Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Ngày 5 tháng 1 – Làm việc nước là hy sinh

Thứ hai, 05/01/2009, 03:35 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 5-1-1925 (ngày này 84 năm trước), từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc – lúc đó đang làm phiên dịch cho Bôrôđin, cố vấn của Liên Xô bên cạnh Chính phủ của Tôn Trung Sơn – đã gửi một bức thư cho Quốc tế Cộng sản báo tin rằng: “Quốc dân đảng Đông Dương vừa được thành lập vào ngày 3 tháng này”.

Đây là nhóm chiến sĩ trẻ yêu nước chịu ảnh hưởng của Phan Bội Châu sang Trung Quốc hoạt động. Một số thành viên của tổ chức này được chọn gửi sang học tại Đại học Mátxcơva. Đây chính là hạt nhân để thành lập Thanh niên Cộng sản Đoàn.

16 năm sau, cũng ngày này năm 1941, Nguyễn Ái Quốc lại có mặt ở Tĩnh Tây (Trung Quốc) và đã gặp Hoàng Văn Thụ – người được Thường vụ Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang báo cáo công việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương 8 – để quyết định những vấn đề trọng đại cho công cuộc giải phóng đất nước.

Và cũng chỉ 5 năm sau, ngày 5-1-1946, nước Việt Nam độc lập đã bước vào ngày hôm trước của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Sáng hôm đó, báo chí nhất loạt đăng“Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…”.

Chiều hôm đó, tiếp xúc với 20.000 cử tri tại khu Việt Nam Học xá (nay là Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, Bác đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt tại chùa Quán Sứ và trịnh trọng tuyên bố: “Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Ngày 5-1-1958 (ngày này 51 năm trước), “Lời kêu gọi nông dân và cán bộ chống hạn đẩy mạnh sản xuất vụ đông xuân” được đăng trên các báo và trong ngày hôm đó, Bác Hồ về Hưng Yên động viên nhân dân đang chống hạn và tặng bức trướng thêu 4 chữ: “Chống hạn giỏi nhất”.

Cách đây đúng 50 năm, ngày 5-1-1959, Bác đến khánh thành Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, viết lời đề: “Viện Bảo tàng là một trường học tốt về lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam ta” và tặng bảo tàng một kỷ vật riêng của mình: Chiếc lược làm bằng đồi mồi cất trong một túi vải.

Ngày 5-1-1960, tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (thời đó xác định là ngày 6-1-1930), Bác đã đọc lời khai mạc và kết thúc bằng lời thơ: “Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho sử vàng”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 4 tháng 1 – Vũ khí để giải phóng nông dân

Chủ nhật, 04/01/2009, 01:16 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 89 năm trước, ngày 4-1-1920, Nguyễn Ái Quốc đi xem một cuộc triển lãm hàng không tại Paris cùng với một người tên là Jean. Nhưng Jean lại chính là một viên mật thám nên trong báo cáo gửi cấp trên, y cho biết: “Ông Quốc đã ở 6 năm tại Mỹ, 4 năm ở bên Anh, ông đã làm bất cứ nghề gì để sống và để học hỏi. Ông đã để ý đặc biệt vấn đề chính trị thuộc địa của người Anh và Mỹ, Tây Ban Nha cùng Italia. Ông nói và viết được tiếng Anh, đọc được tiếng Italia và Tây Ban Nha…”.

Ngày 4-1-1924, tờ “La Vie d’ Ouvrière” (Đời sống công nhân) ở Pháp đăng cùng lúc 2 bài báo của Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang ở Liên Xô, viết về “Tình cảnh của người nông dân An Nam” và “Tình cảnh của người nông dân Trung Quốc”.

Khi đề cập tới tình cảnh người nông dân trên Tổ quốc của mình, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “…Là người An Nam họ bị áp bức, là người nông dân họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản. Chính họ phải làm những công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói…”, “Dưới chiêu bài dân chủ, đế quốc Pháp đã đem vào An Nam tất cả cái chế độ trung cổ đáng nguyền rủa…”.

Còn tình cảnh của người nông dân Trung Quốc cũng chịu hậu quả bởi chế độ quân phiệt, ách bóc lột địa tô của chế độ cũ cộng với sự bóc lột của chế độ tư bản cũng như bộ máy quan liêu. Bài báo kết luận rằng: “Muốn xóa bỏ tất cả các điều đó, các đồng chí Trung Quốc của chúng ta phải tiến hành mạnh mẽ một cuộc vận động khẩn trương để giáo dục quần chúng, làm cho quần chúng thấy thật rõ sức mạnh của mình, quyền lợi của mình, có đủ khả năng thực hiện được khẩu hiệu: “Tất cả ruộng đất về tay nông dân!”.

Có thể nói rằng vấn đề nông dân và giải phóng người nông dân là mối quan tâm hàng đầu của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian học tập lý luận tại nước Nga Xô Viết cũng như trong thực tiễn vận động cách mạng sau này.

