây. Từ đó chúng tôi triển khai thêm và cũng mở ra được những câu chuyện thú vị thời gian đó”.

Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973 gồm 3 chương: Việt Nam, Paris, Việt Nam, dài hơn 170 trang. Tác phẩm là cái nhìn của chính những thành viên đoàn đàm phán năm xưa về quá trình gần 5 năm đàm phán cũng như lý giải tại sao chúng ta lại lựa chọn Paris là nơi tiến hành đàm phán. Song song với các hoạt động trên chiến trường, cuộc đàm phán ở Paris cũng trải qua những thử thách quyết liệt và những chiến sĩ ngoại giao Việt Nam đã sử dụng cây bút như một vũ khí sắc bén đẩy lùi mọi cuộc tấn công của Đế quốc Mỹ.

Ông Dương Xuân Tư, phụ trách điện đài đoàn VNDCCH trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris chuyển điện công khai và mật mã với Hà Nội

Mở đầu mỗi chương cuốn sách “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973” đều dẫn những lời nói và thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nước Việt Nam ta là một/ Dân tộc Việt Nam ta là một/ Dù cho sông cạn đá mòn/ Nhân dân Nam, Bắc là con một nhà – như khẳng định sự đúng đắn trong đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh.

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong những tác giả cuốn sách cho biết: “Trong mỗi dịp Tết hay trong dịp có sự kiện tại Hội nghị Paris thì Bác Hồ đều có những bài thơ. Ông Lê Đức Thọ là Bác Hồ điều từ miền Nam ra, ông Xuân Thủy cũng do Bác chọn, bà Bình cũng vậy. Vì thế tôi mới nói rằng cốt lõi ở đây là ngoại giao Hồ Chí Minh. Do đó, chúng tôi đã trích những bài thơ của Hồ Chí Minh in trong tác phẩm như: Đi đường, Vì Độc lập tự do…”     

Cuốn sách ảnh “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973” không chỉ giới thiệu đến công chúng những nhân vật cốt cán trong cuộc đàm phán Hiệp định Paris như Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, Cố vấn Lê Đức Thọ… mà còn đề cập đến những nhân vật chưa từng xuất hiện. Ông Dương Xuân Tư – người phụ trách đánh moóc, đưa tin cuộc đàm phám về Việt Nam, ông Nguyễn Bội – người phụ trách telex, bác sỹ Nguyễn Văn Thuận hay đầu bếp Hoàng Hữu Cần… là những con người thầm lặng đã góp phần làm nên thành công của Hội nghị Paris.

Ông Sơn, lái xe đoàn VNDCCH đang giúp chuẩn bị tài liệu báo chí

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc cho biết thêm: “Chúng tôi làm cuốn sách này để tri ân những thành viên đoàn ngoại giao Việt Nam có mặt tại Hiệp định Paris 40 năm trước. Tôi thấy cần có sự công bằng với những người trực tiếp tham gia, đặc biệt là những người đã “mai danh ẩn tích”, người là cơ yếu, điện đài, bên cạnh đó là những bạn bè Pháp…  Họ là những người không ai biết nhưng thực tế họ là những nhân vật cốt cán”.

Với độ dài hơn 170 trang cùng khoảng 150 bức ảnh tư liệu, “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”không chỉ là một tài liệu lịch sử về Hội nghị Paris mà còn giúp công chúng hiểu rõ hơn phương châm ngoại giao kiên định của Việt Nam. Chúng ta đề cao lập trường chính nghĩa, tranh thủ dư luận thế giới, nhất là phong trào phản chiến bùng nổ trong lòng nước Mỹ, đẩy chính quyền Mỹ vào thế cô lập và phải xuống thang.

Cuộc thi bóng bàn giữa bà Dương Thị Duyên và bà Nguyễn Thị Bình tại Paris.

Ý nghĩa to lớn và những bài học kinh nghiệm của Hiệp định Paris trải qua 40 năm vẫn còn tính thời sự, nhiều sách báo đã và vẫn còn tiếp tục viết về sự kiện này. Và cuốn sách ảnh “Hội nghị Paris về Việt Nam: Nhìn lại, 1968 – 1973”như lời nhắn nhủ của thế hệ trước giành cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau: Ông, cha ta đã sống và chiến đấu như thế./.

Mỹ Trà- Ngọc Ngà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Lần đầu tiên trưng bày kỷ vật quý về 40 năm Hiệp định Paris

(VOV) – Triển lãm trưng bày nhiều hình ảnh và kỷ vật quý về các phiên đàm phán và những hoạt động xung quanh của Việt Nam và thế giới.

Sáng nay, 23/1, tại Nhà triển lãm 29 Hàng Bài (Hà Nội), khai mạc triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris, lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Văn hóa Thể thao và Du lịch…đã tới dự.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris dự khai mạc triển lãm

Triển lãm trưng bày 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách, trong đó có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc hiệp định. Đây là triển lãm lớn nhất về sự kiện này từ trước tới nay, góp phần làm sống lại các hình ảnh và sự kiện của những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh, sự phối hợp giữa ba mặt trận đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ, ủng hộ, cổ vũ của các nước anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Các hiện vật tại triển lãm thu hút sự quan tâm của đông đảo người xem

Ngoài những bức ảnh chụp các phiên đàm phán dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam còn có hình ảnh các chiến thắng trên chiến trường của quân dân ta, sự ủng hộ của bè bạn thế giới. Những hiện vật được trưng bày tại triển lãm như hai chiếc bút ký Định ước Paris 1973 và Hiệp định Paris về Việt Nam 1973, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi trong thời gian đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris, cuốn sổ cỡ lớn lưu chữ ký của nhân dân Cuba ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập… mang đến cho người xem hình dung cụ thể hơn về những gì đã xảy ra trong lịch sử./.

Việt Hòa/VOV online
vov.vn

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris

(VOV) -Lê Đức Thọ từng khiến Kissinger phải thốt lên rằng: Ông là một đối thủ xứng đáng.

Trên bàn đàm phán Paris, người ta chú ý tới một người đàn ông cao gầy, có đôi mắt cương nghị. Đó chính là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- Lê Đức Thọ.

Gần 5 năm bên bàn đàm phán, với bề dày cách mạng, tầm nhìn xa trông rộng, bản lĩnh chính trị vững vàng, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ đã đưa ra những sáng kiến, giải pháp ngoại giao chiến lược, khiến cho kẻ thù phải khâm phục, trân trọng.

Chính ông đã được đề nghị trao giải thưởng Nobel Hòa bình – giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt của Việt Nam DCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn Việt Nam DCCH ở 11 phố Darthe. Ảnh tư liệu

Một tháng sau cuộc thương lượng chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber (Paris- Pháp), ngày 12/6/1968, người ta thấy xuất hiện trong Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà một gương mặt mới- đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ.

Theo các tài liệu lịch sử, năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ đang là Uỷ viên Bộ chính trị. Sau Tết Mậu Thân, ông được điều vào miền Nam tăng cường cho Trung ương Cục. Cuối đợt 2 của cuộc Tổng tấn công bắt đầu từ ngày 4/5/1968, Hồ Chủ tịch gọi ông ra Hà Nội và cử ông làm Cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ từ năm 1968 đến năm 1989 kể lại: “Tại sao Bác Hồ lại chọn đồng chí Lê Đức Thọ? Như tôi hiểu và cảm nhận thì thấy rằng, từ đầu cách mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Đức Thọ đã ở gần bên Bác. Bác rất hiểu con người này. Đó là một con người rất kiên định, đã từng trải qua nhiều công tác quan trọng, 8 năm có mặt ở Nam Bộ, hiểu được chiến trường, hiểu được tình cảm của nhân dân cho nên Bác đã trực tiếp đề cử đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris. Theo Bác nói, con người này biết cương và nhu đúng lúc. Suốt 5 năm tại hội nghị Paris, đồng chí đã thể hiện được đúng tinh thần đó”.

Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Đó cũng là cuộc đấu trí giữa ngành ngoại giao non trẻ của Việt Nam với ngoại giao nhà nghề sừng sỏ ở Mỹ với những cái tên như Harriman, Kissinger, …

Với tư cách là đại diện của Bộ Chính trị chỉ đạo cả hai đoàn đàm phán Bắc và Nam, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và các nhà ngoại giao Việt Nam luôn kiên định lập trường “Nước Việt Nam là một dân tộc. Chiến đấu và bảo vệ Việt Nam là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam từ Nam đến Bắc”.

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc khi đó giữ vai trò phiên dịch và ghi biên bản hội nghị nhớ lại: Trên bàn thương thuyết, hai ông Xuân Thuỷ và Lê Đức thọ đã phối hợp với nhau rất ăn ý. Lúc người này nhu thì người kia cương và ngược lại. Trong đó, phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai cương . Không ít lần, ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt Kissinger.

“Ông Lê Đức Thọ là một con người kiên định trong lập trường, kiên quyết giữ lại các lợi ích cơ bản của mình, không mắc bẫy thủ đoạn của đối phương. Khi văn bản Hiệp định đã hoàn thành đến một mức độ nào đó rồi, Kissinger muốn phía ta ký tắt vào văn bản nội bộ nhưng ông Lê Đức Thọ không chịu nhượng bộ và Kissinger đã phải thốt lên rằng: ông là một đối thủ xứng đáng. Lập trường chính nghĩa và sáng suốt theo đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh đã được ông Lê Đức Thọ thực hiện và nhận được sự cảm phục của đối phương”- Ông Phạm Ngạc nói.

Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Lê Đức Thọ. Kissinger thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông cũng nhớ như in giây phút đầu tiên gặp cố vấn Lê Đức Thọ ngày 21/2/1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ.

Có thể nói, các cuộc đấu trí giữa ông Lê Đức Thọ với đại diện phái đoàn Mỹ, cả bí mật lẫn công khai tại Paris đã trở thành một huyền thoại trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Kết quả là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973, tạo tiền đề dẫn đến thắng lợi cuối cùng ngày 30/4/1975. Cũng trong năm 1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng Henry Kissinger được đồng trao giải Nobel Hoà bình nhưng ông đã từ chối nhận giải.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ cho biết: “Trong nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, đồng chí Lê Đức Thọ đã giải thích vì sao lại từ chối giải thưởng chung với Kissinger. Ông nói, tại sao lại đặt ngang hàng giữa một nước luôn luôn gây ra chiến tranh và một nước luôn đấu tranh để giành lại độc lập. Giữa xâm lược và bị xâm lược lại nhận chung một giải thưởng. Hơn nữa, vì chưa có hoà bình thực sự ở Việt Nam nên ông chưa nhận giải thưởng đó và người xứng đáng chính là nhân dân Việt Nam”

5 năm giữ vai trò Cố vấn tại Hội nghị Paris dù chỉ chiếm một khoảng thời gian ngắn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình nhưng đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng, từ kinh nghiệm hoạt động của đồng chí Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris có thể rút ra một số bài học quí báu cho thế hệ ngoại giao Việt Nam hôm nay và mai sau, trong đó bài học đầu tiên là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác ngoại giao nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia./.

Hương Giang/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Những bài học của đàm phán

Khi có ý định làm loạt bài nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris (1973-2013), lật giở lại những trang tư liệu xưa, chúng tôi tìm gặp ông với mong muốn hiểu thêm về cuộc đàm phán lịch sử ấy; hiểu thêm về câu chuyện của những nhà ngoại giao Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy. Và ông- nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh- thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris năm nào đã say sưa chia sẻ với chúng tôi về những gì ông đã trải qua trong những thời khắc ấy.

Thưa ông, là một trong những thành viên của đoàn đàm phán, ông có thể kể đôi chút về diễn biến cũng như đặc điểm của cuộc đàm phán này. Nó có gì giống và khác so với các cuộc đàm phán khác?

Theo tôi, tất cả các cuộc đàm phán về cơ bản giống nhau là có 2 phe hoặc nhiều phe khác nhau cùng ngồi đàm phán và đó là cái chung nhất. Ở đàm phán Hiệp định Paris cũng thế.  Nhưng  cuộc đàm phán Paris còn có đặc điểm khác. Thứ nhất, đây là một cuộc đối đầu rất quyết liệt của 2 nền ngoại giao. Nếu nền ngoại giao của Mỹ là nền ngoại giao của nước mạnh, nước giàu nhất thế giới suốt  thế kỷ 20. Tôi muốn nhấn mạnh yếu tố này là bởi, nếu không thấy được cái đối chọi giữa khó khăn như thế thì không thấy được bối cảnh lịch sử của đàm phán Paris lúc ấy. Thứ hai, về mặt quân sự, Việt Nam yếu phải đánh Mỹ mạnh. Chúng ta không thể thắng Mỹ trong ngày một ngày hai được; chiến tranh kéo dài đàm phán càng kéo dài. Thứ ba, cuộc đàm phán Paris là cuộc đàm phán có nhiều loại diễn đàn.  Diễn đàn giữa hai bên Việt Nam-Hoa Kỳ (diễn ra suốt năm 1968); Diễn đàn 4 bên kéo dài hơn 3 năm  (1969-1971) gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Thứ tư, các bên đều sử dụng cuộc đàm phán này để nói cho bên thứ ba nghe. Nói cách khác,  tức là nói cho nhân dân thế giới nghe.

Vậy, vào thời kỳ đầu của cuộc đàm phán, ông cùng các đồng nghiệp tham gia vào đoàn đàm phán như thế nào?

Phải nói, tôi may mắn là một trong những người đầu tiên được thông báo về việc chuẩn bị đàm phán. Ngay sau đó, anh em chúng tôi bắt đầu tỏa ra tìm tài liệu có liên quan đến các cuộc đàm phán. Tiếp đó, chúng tôi lo tư liệu, nội dung lên án tội ác của Mỹ, lên án Mỹ xâm lược làm nội dung tranh đấu; lên án chính quyền Sài Gòn bù nhìn- từ đó để đòi Mỹ  chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc.

Từ cuộc đàm phán Paris, ông thấy có thể rút ra được những bài học gì trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do nói chung, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nói riêng, thưa ông?

Kinh nghiệm tôi nhớ nhất, quan tâm nhất chính là phải nắm chỗ mạnh của ta, xoáy vào chỗ yếu của đối phương để mà đánh. Bởi vì mình bảo vệ độc lập chủ quyền bao giờ mình cũng ở phía chính nghĩa, người nào động đến độc lập chủ quyền và chủ quyền lãnh thổ của mình thì người đó không phải là chính nghĩa. Vì vậy, mình phải nắm lấy cái chính nghĩa xoáy vào cái phi chính nghĩa, phi pháp của họ. Giờ tôi thấy, tuyên truyền về điều này của chúng ta hơi yếu. Giờ với kinh nghiệm của đàm phán Paris, của cuộc đấu tranh chính nghĩa bảo vệ chủ quyền, tôi cho phải tuyên truyền mạnh hơn, nhiều hơn. Tờ báo nào không dám viết vì lý do này, lý do khác là yếu. Gần đây tôi có thấy báo Đại Đoàn kết, báo Thanh niên có nhiều bài hơn một chút về bảo vệ độc lập chủ quyền. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là nhiệm vụ thường xuyên bất di dịch của bất kỳ quốc gia nào. Cần coi đó là công việc của toàn dân nhưng trước hết các nhà lãnh đạo phải quan tâm từng ngày từng giờ. Bài học thứ hai là đề cao độc lập tự chủ. Đàm phán Paris gay go lắm, rất nhiều ý kiến đề nghị ta phải thế này, phải thế kia. Nhưng ta phải có độc lập, tự chủ, đánh theo cách của ta; đàm cũng theo cách của ta. Bài học thứ ba là đoàn kết quốc tế. Độc lập tự chủ phải gắn với đoàn kết quốc tế. Từ chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Việt Nam luôn phải đối đầu với nước lớn, giàu mạnh hơn ta. Theo truyền thống của cha ông, nhân dân Việt Nam lấy tự lực, tự cường làm chính; nhưng phải biết vận dụng sự ủng hộ của quốc tế, ta thường nói là kết hợp sức mạnh thời đại. Bởi vậy độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế là điểm sáng chói trong đường lối ngoại giao quốc tế của Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Mai Loan- Lục Bình (thực hiện)
daidoanket.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris Điều kỳ diệu mang tên Việt Nam!

Ngày 14-12-1972 trước khi lên máy bay tại sân bay Paris để trở về Hà Nội, anh Lê Đức Thọ dặn tôi: “Mình về thì nay mai chắc nó sẽ đánh Hà Nội bằng B52, việc này cậu đã biết. Cậu cần có kế hoạch hiệp đồng tốt với nhà trong trận đánh này”. Do đó về mặt ngoại giao trong 12 ngày đêm B52 đánh Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schumann và tôi ngày nào cũng có những cuộc gặp nhau, có lúc còn gọi điện thoại cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến. Phía Pháp cần thông tin để có thái độ còn phía ta cũng muốn Pháp góp phần lên án Mỹ. Thực tế trong những ngày đó Chính phủ Pháp đã phát tuyên bố lên án cuộc đánh phá Hà Nội mà Mỹ gọi là Chiến dịch Linebaker-II. Đến ngày 30.12.1972 sau khi tôi báo tin thắng lợi của ta trong 12 ngày đêm bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B52, ông Schumann đã thốt lên: “Thật là kỳ diệu!”. Rồi ông đưa tôi ra thềm trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp gặp hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế đang nóng lòng chờ sẵn ở đó để tôi thông báo cho họ về “điều kỳ diệu” ấy.

Trong thời gian này song song với các hoạt động ngoại giao trên, cũng đã diễn ra cả một chiến dịch vận động dư luận rộng rãi ở Pháp và Tây Âu do tất cả các cơ quan đại diện Việt Nam, các hội đoàn người Việt Nam và bạn bè quốc tế phối hợp tiến hành. Cùng với 12 ngày đêm rực lửa trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội giữa mùa Đông năm 1972 ấy cũng là những ngày đêm hừng hực nóng bỏng tình cảm của người Việt và bạn bè  của Việt Nam ở Pháp và các nước đấu tranh chống đế quốc Mỹ, bảo vệ Hà Nội anh hùng, bảo vệ đất nước của Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đã chủ động đáp trả và toàn thắng trong chiến dịch “12 ngày đêm” bởi đây thực sự là thành công tất yếu của công tác dự báo tình hình. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau này được UNESCO vinh danh là “người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất”, đã có lời tiên tri thiên tài lúc sinh thời: “Chỉ sau khi bị thua ta trên bầu trời Hà Nội thì Mỹ mới thực sự chịu thua”. Suốt 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những đã giữ vững quyết tâm, củng cố niềm tin của nhân dân ta, mà còn dẫn dắt từng bước đi cho thắng lợi của dân tộc.

Võ Văn Sung
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp
Nguyên thành viên đoàn đàm phán Paris

“Hiệp định Paris 1973 là bài học về độc lập tự chủ”

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam.
(Nguồn: TTXVN)

Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đầu năm 1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013), bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam đã dành cho phóng viên TTXVN cuộc trả lời phỏng vấn về những ngày tháng không thể nào quên tại Paris 40 năm về trước. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

– Là nữ Bộ trưởng Ngoại giao duy nhất tại Hội nghị Paris, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Khi được giao nhiệm vụ đi Paris, tôi rất lo vì biết đây là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn, hơn nữa, bản thân tôi không học qua trường ngoại giao nào.

Trong thực tế, tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị không đơn giản, nhưng lúc bấy giờ, tôi nghĩ các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, chắc chắn các đồng chí đã tin tưởng và đánh giá tôi có đủ điều kiện cũng như khả năng hoàn thành nhiệm vụ, vì vậy, tôi đã tự tin lao vào công việc, thực tế là tôi đã rất cố gắng.

Chúng tôi và một số cán bộ từ nhiều cơ quan chức năng, được phân công tham gia hai đoàn đàm phán: đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã hết sức cố gắng và hoàn thành nhiệm vụ.

-Trước khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, giai đoạn đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Cuộc đàm phán 4 bên ở Paris với mục đích tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, thời gian hội nghị hơn 4 năm 8 tháng, nhiều lúc rất khó khăn.

Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10/1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Nixon nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết.

Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam đồng thời gây sức ép để phía ta sửa đổi một số điều trong dự thảo không có lợi cho Mỹ. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh,” dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam.

Đỉnh điểm của sự gây sức ép là cuộc không kích bằng B52, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Nhưng, cuộc không kích của Mỹ đã thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị và buộc Mỹ phải chấp nhận trở lại đàm phán đi đến ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

– Xin bà cho biết, đâu là nhân tố quyết định thành công của Hiệp định Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Có thể nói, Hiệp định Paris là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ suốt 20 năm của quân và dân ta, từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1955 ta đã bắt đầu đấu tranh, đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang đồng thời kết hợp đấu tranh chính trị. Như vậy, kết quả của hiệp định là kết quả của cả một cuộc đấu tranh kéo dài.

Cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi đây là thắng lợi quân sự, nhưng cũng là thắng lợi về chính trị đồng thời là thắng lợi về ngoại giao. Nói đến nhân tố quyết định thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Paris.

– Theo bà, từ Hiệp định Paris có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Tôi nghĩ rằng, Hội nghị Paris trải qua hơn 4 năm, nếu nói cho đúng, trước đó chúng ta cũng đã quan tâm đến vấn đề đấu tranh trên mặt trận dư luận, ngoại giao, nhưng tập trung ở cuộc đàm phán 4 bên ở Paris. Với nhân dân ta nói chung, đặc biệt là các đồng chí làm công tác ngoại giao thì tôi nghĩ cuộc đấu tranh ở hội nghị cho chúng ta rất nhiều bài học và những bài học đó vẫn có giá trị cả ngày nay và mai sau.

Theo tôi, trước hết cuộc đấu tranh của chúng ta rất phức tạp. Tuy là giữa ta và Mỹ nhưng cũng là mối quan tâm của nhiều nước lớn trên thế giới. Nên bài học từ Hội nghị trước hết là phải giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – đó là bài học về độc lập tự chủ.

Bài học thứ 2 là chúng ta phải hết sức kiên định đối với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, lúc đầu chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán gồm 2 yêu cầu: yêu cầu quân sự là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ 2 là ở miền Nam Việt Nam phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ để nhân dân tự lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng dựa trên tình hình thực tế, chúng ta đã tập trung vào 1 mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta biết nếu Mỹ rút khỏi và chấm dứt sự can thiệp vào miền Nam Việt Nam thì vấn đề miền Nam Việt Nam ta hoàn toàn có thể giải quyết được.

Bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nghĩa là chúng ta phải trông vào sức mình; về mặt chính trị, quân sự chúng ta đã hết sức cố gắng để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngoài ra, trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt với đối phương mạnh hơn nhiều lần, chúng ta đã biết tranh thủ sức mạnh đoàn kết quốc tế. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn đã góp phần vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của dân tộc ta./.

Đỗ Quyên (TTXVN)
vietnamplus.vn

Giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế”

Giao lưu giữa các đại biểu Việt Nam và quốc tế. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), khoảng 50 đại biểu quốc tế tham dự các hoạt động kỷ niệm tại Việt Nam.

Sáng 26/1, tại Cung Văn hóa, Thể thao Thanh niên Hà Nội, Đoàn đại biểu quốc tế đã tham dự giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế.”

Cùng dự có: nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng; Phó Trưởng ban Đối Ngoại Trung ương Trần Đắc Lợi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga; một số đại biểu Việt Nam đã tham gia quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam; đại diện các ban, ngành hữu quan và đại diện các tầng lớp nhân dân…

Những người bạn quốc tế…

Có khoảng 30 trong số 50 đại biểu đến từ 14 quốc gia và một số tổ chức quốc tế là những người đã đóng góp trực tiếp, gián tiếp vào thành công của Hiệp định Paris, tham gia tích cực các phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.

Đó là những đại biểu đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam; thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sỹ quan Mỹ Michael Smolen để đánh đổi chiến sỹ biệt động Nguyễn Văn Trỗi; hay là người đã từng tổ chức nhiều hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên Ấn Độ phản đối chiến tranh ở Việt Nam; kiều bào tại Pháp đã tham gia và đóng góp tích cực trong thời gian đàm phán và ký kết Hiệp định Paris; nhà hoạt động xã hội đã từng tham gia các hoạt động chống chiến tranh ở Việt Nam, đang tích cực ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam….

Khách mời giao lưu là những người bạn quốc tế đã giúp đỡ trực tiếp Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh ký kết Hiệp định Paris.

Ông Ramsey Clark, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) đã nhớ về thời điểm tháng 8/1972 ông tham gia một đoàn đại biểu quốc tế đi thực tế ở miền Bắc Việt Nam lúc chiến tranh ác liệt để tìm hiểu, bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Chuyến đi này đã gây tiếng vang rộng rãi trong dư luận Mỹ và thế giới.

Ông từng nói “Tôi cảm thấy Chính phủ Hoa Kỳ đã phạm sai lầm bi thảm khi tiến hành những hoạt động quân sự ở Việt Nam, và một người nào đó thực sự yêu đất nước có nghĩa vụ cao cả là nói lên điều đó và đứng lên phản kháng.”

Người nước ngoài đầu tiên mang quốc tịch Việt Nam

Tiếng Việt nhỏ nhẹ mang âm sắc Nam Bộ, ông Andre Marcel Menras tự hào nhận mình là người nước ngoài đầu tiên mang quốc tịch Việt Nam. Xúc động nghẹn lời khi nhớ về thời điểm năm 1970, khi ông cùng một người bạn đồng hương Pháp treo lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước hạ nghị viện của Việt Nam cộng hòa (nay là nhà hát lớn) và rải truyền đơn đòi hỏi Mỹ và quân đội đồng minh rút quân để Việt Nam lặp lại hòa bình trong độc lập.

Ông bị bắt giam trong suốt 2 năm rưỡi. Cái tên Hồ Cương Quyết trong chứng minh thư của ông chính là do một người bạn Việt Nam cùng trong tù đặt tặng.

Chia sẻ lý do tại sao một người Pháp lúc đó lại sẵn sàng làm những việc nguy hiểm như thế, ông Andre Marcel Menras cho biết năm 1968 sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm thành phố Montpellier (Pháp), ông sang Việt Nam dạy học tại Đà Nẵng. Là một thầy giáo trẻ, phải chứng kiến những cảnh chiến tranh tang thương hằng ngày, ông không cầm lòng được. Ông cho biết, sự phản kháng lúc đó là một phản ứng rất con người và tự nhiên từ trái tim, chỉ mong có thể góp phần nhỏ bé để mang lại hòa bình cho Việt Nam.

Ông bị trục xuất về nước ngày 1/1/1973, tức là 27 ngày trước khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Từ đầu năm 1973 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh hoàn toàn thành công, ông đã vận động tuyên truyền trên thế giới để chính quyền Sài Gòn tôn trọng Hiệp định Paris và trả tự do cho các tù nhân chính trị và để dư luận buộc chính quyền Nixon phải ngừng hỗ trợ cho chiến tranh ở Việt Nam.

Khi được trả tự do từ nhà lao Chí Hòa, ông đã bí mật lấy danh sách tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Côn Đảo, Chí Hòa, Tân Hiệp và Phú Quốc lúc đó để gửi tận tay bà Phạm Thị Minh (phái đoàn chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền nam Việt Nam) nhằm giúp phái đoàn bác bỏ luận điệu của phái đoàn Việt Nam cộng hòa và Mỹ rằng không có tù nhân chính trị tại miền Nam Việt Nam.

4 năm đồng hành cùng phái đoàn Việt Nam tại Paris

Nhớ lại thời điểm nhận trọng trách lái xe cho phái đoàn Việt Nam trong 4 năm tại Paris, ông Michel Strachinescu (Pháp) đã chia sẻ niềm vinh dự của mình cùng đông đảo các đại biểu quốc tế và Việt Nam. Đối với ông, 4 năm đồng hành cùng Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và những người bạn Việt Nam khác lúc bấy giờ là những kỷ niệm lớn lao không bao giờ quên trong cuộc đời.

Một câu chuyện mà ông nhớ như in là có lần, đang chở các bạn Việt Nam trên đường cao tốc Pháp thì lá cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam bị rơi xuống đường. Xe đã chạy qua, lại trong điều kiện đường cao tốc có nhiều phương tiện đi nhanh, “Tôi suy nghĩ các bạn Việt Nam tại quê nhà đang chiến đấu hy sinh vì lá cờ đó nên bằng mọi giá phải quay lại ngay lập tức để cầm lại lá cờ”, ông Michel Strachinescu bồi hồi chia sẻ về tình yêu và sự đồng lòng ủng hộ Việt Nam của mình.

Xen lẫn các câu chuyện về những tấm lòng bạn bè quốc tế đại diện cho cả phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam là những phóng sự được trình chiếu, bắt đầu từ cảnh ký Hiệp định Paris về Việt Nam, về niềm vui, sự hân hoàn về thành quả đã đạt được trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta. Đó là kết quả của một chặng đường dài 5 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, những lúc khó khăn, bế tắc nhưng cuối cùng cũng đạt được kết quả tốt đẹp nhờ nỗ lực không ngừng của nhân dân ta và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Các đại biểu đến từ Liên bang Nga (ông Khyupenen), Trung Quốc (ông Lương Phong); Tổ chức đoàn kết Nhân dân Á Phi (ông Nouri Hussain), Mỹ (ông John Francis)…. chia sẻ về những phong trào nhân dân khắp nơi trên thế giới đấu tranh ủng hộ Việt Nam, về những năm tháng sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đấu tranh dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris; nỗ lực góp phần cùng nhân dân Việt Nam hiện thực hóa Hiệp định Paris để cuối cùng dẫn tới thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân năm 1975.

Những vị khách mời đến từ Hội đồng Hòa bình thế giới, Tổ chức Hòa bình đoàn kết toàn Ấn, Italy…. chia sẻ về những hoạt động ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam sau Hiệp định Paris và trong công cuộc xây dựng phát triển ngày nay, những nỗ lực góp phần chia sẻ hậu quả chiến tranh để lại như vấn đề bom mìn, chất độc da cam/dioxin…

Sau 40 năm kể từ ngày Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, phần lớn những đại biểu quốc tế nay tuổi đã cao, nhưng những câu chuyện về tình yêu Việt Nam của họ năm xưa như chưa bao giờ phai mờ, vẫn nguyên vẹn và đầy xúc động. Đến Việt Nam lần này, các bạn quốc tế có một cảm nhận chung như được trở về nhà, cảm nhận được sự chân tình hiếu khách của người dân Việt Nam đồng thời bày tỏ vui mừng khi chứng kiến một đất nước Việt Nam đang nỗ lực phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thay mặt nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình phát biểu bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và khẳng định, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ và biết ơn về sự ủng hộ của hàng triệu bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam trước đây.

Tại buổi giao lưu, bày tỏ niềm xúc động khi lắng nghe những câu chuyện, những kỷ niệm về tình cảm bạn bè quốc tế trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng phát biểu nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trước đây được đông đảo nhân dân toàn thế giới ủng hộ. Cuộc đấu tranh đó đã cổ vũ hàng triệu người trên khắp thế giới xuống đường tuần hành biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam. Trong lịch sử, thật hiếm có trường hợp nào huy động được số người ủng hộ đông đảo đến vậy.

Tin tưởng tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ngày càng phát triển tốt đẹp, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng cùng bày tỏ mong muốn, bạn bè quốc tế từng ủng hộ Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sẽ tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ngày này./.

Hoàng Thị Hoa (TTXVN)
vietnamplus.vn

Khách quốc tế về dự kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris

Đại biểu Mỹ tặng Chủ tịch nước bức ảnh nhân dân Mỹ xuống đường phản đối cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Ngày 25/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật đoàn khách quốc tế đang có mặt tại thủ đô Hà Nội dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tại buổi tiếp, các đại biểu xúc động cảm ơn đón tiếp nồng hậu của Ban tổ chức lễ kỷ niệm, đã tạo điều kiện để các đoàn khách đến Việt Nam dự buổi lễ trọng đại.

Đại diện các đoàn Pháp, Nga, Mỹ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nhấn mạnh những ngày này, tại những địa điểm khác nhau trên thế giới có liên quan đến Hiệp định Paris năm 1973, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể.

Các đại biểu đã ôn lại những kỷ niệm không quên trong quãng thời gian phục vụ hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris hơn 4 thập kỷ trước.

Các đại biểu khẳng định trước tính chất chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam, dù sinh sống tại các quốc gia khác biệt về chính trị, văn hóa với Việt Nam, đông đảo các tầng lớp nhân dân tiến bộ trên thế giới cùng kề vai sát cánh, ủng hộ Việt Nam, vạch trần tính chất phi nghĩa, của cuộc chiến tranh xâm lược; nhấn mạnh thắng lợi của Hiệp định Paris đã niềm cổ vũ lớn lao nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

Các đại biểu cũng bày tỏ những vấn đề đang được cộng đồng quốc tế quan tâm: bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên năng lượng, giải quyết bất đồng tranh chấp biển đảo, đề nghị Việt Nam với vai trò vị thế ngày càng được khẳng định trên các diễn đàn quốc tế, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, để thế kỷ 21 là thế kỷ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của nhân loại tiến bộ.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự hiện diện của các vị khách quốc tế đúng vào dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ trọng đại.

Chủ tịch nước bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tin tưởng trái tim và khối óc của bạn bè quốc tế sẽ đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam luôn chào đón những người bạn quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các nước trên nhiều lĩnh vực.

Chủ tịch nêu rõ trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò là thành viên tin cậy và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và phát triển cho các quốc gia.

Trước đó, chiều 25/1, đoàn đại biểu quốc tế, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng và đại diện các cơ quan hữu quan đã tham dự Lễ trồng cây tại Công viên Hòa Bình, Hà Nội./.

Hoàng Giang (TTXVN)
vietnamplus.vn

Paris – sự lựa chọn sáng suốt

(VOV) -“Paris đã chứng minh đúng là địa điểm tốt nhất cho hòa đàm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.

Thắng lợi của Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam hay còn gọi là Hiệp định Paris năm 1973 là thắng lợi của tổng hòa sức mạnh quân sự, chính trị và ngoại giao cùng với những lựa chọn chiến lược sáng suốt của Đảng ta. Trong đó, phải kể đến sự tài tình trong việc lựa chọn địa điểm cho cuộc đàm phán lịch sử.

Sau khi Việt Nam và Mỹ đồng ý tiến hành các cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh Việt Nam, tháng 4/1968, hai bên cùng đưa ra những địa điểm để lựa chọn cho cuộc thương lượng.

Trái với những đề xuất của Mỹ chọn một số thủ đô ở Đông Nam Á để gần và tiện cho phía Việt Nam, thì chúng ta lại chọn Paris, một nơi không những xa mà còn là một trong những thủ đô đắt đỏ nhất thế giới. Một tháng sau vào ngày 13/5/1968, phiên họp chính thức đầu tiên được diễn ra tại Paris.

Ông Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, từng là thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết: “Ta đồng ý ở Paris thì có ý nghĩa khác, đó là ngay lúc đó chính Tổng thống Pháp Charles de Gaulle cũng đã lên án Mỹ trong chính sách tại Việt Nam. Ngoài ra, Pháp là nơi có lực lượng Đảng Cộng sản rất mạnh, Việt kiều rất đông và cũng là nơi cụ Hồ khởi sự ra cuộc đấu tranh quốc tế”.

Toàn cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu

Trong suốt quá trình đàm phán kéo dài gần 5 năm, đoàn Việt Nam không chỉ nhận được sự ủng hộ chính trị của Chính phủ Pháp mà còn nhận được ủng hộ và giúp đỡ tối đa về tinh thần và hậu cần  từ các tầng lớp nhân dân nước này.

Liên tục trong 5 năm, họ thường xuyên tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp để ủng hộ lập trường của các đoàn đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ Trường đảng Trung ương Maurice Thorez đi nơi khác để nhường địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng suốt 5 năm và cử nhiều đảng viên của đảng đến phục vụ 2 phái đoàn của ta như lái xe, nấu ăn, gác cổng… Nhờ có cơ sở vật chất tốt nên công tác an ninh của đoàn đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Ông Phạm Ngạc cho biết: “Đảng Cộng sản Pháp đã dành cho ta chỗ họp an ninh rất tốt, đầy đủ các phương tiện; phòng ngủ, chỗ làm việc, tiếp khách rất tốt. Trong suốt quá trình 5 năm Hiệp định Paris có rất nhiều chuyện nhưng chưa bao giờ bị lộ bí mật. Đó là một thành công, hậu cần rất thuận lợi. Từ chỗ tưởng như rất khó khăn cho Việt Nam nhưng bây giờ lại rất thuận lợi và khó nơi nào có được như vậy”.

Hai đoàn đàm phán của ta là Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn nhận được sự ủng hộ to lớn và tham gia trực tiếp của cộng đồng người Việt tại Pháp. Nhiều người Việt Nam giỏi tiếng Pháp đã tình nguyện làm phiên dịch, biên dịch, ghi biên bản các cuộc họp, họp báo…

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội, lúc đó là một sinh viên Việt kiều nhớ lại: “Việt Nam, lúc đó là khẩu hiệu tiêu biểu nhất của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nói chung và tại Paris nói riêng, cho nên việc tham gia phong trào phản chiến của người Việt là lẽ rất tự nhiên. Lúc đó phải nói thật là chuyện học và bằng cấp là chuyện thứ yếu. Công việc chính yếu của chúng tôi là kiếm sống để có thể tham gia phong trào rất tự nhiên và hào hứng. Phải nói rằng chúng tôi trưởng thành trong phong trào phản chiến đó”.

Tại Paris trong suốt 5 năm đàm phán chúng ta còn có sự ủng hộ mạnh mẽ từ báo chí Pháp. Hầu hết các báo đều có những bài viết ủng hộ lập trường của ta.

40 năm trôi qua, điểm lại những diễn biến trên bàn đàm phán có thể thấy rằng Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế tốt nhất cho hai Đoàn đàm phán của ta.

Một trong những nhà ngoại giao ủng hộ đề xuất phương án địa điểm Paris lúc đó là  ông Võ Văn Sung- nguyên Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp, thành viên phái đoàn đàm phán Paris đã từng khẳng định: ” Có thể nói rằng liên tục trong 5 năm, Paris đã sống theo giờ Việt Nam và Việt Nam đã sống theo giờ Paris vì Paris đã chứng minh đúng là địa điểm tốt nhất cho hòa đàm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”./.

Mỹ Trà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn