Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bước phát triển nghệ thuật tác chiến của xe tăng và chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây

QĐND – Cách đây 45 năm, Bộ đội Tăng thiết giáp (TTG) đã lập chiến công kỳ diệu-đánh thắng trận đầu ở Tà Mây – Làng Vây.

Theo xu hướng phát triển của cách mạng, Trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta (Trung đoàn 202) được thành lập và ngày 5-10-1959 trở thành ngày truyền thống của Binh chủng TTG. Thời gian huấn luyện, chuẩn bị, chờ đợi ở miền Bắc khá dài, nên cán bộ, chiến sĩ TTG rất mong được vào Nam chiến đấu. Đến cuối năm 1967, Binh chủng đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức và lực lượng. Đầu năm 1968, khi ta mở chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Bộ Tổng tham mưu quyết định sử dụng lực lượng TTG tham gia chiến dịch. Đảng ủy Binh chủng Thiết giáp thành lập Tiểu đoàn 198 xe tăng lội nước PT-76, gồm các Đại đội tăng 3 (Tiểu đoàn tăng 1) và Đại đội tăng 9 (Tiểu đoàn tăng 3) thực hiện nhiệm vụ vinh dự này. Đặc biệt, khi được giao nhiệm vụ tăng cường cho sư đoàn bộ binh tiến công địch tại các cứ điểm Tà Mây-Làng Vây, bộ đội TTG đã chuẩn bị rất chu đáo, nhằm bảo đảm đánh chắc thắng, đạt được các mục tiêu chiến dịch.

Qua hơn 50 ngày đêm hành quân, vượt chặng đường dài gần 1.500km (từ Lương Sơn, Hòa Bình), qua nhiều vùng dân cư và nhiều trọng điểm địch đánh phá ác liệt, Tiểu đoàn 198 đã tập kết chiến dịch tại Đường 9-Nam Lào. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên trên chiến trường và không biết bằng cách nào ta có thể đưa được xe tăng vượt núi rừng Trường Sơn trùng điệp, hiểm trở, áp sát căn cứ địch.

Xe tăng 555 tham gia hiệu quả các trận đánh Tà Mây và Làng Vây. Ảnh tư liệu.

Đêm 23, rạng sáng 24-1-1968, Đại đội tăng 3 phối thuộc cho Trung đoàn bộ binh 24, Sư đoàn 304 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Huội San, do một tiểu đoàn quân ngụy Lào chiếm giữ, trọng tâm là cứ điểm Tà Mây. Hỏa lực trên xe tăng đã bắn sập lô cốt và diệt các hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho xe tăng cùng bộ binh, công binh xung phong đánh thẳng vào bên trong, nhanh chóng làm chủ trận địa. Tiếp đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa Tiểu đoàn 198 vào tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) và một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, thực hiện đánh trận then chốt, tiêu diệt cứ điểm Làng Vây – một cứ điểm mạnh, rất quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường 9 của Mỹ-ngụy.

Đúng 17 giờ ngày 6-2-1968, trận tiến công cứ điểm Làng Vây bắt đầu. Trên hướng tiến công chủ yếu, Đại đội tăng 9 lợi dụng dòng sông Sê-pôn, tập kết bí mật ở làng Troài và bất ngờ tiến công cứ điểm Làng Vây. Trên hướng thứ yếu, Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đánh thẳng vào các đại đội biệt kích 102 và 103 của quân ngụy. Sau 4 giờ chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, ta đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy. 3 giờ sáng 7-2-1968, xe tăng và bộ binh ta đã làm chủ cứ điểm Làng Vây.

Trong trận Làng Vây, bất ngờ lớn nhất đối với địch là hướng tiến công vì chúng cho rằng, xe tăng ta chỉ có thể vận động theo Đường 9 (từ hướng Tây), nên đã tập trung lực lượng đánh phá, ngăn chặn. Về phía ta, ngoài hướng tiến công từ phía Tây theo trục Đường 9, ta đã nghiên cứu lợi dụng sông Sê-pôn, bí mật đưa xe tăng vào hướng Nam căn cứ địch, đánh đòn hiểm, khiến địch hết sức bất ngờ, bị động, nhanh chóng bị phá vỡ thế trận. Sau 4 giờ chiến đấu, xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao, diệt và bắt sống gần 600 tên địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị.

Tà Mây-Làng Vây là trận đánh đầu tiên hiệp đồng quân, binh chủng có xe tăng tham gia; hiệp đồng nhịp nhàng, ăn khớp giữa xe tăng với xe tăng, xe tăng với bộ binh, tiêu diệt từng cứ điểm địch; đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể giữa lực lượng TTG và các quân, binh chủng bạn. Nghệ thuật sử dụng TTG rất độc đáo, đó là lợi dụng dòng sông Sê-pôn để cơ động lực lượng và tạo bất ngờ lớn, chứng tỏ bước trưởng thành của bộ đội TTG về tổ chức chỉ huy và khả năng sử dụng VKTB hiện đại; khẳng định sức mạnh đột kích của xe tăng trên chiến trường. Qua trận Tà Mây-Làng Vây tạo cơ sở thực tiễn cho sự hình thành nghệ thuật sử dụng TTG trong chiến dịch, từ tổ chức hành quân đường dài, đến triển khai cơ động lực lượng, giữ bí mật bất ngờ, chọn mục tiêu, chọn hướng, cách đánh, tổ chức hiệp đồng bảo đảm; tiến hành công tác chính trị tư tưởng, hậu cần, kỹ thuật… Nghệ thuật chiến đấu của xe tăng trong trận Làng Vây là “bí mật, bất ngờ, chuẩn bị chu đáo, bảo đảm đầy đủ, mưu trí, sáng tạo, sử dụng tập trung, hiệp đồng chặt chẽ”. Ta đã vận dụng nguyên tắc sử dụng xe tăng tập trung trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu, tham gia đánh trận then chốt chiến dịch, phát huy sức mạnh đột kích của xe tăng, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, thực hành đột phá, thọc sâu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não của địch, nhanh chóng phá vỡ thế phòng ngự của chúng.

Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây còn bắt nguồn từ thế trận lòng dân. Cấp ủy, chính quyền, nhân dân nhiều địa phương đã phối hợp chặt chẽ, bảo đảm bí mật, che dấu, dẫn đường cho xe tăng cơ động, chiến đấu thắng lợi. Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của bộ đội TTG, không chỉ có giá trị về nghệ thuật quân sự, mà còn tạo động lực to lớn về mặt tinh thần, cổ vũ, động viên, tạo tiền đề để bộ đội TTG đánh những trận sau giành thắng lợi lớn hơn. Đây cũng là cơ sở thực tiễn đầu tiên về nghệ thuật tác chiến của xe tăng, của chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành có xe tăng tham gia, là bài học quý được vận dụng, phát triển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và là nguyên tắc tác chiến cơ bản, xuyên suốt cho hành động chiến đấu và chỉ huy chiến đấu của bộ đội TTG sau này.

Thiếu tướng HOÀNG TRUNG KIÊNTư lệnh Binh chủng Tăng-Thiết giáp
qdnd.vn

Bảo đảm kỹ thuật góp phần quan trọng trong cuộc Tổng tiến công

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Trước tình hình chuyển biến ngày càng có lợi cho ta, sau thắng lợi đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của Mỹ trong các mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương tập trung lực lượng tiến công đồng loạt, bất ngờ vào các đô thị, hướng trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và sử dụng chủ lực kìm chế, thu hút địch ở các chiến trường rừng núi (Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ)… Cùng với việc nâng cao khả năng tác chiến của bộ đội chủ lực, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng tập trung chỉ đạo công tác bảo đảm kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Để chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho cuộc Tổng tiến công, Quân ủy Trung ương quyết định đẩy mạnh việc vận tải cơ giới trên tuyến chi viện chiến lược, kéo dài thêm cung vận tải ô tô vào đến Chà Văn chuyển hàng cho Khu 5, đồng thời tăng thêm lực lượng cao xạ, công binh, thông tin, bổ sung thêm xe vận tải cho Đoàn 559 lên đến 5.372 xe, số đơn vị vận tải tăng lên 5 tiểu đoàn. Đoàn 559 thành lập 9 binh trạm, xây dựng 2.959km đường ô tô chính, 445km đường trục phụ, 882km đường trục ngang, 576km đường vòng tránh, 450km đường vào kho. Toàn tuyến bước vào kế hoạch vận tải mùa khô 1967-1968 với khối lượng trên giao là 61.000 tấn, tăng gấp hai lần so với mùa khô 1966-1967.

