(VOV) – Nhạc sỹ Thanh Phúc viết ca khúc “Hà Nội chiến thắng” và “Trong vườn Bách Thảo” ghi lại trận “Điện Biên Phủ trên không” bằng âm nhạc.
- 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”
- Sống lại ký ức “Hà Nội 12 ngày đêm” trên phim
- Kể chuyện Hà Nội năm 1972 bằng phế liệu chiến tranh
Chúng tôi đến thăm nhạc sĩ Thanh Phúc một sáng mùa đông, trong căn nhà nhỏ ấm cúng ngập tràn hạnh phúc tại khu tập thể Thành Công, Hà Nội – căn nhà nhỏ nơi ông và người vợ yêu dấu của mình đã cùng nhau chia sẻ bao thăng trầm của cuộc sống và cùng nuôi dạy các con trưởng thành. Chính ngôi nhà hạnh phúc này cũng là nơi nuôi dưỡng tầm hồn, nguồn cảm xúc để ông viết nên những ca khúc để đời.
Trưởng thành trong quân ngũ, nhạc sĩ Thanh Phúc đã có rất nhiều trải nghiệm từ cuộc sống chiến đấu và tất cả đã được ông đúc kết gửi gắm trong những sáng tác của mình…..Đặc biệt với thời khắc lịch sử trong trận chiến 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, lúc đó ông đang là phóng viên, biên tập viên làm nhiệm vụ đưa tin chiến đấu cho chương trình phát thanh Quân đội nhân dân của Đài Tiếng Nói Việt Nam. Là “chiến sĩ thông tin”, chứng kiến thời khắc thiêng liêng của lịch sử dân tộc bằng niềm tự hào bằng tình yêu Hà Nội cháy bỏng ông đã sáng tác ngay 2 ca khúc “Hà Nội chiến thắng” và “Trong vườn Bách Thảo” ghi dấu ấn về 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.
Câu chuyện của nhạc sĩ Thanh Phúc với chúng tôi bắt đầu với ký ức về thời trai trẻ, đặc biệt là kỷ niệm của 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” gắn với sự ra đời của hai ca khúc “Hà Nội chiến thắng” và “Trong vườn Bách Thảo”.
PV: Thưa nhạc sĩ Thanh Phúc, đúng thời điểm cách đây 40 năm, lúc đó nhạc sĩ mới 39 tuổi và ông đang là phóng viên, biên tập viên của chương trình phát thanh Quân đội nhân dân. Vậy, không khí làm việc lúc đó như thế nào?
NS Thanh Phúc: Ngày đó biên chế của chương trình phát thanh Quân đội nhân dân ít so với các đơn vị khác của Đài cho nên phóng viên âm nhạc như chúng tôi vẫn phải làm việc như những phóng viên thời sự. Chúng tôi vẫn làm tin, tin thời sự, tin chiến thắng của các đơn vị, quân khu, quân chủng gửi về và từ Miền Nam gửi ra.
Nhạc sĩ cũng làm tin và trực tin 24/24h. Ngày đó tôi còn nhớ, tôi và nhạc sĩ Văn An thường nằm trực tin ở gốc cây sấu cạnh hầm trú ẩn to nhất của Đài và mỗi khi có B52 thì chúng tôi phải xuống hầm trú ẩn. Khi B52 phá hoại xong rồi thì tất cả lại lên và tìm những nơi nào B52 đã phá hoại để đến mà làm tin.
Nhạc sỹ Thanh Phúc và phóng viên VOV
Lúc đó cả Hà Nội rầm rộ, sôi động và mỗi người một dòng suy nghĩ, người dân khác, anh bộ đội khác và nhạc sĩ chúng tôi nghĩ khác nhưng trên tất cả vẫn là vì công việc của mình và chỉ nghĩ đến công việc của mình mà thôi. Quả thật lúc đó tôi không nghĩ được đến gia đình, không biết vợ con thế nào hay khu vực nhà mình ở ra sao, không kịp nghĩ đến nữa và đấy là đặc điểm của thời khắc đó. Nhiệm vụ của nhà báo là phải làm những việc trực tiếp, việc đi trước kịp tính thời sự để đáp ứng thông tin cho nhân dân cả nước.
PV: Trong bầu không khí chiến đấu căng thẳng như thế, nhạc sĩ đã kịp viết hai ca khúc “Hà Nội chiến thắng” và một ca khúc dành cho thiếu nhi có tên là “Trong vườn Bách Thảo”? Ông có thể kể lại hoàn cảnh sáng tác 2 ca khúc này?
NS Thanh Phúc: Vâng, với bài “Hà Nội chiến thắng”, tôi nghĩ là mình đánh không phải là đánh với B52, B52 chẳng qua chỉ là vũ khí, là công cụ trực tiếp của Mỹ thôi còn quân và dân ta đánh với đế quốc Mỹ nên tầm bài hát nó phải khác đi và không phải cứ mô tả cụ thể B52. Tôi viết bài “Hà Nội chiến thắng” là muốn nói rằng Việt Nam chiến thắng.
Đế quốc Mỹ đã đổ bao tấn bom tấn đạn xuống nước mình rồi và cuối cùng phải mang cả B52 cũng không thể đánh thắng được Việt Nam và tôi muốn nói Việt Nam chiến thắng là như thế. Chúng ta chiến thắng không phải bằng kỹ thuật bằng công nghệ mà chúng ta chiến thắng bằng lòng dũng cảm, bằng tất cả trí tuệ thông minh sẵn có của người Việt Nam. Đó là truyền thống đánh thắng giặc ngoại xâm của chúng ta được lưu truyền từ bao đời nay và đó cũng là thông điệp, nội dung của “Hà Nội chiến thắng”.
Nhạc sĩ Thanh Phúc tác giả của hơn 300 ca khúc, trong số đó có 5 ca khúc được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996 đó là: Người Mèo ơn Đảng (1956), Hà Giang quê tôi (1972), Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi (1972), Bài hát Hồ Chí Minh giữa thành phố tên vàng (1975), Nhớ giọng hát Bác Hồ (1969).
Còn bài “Trong vườn Bách Thảo”, tôi sáng tác là vì rất yêu trẻ em. Tôi không có tuổi thơ học trò, đi bộ đội từ năm 13 tuổi nên tôi đã dành rất nhiều tình cảm cho thiếu nhi và rất thích viết cho thiếu nhi. Nhiều bài hát tôi đã viết cho thiếu nhi như: Nhớ giọng hát Bác Hồ, Mùa xuân em đến trường trồng cây….
Bài hát này viết là để dành cho thiếu nhi, để các cháu biết về thời khắc lịch sử của Hà Nội, của đất nước. Vì B52 nó đồ sộ, nó to như thế, đế quốc Mỹ mang cả nghìn tấn bom đạn không thắng được mình nên mình rất tự hào và cần phải lưu truyền niềm tự hào đó đến với các em bằng niềm vui chiến thắng.
Khi hai bài hát này được vang lên trên sóng Đài Tiếng Nói Việt Nam, tôi vẫn nhớ lúc đó không khí rất sôi động và mọi người đón nhận rất nồng nhiệt, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.
PV: Khi viết “Hà Nội chiến thắng”, lúc đó cuộc chiến 12 ngày đêm vẫn đang diễn ra, đất nước vẫn chưa thống nhất. Vậy niềm tin nào khiến nhạc sĩ Thanh Phúc khẳng định Hà Nội sẽ chiến thắng như tựa đề bài hát?
NS Thanh Phúc: Bài “Hà Nội chiến thắng” tôi sáng tác ở tầm khái quát hơn với những ca từ như:
“Hà Nội ơi, Tháp Rùa xưa, soi bóng nước Hồ Gươm.Nắng Ba Đình lung linh ngời non nước.
Hà Nội ơi, tình Bắc Nam một nhà.Có Huế, Sài Gòn cùng chung tay viết trang lịch sử.
Ôi kiêu hãnh Thủ đô ta anh hùng.
Rồng Thăng Long cuộn lửa thiêu cháy pháo đài bay giữa trời Hà Nội.
Thủ đô ta đó, ngàn năm văn hiến là chiến thắng hôm nay…”
Tôi đã viết với niềm tin chiến thắng như vậy. Bởi tôi có lý do để tin Hà Nội sẽ chiến thắng. Vì từ xưa đến nay, nước Việt Nam ta chưa thua kẻ thù ngoại xâm nào, từ thực dân Pháp, phát xít Nhật…rồi đến đế quốc Mỹ – “pháo đài bay” là con chủ bài cuối cùng của Mỹ, mà sự thật thời điểm đó Mỹ cuồng quá rồi mới phải dùng đến “pháo đài bay” nhưng cũng không dọa được ta đâu. Toàn dân, toàn quân ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết chiến, quyết thắng. Với niềm tin đó tôi đã viết nên “Hà Nội chiến thắng”.
PV: Từ niềm tin đó, quân và dân Thủ đô Hà Nội anh dũng đã làm nên chiến thắng oai hùng. Thưa nhạc sĩ, với tư cách là một nhân chứng sống trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cách đây 40 năm, nhạc sĩ muốn nhắn gửi điều gì đến thế hệ trẻ hôm nay?
NS Thanh Phúc: Tôi là một người lính từ lúc 13 tuổi cho đến khi về hưu vẫn giữ vững phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ. Đó chính là niềm tin chiến thắng. Tôi mong rằng thế hệ trẻ hôm nay cũng hãy nêu cao tinh thần đó. Chúng ta hãy luôn sống với niềm tin chiến thắng, chiến thắng trong mọi lĩnh vực, mọi công việc của cuộc sống.
PV: Xin cảm ơn nhạc sĩ Thanh Phúc./.
- “Cánh cụt cánh què” – kỷ niệm khó quên năm 1972
- Chuyện chưa kể về những bức ảnh Hà Nội năm 1972
- “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – bài ca chiến thắng
- Một hình dung khác về Hà Nội năm 1972
- Sống lại thời khắc “Hà Nội – những ngày đêm năm 1972”
- Hà Nội năm 1972 trong cái nhìn từ hai phía
- Olivier Tessier và “Hà Nội những ngày đêm năm 1972”
Hương Loan/VOV3
vov.vn
Ông Phùng Tửu Bôi chia sẻ những kỷ niệm trong buổi ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B52”
Ý chí kiên cường của người Hà Nội
Để có một Hà Nội đẹp đẽ, phát triển như hôm nay, bao người đi trước đã phải hy sinh xương máu
Hai bảo vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại 28A Điện Biên Phủ, Hà Nội.
Máy bay MiG-21 số hiệu 5121, từng được biên chế vào đội hình tiêm kích của Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 Không quân từ tháng 7/1972. Đêm 27/12/1972 (ngày thứ mười của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không), máy bay này do anh hùng Phạm Tuân lái, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái…
Đến vùng trời Sơn La, Phạm Tuân phát hiện mục tiêu B52 và xin phép vào công kích. Do địch chưa phát hiện Mig 21 “bám đuôi”, Phạm Tuân nhanh chóng vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích yểm hộ của địch, bám được B52, công kích bằng 2 quả tên lửa.
Chiếc B52 thứ hai trong đội hình bị trùm trong ‘biển lửa’. Ngay sau đó, Phạm Tuân điều khiển máy bay thoát ly, quay về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn. Ngoài bắn hạ một chiếc B52, chiếc Mig21 còn bắn rơi 4 máy bay khác.
Buồng lái, nơi phi công Phạm Tuân điều khiển máy bay Mig 21, góp phần vào thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không”.
“Bảo vật quốc gia” khác được trưng bày là xe tăng T54 số hiệu 843 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 tham gia tấn công Phủ Tổng thống Sài Gòn (nay là Dinh Độc lập) ngày 30/4/1975.
Xe tăng do Liên Xô chế tạo, tháp pháo có gắn súng 12,7 ly, được trưng bày ở vị trí trang trọng trong bảo tàng.
Tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam còn có nhiều hiện vật giá trị khác như chiếc Jeep mang biển số 15770, đã tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975
Bảo tàng Chiến thắng B52 trưng bày các loại vũ khí, khí tài, hiện vật của quân và dân thủ đô. Nổi bật nhất là xác máy bay B52 bị bắn rơi trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972.
Vào dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, bảo tàng liên tục đón khách tới tham quan, đặc biệt là các cựu binh từng có mặt trong cuộc chiến chống Mỹ 12 ngày đêm khói lửa.
Giữa khuôn viên Bảo tàng là xác chiếc máy bay B52 từng bị quân và dân thủ đô bắn rơi trong cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam tháng 12 năm 1972.
Xác chiếc B52 bị chia làm đôi, nhiều mảnh vỡ vụn.
Gần đó là những vỏ bom mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam từ những năm 1964 đến 1972.
Xác các loại máy bay chiến thuật của Mỹ bị quân dân thủ đô bắn rơi cũng được xếp chất đống tại đây.
Bên trong tủ kính là mảnh vụn của xác một chiếc máy bay khác của Mỹ.
Loa truyền thanh của lực lượng phòng không nhân dân dùng để thông báo hoạt động của máy bay Mỹ thời kỳ chống chiến tranh phá hoại 1965 – 1968.
Mũ rơm của bà Nguyễn Thị Năm ở Nghĩa Đô, Từ Liêm, đan tặng cho bộ đội trực chiến.
Tủ điều khiển tên lửa của Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257 dùng điều khiển tên lửa bắn rơi máy bay Mỹ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.
Ghế ngồi và dù của phi công Mỹ.
Cuốc, thuổng, đòn sóc, lựu đạn, mìn, bàn chông của du kích xã Nam Hồng dùng đào địa đạo chiến đấu.
Súng 12,7 mm của dân quân xã Trâu Quỳ, Gia Lâm từng dùng bắn rơi tại chỗ máy bay F105 của Mỹ ngày 21/8/1967.
Súng tiểu liên tự tạo của tự vệ Hà Nội dùng chiến đấu trong 60 ngày đêm bảo vệ Liên khu 1 (1946 – 1947).
Cờ quyết tử quân của Ban chỉ huy liên khu 1 tặng đội quyết tử sau trận đánh.
Vỏ đạn súng máy 14,5mm của Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, bắn rơi chiếc F111A của Mỹ đêm 22/12/1972.
Chiếc vại của bà Ngô Thị Vịnh, xã Nam Hồng dùng đựng gạo nuôi du kích trong kháng chiến chống Pháp.
Một số giấy tờ, chứng nhận và ngôi sao cài mũ của quân đội Việt Nam.
Dép cao su, giầy vải, áo, bát sắt… của tự vệ nhà máy dệt 8/3 dùng trong những năm tháng chống Mỹ.
Máy bay Mic 21 của không quân Việt Nam số 5033 chiến đấu bảo vệ Hà Nội từng bắn rơi 3 máy bay F4 của Mỹ năm 1972.
Súng máy phòng không 14,5mm của tự vệ nhà máy điện Yên Phụ tham gia bắn rơi máy bay F4 của Mỹ ngày 10/5/1972.









Máy bay chiến lược B52 bị bắn tan xác rơi trên đường Hoàng Hoa Thám ngày 27/12/1972.





Sinh viên an ninh nhận giải đặc biệt cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – 40 năm oanh liệt và tự hào”. Anh: Hoàng Thùy.








Nụ cười của cô nữ dân quân bên cạnh xác máy bay kẻ thù.










Pháo cao xạ (ảnh trên) và tên lửa phòng không tạo nên hệ thống lưới lửa dày đặc trên bầu trời Hà Nội, chống các báy bay ném bom và máy bay chiến thuật của Mỹ. Ảnh: wikipedia
Trên một trận địa tên lửa phòng không ở miền bắc Việt Nam với các khẩu đội SA-2. Ảnh: wikipedia
Máy bay ném bom B-52 của Mỹ rải bom ở miền bắc Việt Nam năm 1972. Ảnh: Wikipedia
Đại tá Nghiêm Đình Tích khẳng định lực lượng radar đã phát hiện và báo động sớm cho Hà Nội B52 sẽ tấn công trước 35 phút. Ảnh: Hoàng Thùy.
Bộ đội radar của đại đội 45. (Đài trưởng Nghiêm Đình Tích ngồi sau cùng, mặc áo trắng).
“Mắt thần” radar không để tổ quốc bị bất ngờ trước cuộc tập kích bằng đường không của Mỹ năm 1972. Ảnh tư liệu.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.