Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Người tài xế 20 năm lái xe cho Bác Hồ và Bác Tôn

(Dân trí) – Dáng người quắc thước, cao to, năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng giọng nói vẫn trầm ấm, truyền cảm, ông là Nguyễn Văn Mùi, người có gần 10 năm lái xe cho Bác Hồ và 11 năm lái xe cho Bác Tôn.

 Ông Nguyễn Văn Mùi tại tư giaÔng Nguyễn Văn Mùi tại tư gia

Nhiệm vụ cao cả

Ông Nguyễn Văn Mùi quê gốc ở xã Xuân Hùng, huyện Xuân Trường (Nam Định), hiện sống trong khu tập thể văn phòng Chính phủ ngõ 4 phố Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội. Đón khách bằng cái bắt tay đầm ấm, khi được hỏi về nghiệp lái xe cho đời Chủ tịch nước, ông như được sống lại một thời hào hùng mà thiêng liêng, khi có tới hơn 20 năm cầm vô lăng, giữ an toàn cho mọi chuyến đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

“Là con út trong gia đình có 7 anh em nhưng cũng như bao lớp thanh niên khác, tuổi 17 tôi đã tham gia du kích, cùng toàn dân đứng lên chống Pháp. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, thực dân Pháp trắng trợn quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa. Quê tôi cũng bị giặc Pháp đàn áp, bóc lột. Lúc này, Đảng và Bác Hồ quyết tâm không chịu làm kiếp nô lệ nên phát động toàn dân kháng chiến, trường kỳ kháng chiến.

Năm 1949, cũng như các anh chị em trong làng, tôi tình nguyện tham gia vào đội quân du kích địa phương đoàn kết đánh giặc. Rồi hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến, không để Pháp bóc lột, đầu năm 1950, tôi lên chiến khu Việt Bắc tham gia hoạt động cách mạng. Ban đầu làm ở xưởng đúc tiền cho Chính phủ rồi mon men học hỏi dần tôi trở thành người lái xe. Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ rời ATK về tiếp quản Thủ đô, tôi nằm trong đội hình lái xe về Hà Nội năm ấy. Rồi cuối năm 1961, tôi vinh dự được lái xe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh”, ông Mùi kể lại.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đám phán Hiệp định Giơ-ne-ver, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Đồng chí Vũ Hoàng, lãnh đạo Ban kiểm tra 12 đã “nhắm” cậu thanh niên quê gốc Nam Định lái xe trong đội hình tháp tùng Bác Hồ và Chính phủ về tiếp quản Hà Nội.

Chuyến đi năm ấy, đoàn xe có 4 chiếc Gat 69, và 3 xe Gat 51 (Bác Hồ đi trong nhóm xe Gat 69) về Thủ đô Hà Nội. Khoảng hơn 9 giờ sáng ngày 19/9/1954, đoàn đi qua tỉnh Phú Thọ, đến đường rẽ vào Đền Hùng, Bác yêu cầu dừng nghỉ, tập hợp bộ đội lại nói chuyện. Và tại đây, Bác đã có câu nói nổi tiếng: “Các vua Hùng đã có công dựng nước/Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Năng động, chắc chắn, linh hoạt đến từng việc làm nên năm 1961, ông Nguyễn Văn Mùi trở thành người lái xe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vinh dự được gần gũi người Cha già dân tộc!

Đến bây giờ, khi đã lui về nghỉ ngơi, nhắc lại quãng thời gian được lái xe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Mùi vẫn thấy rất bồi hồi. Gần 10 năm trời được gần gũi bên Bác, ông Mùi có biết bao nhiêu kỷ niệm không thể nào quên.

“Ngày đó, tôi được giao phụ trách lái chiếc xe Gat do Liên Xô cũ sản xuất để chở Bác Hồ đi công vụ. Sau này, nước bạn Liên Xô có tặng Người một chiếc xe Zít-nanh-đơ, xe này sản xuất cho các nguyên thủ thời ấy nên rất sang, xe có cả kính chắn đạn. Tuy nhiên, Bác không thường xuyên đi xe này bởi vì xe sang quá đi công vụ sợ nhiều người để ý, không gây được sự thân thiện với đông đảo đồng bào cũng như quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy, tuy văn phòng Chính phủ có ý định đổi xe cho Bác nhưng Người một mực từ chối, sau này Người chuyển sang đi xe Pô-pê-đa” – ông Nguyễn Văn Mùi kể.

Ông Mùi bảo, trong suốt 10 năm ấy, mỗi ngày ông đều không thể kể hết những việc làm, những hành động, cử chỉ giản dị, cẩn thận và liêm khiết của Người. Lúc đi công tác, gặp các cụ già, em nhỏ, người kém may mắn, Bác Hồ đều dành những tình cảm nâng niu đặc biệt. Rồi chuyện Người lo cái ăn, chỗ ngủ cho những chiến sĩ đang ngày đêm chịu rét, chịu đói… Cho đến khi Bác Hồ đi vào cõi vĩnh hằng (năm 1969), ông Nguyễn Văn Mùi còn là người vinh dự được cử đứng túc trực bên linh cữu của Người.

Những người bảo vệ Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh TriếtNhững người bảo vệ Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Tháng 10/1969, sau khi Bác Hồ mất, Văn phòng Chính phủ tiếp tục tín nhiệm ông Nguyễn Văn Mùi lái xe cho Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. “Thấy tôi đã gần 10 năm lái xe cho Bác Hồ mà không để xảy ra sai sót nào, Văn phòng Chính phủ tiếp tục tín nhiệm tôi lái xe cho Bác Tôn thêm 11 năm nữa. Cũng như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, đức tính giản dị của Bác Tôn đã để lại trong tôi những tình cảm đẹp đẽ, thân ái” – ông Mùi tâm sự.

Phục vụ Bác Tôn, ông Nguyễn Văn Mùi có nhiệm vụ quản lý 2 chiếc xe, một chiếc Volga và chiếc Commăngca. Trong trường hợp phải đi tiếp khách nước ngoài, Bác Tôn mới sử dụng chiếc Volga cho lịch sự, còn phần lớn đi lại làm việc trong nước, Bác sử dụng chiếc Commăngca cho bình dân, gần gũi với quần chúng lao động. Sau ngày Chủ tịch Tôn Đức Thắng mất, ông Nguyễn Văn Mùi còn lái xe cho các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng như bác Nguyễn Lương Bằng, Võ Chí Công, Đỗ Mười… trong suốt thời gian dài cho đến khi về nghỉ hưu.

Nguyễn Duy – Ngọc Thái
dantri.com.vn

Chuyện giờ mới kể về Bác Hồ

Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

» Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Bác Hồ
» Tổng Bí thư dâng hoa tưởng niệm Bác Hồ tại London
» Điện Biên Phủ trên không: Dự báo chính xác của Bác Hồ
» Gặp người phi công 9 năm chở Bác Hồ
» Khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh ở Argentina

Ông là Lê Minh Thưởng (SN 1940), ở xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Với ông, 10 năm được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ là quãng thời gian hạnh phúc và thấy mình sống có ích nhất. Ông nói mình đã học được rất nhiều điều hay tốt đẹp từ vị cha già của dân tộc. Ông vẫn luôn tự hào khi kể cho con cháu nghe về công việc một thời gắn bó.

Hạnh phúc cả đời vì được bảo vệ Bác

Ấn tượng đầu tiên khi gặp ông là sự nhanh nhẹn, giọng nói to rõ ràng, phong thái khỏe khoắn, dù đã vào tuổi “xưa nay hiếm”.

Chuyện giờ mới kể về Bác HồÔng Lê Minh Thưởng, người có quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thời kháng chiến chống Pháp, học xong cấp 2, năm 1958, chàng thanh niên Lê Minh Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Năm 1959 ông được tuyển vào đội công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Tháng 4/1959 ông được triệu tập về học ở trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Khi được hỏi về thời gian tham gia bảo vệ Bác Hồ, ông Thưởng xua tay bảo: “Công lao gì đâu, tôi là người may mắn và hạnh phúc khi được Đảng và Nhà nước giao cho nhiệm vụ đó. Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước. Được làm công việc đó là hạnh phúc cả đời đối với tôi mà không có gì so sánh được”.

Vừa nói ông vừa dẫn chúng tôi vào gian phòng lưu niệm để giới thiệu về những kỷ vật vô giá mà ông còn cất giữ được. Trên gian tường là tấm hình ông chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ.

Ông chỉ tay giới thiệu tên từng người trong bức hình, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, ông Thưởng bế một cháu bé trong lòng ngồi bên phải Bác Hồ, rồi lần lượt xung quanh là các ông Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Vũ Kỳ, Trần Quốc Hoàn…

Vừa giới thiệu ông Thưởng vừa lấy tấm khăn bông lau tấm hình và nói: “Với tôi tấm hình này là vô giá. Dù có nghèo đói nhưng giả sử có người trả mua cả chục cây vàng tôi cũng không bán đâu”. Rồi ông rưng rưng hai hàng nước mắt như đang được sống lại giây phút được ngồi cạnh Bác để chụp hình.

Chuyện giờ mới kể về Bác HồBức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ mà ông xem là kỷ vật vô giá.

Miền ký ức ùa về, ông Thưởng nhớ lại quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Năm 1960 ông được đưa về cục cảnh vệ, bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ 3. Đến tháng 9/1960 ông được điều về bảo vệ Bác Hồ, ban đầu mới chỉ bảo vệ vòng ngoài, dần dần mới được tiếp xúc với Bác nhiều hơn.

Ông nói: “Vào làm công việc ở đây không dễ, phải cần cù khiêm tốn, chịu khó và kỷ luật tốt. Bác đã từng nói với tôi rằng biết thì nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Im lặng có thể là giấu dốt hoặc tự cao tự đại”.

Quãng thời gian 10 năm bảo vệ Bác, ông Thưởng đã có hàng trăm nghìn kỷ niệm và câu chuyện về Bác. Ông nhớ lại, Tết năm 1964 đưa Bác đi chợ Đồng Xuân, Bác gọi ông Hoàng Quốc Thịnh, Bộ trưởng Bộ nội thương đến báo cáo tình hình chuẩn bị nhân dân ăn tết và tình hình kinh tế-lương thực-thực phẩm của cả nước. Sau đó Bác gọi ông Trần Duy Hưng lúc đó là Chủ tịch UBND TP Hà Nội và hỏi “Các chú chuẩn bị ăn tết cho nhân dân thủ đô như thế nào?”.

Công việc xong xuôi, Bác nói mọi người cùng đi chợ Đồng Xuân sắm tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác, và một người nữa giống như Bác, phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm.

“Lại hàng thực phẩm tự do, Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói trầm ấm quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ, mà nếu biết Bác có mặt ở chợ thì khu chợ sẽ xôn xao lên mất. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh nhảy vào đứng che mặt Bác, đẩy Bác ra và vào hỏi lại bằng giọng Bắc. Thế là cô bán thịt không để ý nữa, thật là may”.

Chuyện giờ mới kể về Bác HồÔng Thưởng đang chỉ vị trí mình ngồi trong tấm hình chụp cùng Bác và các vị lãnh đạo Trung ương thời ông còn làm nhiệm vụ bảo vệ Bác.

Đặc biệt là lần về Thanh Hóa. Lúc đầu Bác ngồi xe có kính đàng hoàng, nhưng sau Bác lại sang xe CTAL 69 (không có kính) ngồi. Lúc đó dân có mặt rất đông, người dân ùa vào mong được gặp Bác. Các chiến sĩ cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệ Bác phải nỗ lực giải quyết mãi mới được.

Đến khi Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hóa, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm, mặc dù quần áo đang bụi bẩn nhưng vì muốn được tận mắt thấy Bác, được nắm tay Bác nên đã bỏ dụng cụ làm việc chạy ào về phía Bác.

Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi nơi ấy. Ông Thưởng còn vinh dự hàng chục lần được đi cùng Bác về các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An … công tác, rồi đi về các vùng nông thôn, cùng bà con tuốt lúa, cấy cày.

Học tập tấm gương của Bác suốt đời

Trong thời gian 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Sau khi Bác Hồ mất, ông Thưởng còn ở lại sửa sang mọi thứ ở phủ Chủ Tịch một năm. Sau đó ông được điều về công tác ở Cục Cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).

Chuyện giờ mới kể về Bác HồNiềm vui cuối đời của ông Thưởng là đọc báo…

Công tác tại đơn vị này, ông Thưởng đã cùng đồng đội lập rất nhiều chiến công hiển hách, phá nhiều vụ án lớn, bắt những tên cướp nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc như Phương trọc; Toọng (Trương Hiền), một tội phạm nổi tiếng ở thành Vinh nhiều lần qua mặt được các cơ quan công an; Nguyễn Đức Lợi, Đậu Kim Sơn, hai tên giang hồ khét tiếng; Sáu côi (tên thật là Thành), tên ăn cướp trên tàu hỏa; Công Minh (trú tại Nghi Phú), chuyên ăn cướp đường dài, hoạt động rộng khắp cả nước… .

Năm 1990, ông Thưởng về nghỉ hưu với hàm Trung tá. Suốt cuộc đời hoạt động ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất. Đặc biệt quý giá hơn cả là tấm Huy hiệu Bác Hồ ông được chính tay Bác tặng năm 1968.

Chuyện giờ mới kể về Bác Hồ… và chăm sóc cây cảnh trong vườn nhà.

Nhưng phần thưởng cao quý nhất đối với ông chính là những bài học mà ông học được ở Bác trong 10 năm được gần Bác. Ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác, ví như trong tiệc tùng Bác không bao giờ uống bia rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng ly nhưng không uống. Những lúc đi công tác làm việc ở đâu, Bác không bao giờ cho phép tổ chức tiệc tùng đình đám, tránh lãng phí tiền của nhân dân.

Ông tâm sự: “Người là lãnh tụ, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta. Dù có học suốt đời cũng không thể thấm nhuần hết đạo đức của người”. Chính vì vậy mà dù trong lúc đang công tác hay lúc đã về hưu ông luôn định hướng cho thế hệ trẻ phải luôn học tập và làm theo tấm gương của Bác.

Ngay ở trong gia đình mình, ông cũng luôn định hướng cho các con, cháu học tập những công việc của Bác từ nhỏ. Thời gian rảnh rỗi, ông Thưởng lại gọi con cháu tụ họp lại để kể những câu chuyện những việc làm bình dị của Bác để các con các cháu học tập.

Giờ đây, khi đã tuổi cao sức yếu nhưng ông Thưởng vẫn chăm chỉ làm việc. Thú vui tuổi già của ông là chăm sóc những cây cảnh, đọc báo xem tin tức hàng ngày. Nhìn vườn nhà ông, nhiều người không khỏi trầm trồ khen ngợi, dưới bàn tay của ông, cây cảnh đâm chồi nảy lộc mơn mởn. Đặc biệt là gia đình ông đang sở hữu 5 cây thị di sản được xem là đồ gia bảo của dòng họ.

Tính đến tết Quý Tỵ này, ông Lê Minh Thưởng đã bước qua 73 mùa xuân. Trong quãng thời gian đó, ông có quyền tự hào về mình vì đã cống hiến rất nhiều cho xã hội, đất nước.

Theo Infonet
vtc.vn

Hình ảnh Bác Hồ và các chính khách quốc tế

Hồ Chí Minh không chỉ khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập mà còn mở ra một khái niệm mới về tinh thần hữu nghị giữa Việt Nam và quốc tế.

Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cộng hòa Dân chủ Đức Wilhelm Pieck, 1957 (Ảnh Tư liệu của German Federal Archive)

Tổng thống Rajendra Prasad và Thủ tướng J.Nehru đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ, năm 1958, tại sân bay New Delhi. (Ảnh Tư liệu QĐND)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kim Nhật Thành đã đặt nền tảng cho quan hệ phát triển Việt Nam và CHDCND Triều Tiên. (Ảnh Tư liệu từ VOV)

Tổng thống Soekarno che dù cho Hồ Chủ tịch tại Bandung, nhân chuyến thăm Indonesia của Bác Hồ năm 1959. (Ảnh Tư liệu)

Bác Hồ gặp gỡ các đại biểu Châu Mỹ Latine. (Ảnh Tư liệu)

Ảnh tư liệu Hồ Chí Minh và Đặng Tiểu Bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông. (Ảnh TTXVN)

Bác Hồ được các nguyên thủ quốc gia Ấn Độ tiếp đón long trọng năm 1958. (Ảnh Tư liệu Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ)

Thủ tướng Pháp Georges Bidault đón tiếp trọng thể Bác Hồ hồi tháng 7/1946. (Ảnh Tư liệu từ tennguoidepnhat.net)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951. (Ảnh tư liệu tại Triển lãm)

Đại hội liên minh Việt – Miên – Lào tại chiến khu Việt Bắc tháng 3-1951. (Ảnh Tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Lào Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966. (Ảnh tư liệu tại Triển lãm)

vtc.vn

Thư gửi các chiến sĩ quyết tử

Bức thư nồng nàn tình cảm và với lời lẽ thống thiết viết:  Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ?

 – Ngày 27/1/1947, giữa lúc cuộc chiến đấu của quân dân Thủ đô trên các đuờng phố Hà Nội đang diễn ra quyết liệt, đã bước sang ngày thứ 40, và vừa đón Tết Đinh Hợi, các chiến sĩ quyết tử nhận được một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi qua vô tuyến điện.

Bức thư nồng nàn tình cảm và với lời lẽ thống thiết viết:

“Cùng các chiến sĩ yêu quý của Trung đoàn Thủ đô,

Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ăn Tết. Còn 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến.

Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”.

Đêm giao thừa Tết Canh Tý 27/1/1960, Bác thăm gia đình công nhân điện Trần Văn TốtĐêm giao thừa Tết Canh Tý 27/1/1960, Bác thăm gia đình công nhân điện Trần Văn Tốt

Bức thư còn nhắc nhở: “Chí kiên quyết dũng cảm, các em đã sẵn có, đây tôi chỉ nhắc lại một vài điều mà các em phải nhớ luôn luôn:

1. Phải hết sức khôn khép, nhanh chóng bí mật phải biết cách hoá chỉnh vi linh (phân tán và sử dụng lực lượng một cách khôn khéo)

2. Phải đề phòng Việt gian trinh thám.

3. Phải hết sức cẩn thận. Phải luôn luôn có sáng kiến lợi dụng thời cơ.

4. Tuyệt đối đoàn kết “.

Và bức thư động viên: “Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em! Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi cho các em lời chào thân ái và quyết thắng”.

Nhìn thấy trước cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập và mục tiêu thống nhất quốc gia sẽ phải nổ ra, trong một lần đi thăm công tác chuẩn bị kháng chiến trên đường phố Hà Nội, Bác hỏi các cán bộ quân sự rằng có thể kìm chân giặc ở Hà Nội bao nhiêu lâu, có thể được một vài tuần không? Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt anh em báo cáo sẽ quyết tâm giữ được 1 tháng.

Bác khen nhưng nhắc nhở: “Quyết tâm chưa đủ, phải tín tâm thì mới đồng tâm được”. Chính với niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng, các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô đã kiên cường trụ vững và chống trả quyết liệt đội quân nhà nghề của thực dân Pháp 60 ngày đêm ngay trong lòng Hà Nội, sau đó bí mật rút lui lên chiến khu bảo toàn lực lượng để tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ. Trung đoàn thủ đô trưởng thành trở thành Đại đoàn Quân Tiên phong và ngày 10/10/1954 trở về giải phóng Thủ đô

Ngày 27/1/1952 cũng là ngày Tết Nguyên đán năm Nhâm Thìn, báo Nhân Dân đăng bài thơ chúc Tết của Bác Hồ: “Xuân này, Xuân năm Thìn/ Kháng chiến vừa 6 năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc thắng trăm phần trăm/ Chiến sĩ thi giết giặc/ Đồng bào thi tăng gia/ Năm mới thi đua mới/ Thắng lợi ắt về ta/ Mấy câu thành thật nôm na/  Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ đốt lửa trại

Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé? Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm.

 – Ngày 26/1/1949 cũng là ngày 28 Tết Canh Thìn, kết thúc kỳ họp của Chính phủ, Bác tham dự đêm lửa trại trước khi chia tay.

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến thuật lại: “Đêm nay, một bữa tiệc nhỏ long trọng để đưa tiễn các đại biểu Nam Bộ, đồng thời là bữa “ăn Tết” của chánh phủ. Bữa tiệc vừa vui vừa cảm động.

Sau bữa tiệc có buổi lửa trại. Nhiều trò vui đã được diễn và Hồ Chủ tịch đã có lúc phải cười nhiều nhưng vừa cười vừa chảy nước mắt. Anh em diễn ngày kháng chiến thắng lợi Hồ Chủ tịch vào thăm “Thành phố Hồ Chí Minh” (Sài Gòn) và trước máy truyền thanh chào mừng đồng bào Nam Bộ”.

26/1/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội. Người xem suất ăn  bồi dưỡng giữa ca của công nhân.Ngày 26/1/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy cao su, xà phòng và thuốc lá Hà Nội. Người xem suất ăn bồi dưỡng giữa ca của công nhân.

Cũng cần nói thêm rằng Đoàn đại biểu Nam Bộ lặn lội từ chiến trường miền Nam đi suốt dọc đất nước đang trong máu lửa để ra Chiến khu gặp Trung ương và Bác.

Ngày 3/10/1948, Đoàn đến gặp Hội đồng Chính phủ lúc này đang họp dưới sự chủ tọa của Bác và Đoàn đã chuyển tặng “bức họa hình Hồ Chủ tịch và 3 em thiếu nhi tượng trưng Trung Nam Bắc, 3 em vây xung quanh Cụ, một em nắm râu Cụ với bao vẻ mến yêu. Bức họa này của một họa sĩ đã lấy máu mình mà vẽ ra, vừa đẹp và chứa đầy ý nghĩa”…( Đó chính là bức tranh của Họa sĩ Diệp Minh Châu).

Cũng thuật lại đêm lửa trại tiễn đưa Đoàn Nam Bộ, Cụ Hoàng Đạo Thuý, từng là Cục trưởng Cục thông tin của Bộ Tổng Tham mưu, lúc này được Bác điều về làm công tác vận động thi đua có thuật lại cụ thể trong hồi ức của mình: “(Chiều hôm đó) Cụ tìm tôi và bảo: Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé? Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm – Cứ vui chứ!

Bỗng tôi nẩy ra một  ý  nghĩ tinh nghịch: Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy! Nhất định thế! Cụ trả lời tủm tỉm cười, chắc Cụ hiểu ý tôi .

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Cụ Hồ, Cụ Tôn, Cụ Phan Kế Toại, Cụ Phạm Bá Trực và mười ông bộ trưởng. Tôi chắp tay:  Xin Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại.

Chẳng ngần ngừ gì cả, Cụ vừa bước quanh lửa, lên tiếng hát: “Anh hùng xưa, nhớ hồi là  hồi niên thiếu. Dấy binh làm cờ…”. Ai cũng thấy lạ, sao Cụ biết bài hát ấy? – Bọn Hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác, ông Trần Duy Hưng được Cụ đề bạt làm trùm lửa. Hưng cũng trêu Cụ, trêu một cách kính mến thôi, chứ Cụ có bí bao giờ đâu. Hai người ngồi bên Cụ, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ù, ù”. Hưng gọi loa: “A lô, A lô, đồng bào thành phố Hồ Chí Minh (tên này có từ sau Ngày Độc lập) Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào, Cụ có huấn thị…”.

Cụ đứng nhổm ngay dậy: “A lô, đồng bào. Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để Bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi”. Đến lượt Hưng ta cuống.

Cụ Hoàng Đạo Thuý còn kể: “Năm ấy, Đoàn đại biểu miền Nam lần thứ nhất ra thăm Chính phủ. Đó là đoàn trong đó có ông Trần Bửu Kiếm và một ông cố đạo (tức linh mục Phạm Bá Trực)”. Bày biện đâu đấy cả, có tin Đoàn sắp đến nơi. Đi tìm Cụ thì không ai thấy.

Khi Đoàn bước vào, thì bằng một cửa bên Cụ đã đến ngồi ghế Chủ tịch, bắt tay chào vui vẻ, cảm động. Nhưng quái, làm sao đại biểu cứ ngẩn ngơ thế nào ấy? Thì ra thế này: Cụ được tin Đoàn sắp đến, là Cụ ra rừng. Đoàn đi qua, Cụ ôm hôn từng người, thắm thiết. Đoàn cảm động, không biết là ông Cụ nào thế! Bây giờ được chào Cụ Chủ tịch kính mến và mong đợi, thì không biết có phải là ông cụ lúc nãy không?”.

Đó là hồi ức của những nhân chứng lịch sử về Chính phủ của Cụ Hồ trong những ngày kháng chiến gian khổ!

X&N
kienthuc.net.vn

“Người đời không phải là thánh thần”

Nhưng không, tôi phải nói thật: Những thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

– Ngày 28/1/1946, trên báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên dưới một văn kiện có tựa đề là “Tự phê bình”.

Đó là một văn bản kiểm điểm lại tình hình đất nước kể từ sau cuộc Cách mạng giành chính quyền thành công với 4 tháng phấn đấu không biết mệt mỏi của nhân dân và Chính phủ. Trên từng lĩnh vực chính trị, xây dựng thể chế, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, chăm lo đời sống nhân dân… tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng trong văn kiện này, người đứng đầu chính phủ vẫn “tự phê bình”:

Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.

“Vì yêu mến và tin cậy tôi mà đồng bào giao vận mệnh nuớc nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Nhờ sức đoàn kết của toàn dân mà chúng ta tranh được độc lập. Nhưng Chính phủ vừa ra đời thì liền gặp những hoàn cảnh khó khăn…

Trước hoàn cảnh khó khăn đó, đồng bào đã cố gắng, người giúp sức, kẻ giúp tiền. Còn tôi thì lo lắng làm tròn nhiệm vụ của mình sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn, đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào… Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân ”.

Phân tích tình hình đất nước, vị Chủ tịch Chính phủ thẳng thắn đánh giá: “Có thể nói rằng: Những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này lẽ khác. Nhưng không, tôi phải nói thật: Những thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ. Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Có thể nói đây là một thông điệp rất minh bạch của người đứng đầu Nhà nước quan niệm về một thể chế dân chủ và ứng xử của những người có trách nhiệm đối với nhân dân của mình.

X&N
kienthuc.net.vn

“Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc”

Ngày 23/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Giám mục Lê Hữu Từ, đề nghị giám mục tiếp tục ủng hộ chính phủ.

– Ngày 23/1/1947, trong bối cảnh chiến tranh đã mở rộng ra cả nước, khối đoàn kết toàn dân trong đó có các tôn giáo cần được huy động vào việc phụng sự nền độc lập của Tổ quốc đồng thời đấu tranh chống lại những âm lưu lợi dụng tôn giáo của thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư và giao cho người thân tín của mình là Vũ Đình Huỳnh mang vào Phát Diệm trao tận tay cho Giám mục Lê Hữu Từ, người có vai trò trong giáo hội Thiên Chúa giáo và cũng là người đã nhận làm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thư viết bằng những lời lẽ chân thành:

“Đã lâu không được gặp cụ, tôi nhớ lắm. Từ ngày thực dân Pháp bội ước gây hấn, toàn thể đồng bào ta phải đồng tâm nhất trí, kháng chiến cứu quốc… Vì công việc còn bận, tôi chưa có thể gặp cụ để trực tiếp cảm ơn cụ, tôi xin phái người thân tín là ông Huỳnh thay mặt tôi đến hỏi thăm và chúc cụ mạnh khoẻ”

Bác đề nghị giám mục tiếp tục ủng hộ chính phủ trong kháng chiến cũng như đã từng giúp trong các thuơng thảo ngoại giao và bức thư kết thúc: “Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc và xin cụ nhận lời chào thân ái của tôi”.

Tháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn MiếuTháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn Miếu

Thời điểm này đang xảy ra một vài xích mích giữa đồng bào lương và giáo mấy hôm sau (1/2/1947), Bác lại viết thư gửi Giám mục để kiên trì giải thích: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt.

Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết rằng Việt Nam Độc lập Đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo.

Mà tôi cũng không bao giờ nghi rằng đồng bào công giáo chống Việt Minh, vì hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc…

Những sự xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta… triệt để hoàn thành đại đoàn kết, để toàn dân không phân lương – giáo, chỉ một tâm lo chống ngoại xâm. Nhờ cụ cầu Chúa ban phúc cho nước nhà mau đi đến kháng chiến thắng lợi.”

Sau đó, Bác lại viết thư tiếp (10/3) vừa động viên Giám mục Lê Hữu Từ vừa mềm mỏng giải quyết một số vấn đề nẩy sinh trong quan hệ lương – giáo ở địa phương. Thư cũng nhờ Giám mục vận động đồng bào Phát Diệm phá cầu để đề phòng quân Pháp tiến chiếm.

Đây cũng là lúc thực dân Pháp đang tìm mọi thủ đoạn chia rẽ lương – giáo và lôi kéo nhân vật này để rồi sau đó không lâu, Giám mục Lê Hữu Từ đã từ bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc Pháp …

X&N 
kienthuc.net.vn

“Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”

Nguyễn Ái Quốc đã viết một bài bày tỏ cảm xúc trước sự kiện này và được đăng trên tờ “Pravda” (Sự Thật).

– Ngày 22/1/1924, Nguyễn Ái Quốc đang học và làm việc tại Liên Xô thì nhận được tin V.I.Lenin đã từ trần vào đêm hôm trước (21/1/1924).

Nguyễn Ái Quốc đã tới trụ sở Quốc tế Nông dân ở Matxcova để dự phiên họp bất thường.

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian cho kiều bào Thái Lan

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian thăm hỏi bà con kiều bào Thái Lan về nước

Tại đây, Nguyễn Ái Quốc được phân công cùng một số đồng chí khác viết “Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân”.

Văn kiện kêu gọi: “Nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta là thực hiện những lời khuyên quan trọng nhất của Lenin. Điểm quan trọng nhất trong di huấn chính trị của Người là thực hiện liên minh công nông, củng cố khối đoàn kết nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị…

Hãy cất lên thật to, thật mạnh giữa quần chúng nông dân lời kêu gọi: Nông dân và công nhân ở tất cả các nước hãy đoàn kết lại!”

Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết một bài bày tỏ cảm xúc trước sự kiện này và được đăng trên tờ “Pravda” (Sự Thật). Bài báo có nhan đề “Lenin và các dân tộc thuộc địa” mở đầu bằng câu: “Lenin đã mất! Tin này đến với mọi người như sét đánh ngang tai, truyền đi khắp các bình nguyên châu Phi và các cánh đồng xanh tươi ở châu Á..

Lenin đã mất rồi thì chúng ta biết làm thế nào? Liệu có những người dũng cảm và rộng lượng như Lenin để không quản thời gian và sức lực chăm lo đến sự nghiệp giải phóng của chúng ta không? Đó là những điều mà quần chúng nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa băn khoăn tự hỏi…

Còn chúng tôi những người cộng sản, những người sinh ra ở các thuộc địa, chúng tôi vô cùng đau đớn… Song chúng tôi tin tưởng rằng Quốc tế Cộng sản và các phân bộ của nó, trong đó có các chi bộ ở các nước thuộc địa sẽ thực hiện được những bài học và những lời giáo huấn mà vị lãnh tụ để lại cho chúng ta…

Khi còn sống Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”.

X&N
kienthuc.net.vn

“Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc”

Trong một nước dân chủ, mọi người đều có tự do tin tưởng, tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái.

 – Ngày 21/1/1946, báo Cứu Quốc đăng toàn văn câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nhà báo nước ngoài sau khi cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp và quốc dân đang chờ đợi những thay đổi trong đời sống chính trị nước nhà. Câu trả lời của Bác đầy tính triết lý và tính chiến đấu tự như một tuyên ngôn về lẽ sống của mình: 

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ nước ngoài đều biết:

1. Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy…

Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..

2. Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho” .

Chỉ một năm sau, ngày 21/1/1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, Bác đến Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lúc đó đang sơ tán tại Chùa Trầm, để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết nguyên đán” và đọc lời thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí  ta đã quyết, lòng ta đã đồng/Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào/Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi /Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

X&N
kienthuc.net.vn

Việc gì khó có thanh niên!

Bác nói:  “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

 – Ngày 19/1/1959, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh nên Lao động Việt Nam, Bác Hồ đã đưa ra khẩu hiệu: “Việc gì khó có thanh niên! Ở đâu khó có thanh niên!” và căn dặn: “Trong mọi việc thanh niên phải làm đầu tàu, xung phong guơng mẫu. Thanh niên hăng hái là tốt, những chớ xa rời quần chúng, xa rời thì không làm được đầu tàu, đầu tàu mà rời toa tàu thì vô dụng”.

Ngày 19/1/1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965.

Tháng 1-1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.Tháng 1/1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.

Bác đề cập tới một số tư tưởng quan trọng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần.

Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

Ngày 19/1/1959, nhân chuyến thăm của Đoàn đại biểu Chính phủ CHDC Đức do Thủ tướng Otto Grothewohl dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã mời phu nhân thủ tuớng đến thăm khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch.

Trong câu chuyện trao đổi với khách, Bác đã nói : “Cô biết đấy, chúng tôi đã chiến thắng vì trước hết, có một dân tộc yêu nước nồng nàn như vậy. Dân tộc đó sẵn sàng hy sinh tất cả đẻ giành độc lập và tự do!”.

Trả lời câu hỏi thân tình của khách về cuộc sống riêng tư, Bác nói: “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

X&N
kienthuc.net.vn