Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Đảng, Bác Hồ Xuân Tân Tỵ và Quý Tỵ không thể nào quên

Mùa xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 28-1-1941, tức mùng 2 Tết, Người về tới cột mốc 108 biên giới Việt – Trung thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngày 8-2-1941, Người đến ở trong hang Cốc Bó thuộc địa phận làng Pác Pó, xã Trường Hà. Nơi ở có con suối và ngọn núi, Người đặt tên là suối Lênin và núi Các Mác. Người sáng tác hai bài thơ: Pác Bó hùng vĩ và Tức cảnh Pác Bó.

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Đồng chí Dương Đại Lâm kể lại sinh hoạt của Bác trong thời gian ở Pác Bó: “Người sống rất giản dị và kham khổ. Nước lá ổi thay chè, và cải xoang là thức ăn chủ yếu. Ngày ấy đồng bào quanh vùng ăn độn bắp, mọi người trong cơ quan cũng ăn độn bắp. Riêng “đồng chí già” tuổi cao, sức yếu, chúng tôi mua gạo nấu riêng cho Người ăn, nhưng Người không đồng ý. Có lần bắp non xay để lâu mới ăn đến, bị chua, chúng tôi lại đề nghị Người ăn cơm gạo không, Người vẫn không nghe… Câu thơ cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng chính là ra đời trong thời kỳ này, gian khổ nhưng đầy lạc quan”.

Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Bác Hồ chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm đoàn kết tất cả các giới đồng bào yêu nước để giành lại độc lập dân tộc. Hội nghị cũng đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới và cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Mùa xuân Tân Tỵ năm 1941, tư duy độc lập sáng tạo của Bác Hồ, đặt cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu là tiền đề quyết định thành công của cách mạng mùa Thu tháng Tám 1945.

Mùa xuân Quý Tỵ 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bước vào năm thứ tám. Nhân dịp Tết Dương lịch, ngày 1 tháng 1 năm 1953, Bác Hồ gửi Thơ chúc Tết đến đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Thơ chúc Tết

Toàn thể chiến sĩ thi đua giết giặc,
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,
Độc lập thống nhất, nhất định thành công.

                                                Ngày 1 tháng 1 năm 1953
                                                Hồ Chí Minh

Cũng trong ngày này, Bác tiếp tục dự phiên họp Hội đồng Chính phủ. Tổng kết cuộc họp, Người nêu: Phải có chính sách cán bộ, phấn đấu nâng cao mức sống của cán bộ và các tầng lớp nhân dân. Phải triệt để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Cán bộ phải gương mẫu đi trước; có thưởng, có phạt.

Ngày đầu năm dương lịch, Bác tiếp và chụp ảnh với đồng chí La Quý Ba cùng các đồng chí nữ trong Đoàn cố vấn Trung Quốc đến chúc mừng Người nhân dịp năm mới.

Hơn một tháng sau, đến Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ cũng có Thơ chúc Tết đăng trên Báo Nhân dân số 95 (ngày 11 đến ngày 15-2-1953):

Thơ chúc Tết xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,
Lực lượng mới, thành công mới.
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới.

                                                Hồ Chí Minh

Nhân dân ta đón Tết Quý Tỵ 1953 khi Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 2) vừa kết thúc thắng lợi. Hội nghị đánh giá tình hình thế giới và trong nước năm 1952 và đề ra nhiệm vụ năm 1953 mà trọng tâm là: lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân thật vững mạnh và luôn luôn tiến bộ; phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức để tiến đến cải cách ruộng đất.

Nói về tầm quan trọng và ý nghĩa của cải cách ruộng đất, Bác nhấn mạnh: “… Ngày nay, kháng chiến đã 7 năm, đồng bào nông dân hy sinh cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày. Đó là một điều rất không hợp lý. Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”. Trên thực tế, dù có một số sai lầm lệch lạc được Bác Hồ kịp thời ngăn chặn, cải cách ruộng đất đã thu được kết quả to lớn. Hàng triệu nông dân có ruộng, đời sống được cải thiện, kháng chiến có thêm sức mạnh.

Đồng thời, từ đầu năm 1953, với bút danh Đ.X, Bác viết một loạt 50 bài thường thức về chính trị đăng trên Báo Cứu Quốc. Nội dung các bài viết là những vấn đề lý luận chính trị cơ bản, đi sâu chủ đề công tác xây dựng Đảng, xây dựng lý tưởng và niềm tin cho cán bộ, đảng viên để vượt qua gian khổ, hy sinh nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước Tết, quân ta đã kết thúc thắng lợi chiến dịch Tây Bắc: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của Pháp, giải phóng một phần đất đai, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Rồi sau Tết ba tháng, liên quân Lào – Việt mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ. Nhờ vậy, căn cứ kháng chiến Thượng Lào nối liền với vùng Tây Bắc, tạo một thế mạnh uy hiếp quân Pháp.

Đầu tháng 3 năm 1953, Bác Hồ chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ. Bác phát biểu tổng kết phiên họp, nhấn mạnh: Phiên họp đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là chính sách ruộng đất. Song chúng ta không được chủ quan, phải có quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước khi bế mạc, đáp lại lời phát biểu tổng kết của Bác, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, đọc mấy câu thơ:

Mấy lời Bác dạy sắt son
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
Diệt thù giải phóng quê ta
Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu.

Cả hội trường vỗ tay, hoan hô nhiệt liệt. Bỗng Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng, rồi Người đọc tiếp thêm hai câu:

Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy ra thì một năm sau vội gì.

Tất cả mọi người reo hò nồng nhiệt. Nhưng chẳng ai nghĩ rằng đó là lời tiên tri của Bác về ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đúng vào tháng 3 năm sau, ngày 13-3-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn và kết thúc thắng lợi vẻ vang sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng.

Đất nước lại vào xuân. Xuân Quý Tỵ 2013. Một năm đi qua có lúc gặp phải sóng to gió lớn. Nhưng con thuyền cách mạng vẫn vững vàng vượt lên phía trước ánh bình minh. Vầng dương ngày càng rực sáng. Xuân về, vườn thơ xuân của Bác Hồ lại khoe sắc và ngát hương. Lời thơ chúc Tết của Bác năm nào như vẫn đang vang vọng trong mỗi lòng người.

PHẠM MINH KHẢI
hagiang.vnpt.vn

Mùa xuân nhớ Bác, ơn Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào đúng dịp xuân về (vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, nhằm ngày 3/2/1930). Lúc đầu, khi mới ra đời, Đảng ta chỉ vỏn vẹn có mấy trăm người trong cảnh “nước đã mất, dân phải làm nô lệ”, những người yêu nước và cách mạng bị chính quyền thực dân, phong kiến truy lùng, bắt bớ, giam cầm, chém giết. Những người cộng sản phải hòa mình trong giai cấp cần lao, được nhân dân ta bao bọc, chở che, đã nhen nhóm và thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng để cứu dân, cứu nước. Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân và cùng toàn dân không quản hy sinh, không nề gian khổ, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ImageBộ tem cờ đỏ búa liềm được phát hành năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Cứ mỗi độ xuân về, chúng ta lại nhớ về Đảng, nhất là nhân kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Và Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng là trí tuệ, là niềm tin, là phẩm chất cao đẹp của dân tộc, kế thừa tinh hoa và được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta thuở mang gươm đi mở cõi. Sức mạnh của Đảng chính là đại đoàn kết toàn dân, là sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Chính vì thế mà Bác đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó, là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Sự liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân là điều mà Bác đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác thường xuyên nhắc nhở:“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng  Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành mộ khối”. Có thể nói chưa ở đâu mà lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Bác Hồ với nhân dân ta.

Bác còn nói: “Đảng ta là một Đảng tiên phong, anh dũng. Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của Đảng thì toàn thể cán bộ và đảng viên từ trên đến dưới, bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, đều phải: Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”. Bác nói thế và suốt đời Bác luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Bác luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Bác dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

ImageBác Hồ nói chuyện với nông dân năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Mùa xuân đến, ta không những phấn khởi, nô nức chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, mà chúng ta lại càng nhớ nhiều đến Bác Hồ kính yêu, người đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng ta đã lãnh đạo, rèn luyện, lãnh đạo cách mạng nước ta 83 năm qua. Ngày thành lập Đảng 3/2 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, mà cả dân tộc đã đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước công nông, Nhà nước của nhân dân lao động; tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thu giang sơn về một mối và đưa cả nước tiến lên xây dựng CNXH.

Có thể khẳng định lịch sử đất nước ta từ khi Đảng ra đời năm 1930 đến nay vẫn luôn minh chứng lời Bác nói, Đảng ta luôn có tư duy trẻ, trí tuệ, năng động, sáng tạo, nhanh nhạy, bám sát thực tiễn, biết phát hiện vấn đề mới và quyết đoán. Đảng mãi mãi là niềm tin tất thắng sáng  ngời, là biểu tượng của ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Nhìn lại chặng đường dài từ mùa xuân 1930 đến nay, mọi người Việt Nam yêu nước đều ghi lòng tạc dạ công ơn của Đảng, của Bác như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ Một nhành xuân: “… Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, tôi sinh ra nhưng chưa được làm người, nước đã mất cha đã làm nô lệ, ôi ! nhớ ngày xưa mưa xứ Huế, mưa sao buồn vậy nỗi mưa ơi, ngẫng đầu lên không thấy ánh mặt trời, đất lai láng chỉ là nước mắt… Từ vô vọng mênh mông đêm tối, Người đã đến chói chang nắng dội, trong lòng tôi ôi Đảng thân yêu…”

Bởi vì nếu không có Đảng, không có Bác thì dân tộc ta không thể có ngày hôm nay, Đảng ta mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối mà giấy mực nào ghi hết được niềm tin yêu của nhân dân ta đối với Đảng ta, là một Đảng cách mạng duy nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng, luôn biết lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức của lạm phát toàn cầu, vượt qua thiên tai, bão lũ. Đặc biệt, càng làm sáng lên ý chí đoàn kết, phát huy nội lực, tình cảm gắn bó “lá lành dùm lá rách”, chăm lo đến đời sống cho đồng bào ta; tổ chức rộng rãi cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để càng làm cho chúng ta luôn nhớ tới lời dặn, lời dạy của Bác lúc sinh thời, mãi mãi nhớ tới công lao trời biển của Bác, người cộng sản Việt Nam đầu tiên tuyệt vời, đẹp nhất, vĩ đại nhất, danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, quân đội ta và điều quan trọng là Bác Hồ kính yêu vẫn sống mãi trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta.

ImageDi tích Cây Da Đôi, xã Tân Xuân, Ba Tri, nơi diễn ra cuộc míttinh sau khi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của Bến Tre. (Ảnh: Ngọc Thạch).

Đối với tỉnh ta, lịch sử hình thành và phát triển tự nhiên là vùng cù lao bốn bề sông nước, được các lưu dân vượt qua chặng đường dài suốt hàng thế kỷ, với biết bao nỗi nguy nan, cam go, vất vả, những hy sinh thầm lặng, nỗi ngậm ngùi, để chinh phục những rừng rậm hoang vu, đầm lầy đầy thú dữ, muỗi mòng, rắn rết, sơn lam chướng khí,… để biến vùng đất này thành tỉnh Bến Tre trù phú. Và như mạch suối ngầm âm thầm ngày đêm miệt mài chảy trong lòng đất, hòa vào cùng với cả nước ta, mảnh đất ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, nuôi dưỡng và che chở cho hàng ngàn chiến sĩ cách mạng. Và Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre ra đời vào cuối tháng 4/1930 tại nhà ông Nguyễn Văn Cung thuộc ấp Tân Hòa, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri. Sau khi thành lập, để tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, Chi bộ xã Tân Xuân đã tổ chức cuộc míttinh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1/5) tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành thu hút trên 200 quần chúng trong xã và các xã lân cận tham gia. Đồng chí Trần Văn An – Bí thư Chi bộ Đảng đứng lên đọc lời hiệu triệu, vạch rõ tội ác của bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn tay sai, vận động quần chúng đứng lên chống Pháp. Lá cờ đỏ búa liềm bay phất phới trên ngọn Cây Da Đôi. Cuộc míttinh sau đó trở thành cuộc biểu tình tuần hành biểu dương lực lượng. Đồng chí Trần Văn An cầm cờ đỏ búa liềm dẫn đầu đoàn biểu tình, theo sau là quần chúng cầm băng, cờ, biểu ngữ, trang bị vũ khí thô sơ, tuần hành qua các ấp trong xã, nổi trống mõ, hô vang khẩu hiệu rồi giải tán. Cuộc biểu tình đầu tiên do Chi bộ Đảng xã Tân Xuân tổ chức thành công tốt đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng trong nhân dân, minh chứng đường lối của Đảng đúng đắn là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Với truyền thống yêu nước bất khuất của người Bến Tre, được các thế hệ bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc ngay từ buổi đầu chống quân xâm lược, qua thời kỳ thành lập Đảng, rồi thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt nhất là dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, Đảng bộ Bến Tre thời chống Mỹ đã lãnh đạo nhân dân xứ dừa nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt làm nên cuộc Đồng Khởi vào ngày 17/1/1960 long trời lở đất. Và cao trào Đồng Khởi Bến Tre như nước vỡ bờ lan rộng ra cả miền Nam, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Chiến tranh đã qua đi, lịch sử cũng đã sang trang, đất nước ta, quê hương ta bước sang một giai đoạn mới, nhưng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam  3/2/1930 mãi mãi vẫn là điểm son của cách mạng Việt Nam. Và những thành tựu vô cùng to lớn trong 83 năm qua chứng tỏ Đảng ta luôn kiên định chủ nghĩa Mác–Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đó là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từng lúc vượt qua khó khăn, thử thách của cả đất nước, cả dân tộc, cùng vượt qua thiên tai, bão lũ, những cơn bão tài chính, bão trong thực phẩm, bão dịch bệnh cho người và gia súc…. Tình hình là như vậy, khó khăn chồng chất như vậy, nhưng chính trong những ngày tháng khó khăn nhất, vất vả nhất, lại là dịp để Đảng ta thể hiện bản lĩnh lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân vượt qua và khắc phục những khó khăn từng lúc.

Không những Đảng ta chỉ chăm lo cho nhân dân, phát động nhân dân trong nước đùm bọc nhau khi khó khăn hoạn nạn, mà khi nghe tin các nước bạn trên thế giới bị thiên tai tàn phá, Đảng ta cùng bà con ta cũng lại sẵn sàng “bát cơm sẻ nửa” để chi viện cho nước bạn anh em mà không hề kêu ca, phàn nàn. Tấm lòng cao cả đó không phải bỗng dưng mà có, mà chính là nhờ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế vô sản cho đảng viên, cho nhân dân.

Nhờ có Đảng ra đời và dưới sự lãnh đạo tài tình bằng đường lối cách mạng đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vẻ vang, làm nên sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng ta sẽ luôn là ánh sáng ban mai, là một vườn hoa thơm ngào ngạt, là mùa xuân ấm áp mang nhiều niềm tin và hy vọng, là một rừng cây cao bóng mát, là Đảng của toàn dân tộc Việt Nam, là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân.

Xuân 2013, chúng ta lại hân hoan, phấn khởi chào đón năm mới với bao niềm hy vọng, nhưng hạnh phúc nhất là chào mừng Đảng ta tròn 83 tuổi. Trên khắp mọi miền đất nước ta, đâu đâu cũng thấy những khẩu hiệu “Mừng đất mước đổi mới –  Mừng Đảng quang vinh – Mừng xuân Quý Tỵ!”. Với bao niềm hy vọng khi mỗi mùa xuân đến, chúng ta lại càng không quên những lời kêu gọi của một vị lãnh tụ thiên tài, kính yêu vô vàn của đất nước ta, dân tộc ta:

Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

Với niềm tự hào, niềm tin vững chắc vào Đảng quang vinh, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Riêng với quê hương ta tiếp bước và phát huy truyền thống anh dũng, Đồng Khởi của các thế hệ cha, anh đã làm nên những chiến công oanh liệt và viết nên những trang sử vàng làm rạng danh quê hương Bến Tre Đồng Khởi anh hùng. Giờ đây trong niềm vui chung của đất nước ngày càng đổi mới, tiến lên xây dựng thành công CNXH, chúng ta hãy cùng tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân Bến Tre cùng đồng tâm, đồng lòng, hiệp lực tiếp tục nhiệm vụ cuộc “Đồng Khởi mới” là thực hiện thắng lợi Nghị Đại hội lần thứ XI của Đảng ta và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ IX. Đặc biệt, là xây dựng quê hương Bến Tre ngày càng giàu đẹp, là xây dựng thành công xã nông thôn mới trên quê hương xứ dừa Bến Tre; tiếp tục cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, không chỉ là học tập mà quan trọng hơn hết là làm theo lời Bác, để luôn xứng đáng, luôn tự hào “dáng đứng Bến Tre”.

Chúng ta mãi mãi khắc ghi ơn Đảng, luôn tự hào Đảng đã làm nên nhiều kỳ tích vang dội khắp năm châu. Chúng ta luôn tạc dạ ghi lòng vì “Đảng đã cho ta một mùa xuân bao ước vọng…”, “Đảng đã cho ta sáng mắt, sáng lòng…” và Đảng đã cùng với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước thanh bình.

(Tham khảo tư liệu lịch sử)

Hoàng Chương
bentre.gov.vn

Bác Hồ và những mùa xuân kỷ niệm

Mỗi dịp Tết cổ truyền dân tộc, bên cạnh cây nêu, cành hoa đào, mâm ngũ quả, nóc nhà mỗi gia đình Việt Nam có thêm lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới tượng trưng cho ánh sáng của nền độc lập. Cả cuộc đời mình, Bác Hồ hy sinh lặn lội đi khắp chân trời góc bể cũng chỉ vì mong cho cả dân tộc đón xuân trong độc lập, ấm no, hạnh phúc.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào và bộ đội, Tết Đinh Mùi (2.1967)

Nhớ mùa xuân của 81 năm về trước, xuân Canh Ngọ năm 1930, Bác Hồ khai xuân chính là khai hội thành lập Đảng. Xuân Canh Ngọ năm đó đối với Bác Hồ thật đặc biệt. Sau bao nhiêu năm cách mạng Việt Nam chìm trong bóng đêm nô lệ, các phong trào yêu nước lần lượt thất bại, bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm thấy ở học thuyết khoa học cách mạng này con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 3.2.1930, Người đã triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiệm vụ cách mạng được Người cụ thể hóa trong Chánh cương vắn tắt nhấn mạnh tới chủ trương chiến lược: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản… Làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do…” Mùa xuân năm đó đi vào lịch sử của dân tộc.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng tìm con đường cứu nước cứu dân cho dân tộc Việt Nam, Người trở về Tổ quốc. Trở về đến cột mốc 108, Người không khỏi xúc động bồi hồi. Sau mấy chục năm xa Tổ quốc Bác lại được trở về lãnh đạo con thuyền cách mạng dân tộc vượt qua những cơn sóng gió đi đến những bến bờ hạnh phúc. Đặc biệt, tháng 5.1941, Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám của Đảng, phát triển hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

4 mùa xuân sau, Cách mạng tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Ước mơ độc lập, tự do cũng trở thành hiện thực, nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do và lịch sử vẫn nhắc đến mùa xuân đó là “Tết độc lập”. Tối 30 Tết năm đó, Bác Hồ bí mật đi thăm mấy gia đình ở phố Sinh Từ, Hà Nội. Bác đi không báo trước. Người muốn trực tiếp thấy đồng bào đón Tết. Bác đến một gia đình nghèo, khi mà không khí Tết đã rộn ràng khắp nơi thì gia đình đó chưa có Tết. Người suy nghĩ nhiều, nước nhà độc lập, dân còn nghèo thì độc lập đó dân chưa được hưởng trọn vẹn. Sáng hôm sau, mồng 1 Tết, Bác cho gọi Chủ tịch Ủy ban Hà Nội, đề nghị ủy ban cùng các đoàn thể vận động bà con san sẻ của ít lòng nhiều giúp đỡ những gia đình nghèo để mọi người ai ai cũng được hưởng Tết độc lập.

Đầu xuân Tết năm đó, khi trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Bác nói nguyện vọng thiết tha là mong sao “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Mong muốn đầu xuân của Bác cũng là lời chúc năm mới của những người dân khi gặp nhau, cầu mong cho năm mới ấm no hạnh phúc, bởi vì cũng năm trước đó nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người .

Xuân Tân Mão năm 1951 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã bầu Bác làm Chủ tịch Đảng. Sau 6 năm Đảng tuyên bố tự giải tán (11.11.1945), Đảng quyết định ra hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Với Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam, lần đầu tiên, Đảng đã phát triển hoàn chỉnh lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phấn đấu đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn.

Đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, nhưng người nông dân vẫn nghèo khi họ chưa làm chủ ruộng đất. Trong thư chúc Tết đầu năm 1954. Bác mong sao cho “người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn”. Đầu xuân năm 1958, khi tình hình xây dựng đất nước đang trên đà phát triển mạnh Bác căn dặn phải chú trọng “phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của người dân, trước hết là của nhân dân lao động”.

Mùa xuân năm 1960 nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ kêu gọi “Tết trồng cây” cũng vì một mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh. Tết trồng cây do Bác phát động cho đến hôm nay trở thành một truyền thống đẹp trong nhân dân những ngày đầu xuân. Nhớ kỷ niệm ngày đầu xuân, khi về Chu Mật – Sơn Tây, đứng trên đồi trọc, Bác nhắc nhở đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, đại ý Bác đã 3 lần đến đây, lần đầu cây còn tốt xum xuê, lần thứ 2 cây còn lưa thưa, lần này chỉ còn là đồi trọc. Vì vậy, Bác đề nghị tỉnh nhà phải phát động toàn dân trồng cây phủ xanh đồi trọc. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy hứa với Bác sẽ quyết tâm trồng cây để phủ xanh đất trống đồi trọc để lần sau được đón Bác tới thăm. Bác cười hiền từ và nói: “Quyết tâm trồng cây tốt, phủ xanh đồi là ích nước lợi dân, chứ đâu phải thành tích để Bác khen, Bác về thăm mới quyết tâm trồng cây”.

Trọn cuộc đời 79 mùa xuân, Bác lo cho dân, cho nước.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Gặp người phổ nhạc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Bác Hồ chúc Tết(Congannghean.vn)-Ca khúc mà Đại tá Huy Thục viết nhanh và hay nhất là tác phẩm mà ông phổ thơ Bác Hồ chúc xuân đồng bào chiến sĩ Xuân Mậu Thân 1968 và Xuân 1969; 2 mùa xuân cuối cùng trước khi Bác Hồ đi xa.

Nhạc sĩ Huy Thục là một trong những chiến sĩ lão thành của thế hệ nhạc sĩ quân đội trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông đã hầu như có mặt khắp mọi chiến trường miền Nam, có mặt trong mọi điểm chốt, chiến hào, lăn lộn cùng chiến sĩ để sáng tác và làm báo giải phóng.

Tác phẩm hay và nổi tiếng của ông là bản nhạc viết cho đàn bầu và dàn nhạc là “Vì miền Nam”. Song ca khúc mà Đại tá Huy Thục viết nhanh và hay nhất là tác phẩm mà ông phổ thơ Bác Hồ chúc xuân đồng bào chiến sĩ Xuân Mậu Thân 1968 và Xuân 1969; 2 mùa xuân cuối cùng trước khi Bác Hồ đi xa.

Trong một đợt đi tập huấn nghiệp vụ với tư cách là đoàn phó đoàn văn công Tỉnh đội Bình Trị Thiên ở Ba Vì – Hà Tây, tôi may mắn được nghe nhạc sĩ Huy Thục kể chuyện về kỷ niệm phổ nhạc thơ Bác. Ông kể, năm 1967 ông ở chiến trường Nam sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Gian khổ, hy sinh ác liệt của bộ đội đã cho ông nhiều cảm xúc mãnh liệt để ra đời một số ca khúc về người lính.

Ngày 19/12/1967, qua máy 2 oát ông nhận được điện của Tổng cục Chính trị gửi từ Hà Nội kèm theo bài thơ chúc Tết năm Mậu Thân 1968 mà Bác Hồ sắp đọc trong dịp giao thừa. Tổng cục nhắc ông: “Sau khi Bác chúc Tết xong thì nhanh chóng phổ nhạc để khích lệ tinh thần đồng bào, chiến sĩ”. Tôi đọc bài thơ một lần mà xúc động đến nghẹt thở, tôi đọc cho các đồng chí ở Trung đoàn bộ E9F341 Quân khu 4 nghe ai cũng bồi hồi rưng rưng nước mắt như nuốt từng lời, từng câu thơ Bác:

“Xuân này hơn hẳn
mấy xuân qua
Thắng trận tin vui
khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua
đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

Tôi ngẫm từng ý thơ Người và nhanh chóng nhập tâm, thuộc lòng, tôi nhìn ra đường mòn chiến lược từng đoàn xe pháo, quân lương trùng trùng tiến vào Nam với khí thế cả nước lên đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nguồn cảm hứng trong tôi đến bất ngờ và bật thành nhịp, phách đều đều.

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…”

Và thế là những vần thơ Bác lôi cuốn thức dậy tư duy âm nhạc của tôi đến cao trào, đỉnh điểm. Cứ thế cả tứ thơ thành bản nhạc ấm áp mà hùng hồn như nghe cả tiếng quân reo, xe chạy giữa bước chân thần tốc có cả cờ bay và khúc khải hoàn ca dân tộc trong mùa xuân chiến thắng.
Những nốt nhạc, tiết tấu bài hát đã có sự cộng hưởng với tần số rung động của Bác, của cả dân tộc, của triệu con tim người Việt Nam nên tôi mạnh dạn mở rộng khúc thức đoạn cuối: “Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

Có điệp khúc sáng tác xong tôi lại hát đi hát lại, sửa nhanh từ láy và từ hoa mỹ để phù hợp với lời thơ, ý thơ xuân của Bác. Tôi vui mừng quá và cầm bản nhạc sang hầm chỉ huy gửi 1 bản về Tổng cục và yêu cầu đoàn Văn công Tổng cục thể hiện, 1 bản tôi gửi cho đoàn văn công giải phóng đang đóng ở sông Ba Lòng. Tôi gọi anh em ở Trung đoàn bộ cùng nghe và cùng hát bài phổ thơ của tôi vài lần rồi ai cũng thuộc và nhanh chóng đi vào lòng, vào tâm thức các chiến sĩ Trường Sơn. Bài hát của tôi như tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ ở mặt trận B4, B5…

Đến một thời gian sau đó có nhiều bạn lính cùng thời hỏi: Được biết nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thơ Bác Xuân 1968 và 1969, sao ông lại thành danh nhất vậy?

Ông cười để lộ những nếp nhăn thời gian, thời binh nghiệp “Cả xuân này hơn hẳn mấy xuân qua” và “Năm qua thắng lợi vẻ vang”. Tôi sử dụng cả chất chèo Kinh Bắc có pha chút dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Nam Trung bộ. Bác thích, Bác yêu, Bác giản dị là thế, thơ Bác gần gũi đại chúng nên nhạc tôi cũng gần thực như hạt lúa, củ khoai nên đọc xong hát một lần thì ai cũng thuộc, nam, phụ lão, ấu là người Việt Nam ai cũng thích.

Có thể nói bài thơ phổ nhạc, thơ chúc Tết của Bác Hồ như một lời hịch tướng sĩ, là bản hùng ca thôi thúc quân và dân cả nước xông lên đánh cho Mỹ cút ngụy nhào. Mỗi lần nghe bài hát ta lại càng nhớ Bác khôn nguôi và cảm phục nhạc sĩ tài ba, nhạc sĩ Huy Thục.

(Theo lời kể của nhạc sĩ – Đại tá Huy Thục)

Thy Ngọc
chinhphu.vn

“Đại đoàn kết”, “Đại thành công” trong thơ chúc Tết của Bác Hồ

Đoàn kết vốn là truyền thống quý báu trong lịch sử giữ nước của nhân dân ta. Ngay trong tác phẩm “Đường cách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức” xuất bản mùa xuân năm Đinh Mão 1927 tại Quảng Châu, Người đã khẳng định:

“Đoàn kết là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết công nông Việt Nam với công nhân Pháp cùng làm cách mạng thì mau thành công”.

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, khẩu hiệu 14 chữ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công” đầy ý nghĩa chiến lược đã được các thế hệ của 54 dân tộc anh em thuộc lòng và làm theo.

Có một chuyện thật ngoài đời, bây giờ được nghe, nhiều người coi như huyền thoại của lịch sử: Sau Tết Đinh Hợi năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trong phạm vi cả nước, các cơ quan Trung ương đã chuyển lên A.T.K Việt Bắc làm việc ở lán trong rừng, cán bộ, bộ đội sống xen với bà con dân tộc, ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán chẳng giống nhau, đôi khi phát sinh một số va chạm nhỏ.

Để giáo dục cán bộ, bộ đội, công nhân và cả bà con từ tứ phương tản cư đến, trong vườn rau của Bác, Người đã trồng một giàn bầu, bí cùng “leo chung một giàn”, dây nào cũng đơm hoa, kết trái, ai đi qua cũng thích mắt, dừng chân ngắm nhìn. Một cán bộ nông vận thấy lạ, mạnh dạn hỏi Bác tại sao Bác không trồng mỗi loại cây ở một giàn khác nhau? Bác mỉm cười nói: “Chú có nhớ câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” không? Bác trồng như thế để mọi người phải nhớ “đoàn kết” với nhau mà làm việc, ai cũng phải đoàn kết dân tộc, đoàn kết ngược xuôi, đoàn kết công nông, quân dân đoàn kết tạo nên sức mạnh vô địch để vừa kháng chiến, vừa kiến quốc thành công”.

Không lâu sau đó, lời dạy bất hủ của Hồ Chủ tịch qua giàn bầu bí chung sống một giàn lan truyền khắp nơi, mọi người thấm thía, thi đua làm theo lời dạy của Bác Hồ.

Vấn đề “đoàn kết” không chỉ được Bác nêu ra trong các hội nghị, trên các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ mà trong nhiều bài thơ chúc mừng tân xuân, Bác cũng đề cập vấn đề có ý nghĩa sống còn này.

Bài thơ chúc Tết Nhâm Ngọ 1942 ở căn cứ địa Cao Bằng, Người viết: “… Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong/Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi/ Chúc đồng bào ta “đoàn kết” mau/Chúc Việt Minh ta càng tiến tới/Chúc toàn quân ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới/Năm này là năm ăn Tết vẻ vang/Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Mừng Xuân Mậu Tý 1948, sau chiến thắng Việt Bắc ít lâu, Bác viết:

“Gửi lời chúc đồng bào.
Kháng chiến được thắng lợi.
Toàn dân “Đại đoàn kết”, cả nước dốc một lòng.
Thống nhất chắc chắn được.
Độc lập quyết thành công”.

Năm năm sau, chiến dịch giải phóng Tây Bắc kết thúc thắng lợi, chuẩn bị giảm tô và cải cách ruộng đất, Bác viết trong thơ mừng Xuân Quý Tỵ 1953: “Mừng năm Thìn vừa qua/Mừng năm Tỵ vừa tới/Mừng phát động nông dân/Mừng hậu phương phấn khởi/Mừng tiền tuyến toàn quân/Thi đua chiến thắng mới/Mừng toàn dân “Kết đoàn”/Mừng kháng chiến thắng lợi…”.

Năm Giáp Ngọ 1954, ta mở chiến dịch Điện Biên, giai cấp địa chủ bước đầu bị đánh đổ, Bác chúc quân dân cả nước một bài dài:

“Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành
Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,
Cải cách ruộng đất là công việc rất to,
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn,
Quân và dân ta nhất trí “Kết đoàn”
Kháng chiến kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công…”.

Đón Xuân Bính Thân 1956, Bác đã chúc: “Toàn dân “Đoàn kết” một lòng/Miền Bắc thi đua xây dựng/Miền Nam giữ vững thành đồng…”.

Năm Kỷ Hợi 1959, miền Bắc đang sôi nổi thực hiện công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế sau chiến tranh, thơ chúc Tết năm ấy ngắn gọn 4 câu, 24 chữ, Bác đã viết: “Chúc mừng đồng bào năm mới/“Đoàn kết” thi đua tiến tới/Hoàn thành kế hoạch ba năm/Thống nhất nước nhà thắng lợi”.

Năm Canh Tý 1960, năm nhà nước 15 xuân xanh, Đảng 30 tuổi trẻ, cả nước tràn ngập niềm vui mừng xuân và đón nghe, đọc thơ chúc Tết của Người:

“Mừng nhà nước ta 15 xuân xanh,
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ,
Chúc đồng bào ta “Đoàn kết” thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa,
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ,
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Qua năm Tân Sửu 1961, cả nước triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội III của Đảng họp lần đầu tiên ở thủ đô Hà Nội, Bác chúc: “Miền Bắc hăng hái thi đua/Chúc miền Nam “Đoàn kết” tiến tới/Chúc hòa bình thống nhất thành công/Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.

Sang năm Bính Ngọ 1966, quân viễn chinh Mỹ đã rải khắp miền Nam, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân ngày càng ác liệt, trong thơ chúc Tết năm ấy Bác đã viết:

“… Mừng miền Nam rực rỡ chiến công. Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng/Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng/Đồng bào cả nước “Đoàn kết” một lòng/Tiền tuyến, hậu phương toàn dân cố gắng. Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong/Chống Mỹ, cứu nước ta nhất định thắng”.

Thơ chúc Tết các năm khác, tuy Người không nói “Đoàn kết, kết đoàn”, nhưng Người đã nêu những thực tế của lịch sử cách mạng chỉ có kết đoàn, đoàn kết mới có được, như thơ chúc Tết Mậu Thân 1968: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”. Bác khẳng định như thế là có cơ sở, và thực tế đã chứng minh rằng nhờ “Đoàn kết” mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh toàn dân chiến đấu.

Đoàn kết là truyền thống vĩnh cửu trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc ta, giúp dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, thôn tính sau một thiên niên kỷ “Bắc thuộc”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, cũng chính nhờ chiến lược đoàn kết kháng chiến của Đảng, Bác Hồ đề ra mà chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc là Pháp và Mỹ.

Thái Sơn
baotintuc.vn

Xuân về nhớ Bác Hồ

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Mùa xuân là khoảng thời gian khởi đầu của một năm, thiên nhiên giao hòa sinh sôi nảy nở trong không gian ngọt ngào, ấm áp và lòng người cũng rạo rực những niềm vui, chứa chan bao ước mơ, hy vọng. Đối với dân tộc Việt Nam ta, mùa xuân về lại càng thiêng liêng, ý nghĩa hơn bởi chúng ta có Bác. Bác đã mang về những mùa xuân ấm no, hạnh phúc cho Đảng, cho dân và chính Người cũng là mùa xuân trường tồn tươi đẹp nhất trong trái tim dân tộc.

Mùa xuân năm 1930, ngày 3 tháng 2 (tức ngày mùng 5 tết Canh Ngọ), hoa Mộc Miên đua nhau khoe sắc, đỏ rực cả thành phố Cửu Long – Hương Cảng- Trung Quốc. Trong ngôi nhà cũ nhỏ bé của một đồng chí công nhân, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước ta để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của Người. Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay, ngày lịch sử của chúng ta! Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiên phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Mùa xuân năm 1930, đối với Bác là “mùa xuân sung sướng nhất của cuộc đời”, riêng với dân tộc ta, còn một mùa xuân kỳ diệu nữa đó ngày Người trở về Tổ quốc sau ba mươi năm xa cách mang theo sắc xuân bất diệt cho đất nước Việt Nam:

“Ôi, sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

                                                 (Tố Hữu)

Mùng 2 Tết Tân Tỵ ( ngày 28 tháng 1 năm 1941), sau ba mươi năm đón xuân nơi “đất khách, quê người”, Bác Hồ đã về đến Tổ quốc thân yêu. Sáng hôm đó, sau khi đi thăm, tặng quà và chúc tết bà con hai thôn Nậm Quang, Nậm Tẩy (Trung Quốc), Người lên đường về nước. Đến cột mốc biên giới 108, Bác dừng lại cúi đọc những dòng chữ khắc sâu trên đá rồi đứng lặng hồi lâu hướng tầm mắt nhìn về phía dải đất Tổ quốc điệp trùng. Đất trời đang vào xuân, hoa nở thắm núi rừng. Đất nước trải qua bao đau thương mà vẫn đẹp một cách kỳ lạ, vẫn hồng hào sức sống bất diệt của hàng ngàn năm lịch sử.

Và cũng chính mùa xuân đầu tiên ấy, từ nơi đầu nguồn thiêng liêng, Người đã cho ra đời bài thơ xuân tuyệt tác:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Đúng như lời khẳng định của Người, chỉ hơn bốn năm sau, giang sơn Tổ quốc đã thu về một mối. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và Người chính là vị Chủ tịch nước đầu tiên. Mùa xuân năm 1946- xuân Bính Tuất là mùa xuân độc lập đầu tiên của toàn dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới mẻ, trọn vẹn và ý nghĩa. Khắp mọi nơi người dân đều nghĩ đến Tết sớm hơn mọi năm. Đối với Bác, mặc dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng Người vẫn không quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.

Sáng 20-1-1946, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. “ Dân ta là một dân tộc giàu tình bác ái. Trong lúc này, toàn Tổ quốc, đồng bào ta, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn tết mừng xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận, những gia quyến các chiến sĩ, những đồng bào nghèo nàn, sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.

Chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi các thanh niên và nhi đồng toàn quốc- những mầm non của Đảng, chủ nhân tương lai của đất nước. Bức thư ngắn gọn nhưng phơi phới sắc xuân, căng tràn sức trẻ :”Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội… Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đêm 30 Tết, ngày 1-2-1946, khi đồng bào thủ đô quây quần đoàn tụ bên gia đình chuẩn bị đón giao thừa thì Bác kính yêu của chúng ta cũng “bí mật” đi đón tết với nhân dân. Người đã cùng các đồng chí cán bộ đến từng con phố, ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, Hàng Lọng, Hàng Vải… để thăm và chúc tết đồng bào. Cũng chính trong đêm ba mươi đó Bác đã tận mắt chứng kiến cảnh một người đạp xích lô ngoại tỉnh không có tiền về quê ăn tết, trên bàn thờ chỉ có duy nhất một nén nhang đang cháy dở còn chủ nhà thì đắp chiếu nằm rên vì sốt cao mê mệt. Người lặng lẽ kéo chăn đắp cho anh, lau nước mắt và khẽ đóng cửa bước ra. Trên đường đi, Bác khẽ nói “Ba mươi Tết mà không có tết” như để tự nhắc nhở mình về trách nhiệm chăm lo tết cho những người nghèo. Người còn dặn đồng chí Vũ Kỳ nhớ ghi địa chỉ để ngày mai mang thuốc và quà tết đến thăm hỏi người bệnh.

Cũng chính trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới của Tết Độc lập đầu tiên ấy, có ai ngờ rằng khi Đài tiếng nói Việt Nam trang trọng truyền đi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Kể từ năm 1946 cho đến khi qua đời, trong suốt 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Chính phủ, không một phút nào Người không nghĩ đến dân tộc, đến nhân dân. Người suốt ngày làm việc, suốt đời làm việc vì độc lập của dân tộc và hạnh phúc của đồng bào. Kể cả trong những ngày Tết, Bác cũng không ngơi nghỉ. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, ban, ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài, và cuối cùng là một chương trình đi thăm hỏi, chúc tết nhân dân, các cơ quan, đơn vị, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ là một lẽ tự nhiên bởi Người luôn quan niệm nước Việt Nam là đại gia đình của Người. Người về với nhân dân cũng là về với gia đình ruột thịt của mình. Không chỉ có vậy, Bác còn luôn xác định việc đón tết cùng với đồng bào sẽ là cơ hội tốt để Người tận mắt chứng kiến những niềm vui, nỗi buồn cũng như trực tiếp lắng nghe những tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhân dân trước thềm năm mới. Đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc lớn của Người.

Có rất nhiều những câu chuyện cảm động kể việc niềm vui bất ngờ của những gia đình nghèo khổ khi được đón Bác đến vui xuân. Trong đó có câu chuyện của gia đình chị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội. Năm đó là tết Nhâm Dần (1962). Chồng chị mất sớm, một mình chị Tín gánh nước thuê lấy tiền nuôi bốn con còn nhỏ. Chính vì thế dù trong đêm 30 mưa phùn gió rét chị vẫn chưa được nghỉ. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Người, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run trong bàn tay ấm áp của Bác, chị nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:“Có bao giờ Chủ tịch nước lại đến thăm mẹ con cháu!”.Bác cười hiền từ an ủi chị:“Bác không đến thăm những người như mẹ con cô thì còn thăm ai”.

Không chỉ đón tết cùng với các gia đình, Bác còn đến với các cơ quan, đơn vị vừa là để thăm hỏi, động viên, đồng thời Người cũng chỉ ra phương hướng, kế hoạch hành động, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho một năm mới phát triển và thắng lợi. Những chuyến viếng thăm của Bác thường là không báo trước, có khi Người ghé thăm công nhân nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân; có lúc lại về vui tết cùng nông dân các Hợp tác xã Nông nghiệp vùng ngoại thành Hà Nội, Văn Phú (Hà Tây), hay vịnh thơ xuân cùng cán bộ và chiến sỹ bộ đội phòng không và không quân ở sân bay Bạch Mai…

Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây. Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Người. Sáng ngày 16-2-1969 (tức ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai. Tiếp đó, Người về thăm và trồng một cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây. Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Nhưng Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác. Đây cũng là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cũng đã hơn 40 cái tết, đồng bào và chiến sĩ cả nước không được nghe thơ xuân của Bác, không được đón Bác đến thăm và chúc Tết. Nhưng trong trái tim và khối óc của triệu triệu người dân Việt Nam, lời nói trầm lắng, ánh mắt dịu hiền, nụ cười nhân hậu và những việc làm đầy ý nghĩa của Người từ những mùa xuân lịch sử vẫn sáng mãi, ấm mãi đến hôm nay và mãi mãi mai sau, tiếp thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng đất nước văn minh, giàu mạnh.

Bùi Thị Thủy
laodong.com.vn

Xuân về trên quê hương những người mang họ Bác Hồ

A Lưới không những nổi tiếng là vùng chiến khu cách mạng của Thừa Thiên – Huế, mà nơi đây còn ghi dấu ấn của các dân tộc thiểu số như Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy… một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ.

Người là niềm tin tất thắng

Nhớ lại thời kỳ đầu mới giải phóng, được cử đi công tác ở A Lưới ai cũng ái ngại. Còn ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới, kéo theo đời sống đồng bào không ngừng phát triển, đi lên…

Nhớ mãi, năm 1969, khi nghe tin Bác Hồ mất, đồng bào ở nơi đây đã đồng loạt lấy họ Hồ của Bác làm họ cho chính mình. Ngày đó, vùng miền Tây Thừa Thiên – Huế ai cũng xúc động khi “muối Cụ Hồ, rựa Cụ Hồ, gạo Cụ Hồ” đến với đồng bào trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Cũng chính từ ngày có Bác Hồ giúp gạo, muối, áo quần, được cán bộ Cụ Hồ dạy cái chữ, đồng bào đã thoát u mê tăm tối. Vì vậy, đồng bào nguyện một lòng đi theo ánh sáng cách mạng, phục vụ chiến đấu. Nhiều gia đình cả vợ, chồng và các con đều đi vận chuyển lương thực, vũ khí ra tiền tuyến đánh Mỹ. Gia đình Hồ A Nun, Hồ Dục thường xuyên gùi hàng, vũ khí vượt mưa bom bão đạn ra tiền tuyến, đã được Nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đất nước thống nhất, hiện tính ra ở A Lưới có hơn 11.800 đồng bào thiểu số mang họ Hồ và thực sự đổi đời theo sự đi lên của dân tộc. Con em của họ trước đây chỉ biết lên nương, rẫy nay đã được học hành. Những cử nhân đại học, kỹ sư nông nghiệp người Pa Cô, Tà Ôi… hiện không còn là điều hiếm. Đến nay, đã có 12 Phó Chủ tịch UBND xã ở huyện A Lưới là người dân tộc, họ đang từng ngày từng giờ phấn đấu đổi thay mảnh đất A Lưới. Điển hình là Kê Sửu, người dân tộc đầu tiên ở A Lưới bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, hiện chị là Trưởng ban Dân tộc tỉnh.

Những năm trước đây, lên A Lưới phải đi vòng qua Đăckrông (Quảng Trị) trên quãng đường dài tới 220 km, gần hai ngày ngồi ô tô mới đến nơi. Nay, từ Huế đi A Lưới theo đường mới mở chỉ với 70 km, mất khoảng gần 2 giờ đồng hồ thì đến nơi. Ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới dài đến đâu, nhà cửa, phố xá kéo theo đến đó. Đêm đêm, nhà cửa, phố xá đèn điện sáng trưng, không còn cảm giác đó là thị trấn của một huyện vùng cao. Càng bất ngờ hơn khi đến xã Nhâm, phần đông đồng bào các dân tộc ở đây được thu nhận vào làm công nhân nông trường, đi chăm sóc cà phê bằng xe máy. Mới đưa vào trồng thử từ năm 1996, năm nay A Lưới dự tính phát triển thêm 1.000 ha, nâng tổng diện tích cà phê toàn huyện lên khoảng 1.800 ha. Quá trình chăm sóc, người dân còn được nông trường đầu tư phân bón và hoàn trả tiền đầu tư sau khi có sản phẩm thu hoạch, nên nhận được dân đồng tình và hưởng ứng cao. Ngoài diện tích cà phê nông hộ của mình, hiện có hơn 1.000 hộ nhận khoán, chăm sóc và hưởng lợi trên toàn bộ diện tích của nông trường theo thoả thuận với người lao động. Huyện tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê cho đồng bào các dân tộc, phấn đấu đưa năng suất khoảng từ 4-5 tấn/ha như hiện nay lên hơn 10 tấn/ha.

Người dân ở A Lưới còn tham gia làm công nhân ở công trường Thủy điện A Lưới. Ngày chặn dòng, nhiều già làng, gái trai các bản làng vui như ngày hội, thức trắng đêm chứng kiến dòng sông A Sáp, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn hùng vĩ phải khuất phục. Cán bộ và nhân dân A Lưới hiểu rằng, nay mai nguồn điện từ A Lưới sẽ thắp sáng ước mơ, biến vùng đất nghèo khó này cùng Thừa Thiên – Huế đi lên. Chính điều đó lý giải vì sao có 1.066 hộ dân trong vùng lòng hồ phải di chuyển đến nơi ở mới để phục vụ cho việc thi công công trình, nhưng mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi, bà con đều tự nguyện chuyển đến nơi ở mới, nhường chỗ cho công trình. Công trình thuỷ điện A Lưới có tổng vốn đầu tư là 3.234 tỷ đồng, với công suất lắp máy 170MW (2 x 85MW), sản lượng điện bình quân sau khi đưa vào sử dụng đạt 686,5 triệu KWh/năm. Được khởi công từ tháng 6-2007, đến nay, công trình thuỷ điện A Lưới đang đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, phấn đấu đưa tổ máy số 1 vào phát điện vào tháng 12-2011.

Đến với bản làng vùng cao Hồng Hạ, nơi có 5 dân tộc anh em, gồm: Ka Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy và dân tộc Kinh sinh sống, bà con biết chung sức trồng mới, bảo vệ làm cho một vùng rừng vốn bị tàn phá trong chiến tranh nay xanh tốt. Đến nay, Hồng Hạ đã trồng được 1.070ha rừng phòng hộ, dẫn đầu các xã trong toàn huyện. Xã tổ chức phát triển kinh tế trang trại, tận dụng nguồn đất bãi bồi đầu nguồn sông Bồ trồng được 50ha cao su tiểu điền, 10ha cây ăn quả, hơn 2.000 hố tiêu. Đời sống nhân dân nâng cao nhờ kinh tế rừng phát triển, toàn xã sắm được 57 chiếc xe máy, 65% số hộ có ti vi, 100% hộ có rađiô. Đối với người Tà Ôi ở A Roàng, còn được cán bộ khuyến nông, khuyến lâm xã, huyện hướng dẫn lập vườn rừng, vườn đồi, vườn nhà để định cư, phát triển chăn nuôi. Nay, toàn xã đã có đàn trâu 249 con, đàn bò 308 con, đàn lợn 300 con, nuôi 60 con dê. Nay, A Roàng không còn hộ phá rừng, bà con đã nhận chăm sóc 500ha rừng đầu nguồn, trồng được 200ha cây bản địa, 200ha cây quế để làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương mình.

Ngày xuân bên ché rượu nồng, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh – Kê Sửu cho biết: Nếu ai có dịp lên vùng núi phía Tây Thừa Thiên – Huế sẽ cảm nhận được vẻ mặt rạng rỡ đến diệu kỳ của con người nơi đây. Bởi, dòng chữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” ngày càng ngấm vào máu thịt của họ khiến họ hành động để xứng đáng là con cháu Bác Hồ, con Rồng cháu Tiên. Các em nhỏ không còn lạ với cái chữ; các cụ già được ủ ấm với áo cơm; các chị các mẹ được bồi dưỡng kiến thức, hạch toán kinh tế bên cạnh biết lo toan việc bếp núc, rẫy nương. Các chú, các anh phần nào đã biết chia sẻ công việc gia đình với người phụ nữ… ; và nhiều gia đình nông dân đã vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu bằng chính bàn tay, khối óc của mình cùng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật. Sự tiến triển này được đánh dấu qua kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo năm sau thấp hơn năm trước. Ở A Lưới, nếu tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đến 48,47%, thì nay chỉ còn 17,6%… Môi trường sống xen kẽ, hòa đồng giữa người Kinh và người Thượng trên cùng địa bàn xã, thôn, tổ dân cư ngày càng phát triển. Đó cũng chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh và xóa đói giảm nghèo.

Mùa xuân đến, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây càng tri ân Đảng, Nhà nước, tổ chức và cá nhân từ thiện đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với người vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn. Ngoài ngân sách trung ương (7,450 tỷ đồng), năm nay tỉnh đã huy động kinh phí 13,983 tỷ đồng (Trong đó, ngân sách tỉnh 11,519 tỷ đồng; ngân sách các huyện, thị xã, thành phố 264 triệu đồng; nguồn từ mặt trận, đoàn thể và các tổ chức từ thiện 2,2 tỷ đồng) để tặng quà và hỗ trợ cho 93.005 người thuộc đối tượng chính sách, trợ cấp xã hội và hộ nghèo, cận nghèo vui tết, đón xuân.

Mùa xuân mới ở vùng cao A Lưới, Tết no ấm, an lành trong tiếng cồng chiêng của lễ hội Aya (tết truyền thống của các dân tộc thiểu số) vang lên khắp mọi miền, làm cho không khí càng thêm Xuân…

Quốc Việt
congly.com.vn

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

(Dân trí)- Đã có nhiều nguồn tin trái chiều về những cuộc thảm sát trả thù đẫm máu bên trong thành Huế sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô. Chính sự đẫm máu thảm khốc, trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.

Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.

Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968

Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.

Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.

Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.

Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.

Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.

Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập “Mậu Thân- 1968”

12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.

Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.

Nước Mỹ đã khủng hoảng niềm tin sau Chiến dịch Mậu Thân 1968Nước Mỹ đã “khủng hoảng niềm tin” sau Chiến dịch Mậu Thân 1968

“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.

Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.

Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.

Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:

Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.

Hiền Hương
dantri.com.vn

Phim Mậu Thân 1968: Lật lại hồ sơ tuyệt mật

VTV phát sóng phim Mậu Thân 1968
> Tin thêm về việc phát hiện 670 hài cốt tại Hội An

TP – Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 đã dần được giải mã qua 12 tập phim tài liệu mang tên Mậu Thân 1968 đang phát sóng trên đài truyền hình Việt Nam.

Cảnh trong phim “Mậu Thân 1968”Cảnh trong phim “Mậu Thân 1968”.

Dù có một vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, thế nhưng, sự kiện Mậu Thân 1968 trong suốt thời gian dài lại là chủ đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi và người ta thường tránh không nhắc đến.

Bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề Mậu Thân 1968 của đạo diễn Lê Phong Lan có độ dài 12 tập, thời lượng 30 phút/1 tập, thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Hành trình lật lại hồ sơ tuyệt mật

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ, một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX. Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt.

Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn Nhà báo, Nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng, Washington DC, 6-2009Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn Nhà báo, Nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng, Washington DC, 6-2009.

Các nhà làm phim đã đi vào lý giải tại sao người Mỹ lại cho rằng Khe Sanh là hướng chiến trường chính, nơi sẽ diễn ra một trận “Điện Biên Phủ thứ hai” và họ đã tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ và hỏa lực cực mạnh để giữ lấy khu vực này.

Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, dẫn đến việc chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “sự khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công này cho người dân Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá.

Ông Larry Berman – Giáo sư, tiến sĩ sử học Mỹ

Trong khi thực chất, đây chỉ là mặt trận nghi binh và các đô thị mới là hướng chiến trường chính. Bộ phim cũng đi vào phân tích bối cảnh, tình hình và tại sao lại có đợt 2, đợt 3 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè và mùa thu năm 1968…

Cuối cùng, trong bộ phim tài liệu đặc biệt này, các sử gia, nhà nghiên cứu và những người trong cuộc, sẽ từ nhiều góc độ khác nhau, bày tỏ những quan điểm thẳng thắn của mình về những được – mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968, và tại sao sự kiện này lại gây nhiều tranh cãi trong suốt thời gian dài như thế.

Tất cả họ đều gặp nhau ở một nhận định quan trọng. Đó là: Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, đã mở ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, chấm dứt sự leo thang chiến tranh của Mỹ và mở đường đi đến thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.

8 năm cho 12 tập phim

“Có điều gì đó luôn thôi thúc tôi phải làm về Mậu Thân 1968. Tôi đã làm trong 8 năm, đã sang Mỹ để gặp các nhân chứng và tìm những tư liệu liên quan đến sự kiện”, đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ.

Sau khi nghiên cứu sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề “Mậu Thân 1968”, đạo diễn Lê Phong Lan và êkip đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước.

Đạo diễn và êkip thực hiện cũng rất kỳ công trong việc chuyển tải thông tin về sự kiện có ý nghĩa hết sức đặc biệt này.

Đánh giá về bộ phim tài liệu này, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng Ban Thư ký biên tập, Đài THVN cho rằng: “Bộ phim tài liệu Mậu Thân 1968 đã tái hiện vô cùng sinh động sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc. 12 tập phim là một khối tư liệu vô cùng đồ sộ mà êkip thực hiện đã rất kỳ công tìm hiểu, tập hợp trong hành trình thực hiện hết sức nghiêm túc của mình”.

Kim Nhật
tienphong.vn

Mậu Thân 1968: Không có nhân chứng nào nói dối

TT – 12 tập phim mang tên Mậu Thân 1968 của nữ đạo diễn phim tài liệu chiến tranh Phong Lan sẽ được khởi chiếu trên VTV1 từ tối 25-1.

Ðạo diễn Phong Lan (thứ ba từ trái sang) phỏng vấn nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Stanley Karnow tại nhà riêng ở Mỹ tháng 6-2009 – Ảnh: Ðoàn phim cung cấp

Dù có vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc VN, sự kiện Mậu Thân 1968 trong suốt thời gian dài lại từng là chủ đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi.

Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 đã dần được giải mã. Cách nhìn nhận về sự kiện này đã cởi mở và thẳng thắn hơn từ phía những người trong cuộc. Trong bầu không khí đó, đạo diễn Lê Phong Lan đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề Mậu Thân 1968. Bộ phim có độ dài 12 tập (30 phút/tập), thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả sẽ lần lượt tái hiện sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Nữ đạo diễn Phong Lan – người vừa thực hiện bộ phim tài liệu năm tập Hiệp định Paris – cho biết: “Tôi là một đạo diễn tự do của một hãng phim tư nhân do tôi lập ra, mang tên Bản Sắc Việt, nhưng tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ phải đi đến tận cùng của những sự thật lịch sử mà lâu nay vì lý do nào đó chúng ta còn e ngại. Ðến Mỹ lần đầu tiên vào tám năm trước và đã trở lại thêm bốn lần nữa, tôi đã phỏng vấn tất cả những ai liên quan đến chiến tranh VN mà tôi có thể gặp, từ tổng thanh tra quốc phòng Mỹ đến nhà sử học Stanley Karnow và những cựu binh bị hội chứng VN, tôi đã đặt câu hỏi sòng phẳng khiến họ không thể chối từ. Tất nhiên, chúng tôi cũng lật lại từng trang hồ sơ của cuộc chiến ở VN, gặp từng nhân vật. Chúng tôi ngược dòng thời gian cố gắng tìm gặp lại tất cả, tìm hiểu tất cả thông tin với lòng khao khát sự thật. Không có nhân chứng nào có thể nói dối trong những cuộc phỏng vấn này”.

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật gấp 800 lần VN – lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng Trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ 20. Tiếp đến là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Ðồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968…

12 tập phim, với hàng ngàn cuộc phỏng vấn, đạo diễn Phong Lan đã gom góp vốn liếng 10 năm tìm kiếm tư liệu, đi và sống của mình để có được những thước phim cảm động và chân thật.

TH.H.
tuoitre.vn

Đại sứ Mỹ và Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 luôn được đánh giá như một bước ngoặt đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 – 1975.Trong đó, việc các chiến sĩ biệt động cách mạng Việt Nam tiến công chiếm giữ Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã trở thành sự kiện chấn động toàn cầu. Trước đó, gần như các đại sứ quán, đóng vai trò biểu tượng của Washington tại nước ngoài, chưa bao giờ bị chiếm giữ ngoạn mục như thế. Nhất là khi Mỹ đang đồn trú hàng trăm ngàn binh sĩ cùng một lực lượng vũ khí hùng hậu tại miền nam Việt Nam.

