Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Nhân tố góp phần tạo nên thắng lợi

Họ là những nhân tố không thể thiếu góp phần tạo nên thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Bà Raymond Dien.

Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari (27/1/1973 – 27/1/2013) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam diễn ra ngày 24/1 tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhiều cô bác Việt kiều và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam tham dự mít tinh đã chia sẻ với phóng viên TTXVN những tình cảm đoàn kết, hữu nghị và kỷ niệm gắn bó với nhân dân Việt Nam.

Nhân dịp này, ông Pierre Laurent, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp (PCF), đã bảy tỏ sự biết ơn và sự cám ơn đối với những đảng viên có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chống thực dân, những người bạn Pháp luôn bên cạnh nhân dân Việt Nam như: Henri Martin, Raymond Dien, Madeleine Rifaud, Charles Fourniau, Raymon Aubarac…

Ông nói không chỉ rất tự hào về điều đó, mà càng tự hào hơn khi các cuộc đàm phán diễn ra tại Pari và các văn kiện lịch sử đã được ký tại đây, tạo tiền đề cho Việt Nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thống nhất đất nước.

Đánh giá về sự giúp đỡ và ủng hộ của thành viên PCF, nhân dân tiến bộ vì hòa bình trên toàn thế giới cũng như của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định hỗ trợ của họ cho các đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam là “những tình cảm tốt đẹp, sự giúp đỡ quý báu” – là “chất kết dính” để bà con tiếp tục tăng cường đoàn kết, gắn bó hơn nữa, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển thịnh vượng.

Bác Lâm Bá Châu – người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp thời đó.

Nhìn lại 40 năm qua, ông Jean Joel Lemarchand, Phó Thị trưởng thứ nhất Choisy-Le-Roi, cho biết ông không thể quên những tình cảm gắn bó ông với Việt Nam khi đó ông là thư ký đặc biệt của nghị sỹ, Thị trưởng thành phố Choisy-Le-Roi, ông Fernand Dupuy, lúc bấy giờ. Những cuộc tiếp đón và làm việc của Thị trưởng thành phố Fernand Dupuy với đoàn đại biểu miền Bắc – Việt Nam đến lưu trú trường của PCF, nơi ông cũng từng học trong vòng 4 tháng, luôn “trở về đầy ắp trong ông”.

Khi đó, ông là một sinh viên triết học, ông nhớ như in những cuộc biểu tình lớn ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình của nhân dân Việt Nam diễn ra tại Choisy-Le-Roi và Pari, khi ông tham gia và hô lớn tên của bà Bình, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam sẽ chiến thắng”. Theo ông, đây là “ngôi trường của hòa bình, tình hữu nghị và sự thân quen”, nó thể hiện tình cảm của thành phố Choisy-Le-Roi đối với bạn bè Việt Nam.

Cũng như ông Jean Joel Lemarchand, bà Raymond Dien, tuy đang phải ngồi xe đẩy nhưng rất sôi nổi và hào hứng khi được hỏi về những tình cảm của mình dành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bà là người nằm ngang đường ray ngăn cản các đoàn tàu chở vũ khí đạn dược sang Việt Nam và đã bị cảnh sát bắt giam. Ngày nay, bà vẫn tiếp tục chia sẻ, ủng hộ nạn nhân và giúp đỡ những đứa trẻ tàn tật bẩm sinh do tác hại của chất độc da cam, những khó khăn của gia đình họ.

Bà Nicole Trampoglieri, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt tại Choisy-Le-Roi cho biết, cách đây 40 năm, khi mới 18 tuổi bà đã tham gia biểu tình ủng hộ Việt Nam. Sau đó, khi là sinh viên bà vẫn biểu tình để ủng hộ, bảo vệ Việt Nam, bảo vệ hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Thật cảm động khi bà kể lại, bà không thể nào quên khi cô con gái đầu lòng ra đời đúng vào tháng 1/1972 và bà lấy tên “Lan” (tên Việt Nam) đặt cho con, dạy những từ “Hô Chí Minh …chiến thắng”….! (Ho Chi Minh Vaincra) khi con bắt đầu bi bô tập nói.

Bà chia sẻ : “Tôi thực sự cảm động vì cuộc kháng chiến vì hòa bình của các bạn”. Theo bà, Việt Nam đối với bà đó là “Việt Nam của thế hệ trẻ” – “Việt Nam của sự giác ngộ về chính trị”. Với bà đây thật sự là một tình cảm mãnh liệt và bà luôn “giơ cao ngọn cờ tình hữu nghị Pháp – Việt”.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, bác Lâm Bá Châu, người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều thực hiện các nhiệm vụ của đoàn giao cách đây 40 năm cho biết thế hệ của bác ai cũng nhớ kỷ niệm sâu sắc nhất là khi các bạn sinh viên quốc tế hết lòng ủng hộ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên Mỹ.

Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên ủng hộ Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, các bạn sinh viên Mỹ không bao giờ ủng hộ cho phái đoàn Mỹ hay chính quyền Sài Gòn. Những sinh viên Mỹ, Pháp hay sinh viên quốc tế khác họ đều phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam.

Bác Đào Thị Hoàng Anh, 76 tuổi, cho biết, hồi đó bà được giao việc lo hậu cần, trang trí nhà, tham gia may hơn trăm chiếc màn gió (rideau) cho đoàn đại biểu Việt Nam và lo chỉnh trang trang phục cho bà Nguyễn Thị Bình, bà Dung… ở Verrière-le-Buisson khi đến tham gia đàm phán.

Trước khi đi dự hội nghị, ông Xuân Thủy nói rằng: “Cô Hoàng Anh cố gắng lo trang phục thật đẹp cho các chị, vì sẽ có hàng triệu cặp mắt chăm chú dõi cho nên phải mặc cho phù hợp”.

Bà Hoàng Anh cho biết từ những việc nhỏ nhất, nếu có thể, bà đều sẵn sàng và cố gắng giúp cho đoàn đàm phán.

Làm sao có thể kể hết sự ủng hộ và giúp đỡ của bà con cộng đồng người Việt tại Pháp khi đó. Có những sự ủng hộ công khai, có những sự giúp đỡ thầm lặng, có những điều chỉ có thể cảm nhận, nhưng tất cả đều là những đóng góp vô giá tạo thành quả hôm nay.

Nhóm phóng viên TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

Hiệp định Paris – Dấu son của ngành ngoại giao Việt Nam

Đúng 40 năm trước, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết là kết quả thắng lợi hết sức quan trọng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Bốn thập kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán vẫn luôn in đậm trong ký ức những nhân chứng lịch sử, đồng thời đây cũng là một dấu son không bao giờ phai mờ được ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng.

Thắng lợi ngoại giao to lớn

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 13-5-1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kleber, Paris đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam, đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhớ lại những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chia sẻ, đó là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới.

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Cuộc đàm phán thể hiện sự đối đầu toàn diện về chiến lược và chiến thuật, bản lĩnh và trí tuệ, đạo lý và pháp lý giữa Việt Nam và Mỹ. Sự kết hợp khôn khéo chiến lược “vừa đánh vừa đàm” của Việt Nam buộc Mỹ phải ra lệnh chấm dứt mọi hành động ném bom đánh phá miền Bắc để đi tới đàm phán bốn bên.

Ông Huỳnh bồi hồi kể lại, mãi đến ngày 27-10-1968, hai bên mới thỏa thuận được tất cả các vấn đề và đến 31-10-1968, Johnson mới ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc. Lúc đó Hà Nội chỉ thị sang cuộc họp bốn bên sẽ không tiến hành trước ngày 6-11-1968.

Do đó, hai đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) chuẩn bị hai bản tuyên bố ngắn.

Theo thông lệ, vào phiên họp, đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ưu tiên phát biểu trước. Nhưng lần này, bắt đầu vào phiên họp Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đứng lên tuyên bố bỏ phiên họp.

Ngay sau đó, không một phút chần chừ, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là bà Nguyễn Thị Bình cũng đứng lên đồng tình ủng hộ ý kiến hủy bỏ phiên họp. Hai đoàn ra về nhanh chóng, điều đó làm cho đoàn Mỹ hoàn toàn bất ngờ không kịp phản ứng.

Đây có lẽ cuộc họp ngoại giao ngắn nhất trong lịch sử, ông Huỳnh cho biết.

Ngày đó, chỉ là một cán bộ bình thường tham gia thành viên của đoàn đàm phán nhưng mỗi khi nhớ lại, ông Nguyễn Khắc Huỳnh vẫn cảm thấy tự hào đã được đóng góp công sức cho thời khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi ngoại giao sáng chói, mở ra một chương mới cho nền ngoại giao Việt Nam và cả vận mệnh đất nước.

Qua đàm phán Paris, ngoại giao Việt Nam tiếp thu thêm những ý tưởng mới, hiểu thêm thế giới và các quan hệ quốc tế, tạo thuận lợi cho công tác ngoại giao sau này.

Bằng chất giọng trầm ấm, tuy hơi chậm do tuổi tác nhưng vẫn toát lên khí chất của một cán bộ ngoại giao kỳ cựu, như đang sống lại những thời khắc lịch sử ấy, ông bộc bạch: “Đến ngày 20-10-1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31-10-1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Tôi và các thành viên trong đoàn đều không thể nào ngủ được vì vui sướng, bởi điều mình chờ đợi rất lâu, nay đã đến. Lúc đó, chỉ muốn báo tin ngay về cho người thân để thốt lên: Việt Nam sắp hòa bình rồi”.

“Tù binh” trong vấn đề tù binh tại đàm phán Paris

Trong văn bản Hiệp định Paris, vấn đề tù binh, nhất là tù binh chính trị trở thành một trong các vấn đề đấu tranh gay gắt nhất. Các quy định chính của Hiệp định Paris năm 1973 đã đáp ứng đúng những yêu cầu cơ bản nhất của nhân dân Việt Nam. Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Việt Nam và rút hết quân đội về nước, song song với việc Việt Nam thả hết tù binh Mỹ.

Với tư cách là người được giao nhiệm vụ phụ trách vấn đề quản lý tù binh Mỹ, ông Trần Tuấn Anh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, kể lại: “Khi Hiệp định Paris diễn ra, tôi không phải là người đầu tiên đi theo đoàn mà ở lại nhận nhiệm vụ phụ trách vấn đề tù binh ở Hà Nội. Tháng 9-1969, tôi mới sang Paris để nhập vào đoàn đàm phán theo dõi tình hình tù binh.

Sau thời gian 9 tháng, đoàn Việt Nam nhận định hội nghị còn có thể kéo dài, ít chuyển biến, thêm nữa vấn đề tài chính của đoàn lúc này có khó khăn nên tôi đã trở về nước. Đến tháng 11-1972 tôi trở lại Paris và trực tiếp tham gia vào vấn đề đấu tranh trao trả tù binh”.

40 năm đã qua đi, nhưng ký ức xưa vẫn mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm của những nhân chứng lịch sử như ông Trần Tuấn Anh. Những lý luận đấu tranh cứng rắn, chắc chắn và quyết liệt, chặt chẽ của Việt Nam về vấn đề tù binh trở thành một trong những giải pháp buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh.

Chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ của Việt Nam đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, nhất là từ tháng 5-1969, khi chính quyền Nixon khuấy lên rất mạnh vấn đề này. Những hoạt động chủ yếu của chính quyền Nixon dựa vào xuyên tạc và vu cáo.

Nhưng thời gian đầu, họ đã lợi dụng hệ thống thông tin rộng lớn và hiện đại, nhất là vào sự ít hiểu biết về Việt Nam của nhân dân và dư luận Mỹ và đánh lừa được khá nhiều người. Do đó, cuộc đấu tranh của Việt Nam về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt.

Mục tiêu đấu tranh của Việt Nam là làm thất bại âm mưu thủ đoạn của Mỹ, đề cao chính sách nhân đạo của Việt Nam đối với tù binh Mỹ, làm nổi bật tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Điều đó đã làm cho những luận điệu xuyên tạc của Nixon ngày càng mất tác dụng, đồng thời tạo thuận lợi cho lĩnh vực đấu tranh của Việt Nam trong vấn đề tù binh. Chính vì vậy, ở thời điểm đó, các hãng thông tin của Mỹ và dư luận báo chí nhận xét: “Chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực, trơ trụi như bây giờ”, “chính quyền này tự đào hố chôn mình”, “Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh”… ông Trần Tuấn Anh kể.

Khi Hiệp định Paris 1973 bắt đầu có hiệu lực, Việt Nam trao trả tất cả tù binh Mỹ bị bắt vào đúng các thời điểm mà các bên thỏa thuận. Điều đó đã trở thành sức mạnh, tạo sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam, nhất là chống lại âm mưu của chính quyền Sài Gòn gây ra những khó khăn, trục trặc để không trao trả hết tù binh của Việt Nam.

Ngày 29-3-1973, diễn ra đợt cuối cùng Việt Nam trao trả tù binh cho Mỹ, đồng thời cùng diễn ra đợt cuối cùng quân đội Mỹ rút hết khỏi miền Nam, đánh dấu việc hoàn thành điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Paris.

Nhờ khéo vận dụng nhiều chính sách và sách lược phù hợp với tình thế ta-địch, với tình hình và luật pháp quốc tế nên Việt Nam đã có những thành công lớn trong việc dùng vấn đề tù binh, trước hết là vấn đề phi công Mỹ bị bắt, trong đấu tranh chính trị và đàm phán với Mỹ, góp phần làm phân hóa nội bộ Mỹ, tạo sức ép trong dư luận và chính giới Mỹ, tạo thế mạnh khi đàm phán kết thúc chiến tranh, buộc Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh và gắn thời hạn rút hết quân Mỹ với thời hạn thả hết tù binh.

Vấn đề tù binh chỉ là một vấn đề cụ thể, một bộ phận của giải pháp. Tuy nhiên đấu tranh thắng lợi trên vấn đề này cũng thể hiện trí tuệ và nghệ thuật đàm phán của Việt Nam , ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Trận chiến phối hợp giữa quân sự và ngoại giao

Những ngày này, thành công của Hiệp định Paris 40 năm về trước, một lần nữa lại bừng lên, vẹn nguyên trong ký ức của nguyên Đại sứ, nguyên Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Viết Tân.

Ông nhớ lại: “Vào khoảng đầu tháng 12-1969, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Ngoại giao gọi tôi đến phòng làm việc để giao nhiệm vụ mới: Thư ký phái đoàn Chính phủ (phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Tôi nghĩ đây là niềm vinh dự lớn nhưng là một nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề. Sau đó ít ngày, tôi theo đoàn cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris.

Đây là chuyến đi nước ngoài đầu tiên đầy ấn tượng, mọi việc đều mới lạ và bỡ ngỡ. Tôi đã nỗ lực cao, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ ngoại giao đi trước nên sớm thích nghi với công việc.

Tôi được bố trí vào tổ ngoại giao do đồng chí Phan Hiền, Ủy viên Phái đoàn phụ trách (sau là Bộ trưởng Bộ Tư pháp) với nhiệm vụ hàng ngày là theo dõi và tập hợp các phát biểu của những nhân vật chính quyền, Quốc hội Mỹ cả hai phái “diều hâu” và “bồ câu” cùng những vị đứng đầu các nước thuộc phe Mỹ liên quan đến giải pháp cuộc chiến tranh Việt Nam. Những tư liệu này để cung cấp cho nghiên cứu giải pháp đàm phán với Mỹ”…

Thời gian làm Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris, có một sự kiện ấn tượng mà ông Tân nhớ như in: “Đó là đầu năm 1971, Mỹ Ngụy mở chiến dịch lấy tên Lam Sơn 719 tại Đường 9 Nam Lào nhằm đánh chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam. Quân Việt Nam đánh trả quyết liệt, giành thắng lợi lớn.

Lúc này tại Paris, Trưởng phái đoàn Việt Nam nhận định địch thua nặng ở chiến trường, tại phiên họp bốn bên ngày hôm sau sẽ có phản ứng, có thể phía Mỹ sẽ chuyển văn bản, xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam và chuyển qua đường thư ký. Trưởng Đoàn Việt Nam chủ trương không nhận văn bản của phía Mỹ.

Đúng như dự đoán, ngày hôm sau, vào hội nghị, trước lúc Trưởng đoàn Mỹ phát biểu, Thư ký Mỹ David Angel ngồi đối diện đẩy văn bản sang phía tôi. Như một phản ứng tự nhiên, tôi lập tức đẩy trả lại. Việc “đẩy-trả” diễn ra 2-3 lần. Nhận thấy cách đó không xong, David Angel đã phát biểu phê phán thư ký đoàn Việt Nam không nhận văn bản.

Sự việc trên cho thấy phía Việt Nam đã phán đoán rất đúng âm mưu của đối phương. Điều đó cũng thể hiện cách xử lý linh hoạt nhưng kiên quyết của phái đoàn Việt Nam trong đấu tranh giành từng chút thắng lợi, để đạt được thắng lợi cuối cùng trên bàn đàm phán. Ông Trần Viết Tân tâm đắc: “Đây là trận chiến phối hợp đẹp mắt giữa quân sự và ngoại giao, giữa chiến trường và bàn hội nghị!”.

TTXVN
qdnd.vn

Từ thắng lợi chiến trường đến thắng lợi ngoại giao (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

Kỳ 2: Mỹ lật lọng và hành động của chúng ta

Nhận định chính xác

QĐND – Tháng 2-1971, sau khi đánh giá những thắng lợi của cả hai miền đã đạt được, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 19 khóa III đã phân tích tình hình và dự báo âm mưu, thủ đoạn sắp tới của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam-Bắc: “Trên chiến trường miền Nam, chúng sẽ ráo riết “bình định” giành giật quyết liệt với nhân dân ta và phá hoại các vùng giải phóng; đồng thời, chúng sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới, tìm cách liều lĩnh mở những cuộc phản công cục bộ, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam”. Hội nghị khẳng định: “Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này. Phải động viên sự cố gắng cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền nước ta, ra sức thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn…”.

Năm 1972, cả Việt Nam và Mỹ đều nhận định là năm quyết định cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, các cuộc đàm phán dần đi vào thực chất, càng về cuối càng có những chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm, hai bên vẫn chưa thực sự đi vào đàm phán, vẫn nỗ lực trên chiến trường và thăm dò nhau trên bàn hội nghị. Cuộc gặp riêng từ ngày 8 đến 12-10-1972 là mốc đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc đàm phán. Trong đó, phía Việt Nam đưa ra Văn bản Dự thảo hiệp định hoàn chỉnh và đề nghị Mỹ ký ngay hiệp định đó. Hai bên thỏa thuận ngày 31-10-1972, sẽ ký hiệp định chính thức tại Pa-ri. Hiệp định Pa-ri đã có thể được ký kết theo đúng lịch trình nếu không có sự lật lọng từ phía Mỹ. Ngày 22 và 23-10-1972, Mỹ đòi hoãn ngày ký để thảo luận thêm.

Toàn cảnh Lễ ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày 27-1-1973. Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi Mỹ lật lọng, tráo trở, trì hoãn việc ký hiệp định, đòi Việt Nam nhân nhượng thêm, ta quyết định công bố dự thảo hiệp định đã thỏa thuận giữa hai bên và tuyên bố không gặp lại trước ngày tuyển cử như Mỹ đề nghị. Đảng ta nhận định: Mỹ muốn tiếp tục kéo dài chiến tranh trong một thời gian nữa để giành thắng lợi về quân sự, nhằm kết thúc chiến tranh trên thế mạnh.

Trước những diễn biến mới của tình hình, Quân ủy Trung ương nhận định: Mỹ sẽ tập trung đánh phá ác liệt từ Thanh Hóa trở vào, đồng thời chúng có thể sẽ đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả dùng B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác trước nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp hoàn toàn thất bại.

Đúng như dự kiến, sau ngày 23-10-1972, đặc biệt là sau khi trúng cử tổng thống (8-11-1972), Tổng thống Mỹ Ních-xơn ráo riết chuẩn bị bước phiêu lưu quân sự mới. Mỹ trở giọng đe dọa, phá ngang làm cho cuộc đàm phán tại Hội nghị Pa-ri bị gián đoạn. Đồng thời, Mỹ tập trung lực lượng không quân ở mức cao nhất để đánh phá ngăn chặn các tuyến giao thông từ nam vĩ tuyến 20 trở vào, trọng điểm đánh phá là các tuyến vận chuyển hàng hóa vào chiến trường miền Nam.

Ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc từ ngày 18 đến 30 tháng 12-1972. Tổng thống Mỹ Ních-xơn hy vọng rằng, với sức mạnh của không lực Hoa Kỳ, Mỹ sẽ đạt được mục đích. Nhà sử học người Mỹ Giơ-lin-gơ-rin-út tiết lộ: “Tổng thống Ních-xơn, Cố vấn Kít-xinh-giơ và 1.700 nhân viên đội bay B-52 thực hiện cú đấm chiến lược này đều có niềm tin mãnh liệt ban đầu về kết quả chiến đấu. Với cả guồng máy đồng bộ và tính năng vũ khí như thế, Mỹ cho rằng, hệ thống ra-đa trinh sát phòng không và tên lửa SAM-2 của Bắc Việt Nam cũng không thể nào “với tới” được.

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” và thắng lợi ở Pa-ri

Nhưng với ý chí và trí tuệ của con người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, để giành thắng lợi về quân sự và chính trị, quân dân miền Bắc đã kịp thời giáng trả đế quốc Mỹ những đòn đích đáng. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 được ví là trận “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm chiến đấu, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn của đế quốc Mỹ, bắn cháy 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay ném bom chiến lược B-52, 5 máy bay F.111, nhiều B-52 bị bắn rơi ngay tại thủ đô Hà Nội, hàng chục phi công bị bắt sống, trong đó có nhiều phi công lái B-52.

Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam và thất bại trong cuộc tập kích đường không chiến lược vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc Việt Nam, ý chí đàm phán trên thế mạnh của Nhà Trắng đã bị đè bẹp. Thất bại nặng nề về quân sự và chính trị trên cả hai chiến trường buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngừng ném bom bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, kể từ ngày 30-12-1972. Ngày 6-1-1973, Tổng thống Mỹ Ních-xơn chỉ thị cho Cố vấn đặc biệt Kít-xinh-giơ cần đạt được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện khắt khe và nhấn mạnh là sẵn sàng chấp nhận văn bản đã thỏa thuận tháng 10-1972, buộc phải chấp nhận kết quả đàm phán ngoài mong muốn. Ngày 8-1-1973, Mỹ phải tiếp tục nối lại cuộc đàm phán trên thế yếu tại Hội nghị Pa-ri.

Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược B-52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Pa-ri. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn của Chính phủ VNDCCH tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận.

Ngày 23-1-1973, Hiệp định và các nghị định thư được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Kít-xinh-giơ ký tắt. Thất bại nặng nề về quân sự của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc-những cố gắng quân sự cuối cùng – buộc Mỹ phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 27-1-1973.

Trong thời gian gần 5 năm, Hiệp định Pa-ri đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Trong các phiên họp chung công khai cũng như các cuộc tiếp xúc riêng, phía Việt Nam không bỏ qua bất cứ vấn đề quan trọng nào có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương, nhưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai vấn đề mấu chốt nhất là đòi rút hết quân Mỹ và quân 5 nước đồng minh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương khỏi miền Nam, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ, trước sau vẫn nêu quan điểm “có đi có lại”, đòi hai bên (cả quân đội miền Bắc có tại miền Nam) “cùng rút quân”.

Với thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, tạo tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975. Hiệp định Pa-ri 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi về quân sự và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước. Đây là thắng lợi về quân sự và chính trị có ý nghĩa lịch sử, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Là đỉnh cao và là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ, cuộc đấu trí hết sức gay go, quyết liệt nhưng cũng rất hào hùng của nhân dân ta, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Bác Hồ. Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, phát huy cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá.

———

Kỳ 1: Làm lung lay ý chí xâm lược

Thượng tướng LÊ HỮU ĐỨC, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Từ thắng lợi chiến trường đến thắng lợi ngoại giao

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

Kỳ 1: Làm lung lay ý chí xâm lược

QĐND – Thắng lợi của Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri 40 năm về trước có ý nghĩa về quân sự, chính trị và đối ngoại to lớn. Thắng lợi lịch sử này là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thất bại của quân đội Mỹ và quân đội ngụy Sài Gòn; tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc của ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đi đến thắng lợi hoàn toàn…

Nêu cao chính nghĩa

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền Nam, ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam, mặt khác, tiến hành leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Về phía ta, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định rằng, Mỹ buộc phải “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền Bắc, nhưng so sánh lực lượng giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch. Trên thực tế, Mỹ càng leo thang chiến tranh thì càng vấp phải những đòn giáng trả mãnh liệt của ta. Về mặt chính trị, ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu, bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cùng thủ đoạn đàm phán hòa bình giả hiệu của Mỹ. Ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền Bắc.

Quân giải phóng trên đường vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam trong Xuân Mậu Thân 1968 cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Ðêm ngày 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thừa nhận thất bại trong Xuân Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc khu phi quân sự. Ông ta còn cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử Tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Trước tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ. Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Mỹ bắt đầu tại Pa-ri. Gần sáu tháng sau đó, hai bên đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước VNDCCH từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Pa-ri một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

“Vừa đánh, vừa đàm”

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Pa-ri về Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: Giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động; giữa hòa bình với chiến tranh. Ðó là cuộc đối thoại giữa hai lực lượng đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị-tinh thần, chính nghĩa. Ðó còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Pa-ri đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau.

Cả ta và đối phương đều đến hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Có nghĩa là Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, điều Mỹ không làm được trên chiến trường.

Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, trên chiến trường, cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Phía ta, coi Hội nghị Pa-ri không chỉ là các cuộc đàm phán ngoại giao thông thường mà còn là một mặt trận. Mặt trận ấy không chỉ có ý nghĩa tuyên truyền cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam, mà còn đem lại sự xác nhận những kết quả của các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Theo đánh giá của phía VNDCCH thì: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến trường và là cơ sở của đấu tranh ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong bối cảnh quốc tế và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.

Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9-Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Cam-pu-chia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị-Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ – ngụy bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

Ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22-10-1972, phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định thực hiện chủ trương có ý nghĩa chiến lược vượt ra khỏi khuôn khổ của “Việt Nam hóa chiến tranh”, nghĩa là “Mỹ hóa” trở lại một phần cuộc chiến tranh. Ngày 6-4-1972, Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và trở lại đánh phá miền Bắc.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Mỹ thực hiện leo thang nhanh, đánh phá với cường độ cao trên cả hai miền Nam, Bắc và coi đó là một biện pháp quyết định. Theo đó, từ đầu tháng 4 đến tháng 5-1972, Mỹ đã huy động tới hơn 40% lực lượng không quân chiến thuật (1300 chiếc), 45% máy bay ném bom chiến lược B-52 (150 chiếc), 60 tàu chiến, trong đó có 5 tàu sân bay và 5 tàu tuần dương. Chỉ tính riêng lực lượng không quân Mỹ đánh Việt Nam gần bằng lực lượng không quân của ba nước mạnh nhất Tây Âu lúc đó là Anh, Pháp và Tây Đức cộng lại. Với quyết định quay trở lại đánh phá miền Bắc, Tổng thống Mỹ Ních-xơn hy vọng sẽ bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam Việt Nam, làm cho miền Bắc suy yếu, buộc phải thương lượng với Mỹ trên thế thua.

Đánh giá đúng tình hình, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ đạo tập trung đập tan những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri. Đảng ta nhận định: Mỹ trắng trợn gây trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn, nhằm hạn chế thắng lợi của quân dân miền Nam, hòng cứu vãn tình thế suy sụp của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cố giữ cho cục diện chiến trường miền Nam không xấu hơn nữa đối với chúng. Từ kinh nghiệm của cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Đảng chỉ đạo miền Bắc nhanh chóng chuyển từ thời bình sang thời chiến. Lực lượng phòng không kiên quyết giáng trả không quân Mỹ những đòn đích đáng.

———-

(còn nữa)

Thượng tướng LÊ HỮU ĐỨC, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Paris địa điểm đàm phán tốt nhất

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Việc chọn Paris để tổ chức hội nghị đàm phán với Mỹ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã đem lại cho chúng ta nhiều thuận lợi, góp phần không nhỏ vào thắng lợi cuối cùng.

Hội nghị Paris là cuộc đấu tranh ngoại giao gian khổ, dài nhất và khó khăn nhất của nhân dân Việt Nam. Ngay từ việc tìm địa điểm họp hội nghị cũng mất thời gian. Mỹ đề nghị Vientiane, Tokyo, sau đó Bangkok… Việt Nam thì chọn Phnompenh, Warsaw… nhưng không thống nhất được với nhau. Cuối cùng chúng ta đề xuất Paris và Mỹ đã chấp thuận. Paris có vị trí đặc biệt, là trung tâm về chính trị, văn hóa, kinh tế của phương Tây. Khi ta chọn Paris, Pháp rất hoan nghênh, hứa sẽ tạo mọi điều kiện để Hội nghị diễn ra tốt đẹp, đặc biệt là bảo đảm an ninh cho các đoàn. Theo ông Võ Văn Sung, nguyên Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp trong thời gian đàm phán Paris, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp, nhìn tổng quát, có thể nói Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế vào loại tốt nhất cho hai đoàn đàm phán của ta.

Hai chiếc bút dùng để ký kết Hiệp định Paris năm 1973

Paris hội tụ những điều kiện mà không thể tìm thấy ở các thủ đô khác. Thứ nhất, Paris là trung tâm báo chí không chỉ của châu Âu mà của cả thế giới. Không ở đâu có khả năng tập hợp dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, nơi có thể ví là đầu não của thông tin thế giới lúc bấy giờ. Pháp có nền báo chí lớn, trong đó nhiều báo chí có cảm tình với Việt Nam. Thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris, ông Lưu Văn Lợi kể: người ta tường thuật rằng, chưa có hội nghị quốc tế nào tại Paris mà buổi khai mạc, riêng phóng viên đã lên tới… 3.000 người. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần như một nửa thời lượng thông tin thời sự thế giới, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris. Báo L’Humanité (Nhân đạo) đã tạo ra một diễn đàn thực sự cho các nhà đàm phán Việt Nam là Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình… Các tuyên bố của họ được đăng hàng tuần. Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin quốc tế để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tranh thủ dư luận của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời báo chí tại Paris

Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật, 28.1.1973 đã in trên trang nhất những dòng chữ to, nét đậm, in hai màu đỏ và đen nổi bật:

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Hiệp định Paris đã được ký chính thức.

Từ 7 giờ sáng nay, chiến tranh chấm dứt ở cả hai miền nước ta”.

Thế là “Chính nghĩa đã thắng phi nghĩa! Ý chí bất khuất đã thắng bạo tàn! Việc đạt một hiệp định như vậy là một thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam” – như tuyên bố của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại cuộc họp báo lớn chiều 24.1.1973 ở Thủ đô Paris, Pháp.

Thứ hai, không thể không nhắc đến vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF) – một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. PCF đã dành cho chúng ta sự giúp đỡ vô điều kiện, sự ủng hộ của tình đồng chí, tình anh em. Ngoài Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở phố Kleber, nằm cách Khải hoàn môn vài trăm thước, được dành làm nơi họp, PCF còn nhường hẳn trường Đảng (nằm ở quận “đỏ”, cực kỳ an toàn) cho đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo ông Lý Văn Sáu – người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại Hội nghị Paris 40 năm trước, có lẽ họ nghĩ Hội nghị này cũng nhanh thôi, không ngờ nó kéo dài gần 5 năm. Trong lịch sử của Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Kleber, chưa có cuộc thương lượng quốc tế nào chiếm dụng phòng họp của Trung tâm liên tục gần 5 năm như cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ. Ngoài sự giúp đỡ vật chất to lớn mà PCF dành cho hai đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ các cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. “Cảm động và tuyệt vời nhất là nhiều đảng viên PCF còn xin nghỉ một tháng phép để đến phục vụ hai đoàn Việt Nam” – ông Lưu Văn Lợi nhớ lại.

Thứ ba, Hội Việt kiều yêu nước tại Paris rất mạnh, từ thời Nguyễn Ái Quốc, sau này tiếp tục được củng cố để trở thành một lực lượng hùng mạnh, hậu thuẫn tích cực cho hai đoàn đàm phán của Việt Nam. Chính những Việt kiều yêu nước đã ủng hộ không chỉ tinh thần mà cả vật chất cho hai đoàn, từ cung cấp người phiên dịch, lái xe, bác sỹ, đến hỗ trợ tổ chức họp báo, tuyên truyền… Họ đồng thời cũng trở thành những “vệ tinh” tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những quan điểm của phái đoàn ta, những thông tin về cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra, ở Paris, ta có điều kiện đi hàng chục nước xung quanh, các nước châu Âu và sang cả châu Phi, châu Mỹ… để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.

Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO tại Pháp nhìn nhận: Paris có lợi thế mà các nơi khác không thể có được cho việc tổ chức một hội nghị quốc tế dài hơi như vậy. Nếu thiếu các điều kiện khách quan như vậy, Hội nghị Paris khó có thể đi đến kết cục tốt đẹp như ta đã chứng kiến.

PV tổng hợp
daibieunhandan.vn

Cách ký Hiệp định Paris

Cách ký Hiệp định Paris là một vấn đề kỹ thuật nhưng thật ra lại là vấn đề chính trị mà cả bốn bên đều quan tâm. Nó cũng không chỉ có cách ký mà cả việc nêu tên các bên ký kết và chức vụ người ký kết.

Cố vấn Lê Đức Thọ, Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy và Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 1.1973

Đây là Hội nghị gồm bốn bên thuộc hai phe, các bên khác phe không ai công nhận ai, riêng Mỹ không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao nhưng công nhận là một bên đàm phán có giá trị và đã nhận sẽ cùng ký. Và làm sao có thể khác được khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là địch thủ chính của Mỹ? Ý của Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu là không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẵn sàng ký với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhưng kiên quyết không chấp nhận việc gạt bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong các văn kiện và cách nêu tên người ký kết. Như vậy không chỉ có vấn đề cách ký mà cả vấn đề nêu tên các bên ký kết và chức vụ người ký kết.

Trong đợt đàm phán lại tháng 12.1972, lúc đầu cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ Richard Nixon Henry Kissinger đề nghị: Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời (ba bên) ký chung một văn bản có lời mở đầu ghi đủ tên bốn chính phủ và Bộ trưởng Ngoại giao ký: Chính phủ Cộng hòa Việt Nam ký riêng một bản với Lời mở đầu “Việt Nam Cộng hòa hành động phối hợp với các bên tham gia Hội nghị Paris…”. Năm ngày sau, Kissinger lại đề nghị: Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ (điều 23 quy định Hiệp định do Bộ trưởng Ngoại giao ký); Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mỗi bên ký dưới hình thức công hàm gia nhập (adherence).

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ không đồng ý cả hai cách và ngày 11.12 đề nghị ký ba văn bản: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ký một văn bản, Chính phủ Cộng hòa Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời mỗi bên ký một văn bản Hiệp định cùng một nội dung, nhưng ngày 13.12 lại rút lại. Trong đợt đàm phán lại tháng 1.1973, Lê Đức Thọ đòi hai bên ký và bốn bên ký. Kissinger không đồng ý và đề ra ba cách ký để chọn một:

Các tầng lớp nhân dân mừng Hiệp định Paris được ký kết

– Chỉ có hai bên Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký như đã thỏa thuận tháng 10.1972.

– Ký bốn bên nhưng không có tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Việt Nam Cộng hòa trong Lời mở đầu, không có chức vụ người ký.

– Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản, Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký hai văn bản riêng, nội dung Hiệp định đầy đủ nhưng Lời mở đầu không có tên bốn Chính phủ, ký tên nhưng không có chức vụ.

Cả ba cách giống nhau ở một điểm: không có tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời và chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Ngày 9.1, Lê Đức Thọ đề nghị công thức mới: Mỹ – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ký tắt, bốn bên ký chính thức với Lời mở đầu có tên bốn Chính phủ, người ký có nêu chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao. Phía Mỹ không chấp nhận. Sau khi văn bản Hiệp định hoàn thành, Lê Đức Thọ đưa một công thức mới, mềm dẻo hơn:

– Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ.

– Bốn bên ký với Lời mở đầu “Các bên tham gia Hội nghị Paris” (không nêu tên bốn Chính phủ), Hiệp định sẽ do bốn Ngoại trưởng ký đồng thời.

Ngày 11.1, hai bên tập trung giải quyết vấn đề cách ký. Dựa vào đề nghị trên của Lê Đức Thọ, Kissinger đề nghị: hai bên ký, bốn bên ký nhưng trong bản bốn bên thì mỗi bên ký một tờ riêng biệt và cả bốn tờ đó gộp chung vào Hiệp định; người ký đều có ghi chức vụ. Đến đây coi như đã thỏa thuận sẽ ký hai bên và bốn bên.

Về văn bản hai bên ký, Lê Đức Thọ đề nghị: Lời mở đầu ghi đủ tên bốn Chính phủ, điều 23 ghi: “Văn bản này do Bộ trưởãng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ ký, và văn bản Hiệp định cùng nội dung và lời văn do Bộ trưởng Ngoại giao (kể đủ bốn Chính phủ) ký cùng ngày hôm nay hợp thành một Hiệp định quốc tế lấy tên là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Kissinger chỉ thêm bớt câu chữ và cuối cùng chấp nhận.

Về văn bản bốn bên ký, Lê Đức Thọ đề nghị về Lời mở đầu: “Các bên tham gia Hội nghị Paris (không ghi tên bốn Chính phủ) đã thỏa thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây…”. Về điều 23, ông đề nghị công thức: “Hiệp định này do Bộ trưởng Ngoại giao của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký và Hiệp định có cùng nội dung và lời văn như Hiệp định này do Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ ký cùng ngày hôm nay hợp thành một Hiệp định quốc tế lấy tên là…”.

Kissinger đồng ý nhưng cho rằng trong văn bản, điều 23 không cần và không nên ghi Bộ trưởng Ngoại giao mà chỉ nên ghi: “Đại diện của các bên”. Tất nhiên ông Thọ không chịu. Cuối cùng, Kissinger cam kết rằng Mỹ, dù không ghi Bộ trưởng Ngoại giao, sẽ dùng ảnh hưởng của mình để Bộ trưởng Ngoại giao Sài Gòn ký và các bên ghi rõ chức vụ. Lê Đức Thọ chấp nhận ghi điều 23: “Hiệp định sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký…”.

Về số trang dành để ký, Lê Đức Thọ đề nghị bốn bên cùng ký tên trên một trang, Kissinger đề nghị bốn bên ký bốn trang riêng, cuối cùng hai bên thỏa thuận ký trên hai trang, một trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký, một trang Mỹ và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký. Các trang này đều đánh số thứ tự trong Hiệp định. Có hai lễ ký riêng biệt nhưng cùng trong một ngày: buổi sáng bốn bên ký, buổi chiều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ký. Địa điểm ký: Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở đại lộ Kléber.

Hòa bình trở lại

19h ngày 13.1.1973, cuộc đàm phán kết thúc, trừ vài vấn đề sẽ giải quyết sau. Trưa hôm đó, trong một không khí cởi mở và niềm vui chung, hai đoàn ăn bữa cơm chung.

Lê Đức Thọ nâng cốc nói với Kissinger:

– Như vậy là hôm nay chúng ta kết thúc cuộc hội đàm. Tuy đây là kết quả bước đầu nhưng bước đầu rất quan trọng và cơ bản để lập lại hòa bình ở Việt Nam… Tôi đồng ý với ông là sẽ không thay đổi một tý gì trong văn bản và thời điểm. Chúng tôi sẽ làm đúng như thế. Đó là lời hứa của chúng tôi. Và chúng tôi tin là không mấy ngày nữa hòa bình sẽ được lập lại ở Việt Nam.

– Tôi coi Hiệp định, các hiểu biết và Nghị định thư đã hoàn thành – Kissinger đáp – Tôi cam kết là phía chúng tôi sẽ không có gì thay đổi… và tôi chắc rằng đến lúc này thì hòa bình sẽ trở lại Đông Dương, sẽ trở lại với hai dân tộc chúng ta vào ngày 27.1 – ngày ký Hiệp định, chúng tôi sẽ tôn trọng Hiệp định ấy. Hiệp định này phải là một Hiệp định đánh dấu sự bắt đầu của một nền hòa bình thật sự. Cái bảo đảm tốt nhất cho nền hòa bình thật sự này là cải thiện quan hệ giữa nhân dân hai nước chúng ta. Chúng ta đã qua nhiều năm đau khổ, tôi muốn nói với ông là chúng tôi quyết tâm hết sức mình để cải thiện quan hệ giữa hai nước.

– Chúng ta sẽ không quên ngày hôm nay.

– Cả hai chúng ta đều không ai quên được.

Theo Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris
daibieunhandan.vn

Bí mật tuyệt đối

Quá trình đàm phán Hiệp định Paris

Theo ông Lý Văn Sáu – người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại Hội nghị Paris 40 năm trước, trong cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài gần 5 năm như vậy, điều quan trọng nhất là giữ bí mật, việc ai người ấy biết.

Paris là nơi dư luận chú ý, cũng là nơi gián điệp chú ý. Thời đó, tuy chưa có điện thoại di động, chưa có phương tiện ghi âm như bây giờ, nhưng gián điệp cũng có đủ phương tiện để hành nghề. Gần 5 năm ở Paris, chúng ta giữ được bí mật về đường lối, chính sách, về chủ trương, lập trường, phải nói đấy là một thành công rất lớn. Ta có hai đoàn: đoàn miền Bắc, tức là Nước VNDCCH do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm Cố vấn, thay mặt Bộ Chính trị; đoàn miền Nam, tức Chính phủ lâm thời CHMNVN, trước đó là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, hồi đầu do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn, về sau, từ tháng 6.1969, do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, làm Trưởng đoàn. Hai đoàn tuy hai là một, một mà là hai, vừa giữ được độc lập của từng đoàn, đồng thời giữ được sự kết hợp, thống nhất làm việc.

Một cuộc họp nội bộ của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Tôi nói một chuyện đơn giản là bàn với nhau chuyện ra Hội nghị có bắt tay hay không. Mình có bắt tay Mỹ không, có bắt tay đại diện Chính quyền Sài Gòn không? Cuối cùng quyết định không bắt tay, vì hai bên còn là đối thủ của nhau, trên mặt trận thì đánh nhau, ở đây thì đấu tranh ngoại giao. Các đoàn tham dự đàm phán vào phòng họp bằng nhiều cửa, ta có cửa vào của ta, Sài Gòn và Mỹ có cửa vào của họ, chào nhau từ xa nên chuyện bắt tay không lo nữa. Nhưng xưng hô với nhau như thế nào? Gọi là Ngài, Ông, Bà, Vị hay là gì? Đồng chí Xuân Thủy nghĩ ra, không gọi là “Quý vị” mà gọi là “Các vị”. “Chúng tôi thưa Các vị”, dịch ra tiếng Pháp là “Mesdames, Messieurs”, tiếng Anh là “Ladies, Gentlements”. Lệ nó thế, mình nói “Thưa các vị” thì “Thưa” cũng là lễ phép rồi, nhưng “Các vị” chứ không phải là “Quý vị”, không có chuyện gì mà “Quý” với tôi cả. Từ việc nhỏ đến việc lớn đều ẩn giấu sự đấu tranh, tốn hàng tháng để bàn mới thảo luận ra những vấn đề đó.

Giữ bí mật thì việc ai người ấy biết. Đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời CHMNVN có chừng 40 người, chia làm mấy Ban. Ban Nghiên cứu, bàn và tham mưu; Ban Tiếp xúc, đi gặp gỡ bạn bè Pháp và quốc tế, gặp gỡ kiều bào; Ban Báo chí và Ban Hậu cần, bộ phận nào biết việc của bộ phận ấy. Tôi làm ở Ban Báo chí. Hội nghị Paris có hai hình thức họp, họp công khai 4 bên và họp riêng giữa Xuân Thủy và Harriman, hay về sau là giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Kissinger. Nội dung các cuộc gặp riêng đó chỉ những người dự họp và phiên dịch biết, không ai bên ngoài được biết. Ngay cả những cuộc họp công khai cũng giữ bí mật đến cuối cùng. Ví dụ, những lúc chúng ta sắp đưa ra một lập trường thương lượng, bản thân tôi làm báo chí cũng đến trước Hội nghị mới biết. Thường mình họp sáng thứ sáu, chiều thứ năm tôi mới có bài phát biểu cho ngày hôm sau. Tôi là người sửa chữa, góp ý cuối cùng, sau đó bài phát biểu được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tôi cũng là người duyệt cuối cùng. Nếu mà để đối phương biết trước, sáng hôm sau họ sẽ có bài nói chống mình ngay. Nói như thế để biết được rằng người nào biết việc người ấy. Sau này, tôi cũng phải đọc lại các tài liệu liên quan đến Hội nghị thì mới biết được một số việc. Việc phổ biến những chủ trương lớn, ở nhà cho người qua nói miệng chứ không được đem giấy tờ gì cả.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhân dân Hà Nội chào đón Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris thắng lợi, về nước

Tại Paris, mỗi đoàn có một phòng hội nghị, có một nguyên tắc là không trao đổi với nhau. Phòng họp của từng đoàn thiết kế rất đặc biệt, làm tường hai lớp, có một loạt loa phóng thanh ở xung quanh. Ta vào trong, đóng cửa lại rồi phát nhạc. Trong này mình nói chuyện với nhau, bên ngoài chỉ nghe thấy nhạc. Cũng chỉ người nào có trách nhiệm mới vào, bàn việc gì thì người liên quan việc đó vào…

Ngày ký Hiệp định Paris, tôi vừa vui vừa phấn khởi vừa buồn. Vui vì cuộc chiến đấu ngoại giao lâu dài như vậy đã kết thúc và kết thúc thắng lợi với nội dung Hiệp định, nhưng buồn vì biết bao đồng chí anh em, đồng bào đã hy sinh trong thời gian Hội nghị… Đến phiên họp báo sau khi ký Hiệp định Paris, có mấy nhà báo nói như thế này: “Bây giờ, qua mấy năm đấu tranh, chúng ta đã quen biết nhau, ông muốn nhắc nhở chúng tôi điều gì?” Tôi nói bằng tiếng Anh: Remember Vietnam, đừng quên Việt Nam, nhớ Việt Nam để lần sau đừng phạm sai lầm một lần nữa ở Việt Nam.

Theo Đối mặt với B52
daibieunhandan.vn

Hiệp định Paris qua ảnh, hiện vật

Sáng 23.1, tại nhà triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội đã khai mạc triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam, trưng bày 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách.

Với nhiều hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc Hiệp định Paris, triển lãm đã làm rõ cuộc đấu tranh cam go trên mặt trận ngoại giao kéo dài 4 năm 8 tháng 16 ngày; làm sống lại những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh 40 năm về trước; sự phối hợp giữa ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự giúp đỡ, ủng hộ, cổ vũ của các nước anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngoài những bức ảnh chụp các phiên đàm phán dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, triển lãm còn trưng bày hình ảnh chiến thắng trên chiến trường của quân dân ta, sự ủng hộ của bè bạn thế giới. Bên cạnh đó là các hiện vật như hai chiếc bút ký Định ước Paris 1973 và Hiệp định Paris về Việt Nam 1973, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi phục vụ đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris…

Triển lãm kéo dài đến hết ngày 28.1.

daibieunhandan.vn

Từ hiệp định Paris đến chiến dịch Hồ Chí Minh

Chuyên đề trưng bày Từ hiệp định Paris đến chiến dịch Hồ Chí Minh qua tài liệu lưu trữ đang diễn ra tại Hội trường Thống Nhất TP Hồ Chí Minh. Trưng bày giới thiệu đến công chúng gần 300 tư liệu, hiện vật, hình ảnh liên quan đến hiệp định Paris và chiến dịch Hồ Chí Minh được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Bảo tàng lực lượng vũ trang Quân khu 7, Bảo tàng phụ nữ Nam bộ và do các nhân chứng cung cấp. Trong đó có nhiều hiện vật, tài liệu quý của cố thượng tướng Trần Văn Trà và đặc biệt là chiếc bút của bộ trưởng ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN Nguyễn Thị Bình đã sử dụng để ký hiệp định Paris tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber ngày 27.1.1973. Dự kiến chuyên đề trưng bày kéo dài đến ngày 5.9.

TL
daibieunhandan.vn

Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris

Không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước Gieneva, nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất không nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai, TS Pierre Journoud nói.

LTS: Gần 40 năm đã trôi qua kể từ khi Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc. Từ Geneva đến Paris, và ngay cả trước đó và giai đoạn hiện nay, Việt Nam thường xuyên bị đặt ở tình thế đứng giữa các nước lớn, trên bàn cờ chiến lược. Tuần Việt Nam trò chuyện với TS Pierre Journoud, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, với kì vọng lí giải cho vị thế đặc biệt này của Việt Nam, và tìm gợi ý chính sách cho giai đoạn hiện tại.

TS Pierre Journoud nói: Việt Nam dường như luôn bị kẹt vào thế một con cờ trong bàn cờ của các nước lớn. Đầu tiên là giữa Pháp và Trung Hoa (thời Nguyễn), rồi đến hai phái Cộng sản và Quốc dân Đảng ở Trung Quốc (1945-1946), rồi Pháp – Mỹ một bên và Liên Xô – Trung Quốc một bên tại hội nghị Geneva (1954), rồi Liên Xô và Trung Quốc từ những năm ’60 kéo dài đến hết cuộc chiến ở Campuchia. Bây giờ dường như lại kẹt giữa Mỹ và Trung Quốc trong câu chuyện liên quan đến tranh chấp Biển Đông…

Trung Quốc không muốn láng giềng mạnh

Xin phép ông trở lại thời điểm đàm phán Geneva. Lập trường của phía Chính phủ Hồ Chí Minh ban đầu là giới tuyến tạm thời sẽ là vĩ tuyến 14, thế nhưng cuối cùng họ phải chấp nhận vĩ tuyến 17. Có thông tin nói rằng đây là chủ ý của Liên Xô,  trong một sự đổi chác nào đó với phía Pháp.

Tôi nghĩ rằng người đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Chính phủ Hồ Chí Minh nhượng bộ là Trung Quốc, chứ không phải Liên Xô.

TS Pierre Journoud nghiên cứu lịch sử thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, chuyên nghiên cứu sự phát triển của các vấn đề chiến lược khu vực Viễn Đông kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Ông đồng thời cũng là giảng viên – nghiên cứu tại trường Đại học Paris I – Sorbonne – Panthéon.

Tôi thì lại nghe rằng người đưa ra ý tưởng là Liên Xô, còn Trung Quốc chỉ là người thực hiện thôi.

Khi bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và nhất là khi những người cộng sản giành thắng lợi ở Trung Quốc vào năm 1949, Stalin đã trao vai trò ở Đông Nam Á choTrung Quốc. Bởi ông ta không muốn can dự vào Đông Nam Á.

Lý do?

Thứ nhất, bởi Stalin nghi ngại trước việc Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản mà còn là một nhà dân tộc chủ nghĩa.

Thứ hai, Stalin còn có quá nhiều mối bận tâm khác ở trong nước và châu Âu. Liên Xô đã để cho Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo ở Đông Nam Á, cho đến giữa những năm ’60.

Về phía mình, Trung Quốc có quan điểm là không muốn có những láng giềng mạnh bằng cách chia rẽ họ, nhất là đối với Đông Dương nói chung, và Việt Nam nói riêng. Và điều này đã thể hiện rất rõ trong chính sách họ theo đuổi hiện nay ở khu vực này.

Trong nửa thứ hai của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và trong cái tạm gọi là khoảng lặng giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương 1954-1964, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng. Họ trang bị và huấn luyện cho quân chủ lực của Việt Nam để đội quân này trở nên chuyên nghiệp.

Sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với Chính phủ Hồ Chí Minh dần chuyển từ tài chính – quân sự sang kinh tế – chính trị. Chắc anh chị còn nhớ Chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành cải cách ruộng đất trước sức ép và với tư vấn của chuyên gia Trung Quốc thế nào.

Trung Quốc chưa bao giờ muốn láng giềng mạnh. Ảnh: Lê Anh Dũng

Vâng, chúng tôi có nhớ. Nhưng đó là sự kiện mà nhiều người muốn quên.

Sau cải cách ruộng đất, vì tư tưởng cực đoan của những người tiến hành nó, ảnh hưởng của Liên Xô mới bắt đầu tăng lên. Tức là nó đã giúp làm cân bằng hơn ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô đối với Việt Nam (Dân chủ Cộng hòa).

Thế nhưng, lúc đó, Liên Xô vẫn chưa thực sự muốn can dự vào câu chuyện Việt Nam. Có một chi tiết thú vị là năm 1957, Liên Xô đã đề nghị Liên Hợp Quốc kết nạp cả hai nước Việt Nam vào tổ chức này (trước đề nghị của Mỹ về việc kết nạp Việt Nam Cộng Hòa – TS). Bây giờ nghe lại thấy quá buồn cười, phải không? Hà Nội lúc đó cũng thấy hết sức sửng sốt.

Bước ngoặt của sự can dự của Liên Xô vào Việt Nam là sự kiện Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc vào đầu năm 1965, và sau đó đưa quân đội sang tham chiến tại miền Nam.

Mỹ vào Việt Nam vì Trung Quốc?

Theo ông, những nguyên nhân gì dẫn đến việc chính phủ Mỹ quyết định trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam?

Về mặt quốc tế, Mỹ muốn ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản xuống khu vực Đông Nam Á. Tôi nghĩ thắng lợi của những người cộng sản ở Trung Quốc là một nguyên nhân cực kỳ quan trọng buộc Mỹ phải thay đổi chính sách đối ngoại của mình. Chính vì vậy, cho dù Việt Nam không phải là một vị trí quan trọng về mặt chiến lược với Mỹ, nhà cầm quyền nước này vẫn phải có sự can thiệp mạnh mẽ về mặt quân sự.

Chắc anh chị còn nhớ cuộc Chiến tranh Triều Tiên trước đó (1950-1953). Mỹ rất lo ngại rằng cả khu vực này sẽ do người cộng sản thao túng. Bởi Mao Trạch Đông chủ trương giúp sức cho tất cả các đảng cộng sản ở tất cả các nước láng giềng, hay trong khu vực.

Và đó là cái cớ rất tốt cho người Mỹ can thiệp?

Ngoài tư duy của thời Chiến tranh lạnh, liệu còn cái cớ gì hay hơn nữa? Chính Mao Trạch Đông đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ các đảng cộng sản trong khu vực tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng ở nước họ. Sự can thiệp của Mỹ có cái lý của nó, bởi lúc đó kẻ thù số một của Mỹ ở khu vực này là Trung Quốc, chứ không phải Việt Nam.

Về mặt quốc nội, trên thực tế, người Mỹ đã can dự vào Việt Nam từ năm 1950, với sự ủng hộ cả về chính trị lẫn kinh tế cho chính quyền Bảo Đại và sau này là chính quyền Ngô Đình Diệm. Các Tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Johnson, đều tái khẳng định sự ủng hộ với chính quyền Nam Việt Nam, với tư cách một đồng minh quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á.

Trong lúc đó, ở Pháp, cũng trong năm 1954, Tướng De Gaulle lên ngôi Tổng thống. Kể từ đó, trong mọi cuộc gặp gỡ với các tổng thống Mỹ , chẳng hạn với Eisenhower năm 1959, và Kenedy năm 1961, đều ở Paris, ông đều kêu gọi Mỹ hãy “ra khỏi Việt Nam”. Anh chị có thể tìm thấy trong kho lưu trữ, và thấy rằng Tổng thống De Gaulle tỏ ra rất quyết liệt trong lập trường của mình.

Lạ nhỉ?

Ông ta đã nhận thức được sai lầm của nước Pháp trong quá khứ, và cho rằng nên tăng cường quan hệ kinh tế – văn hóa với các nước Đông Nam Á, chứ không phải chính trị, hoặc quân sự. Nhưng, như anh chị thấy, cả Tổng thống Eisenhower lẫn Tổng thống Kennedy đều phớt lờ lời kêu gọi của ông.

Theo nghiên cứu của tôi, chủ yếu ở kho tư liệu của Nam Việt Nam, sau cái chết của Ngô Đình Diệm, vai trò và ảnh hưởng của Mỹ đối với các chính quyền quân sự sau đó, từ Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, đến Nguyễn Văn Thiệu, chủ yếu là những người Mỹ ở Sài Gòn, chứ không phải ở Washington.

Nếu anh chị có dịp đọc những báo cáo trong kho tư liệu đó, anh chị sẽ thấy chỉ có một số ít tướng lãnh ở Sài Gòn là mong muốn chiến tranh, còn phái dân sự chỉ muốn hòa bình. Và người Mỹ đã lựa chọn ủng hộ thiểu số tướng lãnh hiếu chiến đó, thay vì đa số còn lại, để quyết định trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1965.

Có một sự chuyển đổi rất thú vị trong giai đoạn ngắn ngủi từ 1963 đến 1965.

Hòa giải các “anh lớn”

Theo ông, liệu sự kiện Vịnh Con Lợn ở Cuba năm 1962 có ý nghĩa gì trong việc thúc đẩy sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam?

Tôi nghĩ nếu đó là nguyên nhân, thì chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Câu chuyện đó liên quan tới Liên Xô, chứ không phải với Trung Quốc – mối quan ngại lớn nhất của Mỹ ở khu vực châu Á.

À, tôi nhớ ra rồi. Sau đó chủ thuyết của Liên Xô là cùng tồn tại hòa bình. Cốt lõi của chủ thuyết này là các siêu cường cố gắng phân định với nhau khu vực ảnh hưởng của họ.

Cũng do chủ thuyết này mà có sự rạn nứt sâu sắc giữa hai nước lớn nhất trong phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc. Và Việt Nam đã vô tình rơi vào cái khe của vết rạn ngày càng lớn này.

Đúng vậy. Sự chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu từ năm 1960, và ông Hồ Chí Minh đã cố gắng hàn gắn sự rạn nứt này, với vai trò một trung gian hòa giải…

Bằng nỗ lực không biết mệt mỏi này, ông Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cả hai nước đang cực kỳ mâu thuẫn với nhau. Phải nói, về khía cạnh này, ông quá giỏi.

Chỗ đứng của Trung Quốc, từ Gieneva đến Paris

Đi với các nước lớn cũng giống như ta uống thuốc, ta luôn phải chịu tác dụng phụ của nó. Ông có nghĩ với việc cố nuốt trôi “hai viên thuốc lớn” đó, Việt Nam sau này cũng phải chịu những tác dụng phụ? Nói rõ hơn, sau năm 1975, Việt Nam lại bị kéo vào hai cuộc chiến tranh biên giới, một ở phía Bắc, một ở phía Tây Nam…

Tôi nghĩ đó lại là một câu chuyện khác, có nguyên nhân khác. Chứ còn giai đoạn những năm ’50, hay ’60, thực sự Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam với tư cách một đồng minh.

Trong lập luận của ông, tôi có cảm giác rằng mối quan hệ giữa các quốc gia quan trọng hơn là vấn đề hệ tư tưởng?

Tôi nghĩ điều này phụ thuộc vào từng giai đoạn khác nhau. Nói chung, trong quan hệ với Việt Nam, trong suốt thời kỳ từ 1950 đến 1975, mặc dù đã phạm một số sai lầm lớn mang tính chiến lược, Trung Quốc vẫn là một đồng minh lớn của Việt Nam, và đã có những sự giúp đỡ to lớn về quân sự, kinh tế – tài chính.

Nhưng cũng nhờ sự giúp đỡ to lớn để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc cũng có cơ hội để bắt tay với Mỹ, để từ đó thoát khỏi thế bị cô lập.

Vâng, cái bắt tay lịch sử giữa Mao Trạch Đông và Nixon.

Phía Mỹ dự đoán rằng Trung Quốc sẽ là một siêu cường trong tương lai, và đó là một cách tiếp cận đúng. De Gaulle đã nhận ra điều này sớm hơn nhiều, từ năm 1964. Ông đã có một quyết định quan trọng là muốn Trung Quốc can dự vào tiến trình hòa bình ở Việt Nam, một quyết định khiến Mỹ phản ứng rất dữ dội.

Nhờ sự giúp đỡ to lớn để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc cũng có cơ hội để bắt tay với Mỹ. Ảnh: Lê Anh Dũng

Cuộc gặp của hai nguyên thủ Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972, và quan hệ xích lại gần nhau giữa họ đã làm phức tạp mối quan hệ Việt – Trung. Bởi, mặc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam, động thái này về chính trị được coi là quá nhạy cảm.

Trước đó, Trung Quốc đã không đồng tình với chiến dịch Mậu Thân của Việt Nam, và sau đó là tiến trình đàm phán hòa bình Paris.

Về chiến dịch Mậu Thân, việc cuộc tấn công diễn ra ngay tại những đô thị lớn ở miền Nam rõ ràng đã đi ngược lại chiến lược của Trung Quốc là lấy nông thôn bao vây thành thị. Còn tiến trình hòa bình Paris, đối với Trung Quốc, chính là một dạng của “cùng tồn tại hòa bình”.

Bước ngoặt quan trọng thứ ba trong quan hệ Việt – Trung, là giai đoạn 1973-1974. Khi đó, Trung Quốc, vì quá lo ngại sự mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô đối với bán đảo Đông Dương, đã có những động thái tăng cường quan hệ với Thái Lan, và nhất là lực lượng kháng chiến Khmer Đỏ. Quan hệ Việt – Trung đã gặp nhiều trở ngại.

Nhượng bộ Geneva không vì sức ép

Vai trò của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam trong hòa ước Geneva và Paris rõ ràng khác nhau. Ở Geneva, Chu Ân Lai đã thuyết phục Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, khi hai người này được bí mật mới sang Trung Quốc, phải có sự nhượng bộ về giới tuyến tạm thời.

Đúng là vai trò của Trung Quốc là quá lớn vào năm 1954. Và cũng không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước. Tôi nghĩ lời đe dọa của Mỹ là sẽ can thiệp quân sự vào Đông Dương thực sự có sức nặng lên bàn đàm phán, và đó là điều Trung Quốc không muốn, bởi họ đã có kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, kết thúc một năm trước đó.

Nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất không nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai. Họ thực sự hiểu rõ rằng, nếu không ký hòa ước Geneva theo cách đó, Mỹ sẽ nhảy vào Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, người được Tổng thống Dương Văn Minh cử đến trại David để thương thuyết với phía Bắc Việt Nam về ngừng bắn, đã kể rằng vào sang 30.4.1975, ông đã gặp Tướng Vanuxem ở Dinh Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa. Lúc đó, Tướng Vanuxem đã thuyết phục Tổng thống Dương Văn Minh cố giữ thêm vài ba ngày nữa, hoặc chí ít là một ngày, và sẽ có sự can thiệp của phía Trung Quốc. Tướng Vanuxem còn nói rằng đã có sắn đường dây nóng với Bắc Kinh tại tòa lãnh sự Pháp tại Sài Gòn.

Tôi thực sự chưa được nghe câu chuyện này. Tôi nghĩ nó rất thú vị, nhưng khả năng hiện thực hóa là ít.

Trung Quốc, tranh thủ lúc Mỹ bỏ rơi chế độ Sài Gòn, đã chiếm nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Liệu điều này có gắn với việc họ giúp đỡ Bắc Việt Nam như một đồng minh, nhưng lại không muốn Việt Nam thống nhất, để hưởng lợi, cũng như bắt tay với Mỹ để thoát khỏi thế cô lập?

Về ý đầu tôi đồng ý với anh. Chính sách nhất quán của Trung Quốc từ rất lâu là không muốn thấy những nước láng giềng mạnh, và cách tốt nhất để thực hiện điều đó là chia rẽ họ. Một Việt Nam thống nhất, lớn mạnh và được hỗ trợ bởi Liên Xô thì càng nguy hiểm hơn đối với tham vọng của họ.

Tôi nghĩ việc Trung Quốc muốn bắt tay với Mỹ không phải ngay từ đầu, mà là hệ quả của mâu thuẫn với Liên Xô lên tới đỉnh điểm trong một cuộc chiến tranh qui mô nhỏ ở khu vực biên giới vào năm 1969. Hoảng sợ trước nguy cơ bị Liên Xô chèn ép, Trung Quốc đã tìm cách bắt tay với Mỹ.

Nếu anh chị đọc những bản ghi chép những cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước, anh chị sẽ thấy lãnh đạo Trung Quốc hững hờ thế nào với triển vọng thống nhất Việt Nam, cũng như những chiến thắng về quân sự của Việt Nam ở chiến trường B (miền Nam).

Rất tiếc là chúng ta không có khả năng tiếp cận kho dữ liệu của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam để khẳng định ý đồ đằng sau của Trung Quốc trong việc ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam. Chúng ta chỉ có thể tiếp cận các tài liệu đã giải mật của phía Mỹ, Pháp và một số nước châu Âu khác thôi.

Còn nữa

Huỳnh Phan – Phương Loan
vietnamnet.vn

Hội đàm Paris: Lợi thế đầu tiên

Paris đem lại lợi thế kỹ thuật ban đầu không thể tốt hơn với đoàn đàm phán của VNDCCH và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Khi cuộc đàm phán hòa bình mở ra tại Paris nhằm tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, nhà ngoại giao Dương Văn Quảng đang là một sinh viên được nhà nước cử đi học tại Pháp. Ông chỉ được tham dự vào những ngày cuối của cuộc đàm phán với tư cách một tình nguyện viên giúp việc cho phái đoàn VNDCCH, với công việc cụ thể nhất là ngồi dán các lá thư mời của phái đoàn gửi đến các tổ chức và nhân vật có ảnh hưởng trong chính giới Pháp.

“Có những ngày cần gửi gấp giấy tờ, mà theo đường bưu điện khi đó phải 2-3 ngày mới tới nơi, chúng tôi phải làm một việc là phân chia bưu phẩm theo từng vùng, từng quận trong Paris và các tỉnh lân cận rồi mang đến tận bưu cục của vùng đó để chắc chắn rằng người nhận sẽ nhận được sớm nhất có thể” – ông kể.

Giờ đây, ngồi nhìn lại cuộc đàm phán lịch sử đó trong ngôi nhà số 2 phố Verrier quận 6 Paris, nơi hơn 40 năm trước từng là địa điểm diễn ra nhiều cuộc đàm phán nảy lửa giữa các bên, và giờ là trụ sở của phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO mà ông làm Đại sứ, ông Quảng khẳng định: “Paris là địa điểm đàm phán tốt nhất có thể có với phía Việt Nam”.

“Paris hội tụ đầy đủ những gì có lợi cho phái đoàn VNDCCH và MTDTGPMNVN. Nước Pháp chủ nhà đã đóng một vai trò trung lập tuyệt vời. Paris là một trong những trung tâm chính trị quan trọng nhất của thế giới, là nơi thu hút mọi sự quan tâm của giới truyền thông và thuận tiện cho giao thông, liên lạc. Đó cũng là nơi có đông đảo người Việt sinh sống. Chưa kể, phái đoàn VNDCCH và Mặt trận còn nhận được sự giúp đỡ rất lớn của Đảng Cộng sản Pháp, các phong trào công đoàn và đa số dân Pháp ngày đó theo tư tưởng phản chiến”.Với Mỹ, Paris không thân thiện

Thực tế, điều nhà ngoại giao Dương Văn Quảng phân tích, cũng chính là những yếu tố từng khiến chính quyền của Tổng thống Mỹ Johnson e dè khi đề cập đến Paris như là một địa điểm để mở đầu đàm phán. Chính quyền của Johnson từng công khai nhận xét về Paris là “ủng hộ Việt-cộng một cách quá đáng”.

Công kích đó từ phía Mỹ không phải không có cơ sở.

Mùa Thu năm 1966, một cuộc thăm dò dư luận Pháp cho thấy 60% người Pháp cho rằng tình hình chiến sự tại Việt Nam có nguy cơ gây ra Thế chiến 3 và 68% cho rằng người Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam.

Những năm cuối thập kỷ 60 là quãng thời gian mà các phong trào xã hội dâng cao trong lòng nước Pháp với các chủ đề nóng bỏng như chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản và đòi hỏi thay đổi những giá trị truyền thống. Cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam, vì thế, lấy được rất ít sự cảm thông từ người Pháp.

Điều Johnson ngại hơn nữa là thái độ của De Gaulle, nhân vật có tư tưởng tự cường, không phụ thuộc vào Mỹ, và bị nhiều nhà ngoại giao Mỹ đả kích là “chỉ hả hê khi nhìn Mỹ thất bại”. Johnson sợ rằng việc đàm phán ở Paris sẽ chỉ mang lại thêm hào quang cho De Gaulle. Tuy nhiên, Johnson sau này cũng xuôi tai khi được Averell Harriman thuyết phục rằng sự hiện diện của những chuyên gia Pháp am hiểu Việt Nam như Manac’h hay Sainteny  có thể giúp ích rất nhiều cho các cuộc đàm phán.

Bên cạnh đó, John Gunther Dean cũng báo cáo về Washington rằng bất chấp sự phản đối chính thức từ phía chính phủ Pháp (về các giải pháp quân sự của Mỹ), sự thù địch của cộng đồng người Việt và báo chí Pháp… Paris vẫn có nhiều lợi thế hơn bất lợi bởi đó là thành phố lớn, nơi có mặt tất cả các phái đoàn ngoại giao dễ tham vấn, dễ đi lại, dễ tổ chức các cuộc gặp chính thức hay bí mật và người Pháp có thể hữu ích trong các kế hoạch hậu chiến.

Harry McPherson, cố vấn thân cận và là người chuyên viết diễn văn cho Johnson, thì tuyên bố đầy khẳng khái rằng “là nước lớn, Mỹ không thể từ chối Paris, kể cả khi De Gaulle có ý đồ xấu”. Cuối cùng, so với Warsaw mà Hà Nội từng muốn chọn, Paris dĩ nhiên vẫn tốt hơn với người Mỹ.

Người Pháp tất nhiên hiểu rằng cũng cần có những bù đắp nhất định để người Mỹ không cảm thấy quá thiệt thòi. Việc chọn địa điểm đàm phán chính thức ở nhà số 19 đại lộ Kleber trong quận 16, Paris là theo yêu cầu của phía Mỹ. Washington muốn một “địa điểm khiêm tốn” trong Paris vì không muốn “tô điểm” cho đối thủ trong khi phía Pháp, do lo ngại các cuộc biểu tình, muốn chọn một địa điểm nằm ngoài Paris, mà dự định lại là Cung Hội nghị hoành tráng ở lâu đài Versailles. Dự định này được Hà Nội ủng hộ.

“Anh em cộng sản” & Việt kiều

Với phái đoàn VNDCCH, và sau này thêm cả Mặt trận, những lo ngại nhanh chóng được thay thế bởi các trợ giúp quý giá. Tờ báo “L’Humanité – Nhân đạo”, của đảng CS Pháp (PCF) thống kê, từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973, trong 203 cuộc họp của Ban Bí thư Đảng CS Pháp, chủ đề Việt Nam xuất hiện trong 125 cuộc, đàm phán Paris trực tiếp đề cập trong 29 cuộc. Ở Bộ chính trị đảng CS Pháp, trong 171 cuộc họp thì 41 cuộc nói về Việt Nam và 10 cuộc trực tiếp bàn về tình hình đàm phán. Khi những nhà ngoại giao Việt Nam đặt chân đến Paris đàm phán thì các lãnh đạo PCF cũng ra lời kêu gọi một cuộc đấu tranh “của hai đảng anh em” nhằm tìm kiếm hòa bình cho Việt Nam.

Bên cạnh nỗ lực chính trị, Đảng CS Pháp, với mạng lưới cơ sở lớn, đã trực tiếp giúp đỡ nhiều về vật chất cho phái đoàn VNDCCH và Mặt trận. Ngôi nhà mà phái đoàn miền Bắc ở tại thành phố Choisy-le-Roi, của Mặt trận tại Verriere-le-Buison, căn nhà đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger tại Gif-sur-Yvette… tất cả đều là cơ sở kinh tài của đảng CS Pháp. Ngay cả những nhân viên an ninh, lái xe, người phục vụ các bữa ăn… cũng được đảng CS Pháp thuê và trả lương để phục vụ phái đoàn.

Để đấu tranh dư luận, vũ khí lợi hại nhất mà những người cộng sản Pháp cung cấp cho phái đoàn Việt Nam là tờ báo “L’Humanité – Nhân đạo”, một trong những tờ báo lớn tại Pháp. Tờ báo này đăng tải hầu như hàng ngày mọi tiến triển của hội đàm, những bài viết hay thông cáo báo chí từ các phái đoàn VNDCCH và Mặt trận, đồng thời đả kích các luận điểm từ phía Mỹ.

Trong diễn văn đọc tại Marseille ngày 30/11/1969, Raymond Guyot, khi đó là Ủy viên Bộ chính trị, phụ trách ban quốc tế đảng Cộng sản Pháp, đã giao nhiệm vụ cho L’Humanité là “Thông tin, thông tin nữa, bằng mọi phương tiện”.

Huy động các phong trào xã hội khác cùng tham gia biểu tình ủng hộ hòa bình ở Việt Nam cũng là một đóng góp khác có sức nặng của đảng CS Pháp cho Hà Nội trong việc gây sức ép với Mỹ trong đàm phán. Bà Helen Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, một trong những thành viên tích cực của những cuộc vận động đó, kể: “chúng tôi đã thực hiện những chiến dịch nhân đạo lớn như chiến dịch 100 triệu. Chúng tôi cũng thường xuyên liên kết với 52 tổ chức hữu nghị với Việt Nam và Phong trào Hòa bình để tổ chức các cuộc biểu tình, mit-ting lớn nhằm chống leo thang chiến tranh ở Việt Nam hay trực tiếp là thúc đẩy cuộc đàm phán tiến lên phía trước”.

Song song với những người cộng sản Pháp, phái đoàn VNDCCH và Mặt trận còn nhận được sự giúp đỡ hầu như không suy tính từ rất đông cá nhân trong cộng đồng người Việt sinh sống tại Pháp. Ở thời điểm đó, Pháp là quốc gia có đông người gốc Việt sinh sống nhất trên thế giới và việc nhiều gia đình người Việt bao bọc, giúp đỡ thành viên phái đoàn là chuyện không hiếm. Có người phụ trách y tế, người chuyên nấu các bữa ăn Việt Nam, người phiên dịch… nói chung là tất cả những gì có thể làm được. Có những gia đình đã coi các thành viên đoàn đàm phán như người thân trong nhà và cả gia đình đó được coi là “thế hệ Hiệp định” bởi tất cả từ cha mẹ, con cái đều gắn bó với 5 năm đàm phán dài đẵng đẵng tại Paris.

(còn tiếp)

Bùi Nguyễn
vietnamnet.vn

—————————–

Tư liệu:

  • Vietnam 1968-1976: Exiting a War (Pierre Journoud & Cécile Menétrey-Monchau)
  • Le Parti communiste francais et les négociations de Paris (Sylvain Pons, 2008)
  • Le Parti communiste francais et l’action de solidarité avec le Vietnam (Goscha, C.Vaisse)
  • L’Europe et la guerre du Vietnam, 1963-1973 (Brussels, Bruylant 2003)

Hội đàm Paris đã mở ra như thế nào?

 Những ý tưởng đầu tiên về một cuộc hội đàm bắt đầu năm 1967, năm mà Bộ Chính trị ở Hà Nội cũng nhận định phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao song song với những thắng lợi quân sự trên chiến trường.

Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?
Hòa đàm Paris 1968: Áp lực gia tăng
Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’
Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn
Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

Sau khi De Gaulle chính thức mở lại “hồ sơ Đông Dương” năm 1963, trong đó chống lại việc chia cắt Việt Nam và ủng hộ những nỗ lực trung lập hóa Đông Dương, nước chủ nhà của Hội nghị Paris đã hướng tầm nhìn đến các cuộc đàm phán mang lại giải pháp chính trị thay vì quân sự.

Các nhà ngoại giao chuyên nghiệp thuộc nằm lòng những nguyên tắc vàng trong việc lựa chọn  địa điểm đàm phán. Lý tưởng nhất, đó là cuộc đàm phán được tổ chức ngay tại nước mình, nơi đảm bảo được tất cả các điều kiện về bảo mật, thông tin, khả năng ứng biến và sự ủng hộ của công luận. Nhưng trong thông lệ đàm phán quốc tế, khả năng đó ít xảy ra do những yêu cầu tối thiểu về sự khách quan, vì thế, lợi thế kỹ thuật tốt nhất khi bước vào đàm phán là địa điểm đàm phán nằm trên một lãnh thổ không thù địch.

Khi những cuộc tiếp xúc bí mật  đầu tiên giữa phía Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) và Mỹ diễn ra vào tháng 3/1968, hai phía Mỹ và Việt Nam chưa có một ý tưởng cụ thể nào về địa điểm đàm phán. Sau đó, phía Việt Nam nêu ra Phnompenh (Campuchia) và Warsaw (Ba Lan) trong khi Mỹ từng có ý định đàm phán tại Indonesia.

Nhà ngoại giao Võ Văn Sung, thành viên đoàn đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger và là Đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Pháp, có kể lại trong 2 cuốn Hồi ký “Chiến dịch Hồ Chí Minh trong lòng Paris” và “Câu chuyện trái nghề” rằng việc lựa chọn địa điểm  đàm phán ngày đó cũng không kém phần quyết liệt. Đề xuất chọn Phnompenh và Warsaw của phía Việt Nam bị Mỹ từ chối và sau đó chính quyền của Tổng thống Johnson chỉ đồng ý khi địa điểm là Paris. Trong ký ức của ông Võ Văn Sung thì ông chính là người đề xuất họp ở  Paris và trước đó Bộ Chính trị cũng có  suy nghĩ này nên khi Vụ phương Tây của ông đưa đề xuất lên đã được chấp thuận ngay. Nước Pháp chủ nhà khi đó bị đánh giá là “cũng bị động”.

Tuy nhiên, nhiều học giả và nhà ngoại giao Pháp ngày nay nhìn lại câu chuyện khởi điểm đó và có những đánh giá khác về quá trình lựa chọn Paris và vai trò của nước Pháp.

Tầm nhìn từ De Gaulle

Henri Froment Meurice từng là Vụ trưởng Vụ châu Á-châu Đại dương của Bộ Ngoại giao Pháp cuối thập niên 60, đã mô tả rất kỹ những trải nghiệm của ông trong Hồi ký “Journal d’Asie”, mà phần quan trọng nhất chính là việc nước Pháp làm thế nào để tổ chức cuộc hòa đàm Paris và tìm cách để lại ảnh hưởng của mình.

Meurice kể: “Sự hiện diện của những nhà đàm phán tại thủ đô (Paris) trao cho nước Pháp khả năng đóng một vai trò mà chắc chắn sẽ không có được nếu cuộc đàm phán diễn ra ở một nơi nào khác như Vienne hay Geneve. Ở Paris, nước Pháp có thể, thông qua các con bài của mình, tạo ra một số ảnh hưởng. Sự hiểu biết của nước Pháp với các chính trị gia ở Đông Dương, bầu không khí tốt đẹp với Washington  mà (Tổng thống) Georges Pompidou mang lại, cho phép nước Pháp nhận được sự tín nhiệm của tất cả các bên, chính thức hay không chính thức, để có thể luân chuyển các thông điệp, đôi khi là đề xuất các ý tưởng. Không cần phóng đại những việc này nhưng hiệu quả của chúng, mà như thừa nhận của các bên tham gia, là rất hữu ích”.

Thực tế thì những người Pháp không bị động, họ thậm chí còn là những người đã đoán trước tình thế tại Đông Dương. Trong giới học giả và ngoại giao Pháp, bài phát biểu của Tướng De Gaulle tại Phnompenh năm 1965 vẫn được coi là “sách Thánh”, là những lời phát biểu có tính tiên tri về diễn biến các cuộc chiến tại vùng đất từng do Pháp cai quản. Trong Tuyên bố đó, De Gaulle đã nhận định rằng cuộc chiến của Mỹ ở Đông Dương sẽ không thể có một kết cục bằng quân sự mà phải có giải pháp chính trị và Mỹ cần rút quân khỏi Đông Dương theo một lộ trình hợp lý.

Vào thời điểm đó, De Gaulle hiện diện như một nhân vật chính trị mạnh mẽ theo đường lối độc lập, không phụ thuộc vào Mỹ. Nước Pháp dưới thời De Gaulle đã rút ra khỏi Bộ chỉ huy NATO và những phát biểu của De Gaulle được mổ xẻ trong tư duy của những nhà ngoại giao Mỹ là “đáng ngờ và mang xu hướng của những kẻ hằn học”.

Bầu không khí nghi kỵ tồn tại giữa Paris và Washington và Tổng thống Johnson đã không xem xét một cách nghiêm túc cảnh báo của De Gaulle rằng về lợi ích lâu dài của phương Tây, cần trung lập hóa Đông Dương và nếu theo đuổi chiến tranh, nước Mỹ có thể bị sa lầy rồi thất bại giống như nước Pháp trước đó.

Ông Lê Đức Thọ tại buổi họp báo. Ảnh Corbis.

Kênh ngầm

Nhưng những nỗ lực ngoại giao vẫn chảy theo kênh ngầm. Dù De Gaulle công khai thể hiện sự thất vọng và chỉ trích đối với chiến lược leo thang chiến tranh chống lại miền Bắc Việt Nam của Johnson, ông vẫn bật đèn xanh cho các nhà ngoại giao Pháp thực hiện các vai trò trung gian.

Những ý tưởng đầu tiên về một cuộc hội đàm bắt đầu năm 1967, năm mà Bộ  Chính trị ở Hà Nội cũng nhận định phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao song song với những thắng lợi quân sự trên chiến trường.

Ở Quai d’Orsay (Bộ Ngoại giao Pháp), người khởi sự công việc chắp nối các đầu mối này là Etienne Manac’h, khi đó là Vụ trưởng Vụ châu Á.  Manac’h là người thân cận với De Gaulle và có tiếng nói khá độc lập, thậm chí không ngần ngại chỉ trích De Gaulle, nên được coi là một chuyên gia am hiểu, quyết đoán, độc lập và thành thật. Nhưng để tránh kéo chính phủ Pháp dính líu vào những nỗ lực chính trị còn chưa định hình, Manac’h hoạt động đơn độc với tư cách cá nhân.

Đầu tiên ông liên hệ với John Gunther Dean, tham tán chính trị Sứ quán Mỹ tại Paris, người cũng được Đại sứ Mỹ bật đèn xanh để duy trì một kênh liên lạc kín với những bên quan tâm đến một giải pháp ngoại giao. Dean sau này là một nhà ngoại giao Mỹ nổi bật, từng là Đại sứ Mỹ tại 5 quốc gia, gồm Campuchia (1974-1975), Đan Mạch (1975-1978), Liban (1978-1981), Thái Lan (1981-1985) và Ấn Độ (1985-1988).

Manac’h đã kiên trì thuyết phục Dean về những điểm lợi của việc ngừng ném bom và  nhất là việc xem xét một cách nghiêm túc phát biểu chính thức của Bộ trưởng Ngoại giao VNDCCH Nguyễn Duy Trinh rằng việc tiếp tục ném bom miền Bắc Việt Nam là trở ngại duy nhất cho việc mở ra các cuộc đàm phán.

Song song với đó, Manac’h có nhiều cuộc gặp với ông Mai Văn Bộ, Trưởng phái đoàn Ngoại giao VNDCCH tại Paris, để nắm rõ lập trường của Hà Nội, sau này thể hiện cụ thể trong tuyên bố của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh ngày 29/12/1967: “Sau khi Mỹ ngừng ném bom vô điều kiện, VNDCCH sẽ đàm phán với Mỹ”. Manac’h đã nhận sự tái khẳng định của thông điệp này từ ông Mai Văn Bộ và lập tức chuyển tới Washington.

Cho đến đầu năm 1968, khi De Gaulle đã chắc chắn rằng việc mở ra một đàm phán giữa Mỹ  và các phe phái ở Việt Nam là không tránh khỏi, ông đã hành động chính thức bằng việc thông qua Giáo sư Andre Roussel, Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Pháp-Việt để nhận được những phản ứng từ phía Hà Nội về một cuộc hội đàm ở Paris.

Câu trả lời phía Pháp nhận được từ Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau chuyến thăm của bác sỹ Roussel đến Hà Nội là tích cực, “VNDCCH mở cửa cho tất cả”, dù ông Phạm Văn Đồng cũng không quên cảnh báo rằng nước Pháp “không can dự vào chuyện Việt Nam”.

Ngay sau những nỗ lực đó, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân diễn ra và đã gạt bỏ  hẳn những dè dặt từ phía chính quyền Johnson về sự cần thiết phải ngừng ném bom và mở  ra đàm phán. Sau nhiều tuần do dự, ngày 31/3/1968, Johnson tuyên bố đơn phương chấm dứt ném bom một phần miền Bắc và đồng ý mở cuộc đàm phán giữa các đại diện Việt Nam và phía Mỹ. Ông cũng tuyên bố mình sẽ không ra tham dự cuộc đua trở thành ứng cử viên đảng Dân chủ tham gia cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 năm đó.

Ngôi nhà số 11 phố Darthe, thành phố Choisy le Roi thuộc về Đảng cộng sản Pháp, nơi diễn ra nhiều cuộc đàm phán bí mật giữa phái đoàn VNDCCH và phía Mỹ. Ảnh Bùi Nguyễn.

Hai bên quan trọng nhất của hội đàm coi như đã đồng ý trên nguyên tắc về  những cuộc thảo luận tại Paris, việc tiếp theo là thuyết phục chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ngồi vào bàn đàm phán theo phương án mà các bên muốn hướng tới. Ngay sau khi nhận được sự ủng hộ từ Hà Nội, Văn phòng Tổng thống De Gaulle cử ngay một phái viên, mà danh tính được giữ kín, đến Sài Gòn. Phái viên này bí mật đến Sài Gòn vào trung tuần tháng 4/1968 và làm một công việc gần giống với bác sỹ Andre Roussel đã làm vài tháng trước tại Hà Nội, đó là phía Pháp hứa hẹn những giúp đỡ từ Paris dựa trên trách nhiệm đạo đức mà Pháp cảm thấy phải gánh vác tại Đông Dương. Vị phái viên này còn trấn an chính quyền VNCH rằng việc Pháp xích lại gần Hà Nội là một tính toán nhằm cân bằng ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với chính phủ VNDCCH. Cuộc du thuyết mang lại kết quả tích cực.

Ngày 23/4, trong một cuộc trả lời phỏng vấn tờ Evening Star, Ngoại trưởng chính quyền VNCH khi đó là Trần Văn Đỗ khẳng định rằng chính quyền Sài Gòn không phản đối việc lựa chọn Paris làm địa điểm cho các bên đối thoại. Nước Pháp đã biết là cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều không phản đối Paris. Trước đó 5 ngày, Ủy ban đối ngoại Quốc hội Pháp cũng đã phát đi tín hiệu cho biết nước Pháp sẽ không phản đối nếu chính phủ Mỹ và VNDCCH chọn Paris làm địa điểm đàm phán. Sau hơn 1 tháng của những nỗ lực ngoại giao con thoi căng thẳng, hội đàm Paris chính thức mở ra vào ngày 3/5/1968…

(còn tiếp)

Bùi Nguyễn
vietnamnet.vn

Tư liệu:

  • Vietnam 1968-1976: Exiting a War (Pierre Journoud & Cécile Menétrey-Monchau)
  • Les révolutionnaires vietnammiens et sa lutte sur les “trois front” en 1968 (Rolland, D and Faure)
  • Hanoi’s Diplomatic struggle during the American War – Pierre Asselin
  • L’Europe et la guerre du Vietnam, 1963-1973 (Brussels, Bruylant 2003)