22 năm sau, ngày 4-1-1946, Bác Hồ viết thư yêu cầu và khích lệ các ứng cử viên ra mắt tiếp xúc với cử tri tại nơi công cộng và gặp một số nhân vật của Bộ Ngoại giao Chính phủ Trung Hoa Dân quốc tại Hà Nội nhằm tranh thủ sự ủng hộ nền độc lập của Việt Nam trong bối cảnh Pháp và Trung Hoa đang mặc cả với nhau về lợi ích ở Đông Dương.

20 năm tiếp sau, ngày 4-1-1966, Báo Nhân Dân đăng bài “Quân Mỹ chết nhăn răng, tướng Mỹ nhăn răng cười”. Bằng cách viết hài hước, căn cứ vào những số liệu và dẫn liệu rất cụ thể, Bác phân tích thế của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đang xuống vì “chúng thiếu một thứ vũ khí quan trọng nhất là: tinh thần”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy: Ngày 3 tháng 1

Thứ bảy, 03/01/2009, 01:26 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 3-1-1946 (cách đây 63 năm), Bác Hồ chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ bàn những công việc cấp bách và kết luận: “Chính phủ phải đối phó với hai sự khó khăn, trong Nam là họa xâm lăng, còn ở ngoài Bắc là nạn đói. Phải nhờ vào sự ủng hộ của quốc dân, công việc đã có kết quả khả quan”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “thông đạt” gửi tới các bộ trưởng liên quan đến quy trình bảo quản tài liệu lưu trữ. Đây là một văn kiện lịch sử của ngành lưu trữ nước ta, nó cho thấy tầm nhìn xa của người đứng đầu một quốc gia non trẻ chưa có kinh nghiệm hành chính. Bản thông đạt viết: “Xét rằng một vài công sở đã tự tiện hủy bỏ hay bán các công văn và hồ sơ cũ. Hành động ấy có tính cách phá hoại, vì sự làm mất những tài liệu có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia.

Vậy yêu cầu các ông bộ trưởng ban chỉ thị cho nhân viên các sở phải giữ gìn tất cả các công văn, tài liệu và cấm không được hủy những công văn, tài liệu nếu không có lệnh trên rõ rệt cho phép hủy bỏ… Những viên chức không tuân lệnh này sẽ bị nghiêm trị”.

Chỉ 1 năm sau đó, ngày 3-1-1947, Chính phủ của nước Việt Nam độc lập đã phải di chuyển lên Việt Bắc, Hà Nội chìm trong khói lửa chiến tranh. Vào thời điểm ấy, Marius Moutet là người Bác từng quen biết trong đảng Xã hội Pháp, lúc này là Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, đang có mặt tại Hà Nội. Hy vọng tranh thủ được ông Moutet, Bác Hồ viết một lá thư trong đó có đoạn:

“Tôi lấy làm vui mừng được biết ngài tới Hà Nội. Xin có lời chào mừng vì ngài vừa là bạn cũ, vừa là đại diện cho nước Pháp mới, là sứ giả của hòa bình. Tôi rất mong và rất sung sướng được hội kiến với ngài lâu một chút để tỏ rõ ý muốn thành thực hòa bình và cộng tác của chúng tôi và chuyển đệ với ngài những đề nghị của chúng tôi về việc lập lại sự giao hảo giữa 2 nước chúng ta”.

Bức thư đã không được hồi âm. Moutet đến Hà Nội giữa cảnh đổ nát và trong vòng vây của giới thực dân mà đầu sỏ là Đô đốc D’ Argenlieu. Ngày 8-1, Moutet về nước mà không tìm ra giải pháp nào.

41 năm sau (năm 1988), nhà sử học Pháp Philippe Devillers đã chứng minh rằng toàn bộ những thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian này đều bị D’ Argenlieu phong tỏa, kể cả một “gói hàng” mà ngày 3-1-1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho người chuyển tới phía Pháp để trao tận tay vị bộ trưởng cũng bị viên đô đốc chặn lại. Trong một bức thư gửi tướng De Gaulle, viên đô đốc diều hâu này hí hửng: “Nhờ ơn Chúa, Moutet đã không có một cuộc tiếp xúc cá nhân nào với nhóm ông Hồ Chí Minh. Đó là một điểm thắng lợi đầu tiên”.

Nhưng cái mà D’ Argenlieu cho là thắng lợi đầu tiên ấy thì cũng khởi đầu cho một thảm bại cuối cùng khi quân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ sau đó 7 năm!

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy: Ngày 2 tháng 1

Thứ sáu, 02/01/2009, 01:29 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh(Ngày này 63 năm trước) vào ngày 2-1-1946, báo “Cứu quốc” cơ quan của Tổng bộ Việt Minh đăng “Lời cảm ơn” của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hội của một số quan lại được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám 1945 nhằm động viên tầng lớp này ủng hộ chính sách của Chính phủ cách mạng. Bằng những lời lẽ chân tình, Bác viết:

“Tôi trân trọng cảm ơn quý hội đã quyên nhà, quyên tiền giúp cho Quỹ Cứu tế, Quỹ Kháng chiến và Quỹ Độc lập.

Có người nói rằng “ Hồ Chí Minh không biết làm gì, chỉ nay cảm ơn người này, mai cảm ơn người khác”. Vâng! Tôi vui lòng nhận lợi phê bình ấy! Hơn nữa, tôi mong rằng ngày nào tôi cũng phải viết nhiều thư cảm ơn, vì như thế chứng minh rằng đồng bào ta đã sốt sắng thực hành cái khẩu hiệu “Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức”. Quốc dân ta đã hiệp lực đồng tâm, đã đoàn kết chặt chẽ thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công…”.

Kết thúc bức thư người đứng đầu nhà nước chân thành bày tỏ “Tiếc vì bận quá, tôi không cảm ơn khắp được. Vậy tôi xin các đồng bào tha lỗi cho”.

Vào thời điểm đất nước mới thoát khỏi chế độ thuộc địa và phong kiến, ứng xử của vị nguyên thủ quốc gia thực sự gây ấn tượng mạnh mẽ đối với nhân dân đang chứng kiến những đổi thay của đất nước theo tinh thần dân chủ.

Ngày 2-1-1947 (ngày này 62 năm trước) nhân dịp Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, người đã ký kết Tạm ước 14-9-1946 sang Đông Dương, Bác Hồ đã đưa ra những thông điệp của mình qua một cuộc phỏng vấn báo chí, khẳng định: “Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp và dân Pháp vì ta muốn hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thật thà. Nhưng tự do độc lập là quyền Trời cho của mỗi dân tộc… Hễ mỗi dân tộc đứng lên kiên quyết đấu tranh cho tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ. Dân Việt Nam muốn hòa bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi”.

Trước đó một ngày, Bác đã gửi thư đến Chính phủ và nhân dân Pháp: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mang lại nền hòa bình và tình hữu ái giữa nước Pháp và nước Việt Nam”. Đó là những bằng chứng khẳng định trách nhiệm của chủ nghĩa thực dân đã đi ngược lại khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí Minh là hiện thân.

Tuy nhiên thực dân Pháp vẫn điên cuồng tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược. Trước tình hình ấy, ngày 2-1-1950 (cách đây 59 năm), Bác Hồ rời Tân Trào đi Trùng Khánh bắt đầu chuyến thăm Trung Quốc và Liên Xô nhằm tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế.

Cách mạng Cuba thành công ngày 1-1-1959, ta lập quan hệ ngoại giao với Cuba từ năm 1960. Kể từ đó, vào ngày 2-1 hàng năm cho đến trước khi qua đời, Bác thường đến Đại sứ quán Cuba để bày tỏ tình cảm đoàn kết của nhân dân Việt Nam.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy: Ngày 1 tháng 1

Thứ năm, 01/01/2009, 02:06 (GMT+7)

Ngày đầu năm 1941, ngày này 68 năm trước, Nguyễn Ái Quốc từ Tĩnh Tây (Trung Quốc) quay lại Cao Bằng để chuẩn bị tập hợp lực lượng và soạn thảo đường lối cứu nước. Tháng 5 năm đó, Tổ chức Mặt trận và Cương lĩnh Việt Minh ra đời. Phấn khởi trước tiền đồ dân tộc, ngày 1-1-1942, Nguyễn Ái Quốc làm bài thơ “Chúc năm mới” đầu tiên đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” với những lời cổ vũ đầy hào khí:

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

“Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi / Năm cũ qua rồi, chúc năm mới / Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong / Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi / Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !/Chúc Việt Minh càng tấn tới! / Chúc toàn quốc ta trong năm này / Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!/ Năm nay là năm rất vẻ vang/ Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Kể từ năm ấy, hàng năm vào ngày đầu tiên của Dương lịch hay ngày Tết Âm lịch, Bác Hồ đều có lời chúc Tết. Với vị Chủ tịch nước, thơ chúc Tết chỉ là một tình cảm khiêm nhường “Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. 

Từ mùa xuân năm Kỷ Tỵ (1942) đến năm Kỷ Dậu (1969), chỉ trừ 3 năm 1955, 1957 và 1958, còn năm nào vị Chủ tịch nước cũng có lời chúc Tết ngay cả khi không có mặt ở trong nước như Tết Dương lịch 1952 Bác đang thăm Nam Ninh (Trung Quốc).

Ngày này 40 năm trước, vào mùa xuân thứ 79 của Bác, thư chúc mừng năm mới xuân Kỷ Dậu đã trở thành lời chúc lần cuối nhưng vẫn hừng hực khí thế cổ vũ con đường đi đến toàn thắng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to / Vì độc lập, vì tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào / Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào / Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Có 2 ngày đầu năm Dương lịch để lại dấu ấn trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh như 2 sự kiện lịch sử trọng đại. Đó là ngày Tết Dương lịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, 1-1-1946 (ngày này 63 năm trước), Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Chính phủ Liên hiệp lâm thời bao gồm nhiều nhân sĩ thuộc nhiều đảng phái, khuynh hướng chính trị biểu thị khối đại đoàn kết dân tộc, đã ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội và làm lễ tuyên thệ trước quốc dân đồng bào.

Đó cũng là ngày đầu năm của năm 1954 (cách đây 55 năm), Bộ Chính trị họp để chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược ở vùng Tây Bắc, chỉ định cơ quan lãnh đạo mặt trận. Chính tại cuộc họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Chỉ không đầy nửa năm sau, ngày 7-5-1954, chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành sự kiện quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

DƯƠNG TRUNG QUỐC và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy

Nhân kỷ niệm 123 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu của chúng ta! Vkyno truy cập và đăng tải lại loạt bài từ chuyên mục HỒ CHÍ MINH – NGÀY NÀY NĂM ẤY trên trang SÀI GÒN GIẢI PHÓNG nhằm truyền tải chân thực về hoạt động của Người qua các ngày trong năm.

123th Anniversary of Uncle Ho

LỜI TÒA SOẠN

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy

Thứ tư, 31/12/2008, 11:00 (GMT+7)

(SGGP).- Năm 2009 là năm chúng ta tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân tròn 40 năm ngày Bác Hồ ra đi (1969 – 2009). Sang năm, năm 2010, cùng với đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả nước sẽ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (1890 – 2010). Giữa 2 cái mốc thời gian của lịch sử ấy (1890 – 1969) là 79 mùa xuân, một cuộc đời của một con người sinh ra và sống giữa một bước ngoặt lịch sử to lớn trong bước chuyển tiếp của thời gian giữa 2 thế kỷ (XIX-XX) và 2 thiên niên kỷ.

Hồ Chí Minh với 79 mùa xuân của cuộc đời mình đã để lại một dấu ấn đậm nét không chỉ trong lịch sử dân tộc Việt Nam mà đối với cả lịch sử thế giới. Kế tiếp tên tuổi của những nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám… ở đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã trở thành hạt nhân và động lực lịch sử của dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập từ chủ nghĩa thực dân và phát xít mà còn chấm dứt chế độ quân chủ ngàn năm vào mùa thu năm 1945; đã lần lượt “đánh thắng hai đế quốc to” bằng một cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài 3 thập kỷ (1945 – 1975) để khẳng định nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam tiếp bước vào công cuộc đổi mới, xây dựng và hội nhập hôm nay.

Là một nhà hoạt động quốc tế và thông qua chính sự nghiệp của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử thế giới như sự bình chọn của tờ tạp chí có uy tín là “Time” (Thời đại) vào năm 2000: là 1 trong 25 chính khách và 1 trong 100 nhân vật của thế kỷ XX “đã làm thay đổi bộ mặt hành tinh của chúng ta”.

79 mùa xuân ấy sẽ được phản ánh phần nào trong một sự liên tưởng theo bước đi của thời gian thể hiện trên những tờ lịch của mỗi ngày trong năm. “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngày này năm ấy” là một cách tiếp cận để mỗi một ngày trong năm chúng ta nhớ đến hình bóng, nhắc lại hành trang cũng là ôn lại lịch sử cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những bài học sâu sắc và có giá trị lâu dài…

Chuyên mục do nhóm cộng tác viên của Báo Sài Gòn Giải Phóng gồm các nhà sử học thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và các cộng sự biên soạn sẽ ra đều đặn vào mỗi ngày như một lời nhắc nhở  hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Mong bạn đọc theo dõi và đóng góp ý kiến cho chuyên mục ngày một tốt hơn.

SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
Vkyno (st)

“Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”

Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
Vkyno (st)

“Vực thẳm thuộc địa”

“Vực thẳm thuộc địa” là tên của một bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên tờ “L’ Humanité” số ra ngày 9/1/1923

– “Vực thẳm thuộc địa” là tên của một bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên tờ “L’ Humanité” số ra ngày 9/1/1923.  Tờ báo là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp và tác giả của bài báo nói trên chính là một trong những người tham gia sáng lập tổ chức chính trị này.

Bài báo tố cáo giới thực dân và trực tiếp là Bộ trưởng Thuộc địa Albert Saraut, người đã từng làm Toàn quyền Đông Dương nhiều năm, một mặt khai thác thuộc địa và bóc lột dân bản xứ một cách thậm tệ để làm giàu không phải chỉ cho nước Pháp mà cho chính bọn chúng.

Trong khi đó, chúng lại yêu cầu chính quốc phải đầu tư nhiều tỷ đồng cho các thuộc địa. Như vậy thực chất là chúng bòn rút chính nhân dân Pháp để phục vụ vào những việc làm lãng phí, xa xỉ, nuôi bộ máy quan liêu và ăn bám.

Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc điạ Bordeaux 1937Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc địa Bordeaux 1937

Tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng với những con số thuyết phục trong đó có cuộc Triển lãm Thuộc địa vô cùng tốn kém đang diễn ra ở nước Pháp. Bài báo kết luận: “Đó là số tiền hàng triệu và thậm chí hàng tỷ mà nếu người ta biết cách tìm thì có lẽ người ta sẽ kiếm ra được một cách dễ dàng. Nhưng ngài Bộ trưởng lại cứ muốn gõ vào dân bản xứ”.

Đây là bài báo khai bút cho năm 1923 là năm cuối cùng Nguyễn Ái Quốc ở Pháp. Tháng 6 năm đó với tư cách là đảng viên thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang Liên Xô học tập. Nhưng ngay thời gian đã sống ở nước Nga, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên xuất hiện trên các ờ báo cánh tả xuất bản ở Pháp, tổng cộng trong năm 1923 đã có trên dưới 30 bài báo được đăng.

Đây cũng chính là những chất liệu để sau này, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tác phẩm “Bản án chế độ thực ân Pháp” (Le Procès de la coloníation Francaise) nổi tiếng (xuất bản ở Pháp vào năm 1925, và được tái bản tại Việt Nam 1946).

X&N
Vkyno (st)

“Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân”

Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

– Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Sáng ngày hôm đó báo chí nhất loạt đăng “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình. Ngày mai, dân ta sẽ bảo cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng : … một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn. Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân, kiên quyết tranh quyền độc lập…”

[links(left)]Chiều hôm đó, tiếp xúc với 2 vạn cử tri Hà Nội tập hợp tại sân vận động Việt Nam học xá (nay là khu vực Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, vị Chủ tịch nước đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt ở chùa Quán Sứ nơi phật tử đang tổ chức cầu nguyện cho nước Việt Nam độc lập.

Tại đó, Bác trịnh trọng tuyên bố: “Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, mhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Sau bữa cơm chay, Bác còn tranh thủ về thăm làng Bưởi nơi có nghề giấy nổi tiếng và thăm địa điểm bầu cử tại khu vực này, dặn dò mọi người tổ chức bầu cử tốt và khích lệ nhân dân gìn giữ nghề làm giấy truyền thống để phục vụ đất nước.

X&N
Vkyno (st)

“Chúng ta muốn hoà bình !”

Ngày 3/1/1947, từ chiến khu, Bác viết thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, đề nghị tìm kiếm hòa bình. Bức thư đã bị phía Pháp ỉm đi.

– Ngày 3/1/1947, Bác đã viết thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, đề nghị  một cuộc gặp mặt. Bức thư đã bị phía Pháp ỉm đi. Đô đốc D’ Argenlieu bình luận đó là thắng lợi đầu tiên…

Từ ngày 19/12/1946, cuộc Kháng chiến Toàn quốc đã bùng nổ. Đọc lại Lời kêu gọi của Bác viết ngay trong đêm hôm đó và được công bố trên  Đài Tiếng nói Việt Nam  và rạng sáng ngày hôm sau, ta thấy câu mở đầu của một lời kêu gọi kháng chiến lại là một khát vọng “Chúng ta muốn hoà bình !…”.

M.Moutet ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris 6/1946.  M.Moutet ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris 6/1946.

Có thể nói trong hơn một năm từ khi thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn ngay trong Ngày Lễ  Độc lập 2/9/1945, Bác Hồ đã làm tất cả những gì có thể làm. Kể cả sang tận nước Pháp, ở lại đó 4 tháng để vận động cho cuộc chiến tranh không bùng nổ mà nỗ lực cuối cùng là ký được với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, một người bạn cũ hội tham gia Đảng Xã hội bản Tạm ước 14/9/1946 ( vào đêm hôm trước ngày Bác rời Paris trở về nước).

Tiếp đó là biết bao nỗ lực để chặn tay những kẻ hiếu chiến trong giới thực dân mà tiêu biểu là Đô độc D’ Argenlieu…

Nhưng cho đến khi quân Pháp ra tối hậu thư đòi các lực lượng quân đội quốc gia của nước Việt Nam độc lập phải nộp vũ khí thì “chúng ta buộc phải cầm vũ khí vi “chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Nhưng ngay trong lúc cầm vũ khí chiến đấu, người lãnh đạo cuộc kháng chiến cũng không bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào để vãn hồi hoà bình…

Ngày 3/1/1947, được tin ông M.Moutet đến Hà Nội lúc này đã bị quân Pháp chiếm đóng, từ chiến khu của cuộc kháng chiến, Bác viết thư cho Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại: “Tôi lấy làm vui mừng được biết ngài tới Hà Nội. Xin có lời chào mừng vì ngài vừa là bạn cũ, vừa là đại diện cho nước Pháp mới, là sứ giả của hoà bình. Tôi rất  mong và rất sung sướng được hội kiến với ngài lâu một chút để tỏ rõ ý muốn thành thực hoà bình và cộng tác của chúng tôi và chuyển đệ với  ngài những đề nghị của chúng tôi về việc lập lại sự giao hảo giữa 2 nước chúng ta”.

Bức thư này đã bị phía Pháp ỉm đi .

Sau này, Đô đốc D’ Argenlieu là kẻ chủ mưu gây ra cuộc chiến tranh Pháp – Việt đã bình luận trong thư gửi tướng De Gaulle :”Nhờ ơn Chúa, Moutet đã không có một cuộc tiếp xúc cá nhân nào với nhóm ông Hồ Chí Minh. Đó là một điểm thắng lợi đầu tiên”.

Nhưng cái “thắng lợi đầu tiên” ấy chính là sự khởi đầu cho một thảm bại cuối cùng khi quân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ sau đó 7 năm!

X&N
Vkyno (st)

“Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt chiến tranh”

Bác Hồ đã đưa ra thông điệp: “Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp và dân Pháp… Nhưng tự do độc lập là quyền Trời cho của mỗi dân tộc…

– Tin vào dân, dựa vào dân và được nhân dân ủng hộ, ngày 2/1/1946, Bác Hồ đã viết lời cảm ơn những người giàu đóng góp cho các quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến, quỹ Độc lập.

Chân dung Hồ Chủ tịch năm 1946

Chân dung Hồ Chủ tịch năm 1946

Tháng 8/1945, cách mạng thành công, nước nhà độc lập nhưng tài chính thì kiệt quệ. Chế độ Dân chủ Cộng hoà được thành lập cần có nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ lịch sử của mình.

Tin vào dân và dựa vào dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hô hào các tầng lớp nhân dân đóng góp. Quỹ Độc lập rồi quỹ Kháng chiến, quỹ Cứu tế ra đời, rồi Tuần lễ Vàng được tổ chức… Nền tài chính quốc gia được nhen nhúm từng bước vượt qua những khó khăn.

Nhân năm mới, ngày 2/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời cảm ơn những người giàu đóng góp cho các quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến và quỹ Độc lập với những lời chân tình:

“Có người nói rằng “Hồ Chí Minh không biết làm gì, chỉ nay cảm ơn người này, mai cảm ơn người khác”.

Vâng! Tôi vui lòng nhận lời phê bình ấy! Hơn nữa, tôi mong rằng ngày nào tôi cũng phải viết nhiều thư cảm ơn , vì như thế chứng minh rằng đồng bào ta đã sốt sắng thực hành cái khẩu hiệu “Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức”. Quốc dân ta đã hiệp lực đồng tâm, đã đoàn kết chặt chẽ thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công…”

X.N
Vkyno (st)

Lai-nơ-bếch-cơ II qua nhật ký, hồi ký của giới chóp bu Nhà Trắng

QĐND-Ních-xơn (Nixon) quyết định ném bom dịp Lễ Giáng sinh bất chấp phản ứng của một số nhân vật chủ chốt khác. Lý do là Ních-xơn sợ rằng, khi nhóm họp trở lại vào tháng 1 năm 1973, Quốc hội mới của Mỹ sẽ ra các đạo luật đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam (to legislate the United State out of the war)(*), không đoái hoài đến các lợi ích gây chiến của chính quyền Ních-xơn và chế độ Thiệu.

Dưới đây là một ghi chép từng ngày các sự kiện ở Nhà Trắng thời kỳ Lai-nơ-bếch-cơ II dựa trên nhật ký, hồi ký… của các nhân vật chóp bu trong chính quyền Mỹ.

13-12-1972

Bộ trưởng Quốc phòng Men-vin Le-đơ (Melvin Laird) gửi một công hàm cho Ních-xơn phản đối sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết bế tắc trên bàn đàm phán. Le-đơ cho hay, ông ta được Đại sứ Rát-sơ (Rush) và Mua-rơ (Moorer) (Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân) ủng hộ. Điều này hẳn đã dẫn đến sự thiếu tin tưởng của Ních-xơn đối với chóp bu quân sự Mỹ trong tiến trình Lai-nơ-bếch-cơ II.

14-12

Hồi ký Ních-xơn, NXB Grát-xét en Đan-láp (Grosset and Dunlap), năm 1978, trang 734: “Ngày 14-12, tôi phát lệnh, có hiệu lực trong ba ngày, về rải mìn trở lại cảng Hải Phòng, tái phát động các chuyến bay do thám bằng đường không, và chuẩn bị các phi vụ B-52 không kích khu vực Hà Nội – Hải Phòng”.

Tổng thống Ních-xơn (đứng) và cố vấn an ninh Kít-xinh-giơ (bên phải) trong ngày 14-12-1972. Ảnh: Lưu trữ Nhà nước Hoa Kỳ.

Theo Hồi ký Kít-xinh-giơ (Kissinger) “Những năm ở Nhà Trắng, NXB Lít-tơn, Brao-nơ và Com-pa-ni (Little, Brown and Company), năm 1979, trang 1448, Ních-xơn, Kít-xinh-giơ và Hai-gơ (Haig) (phó cho Kít-xinh-giơ) họp trong phòng Bầu dục. Kít-xinh-giơ chủ trương dùng máy bay tiêm kích đánh bom các vùng đông dân cư, nhưng Hai-gơ chủ trương dùng B-52 trong một “cú sốc ồ ạt”, và được Ních-xơn đồng thuận.

16-12

Theo hai chỉ thị chi tiết của Ních-xơn, Kít-xinh-giơ họp báo, cáo buộc phía Việt Nam làm đình đốn đàm phán để mở đường cho cuộc tập kích bằng B-52 đánh vào Hà Nội – Hải Phòng và nhiều vùng dân cư ở miền Bắc (Hồi ký Kít-xinh-giơ trang 1450).

17-12

Ních-xơn viết trong Hồi ký (trang 735): “Vào sáng sớm ngày Chủ nhật, 17-12, máy bay Mỹ tiếp tục rải mìn tại cảng Hải Phòng. Trong vòng 24 giờ tới, 129 chiếc B-52 tham gia không kích miền Bắc

Việt Nam”.

18-12

Nhật ký Ních-xơn: “Quyết định chơi rắn (tough) đã được đưa ra, và đang được thực hiện… Tôi vừa nghe tin 1 chiếc B-52 bị bắn rơi. Henry (Kít-xinh-giơ) nói Lầu Năm Góc đang chờ tin có tới 3 chiếc bị bắn rụng. Dĩ nhiên, sẽ còn phải tiến hành hai, hoặc ba đợt đánh phá nữa, nhưng Lầu Năm Góc đang trông đợi trong đợt thứ hai, hoặc thứ ba, toàn bộ sức mạnh đề kháng của SAM sẽ bị đánh gục, hoặc chí ít bị chế áp. Ít nhất, chúng ta chỉ có thể cầu nguyện là mọi sự sẽ an bài như thế, và hy vọng rằng mọi thứ sẽ xảy ra như thế”.

Trong hồi ký, Ních-xơn chú thích ở dưới đoạn trích nhật ký trên (trang 735), “trong ngày hôm đó, thêm 2 chiếc B-52 nữa bị bắn rơi”.

Nghiền ngẫm về tổn thất, Ních-xơn viết tiếp trong Nhật ký: “… Trong mọi trường hợp, đã ra quyết định rồi thì không thể quay ngược lại. Kít-xinh-giơ thì tinh thần lúc lên, lúc xuống, điều này dễ hiểu thôi. Chẳng hạn sáng nay, tinh thần của ông ta xuống hơn là lên. Tôi vừa gọi điện cho Mua-rơ (Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ-ND) để chắc chắn rằng đã củng cố được tư tưởng cho ông ta là nhất thiết phải theo đuổi đòn không kích đến cùng. Tôi e chúng tôi đã gây sức ép quá mạnh lên Mua-rơ, nhưng tôi ngờ rằng vì Không quân và Hải quân Mỹ đã quá thận trọng nhiều lần trong quá khứ nên các mục tiêu chính trị của chúng ta đã không đạt được. Chúng ta phải biết chịu tổn thất nếu muốn hoàn thành các mục tiêu”.

19-12

Hồi ký Ních-xơn (trang 734): “Tôi nghĩ mình đã gây sốc cho Đô đốc (Mua-rơ) khi tôi chỉ thị cho ông ta: “… Đây (cuộc tập kích chiến lược đường không) là dịp để các ngài sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả để đánh thắng cuộc chiến tranh này. Còn nếu không, tôi coi như các ngài phải chịu trách nhiệm”.

Thời báo Niu Y-oóc (NY) đưa tin, khi Men-vin Le-đơ thông báo với báo giới về việc bàn giao chức trách Bộ trưởng Quốc phòng cho En-li-ốt Ri-sác-xơn (Elliot Richardson), phóng viên NY hỏi ông ta về vụ việc ném bom ồ ạt Hà Nội, Hải Phòng… “sau khi tìm cách tránh câu hỏi”, NY viết, Le-đơ cho hay: “Lúc này, chiến dịch không kích toàn miền Bắc đang diễn ra”. Le-đơ từ chối không bình luận thêm vụ việc này, nói là tránh gây nguy hại cho tính mạng những người lái Mỹ.

20-12

Ních-xơn viết trong Hồi ký (trang 737): “20-12 là ngày thứ ba của cuộc không kích Bắc Việt Nam. 90 chiếc B-52 tham gia ba đợt đánh phá 11 mục tiêu, sáu chiếc B-52 bị bắn rơi”.

Chánh văn phòng Nhà Trắng Haldeman viết trong Nhật ký: “P (Tổng thống Ních-xơn) lại quay lại với thiệt hại về B-52, và tỏ ra thực sự phiền muộn, cứ hỏi xem liệu còn cách gì xoay xở. K (Kít-xinh-giơ) đáp, chả còn cách gì. Rằng đây là cuộc không kích quy mô lớn cuối cùng. K lại tiếp tục rủa bọn Thiệu là “chó đẻ” (SOB), là lũ tâm thần bệnh hoạn (maniac). Cả hai đều nhất trí rằng, chúng ta không được để lộ là Hai-gơ (được Ních-xơn cử sang Sài Gòn cùng kỳ để “thuyết khách” Thiệu) đã bị Thiệu cự tuyệt. Chúng ta cần tiếp tục ném bom miền Bắc, nhưng ở quy mô kém ồ ạt hơn. Chúng ta cần giảm bớt đòn không kích vào Hà Nội, để tránh những tổn thất quá lớn”.

21-12

Ních-xơn viết trong Hồi ký (trang 737): “21-12 có 30 lượt B-52 xuất kích đánh ba mục tiêu mới, hai chiếc B-52 bị bắn rơi”.

22-12

Hồi ký Ních-xơn, trang 737: “Trong tuần đầu của chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, mối lo âu của tôi không phải là những phê phán quyết liệt trong và ngoài nước Mỹ, mà là tổn thất vô cùng nặng nề của B-52”.

23-12

Ních-xơn viết Nhật ký: “Tôi đã phát khùng về chuyện các phi đội B-52 cứ bay mãi trên những mục tiêu ấy vào đúng những giờ ấy. Chính vì thế, tôi không ngạc nhiên, cho dù thất vọng một cách sâu sắc, khi chúng ta mất 5 chiếc B-52 vào ngày thứ hai, hoặc thứ ba …”.

24-12

Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn đăng tải tin về vụ ném bom rải thảm Bệnh viện Bạch Mai.

Ních-xơn đã không thể tiếp tục xem thường “những phê phán quyết liệt” của công luận Mỹ và thế giới. Theo Hồi ký Ních-xơn (trang 738), bài xã luận trên Bưu điện Oa-sinh-tơn cho rằng, Lai-nơ-bếch-cơ II đã làm “hàng triệu người Mỹ phải rúm người lại vì xấu hổ, và vì phải nghi ngờ sự sáng suốt của tổng thống Mỹ”; biên tập viên chính của Thời báo Niu Y-oóc A.Lơ-uýt (A. Lewis) cho rằng “tôi (Ních-xơn), hành động như một tên bạo chúa điên” – Ních-xơn viết trong hồi ký.

25-12

Hồi ký của Kít-xinh-giơ cũng dành tới gần 5 trang (từ 1451 đến 1456) để mô tả phản ứng trong nước và quốc tế, trên truyền thông và cả trên chính trường về vụ ném bom dịp Lễ Giáng sinh.

Thay cho những lời chúc nhân dịp Giáng sinh, Kít-xinh-giơ nhận được những bức thư cay đắng đến kinh ngạc của những người bạn cũ, và của “những công dân thịnh nộ”, “những lời buộc tội vô đạo đức, lừa đảo”, “dã man”, là những gì Kít-xinh-giơ phải nghe nhiều vô kể trong dịp này (Hồi ký Kít-xinh-giơ, trang 1453).

Nhưng Ních-xơn vẫn trơ trẽn tiếp tục bài “đạo đức giả”, ông ta viết: “chúng ta được hưởng hòa bình trong một ngày” (Hồi ký Ních-xơn, trang 740).

26-12

Dù một số thành viên của Nhà Trắng đề nghị kéo dài ngừng bắn nhân dịp Giáng sinh, nhưng Ních-xơn dấn tới, ra lệnh tiến hành cuộc không kích lớn nhất từ trước đến nay: 116 lượt chiếc B-52 bắn phá vùng Hà Nội, Hải Phòng (Hồi ký Ních-xơn, trang 741).

Nhà Trắng và Lầu Năm Góc hay tin Đại úy Mai-cơn Hếch (Michael Heck), 30 tuổi, lái trưởng của một kíp bay B-52 đã chống lại lệnh điều đi ném bom miền Bắc Việt Nam. Trước đó, ngày 18-12-1972, Đại úy Đoai-tơ I-van-xơ (Dwight Evans), 26 tuổi, lái F4, thuộc phi đội chiến thuật số 34 đóng tại Thái Lan, cũng bị đưa ra tòa án binh do chống lệnh trên, không tham gia chiến dịch ném bom ồ ạt Hà Nội, Hải Phòng. Một số phi công khác bị buộc giải ngũ vì phản chiến. 9 chuyến bay B-52 bị đình chỉ đêm 26 rạng ngày 27-12, theo báo cáo là do “trục trặc kỹ thuật”…

28-12

Sau khi Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn thông báo danh sách các mục tiêu tại miền Bắc bị Mỹ không kích, người phát ngôn Lầu Năm Góc Gie-ri Phrít-hem (Jerry Friedheim) vẫn tiếp tục tỏ ra vụng về, khi trả lời báo chí về các thiệt hại dân sự mà cuộc ném bom gây ra, rằng Lầu Năm Góc không thể loại trừ những “hủy hoại mà dân thường phải gánh chịu”. (Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn, 28-12).

29-12

7 giờ sáng giờ Oa-sinh-tơn, phía Mỹ thông báo đình chỉ ném bom miền Bắc kể từ Bắc vĩ tuyến 20 (Hồi ký Ních-xơn, trang 741).

30-12

Phía Mỹ tuyên bố hội đàm Pa-ri sẽ được nhóm họp trở lại, và Kít-xinh-giơ sẽ lên đường sang Pa-ri gặp Lê Đức Thọ vào ngày 8-1-1973 (Hồi ký Ních-xơn, trang 741).

———

(*) Gió ngang: Triển khai lực lượng không quân Mỹ ở Việt Nam (Crosswind: The Air Force’s setup in Vietnam, của E. Tilford NXB Texas A & M University Press, 1993, tr. 161).

LÊ ĐỖ HUY (Tổng hợp)
qdnd.vn