Biệt động đã bắn thủng tường Đại sứ quán Mỹ để tấn công vào trong – Ảnh: David Halberstam

Đại sứ Bunker (phải) – Ảnh: The Washington Post

Tại cổng ra vào của Đại sứ quán Mỹ lúc sáng 31.1.1968 – Ảnh: T.L

Đòn bất ngờ

“Lúc đó có lẽ vào khoảng 1 – 3 giờ sáng (ngày 31.1.1968 – NV), khi tôi đang ngủ thì cuộc tiến công bắt đầu. Một lính thủy đánh bộ đánh thức tôi và thông báo Sài Gòn bị tiến công. Tôi được dẫn ra một chiếc xe bọc thép để đến địa điểm an toàn. Tại nhà an toàn, tôi liên lạc với tướng Westmoreland (tướng William Westmoreland là Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam từ năm 1964 – 1968) để nắm tình hình”. Đó là lời kể lại của ông Ellsworth Bunker, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1967 – 1973, được trích dẫn trong tài liệu thuộc Thư viện Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson.

Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến như vậy trước đó. Đó vừa là chiến tranh quy ước vừa là chiến tranh du kích. Đó là một cuộc chiến mà đối phương sở hữu nơi ẩn náu có thể rút lui, củng cố, tái trang bị khí tài và chờ thời cơ… Đó là cuộc chiến tranh chính trị mà cũng là chiến tranh tâm lý

Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, ông Bunker mới quay về đại sứ quán sau khi nhận được sự đảm bảo từ cánh quân đội. Đó cũng là lúc Ellsworth Bunker bắt đầu liên lạc trở lại với Washington. Ông kể: “Trong suốt cuộc vây hãm, tôi không thực hiện một báo cáo cá nhân nào cho Washington. Tôi nhớ là mình rời khỏi nhà an toàn vào khoảng 9 – 10 giờ sáng. Khi trở lại nhà của mình, tôi nhìn thấy mù mịt khí ga”. Sau gần 7 giờ đồng hồ, ông mới nhận được chỉ thị trực tiếp từ Washington.

Thực sự, cuộc tổng tiến công là một đòn táo bạo và đầy bất ngờ đối với quân đội Mỹ. Đại sứ Bunker phải đồng ý điều này và ông thừa nhận rằng mình chỉ biết khi sự việc đã bắt đầu. Theo Ellsworth Bunker, trước đó, lực lượng tình báo cung cấp thông tin rất mơ hồ về kế hoạch tấn công. Ông cho biết: “Chúng tôi được cảnh báo rằng đối phương chuẩn bị thực hiện một cuộc tiến công nhưng chẳng thể xác định thời điểm. Chúng tôi chuẩn bị ứng phó mà chẳng có thông tin gì nhiều. Thế nhưng, chúng tôi vẫn tin cuộc tiến công sẽ xảy đến nên thực hiện một số biện pháp ứng phó, đặc biệt là tại Quân đoàn 3. Tướng Frederick Weyand chỉ huy lực lượng tại đây đã điều động binh sĩ củng cố khả năng phòng thủ cho Sài Gòn, đây có lẽ là điều rất may mắn mà ông ấy đã làm”.

Bước ngoặt cuộc chiến

Không chỉ mơ hồ về thông tin tình báo, Mỹ còn bất ngờ về khả năng phối hợp tác chiến trên quy mô lớn của lực lượng cách mạng Việt Nam. Đại sứ Bunker thừa nhận sự ngạc nhiên này không chỉ riêng mình mà cả Tổng tư lệnh Westmoreland lẫn Tổng thống Johnson đều như thế. Ông Bunker cho biết: “Chắc chắn tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều như vậy. Tôi nghĩ chẳng ai trong chúng tôi trước đó hình dung ra quy mô của cuộc tiến công. Chúng tôi nghĩ rằng đối phương chỉ tập trung đánh vào các thành phố. Nhưng thực sự thì quy mô vượt ra khỏi các thành phố, cuộc tiến công diễn ra cả ở những vùng nông thôn, thậm chí là thôn xóm. Điều đó quá những gì chúng tôi lường trước”. Ông nói thêm: “Ảnh hưởng của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân khiến quân nhân Mỹ nhận ra rằng khó khăn lớn hơn nhiều so với những gì chúng tôi dự đoán. Rõ ràng là (chúng tôi – NV) phải hứng chịu nhiều tổn thất trên khắp chiến trường này.”

Vì thế, ngay sau khi cuộc tổng tiến công diễn ra, tướng Westmoreland đã lên tiếng đề nghị Washinton tăng thêm binh sĩ. Đại sứ Bunker kể lại: “Vào thời điểm trên, ông ấy (tướng Westmoreland – NV) muốn bổ sung quân, tôi không nhớ rõ nhưng hình như con số vào khoảng 12.000 quân và tôi đã ủng hộ. Thế nhưng, tôi không ủng hộ đề nghị sau đó của ông ấy về việc tăng thêm một lực lượng rất lớn. (…) Tướng Westmoreland cảm nhận rằng với yêu cầu tăng thêm binh sĩ – tôi nghĩ con số có thể lên đến 200.000 – sẽ giúp ông ấy kết thúc cuộc chiến nhanh hơn. Tôi đã không ủng hộ”. Thực tế, giới lãnh đạo chóp bu ở Washington cũng không ủng hộ đề nghị của vị tổng tư lệnh chiến trường.

Về tổng thể cuộc chiến, Đại sứ Bunker nhận định rằng: “Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến như vậy trước đó. Đó vừa là chiến tranh quy ước vừa là chiến tranh du kích. Đó là một cuộc chiến mà đối phương sở hữu nơi ẩn náu có thể rút lui, củng cố, tái trang bị khí tài và chờ thời cơ. Họ có thể tăng giảm mức độ chiến sự để khi cần thì lắng xuống và quay trở lại vào thời điểm thích hợp. Đó là cuộc chiến tranh chính trị mà cũng là chiến tranh tâm lý”.

Ngô Minh Trí
thanhnien.com.vn

“Giải mã” Mậu Thân 1968

Mậu thân 1968 là bộ phim tài liệu đầu tiên của Việt Nam đề cập trực diện và đi sâu vào sự kiện lịch sử vốn gây nhiều tranh cãi và từng bị cho là nhạy cảm.

Trong hành trình làm rõ sự thật lịch sử về cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đạo diễn Lê Phong Lan đã phỏng vấn và đối chất với hàng trăm nhân chứng, trò chuyện với những chuyên gia lịch sử, các nhà báo trong nước và quốc tế.

Hình ảnh trong bộ phim Mậu Thân 1968, ảnh do VTV cung cấpHình ảnh trong bộ phim Mậu Thân 1968, ảnh do VTV cung cấp

Những sự thật trong sự kiện Mậu Thân 1968 là lý do thôi thúc đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện bộ phim, nhất là sau khi chị được trò chuyện với thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn trong thời gian làm phim về ông. “Suốt một thời gian dài, đã có những thông tin sai về sự kiện Mậu Thân 1968. Trong khi chúng ta lại không hề lên tiếng”. Và bà đã bị thôi thúc đi tìm câu trả lời từ phía những người đã từng đứng phía bên kia chiến tuyến. Bà đã sang Mỹ nhiều lần, lặn lội khắp mọi nơi tìm nhân chứng, tư liệu. Rất nhiều người trong cuộc mà bà phỏng vấn nay đã ra đi, nhưng may mắn là sự thật lịch sử được ghi lại từ họ. Bộ phim Mậu Thân 1968 sẽ không tránh né những quan điểm thẳng thắn, những góc nhìn khác nhau của các nhà nghiên cứu lịch sử, những người trong cuộc về những điều được và mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968.

Nhiều câu chuyện lịch sử ít người biết được lật lại. Một trong số đó là sự kiện 26 ngày đêm tại Huế từng bị cho là “cuộc thảm sát đẫm máu” được mô tả trong cuốn sách Dải khăn sô cho Huế của nhà văn chế độ cũ – Nhã Ca. Những người làm phim đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu – người chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux, GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía. Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là “cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.

Trước khi Ðài truyền hình Việt Nam mua bản quyền phát sóng, đạo diễn đã bỏ tiền túi để làm phim. Bà nói: “Tôi làm bộ phim một cách công bằng, khách quan trước hết vì danh dự nghề nghiệp của tôi, thứ hai là với góc nhìn của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam”.

Bộ phim tài liệu Mậu Thân 1968 (dài 12 tập) do Đài truyền hình Việt Nam phối hợp với Hãng phim truyền hình Bản sắc Việt sản xuất, phát sóng vào lúc 20 giờ trên kênh VTV1 bắt đầu từ ngày 25.1.

Minh Ngọc
thanhnien.com.vn