Dân công Chợ Gạo (Mỹ Tho) tải đạn phục vụ chiến trường trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Trên chiến trường Nam Bộ, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn – Gia Định để thành lập các phân khu. Mỗi phân khu đều tổ chức Phòng Hậu cần có nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, đạn dược cho các LLVT chiến đấu trên địa bàn. Đảng ủy Cục Hậu cần Miền động viên cao độ toàn bộ lực lượng, phương tiện để tập kết vũ khí trang bị đến các địa điểm, bảo đảm thời gian cho các đơn vị theo kế hoạch đã định và chỉ đạo các đoàn hậu cần tích cực tiếp nhận, vận chuyển vũ khí về những địa điểm quy định, để dự trữ. Hậu cần Miền thành lập 8 đại đội vận tải cơ giới với 139 xe ô tô, 10 tiểu đoàn và 10 đại đội vận tải thồ với 4.412 xe đạp, 8 đại đội công binh làm đường. Tại miền Đông Nam Bộ, ta đã xây dựng được 500km đường vận tải cơ giới, 280km đường thồ xe đạp và 350km luồng vận tải đường sông. Tuyến tải 50 giao cho Phân khu 1 được 300 tấn, Phân khu 5: 105 tấn, Đoàn 83: 144 tấn; Tuyến tải 60 giao cho Phân khu 5: 142 tấn, thị xã Biên Hòa: 212 tấn, Sư đoàn 5: 41,5 tấn, tỉnh Bà Rịa: 25 tấn, Đoàn 81: 11,5 tấn; Tuyến tải 70 giao Phân khu 5: 98 tấn, Trung đoàn miền Đông: 21 tấn và để tại kho Đoàn 50: 155 tấn, kho Đoàn 82: 103 tấn. Số lượng vũ khí trên đã bảo đảm biên chế trang bị cho mỗi sư đoàn có 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, mỗi trung đoàn có 18 khẩu B41, các đại đội có 9 khẩu B40; mỗi tỉnh được trang bị 70 khẩu B40, các tiểu đoàn tỉnh được trang bị phổ biến là ĐKZ 75, cối 82mm, trọng liên 12,7mm. Hậu cần các phân khu, đặc biệt là Phân khu 6 bí mật đưa vũ khí vào cất giấu ở 25 địa điểm trong nội đô Sài Gòn – Gia Định; riêng đơn vị A10 đã đưa vào nội thành 450kg thuốc nổ, 150 súng K54, AK, 3 khẩu cối 81mm và 1 khẩu ĐKZ với 90 quả đạn bằng 20 chuyến xe bò. Đến trước ngày nổ súng, Bộ tư lệnh Miền và các đoàn hậu cần đã huy động 1.080 người tham gia phục vụ chiến đấu và chuẩn bị được 5.079 tấn vũ khí, đạn dược; các LLVT được bổ sung 50.000 súng bộ binh, nhiều súng chống tăng B40, B41, đạn cối 120mm, đạn hỏa tiễn ĐKB, H12.

Trên chiến trường Khu 5, lực lượng kỹ thuật tiến hành bảo đảm trang bị mới cho Trung đoàn 557 pháo hỏa tiễn ĐKB, Trung đoàn Đặc công 401 độc lập… Lực lượng vận tải hành lang cùng lực lượng vận tải các đơn vị trực tiếp nhận vũ khí đạn tại tuyến chiến lược đưa thẳng về đơn vị. Các mặt trận, địa phương, đơn vị đều có hệ thống kho dự trữ, vũ khí đạn, hệ thống xưởng quân giới sản xuất, sửa chữa vũ khí… Từ các binh trạm hậu cần triển khai trên các địa bàn trước đây, hậu cần chiến trường Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, các trung đoàn chủ lực tại các địa phương tổ chức tiếp nhận, lập các kho dự trữ vũ khí đạn dược chuẩn bị cho các hướng đánh vào các thị xã, thị trấn. Ở chiến trường Trị – Thiên, được Đoàn 559 trực tiếp chi viện, hậu cần Quân khu 5 đã tổ chức tiếp nhận hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược và lập các kho dự trữ ở A Sầu, A Túc, Động Cô Tiên… bảo đảm trang bị cho các đơn vị tham gia chiến đấu (riêng ở Huế trang bị được 8 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn ĐKB, 3 tiểu đoàn đặc công và các đơn vị khác).

Ngoài ra, lực lượng kỹ thuật còn tiến hành bảo đảm tốt vũ khí, đạn dược cho bộ đội mở chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh, chiến dịch Lộc Ninh – Đường 13, bảo đảm cho Sư đoàn 2 mở chiến dịch Quế Sơn. Đặc biệt, Tổng cục Hậu cần tiền phương, Đoàn 559 thực hiện bảo đảm cho chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh được 6.800 tấn vũ khí, đạn dược và các loại vật chất trang bị khác.

Đêm Giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-1-1968) quân và dân miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công kết hợp với nổi dậy ở 4 thành phố (trọng tâm là Sài Gòn – Gia Định và Huế), 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn; tập trung đánh vào nội thành và các cơ quan đầu não, các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng lớn, nhiều sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của địch… Trong quá trình chiến đấu, lực lượng bảo đảm kỹ thuật dựa vào nhân dân, theo sát các đơn vị chiến đấu tổ chức tiếp tế vũ khí, đạn dược, nhất là lực lượng đặc công, biệt động chiến đấu nhiều ngày trong thành phố, thị xã.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đóng góp quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc Mỹ phải chấp thuận đàm phán với ta ở hội nghị Pa-ri… Đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức, bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch sau này.

NGÔ NHẬT DƯƠNG
qdnd.vn

“Đoàn kết là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

Ông Alain Ruscio và phóng viên TTXVN trong cuộc phỏng vấn. (Ảnh : Tiến Nhất)

Nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phóng viên TTXVN tại Pháp đã phỏng vấn nhà nghiên cứu sử học người Pháp Alain Ruscio, Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại Pháp, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa Pháp và Đông Dương.

Ông Alain Ruscio cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cận đại Việt Nam.

Với tư cách là nhà sử học, ông đánh giá như thế nào về di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Việt Nam?

Alain Ruscio: Khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một bản Di chúc không chỉ mang tính nhân văn mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn. Có thể nói bản Di chúc này thâu tóm tất cả trong một mong muốn to lớn mà Người luôn ấp ủ: đó là sự đoàn kết.

Người kêu gọi sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ cao trào của cuộc chiến tranh. Nhớ lại thời điểm trước khi Người mất một năm, giai đoạn sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, quân Mỹ đã rút ở một số nơi nhưng vẫn tiếp tục ném bom ở nhiều nơi khác. Bác Hồ đã kêu gọi nhân dân Việt Nam luôn luôn đoàn kết: đó là chìa khóa dẫn đến chiến thắng sau này mà Người luôn tin tưởng.

Sự đoàn kết trong Đảng cũng là điều Người mong muốn. Ở vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tấn công, đó không phải là lúc để tranh cãi nội bộ mà trước hết cần phải nghĩ đến lợi ích Cách mạng. Thông điệp này của Người mang một ý nghĩa rất to lớn.

Cuối cùng là mong muốn của Người về sự đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế.

Có ý kiến cho rằng tinh thần đoàn kết mà Bác Hồ đề cao trong Di chúc vẫn giữ nguyên giá trị của nó cho đến tận ngày nay, khi mà cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã kết thúc và đất nước đã bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển. Ông nghĩ như thế nào về quan điểm này? 

Alain Ruscio: Tôi cho rằng đúng, sự đoàn kết, điều mong muốn của Hồ Chủ tịch, vẫn luôn có giá trị đối với nhân dân của ông ngay cả bây giờ. Trên thực tế, hiện nay ở Việt Nam có những người làm ra tiền, nhưng cũng còn nhiều người sống trong cảnh nghèo nàn. Tôi cho rằng không nên để hố sâu ngăn cách xã hội này rộng thêm.

Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân dân, các nhà lãnh đạo và các chiến sĩ Cách mạng Việt Nam cần phải tạo thành một khối thống nhất. Khái niệm “Đại Đoàn kết dân tộc” đóng vai trò hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tôi nghĩ rằng đó cũng là mục tiêu đồng thời là mong muốn mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng tới.

Trong các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu nào ông tâm đắc nhất?

Alain Ruscio: Đó chính là câu trả lời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Tổng thống Mỹ Nixon vào năm 1966: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do!”. Đây cũng chính là hai cụm từ dẫn đường cho xã hội Việt Nam. Độc lập dân tộc, các bạn đã giành được, còn tự do hiện đang luôn tiến triển.

Là chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của đất nước hiện nay?

Alain Ruscio: Rất ấn tượng! Tôi biết Việt Nam từ hơn 30 năm nay. Tôi đến Việt Nam hai năm một lần, thậm chí hàng năm, tùy thuộc vào từng giai đoạn và tôi thấy được những biến đổi về mọi mặt của đất nước này. Đó là một dân tộc cần cù, rất năng động, một dân tộc dù phải chịu nhiều đau thương và nghèo đói, nhưng luôn có ý chí vươn lên.

Tuy nhiên, việc xuất hiện sự chênh lệch xã hội và một số khó khăn, cái nghèo dai dẳng và nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang khiến cho Việt Nam bối rối. Tăng trưởng của Việt Nam không cao như những năm trước và xuất khẩu thì bị sụt giảm. Tuy những điều này có gây ảnh hưởng, nhưng tôi vẫn nhìn thấy ở đất nước này một dân tộc luôn phát triển./.

Nhà sử học Alain Ruscio là chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa và Đông Dương. Từng là phóng viên thường trú báo Nhân đạo (L’Humanité) của Pháp tại Việt Nam giai đoạn 1978-1980, ông Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người.

Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó có các tác phẩm đã được xuất bản như “Hồ Chí Minh,” “Sống ở Việt Nam,” “Việt Nam, lịch sử, đất nước, con người”…

Hiện nay, ông Alain Ruscio là Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại thành phố Montreuil (Pháp). Được thành lập từ năm 1985, Trung tâm này là nơi tập trung nhiều nhất ở châu Âu những tài liệu về Việt Nam. Trung tâm đã và đang góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra với thế giới.

Nguyễn Thu Hà/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Di chúc màu xanh!

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”

Bác Hồ

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con Người”, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Cụ Hồ đem hết nghị lực của mình cho đấu tranh xã hội, ấy vậy mà Cụ Hồ vẫn gắn bó với thiên nhiên đằm thắm. Ở Cụ Hồ thiên nhiên là bạn tri âm”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai người bạn đời luôn cùng sống là con người và thiên nhiên”.

Năm 1959 Bác Hồ phát động Tết trồng cây, và từ đó Người thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, động viên phong trào trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Nhưng không phải chỉ có mùa xuân, Bác Hồ đã viết: “Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm”.

Nhìn những tấm ảnh Bác Hồ trồng cây ở khắp nơi, chúng ta đều thấy ánh mắt trìu mến và vui tươi, thể hiện một tình yêu cây của Bác.

“Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi cành lá quê mình xanh tiếng gọi
Bác trở về đất Mẹ – Bác trồng cây”

Đặc biệt, lúc sinh thời Bác Hồ đã trồng sáu cây đa. Cây đa đầu tiên Bác trồng mở đầu cho Tết trồng cây là ở Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Và cây đa cuối cùng là ở xã Vật Lại, Ba Vì. Xin kể lại một vài sự tích về những cây đa Bác trồng.

Sáng ngày 31 tháng 1 năm 1965, huyện Đông Anh tổ chức Tết trồng cây ở xã Đông Hội. Nhân dân đi trồng cây rất đông. Trong tiếng trống ếch rộn ràng của các cháu thiếu nhi, các cụ già hăng hái đào hố, đặt cây.

Đúng lúc đó thì Bác Hồ đến thăm! Mọi người chen nhau vòng quanh Bác. Bác vẫy tay cho các cháu thiếu nhi im lặng rồi nói vui:

– Các cụ, các chú trồng mười cây sống cả mười cây thì hơn, hay trồng sáu mươi cây chết cả sáu mươi?

– Thưa Bác, chúng cháu quyết trồng mười cây ăn cả mười ạ.

Bác khen như thế là tốt, rồi Bác xắn quần cùng mọi người đi lên gò. Ở đây, bà con đang đào một cái hố rộng. Mọi người mời Bác cùng các cụ già trồng một cây đa. Bác vui vẻ nhận lời. Xem lại cây đa cẩn thận, đặt cây cho thẳng, rồi Bác cùng mọi người xúc đất tốt đắp vào gốc cây.

Từ đấy, các cụ già làng Đông Hội thay nhau chăm sóc cây đa Bác trồng. Cây đa ngày càng lớn, bà con bảo nhau xây tường gạch bao quanh gò, có đường lên xây bậc rất dễ đi. Giờ đây cây đa lớn đã được 48 năm. Mọi người qua lại vẫn thường ngồi nghỉ dưới bóng mát của cây đa Bác Hồ.

Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác.

Hồi này sức khỏe của Bác đã yếu hơn trước. Bác sĩ dặn dò cần tránh để Bác đi lại nhiều. Gần Tết, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú Kỳ, Tết này các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu?

Rồi Bác bỗng hỏi thêm:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?
– Thưa Bác, năm thứ mười ạ.

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm mười năm Tết trồng cây, chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có thành tích.

Rồi Bác nói tiếp:

– Chắc chú còn nhớ cách đây năm, sáu năm, khi đi thăm xã trồng cây khá nhất, chúng mình có ghé nghỉ ở gần Trung Hà. Nhìn phía đồi trọc trước mắt. Bác có dặn đồng chí bí thư và chủ tịch Hà Tây là cần động viên các cụ trồng cây. Bây giờ, nơi đó thành một đồi cây đẹp rồi! Cho nên Tết này ta phải đến thăm và chúc Tết đồng bào.

Nơi đó chính là xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Đồng chí Vũ Kỳ kể:

– Nhắc đến đó, tôi đã thấy lo lo vì đường sá hơi xa. Không ngờ Bác lại nói thêm, muốn vào thăm trại chăn nuôi của chú Hồ Giáo, thăm các cháu miền Nam, trường Nguyễn Văn Trỗi và một hợp tác xã nông nghiệp giỏi nữa. Sau đó, chúng tôi phải sang nhờ Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói hộ với Bác, và thế là Tết năm ấy Bác đã đi thăm bộ đội phòng không, không quân, rồi trưa về thăm xã Vật Lại.

Đến Vật Lại, chào hỏi bà con xong, Bác lên ngay trên đồi trồng một cây đa. Trước khi trồng, Bác hỏi đồng chí bí thư đảng ủy:

– Cây đa này có rễ không chú?

– Thưa Bác có rễ chứ ạ!

Chúng tôi chưa hiểu vì sao Bác lại hỏi thế, thì Bác đã giải thích luôn, có lần Bác cũng đi trồng cây thế này, nhưng các đồng chí ấy không chuẩn bị trước, nên chặt luôn một cành cây to cắm xuống, rồi mời Bác xúc đất trồng cây.

Nghe xong, Bác cháu đều cười vui vẻ!

Ngày nay cây đa cuối cùng Bác trồng ở Vật Lại đã hơn bốn mươi năm, cũng là hơn bốn mươi năm Bác đã đi xa! Cây Đa Vật Lại giờ đã to lớn, rễ phụ chằng chịt với hàng chục cành lớn, vươn cao tỏa bóng xanh tốt quanh năm. Mùa xuân này, khách du lịch từ bốn phương về thăm vùng đất cổ Ba Vì, ai cũng muốn dừng chân tại Đồi cây Bác Hồ, để tận hưởng bóng mát của Người.

Ngồi dưới bóng cây đa lớn Bác trồng, lại nhớ đến những câu thơ của Bác đã viết về Tết trồng cây:

“Muốn làm nhà cửa tốt

Phải ra sức trồng cây

Chúng ta chuẩn bị từ rày

Dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”

Hình ảnh Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại đã là đề tài cho biết bao nhà thơ viết về Bác. Và trên đất nước ta đã có biết bao những cây đa xanh và những loài cây khác tỏa bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống và con người khôn ngoan phải biết gìn giữ thiên nhiên, biết sống hòa hợp với thiên nhiên. Những năm gần đây, lũ ống, lũ quét, lở đất… cùng nhiều nguy cơ tiềm ẩn của thiên tai, đều có nguyên nhân do nạn phá rừng nghiêm trọng của chính chúng ta. Tình yêu thiên nhiên là một trong những tình cảm lớn của con người và yêu nước là phải yêu chính những cánh rừng xanh của Tổ quốc!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho chúng ta bao thế hệ người, bao thế hệ cây, như nhiều nhà thơ đã viết:

“Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Cho mùa Xuân tô điểm nước non này!”

“Bác để lại đây Di Chúc màu xanh
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất
Bao thế hệ đi qua trong vòm bóng mát
Cho lẽ sống của Người thấm mãi trong ta”

“Tết trồng cây đem lại những Mùa Xuân
Tầng đá ong cũng thấy mình trẻ lại
Thấy cây mọc lại nhớ lời Bác dạy
Thấy màu xanh lại nhớ Bác khôn nguôi!”

Bùi Hải Bình
baotintuc.vn

Tượng Bác Hồ giữa lòng thủ đô Mexico lịch sử và văn hoá.

Thật là xúc động và vui mừng khi mà đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất, ở nước ngoài” vừa được Bộ Ngoại giao phát động trong năm “Ngoại giao văn hóa 2009” thì từ miền đất xa phía Tây bán cầu, tại Trung tâm Lịch sử của Thủ đô Mexico, đất nước của nhiều nền văn hóa cổ, đã tiến hành trang trọng và ấm cúng Lễ khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh và Công viên “Tự do cho các dân tộc”.

Đại sứ Việt Nam tại Mexico Phạm Văn Quế (bên phải), Thị trưởng Mexico Marcelo Ebrand cùng các cháu thiếu nhi tại Lễ khách thành Tượng Bác, ngày 16/1 tại Thủ đô Mexico.

Đó là bức tượng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phỏng theo bức ảnh Bác bên bộ bàn ghế mây giản dị, đọc báo trong vườn Chủ tịch Phủ được nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định ghi lại năm 1960. Đằng sau và bên trên bức tượng là hàng chữ vàng quen thuộc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ trên bức tường thành bán nguyệt ốp đá trắng ngọc, soi bóng trên mặt gương nước lung linh, cùng những cánh bèo xanh và đóa hoa súng hồng rung rinh, làm ấm lòng hàng trăm vị quan khách đến với ngày hội tôn vinh Hồ Chí Minh.Ngày 16 tháng 1 năm 2009 “ngày thiên hỷ” theo lịch cổ Việt Nam, trong cái rét ngọt và dưới làn mưa xuân lất phất như đón Bác về chúc Tết, mừng xuân năm nào, hàng trăm bạn bè, dân chúng thủ đô và quan chức Mexico cùng hàng chục người con Việt Nam đang sinh sống xa Tổ quốc đã tận mắt chứng kiến ông thị trưởng thành phố Mexico, Marcelo Ebrad và Đại sứ Việt Nam tại Mexico, Phạm Văn Quế vén tấm lụa hồng, chính thức khánh thành Công viên và Tượng Bác trong tiếng vỗ tay và hò reo không ngớt “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”. Hàng chục phóng viên, nhà nhiếp ảnh, quay phim chuyên nghiệp và nghiệp dư của cả hai nước đã xúc động ghi lại những giây phút thiêng liêng, nhất là cảnh nhiều lượt người chen nhau len vào chỗ đặt tượng Bác bởi người nào cũng muốn tranh thủ lưu lại bên Người ít giây phút để có được những tấm hình lưu niệm đẹp nhất. Chúng tôi, những người con Việt Nam xa xứ hoàn toàn ấn tượng và bị cuốn hút bởi tình cảm mà người dân Mexico dành cho Việt Nam nói chung và Bác Hồ nói riêng. Ai ai cũng thầm cám ơn nghệ sĩ tạc tượng trẻ tài ba Ponzanelli, người đã khắc họa hình tượng Bác rất có thần thái, ở đó toát lên những đức tính cao quý của một nhà hiền triết, một vĩ nhân, người cha già dân tộc giản dị, nhân ái và gần gũi thân quen.

Phát biểu trong buổi lễ, ông Thị trưởng Marcelo Ebrard đã khẳng định những chiến công lẫy lừng của dân Việt Nam thắng quân xâm lược trong thế kỷ 20 đã đi vào lịch sử nhân loại như những trang chói lọi nhất. Việt Nam, Hồ Chí Minh là những biểu tượng sống đã thôi thúc các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, giành độc lập tự do. Hồ Chí Minh xứng danh là lãnh tụ thế giới… Tượng đài Hồ Chí Minh ở đây là dành cho tất cả các dân tộc đã và đang đấu tranh vì độc lập tự do của mình.

Đại sứ Phạm Văn Quế đã cám ơn Ngài Thị trưởng và nhân dân Thủ đô Mexico, với những tình cảm tốt đẹp và sự ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam và cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cho xây dựng công viên “Tự do cho các dân tộc” và đặt tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô bằng chính kinh phí của mình. Đại sứ cũng nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là chiến sĩ lỗi lạc đấu tranh vì độc lâp, tự do cho các dân tộc, mà Người còn là nhà văn hóa lớn được UNESCO công nhận trên toàn thế giới. Câu nói bất hủ của Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

Ông Virgilio Caballero, Chủ tịch Hội Hữu nghị và hợp tác Mexico – Việt Nam, người đã chọn bức ảnh Bác làm đề tài để nghệ nhân tạc tượng Mexico sáng tác, với mái tóc bạc trắng đã không ít lần nghẹn ngào bày tỏ: thật là tuyệt vời! Thế hệ chúng tôi xuống đường những năm 60 để phản đối chiến tranh Việt Nam đâu nghĩ tới có ngày được tạc và đặt tượng Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Mexico; giấc mơ bấy lâu chờ mong nay đã thành hiện thực! Bác ngồi đó dung dị trong lòng bạn bè quốc tế và nhân dân chứ không cao xa, cách biệt trên bệ cao quyền lực.

Công viên “Tự do cho các dân tộc” với kiến trúc chủ đạo mang đậm nét Việt Nam là kết quả của sự vận động, phối hợp và hợp tác chặt chẽ giữa tập thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, đứng đầu là kiến trúc sư – Đại sứ Phạm Văn Quế cùng với Viện Hữu nghị và hợp tác Mixico – Việt Nam và các cơ quan chức năng của thành phố Mexico. Rất khẩn trương và quyết tâm, chỉ trong vòng hơn hai tháng làm việc liên tục và miệt mài, từ một khu vườn um tùm và tối bụi, các bạn Mexico đã cải biến thành một công viên tươi xanh với hệ thống chiếu sáng hiện đại, đậm nét á đông, nhất là với các cây trồng Việt Nam quen thuộc như tre, trúc, sả, sen, bèo, muống cạn và nhiều cây thảo dược nhiệt đới… và giữa thiên nhiên tuyệt vời ấy, nổi lên hình ảnh Bác Hồ rất đời thường, đang thư thái làm việc.

Tượng đài Hồ Chủ tịch trong công viên “Tự do cho các dân tộc” thực sự là biểu tượng cao quý của tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai thủ đô và hai nước Việt Nam – Mexico, một không gian độc đáo giữa thành phố Mexico cổ kính. Đây là một công trình văn hóa và công cộng nằm trong khu Trung tâm lịch sử của Thủ đô mà bạn đã quy hoạch dài lâu để hướng tới những hoạt động thiết thực cho lễ kỷ niệm 200 năm ngày phát động cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc vào năm 2010.

Từ nay trở đi, bất kỳ người con Việt nào khi đặt chân lên miền đất của các nền văn hóa cổ lớn là Azteca và Maya, quê hương của những vũ điệu trữ tình Mariachi và của những vị anh hùng đã chiến đấu vì độc lập tự do của Mexico như Miguel Hidalgo, Benito Juarez, … đều có thể tự hào và vinh dự đến thăm công viên “Tự do cho các dân tộc”, ngắm tượng Bác Hồ và thậm chí ngồi bên Bác, lâng lâng trong tình cảm bao la của bạn bè quốc tế.

Năm nay mùa xuân như đến sớm hơn với cộng đồng Việt Nam nhỏ bé nhưng gắn kết tại Mexico. Bác ơi, thế là tết này chúng con đã có thể dâng lên Bác những cành đào hồng thắm, bánh chưng xanh, chút mứt sen và ấm trà thơm thắm đậm tình quê và thắp cho Người nén hương trong khuôn viên Việt giữa trời đất Mexico để cầu chúc cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn, mãi hạnh phúc, an khang và thịnh vượng. Tượng đài Hồ Chí Minh giữa Trung tâm lịch sử của Thủ đô Mexico thực sự là món quà sớm của năm “Ngoại giao Văn hóa 2009”.

Thành phố Mexico. 17/1/2009
Ngô Tiến Dũng, Tham tán công sứ
Đại Sứ quán Việt Nam tại Mexico.

lamdong.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin dùng tri thức

Bác HồSau tuyên ngôn Độc lập, ngày 3-9-1945 Chính phủ họp để cụ thể hóa chương trình hành động 6 điểm, nhiệm vụ hàng đầu diệt giặc đói, giặc dốt, còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm. Tháng 10-1946, nói chuyện với đông đảo giới trí thức cả nước, Bác Hồ nhắc lại: Đói, dốt còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm, đói không đánh giặc được, dốt thì mất nước, kiến thiết nước nhà cho dân giàu nước mạnh càng cần trí thức…

Luật sư Phan Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính phủ Bảo Đại- Trần Trọng Kim, sau Cách mạng tháng tám được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Bộ trưởng Ngoại thương mà không phải đảng viên cộng sản. Ông Phan trả lời người bạn Na Uy rằng: Mấu chốt là Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức. Tính ra có hơn một năm trời mà có 4 lần thay đổi trong Chính phủ.

Lần đầu, từ Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội ở Tân Trào cử ra ngày 25-8-1945 về Hà Nội mở rộng thành phần mang tên Chính phủ Lâm thời ra mắt ngày 2-9-1945, có 15 bộ trưởng thì 9 bộ trưởng thuộc tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản.

Lần hai, 20 vạn quân lính Tàu Tưởng vượt biên giới vào Việt Nam theo quyết định của Hội nghị Postdam (7-1945), để giải giáp quân đội Nhật. Chúng kéo cả vợ con nhếch nhác, cả các tổ chức đảng phái phản động để chống phá cách mạng nước ta với mục tiêu trước mắt: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Rủi cho chúng, Việt Nam đã có chủ, Chính phủ cụ Hồ ra mắt và tuyên bố độc lập trước thế giới ngày 2-9 rồi. Trong tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chính Minh đã tỏ rõ bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của mình. Thực tài tình và bất ngờ khi người mời thủ lĩnh Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh) Nguyễn Hải Thần chuyên nghề xem bói bốc thuốc bên Vân Nam vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp Lâm thời ngày 1-1-1946.

Lần ba, để “danh chính ngôn thuận” khẳng định chủ quyền độc lập, trong muôn vàn khó khăn, lần đầu tiên nước ta tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Thực hiện sách lược “Tạm hòa với Tưởng” Hồ Chủ tịch đề nghị Quốc hội dành cho tổ chức Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng) và Việt Cách 70 ghế, chấp nhận 2 ghế quan trọng giao cho người không phải đảng phái – Bộ Nội vụ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức bộ trưởng (Bác đã tính trước, mời cụ từ Quảng Ngãi ra Hà Nội). Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh giữ chức. Cựu hoàng Bảo Đại được mời giữ chức cố vấn tối cao. Mặc dù sau đó, một số thành viên trong chính phủ đã tự đào thải mình, chạy theo quân Tưởng về nước như “Phó chủ tịch” Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam…

Lần bốn, ngày 3-11-1946 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, Bác Hồ tuyên bố thành phần chính phủ đoàn kết, toàn dân, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái, đó là Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Các nhân sỹ trí thức được giữ trọng trách trong Chính phủ gồm các Bộ: Nội vụ – Huỳnh Thúc Kháng, Giáo dục – Nguyễn Văn Huyên, Giao thông công chính – Trần Đăng Khoa, Y tế – Hoàng Tích Trí, Tư pháp – Vũ Đình Hòe, Canh nông – Ngô Tấn Nhơn, Cứu tế – Chu Bá Phượng… Hầu hết những người được “chọn mặt gửi vàng” sau này đều xứng đáng với sự tin cậy của Bác.

PHÚC KHÁNH (ST)
xaydungdang.org.vn

Bình đẳng dân tộc đặt nền móng cho đại đoàn kết

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho Đảng, nhân dân, dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) và 20 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam (1990 – 2010), Vietnam+ xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết trong cuốn Kỷ yếu của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” diễn ra trong hai ngày 12-13/5, tại Hà Nội.

Dưới đây, xin trích đăng bài viết của bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương:

Một trong những di sản quý mà Hồ Chủ tịch đã để lại cho nhân dân Việt Nam chính là tư tưởng của Người về bình đẳng dân tộc. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng dân tộc của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng, bình đẳng dân tộc không chỉ cụ thể hóa về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Và chính Người đã thực hiện điều đó.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta tiếp tục đề ra những chính sách nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc. Tháng 8-1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về dân tộc. Tiếp đó, tháng 6-1953, Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam với tinh thần cơ bản là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ lẫn nhau. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.

Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, chúng đã thi hành những chính sách đi ngược lại với nguyện vọng và quyền của các dân tộc ở Việt Nam. Đó là chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, dùng người dân tộc này đánh người dân tộc khác, nhằm chia rẽ các dân tộc, phục vụ cho mưu đồ thống trị của chúng.

Vì vậy, có giành được độc lập dân tộc, mới có điều kiện để chăm lo cho đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ đã có những kế hoạch và hành động cụ thể để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước mang lại cuộc sống mới cho đồng bào.

Mặt khác, thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc các dân tộc khác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn kết các dân tộc.

Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại.

Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách mạng.

Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền bình dẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội đó, không thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Kết luận trên của Hồ Chí Minh được Người rút ra trong quá trình khảo nghiệm các con đường cứu nước và trong quá trình khảo sát các xã hội tư bản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong quan hệ giữa dân tộc đa số có trình độ phát triển cao hơn với các dân tộc thiếu số có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tư tưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng.

Người cho rằng, cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Trong nhiều hội nghị, trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng những từ rất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”, “giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”… Người nhấn mạnh rằng, đồng bào miền xuôi với trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn phải giúp đỡ đồng bào thiểu số, để cùng tiến bộ.

Người cũng đã khẳng định nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp ủy đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất.

Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó với nhau từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Sự đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc gia đa dân tộc bền vững, thống nhất.

Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.”

Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ….”

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao dần mức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong số đó, Chương trình 135 – giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841 xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng; quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất; thực hiện sâu rộng Chương trình xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, người có công với cách mạng.

Nhờ vậy, cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tích cực phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước, tinh thần đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác Hồ hằng mong muốn./.

Hà Thị Khiết (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)
vietnamplus.vn

Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ

Nguyễn Ái Quốc“Nguyễn Ái Quốc được coi là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất “- Đó là đánh giá của giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về Văn học Pháp ngữ Việt Nam.

Văn học Việt Nam, ngoài bộ phận viết bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ), và bộ phận viết bằng chữ Hán, còn có một bộ phận ít được biết đến: văn học viết bằng tiếng Pháp.

Cho đến nay, chỉ có một cuốn sách viết riêng về để tài này là cuốn The Vietnamese Novel in French: A Literary Response to Colonalims (Tiểu thuyết Pháp ngữ Việt Nam: Văn chương đáp lại Chủ nghĩa thực dân) của giáo sư Mỹ Jack A. Yeager 1, dựa trên luận án tiến sĩ của ông. Ngoài ra, còn có một luận án tiến sĩ khác, cũng ở Mỹ, viết về Phạm Văn Ký 2.

Giáo sư Alain Guillemin, chuyên gia hàng đầu của Pháp về lĩnh vực này, trong La Littéature Vietnamienne Francophone: Entre Colonisalisme et Nationalisme (Văn học Pháp ngữ Việt Nam: Giữa chủ nghĩa thực dân và Chủ nghĩa dân tộc) cho biết rằng từ năm 1913, thời điểm xuất bản tập thơ “Mes heures perdues” (Những giờ khắc tôi đã mất) của Nguyễn Văn Xiêm, cho đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, đã thu thập được khoảng một trăm tác phẩm của 47 tác giả, bao gồm 62 tác phẩm văn xuôi (34 tiểu thuyết, 18 tập truyện kể, 8 tập tiểu sử tự thuật, 2 tập truyện ngắn), 31 tập thơ, và 6 vở kịch.

Phạm Văn Ký, tác giả của 10 tiểu thuyết và tập truyện ngắn, 4 tập thơ, 3 vở kịch, do các nhà xuất bản lớn ở Paris như Fasquelle, Le Seuil, Grasset, Gallimard, NRF phát hành, đoạt Giải thườn Lớn của Viện Hàn lâm Pháp năm 1961 3 có lẽ là tác giả hội nhập sâu sắc nhất vào xã hội Pháp.

Bên cạnh đó, theo tôi, Nguyễn ái Quốc cũng phải được coi là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam không những sớm nhất mà còn thành công nhất.

Theo Yeager, tập văn xuôi Pháp ngữ đầu tiên của Việt Nam là Contes et Légendes du Pays d’Annam (Truyện cổ và thần thoại nước An Nam, 1913). Nhưng cuốn tiểu thuyết, và có lẽ cũng là tác phẩm văn xuôi hư cấu đầu tiên, Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long, mãi đến năm 1921 mới xuất bản.

Theo Alain Guillemin, trước năm 1945, ảnh hưởng của văn học Pháp ngữ Việt Nam chỉ đóng khung ở địa phương, vì trong 44 tác phẩm, 32 in tại Hà Nội và Sài Gòn, và trong số 25 tác phẩm văn xuôi, chỉ có 3 in ở Pháp. Tuy nhiên, Alain Guillemin khi cho rằng có lẽ mảng chuyện ngắn đã bị đánh giá chưa đúng mức, bởi lẽ đó mới chỉ là các tuyển tập, vì thế “cần khảo sát các báo và tạp chí Pháp ngữ xuất hiện trong thời thuộc địa 4”.

Điều đó rất đúng với trường hợp Nguyễn ái Quốc. Như chúng ta đều biết, Nguyễn ái Quốc đến sống tại Pháp vào khoảng cuối năm 1917. Chàng trai Việt Nam hai mươi bảy tuổi kết thân với nhiều nhà hoạt động cách mạnh quốc tế, và nhanh chóng trở thành một cây bút quan trọng của báo chí các nhóm cách mạng thuộc địa hoạt động ở Paris.

Giáo sư Hayes Edwards (Rutgers University), trong bài The Shadow of Shadows5, khi so sánh sự tương đồng giữa Nguyễn ái Quốc và nhà hoạt động cách mạng Senegal Lamine Senghor, có viết: “Trong bài này, tôi sẽ tập trung vào tác phẩm của Nguyễn ái Quốc, ông là cây bút quan trọng và kỳ lạ nhất trong các nhóm cách mạng ở Paris trong nửa đầu thập kỷ 1920, người ta đã cho đăng cả một cơn lũ bài viết thuộc nhiều thể loại không chỉ trên tờ Le Paria, mà cả trên L’Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix ouvrière, Le Libétaire, Clarté, và L’action Colonialé 6”.

Riêng với tờ Le Paria, Nguyễn ái Quốc vừa là người phụ trách, người biên tập, vừa là cây bút chính, nhiều khi phải viết bài thay cho những tác giả không viết kịp.

Không chỉ viết báo, tiểu luận, Nguyễn ái Quốc còn viết truyện. Giáo sư Hayes Edwards gọi nhiều bài viết của Nguyễn ái Quốc là những “Kiệt tác nhỏ về thể văn nhại và tiểu luận (“There are a number of little masterpieces of parody, essays”) và đánh giá cao những cách tân văn chương của Nguyễn ái Quốc mà ông coi là đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển tư duy chính trị của các chiến sĩ cách mạng thuộc địa7.

Những truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn ái Quốc như Lời than văn của bà Trưng Trắc (Les lamentations de Trung – Trac), Paris (Trích Những bức thư gửi cô em họ – extrait de Letters à ma cousine), Con người biết mùi hun khói (“enfumé”) đều in trên tờ L’Humanité trong năm 1922, như vậy chỉ một năm sau Mademoiselle Lys (Cô Huệ) của Nguyễn Phan Long.

Truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc khá độc đáo và hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh đầu thập niên 1920, nghĩa là mấy năm trước Tố Tâm và hàng chục năm trước Tự Lực Văn Đoàn.

Văn xuôi của Nguyễn ái Quốc, cũng như của Hồ Chí Minh sau này, rất đa dạng tùy theo đối tượng bạn đọc và các yêu cầu cụ thể: khi khá cầu kỳ, như trong Paris (1922), khi lại mộc mạc, như trong Giấc ngủ mười năm (1949). Truyện Con rùa (1925) đầy chất trào lộng mà sau này ta sẽ gặp lại ở Nguyễn Công Hoan, còn Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922) lại đầy chất mộng mị, ma quái mà ta có thể nhận thấy rất rõ dù đã qua dịch thuật: “Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hóa thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng, giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét, và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được 8”.

Con người biết mùi hun khói, đúng như Hayes Edwards nhận định, là một truyện ngắn đặc sắc về nhiều mặt. Trước hết là tính quốc tế – tác phẩm của một người Việt Nam được bắt đầu bằng lời đề tặng một người Algeria bị một sĩ quan pháp tên là Vidart giết hại: “Xin tặng Nahông, người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài viết này”. Lời đề tặng này lại được đặt trong sự tương phản với đoạn trích lời Albert Sarrault, bộ trưởng bộ thuộc địa: “Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài năng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Nhưng độc đáo nhất là tính viễn tưởng, Sáng tác năm 1922, nhưng bối cảnh câu chuyện lại diễn ra vào năm 1998, nghĩa là sau đó 75 năm. Hãy đọc đoạn mở đầu:

“Thành phố Haoussas cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng Hòa Liên Hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xô viết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengo, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói”.

Trong cảnh lễ hội đó, cố Kimengo kể lại câu  chuyện xưa: những người dân thuộc địa Pháp nghèo khổ không có tiền nộp thuế, phải bỏ trốn vào hang. Bọn thực dân hun khói làm những người trong hang chết ngạt. Riêng cố Kimengo may mắn ở gần một kẽ nứt, đào một cái ngách, thoát ra được và trở thành “chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen”. Cụ Kimengo “không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung”.

Con người biết mùi hun khói của Nguyễn ái Quốc có lẽ là tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại viễn tưởng ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, nếu lưu ý rằng lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi trong truyện diễn ra vào năm 1998, ta sẽ thấy Nguyễn ái Quốc đã tiên đoán rất chính xác sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa cuối thập kỷ 1940.

Nhân đây, cũng xin nói thêm rằng sau này Hồ Chủ tịch còn trở lại với thể loại viễn tưởng trong Giấc ngủ mười năm (1949). Nông Văn Minh, nhân vật trong truyện, là người Nùng, vào Vệ Quốc quân đánh Tây. Trong trận đánh đèo Bông Lau, Minh bị thương vào đầu, ngất đi, khi tỉnh lại, thấy mình đang nằm trong bệnh viện. Một cô gái trẻ ôm chầm lấy anh hôn lấy hôn để làm Minh ngượng nghịu. Mãi lúc đó Minh mới sửng sốt nhìn thấy tờ lịch đề ngày 15 tháng 8 năm 1958. Cô gái chính là con gái anh, nay đã lớn, đang học đại học y khoa, ngồi kể cho bố nghe về những đổi thay trên quê hương đã hoàn toàn độc lập.

Xin trở lại với những tác phẩm Pháp ngữ của Nguyễn ái Quốc. Theo Hayes Edwards, sáng tác của nhà cách mạng trẻ tuổi Việt Nam còn âm vang nhiều năm sau khi anh rời Paris đi Moskva năm 1923. ảnh hưởng của Nguyễn ái Quốc có thể thấy rất rõ trong sáng tác của Lamine Senghor (Sénégal).

Chẳng hạn, một câu trong tác phẩm Con người biết mùi hun khói, “cụ Kimengo đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi  giấc ngủ mê say của con người nô lệ”, dường như vọng lại trong đoạn kết bài diễn văn Lamine Senghor đọc tại Đại Hội Phản Đế tại Bruxelles. Cũng theo Hayes Edwards, giọng văn châm biếm, cũng như việc sử dụng hình minh họa trong La violation d’un pays (ức hiếp một dân tộc) có lẽ cũng được Lamine Senghor học theo gương Nguyễn.

——————-

1. J.A.Yeager, The Vietnamese Novel in French: a literary Response to Colonialism, Hanover, New Hampshire University Press, 1990.

2. Nguyen Hon Nhiem Lucy, L’échiquier et l’antinomie: Je/moi comme singe et substance du conflit Occident-Extrême-Orient dans les oeuvres de Pham Van Ky, University of Massachussets Amhers, 1992 (Chú thích của Alain Guillemin).

3. Giáo sư Alain Guillemin, hiện làm việc tại Viện nghiên cứu Đông Nam á (Institut de Reserche sủ le Sudét Asiatique, Marseille). Bài La Littérature Vietnamienne Francophone: Entre Colonisalisme et Nationalisme được ông gửi riêng cho tôi.

4. “II est probable que le poids des nouvelles est-sous – estimé car, surtout en ce qui concerne les récits  courts édités au Vietnam, il ne s’agit que de publications en volume. Une enquête dans les nombreux journaux et revues francopohnes parus pendant la période coloniale serait nécessaire”.

5. Hayes, Brent Edwards, The Shadow of Shadow, Xin xem bản trên internet: <http://muse.jhu.edu/journals/positions/v011/11.1edwards.html>

6. “I will concentrate here oarticularly on the work of Nguyen Ai Quoc, who may well stand as the most important and prodigious writer in radical circles in Paris during the first part of the 1920s, publishing a torrent of wide-ranging articles not only in Le Paria but also in L’Humanité, Le Journal du Peuple, La Voix Ouvrière, Le Libétaire, Clarté, and L’Action Coloniale”.

7. “It is even more surprising that literary innovation-and efforts in fiction in particular-play an indispensable role in the development of a number of anticolonial militants’ sense of politics”.

8. Tìm hiểu truyện và ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sở Văn hoá Thông tin Đồng Tháp, 1985.

Nhà văn Ngô Tự Lập (từ Hoa Kỳ)
tienphong.vn

Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Chính trị (Khóa III) họp quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ngay sau đó, công tác chuẩn bị được tiến hành chu đáo, công phu, tỉ mỉ và hoàn toàn bí mật. Tháng 1-1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (Khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược. Ở miền Nam, các binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát vào bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể của Bác Hồ cho các chiến trường là:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu.

Bác Hồ cùng các uỷ viên Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác thì Người đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước đó. Sáng chủ nhật ngày 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết vừa để Bác nghe vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư Chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới! Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 Tết, Bác Hồ nhận điện của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng chúc tết Bác. Tối đêm giao thừa nơi Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng, mở Đài Tiếng nói Việt Nam nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (năm 1941), đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ vang, tiễn Đinh Mùi và đón mừng Mậu Thân, từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước mà trọng điểm là 3 thành phố lớn: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Sài Gòn, quân ta đã đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh và rất nhiều mục tiêu chiến lược của địch khác…. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: “Giờ này, miền Nam đang nổ súng!”.

Trưa mồng một Tết, Bác Hồ rất vui khi nhận được tin chiến thắng : “Đánh khắp miền!”. Mồng 6 Tết, nhằm ngày 3-2-1968, kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập Đảng, mới 6 giờ sáng, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị giấy bút. Bác ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài trời đầy tuyết trắng, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ ghi bài thơ khai bút đầu năm:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem sao
Lục khắp giấy tờ vần chẳng thấy
Bỗng nghe vần THẮNG vút lên cao!

Suốt 2 tháng đầu năm Mậu Thân 1968, trên toàn chiến trường miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng. Mục tiêu lớn của chiến dịch đã đạt được, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền của chúng, làm giảm ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến trong giới lãnh đạo Mỹ. Vần “THẮNG” của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là tiền đề quan trọng cho thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.

HÀ VY (sưu tầm)
qdnd.vn

Những ngày giải phóng quận lỵ Hướng Hóa

Kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Đã 45 năm trôi qua, nhưng với Trung tướng Nguyễn Ân, những kỷ niệm khi trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 chỉ huy đơn vị lần đầu tiên vào chiến trường miền Nam chiến đấu tại Mặt trận Đường 9 thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí về một thời trận mạc… Ông bồi hồi nhớ lại:

Cuối năm 1967, sau hai mùa khô đọ sức quyết liệt với quân viễn chinh Mỹ, ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc. Trên các địa bàn quân và dân ta đã đánh bại một bước cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, dồn chúng vào thế “tiến thoái lưỡng nan” và bắt đầu tụt hạng ở chiến trường. Về thế trận, cho phép ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, tháng 12-1967, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết lãnh đạo sáng tạo và kiên quyết, xác định: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước phát triển mới, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định”.

Trung tướng Nguyễn Ân (bên phải) và đồng đội cũ chụp ảnh lưu niệm.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, tại mặt trận Đường 9, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tăng cường cho Bộ tư lệnh B5, cử Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy và đưa thêm các Sư đoàn 320, 304, cùng một số binh chủng vào chiến đấu. Trung đoàn 66 do tôi làm Trung đoàn trưởng, trong đội hình Sư đoàn 304 được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam và được giao nhiệm vụ tác chiến trên chiến trường chiến lược Đường 9 – Bắc Quảng Trị, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ; thu hút giam chân địch; hiệp đồng chặt chẽ với chiến trường toàn miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Trị Thiên-Huế nổi dậy…

Đảng ủy Mặt trận B5 chủ trương tổ chức, sử dụng lực lượng làm hai hướng: Hướng phía Tây, mục tiêu chủ yếu là Khe Sanh, cụm phòng ngự liên hoàn kiên cố nhất của Mỹ-ngụy ở Tây Đường 9 được xác định là hướng chủ yếu, do Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 đảm nhiệm. Hướng phía Đông gồm hệ thống căn cứ hành quân, hỏa lực, hậu cần của địch từ Cửa Việt, Đông Hà đến tận Cù Tu là hướng quan trọng do Sư đoàn 320 và Sư đoàn 324 đảm nhiệm. Lực lượng pháo binh có Trung đoàn 675 và Trung đoàn 45 pháo binh dự bị chiến lược của Bộ tham gia. Về thiết giáp có Tiểu đoàn 198 xe tăng được tăng cường cho hướng trọng điểm Khe Sanh. Đây là lần đầu tiên xe tăng của ta có mặt ở chiến trường miền Nam. Thời gian mở đợt tấn công trên mặt trận Đường 9 xác định vào khoảng cuối tháng 2-1968. Trong thời điểm đối phương tăng cường lực lượng lớn, có lúc lên tới 50 vạn quân Mỹ và chư hầu, chưa kể lực lượng ngụy quân. Việc mở chiến dịch lớn tại Tây Nam giới tuyến quân sự tạm thời, trên địa bàn rộng buộc địch phải điều động lực lượng, trang bị lớn để đánh trả là đòn tấn công chiến lược, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta.

Sau khi nhận nhiệm vụ ở mặt trận đêm 14-1-1968. Lúc này ta dự định nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20-1-1968, sớm hơn so với kế hoạch một tháng. Công tác chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương do thời gian chuẩn bị chỉ có 4 đến 5 ngày là rất gấp. Sư đoàn 304 được tăng cường Tiểu đoàn Xe tăng 198, một trung đoàn cao xạ, có nhiệm vụ mở màn chiến dịch giải phóng đoạn từ Khe Sanh đến Lao Bảo. Quyết tâm của Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 24 và một số xe tăng đánh chiếm Huội San, sau đó phát triển về tấn công Làng Vây; Trung đoàn 9 sẵn sàng đánh viện; Trung đoàn 66 của chúng tôi có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Đây là một thử thách khắc nghiệt ngay từ trận đầu đối với sư đoàn vì trong một thời điểm phải triển khai hai trận đánh công sự vững chắc, với yêu cầu phải bảo đảm thắng lợi để mở màn cuộc tấn công lịch sử.

Nhiệm vụ Trung đoàn 66 là nhanh chóng đưa bộ đội vào tiến công mở màn, trước hết tiêu diệt chi khu quân sự và quận lỵ Hướng Hóa, sau đó chốt giữ không cho địch chiếm lại. Trước khi nổ súng phải có lực lượng chiếm giữ Ku Bốc và Cao điểm 471, sử dụng một tiểu đoàn bám đường 9 chuẩn bị đánh viện. Triển khai nhiệm vụ, 14 giờ ngày 18-1-1968, Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn hạ quyết tâm: Sử dụng Tiểu đoàn 7 được tăng cường Đại đội ĐKZ 82, cùng một trung đội vận tải, một trung đội đặc công có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở quận lỵ Hướng Hóa. Tiểu đoàn 9 đưa một đại đội chốt ở đồi Ku Bốc, lực lượng còn lại chuẩn bị đánh địch ở Đông Nam đồi Ku Bốc. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66, lần đầu vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, vào ngay khu vực gần giới tuyến giữa miền Nam và miền Bắc, là cửa ngõ đường tiếp tế của quân ta từ Bắc vào Nam; khu vực Khe Sanh – Đường 9, Mỹ-ngụy tăng cường lực lượng phòng thủ chặt chẽ, xa căn cứ thì chúng dùng máy bay B-52 hoặc máy bay chiến thuật rải bom, hoặc dùng pháo tầm gần, tầm xa bắn phá. Ngay ngày đầu đơn vị vào vị trí tập kết đã bị B-52 rải thảm và pháo của chúng kết hợp với nhau bắn phá kéo dài 15-20 phút. Khi bị B-52 rải thảm, lúc đầu chúng tôi còn tranh luận nhau là B-52 rải thảm hay là pháo chúng bắn, vì sau B-52 rải thảm, là pháo của chúng bắn trùm lên…

Mọi công tác chuẩn bị cho trận mở màn, từ khâu nắm địch tới việc điều động lực lượng, kế hoạch chi tiết của từng bộ phận đảm bảo bí mật. Đúng 14 giờ, ngày 20-1-1968, đơn vị vừa nhô ra khỏi công sự thì bị B-52 rải thảm, may không có ai hy sinh, vài người bị thương nhẹ. Do chưa có kinh nghiệm chuẩn bị đường xuất kích, chỉ chuẩn một đường nên khi B-52 rải thảm và pháo bắn, cây cối đổ ngổn ngang lấp hết đường đi, bộ đội mang vác nặng không sao đi nhanh được, trong khi máy bay OV10 bay liệng và pháo sáng liên tục. Nhưng đúng 5 giờ ngày 21-1-1968 theo hiệp đồng đơn vị đã tiếp cận được mục tiêu. Trời vừa sáng, địch đã phát hiện ra ta tiếp cận vị trí của chúng. Tình thế hết sức khẩn trương, tâm trạng chúng tôi lúc này rất căng thẳng, thì bất ngờ pháo binh của ta đồng loạt thực hiện một trận bão lửa mãnh liệt vào sân bay, sở chỉ huy, các trận địa pháo của địch ở Tà Cơn, Hướng Hóa, các điểm cao 832, 471….

Đúng 5 giờ 10 phút, tôi ra lệnh nổ súng, các loại hỏa lực dồn dập chế áp hỏa điểm địch, yểm trợ cho bộc phá viên lên mở cửa. Trung đội bộc phá mở được 4 hàng rào, còn một hàng rào sát lô cốt có một khẩu đại liên bắn ra rất mãnh liệt. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng và bộc phá viên bị hy sinh ngay sát hàng rào. Lúc 5 giờ 40 phút, tôi lên quan sát và lệnh cho ĐKZ cơ động vào cửa mở diệt hỏa điểm của địch. Bất ngờ một loạt đạn của địch từ trong bắn ra, một viên trúng vào chiếc mũ sắt của tôi đang đội trên đầu, khiến cho chiếc mũ xoay 180 độ về sau. Tôi choáng váng ngồi xuống và chợt nhớ ra hôm trước khi trinh sát chúng tôi phát hiện có một cửa ngách bên khu gia binh thông vào đồn, không có người canh gác. Tôi quyết định để một bộ phận kiềm chế địch, còn phần lớn lực lượng chuyển hướng sang khu gia binh để đột nhập vào qua cửa ngách, ở đó địch mỏng yếu. Quân ta nhanh chóng tiến công vào bên trong, phát triển chiến đấu rất nhanh, chiếm lĩnh các vị trí khiến cho địch không kịp đối phó.

Cũng thời gian này, đúng như ta đã dự kiến, khi ta tiến công Hướng Hóa, địch điều ngay Đại đội 258 địa phương đổ bộ đường không xuống Ku Bốc. Đại đội 11, Tiểu đoàn 9 của trung đoàn tôi bố trí phục sẵn ở đó, giữ được bí mật, khi máy bay địch lượn khắp cũng không phát hiện ra, nên khi đổ quân xuống liền bị ta tiêu diệt gọn, sau gần 50 phút chiến đấu. Phân đội súng máy 12,7mm của ta còn bắn rơi tại chỗ 3 chiếc trực thăng. Khi bắt được tù binh chúng khai: “Chúng tôi thấy thấp thoáng có lính đội mũ sắt nhưng cho rằng, Việt cộng làm gì có mũ sắt, thế là chúng tôi cứ đổ quân xuống…”. Thật là bất ngờ thú vị, vì lần đầu tiên bộ đội chủ lực miền Bắc được Liên Xô trang bị mũ sắt và nhờ đó ta đã giữ được bí mật tại đây.

Bước vào chiến dịch, chỉ trong 18 ngày, Trung đoàn 66 cùng với các đơn vị trong Sư đoàn 304 đã đánh 3 trận diệt địch trong công sự vững chắc, diệt 3 cứ điểm quan trọng của địch ở Huội San, Hướng Hóa và Làng Vây. Cụm cứ điểm Tà Cơn do quân Mỹ chiếm đóng bị cô lập ở giữa lòng chảo Khe Sanh. Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 được Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ chuyển sang bao vây đánh lấn Tà Cơn. Đến ngày 10-2-1968, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 cùng Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ của Sư đoàn 325 và bộ đội địa phương Hướng Hóa đã tổ chức được 13 trận vây lấn xung quanh Tà Cơn. Từ hướng Bắc, Tây và Tây Bắc, Trung đoàn 95C và Trung đoàn 101Đ cũng tiến vào vây lấn Tà Cơn. Những trận đánh liên tiếp của các trung đoàn của ta đã trở thành những mũi tiến công sắc nhọn ngày càng cắm sâu vào căn cứ địch. Mỹ đã dùng máy bay chiến lược B-52 thả gần 60.000 tấn bom, bắn hàng chục vạn quả đạn pháo, nhưng các trận địa vây lấn của ta vẫn đứng vững. Báo chí phương Tây và dư luận đã phải nói đến hình ảnh một Điện Biên Phủ mới. Tổng thống Giôn-xơn khi đó yêu cầu tham mưu liên quân “ký bản cam kết rằng Khe Sanh sẽ được giữ vững”.

Những ngày cuối tháng 3-1968, các trận vây lấn của ta khép chặt vòng vây. Trong 50 ngày đêm, các đơn vị tiêu diệt 3000 tên địch, bắt sống 217 tên, bắn rơi và bắn cháy tại sân bay 279 máy bay các loại, phá hủy rất nhiều vũ khí, kho tàng của địch. Tình hình Khe Sanh làm cho bọn hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm Góc đau đầu. Tại Quốc hội Mỹ đã nổ ra cuộc tranh luận rất gay gắt về việc giữ hay không giữ Khe Sanh. Ngày 26-6-1968, địch buộc phải tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Ngày 9-7-1968, cờ giải phóng đã cắm trên cột cờ sân bay Tà Cơn….

45 năm nhìn lại tôi càng thấy rõ hơn tầm chiến lược của Đảng. Thắng lợi trên các chiến trường cùng với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm cho địch “xuống thang”, tạo bước phát triển mới của cuộc chiến tranh, là tiền đề, động lực để quân và dân ta giành những thắng lợi to lớn hơn, tiến tới ngày toàn thắng…

Trung tướng NGUYỄN ÂN (kể) – Xuân Dân (ghi)
qdnd.vn

Sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

QĐND – Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng lúc Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cuộc tiến công táo bạo bất ngờ đã tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài phát thanh, Tòa đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài ở Cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần-kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.

Đây là thắng lợi tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt đầu xuống thang chiến tranh, là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Bộ đội ta tiếp cận mục tiêu tiến công thị xã Bến Tre trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Ngay từ đầu năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, xuất con chủ bài quân viễn chinh Mỹ, đưa ồ ạt quân Mỹ vào tham chiến trên quy mô lớn ở miền Nam, với tham vọng bẻ gãy xương sống Việt Cộng và chụp bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta. Tham vọng của Mỹ khi tiến hành chiến tranh cục bộ là đánh bại cách mạng miền Nam Việt Nam trong vòng từ 25 đến 30 tháng, với kế hoạch 3 giai đoạn, hai cuộc phản công chiến lược, mà giai đoạn 3 được dự tính là hoàn thành việc tiêu diệt khối chủ lực ta, tiếp tục bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967.

Trước âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình chiến lược, tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Giữa lúc đế quốc Mỹ ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử tổng thống Mỹ, Đảng ta quyết định phải giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, bằng cách chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, tạo ra một bước ngoặt lớn, làm thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đưa cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Sự sáng tạo về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ở cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và cả trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, khiến cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị động, bất ngờ.

Đó là sự sáng tạo của phương châm ba vùng chiến lược. Nếu không có ba vùng chiến lược được xây dựng từ nhiều năm với những cơ sở vững mạnh và quần chúng đông đảo ủng hộ thì không thể có chiến tranh ở thành thị, nhất là ở các thành phố trọng điểm Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng là những trung tâm chính trị, quân sự. Đánh vào đây là đánh vào các cơ quan đầu não, các trung tâm chỉ huy, đánh vào sinh lực cao nhất của địch, chỗ hiểm yếu, dễ chấn động và nhạy cảm nhất của chúng.

Đó là sự sáng tạo của việc vận dụng hai lực lượng chính trị và quân sự để giành thắng lợi cả chính trị và quân sự, sáng tạo về hình thức tiến công đồng loạt để tạo hiệu lực như một đòn sét đánh. Để đồng loạt tiến công ở 41 thành phố và thị xã thì phải có một thời gian chuẩn bị dài, phải dự trữ một khối lượng vật chất lớn, đặc biệt là phải giữ được bí mật. Chỉ khi nhân dân có giác ngộ chính trị cao, có lòng nồng nàn yêu nước mới sáng tạo ra trăm phương nghìn kế để tạo ra chỗ giấu quân, để đưa hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay sào huyệt của địch; sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và của cải để bảo vệ các lực lượng cách mạng, để tiếp sức cho các LLVT chiến đấu trong thành phố. Mục tiêu cao nhất của cuộc tổng tiến công là đánh vào ý chí của địch, làm cho chúng lung lay tận gốc, làm nản chí cả những kẻ hiếu chiến nhất, làm náo động cả nước Mỹ, đẩy cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ lên một bước mới. Trong khi đó, ta tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Đó còn là sự sáng tạo trong lựa chọn thời cơ chiến lược. Ta tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào lúc số lượng quân Mỹ đông nhất, sau gần 3 năm thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đang ở vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Ta chọn thời cơ vào năm bầu cử tổng thống Mỹ, tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị, áp lực quân sự vào thời điểm này có thể tạo ra hiệu lực lớn. Đây là thời cơ ta lựa chọn đúng lúc, đạt hiệu quả cao. Hai tháng sau cuộc tổng tiến công của ta, ngày 31-3, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố đơn phương ngừng bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri, không ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai. Trên thực tế, Mỹ đã mặc nhiên thừa nhận một cách đầy đủ sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ, tạo ra bước ngoặt mới của cách mạng nước ta.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN
qdnd.vn

Vừa hành quân, vừa đánh địch

QĐND – Chiều 29-1-1968 (tức ngày 30 Tết), Tiểu đoàn 52 Tỉnh đội Bình Định nhận được lệnh của trên hành quân đến rìa núi xã Phước Long thuộc huyện Tuy Phước nhận nhiệm vụ chiến đấu và khẩn trương làm công tác chuẩn bị để hành quân đến vị trí tập kết đúng giờ quy định.

Đêm 30 Tết, trời tối như bưng, Tiểu đoàn hành quân băng rừng trong ánh đuốc lồ ô. Khi Giao thừa đến, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 cho bộ đội dừng lại khoảng 5 phút nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết. Giọng Bác Hồ ấm áp như tiếp thêm sức mạnh để cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn tiếp tục hành quân vào trận đánh.

Đến vị trí tập kết ở xã Phước Long, Tiểu đoàn 52 được giao nhiệm vụ đánh địch ở vòng ngoài, kìm chân địch, uy hiếp cửa ngõ chính vào thành phố Quy Nhơn để các đơn vị bạn tiến công địch trong thành phố. Dù chưa kịp chuẩn bị, nhưng do thông thạo địa bàn, sáng ngày 31-1-1968 (Mồng Một Tết Mậu Thân), tiểu đoàn nổ súng đánh địch ở xã Phước Long. Bị đánh bất ngờ, lực lượng địch đồn trú ở khu vực ga Diêu Trì nhanh chóng bị tiêu diệt, tiểu đoàn làm chủ đoạn đường sắt đi qua khu vực này. Khoảng 9 giờ sáng, địch huy động một tiểu đoàn lính Nam Hàn phản kích, Tiểu đoàn 52 bám trụ đánh địch, đến 16 giờ, ta mới rút về dãy núi Phước Long để củng cố lực lượng.

Trong đêm Mồng Một và sáng Mồng Hai Tết Mậu Thân, địch tăng cường lực lượng, chặn ven rìa núi đánh chặn quân ta. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 52 tổ chức lực lượng đánh địch, vượt qua tuyến ngăn chặn của quân Nam Hàn, tập kích tiêu diệt một đại đội địch ở thôn Lập Lễ (xã Phước Long), khẩn trương xây dựng công sự trụ lại đánh địch. Các chốt của tiểu đoàn đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta đánh vào thành phố Quy Nhơn.

Khi các đơn vị bạn rút khỏi thị xã Quy Nhơn, Tiểu đoàn 52 được lệnh rút về khu vực núi Mun (Phú Tài). Trên đường về vị trí tập kết, Tiểu đoàn tổ chức tập kích một đại đội bảo an của địch ở Tây Định, sau đó tiến công bọn lính Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ đóng quân ở Lộc Trung (Phước Sơn), gây cho địch nhiều tổn thất.

Vừa hành quân vừa phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu, Tiểu đoàn 52 đã đánh nhiều trận, tiêu diệt hai đại đội bảo an địch và hàng chục tên lính Nam Hàn, Tân Tây Lan đánh thuê cho Mỹ, góp phần vào thắng lợi của cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Bình Định.

QUANG PHÁT
qdnd.vn