Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Dùng tâm công, dội bão lửa!

QĐND- Điện thoại phòng làm việc của Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ liên tục đổ chuông. Nhiều cán bộ, nhân viên ra vào tấp nập xin chữ ký, nộp tờ trình, báo cáo… Định đến phỏng vấn về ngày truyền thống Binh chủng Pháo binh (29-6) nhưng thấy ông bận rộn, chúng tôi đang lưỡng lự thì đúng lúc ông nhìn ra và khoát tay: “Mời các phóng viên vào, tôi đang chờ các đồng chí đấy”. May quá, ông vẫn nhớ lịch hẹn. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ sự bận rộn hiện nay của đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Pháo binh.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Dạo này đơn vị triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, rồi đang chuẩn bị hội nghị rút kinh nghiệm công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, công tác xây dựng điển hình tiên tiến, hội nghị tọa đàm sĩ quan trẻ và nhất là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên tôi khá bận. Nhưng dù bận, cũng phải thu xếp để tiếp các nhà báo, sắp đến ngày thành lập Binh chủng Pháo binh, rất mong các đồng chí tuyên truyền về truyền thống của Binh chủng anh hùng, Binh chủng hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Pháo binh trò chuyện cùng sĩ quan trẻ. Ảnh: Đình Hùng

PV: Thưa đồng chí Chính ủy, nhắc đến pháo binh, chúng tôi nhớ ngay đến lời khen tặng của Bác Hồ dành cho Binh chủng: “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”. Lời khen ấy của Bác, chắc hẳn là phương châm để Đảng ủy Binh chủng triển khai việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Đúng vậy. Lời khen của Bác là niềm tự hào của các thế hệ bộ đội pháo binh. Đó là ngày 13-4-1967, bộ đội pháo binh xuất sắc bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên-Dốc Miếu. Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm, chăm lo phát triển bộ đội pháo binh. 14 lần Bác đến thăm, nói chuyện hoặc gửi thư khen bộ đội pháo binh. Đó là “vốn liếng” rất lớn để chúng tôi triển khai học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách của Người. Việc làm theo, tất nhiên là rất phong phú, đa dạng nhưng chúng tôi cứ khắc ghi lời Bác: “Nắm vững kỹ thuật, chiến thuật, giữ gìn xe tốt, pháo tốt, tiết kiệm đạn dược, đánh giỏi, bắn trúng” là có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Binh chủng Pháo binh.

PV: Nhân nói về truyền thống “đánh giỏi, bắn trúng”, là lực lượng kỹ thuật với xe pháo nặng nề nhưng pháo binh luôn nổ phát súng lệnh, khởi đầu cho các chiến dịch lớn trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc của nhân dân ta?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Điều nhà báo nói, cũng là điều mà chúng tôi muốn gửi gắm đến các chiến sĩ pháo binh trẻ hôm nay. Trong hai cuộc kháng chiến, chống Pháp và chống Mỹ trước đây, bộ đội pháo binh đã đánh hàng nghìn trận lớn nhỏ, đặc biệt là chuyên đánh mở màn trong các chiến dịch lớn, giành thắng lợi rất huy hoàng.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc 20 giờ 3 phút ngày 19-12-1946, tiếng súng từ Pháo đài Láng chính là phát đạn đầu tiên của quân ta báo hiệu sự nghiệp toàn quốc kháng chiến đã bắt đầu. Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, pháo binh ta làm bất ngờ hoàn toàn quân địch. Giặc Pháp không ngờ ta có thể điều động nhiều trung đoàn, tiểu đoàn pháo cỡ lớn, vượt qua bao đèo dốc để dội bão lửa lên đầu chúng dữ dội đến thế. Trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, liên quân Mỹ-ngụy cũng đã hoàn toàn bất lực trước hỏa lực mạnh mẽ của pháo binh ta. Còn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, hơn 20 trung đoàn, lữ đoàn pháo với gần 800 khẩu pháo, tổ chức thành 30 cụm pháo binh đã tạo ra hệ thống hỏa lực cực mạnh, tập trung áp đảo địch ngay từ đầu, khống chế các sân bay, bến cảng, chi viện đắc lực cho 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Bây giờ, với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, việc bảo đảm cho pháo binh luôn “bắn giỏi, đánh trúng” là điều rất quan trọng, tạo ra “thế và lực” để giữ vững chủ quyền đất nước bằng phương pháp hòa bình.

PV: Bộ đội pháo binh, trong lịch sử đã là một trong những lực lượng oai hùng nhất của quân đội. Rất nhiều tác phẩm nghệ thuật hay về đề tài người lính thường nhắc đến bộ đội pháo binh. Thanh niên nhập ngũ cũng rất nhiều người muốn làm pháo thủ. Nhưng chúng tôi được biết, hiện số học sinh giỏi đăng ký thi vào Trường Sĩ quan Pháo binh ngày càng ít, phải chăng “tình yêu pháo binh” đã giảm trong thanh niên hiện nay?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Đó cũng là một vấn đề mà chúng tôi băn khoăn, trăn trở. Đây không chỉ là vấn đề riêng của pháo binh. Thực tế, thời bình, thanh niên có nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, phát triển kinh tế lại là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, nên việc nhiều học sinh giỏi không chọn pháo binh là nghề cũng là lẽ dễ hiểu. Điều chúng tôi quan tâm hơn là chăm lo giữ gìn truyền thống của Binh chủng, làm sao để mỗi đơn vị pháo binh là một cơ quan văn hóa. Người dân địa phương đến tham quan, gia đình quân nhân đến chơi đều cảm nhận và đánh giá cao về môi trường văn hóa – nhân văn của đơn vị mới là điều quan trọng. Đó cũng là cách để “hút” người có năng lực về công tác tại các đơn vị pháo binh. Năm ngoái, chúng tôi có làm một cuộc điều tra sơ bộ, cho thấy tuyệt đại đa số sĩ quan trẻ vẫn yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị; 70% sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ ngay năm đầu ra trường trong khi có tới 50% tổng số sĩ quan hiện vẫn chưa hợp lý hóa gia đình, nghĩa là vẫn phải chịu cảnh sống xa nhà, đồng lương nhiều khi chỉ đủ rải dọc đường về phép… Đấy là những con số chứng tỏ, bộ đội pháo binh hiện nay vẫn xứng đáng với truyền thống hào hùng mà thế hệ đi trước đã dày công xây đắp.

