Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLVI)

LÒNG ÁI QUỐC CỦA NGƯỜI PHÁP

Trong thời kỳ Pháp bị Đức chiếm, có nhiều người Pháp rất là oanh liệt. Nhiều người không may bị bắt bị tra khảo, thà chết chứ không nói, thà chết chứ không hàng. Xem lại lịch sử kháng chiến của Pháp, khiến cho ai cũng kính trọng một dân tộc anh hùng.

Tuy vậy, nước Pháp cũng như nước khác, không khỏi có bọn chó sǎn chim mồi, chỉ biết ích mình, không biết Tổ quốc. Vì vậy sau ngày giải phóng, dân Pháp đã thi hành một cuộc tẩy trừ. Kết quả:

Đến ngày 15-7-1946 có:

4.912 người bị xử tử hình

1.834 người bị khổ sai chung thân

9.899 người bị khổ sai có kỳ hạn

1.836 người bị giam sà lim

19.466 người bị giam

41.550 người bị tước quyền công dân.

Trong những người đó, người lớp nào cũng có. Những kẻ cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mồ, bất kỳ dân tộc nào cũng ghét. Chúng chết chẳng ai thương. Tuy có bọn chó má đó, cũng không thể ngǎn trở cuộc giải phóng của một dân tộc.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLV)

TÔN GIÁO

Người Pháp theo đạo Thiên chúa đã lâu. Hồi thế kỷ thứ 18, các nhà bác học gây lên phong trào chống đạo. Trong cuộc Đại cách mệnh nǎm 1789 có vận động chống đạo. Nhưng về sau, tôn giáo vẫn thịnh hành. Hiện nay mỗi một làng có một nhà thờ đạo. Tuy vậy, không phải mọi người Pháp đều tin đạo.

Báo “Nước Pháp chiều nay” ngày 8-8-1946 điều tra 100 người, kết quả như sau:

Hỏi: Anh hay chị có tin đạo không?

65 người trả lời: có

32 người trả lời: không

3 người trả lời: nửa có nửa không.

Đàn bà có nhiều người tin đạo hơn đàn ông:

Trong 100 người đàn bà có 73 người tin.

Trong 100 người đàn ông có 52 người tin.

ở thôn quê, nhiều người tin đạo hơn ở thành thị:

Trong 100 người ở thôn quê, 69 người tin.

Trong 100 người ở thành phố, 61 người tin.

Nhà giàu, nhiều người tin đạo hơn nhà nghèo:

Trong 100 người nhà giàu, 77 người tin.

Trong 100 người nghèo, 57 người tin.

Lớp nhiều tuổi, nhiều người tin đạo hơn lớp ít tuổi:

Trong 100 người già, có 80 người tin.

Trong 100 người trẻ, có 56 người tin.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLIV)

VỀ MẶT CHÍNH TRỊ

Người Pháp ưa bàn chính trị. Bất kỳ sĩ, nông, công, thương, bất kỳ gái trai, già trẻ, ai cũng nói được chính trị. Bất kỳ đi trên xe lửa, hoặc ra ngoài công viên, phần đông là mỗi người trong tay có một tờ báo. Một dân tộc mà ham chính trị như vậy là một điều tốt.

Người Pháp tư tưởng rất tự do. Có khi trong một gia đình mỗi người có một ý kiến riêng về chính trị. Bố mẹ thì vào Đảng Cộng hoà, anh thì vào Đảng Xã hội, em thì vào Đảng Cộng sản. Khi ngồi chung nói chuyện thì bàn cãi rất hǎng. Nhưng hết bàn chính trị, thì lại rất là thân ái.

Trong 100 người thì 70 người ham chính trị. Mỗi lần có cuộc bỏ phiếu, thì hơn 75 phần trǎm nhân dân tham gia.

Nhưng về chính trị quốc tế thì ít người ham. Báo “Libé Soir” ngày 27-8-1946 điều tra trong 100 người. Đặt câu hỏi: “Anh chị có thường xem những bài thảo luận của hội Hoà bình hay không?”

19 người trả lời: Ngày nào cũng xem.

44 người trả lời: Khi xem khi không.

37 người trả lời: Không xem bao giờ.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLIII)

NGƯỜI PHÁP

Nǎm 1939, trước ngày chiến tranh, toàn nước Pháp, 90 quận có 41.126.000 cả gái trai già trẻ.

Nǎm nay là nǎm 1946, nước Pháp có 39.700.000 người. Nghĩa là so với 6 nǎm trước, kém mất 1.426.000 người, so với mấy nǎm trước số thanh niên đến 19 tuổi, kém mất 1.118.000.

Số thành nhân, từ 20 đến 60 tuổi kém mất 299.000 người.

Số người già ngoài 60 tuổi kém mất 9.000 người (Báo “Aube”, 17-8-1946).

Thanh niên là sức chính của mọi sự kiến thiết. Thiếu thanh niên, thì việc gì cũng khó thành công. Số thanh niên Pháp kém hụt nhiều như thế, có ảnh hưởng rất to đến vận mệnh của nước Pháp.

*

*      *

Xưa nay, người Pháp có tiếng sinh hoạt phong lưu. Cách ǎn kiểu mặc của Pháp, nổi tiếng khắp hoàn cầu. Paris và các nơi nghỉ mát như: Biarritz, Dauville, Côte d’Azur, là nơi mà những người giàu sang các nước thường tìm đến, để hưởng hạnh phúc trên đời.

Nhưng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp không khỏi túng thiếu, và giá sinh hoạt lên cao. Thử xem giá bánh mì.

Nǎm 1900 Giá 1 cân 0f20

– 1914 – 0,42

– 1920 – 0,98

– 1939 – 3,10

– 1945 – 7,40

– 1946 – 13,50

Giá các thức ǎn khác:

Nǎm 1848

Nǎm 1939

Nǎm 1946

Giá 1 lít rượu

0f50

1f48

9f50

– 1 lít sữa

0,18

1,50

9,00

– 1 quả trứng

0,05

0,68

5,00

– 1 cân thịt bò

0,92

11,00

88,00

Ngày nay, vật giá đã đắt, mà lại phải có thẻ mới mua được, thịt tươi ít khi có, chỉ có thịt hộp. Mỗi người mỗi tuần lễ chỉ mua được 120 gr, nghĩa là mỗi ngày không đầy 30 gr.

Rượu vang mỗi tháng mỗi người mua 3 lít

Đường 500 gr

Thịt tươi 320 gr

Sữa bò 1 lít

Bánh mì 300 gr1)

Mua áo quần phải có thẻ, mỗi người mỗi nǎm được một thẻ, mỗi thẻ có 120 điểm. Nhưng một bộ quần áo phải có 200 điểm mới mua được. Thế là phải chờ 2 nǎm mới mua được một bộ quần áo.

Sự hạn chế cũng không tránh khỏi tệ lậu. Một thí dụ: hạ tuần tháng 8 nǎm nay, ở thành phố Nice, phát giác một đám bán thẻ lậu, 50 người thông đồng với nhau, mỗi tháng bán lậu 53.000 cái thẻ. Trong 2 nǎm được lãi chừng 236 triệu tiền Pháp. Báo “Aurore” ngày 30-8-1946 thuật lại rằng: Nice là một thành phố hơn 214.000 người, mà trong 2 nǎm đã lậu đến:

600.000 cân đường

490.000 cân mỡ

2.400.000 lít rượu vang

12.000.000 cân bánh mì

Một thành phố nhỏ đã bán lậu như thế thì tất cả nước Pháp bán lậu biết bao nhiêu?

Giá đắt, mà chỗ này chỗ khác lại không nhất luật. Báo “Le Pays” ngày 19-7-1946 viết rằng: ǎn một bữa cơm xoàng ở:

Brive Giá 50f

Nantes – 90

Clermont Ferrand – 120

Lyon – 190

Paris – 250

Marseille – 350

Những người nhiều tiền thì mua tiên cũng được. Những người lao động thì tay làm hàm nhai đã quen rồi, khổ nhất là những công chức ít lương, những người ǎn lương hưu trí, những người rǎngchiê (rǎngchiê là những người có một số tiền gửi vào Ngân hàng, mỗi tháng lấy tiền lời đó mà sống). Ngày nay ǎn uống đắt đỏ, nhưng tiền lời vẫn như cũ. Lớp người này làm thầy cũng dở, làm thợ cũng rầy. Tiền thì ít, nhưng cứ muốn giữ thể diện.

Báo “Chiều nay” ngày 26-7-1946 viết rằng: 10 người công chức Pháp thì 9 người lương không đủ ǎn.

Báo “Dépêche” ngày 23-8-1946 viết rằng: hàng triệu người Pháp phải nhịn đói.

Hoàn cảnh càng quẫn bách sinh hoạt càng khó khǎn, thì càng nhiều việc bối rối? Hoặc là trộm cướp, hoặc là gian lận. Cảnh sát Paris tổ chức rất khéo, thế mà ngày nào ở kinh đô Pháp cũng có mặt đám trộm cướp. Như ngày 30-8-1946 đến 8 đám cướp, ngay ngày 5, 6, 7, 8 tháng 9 mỗi ngày 5, 6 đám cướp.

Một thí dụ về việc gian lận: một đám thụt két to nhất mới xảy ra trong thượng tuần tháng 9. Các báo đǎng rằng: 13 người làm việc trong nhà Pháp quốc Ngân hàng, thụt đến 127 triệu quan.

Ai không có tiền, lại không biết gian lận, không biết cướp giật, thì tự sát hoặc chịu chết đói.

Báo “Résistance” ngày 27-8-1946 đǎng tin sau này: Thảm kịch vì khổ sở… Bà Défranc, nấu bếp ở số 2 phố Libération, tự sát bằng hơi ngạt. Trong khi bà ấy tự sát, muốn làm chết ngạt cả 3 đứa con, một gái 2 tuổi, hai giai 4 tuổi và 6 tuổi.

Báo “Paris buổi sáng” ngày 20-8-1946 đǎng tin: ở Seten, một đứa trẻ con 3 tuổi chết đói bên thây người mẹ nó đã 4 ngày. Người ta đưa nó vào nhà thương, nhờ thầy thuốc sǎn sóc, em bé này sống lại.

Ai ngờ ở nước Pháp cũng có cảnh tượng như thế.

Người đời xưa nói: “Dân giàu thì nước có, dân quẫn thì nước nghèo”. Pháp là một nước giàu có, nhưng trong cuộc chiến tranh bị tàn phá nhiều. Cho nên dân nghèo, tiền ít. Theo báo Paris ngày 6-9-1946, thì nǎm nay số chi tiêu cộng là 800.000 triệu quan. Nhưng thu nhập chỉ được 500.000 triệu, còn thiếu 300.000 triệu quan, nghĩa là mỗi tháng thiếu 25.000 triệu. Vì vậy vừa rồi Bộ trưởng Bộ Tài chính qua Mỹ để vay một món tiền.

*

*      *

Ngoài sự ǎn mặc, còn sự vui chơi. Người Pháp thích những thú vui lịch sự. Nhưng không phải người nào cũng thích như nhau. Theo báo “Kháng chiến” ngày 25-8-1946: Nếu hỏi anh hay chị ham chơi thứ gì? thì được trả lời như sau:

Trong 100
người đàn ông:

Trong 100
người đàn bà:

Xem chiếu bóng

15 người

26 người

Ham đi cắm trại

21

18

Ham xem sách

18

21

Ham nghe vô tuyến điện

16

18

Ham thể thao

20

5

Ham xem hát

10

12

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLII)

Cụ đi thǎm cung điện Chantilly – ông Sainteny đến gặp Cụ.

Ngày 11 tháng 8

Hôm nay chủ nhật, khí giời mát mẻ, công việc hơi rảnh. Ông chủ nhà rủ Cụ và các anh em đi xem cung điện Chantilly.

Cung điện này cũng nguy nga, có nhiều toà nhà rất đồ sộ. Chung quanh có hồ sâu, ngoài có rừng bao bọc. Phong cảnh rất đẹp, người đến xem rất đông. Xem qua cung điện, đến xem hồ nuôi cá và đi dạo quanh rừng. Rồi Cụ và các anh em nằm trên bãi cỏ xanh nói chuyện. Trời hôm nay êm dịu, gió mát, hoa thơm. Nghỉ một chốc, ai cũng thiu thiu ngủ.

4 giờ rưỡi về đến nhà thì thấy ông Sainteny đương chờ Cụ. Chuyện trò chừng một tiếng đồng hồ, ông từ giã ra về.

Tin tức: Chỉ nói trong tháng 6, ở nước Anh có 412 người chết và 13.420 người bị thương vì nạn đi đường. Trong số đó 90 trẻ con chết vì đi đường và đi xe đạp bị xe cán. Báo “Le Pays” đǎng rằng: sau ngày Pháp được giải phóng, mỗi ngày trong nước có đến 300 người Pháp mất tích. Hiện nay, theo lời báo cáo của Bộ Nội vụ Pháp, mỗi ngày chừng có 50 người mất tích.

Báo “Chiều nay” đǎng tin rằng: ở nước Đức, nghề chợ đen rất phát đạt. Mươi hay mười hai kilô cà phê thì đổi được một chiếc xe hơi rất tốt, rất mới. Ba cái đồng hồ thì đổi được một chiếc xe hơi “gíp”.

Những người chợ đen, thứ này đổi thứ khác, vật này đổi vật kia. Quanh quẩn từ lúc đem lậu qua ý, từ ý qua Thuỵ Sĩ, v.v. tính ra một kilô cà phê họ được lãi hàng vạn quan tiền Pháp.

Đ.H

Báo Cứu quốc, từ số 402,
ngày 11-11-1946 đến số 439,
ngày 17-12-1946.
cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLI)

Cụ đi thǎm lãnh tụ các Đảng.

Ngày 10 tháng 8

6 giờ chiều, sau khi Cụ Chủ tịch đi thǎm Ban Trung ương Đảng Cộng hoà Bình dân và Trung ương Đảng Xã hội, hôm nay Hồ Chủ tịch đến thǎm Trung ương Đảng Cộng sản Pháp. Lúc Cụ đến do ông Thorez, Phó Chủ tịch Chính phủ Pháp và ông Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội, đón tiếp.

Thế là Hồ Chủ tịch đã đi thǎm đủ cả các lãnh tụ ba đảng to nhất ở Pháp.

Tin tức: Mấy hôm nay, các báo Pháp nói rất nhiều những việc xảy ra ở Bắc Ninh, ở Nam Bộ và ở Xiêm Riệp. Lẽ tất nhiên, các báo hữu phái đều đổ lỗi cho ta, họ bảo rằng ta khiêu khích. Các báo tả phái thì giữ chính nghĩa và bênh vực ta.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XL)

Hồ Chủ tịch thǎm Viện khảo cổ Viễn đông.

Ngày 9 tháng 8

11 giờ, ông Stern, Giám đốc Viện Khảo cổ Viễn Đông mời Hồ Chủ tịch đi thǎm Viện đó. Trong Viện trưng bày nhiều pho tượng, bức vẽ, tranh ảnh của Trung Quốc, ấn Độ, Nam Dương và của nước ta.

Hai ông bà Stern cùng Cụ Chủ tịch nói chuyện về vǎn hoá Đông phương và Tây phương.

Bà Stern là một người chụp ảnh mỹ thuật rất khéo. Khi nói chuyện xong, bà xin phép để chụp ảnh Cụ.

Ông Schumann, Chủ tịch đảng cộng hoà bình dân chúc tụng Việt – Pháp thân thiện.

Ngày 9 tháng 8

2 giờ, Hồ Chủ tịch đi thǎm ông Maurice Schumann, Chủ tịch Đảng Cộng hoà Bình dân, tiếng Pháp quen gọi là “M.R.P”. Thủ tướng Bidault là một vị lãnh tụ đảng này. Ông Schumann chừng 40 tuổi, dáng người cao lớn, nói nǎng trịnh trọng. Trong những nǎm Pháp bị Đức chiếm, tướng De Gaulle ở Luân Đôn lo việc kháng chiến thì ông Schumann phụ trách tuyên truyền. Mỗi ngày ông nói tại đài vô tuyến điện, kêu gọi dân Pháp chống xâm lǎng, ủng hộ tướng De Gaulle. Sau khi Pháp được giải phóng, thì các ông Bidault, Gay, Michelt, Schumann, v.v. tổ chức đảng M.R.P. Đảng này về mặt chủ nghĩa thì theo công giáo, về mặt xã hội thì theo tự do. Ông Schumann chuyện trò rất thân mật và cất chén rượu chúc mừng Cụ Chủ tịch mạnh khoẻ và Việt – Pháp thân thiện.

4 giờ, ông Jean Bebel, phóng viên tờ báo “Liberation” đến thǎm Cụ Chủ tịch và ân cần mời Cụ đến chơi nhà ông ấy. Cụ cảm ơn và hứa bao giờ rảnh việc sẽ đến.

Báo “Liberation” là một báo phái tả, rất đồng tình với ta.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXIX)

Cụ Chủ tịch đi thǎm ông Moutet và tướng Pellet –
Báo “Nhân loại” thường đǎng bài ủng hộ ta – ký giả báo ấy đến thǎm cụ Chủ Tịch.

Ngày 8 tháng 8

10 giờ rưỡi, Cụ Chủ tịch đi thǎm ông Bộ trưởng Moutet và gặp Trung tướng Pellet.

Tướng Pellet ngày trước có ở bên ta, nay làm việc ở phái bộ Hải ngoại, rất đồng tình với ta. Ông có một người con gái viết báo giỏi, thường đǎng những bài ủng hộ Việt Nam độc lập.

1 giờ trưa, ông Coutade đến thǎm Cụ Chủ tịch. Ông là ký giả của báo “Nhân loại”. Nǎm nay ông chừng 30 tuổi, rất thạo về tình hình chính trị thế giới. Vǎn chương của ông hoạt bát và sâu sắc. Ông cũng thường viết bài ủng hộ cuộc độc lập của nước ta.

4 giờ, ông Bộ trưởng Moutet mời Cụ đến nói chuyện.

5 giờ, ông nghị Lussy đến thǎm cụ.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXVIII)

Mấy người pháp ở sài gòn về đến chào Chủ Tịch – lực lượng hải quân hiện nay của Pháp.

Ngày 7 tháng 8

11 giờ sáng, có mấy người Pháp ở Sài Gòn mới về đến chào Hồ Chủ tịch. Có ông Canac đi với họ.

1 giờ trưa, ông D’Astier, cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Pháp, đến thǎm Cụ Chủ tịch. Nay ông làm nghị viên trong Quốc hội Pháp và chủ bút một tờ báo phái tả, thường đǎng bài tán thành Việt Nam độc lập.

Tin tức: Trước ngày cuộc Thế giới chiến tranh thứ hai bùng nổ, nước Pháp có 670 chiếc tàu thuỷ to và nhỏ. Trong cuộc chiến tranh, Pháp mất hết 213, chỉ còn 210 chiếc. Từ ngày hết chiến tranh, tức là giữa nǎm 1945 đến hết nǎm nay, Pháp mua và đóng thêm vào, nhưng cũng chỉ được 370 chiếc cả thảy, nghĩa là bằng quá nửa số tàu khi trước. Thành thử lực lượng dưới bể của Pháp cũng kém sút xa.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXVII)

Đại biểu báo “l’ordre” phỏng vấn Hồ Chủ Tịch –
Hồ Chủ Tịch đi thǎm ông Vương Thế Kiệt, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Hoa.

Ngày 6 tháng 8

4 giờ chiều, ông Charbonnier, đại biểu báo “L’Ordre” đến phỏng vấn Cụ Chủ tịch. Báo này thuộc phe hữu. Thường công kích ta. Nhưng sau khi nói chuyện với Cụ, ông Charbonnier viết một bài thật thà và êm dịu.

7 giờ tối, Cụ đi thǎm ông Vương Thế Kiệt, Ngoại giao Bộ trưởng và mấy vị đại sứ Trung Quốc tới dự Hội nghị Hoà bình ở Paris.

Tuy mới gặp nhau lần đầu, nhưng vì mối quan hệ thân thiện đã lâu đời giữa hai dân tộc Hoa – Việt, vả lại hai bên đều ở đất khách quê người, cho nên thái độ rất thân mật và chuyện trò rất vui vẻ.

Tin tức: ở nước Anh có một Hội nuôi trẻ con bồ côi. Có những người không có con đến Hội xin một vài đứa trẻ đem về nuôi. Hai nǎm vừa qua, 672 trẻ em nhờ vậy mà có gia đình ấm áp, được ǎn ở, được sǎn sóc tử tế.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXVI)

Cụ đi thǎm cụ auriol, Chủ tịch quốc hội Pháp và giáo sư Emile Kalm,
Chủ tịch hội nhân quyền pháp.

Ngày 5 tháng 8

Sáng nay, chỉ có vài kiều bào đến thǎm Cụ Chủ tịch nên Cụ có chút thì giờ xem sách và chơi với các cháu Jacqueline (nhi đồng Việt Nam) và hai con ông bà Aubrac ngoan lắm. Khi có ai hỏi thǎm Cụ, thì chúng nó giữ lễ phép, không bao giờ vào phòng khách. Nhưng thấy Cụ rảnh thì chúng nó liền đem nhau đến đòi Cụ chơi đùa với chúng nó.

Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo, báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần và báo ngoại quốc. Báo có tin tức gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem.

Hôm nào nhiều khách thì Cụ thường thức xem báo đến hai giờ sáng. Anh em tuỳ tùng và các bác sĩ, cho đến cả vợ chồng ông Aubrac, thấy Cụ thức khuya dậy sớm quá, ra sức khuyên Cụ đi nghỉ sớm. Nhưng không có kết quả mấy!

4 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm cụ Auriol, Chủ tịch Quốc hội Pháp. Cụ Auriol là một trong những người lãnh tụ của Đảng Xã hội. Nǎm nay chừng 60 tuổi. Người có danh vọng, đạo đức. Cụ đau mắt, mới bị mổ, chưa thật khỏi. Nhưng cũng cố gắng tiếp Hồ Chủ tịch, vì lâu nay hai cụ chưa có dịp nói chuyện lâu.

Qua những lời hàn huyên, hai nhà chính trị nói chuyện Việt – Pháp hơn nửa tiếng đồng hồ.

5 giờ chiều, Hồ Chủ tịch đến thǎm giáo sư Emile Kalm, Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp. Cụ Kalm ngoài 60 tuổi. Râu tóc đều bạc, tính tình thành thật và nhiệt liệt, hết sức tán thành Việt Nam độc lập.

Trước kia, Cụ Phan Châu Trinh bị thực dân Pháp làm án tử hình, rồi đày ra Côn Lôn, nhờ Hội Nhân quyền chống lại mà Chính phủ Pháp phải thả cụ Phan. Hội Nhân quyền lại thường giúp đỡ những chính trị phạm ta hồi Pháp thuộc. Lúc này, Hội đó ra sức ủng hộ Việt Nam độc lập và thống nhất. Sau cuộc Hội nghị Fontainebleau đình lại, Hội Nhân quyền viết thư và phái đại biểu chất vấn Chính phủ Pháp.

6 giờ chiều, Cụ đến thǎm ông Lussy, đảng viên Đảng Xã hội và đại biểu tại Quốc hội Pháp.

Ông bà Lussy và hai vợ chồng người Anh (một nhà kỹ nghệ) ở chung một nhà, bốn anh em và chị em mở rượu sâm banh mời Cụ. Chuyện trò thân mật, lúc ra về thì trǎng đã lặn.

Tin tức: hôm nay được tin cuộc xung đột xảy ra ở Bắc Ninh.

Đ.H

cpv.org.vn

Người thương binh nặng làm theo lời Bác

Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội chừng 10 km về phía Tây, có một Trang trại du lịch sinh thái được nhiều người tìm đến và bị “hút hồn” bởi vẻ đẹp của nó. Chủ nhân của trang trại ấy là anh Phạm Công Cường – thương binh hạng ¼ mất sức 83%. Tuy là thương binh nặng, nhưng anh Cường vẫn luôn làm theo lời dạy của Bác Hồ “thương binh tàn nhưng không phế”.

Năm 1967, mới 17 tuổi, Cường trốn gia đình đi bộ đội, làm lính đặc công ở Sư đoàn 304 chiến đấu tại Quảng Trị. Tháng 10 năm 1971, trong 1 trận đánh, anh bị thương vào đầu, cột sống và đứt dây chằng cổ chân phải.

Rời chiến trường về với thương tật hạng ¼ mất sức 83%, nhưng anh quyết tâm không để mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Được tổ chức sắp xếp làm trong Viện nghiên cứu Vật liệu xây dựng – Bộ kiến trúc, sau đó, anh tham gia học tại chức Khoa Sinh hoá Trường Đại học Tổng hợp. Nhờ duyên trời xe, người thương binh ấy trở thành con rể của “vua lốp” Hà Nội Nguyễn Văn Chẩn. Được ông bố vợ giúp đỡ, cùng với kiến thức học được trong trường đại học, anh đã thành lập Tổ hợp cao su Quyết Thành chế tạo săm lốp cao su từ đồ phế thải. Vốn là người thông minh và có ý chí, anh không ngừng nghiên cứu tìm tòi và đã cho ra đời nhiều sản phẩm có giá trị. Năm 1983, anh đã chế tạo thành công bạc bơm dầu (gioăng chịu dầu) góp phần quan trọng phục hồi máy biến áp của Sở Điện lực Hà Nội đã bị vô hiệu hoá vì thiếu phụ tùng ngoại nhập. Năm 1990, bằng vật tư trong nước, anh lại chế tạo thành công sản phẩm phíp – ba kê lít, một loại vật liệu cách điện rắn dùng trong biến thế của ngành năng lượng, thay thế hàng nhập ngoại. Sản phẩm này được cấp Bằng sáng chế tại Hội chợ triển lãm năm 1992.

ngươi thuong binh nang lam theo loi bac

Thương binh Phạm Công Cường

Rồi đến năm 1995, người thương binh ấy lại bắt tay vào cải tạo và làm hồi sinh vùng đất bị bỏ hoang rộng 18.000m2 ở quê hương mình (thôn An Trai – xã Vân Canh – Hoài Đức – Hà Nội).

Kể về những ngày gian khó ấy, anh bồi hồi nhớ lại: Những năm 90, trong một vài lần về quê ăn giỗ, thấy đầu làng có khu đất vốn là các lò gạch bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy, lổn nhổn những hố hộc. Người làng kể rằng đó là hậu quả của những lò gạch thủ công trước đây đã để lại một vùng đất nghèo dinh dưỡng, cây cối không sống được do đất bị “gạch hoá” khiến nền đất rất cứng. Nơi này đã từng có 2 trẻ con chết đuối và không mấy người dám bén mảng tới làm khu đất hoang hoá càng âm u. Cùng lúc ấy, Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại. Anh bàn với vợ mạnh dạn xin xã đấu thầu khu đất ấy. Mọi người đều khuyên anh nên nghĩ lại bởi biết sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Chính ông Trần Xuân Đính – Chủ tịch xã Vân Canh và Bí thư Đảng uỷ xã Nguyễn Thế Cử đều khuyên thật lòng: “Vợ chồng chúng tôi khoẻ mạnh, có 3 sào ruộng khoán nục nạc mà còn làm còng lưng vẫn phải chân le chân vịt mới đủ sống. Anh là thương binh nặng, chị là con gái Hà Thành làm sao làm nổi…”

Nhưng anh suy nghĩ và lý giải: Người ta còn tìm mua đất Trang trại ở Ba Vì, Phú Thọ còn được, thế mà quê mình ngay sát Hà Nội lại có vùng đất bỏ hoang là sao? Với quyết tâm cải tạo vùng đất ấy, anh đã mạnh dạn xin Uỷ ban xã cho đấu thầu. Tháng 10 năm 1995, khu đất hoang hoá rộng 18.000m2 được chính thức giao cho vợ chồng anh Cường sử dụng trong vòng 13 năm. Một cuộc chinh phục cải tạo “vùng đất chết” bắt đầu. Nó cam go không kém gì trận đánh ngoài mặt trận. Những ngày đầu tiên, vợ chồng anh mất hàng năm trời thuê thợ đắp ao, tạo gò. Hàng trăm xe đất phù sa được chở đến cùng với phân trâu bò để bón cho cây, cải tạo đất. Trong 2 năm đầu lấy ngắn nuôi dài, vợ chồng anh làm mô hình V.A.C gồm chuồng trại, vườn cây, ao cá giống. Chỉ sau 2 năm, trong chuồng thường xuyên có khoảng 100 đầu lợn, ao cá mỗi năm xuất từ 7- 8 tấn cá thịt và nhiều loại gia cầm khác. Anh đã giải quyết việc làm cho khoảng 10 lao động quanh năm. Và cơ bản anh đã giúp bà con nhìn nhận đúng về cách quy hoạch mô hình V.A.C ở nông thôn. Đến nay, vùng đất của anh đã được “quy hoạch” đâu ra đấy. Anh chia 10.000m2 đất làm 3 ao nuôi cá giống, xây tường bao kiên cố, 2 hồ lớn nuôi cá thịt và làm dịch vụ câu cá. Xen giữa ao hồ là chuồng trại, vườn sinh thái với đủ loại cây ăn quả. Bao quanh trang trại là 1 con kênh đào rộng 2m với gần 1000 gốc tre làm bờ rào. Trong vườn có khoảng 200 gốc nhãn lồng, 100 gốc vải thiều, hơn 1000 gốc cau cảnh, gần 200 giò phong lan và nhiều loại cây khác. Chị Quyết – vợ anh – thường nói vui: trong nhiều năm qua, vợ chồng anh chị đã “vứt bạc tỉ xuống đất để nhặt lên từng đồng”. Nhưng rồi đất chẳng phụ người. Đến nay anh chị đã có một cơ ngơi khang trang bề thế.

Tiếng lành đồn xa. Nhiều khách du lịch và cựu chiến binh đã về đây tham quan. Có những thương binh nặng không thể đi tham quan khắp trang trại, anh xây hẳn một nhà để các anh có chỗ dừng xe nghỉ chân uống nước. Nhân kỷ niệm 56 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ 27/7/2003, đồng chí Nguyễn Đức Triều – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam và Thiếu tướng Hoàng Đan – Thủ trưởng cũ của anh đã đến thăm Trang trại và trồng cây lưu niệm. Trang trại của anh cũng đã từng được đó tiếp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Lê Huy Ngọ về thăm và động viên.

Khi được hỏi xuất phát từ động lực nào mà anh lại nảy sinh quyết tâm hồi sinh “vùng đất chết” ở quê nhà, anh Cường tâm sự: “Tôi làm vậy trước hết là theo lời dạy của Bác, muốn khẳng định rằng những thương binh như tôi không phải là gánh nặng cho xã hội, mà còn làm giàu cho quê hương đất nước. Mặt khác, để xã hội nhìn nhận chúng tôi là những người “tàn mà không phế”. Hơn nữa, tôi bắt tay vào cải tạo ngay mảnh đất bỏ hoang ở quê mình cũng là vì sự giàu đẹp của quê hương, chứ nếu chỉ nghĩ cho gia đình thì với số tiền ấy đem gửi tiết kiệm cũng đủ sống mà các con vẫn được học hành tử tế…”. Tuy nhiên, anh cũng bộc lộ băn khoăn bởi hợp đồng ký thuê đất là 13 năm (từ ngày 25/10/1995 và kết thúc ngày 01/01/2009). Từ đó đến nay, Uỷ ban nhân dân xã Vân Canh đã làm việc với vợ chồng anh 3 lần nhưng vẫn chưa được ký hợp đồng mới theo quy đinh của pháp luật. Bởi một điều giá thuê đất của hợp đồng cũ (thời điểm 1995) là 0,111kg thóc/m2 tương đương 40 kg /sào/năm, trong khi giá của dự thảo hợp đồng mới đã bị đẩy lên là 3.000 đồng/m2/tháng (thời hạn chỉ 5 năm). Anh mong muốn có một chính sách nào thoả đáng để anh chị bõ công bỏ mồ hôi công sức trên vùng đất hoang hoá được đền đáp xứng đáng khi tận hưởng nguồn thu.

Nhìn cơ ngơi của anh chị, có ai nghĩ cách đây vài chục năm nơi này đã từng bị gọi là “vùng đất chết”. Với bàn tay khối óc và ý chí nghị lực của người lính Cụ Hồ, anh thương binh Cường đã bắt đất phải hồi sinh, trả lại màu xanh cho mành đất ở quê hương. Anh thật xứng đáng với cái tên gọi Bộ đội Cụ Hồ. Bởi lời dặn của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế” đã luôn khắc ghi trong tâm khảm của người thương binh nặng ấy.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, đến nay, nhiều thương binh như anh Cường đã vượt lên khó khăn, không những không trở thành gánh nặng của xã hội, mà còn làm giàu cho quê hương đất nước. Thật cảm phục biết bao trước những con người đầy nghị lực và ý chí phi thường ấy đã từng đổ máu xương bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, nay lại mang công sức của mình nguyện là một viên gạch hồng xây dựng quê hương. Các anh mãi mãi là tấm gương để chúng ta học tập và noi theo, mãi mãi là những người “tàn mà không phế”, luôn được xã hội kính phục và tôn vinh.

Nguyễn Thị Diệp
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)