Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

HN Paris: Điều gì thực sự xảy ra 40 năm trước?

Giữ chức Vụ trưng Vụ châu Á- châu Đại dương Bộ Ngoại giao Pháp từ 1969-1975, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trung gian giữa các bên đàm phán Hiệp định Paris, nhà ngoại giao Pháp Henri Froment-Meurice nhìn lại những gì thực sự xảy ra từ hơn 40 năm trước.

Hoài nghi

Ông Henri Froment-Meurice: …Năm 1969, tôi nhậm chức Vụ trưởng Vụ châu Á – Bộ Ngoại giao Pháp. Khi đó thì các cuộc hội đàm đã được tiến hành ở Paris. Với nước Pháp, vai trò thể hiện ở Hiệp định Paris vừa đơn giản, vừa phức tạp. Đơn giản vì với tư cách là chủ nhà khi đó, chúng tôi có đủ các điều kiện thuận lợi. Nước Pháp có quan hệ với tất cả các bên, với hai miền Bắc và Nam Việt Nam, dù chưa phải là quan hệ cấp đại sứ nhưng chúng tôi có phái đoàn ngoại giao ở Hà Nội và Lãnh sự quán ở Sài Gòn. Về mặt kỹ thuật, nước Pháp đơn giản là tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho các bên đàm phán.

  • Nhưng phức tạp, vì nước Pháp cũng có thể coi là một nhân tố trong đàm phán. Chúng tôi đóng vai trung gian trong các cuộc thương lượng, đưa ý kiến bên này đến bên kia, và đôi khi đưa ra cả các cam kết và ý tưởng.
  • Trong các điều khoản của Hiệp định Paris được ký kết, có không ít đến từ các đề xuất của Pháp. Trước đàm phán, miền Bắc Việt Nam cương quyết với điều kiện Mỹ rút quân, Washington kiên quyết phải có ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris đã thỏa mãn được cả hai điều đó, tức vừa có ngừng bắn, vừa có một giải pháp chính trị sau khi Mỹ rút quân. Với nước Pháp, đó là điều rất đáng hài lòng.
  • Với cá nhân tôi, Hiệp định Paris mang lại cả sự hài lòng lẫn hoài nghi. Hài lòng vì chiến tranh kết thúc. Cuộc chiến Việt Nam gây ra quá nhiều mệt mỏi, tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ quốc tế và để lại những thảm họa nhân đạo. Điều tốt nhất, đó là kết thúc chiến tranh. Nhưng bên cạnh đó là sự hoài nghi là Hiệp định này sẽ không được tôn trọng. Cảm giác đó giống như sau Hiệp định Geneve năm 1954.
  • Tôi nghĩ rằng với nhiều người Việt Nam, Hiệp định Paris được coi là một thắng lợi bởi đã đuổi được người Mỹ…
  • Anh nói điều mà chính tôi lo ngại lúc nãy. Hà Nội muốn đàm phán và đã ký một Hiệp định. Hiệp định này là một giải pháp chính trị, có việc thành lập một chính quyền chung ở miền Nam, có giải pháp về lực lượng thứ 3, có việc tiến tới bầu cử một cách hòa bình và dân chủ. Nhưng thực tế nó đã chỉ được coi như là một Hiệp định đình chiến. Sự hoài nghi của tôi chính vì lẽ đó: một khi người Mỹ rời đi, sẽ có rất ít khả năng hai miền Bắc, Nam Việt Nam không tiếp tục cuộc chiến.
  • Chúng ta tạm bỏ qua tranh luận này. Tôi muốn hỏi là với tư cách là người trong cuộc, theo ông tại sao cuộc đàm phán ở Paris kéo dài đến 5 năm trong khi ban đầu người ta nghĩ nó có thể trong vài tháng, hoặc cùng lắm là 1-2 năm?
  • Các bên đàm phán có những yêu cầu kiên quyết  không nhượng bộ. Phía miền Bắc Việt Nam quyết không chịu đàm phán với chính quyền Thiệu và đòi người Mỹ phải rút nhưng với người Mỹ thì không có chuyện bỏ rơi Thiệu. Đó là điều căn bản. Ngoài ra còn có những vấn đề khác, tuy ít quan trọng hơn. Đó là phải tìm kiếm một giải pháp chính trị kiểu gì ở miền Nam Việt Nam. Trước hay sau Thiệu, có hay không có Thiệu…

Những người ở miền Nam Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng bị gọi đơn giản là “con rối của người Mỹ”.

Bên cạnh đó, vẫn còn một cuộc chiến tranh đang diễn ra mà khi đó không ai dám nói trước rằng người Mỹ sẽ thua vì rõ ràng tương quan lực lượng lúc đó không nghiêng về phía miền Bắc Việt Nam. Có các trận đánh trên các chiến trường, nhưng người Mỹ có sự vượt trội về không quân, về các máy bay ném bom rất hiệu quả đến tận những ngày cuối cùng của chiến tranh. Ngoài ra, có một bộ phận dân chúng ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn chưa sẵn sàng để chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, vì họ là những người “quốc gia”.

Ở đây tôi muốn đặt chủ đề này trong ngoặc kép. Ngày đó, tôi thực sự rất sốc khi một vài đồng hương của tôi trong chính phủ và Quai d’Orsay (BNG Pháp), coi Hồ Chí Minh là một người dân tộc chủ nghĩa tốt. Đúng, đó là một người dân tộc chủ nghĩa nhưng cũng là một người cộng sản.

Không thể quên hoàn cảnh quốc tế thời đó. Chúng ta đã có một cuộc chiến Triều Tiên, giữa những người cộng sản và những người dân tộc, kết thúc là sự chia cắt hai miền. Những người ở miền Nam Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng bị gọi đơn giản là “con rối của người Mỹ”.

Đúng là chính quyền miền Nam VN được Mỹ hậu thuẫn nhưng cũng giống như miền Bắc được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ.

Ngày đó, với người Mỹ và cả chúng tôi, cuộc chiến ở Đông Dương là một mặt trận để ngăn chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn châu Á. Không cần phải phủ nhận điều này bởi thời kỳ đó là Chiến tranh lạnh, giữa phương Tây và một bên do Liên Xô cầm đầu. Cần phải đặt tất cả vào bối cảnh.

Ông có viết trong cuốn “Nhật ký châu Á” của mình rằng ông tin chiến thuật của người Mỹ trong đàm phán Paris giống như những gì Henry Kissinger viết trên tờ “Foreign Affairs” tháng 1/1969. Tôi xin trích lại: đàm phán, ít nhiều trực tiếp, hoặc qua các “tín hiệu”, với Hà Nội về việc đồng rút các lực lượng, đàm phán đủ lâu để dần dần tạo được đối thoại giữa Sài Gòn và Mặt trận về cấu trúc chính trị tương lai của miền Nam (Việt Nam). Thời gian là yếu tố then chốt để Sài Gòn tự củng cố thực lực”. Từ chi tiết này, thì việc kéo dài đàm phán quá lâu cũng là ý của người Mỹ?

Không phải chỉ có người Mỹ khiến đàm phán kéo dài, vì đàm phán có 4 bên chứ đâu riêng người Mỹ. Nhưng tôi nhận thấy, có những giai đoạn cứng rắn giữa các bên khiến đàm phán không tiến triển.

Trong giai đoạn cuối của đàm phán, có một sự tắc nghẽn, đặc biệt là từ tháng 10/1972 đến tháng 01/1973. Tại sao Mỹ lại ném bom với cường độ ác liệt như thế? Ở đây tôi nghĩ có sự cứng rắn quá mức từ các phía. Lúc đó tôi đã không hiểu được những gì Hà Nội đang suy tính còn Sài Gòn thì rõ ràng là không hài lòng về việc tương lai của mình chỉ được đàm phán thông qua Lê Đức Thọ và Kissinger. Nói chung là đó là sự tắc nghẽn từ nhiều phía.

Theo ông biết, có một sức ép nào không, như từ Trung Quốc chẳng hạn?

Có thể, nhưng tôi hoàn toàn không biết chắc về điều này.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn báo chí. Ảnh tư liệu.

Trở lại với các giai đoạn đàm phán. Ban đầu người Mỹ cương quyết không chấp nhận nói chuyện với Mặt trận. Là người làm nhiệm vụ con thoi giữa các bên, ông nhận thấy sự thay đổi của phía Mỹ bắt đầu từ thời điểm nào?

Thú thực là tôi không nhớ chính xác ngày tháng, nhưng theo sự hiểu biết của tôi, mọi thay đổi đều bắt đầu từ các cuộc hội đàm giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

Theo như tôi biết, Kissinger chưa bao giờ gặp bà Nguyễn Thị Bình và cấp phó của bà cũng không có tiếp xúc trực tiếp nào với các nhà ngoại giao Mỹ. Ban đầu, có sự từ chối giữa các bên, Mỹ không chấp nhận đối thoại với Mặt trận, Mặt trận không chấp nhận nói chuyện với Sài Gòn, nhưng cơ bản là thái độ từ phía chính quyền ông Thiệu.

Ông Thiệu không muốn có một bản Hiệp định được ký kết chỉ từ những đàm phán của Hà Nội và Washington nên phản đối và gây sức ép. Việc Mỹ chấp nhận Mặt trận và Hà Nội chấp nhận ông Thiệu vào bàn đàm phán là một sự nhượng bộ giữa các bên.

Điểm quan trọng nhất trong Hiệp định Paris là việc rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Điều này cũng nằm trong tầm nhìn và ý muốn của người Pháp, từ sau Tuyên bố Phnompenh của Tướng De Gaulle rằng Mỹ cần có một lộ trình rút quân và Đông Dương cần một giải pháp chính trị. Có sự thúc đẩy hay thuyết phục nào từ phía người Pháp với phía Mỹ trong chuyện này không?

Tuyên bố của tướng De Gaulle ở Phnompenh nói rằng Mỹ không thể chỉ dựa vào duy nhất giải pháp quân sự mà còn cần cả giải pháp chính trị. Đó là quan điểm cốt lõi của nước Pháp.

Các diễn biến ở Việt Nam cho thấy là rất ít có khả năng chỉ có một giải pháp quân sự đơn thuần từ bên này hay bên kia. Phía Mỹ cũng nhận ra rằng họ không thể trông cậy vào duy nhất giải pháp quân sự. Họ không thể đưa đến 300 ngàn quân vào Việt Nam để đẩy lùi quân đội miền Bắc ra khỏi miền Nam. Người Mỹ không thể hy vọng vào một chiến thắng hoàn toàn về quân sự. Tình thế đó là một ngõ cụt quân sự và Mỹ phải chấp nhận đàm phán.

Các ông Lê Đức Thọ, Xuân Thủy chắc cũng nói với người Mỹ điều chúng tôi cũng nói, tức dần dần phải tìm một giải pháp chính trị. Nhưng giải pháp chính trị kiểu gì? Cơ chế và thiết chế chính trị kiểu gì? Lịch trình ra sao? Một chính phủ hay hai chính phủ? Hai thành phần hay ba thành phần?…

Tôi tin rằng nước Mỹ khi đó có sự thay đổi lớn trong nội bộ. Có những phái diều hâu, phái ít diều hâu hơn. Nixon, tôi nghĩ, là nằm ở giữa. Cũng nên nhớ rằng năm đó (11/1969) là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ và Nixon cần phải tái cử. Vì thế, người Mỹ cần phải có một kết quả hợp lý, một cái gì đó có thể coi là chiến thắng. Khi Hiệp định Paris được ký kết thì họ đã thắng ở điểm này, tức Thiệu vẫn ở đó trong khi Hà Nội thì muốn Thiệu phải ra đi trước đó.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, McNamara từng nhận định rằng “số cơ hội bỏ lỡ là không thể tin được”. Qua quan sát của ông trong từng đó năm, liệu có tồn tại thực sự những thời điểm mà đàm phán có thể kết thúc sớm hơn, thay vì phải sau những chiến dịch quân sự khốc liệt?

Thật khó trả lời câu hỏi này, vì tôi, thậm chí là cả Tổng thống George Pompidou cũng không biết được là Kissinger và Lê Đức Thọ bàn nhau những gì trong các cuộc gặp bí mật. Những gì tôi biết rõ nhất đó là có rất nhiều lần đàm phán thất bại, các đoàn đến rồi đi và chúng tôi làm trung gian nối lại.

Ở đây, tôi muốn nói đến một sự thay đổi từ chính quan điểm của nước Pháp. Sau khi tướng De Gaulle ra đi và George Pompidou lên làm Tổng thống, nước Pháp có một sự thay đổi rõ rệt trong quan điểm liên quan đến Hiệp định Paris, đó là ít can dự hơn. Tổng thống Pompidou không muốn chọc giận người Mỹ nữa. Chuyện Nixon muốn kết thúc chiến tranh, muốn rút quân khỏi Việt Nam, tốt thôi, đó là chuyện của họ, không nên gây phiền phức. Thái độ của nước Pháp đã là như thế cho đến khi kết thúc đàm phán ở Paris.

Ông có thể nói rõ hơn không?

Dưới thời Pompidou, quan hệ Pháp-Mỹ được cải thiện, vì chúng tôi hiểu rằng người Mỹ hoàn toàn không thích Tuyên bố Phnompenh của De Gaulle. Cá nhân tôi cũng bị sốc với tuyên bố đó của tướng De Gaulle. Sao lại có chuyện tướng De Gaulle đòi người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam và ấn định một thời hạn rút quân.

Đặt giả thuyết là Tổng thống Mỹ đến Tunis hay Rabat trong thời kỳ chiến tranh của Pháp ở Algeria và tuyên bố là “người Pháp cần phải biến khỏi đây”. Có sốc không? Hoàn toàn sốc.

Dĩ nhiên, tuyên bố đó của tướng De Gaulle sẽ được các phong trào dân tộc và cộng sản hoan nghênh, nhưng vấn đề là nó lại được coi như “Kinh thánh” khiến các chính phủ kế tiếp tướng De Gaulle rất khó mà ít can dự vào chuyện ở Đông Dương. Tất nhiên, điều chính xác đó là tuyên bố đó đã nói được rằng không thể chỉ có một giải pháp quân sự mà cần phải có giải pháp chính trị.

Thời gian đã qua rất lâu. Ông đã tiếp xúc với nhiều nhân vật lịch sử của cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam. Cuối cùng, ấn tượng cá nhân ông giữ lại về họ là gì?

Tôi thường xuyên xuống Choisy le Roi (nơi ở của phái đoàn VNDCCH), đã nhiều lần tiếp xúc với các ông Xuân Thủy, Mai Văn Bộ, Võ Văn Sung, Hà Văn Lâu. Tôi cũng một vài lần gặp ông Lê Đức Thọ. Tôi cũng tiếp xúc với các nhân vật lớn của miền Nam, từ người trong chính quyền Sài Gòn cho đến những trí thức thuộc lực lượng thứ 3 mà nước Pháp rất ủng hộ. Tất cả họ đều là những người thông minh và đáng mến.

Những nhân vật ở miền Bắc là những người rất chủ động, rất cách mạng. Điều đó cũng không lạ gì vì trong quá khứ, người Pháp luôn nhìn nhận miền Bắc là mảnh đất của chính trị, của những trí thức. Ở đó, nước Pháp từng đặt trường Viễn Đông bác cổ và nhiều trường Đại học, trung học lớn. Những người miền Nam cởi mở hơn, kinh tế và của cải ở đến từ miền Nam nhiều hơn. Sau tất cả, tôi luôn có sự nể trọng rất lớn dành cho người Việt Nam.

+ Xin cảm ơn ông!

Bài phỏng vấn trực tiếp thể hiện phong cách và phân tích của nhà ngoại giao Pháp Henri Froment-Meurice về cuộc đàm phán Paris và các bên đàm phán. Những phân tích này đặt trong bối cảnh quốc tế của đàm phán Hiệp định Paris hơn 40 năm trước.

Ông Henri Froment-Meurice sinh năm 1923, là nhà ngoại giao kỳ cựu của Pháp. Ông từng làm Đại sứ Pháp tại Nhật năm 1952, Vụ trưởng Vụ châu Á-châu Đại dương – Bộ Ngoại giao Pháp từ 1969-1975; Đại sứ Pháp tại Nga từ 1979-1982; Đại sứ Pháp tại Đức từ 1982-1983. Ông là người trực tiếp làm trung gian đàm phán giữa các phái đoàn VNDCCH, VNCH, Mặt trận và Mỹ trong đàm phán Hiệp định Paris, trực tiếp làm việc dưới các đời Thủ tướng và Tổng thống Pháp (De Gaulle, George Pompidou, Valery Giscard d’Estaing).


Bùi Nguyễn (từ Paris)
vietnamnet.vn

Nhân chứng hội nghị Paris ủng hộ VN bảo vệ chủ quyền

 – Sáng 27/1, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức tại TP.HCM cuộc gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, ôn lại sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong quá trình đàm phán ký Hiệp định Paris và trong kháng chiến chống Mỹ.

Vào tù vì ủng hộ Việt Nam 

Vượt qua hàng nghìn km từ nhiều đất nước trên thế giới đến Việt Nam, những người bạn quốc tế yêu chuộng hòa bình đã kể những câu chuyện, kỷ niệm và cảm xúc sâu sắc trong quá trình ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam những năm chiến tranh.

Ông Rabin Deb (Bí thư Ban thường vụ Tổ chức hòa bình và đoàn kết toàn Ấn Độ) bày tỏ niềm xúc động khi đang đứng ở Việt Nam đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris. Ông là người đã tổ chức nhiều hoạt động trong phong trào thanh niên – sinh viên Ấn Độ phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

“Khi McNamara leo thang chiến tranh ở Việt Nam, chúng tôi đã phản đối dữ dội với thông điệp rằng, không cho phép bạo lực tại Việt Nam”, ông Rabin khẳng định.

Còn ông Renato Darsie, đảng viên đảng Những người cộng sản Italia kể rằng, do căm phẫn trước những hành động tội ác của Mỹ, ông đã cùng với nhiều người Italia khác tổ chức biểu tình phản đối.

“Khi những con tàu của Mỹ cập cảng ở đất nước tôi để lấy thêm hàng hóa chất lên tàu, chúng tôi đã tìm cách ngăn chặn. Hay khi những bệnh viện của nước bạn bị ném bom, chúng tôi đã vận động người dân ủng hộ. Và chúng tôi cũng hiến máu để gửi sang Việt Nam…”, ông Renato nói.

Bà Nguyễn Thị Bình trao đổi với các đại biểu

Cũng chính vì những việc làm đó mà ông đã 5 lần bị bắt và bị buộc tội gây rối trật tự công cộng, làm trái pháp luật.

Không chỉ có những người bạn quốc tế bày tỏ sự ủng hộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, nhiều người Việt Nam lúc đó đang làm nhiệm vụ ở nước ngoài cũng kể những câu chuyện cảm động về sự ủng hộ của bè bạn quốc tế.

Ông Võ Anh Tuấn – Phó chủ tịch Ủy ban hòa bình Việt Nam, nguyên đại sứ, đặc phái viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Cuba, một lần được mời dự phiên họp đặc biệt của Quốc hội Argentina chào mừng tổng thống mới.

Đang trên đường trở về khách sạn ở trung tâm thủ đô Buenos Aires (Argentina), ông bị một nhóm người chặn xe lại. Lúc đó, người lễ tân khách sạn cùng đi với ông Tuấn đã xuống xe và nói với họ rằng, người ngồi trong xe là “vị đại sứ của Việt Cộng. Vị đại sứ này đang đến đây để dự lễ đăng quang tổng thống mới”.

Ngay lập tức, nhóm người chặn xe đã tươi cười và hô to: “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”.

Thông điệp đoàn kết

Một điều đặc biệt, các đại biểu dự gặp gỡ ngày 27/1 đã ra thông điệp đoàn kết ủng hộ Việt Nam.

Thông điệp bày tỏ tinh thần đoàn kết nhiệt thành với nhân dân Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh.

“Là những người yêu chuộng hòa bình từ mọi nơi trên thế giới, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, rằng các dân tộc bị áp bức có quyền kháng cự, đấu tranh vì tự do và quyền quyết định vận mệnh của mình không có bất kỳ sự can thiệp của nước ngoài”, thông điệp nêu rõ.

Trước thông điệp này, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình – nguyên trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Paris cho biết mong muốn gửi đến hàng triệu người trên thế giới, kể cả nước Mỹ, những người đã đồng hành với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lời cảm ơn chân thành.

“Chúng tôi và nhân dân Việt Nam không bao giờ quên bạn bè đã ủng hộ Việt Nam”, bà Bình nói.

Bà Nguyễn Thị Bình cho rằng, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi, có lẽ nguyên nhân quan trọng nhất là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.

Bà cũng mong rằng các bạn quốc tế sẽ luôn luôn nhớ đến Việt Nam và cùng nhau đoàn kết đấu tranh cho hòa bình, tự do và công lý.

Tá Lâm
vietnamnet.vn

Chiêng có to tiếng mới lớn

– Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh tầm quan trọng của thực lực như một trong những bài học từ Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013), đỉnh cao thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận ngoại giao.

>> Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973
>> Hiệp định Paris: Ký ức sau 40 năm
>> Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam hôm nay (25/1) ở Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ca ngợi sự kiện trọng đại này như một thành tích vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Bác Hồ dạy ‘thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn’

“Việc ký kết Hiệp định Paris đã kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20, đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, chống Mỹ xâm lược”, Chủ tịch nước nói.

Các cuộc chiến trên chiến trường và trên bàn đám phán đều nhằm một mục tiêu: Buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh.

Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, mở ra cục diện mới, tạo tiền đề vững chắc để quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán tại Paris.

“Hiệp định Paris là minh chứng hùng hồn cho chân lý Đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, Chủ tịch nước khẳng định thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

“Cuộc đấu tranh ngoại giao tại hội nghị Paris là cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Mặt trận ngoại giao đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận quân sự trong nước, tranh thủ dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ, ủng hộ Việt Nam”, Chủ tịch nước nói.

Ông Trương Tấn Sang cũng nêu bật những bài học từ thắng lợi này đối với bối cảnh đất nước, khu vực và thế giới hiện nay.

“Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự, tạo sức mạnh tổng hợp”, Chủ tịch nước nói.

Thứ hai là bài học kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.

Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. “Bác Hồ dạy ‘thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn’. Thắng lợi của hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng của thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến, là sức mạnh của chính nghĩa, của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Đó còn là bài học về xây dựng lực lượng cán bộ đối ngoại, trang bị cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán, được lựa chọn và tin tưởng giao nhiệm vụ. Chủ tịch nhắc nhở ngành ngoại giao tiếp tục phát huy trên mặt trận quan trọng này, góp phần phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước đã trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán, những người góp phần quan trọng vào thắng lợi tại hội nghị Paris.

Chủ tịch nước trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và ông Lưu Văn Lợi, nguyên cố vấn pháp lý của đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa, thay mặt các thành viên hai đoàn đàm phán lên nhận danh hiệu cao quý này.

Bà Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh bài học ngoại giao trong việc thuyết phục bạn bè quốc tế dù ở nhiều đảng phái, quan điểm chính trị khác nhau, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của một dân tộc nhỏ để bảo vệ quyền được sống trong độc lập, tự do, hòa bình.

Bà Hélène Luc, thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt cũng nhân dịp này chia sẻ những kỷ niệm về sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Pháp đối với hai đoàn đàm phán của Việt Nam tại Hội nghị Paris.

Chung Hoàng – Ảnh: Minh Thăng
vietnamnet.vn

Một tổng thống “bù nhìn”

Quan hệ đồng minh “lục đục”

Cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Ảnh tư liệu

QĐND – Sau hơn 4 năm đàm phán, từ 15-3-1968 đến 27-1-1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, đánh dấu thắng lợi hết sức quan trọng của chúng ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Cùng đó, trong quá trình diễn ra đàm phán hiệp định, sự rạn nứt, chiêu bài lợi ích, trò “lá mặt lá trái” trong cái gọi là “quan hệ đồng minh” của Mỹ với chính quyền miền Nam cũng lộ diện hẳn.

Hội nghị Pa-ri 4 bên gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là một diễn đàn công khai để trao đổi về những vấn đề chung nhưng không đề cập giải pháp cụ thể. Vì vậy, đã có các cuộc đàm phán bí mật giữa Việt Nam và Mỹ. Đến ngày 12-10-1972, sau những tranh cãi được đánh giá là nảy lửa trong các cuộc tiếp xúc riêng, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn an ninh Mỹ Kít-xinh-giơ (H. Kissinger) đã thống nhất được bản dự thảo Hiệp định Pa-ri gồm 9 điểm với những nội dung cơ bản là các bên tham chiến ngừng bắn tại chỗ, quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài rút về nước, tiến hành trao trả tù binh trong vòng 60 ngày, tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam…

Tuy mang tiếng là đồng minh của nhau, nhưng phía Mỹ hầu như không hề thông báo cho chính quyền Thiệu biết về thái độ phải nhượng bộ của mình trong quá trình đàm phán với Chính phủ VNDCCH. Mặc dù chính quyền Thiệu nhấn mạnh cần được nắm rõ thông tin về những cuộc tiếp xúc bí mật giữa Mỹ và Chính phủ VNDCCH và nhận được sự cam kết của Mỹ, thế nhưng cách thức đàm phán của Mỹ, mà cụ thể ở đây là Kít-xinh-giơ, đã biến Thiệu thành một “bù nhìn” không hơn không kém, vai trò của Thiệu bị làm lu mờ.

“Bánh ít đi, bánh quy lại”

Ngày 4-10-1972, Thiệu gửi thư cho Tổng thống Mỹ Ních-xơn (R.Nixon) nêu rõ: “Nếu chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra một quan niệm mới về một giải pháp hòa bình thì chính phủ Việt Nam rất mong muốn được nhận những thông tin cần thiết”. Đáp lại, trong bức thư ngày 6-10-1972, Ních-xơn viết cho Thiệu đã cam kết rằng: “Sẽ không có gì nảy sinh từ các cuộc hội đàm mà không có sự hội ý toàn diện, kịp thời và đầy đủ giữa chúng ta”. Như để xây dựng thêm lòng tin, ngày 14-10, Ních-xơn gửi cho Thiệu một bức thư “không chính thức” dài một trang rưỡi về những nội dung các cuộc hội đàm giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ tại Pa-ri từ ngày 8 đến 11-10-1972. Ních-xơn khăng khăng với Thiệu rằng đây là những thông tin “chi tiết”, mặc dù thực tế không phải vậy.

Ngày 16-10-1972, Ních-xơn viết thư và giao cho Kít-xinh-giơ chuyển đến tay Thiệu với đảm bảo rằng:“Ngài sẽ được tôi ủng hộ tuyệt đối và tôi muốn Ngài hiểu rằng niềm tin vững chắc của tôi trong giai đoạn mới này, sự tiếp tục lãnh đạo số phận miền Nam Việt Nam của Ngài là không thể thiếu được”. Trong thư, Ních-xơn nói rằng Kít-xinh-giơ sẽ giải thích chi tiết những điều khoản của hiệp định mà “Tôi tin chắc rằng sự thi hành nó sẽ đem lại cho Ngài và nhân dân Ngài khả năng tự vệ và quyết định số phận chính trị của miền Nam Việt Nam”. Mặc dù vậy, Kít-xinh-giơ lại không đi vào chi tiết những gì còn cần phải giải quyết với Hà Nội cũng như không cho Thiệu biết thời gian đã thỏa thuận với Hà Nội để ký văn bản hiệp định dự kiến vào ngày 31-10-1972.

Đến khi biết được mọi chuyện, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu mới “ngớ người” ra, vội vã lên tiếng kịch liệt phản đối bản dự thảo của hiệp định. Không thể chịu nổi trò hai mặt của người đồng minh, Thiệu tuyên bố rằng bản dự thảo là sự “bán đứng” quyền lợi VNCH của Mỹ.

Tới nước này thì Mỹ cũng chơi bài ngửa với Thiệu. Trong bức thư ngày 21-10-1972 gửi cho Thiệu, Ních-xơn đã hối thúc Thiệu chấp thuận ký vào hiệp định và đe dọa sẽ cắt viện trợ nếu không tuân theo: “Tôi nghĩ rằng quyết định của Ngài sẽ gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến khả năng tiếp tục cung cấp viện trợ cho Ngài và chính phủ miền Nam Việt Nam”. Phản ứng lại, trong cuộc gặp ngày 22-10 với Kít-xinh-giơ, Thiệu tuyên bố không ký vào hiệp định. Và như “vừa đấm vừa xoa”, ngày 29-10-1972, Ních-xơn tiếp tục viết thư cho Thiệu, đánh dấu một sự thay đổi rõ rệt về giọng điệu và nội dung so với những lá thư trước. Lời kêu gọi thống nhất hành động được đề cập đến 7 lần: “Tôi muốn ông hãy duy trì sự thống nhất đặc trưng cho quan hệ giữa chúng ta trong suốt bốn năm qua, nó là yếu tố cơ bản để thành công từ trước đến nay”. Giờ đây thì không còn cuộc tranh cãi xem có còn tin tưởng nhau nữa hay không mà chỉ còn là một sự trao đổi. “Bánh ít đi, bánh quy lại”, không đồng ý thì không viện trợ: “Sự mất đoàn kết sẽ làm tôi không thể tiếp tục giúp đỡ chính phủ và nhân dân miền Nam trong những ngày sắp tới dù hiện giờ tôi quyết tâm muốn giúp đỡ”.

Tráo trở và lật lọng

Dẫu có những bất đồng sâu sắc giữa Oa-sinh-tơn với Sài Gòn về những điều khoản của hiệp định Pa-ri nhưng Kít-xinh-giơ lại công khai xem những bất đồng đó là “những vấn đề có hai nghĩa, vấn đề ngôn ngữ học” và “những gì đang cản trở thỏa ước hiện nay là những vấn đề tương đối ít quan trọng hơn những vấn đề đã được giải quyết”. Kít-xinh-giơ vẫn luôn muốn nhấn mạnh với Thiệu rằng hiệp định là một thắng lợi của Mỹ và Sài Gòn. Sáng 26-10-1972, Kít-xinh-giơ đã tổ chức một cuộc họp báo tại thủ đô Oa-sinh-tơn, tuyên bố: “Hòa bình đã nằm trong tầm tay” và nhấn mạnh rằng chỉ còn lại những vấn đề tương đối ít quan trọng phải giải quyết. Chính những tuyên bố này của Kít-xinh-giơ đã góp phần không nhỏ đưa đến nhiệm kỳ Tổng thống lần 2 cho Ních-xơn vào ngày 7-11-1972.

Như vậy, xét trong bối cảnh cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1972 mà Ních-xơn ra ứng cử nhiệm kỳ 2 cũng như cuộc đàm phán kéo dài suốt hơn 4 năm, có thể thấy rõ được chiêu bài lợi ích, “lá mặt lá trái” của chính quyền Ních-xơn. Một mặt, Ních-xơn thúc giục Thiệu đồng ý ký hiệp định vốn thực chất không hề có lợi cho VNCH để phòng khi nếu Ních-xơn không tái cử thì theo hiệp định, quân Mỹ vẫn rút đi êm thấm, bỏ rơi lại Thiệu nhưng vẫn được cái tiếng là tuân thủ những gì đã cam kết.

Mặt khác, song song với đó là việc kéo dài thời gian đàm phán với ta hòng chiếm lòng tin của nhiều cử tri Mỹ, những người mong muốn chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam lúc bấy giờ. Mọi chuyện trở nên hai năm rõ mười khi Ních-xơn, sau khi biết được kết quả bỏ phiếu mang lại cho mình thêm một nhiệm kỳ nữa trong Nhà Trắng, đã ngay lập tức tỏ thái độ lật lọng. Con người nhẫn tâm và tráo trở này đã ra lệnh cho tiến hành một đợt không kích dữ dội và đẫm máu bằng cả pháo đài bay B-52 kéo dài suốt 12 ngày đêm ở Hà Nội, nhằm buộc chúng ta phải chấp thuận những điều kiện ngặt nghèo hơn của Mỹ trên bàn hội nghị.

Thế nhưng, thất bại hoàn toàn của Nhà Trắng trong trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội đã buộc Oa-sinh-tơn phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Pa-ri vào ngày 27-1-1973.

VĨNH AN
qdnd.vn

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình

TT – Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN đã được ký kết tại Paris ngày 27-1-1973 giữa bốn bên: VN Dân chủ cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa miền Nam VN và VN Cộng hòa.

Bà Nguyễn Thị Bình (bìa trái) trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế tại Paris - Ảnh: UPI

Đó là kết quả của cả một chặng đường đấu tranh ngoại giao cam go và căng thẳng, bắt đầu từ giữa năm 1968.

Nhân kỷ niệm “40 năm Hiệp định Paris”, Tuổi Trẻ ghi lại hồi ức của một số thành viên tham gia cuộc đàm phán. Đồng thời một số tài liệu mật từ phía chính quyền Sài Gòn cũng sẽ được đăng tải trong loạt bài này.

TT – 1972 là năm quyết định của cuộc hòa đàm Paris về chiến tranh VN. Đó cũng là năm đỏ lửa ở miền Nam và cũng là năm Mỹ sử dụng B-52 rải bom Hà Nội.

“Chúng tôi hết sức lo lắng cho Hà Nội…”

Bà Nguyễn Thị Bình, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, nhớ lại:

“Tôi nhớ mãi… vào những ngày cuối năm 1972, tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường phát triển có lợi cho ta, trong lúc nội bộ Mỹ mâu thuẫn gay gắt giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa và vấn đề bầu cử tổng thống ở Mỹ cận kề, Bộ Chính trị chỉ thị cho đoàn ta ở Paris đấu tranh để buộc Mỹ đi vào giải quyết thực chất vấn đề chiến tranh VN.

Các cuộc họp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và cố vấn Kissinger diễn ra dồn dập trong những ngày đầu tháng 10.

Đến 20-10, hai bên căn bản nhất trí trên văn bản dự thảo Hiệp định Paris do phía ta đưa ra.

Tổng thống Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoan nghênh thiện chí của ta và đề nghị ngày 31-10-1972 tiến hành ký kết.

Nhưng như mọi người đều biết, ngày 22-10 Tổng thống Nixon lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu, nên chưa có thể ký hiệp định như đã thỏa thuận.

Chúng tôi ở Paris lúc đó hiểu ngay là Mỹ lật lọng muốn kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử.

Quả thật, sau ngày 7-11 Tổng thống Nixon được tái đắc cử, trong cuộc họp ngày 23-11 giữa ta với Mỹ, Kissinger trắng trợn đòi sửa lại 60 điều trong văn bản thỏa thuận.

Tối 18-12, máy bay B-52 bắt đầu giội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác.

Tại cuộc họp bốn bên thường lệ ở Trung tâm hội nghị quốc tế Kleber, đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN và đoàn VN Dân chủ cộng hòa tuyên bố ngừng họp để phản đối hành động tráo trở và leo thang chiến tranh của Mỹ.

Thực tế, cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của Mỹ làm anh chị em chúng tôi ở hai đoàn đàm phán tại Paris hết sức lo lắng, không biết chúng ta sẽ đối phó ra sao. Nhưng khi được tin chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ, chúng tôi vô cùng sung sướng đến khóc được. Sau đó, nhiều chiếc B-52 bị bắn rơi trước sự thán phục của cả thế giới.

Sau 12 ngày đêm ném bom dữ dội xuống Hà Nội và các tỉnh, rất nhiều máy bay B-52 của Mỹ bị hạ… Mỹ không những thất bại nặng nề về quân sự mà cả về chính trị ngoại giao. Cả thế giới lên án Mỹ, cả Chính phủ Anh, người đồng minh thân cận nhất của Mỹ, cũng lên tiếng phản đối.

Vài ngày sau chính quyền Nixon gửi công hàm đề nghị họp lại và cuối cùng họ cũng phải chấp nhận hoàn toàn dự thảo hiệp định đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972”.

“Ông Thọ đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn…”

Ông Lưu Văn Lợi (thư ký của cố vấn Lê Đức Thọ tại hội nghị Paris) kể:

“Các phiên họp riêng giữa các anh Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger, cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon, đều là những ngày làm việc dài. Có ngày làm việc đến 13 tiếng, lấn sang cả đêm. Anh Lê Đức Thọ sinh năm 1911, lúc ấy hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp. Kissinger rất là mánh lới, vào đầu các cuộc họp riêng thì cứ đưa chuyện nọ chuyện kia dài lê thê và cứ nhè vào lúc chiều hay gần tối mới đưa việc chính ra tranh cãi. Đó là lúc mà ông ta nghĩ rằng ông già kia mệt mỏi rồi, chắc dễ ừ, dễ gật. Nhưng ông ta không biết anh Thọ! Đàm phán càng muộn, anh Thọ càng tỉnh và thậm chí có lúc diễn thuyết làm cho Kissinger sau này phải nói: “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật. Có những lúc ông ấy nói cả giờ, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại…”.

Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu – Kỳ, mà lại không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN. Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế nhưng hôm sau họ lại lật lại. Mỹ luôn luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: Anh sang bây giờ anh sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “Mỹ rút, quân ta ở lại”.

Tháng 10-1972, tưởng đàm phán xong rồi, Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói rằng hiệp định đã có thể hoàn chỉnh, rồi Kissinger cũng huênh hoang nói rằng không còn điểm bất đồng gì lớn nữa. Đã thỏa thuận là tháng 10 Kissinger sẽ sang Hà Nội ký tắt, rồi sau đó về Paris ký chính thức. Mỹ đã nhượng bộ không đòi quân Bắc VN rút, chỉ yêu cầu có một số biểu hiện, thí dụ như hồi hương một ít, hay di chuyển quân, tượng trưng cũng được, để máy bay chụp ảnh, chứng minh cho dư luận Mỹ biết rằng cũng đòi được quân Bắc VN rút lui.

Lúc đầu ta còn trả lời vòng vo, nhưng sau nói thẳng: người VN sống trên đất VN, mà quân đội miền Bắc gồm cả những người miền Nam tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ và Thiệu – Kỳ, chính là những người đã tập kết ra Bắc. Hơn nữa, người VN bất cứ ở đâu đều có nghĩa vụ đánh Mỹ.

Ngày 13-1, cuộc gặp riêng cuối cùng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris, đoàn của ta đến sớm, đoàn Mỹ thì đúng giờ hẹn đến sau. Chỗ hẹn là ngôi biệt thự ở ngoài có cái sân có thể để được mấy chiếc xe hơi. Mọi lần khi còn đương đàm phán với nhau, mình là chủ, theo phong tục VN ra đón khách vào, mấy ông nhà mình đứng tận ngoài cổng, bắt tay mời vào phòng họp. Lần gặp này báo chí đứng bên ngoài chờ chụp ảnh đã sẵn sàng rồi nhưng thấy trong này có vẻ im lặng. Tôi và mấy chuyên viên trong phái đoàn miền Nam ngồi ở một phòng trên gác nhìn ra cổng biệt thự.

Đúng giờ đoàn Kissinger đến thì người gác ra mở cổng. Kissinger không thấy có người ra đón nên ngỡ ngàng, tuy nhiên họ cũng hiểu vì sao mình tỏ thái độ lạnh nhạt ấy. Vào phòng, ông Lê Đức Thọ nổ luôn một loạt câu chỉ trích bên kia túi bụi. Bọn tôi ở trên gác nghe qua loa rất sướng. 

THANH HUYỀN – ĐỨC TUỆ
tuoitre.vn

_______________

Kỳ tới: Căng thẳng Sài Gòn – Washington

Căng thẳng Sài Gòn – Washington

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ 2:

TT – Bỏ qua thái độ của chính quyền Thiệu, ngày 8-10-1972 phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trao cho Hoa Kỳ bản đề nghị được trình bày dưới hình thức một hiệp định sẵn sàng để ký kết, có tên là “Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam”.

Tổng thống Thiệu (trái) và tổng thống Nixon vào thời điểm ấy đã không còn “mặn nồng” dù cùng nhìn về một hướng  – Ảnh: Bettmann/Corbis

Bút tích “biên  tập” của tổng thống Thiệu trên lá thư của Nixon

Từ ngày 8 đến 11-10-1972, hai phái đoàn Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa thảo luận kỹ lưỡng về các điều khoản của hiệp định. Đến ngày 17-10 tại Paris, hai bên duyệt lại lần cuối và đi đến thống nhất lịch trình ký kết hiệp định.

Sài Gòn công kích Washington

Việc chỉ được biết thông tin về bản dự thảo và thời gian biểu cho việc ký kết hiệp định thông qua dư luận báo chí khiến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra “bất phục” với Hoa Kỳ. Và “lo sợ” ký kết hiệp định với điều khoản quy định về cuộc tổng tuyển cử trong thời điểm phần đông dân chúng miền Nam Việt Nam đang hướng lòng theo cách mạng, sẽ đồng nghĩa với việc bị mất “chiếc ghế” tổng thống.

Do đó, trong thời gian từ ngày 26-10 đến 7-11-1972, ông Thiệu cấp tốc cử ba đại sứ đi đến 12 quốc gia ở châu Á nhằm rêu rao lập trường đối với bản dự thảo hiệp định, gián tiếp công kích Hoa Kỳ trước dư luận. Đồng thời ông ta liên tục gửi công hàm cho Hoa Kỳ, nói rõ rằng: “Những vấn đề cần phải giải quyết trong dự thảo hiệp định là những vấn đề căn bản chứ không phải là những vấn đề chi tiết hay ngôn ngữ như ông Kissinger đã tuyên bố” và đòi hỏi “Hoa Kỳ cho biết rõ về những gì Hoa Kỳ hứa hẹn với Bắc Việt theo như họ tiết lộ”.

Trước phản ứng quá mạnh của chính quyền Sài Gòn, ngày 29-10-1972 tổng thống Nixon gửi thư cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhằm làm giảm bớt sự công kích nhưng không có hiệu quả, trong khi dư luận ngày càng tỏ ra phản ứng mạnh trước sự trì hoãn của Nixon. Hãng UPI cho rằng Việt Nam đã đưa quả bóng sang sân của Hoa Kỳ.

Hãng tin Pháp AFP nhận xét: Nixon đã bị dồn vào chân tường và buộc phải lựa chọn, hoặc ký sớm hiệp định, bỏ rơi Thiệu, hoặc tiếp tục chiến tranh. Còn các nhân vật đối lập trong Quốc hội Hoa Kỳ đòi Nixon phải có trách nhiệm ký hiệp định sớm, không thể để Thiệu muốn làm gì thì làm và họ cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đang thách thức lòng tự trọng của nhân dân Hoa Kỳ. Vì vậy, ngày 2-11-1972, để xoa dịu dư luận, Nixon tuyên bố trên truyền hình bản dự thảo còn có những phần “mập mờ” “cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng”. Đồng thời để tỏ chứng minh Hoa Kỳ không “bỏ rơi” chính quyền Sài Gòn và việc ký kết hiệp định hoàn toàn nằm trong kế hoạch, Nixon ra lệnh cho máy bay chiến lược B-52 ném bom phía Bắc khu phi quân sự.

Lá thư răn đe của Nixon

Ngày 7-11-1972, vượt qua các chướng ngại, Richard Nixon tái đắc cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38. Ngay hôm sau, ngày 8-11-1972, Nixon gửi bức thư đầu tiên trong cương vị tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ răn đe Nguyễn Văn Thiệu và cũng để nói rõ kế hoạch của ông ta đối với việc ký kết Hiệp định Paris. Nội dung bức thư như sau:

“Hôm nay, sau cuộc tái đắc cử của tôi, tôi xin mở lại cuộc đối thoại giữa chúng ta về dự thảo hiệp định để chấm dứt chiến tranh.

Trước hết, tôi phải bày tỏ sự thất vọng sâu xa của tôi về cái mà tôi xem là một sự xa cách dần dần trong mối bang giao giữa hai quốc gia chúng ta, một khuynh hướng mà chỉ có hại cho những mục tiêu chung của chúng ta và có lợi cho kẻ thù. Việc tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu – BT) liên tục bóp méo và công kích hiệp định là không đúng (unfair) và biểu lộ tinh thần chủ bại (self defeating). Những sự công kích này vẫn tiếp tục, mặc dù chúng tôi đã lưu ý nhiều lần, kể cả bức thư của tôi cho tổng thống vào ngày 29-10. Những sự công kích này đã làm cho tôi ngỡ ngàng và rất lúng túng.

Tuy nhiên, dù trong trường hợp nào, chúng tôi cũng quyết định đi tới trên căn bản của dự thảo hiệp định và những sự sửa đổi mà tướng Haig sẽ thảo luận với tổng thống và chúng tôi quyết định đạt được từ phía Bắc Việt.

Tôi xin tổng thống nói với đại tướng Haig liệu chúng tôi có thể xúc tiến một cách vững chắc trên căn bản này hay không. Chúng tôi đã đến chỗ mà chúng tôi cần phải biết một cách minh bạch liệu tổng thống có hợp tác với chúng tôi trong nỗ lực mà tướng Haig sẽ vạch ra những đường hướng chánh cho tổng thống, hay là chúng tôi phải nghĩ tới những phương thức hành động khác mà tôi tin rằng có thể sẽ tai hại cho quyền lợi hai quốc gia chúng ta”.

Ngày 10-11-1972, tướng Haig sang Sài Gòn, tận tay chuyển thư của Nixon, cùng bản chương trình cam kết sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ đối với chính quyền Sài Gòn nhằm có thể đánh thắng được quân giải phóng sau khi ký kết hiệp định. Nhưng sự đảm bảo của Hoa Kỳ chưa xoa dịu được sự “lo sợ” của Nguyễn Văn Thiệu, đáp lại những lời lẽ vỗ về của Nixon trong bức thư là những đường gạch đỏ với các dấu chấm hỏi của Nguyễn Văn Thiệu. Đặc biệt là đối với câu: “Tôi tin chắc tổng thống đã đạt được một thắng lợi to lớn mà hiệp định này sẽ phê chuẩn”, Nguyễn Văn Thiệu đã phê trực tiếp vào bức thư: “Cũng tùy có thắng thật hay là cứ nói là thắng”. Đồng thời ông ta tiếp tục từ chối bản dự thảo hiệp định.

Ngày 11-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu gửi thư cho tổng thống Nixon.

Phản hồi của tổng thống Thiệu

Trong thư, ông Thiệu viết:

“Tôi đã nhận được thơ của tổng thống đề ngày 8-11 do tướng Haig chuyển cho tôi.

Trước hết tôi xin nhân cơ hội này chuyển tới tổng thống một lần nữa những lời ngợi khen nồng nhiệt và thành khẩn của tôi về sự thắng cử vẻ vang của tổng thống vào ngày 7-11 vừa qua.

Chúng tôi sẽ mãi mãi biết ơn sâu xa sự trợ giúp dồi dào mà Hoa Kỳ đã dành cho Việt Nam cộng hòa… và nhất là đối với sự đoàn kết anh dũng của Hoa Kỳ sát cánh với chúng tôi trong cuộc chiến đấu.

Tôi ý thức được rằng dân tộc Hoa Kỳ đã mệt mỏi vì cuộc chiến dai dẳng này…

Nếu có một giải pháp cho phép Bắc Việt duy trì lực lượng của họ tại Nam Việt Nam, cuộc chiến đấu và những hi sinh của chúng ta trong bao nhiêu năm sẽ mất hết lý do. Những đồng minh của chúng ta sẽ được coi như là kẻ gây hấn, quân đội Nam Việt Nam trong trường hợp này sẽ ở trong vị trí của những kẻ đánh mướn, chiến đấu cho một chính nghĩa sai lầm, một chính nghĩa mà chúng tôi không còn dám nói lên.

Trong bối cảnh này, tôi nghĩ thật là bất công khi tôi bị lên án đã bóp méo dự án thỏa hiệp khi tôi kêu gọi sự lưu ý đến khía cạnh quan trọng này của vấn đề…

Tôi không thể trình bày dài dòng về tất cả các điểm trong khuôn khổ thơ này. Vì vậy, tôi đã nhờ tướng Haig chuyển tới tổng thống những quan điểm của chánh phủ chúng tôi có nhiều chi tiết hơn”.

Ngày 12-11-1972, tướng Haig trở lại Washington báo cáo Nixon về chuyến công du Sài Gòn.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

____________________

Kỳ tới: Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!

Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ 3:

TT – 12-11-1972, tướng Haig trở lại Washington báo cáo tổng thống Nixon về chuyến công du Sài Gòn.

Tướng Alexander Haig – Ảnh: W.hogan

Tổng thống Nixon và ngoại trưởng Kissinger bàn thảo về cuộc hội đàm Paris về chiến tranh VN năm 1972 - Ảnh: AP

Ba ngày sau, ngày 15-11-1972, tướng Haig yêu cầu một phái viên chính quyền Sài Gòn, sắp rời khỏi Washington, tới Nhà Trắng để truyền đạt “ý chỉ” của Nixon. Tường trình của phái viên VN cộng hòa này cho thấy mục đích rõ ràng của Hoa Kỳ đối với việc “thúc ép” Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận bản dự thảo hiệp định. Đồng thời Nixon bảo đảm sẽ tăng cường vũ khí, trang bị cho quân đội Sài Gòn để có khả năng thắng được quân giải phóng và giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Và Hoa Kỳ rút ra khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.

Tướng Haig nói gì?

Sau cuộc gặp với tướng Haig, phái viên VN cộng hòa tường trình nguyên văn như sau:

“Trước khi rời Washington, tướng Haig có mời tôi đến tòa Bạch Ốc để nhờ tôi chuyển trình tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu – BT) các điểm sau đây mà tướng Haig cho là cực kỳ quan trọng liên quan đến tình hình và tương lai Việt Nam:

1. Sau khi sang Sài Gòn chuyến chót để trình bày các điểm về thỏa ước hòa bình với tổng thống, tướng Haig đã cố gắng trình lại tổng thống Nixon những điểm mà tổng thống (Thiệu) đã bảo tướng Haig “explorer” (thăm dò) xem ra sao. Sau khi vừa trình bày xong, tướng Haig cho biết rằng chưa bao giờ ông thấy tổng thống Nixon giận dữ như thế và cho rằng tổng thống (Thiệu) là một “obstacle” (trở ngại) cho việc tiến đến hòa bình. Và tổng thống Nixon bảo, theo lời tướng Haig: “Tôi sẽ không nhượng thêm một điều khoản nào nữa và nếu tổng thống Thiệu cương quyết giữ lập trường thì chúng tôi sẽ đi đôi (bilateral) với Bắc Việt và điều này chúng tôi sẽ tiến hành ngay trong “week-end” (cuối tuần) này bằng cách gửi ông Kissinger sang Paris gặp Bắc Việt. Chừng ấy Sài Gòn sẽ không còn mong một sự giúp đỡ cỏn con nào về phần Hoa Kỳ”.

Tướng Haig tiếp: “Hôm nay, theo tôi biết (ngày 15-11-1972) tại Sài Gòn, đại sứ Bunker được chỉ thị của tổng thống Nixon trao lại cho tổng thống một thư riêng cũng nhấn mạnh về điểm yêu cầu của Hoa Kỳ. Xin tổng thống (Thiệu) hợp tác với Hoa Kỳ để giúp họ đi sớm đến thỏa hiệp mà Hoa Kỳ cho rằng sẽ không thiệt thòi cho VN cộng hòa. Đây là bức thư thứ ba hoặc thứ tư gì rồi, nhưng vẫn chưa thấy tổng thống (Thiệu) đáp ứng”.

Tướng Haig yêu cầu tôi trình tổng thống (Thiệu) điểm này nhiều nhứt và cho ông ấy biết phản ứng của tổng thống (Thiệu) lần này ra sao. Tôi hứa sẽ trình sớm và điện thoại riêng cho tướng Haig đêm hôm qua (17-11-1972).

2. Tôi (tức tướng Haig – BT) biết tổng thống Thiệu e ngại việc có thể bị cộng sản lấn át, nhưng chúng tôi còn có đủ lực để ngăn chặn cộng sản làm điều này, với đệ thất hạm đội và không lực Mỹ tại Thái Lan.

3. Về điểm rút quân Bắc Việt, tổng thống (Thiệu) cứ quyết liệt đòi quân Bắc Việt phải rút khỏi miền Nam, điều này có bao giờ có thể họ chấp nhận, nhưng chúng tôi đã có giải pháp bớt quân hoặc giải ngũ quân hai bên trên căn bản 1-1 (một đổi một – BT). Như vậy sẽ không còn quân Bắc Việt và quân lực VN cộng hòa vẫn còn quân nhiều hơn để giữ vững lãnh thổ. Giải pháp này cũng đã khó cho họ chấp nhận rồi, làm thế nào đòi họ rút hết được. Nhưng chúng tôi hi vọng họ sẽ chấp nhận. Phía Hoa Kỳ chúng tôi đã thăm dò và có sự đồng ý của Nga Sô và Trung Cộng giúp đỡ thuyết phục Bắc Việt nhận giải pháp này để chấm dứt chiến tranh. Tóm lại, giải ngũ hoặc giảm quân trên căn bản 1-1 thực hiện trong vòng ba tháng có quốc tế kiểm soát, như vậy VN cộng hòa không phải lo ngại về sự có mặt của quân Bắc Việt tại miền Nam.

4. Vùng vĩ tuyến cũ (DMZ) sẽ được tái lập và tôn trọng là điều chúng tôi cũng sẽ thảo luận và hi vọng thành công với CSBV (Việt Nam dân chủ cộng hòa – BT).

5. Về “coalition” (liên hiệp – BT), đâu có vấn đề “coalition” mà đó chỉ là một “Advisory Committee” (hội đồng cố vấn – BT) không quyền hạn gì và chỉ đưa góp ý kiến về thể thức tuyển cử thôi. Chúng tôi luôn luôn chống đối “coalition” nên không bao giờ để thua CS (cộng sản – BT) điều này.

6. Hoa Kỳ đã cố gắng rất nhiều khi thương thuyết đi đến thỏa hiệp với Bắc Việt để giữ vững tư thế lãnh đạo của tổng thống Thiệu và chúng tôi biết tổng thống Thiệu sẽ “stay forever” (ở lại mãi mãi – BT).

7. Hoa Kỳ đã đưa trên 1 tỉ Mỹ kim “hardware” để tăng cường quân lực VN cộng hòa đủ mạnh trước khi có ngừng bắn, và chúng tôi sẽ tiếp tục giúp thêm cả viện trợ quân sự lẫn kinh tế với mức dồi dào để giúp tổng thống Thiệu giữ vững tư thế lãnh đạo của ông.

8. CSBV biết rõ Hoa Kỳ sẽ rút và quân Đại Hàn cũng sẽ rút hết đến tháng 6-1972.

9. Chúng tôi (Hoa Kỳ – BT) không muốn cho CSBV biết sự rạn nứt giữa Mỹ và VN cộng hòa, nên chúng tôi vẫn tuyên bố: việc thăm dò giữa VN cộng hòa và Hoa Kỳ rất “satisfied” (hài lòng – BT). Trong lúc đó, sáng nay (15-11-1972) tôi mở báo ra xem thì thấy ở Sài Gòn, ông Nhã, ông Lắm tuyên bố trái ngược, gây “embarras” (khó khăn – BT) cho chúng tôi không ít.

10. Việc VN cộng hòa muốn tham dự mật đàm, chúng tôi hoan nghinh (welcome) ý kiến này và sẽ thảo luận với Bắc Việt. Theo tôi biết thì tổng thống Thiệu cử đại sứ Lâm tham dự và đại sứ Lâm sẽ được chúng tôi “briefer” rõ từng điểm mỗi khi xong một buổi mật đàm, để theo dõi và góp thêm ý kiến.

11. Tóm lại chúng tôi (Hoa Kỳ – BT) khẩn khoản yêu cầu tổng thống Thiệu “collaborer” (hợp tác – BT) với chúng tôi và cần “solidaire” (đoàn kết – BT) với chúng tôi mới mong có giải pháp tốt cho VN cộng hòa nếu không “It will be the end” (nó sẽ được kết thúc – BT)”.

Nguyên tắc “sinh tử” của tổng thống Thiệu

Ngày 20-11-1972, trong khi chờ đợi hồi đáp của chính quyền Sài Gòn, tại cuộc đàm phán mật ở Paris, Hoa Kỳ đã trình bản dự thảo hiệp định với những sửa đổi theo chiều hướng quan điểm của chính quyền Sài Gòn. Nhưng sau năm ngày thảo luận, Hoa Kỳ không thể làm lay chuyển lập trường kiên định của những người cộng sản. Dư luận đánh giá cuộc gặp này là một bước thụt lùi lớn so với trước đó một tháng vì Hoa Kỳ đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn.

Tại Sài Gòn, ngày 29-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu cử Nguyễn Phú Đức – phụ tá đặc biệt về ngoại vụ – tới Washington hội kiến Nixon. Tại Washington, Nguyễn Phú Đức trao cho Nixon thư của Nguyễn Văn Thiệu, trong đó nói rõ yêu sách của ông ta:

“Phía cộng sản vẫn đòi hỏi chúng tôi phải đầu hàng vô điều kiện mặc dù trên bề mặt họ chỉ sửa đổi vài điểm chỉ có tính cách kỹ thuật… Và họ cũng vẫn buộc chúng tôi phải chấp nhận cái mà họ gọi là cơ cấu chính quyền lấy tên là hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc với ba thành phần ngang nhau, với mục đích tổ chức tổng tuyển cử xóa bỏ chế độ tại miền Nam…

Như tôi đã vạch rõ trong giác thư ngày 18-11 vừa qua của Chính phủ VN cộng hòa và bức thư riêng của tôi gửi cho tổng thống cùng ngày, tôi quan niệm rằng đây là hai nguyên tắc chính yếu cho giải pháp chiến cuộc VN. Hơn nữa, những nguyên tắc ấy còn là những nguyên tắc sinh tử của quốc gia chúng tôi.

Về nguyên tắc thứ nhất, là sự hiện diện đương nhiên của quân Bắc Việt tại miền Nam VN sau khi hiệp định được ký kết, chúng tôi quan niệm đây là điểm then chốt, quyết định sự sống còn của miền Nam…

Về vấn đề mọi giải pháp chính trị cho nội bộ miền Nam… thành lập một hội đồng hòa giải quốc gia và dân tộc với hai thành phần đồng đều nhau để thương thuyết và giải quyết mọi vấn đề quân sự chính trị nội bộ miền Nam…

Chúng tôi không mong muốn gì hơn là chủ thuyết của tổng thống được tiếp tục cho VN cũng như cho các quốc gia nhỏ khác ở Đông Nam Á như tổng thống đã chủ trương và chương trình VN hóa quân sự lẫn kinh tế được tiếp tục để VN cộng hòa có đủ khả năng tự lực dần dần…”.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973
qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

—————————————

Kỳ tới: Bước ngoặt lịch sử

Bước ngoặt lịch sử

Hội đàm Paris – Đường tới hòa bình – Kỳ 4:

TT – Bất chấp việc “cơm không lành, canh không ngọt” giữa Sài Gòn và Washington, ngày 4-1-1973 phiên họp thứ 172 Hội nghị Paris về Việt Nam được khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, đại lộ Kleber, Paris.

Ông Lê Đức Thọ (phải) trò chuyện riêng với cố vấn Kissinger – Ảnh: Bettmann/Corbis

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (giữa) trả lời họp báo tại Paris tháng 1-1973 – Ảnh: Jacques Haillot

Phiên họp có sự tham dự của đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nguyễn Minh Vỹ, đại diện phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi, đại sứ William Porter – trưởng phái đoàn Hoa Kỳ và Phạm Đăng Lâm – trưởng phái đoàn Sài Gòn.

Vẫn bất đồng quan điểm

Được quyền phát biểu khai mạc phiên họp, Phạm Đăng Lâm tiếp tục phủ nhận vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và đòi hỏi giải quyết vấn đề Việt Nam như trường hợp của Đại Hàn và nước Đức. Ông ta cho rằng ở Việt Nam “có hai quốc gia Việt Nam biệt lập”.

Bác bỏ các luận điệu trên, đại diện phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi kiên định khẳng định: “miền Nam Việt Nam có hai chính quyền và hai quân đội” và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam “phải cùng phân chia quyền hành với chính phủ Sài Gòn”. Đồng quan điểm trên, đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nguyễn Minh Vỹ yêu cầu Hoa Kỳ ký kết hiệp định mà không được đòi hỏi thay đổi nội dung dự thảo ngày 20-10-1972.

Ngày 7-1-1973, cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris chuẩn bị cho cuộc gặp riêng với Kissinger. Tại đây ông tuyên bố: “Từ ngày 13-12-1972, chỉ còn vài vấn đề chưa được giải quyết và có nhiều hi vọng sẽ có kết quả nhanh chóng”. Đồng thời ông lên án Hoa Kỳ ném bom miền Bắc Việt Nam, làm cản trở mật đàm bằng các yêu sách đòi thay đổi căn bản nội dung bản dự thảo hiệp định. Trong khi tại Washington, tổng thống Nixon nhiều lần triệu tập tiến sĩ Kissinger để ra chỉ thị cho cuộc mật đàm. Khi đến Paris, Kissinger tuyên bố “sẽ cố gắng hết sức để mật đàm tiến triển và đem lại kết quả”.

Cuộc mật đàm thứ 23

Ngày 8-1-1973, cuộc mật đàm thứ 23 diễn ra và kéo dài đến ngày 14-1-1973 với thái độ lạnh nhạt của cả hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ. Nhưng đến gần kết thúc cuộc mật đàm, thái độ của hai trưởng phái đoàn đột nhiên trở nên cởi mở. Ngày 12-1-1973, lần đầu tiên các chuyên viên (phụ trách các vấn đề kỹ thuật – BT) đã cùng họp chung với hai trưởng đoàn. Đến cuối ngày, hai phái đoàn đã cùng chụp ảnh lưu niệm. Sau đó, Kissinger trở về Washington báo cáo kết quả mật đàm với tổng thống Nixon.

Mặc dù nội dung phiên họp mật không được tiết lộ, nhưng các sự kiện ngoại giao quốc tế trong thời gian cuộc đàm phán diễn ra, cho thấy tiến trình đàm phán hòa bình về Việt Nam đã có sự tiến triển rõ nét. Ngày 9-1-1973, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kurt Waldheim tuyên bố trong một cuộc họp báo: “Liên Hiệp Quốc đã được mời tham dự một cuộc hội nghị về Việt Nam có thể diễn ra trong tương lai và lúc đó Liên Hiệp Quốc sẽ dự liệu đóng góp vào việc tái thiết Đông Dương”.

Diễn tiến trên cho thấy kết thúc phiên mật đàm thứ 23, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã cơ bản thống nhất nội dung dự thảo và chỉ còn lại các vấn đề mang tính kỹ thuật.

Ngày 15-1-1973, bắt đầu cuộc mật đàm kỹ thuật kéo dài một tuần giữa đại diện Hoa Kỳ Sullivan với đại diện Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nguyễn Cơ Thạch để hoàn thiện bản dự thảo hiệp định. Trong khi đó, cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng họp với phó trưởng đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi thông báo về tiến trình ký kết hiệp định.

Ở Washington, ngày 16-1-1973, tổng thống Nixon ra lệnh ngừng oanh tạc toàn bộ miền Bắc Việt Nam. Trong khi Kissinger gặp ngoại trưởng Hoa Kỳ Roger chuẩn bị cho việc ký kết. Còn đại tướng Haig được cử đi Đông Nam Á để trao đổi với chính quyền Sài Gòn và các chính quyền thân Hoa Kỳ tại khu vực này, thông báo sự tiến triển của tiến trình đàm phán.

Phiên họp cuối cùng

Trong sự biến chuyển mau lẹ sau phiên mật đàm thứ 23 giữa Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ, ngày 18-1-1973 phiên họp thứ 174 – phiên họp cuối cùng của Hội nghị Paris về Việt Nam, được khai mạc với sự tham dự của các phó trưởng đoàn. Phiên họp đã diễn ra với lời lẽ hòa dịu và các bên cùng thống nhất đi đến ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngay cả Nguyễn Xuân Phong, phó trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn, đến lúc này cũng không còn đòi hỏi bất cứ một yêu sách nào mà tỏ ra hết sức ôn hòa:

“Cuộc hòa đàm đã tiến tới giai đoạn cho thấy ánh sáng lập lòe của hòa bình… Chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận mọi cố gắng cần thiết khác để dồn hết nỗ lực khắc phục những khó khăn trở ngại cuối cùng và phải tỏ một thái độ, không phải hấp tấp vội vã mà bình tĩnh và nhẫn nại…”.

Trong khi phó trưởng đoàn Hoa Kỳ Heyward Isham truyền đạt lại quan điểm chấp nhận đàm phán để đi đến ký kết hiệp định của tổng thống Nixon.

Phó trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, ông Đinh Bá Thi, sau khi nêu lên hiện tình chiến tranh tại miền Nam Việt Nam, đã cho rằng vấn đề giải quyết hòa bình ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn tùy thuộc Hoa Kỳ. Phát biểu của ông nêu rõ: “Hòa bình ngay ở Việt Nam là đòi hỏi bức thiết của nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Chánh phủ Mỹ không thể làm ngơ mãi trước đòi hỏi bức thiết đó. Không những Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mà còn phải từ bỏ chánh sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chấm dứt mọi sự can thiệp của họ ở miền Nam Việt Nam. Họ phải ký ngay Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Phát biểu kết thúc phiên họp, cũng là kết thúc Hội nghị Paris về Việt Nam, phó trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ông Nguyễn Minh Vỹ, sau khi tổng kết lại quá trình đàm phán tại Paris, tỏ rõ sự hoan nghênh và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ông phát biểu:

“Thưa quý vị,

Mục đích Hội nghị bốn bên về Việt Nam tại Paris là tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam. Chúng tôi nhấn mạnh: để giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam, Mỹ hãy chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chấm dứt mọi hành động nhằm tăng cường lực lượng và yểm trợ cho quân đội Sài Gòn; chính quyền Sài Gòn hãy chấm dứt ngay mọi cuộc hành quân càn quét lấn chiếm, mọi hành động khủng bố nhân dân và tù chính trị. Các bên hãy nhanh chóng ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” trên cơ sở tôn trọng những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”.

Đến đây, Hội nghị Paris về Việt Nam, sau bốn năm và hơn tám tháng, gồm hai phiên họp về thủ tục (phiên họp ngày 10-5-1968 và phiên họp ngày 18-1-1969), 202 phiên họp chính thức (28 phiên họp hai bên giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ cộng hòa và 174 phiên họp bốn bên), đã kết thúc với kết quả các bên thống nhất đi đến ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973
qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

———————————————

Kỳ cuối: Cánh cửa hòa bình đã hé mở…

Cánh cửa hòa bình đã hé mở…

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ cuối:

TT – Lúc đầu mình đề ra hai yêu cầu, thứ nhất là Mỹ rút hết quân và rút vô điều kiện, thứ hai Mỹ phải xóa bỏ chính quyền tay sai. Dần dần mình rút lại từ “chính quyền tay sai” thành “chính quyền”. Bấy giờ chúng tôi hiểu là ở nhà, đặc biệt là đồng chí Lê Duẩn, mong muốn ký hiệp định.

Ngoại trưởng Mỹ W.Rogers (ngồi thứ ba, từ trái sang) đang đặt bút ký Hiệp định Paris – Ảnh: R.L.Knudsen

Cái bắt tay này đã kết thúc chuỗi mật đàm kéo dài ba năm giữa ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger. Hai ông được trao giải Nobel hòa bình năm 1973, nhưng ông Lê Đức Thọ từ chối nhận giải – Ảnh: Getty Images

Trao trả tù binh là công việc được thực thi ngay sau Hiệp định Paris. Trong ảnh: các chiến sĩ quân giải phóng khiêng một tù binh Mỹ bị thương đến điểm trao trả, tại Lộc Ninh 1973 – Ảnh: Herman Kokojan

Ta không bao giờ nhân nhượng chuyện Mỹ phải rút quân, còn việc với chính quyền Sài Gòn thì có thể có một hình thức nhân nhượng nào đó để ký được hiệp định. Mỹ rút thì tương quan lực lượng sẽ thay đổi rất nhiều. Vì thế tinh thần của việc chuẩn bị ký hiệp định là ở miền Nam sẽ tồn tại hai chính quyền song song, hai lực lượng quân đội và hai vùng kiểm soát. Chúng tôi được truyền đạt những điều đó ngay từ lúc đang chuẩn bị những văn bản cuối. Lúc bấy giờ chị Bình và các anh chị trong đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời buồn lắm. Chị Nguyễn Thị Chơn, sang thay chị Đỗ Duy Liên, nói rằng như vậy nghe không được. Bao nhiêu khẩu hiệu mình đòi đánh đổ chính phủ Sài Gòn, giờ mình giữ nó lại, hai bên vẫn phải ngồi bàn này khác… Nhưng về sau, khi bên nhà nói rõ được mục đích và ý tứ của mình thì chúng tôi thông suốt lắm, đến lúc ký không có chuyện tâm trạng buồn nữa, ký kết được hiệp định rất vui.

Tuy thế, mấy hôm trước lễ ký thì bọn chúng tôi làm rất cực. Sau khi xong bản ký tắt của ông Lê Đức Thọ với ông Kissinger, hai bên phân công việc in văn bản. Việt Nam dân chủ cộng hòa in các văn bản bằng tiếng Việt, còn phía Mỹ in các văn bản bằng tiếng Anh. Và bản gốc bằng tiếng Việt và tiếng Anh, nhưng ngôn ngữ đàm phán là tiếng Pháp nên phải dịch ra tiếng Pháp, y như lúc thương lượng. Hôm 24 hay 25, chúng tôi qua nhà in nhỏ của một Việt kiều yêu nước, ông Trần Quang Khải. Mình in một hiệp định lớn mà trời ơi, văn bản lộn xộn đến mức có một số đoạn in bản tiếng Việt thì như thế này mà bản tiếng Pháp lại khác đi. Ví dụ, có văn bản ghi rõ tên bốn bên ký, nhưng có văn bản chỉ ghi Hoa Kỳ và các bên Việt Nam.

Tôi nhớ là lúc đầu chỉ phân công mấy anh ở bên đoàn miền Bắc làm chính, bên đoàn miền Nam chúng tôi có mấy người nhưng để đọc dò lại câu chữ thôi. Nhưng đến khi rối lung tung beng, ông Nguyễn Cơ Thạch và ông Phan Hiền phải kéo quân xuống nhà in. Bọn tôi mất hết ngày trời, sắp đưa ra ký chính thức rồi mà đêm đó văn bản vẫn còn chưa đâu vào đâu. Thậm chí Kissinger còn nói đùa với ông Nguyễn Cơ Thạch là nếu chúng ta không in được bản này thì cả tôi với ông “bay đầu” và chuyện sẽ phức tạp vô cùng. Về sau chúng tôi nói “giờ nên giao lại cho một người có kinh nghiệm nhất đọc lại văn bản”, thế là giao cho anh Đặng Nghiêm Bái. Ông ấy tiếng Anh giỏi, tiếng Pháp giỏi và cả tiếng Việt cũng giỏi. Ông ngồi bình tĩnh làm, có khi mấy người cùng giúp ông chỗ này chỗ khác thì cuối cùng mới xong những văn bản này.

ĐỨC TUỆ – THANH HUYỀN ghi

Ngày 20-1-1973, Nguyễn Văn Thiệu cử Vĩnh Lộc – trung tướng – cầm đầu phái đoàn quân sự Sài Gòn đi Paris. Ngày 21-1-1973, Trần Văn Lắm – tổng trưởng ngoại giao chính quyền Sài Gòn – “hấp tấp” bay tới Paris, chuẩn bị ký kết hiệp định.

Ngày 23-1-1973, tại cuộc mật đàm thứ 24 – cuộc mật đàm cuối cùng của tiến trình đàm phán về Việt Nam giữa cố vấn Lê Đức Thọ và tiến sĩ Henry Kissinger, kéo dài gần ba năm từ tháng 2-1970, hai bên đã hoàn thành và cùng ký tắt vào bản văn hiệp định.

11 giờ (giờ Paris), ngày 27-1-1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, đại lộ Kleber, Paris, đại diện bốn bên, gồm: Bộ trưởng ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ William P. Rogers và Trần Văn Lắm – tổng trưởng ngoại giao chính quyền Sài Gòn, cùng ký kết vào hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, trước sự đón chào của hàng vạn người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Hôm 23-1 phiên họp riêng cuối cùng, chỉ có ông Lê Đức Thọ, ông Xuân Thủy, Kissinger và một số người nữa, sau đó là lễ ký tắt hiệp định và trao bút cho nhau.

Mấy hôm trước, tôi đã cùng một anh trong đoàn đi ra phố mua cả hộp bút phớt. Tôi nhớ là lúc ký tắt thì cứ ký một văn bản xong lại thay bút, anh em chúng tôi giữ để còn đưa vào bảo tàng, đưa Bộ Ngoại giao, rồi giữ kỷ niệm. Tôi cũng từng giữ được một cây nhưng sau Lưu trữ trung ương lấy mất! Hôm ký tắt cười ra nước mắt. Phía Mỹ thì hiện đại, ký xong đóng dấu ngay, họ có một cái máy, gí vào chì là xong. Còn bên mình, có một ông mang cái xoong khuấy bột trẻ con đến, ông ấy lấy tờ tin, đốt ngay ở trong phòng hội nghị quốc tế để làm chảy xi ra, rồi mới đóng dấu được.

Tôi không dự lễ ký chính thức hôm 27-1 vì ngày 26 tôi theo đồng chí Lê Đức Thọ về Mạc Tư Khoa. Ngay tối hôm đó, Liên Xô tổ chức mittinh hoành tráng ở nhà Công đoàn, có các nhà lãnh đạo Liên Xô đến dự. Máy bay đưa ông Thọ về lại quay sang Paris đón ông Nguyễn Duy Trinh, rồi cả đoàn cùng về nhà. Đi qua Trung Quốc thì vào đúng tết ta.

Ông LƯ VĂN LỢI
(thư ký cố vấn Lê Đức Thọ)

HÀ ĐĂNG
tuoitre.vn

____________

Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: Hội đàm Paris – đường tới hòa bình
>> Kỳ 2: Căng thẳng Sài Gòn – Washington
>> Kỳ 3: Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!
>> Kỳ 4: Bước ngoặt lịch sử

Hiệp định Paris tạo tiền đề cho thống nhất đất nước

TTO – Sáng 25-1, buổi lễ kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris long trọng cấp nhà nước đã diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (bìa phải) trao tặng huân chương Anh hùng lực lượng vũ trang cho nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Paris, bìa trái) và ông Lưu Văn Lợi – cố vấn đặc…

Bà Helene Luc (áo đỏ) – thượng nghị sĩ danh dự, chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp – Việt có rất nhiều đóng góp giúp đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Paris – xúc động ôm người bạn cũ Nguyễn Thị Bình (thứ hai từ trái sang) – Ảnh: Việt Dũng

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bắt tay các đại biểu khách mời quốc tế tới dự lễ Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam – Ảnh: Việt Dũng

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã điểm lại những khó khăn trong quá trình đàm phán hiệp định cũng như ý nghĩa, bài học của hiệp định này. “Hiệp định Paris là thắng lợi của nhân dân Việt Nam và của nhân dân yêu hòa bình trên thế giới” – ông nói.

“Cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân và dân ta trên chiến trường và đấu tranh ngoại giao tại Paris đều nhằm buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hàng triệu người con của Tổ quốc đã hi sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Hiệp định đã mở ra thời kỳ mới, tạo tiền đề vững chắc cho quân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc” – Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Hai phần phát biểu tiếp theo của nguyên phó chủ tịch nước – trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình và thượng nghị sĩ Pháp Helene Luc, chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, đã khiến hội trường xúc động khi hai bà điểm lại những ấn tượng, ký ức về một thời đấu tranh ngoại giao cam go, khốc liệt không kém gì cuộc đấu tranh trên chiến trường.

Bà Bình nói: “Chúng tôi và một số cán bộ từ nhiều cơ quan chức năng được phân công tham gia hai đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tôi nghĩ chúng tôi đã hết sức cố gắng trong cuộc đàm phán đó”. Động lực lớn nhất để đoàn đàm phán kiên trì đấu tranh, bà Bình nói, là lợi ích tối cao của dân tộc và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Cuộc thương lượng kéo dài hơn 4 năm và 8 tháng đã trải qua 174 cuộc họp chính thức, công khai cùng hàng chục cuộc tiếp xúc bí mật giữa cố vấn Lê Đức Thọ, trưởng đoàn Xuân Thủy và cố vấn tổng thống Nixon (Mỹ) là Henry Kissinger.

Bà Bình nhớ lại: “Hiệp định này ký được là kết quả của cuộc chống xâm lăng lâu dài trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và là kết quả của đường lối độc lập, tự chủ và phát huy đoàn kết quốc tế”.

Dịp này, nguyên trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình đã không quên vinh danh công lao của các chiến sĩ và đồng bào cả nước suốt hơn 20 năm đấu tranh cho độc lập, tự do, thống nhất nước nhà. “Chúng ta hiểu là nếu không có Mậu Thân 1968, không có giải phóng Quảng Trị trong 81 ngày đêm, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có hậu phương lớn miền Bắc vì tiền tuyến lớn miền Nam… thì sẽ không có Hiệp định Paris, và do đó sẽ không có đại thắng mùa xuân 1975. Hàng triệu người dân yêu hòa bình ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, Mỹ Latin và châu Đại Dương cũng đã góp phần vào thắng lợi đó”.

Với bà, sự tham gia của Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam trong quá trình đàm phán là một thắng lợi chính trị – ngoại giao quan trọng, vô hình trung buộc Mỹ thừa nhận các tầng lớp nhân dân Việt Nam đang đấu tranh chống lại sự hiện diện của Mỹ và chính quyền thân Mỹ, đồng thời bác bỏ luận điệu của Mỹ là miền bắc xâm lược miền nam.

Đến từ Pháp, bà Helene Luc (sinh năm 1932) hiện là thượng nghị sĩ, ủy viên Ủy ban Đối ngoại và Ủy ban Quốc phòng của Thượng nghị viện Pháp và chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt đã thay mặt bạn bè quốc tế nhìn lại giai đoạn hai đoàn đàm phán Việt Nam có mặt ở Paris cũng như ảnh hưởng của phong trào phản chiến ở Pháp và các nước khác trên thế giới.

Bà Luc nhớ lại: “Đoàn đàm phán của VN Dân chủ Cộng hòa đến Pháp ngày 10-5-1968, đúng lúc đang sục sôi không khí đấu tranh: đông đảo công nhân, sinh viên đã tập hợp xuống đường, hô vang “Hồ Chí Minh” để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Đối với một thế hệ, hình ảnh trên biểu trưng cho sự phản đối sức mạnh Mỹ và sự thay đổi xã hội triệt để.” Trong những lần gặp gỡ nhau ở Choisy le Roi, bà Luc nhớ Bộ trưởng Xuân Thủy luôn khẳng định: chúng tôi không bao giờ nhượng bộ, bắc nam chắc chắn sẽ thông nhất và chúng tôi sẽ kiên trì đấu tranh cho thắng lợi này.

Là một trong những người gắn bó với Việt Nam, bà đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng quan hệ đoàn kết truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Pháp. Bà đã cùng những người khác trong Đảng Cộng sản Pháp và thành phố Choisy-Le-Roi bố trí nơi ở, làm việc và tận tình giúp đỡ Phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham dự đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam trong những năm 1968-1973.

HƯƠNG GIANG
tuoitre.vn

Trưng bày văn bản gốc Hiệp định Paris

TT – Lần đầu tiên, văn bản gốc Hiệp định Paris được giới thiệu tới công chúng tại triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về VN” khai mạc ngày 23-1 và kéo dài đến 28-1 ở Hà Nội.

Nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhớ lại những khoảnh khắc, hình ảnh của mình tại triển lãm ảnh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris – Ảnh: V.DŨNG

Đây chỉ là một trong hàng chục hiện vật đang được trưng bày tại Trung tâm triển lãm 29 Hàng Bài. Công chúng được chào đón tới triển lãm lớn nhất từ trước đến nay về chủ đề này, với 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách. Tất cả nhằm tái hiện những năm tháng chiến tranh và sự phối hợp tài tình giữa mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, sự ủng hộ của nhân dân yêu hòa bình thế giới để đi tới Hiệp định Paris giành lại hòa bình cho VN.

H.GIANG – VIỆT DŨNG
tuoitre.vn

Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế

Hôm qua, 26-1, tại Hà Nội, Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam đã tổ chức cuộc giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế”. Tham gia cuộc giao lưu là những vị khách quốc tế, các nhân chứng lịch sử đã tham gia vào quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cách đây 40 năm.

Không khí ấm áp cuộc giao lưu tại Hà Nội ngày 26-1

Tại buổi giao lưu, các đại biểu Việt Nam và các đại biểu quốc tế một lần nữa khẳng định Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam. Đây cũng là thắng lợi của tất cả những ai trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ông Ramsey Clark: người đã từng làm việc 8 năm trong các chính quyền Mỹ và là Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ năm 1967 – 1969 dưới thời Tổng thống Johnson chia sẻ: Ngay khi ở trong chính quyền tôi đã không tán thành những chính sách chiến tranh do giới quân sự đề ra. Sau khi rời chính quyền, tôi đã tham gia vào phong trào hoà bình đòi chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã cùng vợ sang Paris, gặp phái đoàn đàm phán của Việt Nam để tìm hiểu về thực tế Việt Nam. Sau cuộc gặp này, tôi đã tham gia vào phong trào đấu tranh vì hoà bình ở Việt Nam. Vào tháng 8-1972, tôi đã có chuyến thăm đáng nhớ tới Việt Nam. Lần ấy, tôi đã đi 6 tỉnh, thành phố miền Bắc để chứng kiến những nơi bị Mỹ ném bom và ghi lại nhiều hình ảnh rất đỗi giản dị về Việt Nam, như đê sông Hồng hay cảnh người dân đang lao động. Khi trở về Mỹ, những bài báo và những bức ảnh về chuyến thăm này đã được đăng trên tờ Life Magazine đã giúp đông đảo người Mỹ hiểu rằng: hệ thống đê của Việt Nam không phải là những cơ sở quân sự. Khi ấy, tại Mỹ cũng nổ ra cuộc tranh luận nóng bỏng về việc quân đội Mỹ có đánh phá hệ thống đê của miền Bắc hay không. Bài báo đã thức tỉnh dư luận Mỹ và nhiều người đã lên tiếng kiến nghị Liên Hợp Quốc ngăn chặn việc này. Cuối cùng kế hoạch ném bom đê sông Hồng của quân đội Mỹ đã buộc phải hủy bỏ.

Ông André Marcel Menras ngay sau khi tốt nghiệp trường Đại học sư phạm thành phố Montpellier (Pháp), năm 1968, sang Việt Nam dạy học tại Trường Blaise Pascal, Đà Nẵng theo một chương trình hợp tác văn hóa giữa chính phủ Pháp và chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đến năm 1969 chuyển về dạy tại trường Lê Quý Đôn, Sài Gòn. Ông tâm sự, tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều cảnh tượng đau thương do chiến tranh gây ra, điều đó khiến tôi, một người thầy giáo yêu chuộng hòa bình không thể chịu nổi. Tôi quyết định phải làm gì đó để ngăn chặn cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam.Tháng 7-1970, tôi cùng với Jean Pierre Debris (một người bạn Pháp) treo lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa và rải truyền đơn đòi hỏi Mỹ và quân đội đồng minh của họ rút quân để Việt Nam. Sau đó, tôi đã bị bắt và giam trong tù suốt 2 năm rưỡi tại Trung tâm cải huấn Chí Hòa. Và đến ngày 1-1-1973, tức là 27 ngày trước khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam. Trong nhà lao Chí Hòa, tôi đã bí mật lấy danh sách của tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Côn Đảo, Chí Hòa, Tân Hiệp và Phú Quốc lúc đó. Danh sách ấy tôi gửi tận tay cho bà Phạm Thị Minh (Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) để giúp phái đoàn bác bỏ luận điệu của Việt Nam Cộng hòa và Mỹ rằng không có tù nhân chính trị tại miền Nam Việt Nam.

Xúc động khi nhớ lại những thời gian sống trong tù, ông André Marcel Menras nói, khi ở tù ông đã gặp một người bạn tên Nguyễn Văn Quới, là thày giáo dạy tiếng Anh. Hai người thường xuyên trao đổi thông tin với nhau và chính anh Quới đặt cho tôi cái tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết. “Năm 2009, tôi đã vinh dự là người nước ngoài đầu tiên được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết công nhận Quốc tịch Việt Nam với cái tên Hồ Cương Quyết” – A.M.Menras xúc động nói.

Mỹ Hạnh
daidoanket.vn