PV: Giáo dục truyền thống cho sĩ quan pháo binh trẻ quả là một vấn đề hấp dẫn nhưng… hóc búa hiện nay. Chúng tôi vẫn băn khoăn là làm thế nào để sĩ quan trẻ có thể “đánh giỏi, bắn trúng” trong điều kiện giá cả vũ khí đắt đỏ, có khi rất lâu mới được thực hành bắn đạn thật như hiện nay ?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Vấn đề các đồng chí nêu làm tôi nhớ đến kỷ niệm thời trẻ của mình. Năm 1979, tôi là học viên Trường Sĩ quan Pháo binh đi thực tập ở đảo Trần (Quảng Ninh). Cả đảo có hai trận địa pháo nhưng chưa từng sử dụng, cũng không có ai là sĩ quan pháo binh. Nhân dịp tôi ra, cấp trên lệnh cho tôi huấn luyện bộ đội rồi tổ chức diễn tập bắn đạn thật luôn. Là một cán bộ thực tập, cũng chưa từng bắn đạn thật bao giờ, đối với tôi đó là một thử thách rất lớn. Tôi tâm niệm, cứ trung thành với kiến thức cơ bản được học, tổ chức bắn đạn thật đúng quy trình. Kết quả thật bất ngờ. Phát pháo đầu tiên do tôi đích thân bắn mẫu đã trúng mục tiêu trên biển. Kết quả buổi diễn tập được đánh giá cao. Như vậy thì thấy, trong điều kiện thời bình, ít được bắn đạn thật nhưng nếu anh huấn luyện bộ đội thật nghiêm, kỷ luật thật tốt thì không lo gì về chất lượng SSCĐ cả. Mà muốn để bộ đội có kết quả huấn luyện giỏi, người cán bộ không chỉ truyền kiến thức mà phải truyền cả ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết nghề nghiệp của mình vào đó. Tôi nói vui, đó là cách “dùng tâm công” trong thời bình để sẵn sàng “dội bão lửa” lên đầu kẻ thù nếu tình huống chiến tranh vệ quốc xảy ra. Chúng tôi tự tin là ở thời kỳ nào, Binh chủng Pháo binh cũng sẵn sàng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

PV: Xin cảm ơn đồng chí !

Lại Nguyên Thắng (thực hiện)
qdnd.vn

Trung thu nhớ Bác

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tính các cháu ngoan ngoan. Mặt các cháu xinh xinh”.

(Thư gửi các cháu nhi đồng, 25/9/1952
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 571-572)

bh voi thieu nhi
Ảnh Tư liệu

Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, gánh vác vận mệnh của non sông xã tắc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm, yêu thương thế hệ măng non của đất nước. Người luôn dành cho các em thiếu niên nhi đồng tình cảm nồng hậu và sự dạy bảo tận tình. Mỗi dịp Tết Thiếu nhi, khai giảng năm học mới và Tết Trung thu Bác luôn gửi thư cho thiếu niên nhi đồng để chia sẻ niềm vui với các em và cũng không quên dạy dỗ bảo ban các em học tập, rèn luyện để sau này thành người có tài, có đức phục vụ non sông đất nước.

Nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước, Bác Hồ đã viết bài báo: “Tết Trung thu với nền độc lập” in trên báo Cứu Quốc số 45 ngày 17 tháng 9 năm 1945. Chia sẻ với các em niềm vui, hạnh phúc trong Tết Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước sau khi giành được độc lập. Bác viết:

“Cùng các trẻ em yêu quý!

Hôm nay là Tết Trung thu

Mẹ đã sắm cho các em nào đèn, nào trống, nào hoa nào nhiều đồ chơi khác.

Các em vui vẻ nhỉ!

Cái cảnh trăng tròn gió mát, hồ lặng trời xanh của Trung thu lại làm các em vui cười hớn hở.

Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười, hớn hở với các em. Đố các em biết vì sao? Một là vì già Hồ rất yêu mến các em. Hai là vì Trung thu năm ngoái, nước ta còn bị áp bức, các em còn là bầy nô lệ trẻ em. Trung thu năm nay nước ta đã được tự do và các em đã thành những người tiểu quốc dân của một nước độc lập.

Hôm nay, tha hồ các em vui chơi cho thỏa chí, ngày mai mong các em ra sức học tập, tất cả các em đã biết chữ quốc ngữ chưa? Em nào chưa biết thì phải học cho biết. Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang. Và ra sức giúp việc cho Nhi đồng cứu vong hội.

Đến Trung thu năm sau, chúng ta sẽ tổ chức một cuộc vui cả già lẫn trẻ. Các em nghĩ thế nào?

Trung thu này, già Hồ không có gì gửi tặng các em. Chỉ gửi tặng các em 100 cái hôn thân ái!”.

(Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng 12/9/1951
Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập6, tr299-301)

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc còn nhiều gian khó vất vả, Bác cũng không quên gửi thư động viên, an ủi các em nhân ngày Tết Trung thu. Bởi vì nhẽ ra những ngày này các em phải được vui chơi, được sống trong sự yêu thương chăm sóc của người thân. Vì thực dân cướp nước, vì tương lai của đất nước mà các em cũng phải theo gia đình đi kháng chiến. Có nhiều em nhỏ còn tham gia giúp đỡ bộ đội, không quản ngại khó khăn, vất vả nơi rừng thiêng nước độc. Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng năm 1948, Người viết: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Trong những năm kháng chiến đầy cam go và khó khăn tuy thiếu thốn đủ bề nhưng với sự quan tâm và động viên của Bác đã khiến cho thiếu niên nhi đồng càng cố gắng học tập, rèn luyện và giúp đỡ người lớn những công việc phù hợp với sức vóc của mình.

Trung thu năm 1949, Bác viết: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì cho các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Trung thu năm 1951, Người mở đầu thư gửi cho thiếu niên nhi đồng bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Trung thu năm 1952, Bác gửi cho các em thiếu nhi những lời nhắn nhủ dạy bảo ân cần:

“Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh.”

Đây là giai đoạn đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go nhất nhưng Bác vẫn không quên bày tỏ niềm thương nhớ tới các em thiếu nhi ở mọi miền của đất nước. Trong thư của Người gửi có ẩn chứa nỗi buồn lo cho các em và cũng biểu dương tinh thần dũng cảm của thiếu nhi.

Trung thu năm 1953, Người gửi thư cho các em với mong muốn: “Thu sau so với thu này vui hơn”. Trung thu năm 1954, sau chín năm trường kỳ kháng chiến đã giành được thắng lợi, lúc này các cháu thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Người không quên gửi thư chúc thiếu nhi: “Vui vẻ, mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành”. Nhưng niềm vui của Bác dường như vẫn chưa được trọn vẹn, vì Người còn một nỗi niềm trăn trở về các cháu miền Nam còn đang phải sống trong cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Điều đó được thể hiện ở hai câu thơ cuối:

“Đến ngày Nam Bắc vui chung

Các cháu xúm xít thì lòng ta vui”.

BH2
Ảnh Tư liệu

Đã 43 năm trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng và 37 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, những ngày Tết Trung thu của các cháu thiếu niên nhi đồng ngày càng đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn trong tình yêu thương của gia đình và sự quan tâm của xã hội. Nhưng trong trái tim của mỗi người con đất Việt, nhất là của các cháu thiếu niên nhi đồng hôm nay cứ đến ngày này lại thổn thức nhớ về Người. Nhớ về tình yêu thương bao la, tấm lòng nhân hậu của Bác.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Quốc vương Cam-pu-chia đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Quốc vương Cam-pu-chia Prẹ Bạt Xăm-đéc Prẹ Bô-rôm-niết Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni cùng Đoàn đại biểu Hoàng gia Vương quốc Cam-pu-chia thăm chính thức nước ta từ ngày 24/6/2012 đến ngày 26/9/2012. Đây là chuyến thăm lần thứ thứ 4 của Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni kể từ khi đăng quang năm 2004 và mỗi lần sang thăm chính thức Việt Nam, Ngài Quốc vương đều dành thời gian đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ sự kính trọng đối với vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Quoc vuong Campuchia
Quốc vương Cam-pu-chia Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni và Đoàn đại biểu cấp cao
Hoàng gia Cam-pu-chia đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Trong khuôn khổ chuyến thăm lần này, sáng ngày 25/8/2012, Ngài Quốc vương và Đoàn đại biểu Hoàng gia Vương quốc Cam-pu-chia đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Quốc vương Cam-pu-chia Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni và Đoàn đại biểu cấp cao Hoàng gia Cam-pu-chia bày tỏ lòng thành kính và ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. ”

Với sự gần gũi về địa lý, lịch sử và văn hoá, quan hệ giữa Việt Nam và Cam-pu-chia có truyền thống lâu đời, được bồi đắp bằng mồ hôi và xương máu của nhân dân hai nước. Vượt qua mọi thăng trầm của lịch sử, Việt Nam và Cam-pu-chia đã tạo dựng tình hữu nghị đặc biệt và mối quan hệ hợp tác toàn diện vì lợi ích thiết thực.

Những bước phát triển trong quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia trong những năm qua đã góp phần tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia. Quan hệ chính trị tin cậy giữa hai nước là cơ sở để phát triển hiệu quả các mối quan hệ hợp tác song phương về kinh tế thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, nông – lâm – ngư nghiệp, du lịch, hàng không, năng lượng điện, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao, khoa học kỹ thuật, đối ngoại và an ninh quốc phòng, góp phần thắt chặt và phát triển mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện Việt Nam – Cam-pu-chia vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và thế giới.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Diễn đàn Đông Dương (6-1923)

Nhờ độ lượng mẫu từ của nước Pháp bảo hộ, Đông Dương thật đã trở thành một chỗ náu thân cho bọn làm bậy.

Ông Bôđoanh mặc dù có bị tố cáo hẳn hoi về tội giả mạo và dùng giấy tờ giả mạo, bây giờ cũng cứ là toàn quyền.

Ông Đáclơ nguyên bán cháo, trước là quan cai trị tỉnh, bị lên án là ǎn hối lộ, là cường hào và đã gây ra cuộc nổi dậy đẫm máu ở Thái Nguyên, đã được chính phủ thuộc địa cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn.

Ông Têa, kỹ sư và giám đốc một hãng buôn lớn, bị tố cáo là có tội nhũng lạm mà không bị rầy rà gì.

Giờ đến lượt Buđinô, viên quan cai trị này bị kiện: đã đút túi số tiền lời một cuộc chợ phiên tổ chức nhân dịp khánh thành tượng đài tử sĩ; đã đòi và nhận một món tiền “bồi thường” lớn trả cho sự có mặt của mình trong buổi chôn cất một mụ nhà giàu bản xứ, đã đòi những món tiền lớn chè lá khi cấp một giấy phép hay giấy lệnh nào đó.

Cuối cùng, đã lợi dụng, trong mọi trường hợp quyền hành quan cai trị (mà nước Pháp có chủ quyền đã uỷ thác cho) để làm đổ mồ hôi sôi nước mắt người bị trị và để cho phình ví tiền của ông ta. Nhưng lời kết tội nặng nhất là thế này: Làng Tân An (Nam Kỳ) có một nhà máy điện. Việc khai thác có lợi và phố xá, nhà cửa trong làng có điện sáng mà không phải trả tiền. Quan cai trị Buđinô buộc làng phải nhượng không nhà máy cho một anh thầu khoán đã có vi thiềng cho ông ta.

Ít lâu sau, làng phải trả tiền điện dùng ngoài phố và trong nhà. Thấy hàng nghìn điều bất lợi, họ mới biết mình tự quản nhà máy thì lợi hơn. Họ phải bỏ ra mấy chục ngàn đồng để chuộc lại cái mà họ đã phải “nhượng không”. Lần thứ hai này, vị quan cai trị đút túi thêm mấy tờ bạc lớn nữa.

Bị kiện vì tội buôn bán người chết, bóc lột người sống, tham ô lộ liễu, quan cai trị Buđinô vừa được công lý Pháp cho trắng án. Ngày mai có thể ông ta còn được huân chương.

Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm.

Vǎn minh là như thế đó.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

Trò Méclanh (6-1923)

Trong khi chờ đợi đi khai hoá những người Đông Dương tại Đông Dương, ngài thái thú Méclanh muốn hãy khai hoá những người Đông Dương đã chết, các người biết đấy, những người chết cho Tổ quốc, cho công lý, và vân vân, ở Pháp.

Cười ở nghĩa trang là một cái thú của những bậc vĩ nhân (1) , nhưng ở đấy mà cười một mình thì có thể là vô duyên. Vì vậy, bữa nọ, quan lớn Mácxian Méclanh ra lệnh cho đoàn thanh niên Annamít được trợ cấp theo ngài đến Vườn Người Chết ở Nôgiăng trên sông Mácnơ vì ở đó sẽ được đọc một bài diễn văn do ngài chứng giám. Bài diễn văn trước khi đọc cho công chúng, phải trình lên quan lớn để ngài duyệt. Người ta đã trình và bài diễn văn bị coi là quá ngỗ ngược, quan lớn ra lệnh cứ việc bỏ đi để thay thế bằng một bài khác mà quan lớn cho dàn ý.

Cố nhiên, bài diễn văn xào nấu trong các thứ nước cốt của quan lớn như vậy, thì hương vị của lòng trung thành và lòng ái mộ bất diệt đối với nước Pháp phải xông lên đến ngạt mũi…

Nếu người chết nói được, như bọn đồng cốt bảo thế, thì những hồn ma An Nam ở Nôgiăng sẽ lên tiếng: “C…ảm ơn ông toàn quyền! Nhưng xin làm ơn… cút đi cho!” (1) .

N.

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Thư gửi Trung ương Đảng Cộng sản Pháp (7-1923)

Các đồng chí,

Những nghị quyết của Đại hội lần thứ II của Quốc tế (35) về vấn đề thuộc địa đã mang lại hai tác dụng đồng thời nhưng lại hoàn toàn trái ngược nhau. Một mặt, chủ nghĩa đế quốc đi áp bức – ngừa trước những kết quả có thể xảy ra của chính sách đó nếu nó được thi hành nghiêm túc – đã đề phòng và tăng gấp bội những hoạt động tuyên truyền, ngu dân và đàn áp. Mặt khác, nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa, được tiếng vang của cách mạng thức tỉnh, đã hướng theo bản năng của họ về Quốc tế của chúng ta, một chính đảng duy nhất mà họ hy vọng là sẽ quan tâm đến họ một cách thân thiết, mà họ hoàn toàn mong mỏi là sẽ mang lại cho họ sự giải phóng. Như vậy, chúng ta sẽ có thể không những đánh đổ uy thế của chủ nghĩa thực dân bóc lột và lay chuyển vị trí của chúng, mà còn có thể biến mối cảm tình thuần tuý tình cảm và thụ động của các dân tộc thuộc địa đối với chúng ta thành mối cảm tình hành động, nếu những nghị quyết của Quốc tế được chấp hành. Khốn nỗi cho đến nay, những nghị quyết ấy chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy! Phân bộ Pháp, phân bộ Anh và những phân bộ các nước thực dân khác đã làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những phân bộ ấy đã có một chính sách thuộc địa và một cương lĩnh rõ rệt về thuộc địa, chính xác và liên tục chưa? Những chiến sĩ của các phân bộ ấy có hiểu thuộc địa là gì và tầm quan trọng của thuộc địa là như thế nào không? Người ta có thể trả lời là không.

Đối với các thuộc địa Pháp,

a) một ban nghiên cứu thuộc địa đã được thành lập;

b) một mục viết về thuộc địa đã được mở ra trên báo L’Humanité;

c) những lời tuyên bố ủng hộ dân chúng thuộc địa đã được phát biểu trong các đại hội toàn quốc;

d) hai cuộc hành trình tuyên truyền đã được các đại biểu của Đảng tiến hành.

Sau khi được thành lập ít lâu và khi đã giành được không phải là không chật vật những cột báo trên tờ L’Humanité, Ban nghiên cứu thuộc địa đã hoạt động khá tốt. Những tài liệu và tin tức có giá trị đã bắt đầu được gửi từ các thuộc địa đến Ban. Chiến dịch mà Ban tiến hành trên báo Đảng nhằm chống những nhũng lạm và tội ác của bè lũ thực dân, đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của dân chúng các thuộc địa và mang lại nỗi lo lắng cho chủ nghĩa đế quốc thực dân và báo chí của nó. Nhưng diễn đàn ấy đột nhiên đã bị báo L’Humanité bỏ đi. Bị tước mất phương tiện công tác và hoạt động, Ban lâm vào tình trạng hoàn toàn bị tê liệt. Điều đó đã làm cho giới báo chí to lớn của giai cấp tư sản rất hài lòng, những báo chí này đã dành rất đều đặn hàng bao nhiêu trang cho công tác tuyên truyền thực dân và luôn luôn sợ bị cải chính và lật mặt nạ.

Điều đó đã đặc biệt gây những ấn tượng rất nặng nề cho dân bản xứ. Mặc dầu là hão huyền, những lời tuyên bố trong các đại hội toàn quốc ủng hộ dân chúng các thuộc địa cũng đã góp phần củng cố mối cảm tình mà họ đã có đối với Đảng. Tuy nhiên thật là không thích đáng nếu cứ lắp đi lắp lại mãi một điều mà không làm gì cả. Và những người bị áp bức khốn khổ thấy chúng ta chỉ luôn luôn hứa hẹn nhưng cũng luôn luôn không hành động gì thì bắt đầu tự hỏi rằng không biết thực ra chúng ta là những người đứng đắn hay là những kẻ lừa phỉnh. Cuộc hành trình của các đồng chí Vayăng Cutuyariê và ăngđrê Béctông qua Angiêri và Tuynidi, tiến hành hầu như cùng một lúc với các cuộc dạo chơi đế vương của bọn đại biểu tư sản, đã được dân chúng châu Phi rất hoan nghênh. Nếu những cuộc hành trình cùng một tính chất như thế được tiếp tục trong tất cả các thuộc địa thì chắc chắn là kết quả sẽ đáng mừng.

Nhưng, đáng lẽ phải tăng cường tuyên truyền thì chúng ta lại đã bỏ dở cái việc đã được bắt đầu, và bỏ mất những cơ hội tốt. Bởi thế, chúng ta đã làm rất ít trong khi xảy ra cuộc bãi công đẫm máu ở Máctiních, cảnh chết đói ở Bắc Phi và cuộc nổi dậy ở Đahômây.

Trong trường hợp sau chót này, chúng ta đã có một bộ mặt thiểu não. Nhiều ngày sau tất cả các báo tư sản và mười ngày sau báo L’Oeuvre, báo Đảng mới đăng tin về cuộc nổi dậy. Trong lúc chính phủ thuộc địa đã thiết quân luật, tập trung quân đội, huy động chiến hạm, huy động các bộ máy đàn áp, bắt bớ và kết án các nhà hoạt động từ 5 đến 10 năm tù; trong lúc các báo chí viết thuê đã tiến hành một cách có hệ thống một chiến dịch lừa dối và bưng bít dư luận thì chúng ta chỉ viết có hai hay ba bài báo ngắn, rồi thôi. Không phải là không mỉa mai và không đáng buồn khi trong bóng tối của những ngục tù có tính chất khai hoá, những người anh em Đahômây đau khổ của tôi đọc điều thứ 8, trong số 21 điều kiện, nói rằng: “Mỗi đảng cam đoan tiến hành một công tác cổ động có hệ thống trong quân đội nước mình nhằm chống mọi ách áp bức dân chúng thuộc địa; và mỗi đảng phải ủng hộ, không những bằng lời nói mà cả bằng hành động, phong trào giải phóng của các thuộc địa”.

Nhưng thật là vô ích nếu buộc tội quá khứ và tiếc rẻ thì giờ đã mất. Tốt nhất là biết sử dụng tốt thì giờ trong tương lai. Vậy chúng tôi yêu cầu Đảng:

1) chính thức thừa nhận Liên đoàn Máctiních (nhóm Giăng Giôrét);

2) mở lại mục viết về thuộc địa trong báo L’Humanité;

3) yêu cầu Ban nghiên cứu thuộc địa cung cấp tài liệu cho phân bộ thuộc địa và cứ hai hoặc ba tháng một, báo cáo công tác của

mình với phân bộ;

4) ở những nơi đã thành lập phân bộ thuộc địa thì khuyến khích các phân bộ này tăng cường công tác tuyên truyền và tuyển thêm người bản xứ;

5) trên tất cả báo chí của Đảng, mở một mục viết về thuộc địa để làm cho độc giả làm quen với các vấn đề thuộc địa;

6) nói đến các thuộc địa trong hết thảy các đại hội, mít tinh hoặc hội nghị của Đảng;

7) cử các nghị sĩ đi thăm các thuộc địa, mỗi khi nền tài chính của Đảng cho phép;

8) tổ chức những nghiệp đoàn hoặc thành lập các nhóm tương tự ở các thuộc địa.

Mátxcơva, tháng 7 năm 1923
NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu viết tay, tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

——————————————-

(35) Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 8-1920. Tại Đại hội này, Lênin đã nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân để giữ vững nguyên tắc mácxít trong các đảng cộng sản. Đại hội đã thông qua 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản và thông qua bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do Lênin dự thảo, nhằm vạch ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc cho nhân dân các dân tộc bị áp bức. Tr.194.

Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp (1923)

Các bạn thân mến,

Bao lâu nay chúng ta làm việc với nhau.

Mặc dầu chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thân yêu nhau như anh em.

Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta.

Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc, vì chúng ta có tất cả dân tộc của chúng ta ủng hộ và vì những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính, đứng bên cạnh chúng ta.

Công việc chung của chúng ta “Hội Liên hiệp thuộc địa” (34) và tờ báo NGƯỜI CÙNG KHỔ (1) đã có những kết quả tốt. Nó đã làm cho nước Pháp, nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa. Làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự của nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nó cũng khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do bình đẳng và bác ái. Nhưng chúng ta còn phải làm nhiều hơn.

Chúng ta phải làm gì ?

Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc.

Điều đó tuỳ hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta.

Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập.

Có lẽ một vài người trong các bạn cũng phải và có thể làm như tôi. Còn các bạn khác thì tiếp tục công việc hiện thời của chúng ta: củng cố “Hội liên hiệp thuộc địa” và phát triển tờ báo NGƯỜI CÙNG KHỔ của chúng ta.

Các bạn thân mến,

Tôi từ giã các bạn. Tôi xa các bạn, nhưng lòng tôi luôn luôn gần các bạn.

Các bạn tha lỗi cho tôi không hôn các bạn trước khi đi. Các bạn biết rằng tôi bị theo dõi riết.

Khi các bạn được thư này, Nguyễn của các bạn ít nhất cũng đã xa nước Pháp 24 giờ rồi.

Đại, người đồng hương của tôi, sẽ giao lại cho ông B. thìa khoá của toà báo, giấy tờ và tài liệu của Hội và của tờ báo, cũng như quỹ của tờ báo. Tôi đã trả tiền thuê nhà cho toà báo đến cuối nǎm. Tiền in cũng đã thanh toán. Chúng ta không mắc nợ ai. Sổ thư viện để ở trong ngǎn kéo bên phải. Sách cho mượn đã lấy về, trừ những sách cho những hội viên đi nghỉ mượn.

Nói tóm lại, các việc đều đâu vào đấy trước khi tôi đi.

Tôi sẽ viết thư cho các bạn. Nhưng tôi không dám hứa với các bạn, vì không phải dễ viết thư khi người ta hoạt động bí mật. Dù tôi có viết thư cho các bạn hay không, các bạn hãy tin chắc rằng lòng tôi luôn luôn yêu các bạn. Nhờ các bạn bắt tay những người bạn Pháp của chúng ta.

Bây giờ, một vài lời với cháu trai và cháu gái.

Các cháu rất yêu chú và chú cũng rất yêu các cháu, phải không các cháu ? Chú sẽ nói với những người bạn nhỏ Việt Nam là các cháu rất ngoan. Chú sẽ thay mặt các cháu bắt tay các bạn nhỏ Việt Nam.

Có lẽ rất lâu, các cháu sẽ không được thấy chú Nguyễn, không được leo lên đùi, lên lưng chú như các cháu thường làm. Và cũng rất lâu chú sẽ không thấy cô Alítxơ (Alice) và cậu Pôn (Paul) của chú. Khi chú cháu mình gặp nhau, có lẽ chú đã già, các cháu đã lớn bằng ba và má. Điều đó không ngại gì. Chú sẽ luôn luôn nhớ đến các cháu. Các cháu luôn luôn vẫn là cô bé Alítxơ và cậu bé Pôn thân yêu của chú.

Các cháu ngoan. Học thuộc bài. Vâng lời cha mẹ. Đừng đánh con chó nhỏ Mariuýt (Marius) của các cháu. Khi các cháu đã hơi lớn, các cháu sẽ đấu tranh cho Tổ quốc của các cháu cũng như ba má, chú Nguyễn và những chú khác.

Các cháu nhỏ thân yêu của chú, chú hôn các cháu rất kêu. Các cháu hôn mẹ hộ chú.

Chú Nguyễn

In trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 51-54.
Theo bài in trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch
cpv.org.vn

———————————

(34) Hội Liên hiệp thuộc địa: Một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các nước thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921, tại Pari. Lúc đầu Hội có 200 hội viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập là Hội những người An Nam yêu nước và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban thường vụ của Hội gồm 7 người, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của Hội là báo Le Paria. Đến nǎm 1926, Hội ngừng hoạt động. Tr.191.

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Tệ độc đoán ở Đông Dương – Người được bảo hộ và người đi bảo hộ (7-1923)

Ông Cẩm Đà Lạt (Trung Kỳ) có một cách hiểu vai trò khai hoá của mình đến là hay. Một hôm, người cộng tác rất xứng của ông Xarô này cần đến ván gỗ. Ông ta sai người đến kiếm ván ở nhà một người bản xứ làm nghề buôn bán. Nhà buôn này đòi phải trả tiền rồi mới được mang hàng đi. Nghe lời yêu cầu này, ông Cẩm nổi giận, phái ngay lực lượng vũ trang đến với nghiêm lệnh là dù “sống hay chết” cũng phải bắt cho được tên An Nam đó về sở.

Để tránh cơn giận của vị đại diện cho nước bảo hộ, nhà buôn không kể gì đang ốm cũng đành phải bỏ cả nhà cửa quê hương lánh sang tỉnh khác.

Một thầy thuốc người Âu chứng kiến tấn trò kể trên đã can thiệp để bênh vực nhà buôn bản xứ. Vụ can thiệp “chướng tai gai mắt” này làm cho viên thầy thuốc bị đổi đi, bị đày lên Kon Tum, một nơi nước độc mà người Âu rất sợ. Chính đấy là nơi mà viên thầy thuốc đó đang đền cái tội thân người bản xứ của ông. Trong khi ấy thì bọn Đáclơ, Bôđoanh vẫn ung dung phè phỡn trong vinh dự và khoái lạc. Kẻ mắc cái tội xúc phạm uy tín kể trên là bác sĩ Hôngxtarich. Chúng tôi xin tỏ tấm cảm tình của chúng tôi đối với ông ấy.

Còn nhà buôn An Nam thì sau ra sao ? Anh ta bị ghi tên vào sổ những người bị tình nghi, liệt vào hạng “chống Tây”, vào số những kẻ cần theo dõi. Một bầy mật thám Pháp và An Nam bám riết theo gót anh ta. Nhiệm vụ của bọn này là ghi từng giờ từng phút mọi hành động cử chỉ của anh ta, và tô đen tất cả mọi ý định của anh.

Công cuộc theo dõi này được tiến hành một cách khá lộ liễu để làm cho bạn bè quen thuộc của người An Nam này phải chùn lại không dám lai vãng nhà anh nữa, đến nỗi đời sống của anh trở nên hết sức khó khǎn. Bất cứ thế nào cũng không một người bản xứ nào dám đến nhà anh. Hoàn toàn bị cô lập với đồng bào của mình, nhà buôn này chỉ còn có hai con đường: hoặc đi ǎn cướp, hoặc đi ǎn mày. Nhưng cái nghề thứ hai này có thể lại làm cho anh càng đáng khả nghi hơn vì kiếp sống lang thang.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 16, tháng 7-1923.
cpv.org.vn

Phong trào công nhân (9-11-1923)

Theo những số liệu thống kê cuối cùng thì số lượng những người vô sản ở Trung Quốc là 5050 nghìn người. Gần 15 tổ chức thống nhất giai cấp vô sản ở Trung Quốc, tính ra khoảng 300 nghìn đoàn viên. Họ được phân bố như sau:

Số lượng
công nhân (nghìn)

Đoàn viên
công đoàn (nghìn)

Ngành công nghiệp điệnNhững người phục vụ

Ngành công nghiệp máy khâu

Công nhân xây dựng

Ngành làm muối

Nghề kéo xe

Ngành in

Ngành dệt

Ngành làm mũ

Ngành công nghiệp thuốc lá

Nghành đào đất (thợ đấu)

Ngành mỏ

Ngành đường sắt

Ngành giao thông đường biển

Ngành công nghiệp luyện kim

Các ngành khác

100

400

300

300

300

200

80

180

200

100

800

420

100

80

200

–

5

8

7

8

10

10

10

10

14

18

30

26

42

45

50

7

Trong các yêu sách của giai cấp vô sản có tổ chức của Trung Quốc, chúng tôi thấy có những điểm sau đây:

1. Tự do hội họp. 2. Quyền tổ chức các công đoàn và các cuộc đình công. 3. Ngày lao động 8 giờ cho người lớn và 6 giờ cho thiếu niên và những người làm việc nặng. 4. Bảo vệ những người tiểu nông. 5. Cấm làm việc quá giờ trong những xí nghiệp độc hại và cấm sử dụng lao động trẻ em và phụ nữ vào việc làm ban đêm. 6. Hằng năm công nhân được nghỉ hai tuần, đối với phụ nữ làm công việc nặng nhọc thì được nghỉ 8 tuần trước khi đẻ và 8 tuần sau khi đẻ; 6 tuần nghỉ đẻ đối với phụ nữ làm công chức và làm các công việc nhẹ. 7. Ban kiểm tra của công nhân. 8. Luật bảo hiểm đối với công nhân. 9. Nhà nước có trách nhiệm giúp đỡ các tổ chức công nhân của những người lao động được học hành.

Chỉ sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu được tổ chức một cách chặt chẽ, song họ đã thu được một số thắng lợi to lớn trong các cuộc đình công. Mặc dù bị bọn quân phiệt đàn áp và bọn thống trị ngoại lai cản trở, các tổ chức của họ vẫn phát triển bình thường và có thể nói là nhanh nữa. Hiện nay những người thuỷ thủ, công nhân luyện kim, công nhân đường sắt là những lực lượng thật sự mà bọn tư bản buộc phải coi trọng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 9-11-1923.
cpv.org.vn

In trong sách Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr 71-72.

Dịch theo bài in trong sách Những bài viết và nói chọn lọc.

20 năm kể chuyện Bác Hồ

truyen1Ông Nguyễn Ngọc Truyện

21 năm qua, ông Nguyễn Ngọc Truyện (thường gọi là Năm Truyện) ở 42 Bùi Văn Danh, phường Mỹ Xuyên, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang không ngừng tìm tòi, ghi chép và kể lại hàng trăm câu chuyện về cuộc sống bình dị, thanh tao của Bác Hồ.

“Hiểu về Bác một mình thì uổng quá”

Ông Năm Truyện sinh năm 1925. Tháng 10 năm 1946, ông tham gia kháng chiến, theo đoàn quân tập kết ra Bắc vào năm 1954. Sau đó, ông được cử đi học Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Tốt nghiệp ra trường với tấm Bằng Cử nhân kinh tế, ông tham gia giảng dạy tại trường Thương nghiệp miền Bắc.

Ông Nguyễn Ngọc Truyện may mắn được gặp Bác hai lần, hình ảnh về Bác đã in đậm trong tâm trí của người một thời là lính Cụ Hồ.

Ông kể về lần đầu gặp Bác: “Lúc đó trường Thương nghiệp mượn nhà lá của Trường Công an (C500) để dạy học. Hôm đó, đang giảng bài cho sinh viên thì hay tin Bác Hồ đến thăm, tôi vội vàng chạy theo đám người đi xem mặt Bác. Nhưng mà thật buồn khi gần ngay trước mắt đó mà không thể hỏi thăm sức khỏe, không được trò chuyện cùng Người”.

Lần thứ hai, ông Năm Truyện được gặp Bác khi Người đến thăm binh chủng bộ binh ở Xuân Mai, Hà Tây. Từ lòng kính yêu đối với Bác, từ sự khâm phục ý chí, cuộc đời hoạt động Cách mạng của Người đã thúc đẩy ông Năm Truyện sưu tầm, lưu giữ những tài liệu quý, để một ngày nào đó được viết về Bác.

Năm 1975, ông Năm Truyện trở về Long Xuyên và làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Thương nghiệp Miền Nam.

Bận bịu với công việc của một nhà giáo, mong ước viết sách về Bác đành gác lại. Tuy nhiên, ông vẫn tích cực sưu tầm tư liệu thông qua việc đặt báo, tìm sách.

Năm 1998, chị Nguyễn Thị Tuyết Nga, con gái ông có dịp đi công tác ra Hà Nội, lúc về được ghé thăm quê Bác. Biết ba mình đam mê sưu tập tư liệu về Cụ Hồ, chị đã tìm những cuốn sách hay nhất viết về Người của Nhà xuất bản Nghệ An đem về tặng ba.

Với một lượng tư liệu khổng lồ, phong phú, lên tới vài nghìn đầu báo, đầu sách, ông Năm say sưa đọc, nghiền ngẫm mà không biết chán. Với ông, những câu chuyện về cuộc đời Bác Hồ vô cùng bình thường, giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều điều cao quý về đạo lý làm người. Lúc nghỉ hưu, ông đã có thời gian thực hiện mơ ước là viết cuốn sách, tập hợp những mẩu chuyện về cuộc đời của Bác.

Ông Năm chia sẻ: “Tôi đọc tư liệu về Bác Hồ, tôi hiểu về Bác một mình thôi thì uổng quá! Cho nên tôi “tập viết” thành sách để có thể giáo dục cho mình, đồng thời để giáo dục cho nhiều người khác, nhất là thế hệ thanh niên, làm cho cuộc đời này tốt hơn”.

“Ra đi Bác dặn còn non nước…”

83 tuổi đời, 61 năm tuổi Đảng, ông Năm Truyện vẫn còn miệt mài với sách bút, với tài liệu và những câu chuyện về Bác Hồ

Từ năm 1988, ông Năm Truyện đã đặt bảy đầu báo ngày, 15 đầu báo xuân và lang thang khắp nơi để tìm những cuốn sách hay về Bác. Nghe tin ở đâu có sách hay và mới là ông tìm đến xem bằng được.

Từ việc thai nghén đó, cộng thêm việc đảm nhiệm vai trò làm công tác tuyên giáo ở Đảng ủy Phú Xuyên và phụ trách tờ tin (phát hành hàng tháng), ông đã nghĩ ra cách giới thiệu về cuộc đời Hồ Chủ tịch qua những mẩu chuyện in trên tờ tin.

Cứ mỗi số, ông lại tìm tòi, chắt lọc và đưa ra một câu chuyện trên đó. Tổng cộng, có 70 truyện đã được đăng tải. Mẩu chuyện đầu tiên là “Nguyễn Tất Thành trên tàu La tu sơ Tờ rê vin”, sau này đổi tên thành “Từ thành phố này Người đã ra đi”.

Thế rồi với quá trình miệt mài làm việc, đến quý II năm 1999, cuốn sách đầu tay của ông Năm Truyện đã được hoàn thành gồm 100 mẩu chuyện.

Cuốn sách mang tên “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”, năm 2000, khi Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành cuốn sách, đã đổi tên thành “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Cuốn sách ra đời nhân kỉ niệm 110 năm Ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19/05/1890 – 19/05/2000.

Trên cơ sở cuốn “Ra đi Bác dặn còn non nước”, ông Năm Truyện đã bổ sung thêm 150 mẩu chuyện mới về Bác và bốn tiểu sử của những người thân của Bác thành cuốn “Hồ Chí Minh – Cứu tinh dân tộc Việt”.

Quyển sách này đươc biên soạn trong thời gian hai năm (2000-2002). Đây là cuốn sách mà ông trân trọng nhất bởi nó được bổ sung vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh nhân kỉ niệm 118 năm Ngày sinh của Người (19/05/1890 -19/05/2008).

Ngoài hai cuốn sách đã được phát hành nói trên, sau khi có cuộc vận động Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Truyện còn viết thêm hai cuốn sách nữa. Đó là cuốn “Cánh sen vàng” viết từ 15/10/2006 đến 19/05/2007 có 120 mẩu chuyện, trong đó có 22 mẩu chuyện phục vụ đợt học tập: Sửa đổi lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kiệm liêm chính, muốn gần dân thì đừng xa dân…

Nếu như các cuốn sách đã viết và xuất bản trước đó là sự chắt lọc những mẩu chuyện về cuộc đời Bác thì đến cuốn “Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác” lại đi ngược lại – khai thác khía cạnh lòng dân với Bác. Cuốn sách được viết từ 10/06/2007 – 09/11/2007) gồm 79 mẩu chuyện.

Mở đầu là câu chuyện “Ngôi mộ cánh sen” ở Đồng Tháp. Cả cuốn sách là 79 bông hoa tươi đẹp, chứa đựng tấm lòng của cả dân tộc với Bác Hồ kính yêu. Cuốn sách được NXB Thanh Niên phát hành vào Ngày Quốc khánh 02/09.

Có nhà báo viết rằng: “Nếu như cần khai thác, thì các tác phẩm của ông Năm Truyện hoàn toàn đủ chất liệu cho nhà thơ, nhà làm phim, nhà viết sử, nhà nghiên cứu…hoàn thành tác phẩm lớn về Bác”.

Trong căn nhà nhỏ trên đường Bùi Văn Danh, ảnh Bác Hồ được đặt ở vị trí cao nhất trên ban thờ tổ tiên. Ngoài ra, ảnh Hồ Chủ tịch còn được treo khắp nơi trong phòng khách. Hai tủ sách lớn sưu tập tư liệu về Bác Hồ luôn được che phủ cẩn thận để tránh bụi bám vào.

Ông Năm Truyện tâm sự: “Tôi hạnh phúc vì mình đã góp phần vào công giới thiệu cuộc đời bình thường, giản dị của Bác Hồ đến với người dân”.

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Không phải chủ nghĩa quân phiệt đâu, nhưng… (28-9-1923)

Ông Clêmǎngxô đã chứng minh rất rành rọt cho thế giới nói chung, và cho người Mỹ nói riêng rằng nước Pháp không phải là một nước quân phiệt, cũng không phải là một nước đế quốc chủ nghĩa, hoàn toàn chẳng phải thế đâu nhé!

Thế nhưng ông ácsimbô lại vừa mới làm cho tiêu mất đôi chút cái vẻ mỹ miều của những lời nói của “Ông Cọp”, khi ông ácsimbô viết trong bản báo cáo vừa rồi của ông ta về ngân sách thuộc địa rằng:

Nǎm 1914, quân đội chiếm đóng gồm có 1.852 sĩ quan, 17.290 hạ sĩ quan và lính người Âu, 42.099 người bản xứ; lại phải thêm vào số đó 1.979 người trong các đội cảnh vệ bản xứ của Đahômây, Ghinê và Bờ Biển Ngà, hiện nay những đội lính này đã được thay thế bằng những đội quân chính quy. Tổng cộng quân số là 63.220 người.

Từ sau chiến tranh, người ta đã phải thiết lập tại các khu vực uỷ trị, Tôgô và Camơrun, những trại lính mà quân số lên tới 1.712 người.

Ngoài ra, còn phải thành lập, nhất là tại Tây Phi thuộc Pháp, những đơn vị đặc biệt để tuyển mộ, đǎng ký nhập ngũ và huấn luyện số binh lính người bản xứ phục vụ ở Pháp hoặc ở nước ngoài. Các đơn vị đó đã thu hút 2.237 người, trong đó có 271 sĩ quan và hạ sĩ quan người Âu.

Sau hết, con số những người bản xứ phục vụ ở Pháp hoặc ở nước ngoài, và do các thuộc địa trực thuộc Bộ Thuộc địa cung cấp, là 45.000 người.

Nếu chúng ta nói thêm rằng, chỉ riêng ở Đông Dương, chi phí về quân sự nǎm 1921, cũng đã hơn 35.600.000 phrǎng, trong khi đó ngân sách giáo dục có không đầy 350 nghìn đồng bạc và ngân sách về y tế không đầy 65 nghìn đồng bạc thì sẽ thấy ngay tất cả sự tốt đẹp của chế độ thực dân của cái nước Cộng hoà Pháp rất nhân từ và đã tài giảm quân bị này.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1923.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (1923)

ĐÔNG DƯƠNG, TÓM TẮT

Chính trị

Không có chính đảng: Đất nước bị cai trị theo cách như sau:

Nam Kỳ và Bắc Kỳ bị cai trị trực tiếp bởi các nhà cầm quyền Pháp với những thuộc hạ người bản xứ.

Trung Kỳ và Campuchia có chính phủ bản xứ của mình mà thực tế chỉ là thực hành các mệnh lệnh của các nhà cai trị Pháp.

Kinh tế

Xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, giao thông vận tải và thương nghiệp lớn, tất cả đều ở trong tay người Pháp. Thương nghiệp hạng vừa có thể nói là người Trung Quốc nắm độc quyền. Người bản xứ chỉ có thương nghiệp địa phương nhỏ.

Xã hội

Dân cư hợp thành xã, những xã hợp thành tổng, những tổng thành huyện, những huyện thành tỉnh.

Dân cư bầu lấy lý trưởng, những lý trưởng bầu lấy chánh tổng. Cuộc bầu cử của nhân dân dừng lại ở đấy.

Những huyện và những tỉnh thì các quan cai trị do chính phủ chỉ định.

Triều đình và quan chức lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp của họ khinh bỉ và nhân dân An Nam ghét.

Thiểu số các nhà nho hay là các nhà trí thức là các nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa. Chính họ đã khích động mọi cuộc nổi dậy trong quá khứ.

Công nhân có thể là 2% trong dân số, không được học hành, không được tổ chức. Do vậy họ không có một lực lượng chính trị nào.

Tiểu tư sản không nhiều, là một phần tử bấp bênh. Nó chịu sự chi phối bởi nhiều thứ triết lý, như là nó hướng vào phong trào dân tộc rất vội vã. Nó nhút nhát.

Quần chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước.

Tuyên truyền tốt trong nông dân và tổ chức tốt trong công nhân nếu chúng ta làm tới được điều đó thì tương lai thuộc về chúng ta.

CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG

1/ Xuất bản một tờ báo nhỏ tiếng Việt.

2/ Tập hợp những phần tử dân tộc cách mạng.

3/ Cố gắng đưa những thanh niên người bản xứ đi Mátxcơva.

4/ Xây dựng dây liên lạc Mátxcơva – Đông Dương – Pari.

HỢP TÁC

 a/ Điều gì mà Đảng có thể làm thì đã liệt kê trong thư gửi cho nó do Ban phương Đông chuyển.

b/ Tổng công hội thống nhất đã hứa làm hết sức mình để 2 hoặc 3 đồng chí người Pháp có thể sang Đông Dương để tổ chức công nhân.

c/ Thanh niên cộng sản Pháp phải lợi dụng chủ nghĩa quân phiệt để đưa những thành viên chắc chắn nhất đǎng lính vào đội quân thuộc địa để dắt dẫn sự tuyên truyền trong những người bản xứ.

2/ Sự giúp đỡ của Thanh niên cộng sản Trung Quốc là tuyệt đối cần thiết cho sự hoạt động ở Đông Dương.

Một cuộc thảo luận giữa những đại biểu của Đảng, của Tổng công hội thống nhất, của Thanh niên và của Ban phương Đông có thể ló ra nhiều ánh sáng khác.

Tài liệu viết tay, tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn