Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Nơi lưu giữ những ký ức không thể nào quên

Những chứng nhân lịch sử – Bài cuối:

Có những khoảng ký ức không thể nào quên, có những bằng chứng lịch sử không thể mất đi. Bảo tàng Phòng không – Không quân Hà Nội và Bảo tàng Chiến thắng B52 là 2 trong số những nơi lưu giữ một phần ký ức của những ngày tháng hào hùng làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của 40 năm xưa bằng hiện vật.

Các em học sinh trường Ngọc Hà học tập bên hồ B52.

Nếu gặp một sinh viên ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi, những người sinh ra rất lâu sau chiến tranh, những gì họ biết về những ngày tháng oanh liệt xưa chắc chỉ có trong sách vở. Nếu gặp một người bạn nước ngoài, những gì tôi kể về Hà Nội cũng sẽ có “lối nhỏ, phố nhỏ”, Hồ Gươm xanh thắm… Nhưng còn cả một Hà Nội hào hùng của trận chiến suốt 12 ngày đêm mà tôi muốn cho họ biết đang hiện hữu tại hai bảo tàng lớn của Hà Nội.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” hiển hiện ở Bảo tàng Chiến thắng B52 (157 Đội Cấn, Hà Nội) là xác chiếc máy bay B52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội nằm chiếm gần hết khoảng sân rộng như bằng chứng cho sự thất bại của đế quốc Mỹ trong trận chiến 12 ngày đêm năm 1972. Ngay trước cửa bảo tàng, Đài điều khiển tên lửa Sam – 2 đã từng “vít cổ” pháo đài bay B52 xuống hồ Hữu Tiệp (phường Ngọc Hà, Hà Nội) vẫn kiêu hãnh hướng lên bầu trời Thủ đô. Thượng tá Vũ Chí Công, Giám đốc Bảo tàng Chiến thắng B52 cho biết, bảo tàng hiện lưu giữ hơn 9.000 hiện vật, tài liệu, hình ảnh chủ yếu là về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng chiến thắng B52.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” còn là hình ảnh của những người anh hùng như anh bộ đội tên lửa bắn rơi máy bay B52; hình ảnh không quân nhân dân Việt Nam sẵn sàng cất cánh chiến đấu bảo vệ Thủ đô; bà Phạm Thị Viễn đầu chít khăn tang vẫn ra trận địa bắn rơi máy bay F11 và hình ảnh cô gái làng hoa Ngọc Hà. Hay như cảnh đau thương tại khu phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai khi bị bom B52 hủy diệt… đang được lưu giữ tại bảo tàng là những chứng tích lịch sử của một thời điểm đầy cam go quyết liệt, hy sinh to lớn.

Nằm trong phạm vi quản lý của Bảo tàng Chiến thắng B52 và nằm trong tổng thể các di tích của trận chiến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, di tích lịch sử hồ Hữu Tiệp, nơi mà đêm 27/12/1972, một chiếc B52 của Mỹ đã bị quân và dân Hà Nội bắn hạ và một phần của chiếc máy bay đó rơi xuống hồ cũng đã được cải tạo lại để phục vụ du khách tham quan.

Còn tại Bảo tàng Phòng không – Không quân (171 đường Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội) cũng trưng bày những hiện vật quý như minh chứng cho chiến thắng của quân và dân miền Bắc, đặc biệt là dân và quân thủ đô Hà Nội đã đánh bại cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ tại miền Bắc và thủ đô Hà Nội tháng 12/1972.

Đại tá Nguyễn Hữu Đạc cho biết: “Ở bảo tàng có nhiều hiện vật rất quý, từ máy bay Mig 21 bắn rơi B52, pháo phòng không hay còn gọi là pháo cao xạ 100 mm, bệ tên lửa và cả những loại tên lửa bắn rơi B52 trong 12 ngày đêm, những loại rađa đã bắt được mục tiêu B52 thông báo về cho Bộ Tổng tư lệnh, Sở chỉ huy quân chủng và nhân dân Thủ đô Hà Nội sớm 35 phút để chúng ta kịp chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, kịp để nhân dân Thủ đô Hà Nội xuống hầm trú ẩn.

Và trong những ngày sau đó, bằng những loại vũ khí được trưng bày tại đây, chúng ta đã đánh thắng cuộc tập kích 12 ngày đêm của không quân chiến lược Mỹ.” Những hiện vật này thể hiện lòng dũng cảm, trí tuệ của quân và dân Việt Nam, tài thao lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh mà lực lượng nòng cốt là bộ đội phòng không không quân, đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 này.

12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 là một dấu mốc đáng nhớ. Quá khứ về chiến tranh, bom đạn tuy đau thương, mất mát nhưng lớn lao hơn là lòng tự hào, sự quật cường vươn lên của những thế hệ người Việt Nam. Đến với Bảo tàng Phòng không – Không quân như một sự trở về với quá khứ, bạn Lô Thị Linh, quê Sơn La, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chia sẻ cảm xúc: “Mỗi hiện vật mang trong mình lịch sử của một quá khứ quật cường và chiến thắng càng cho tôi thấy sự hy sinh to lớn của cha ông đi trước để làm nên một Hà Nội – thành phố vì hòa bình hôm nay. Nhưng không chỉ có vũ khí, đạn bom, trong 12 ngày đêm ấy, tôi còn thấy những bức ảnh về người chiến sỹ, về những người dân thành phố trong nụ cười rạng rỡ, tràn đầy tình yêu thành phố và niềm tin chiến thắng”.

Bác Nguyễn Thế Minh – cựu chiến binh trong kháng chiến chống Mỹ, đến tham quan bảo tàng, đứng trước những hiện vật oanh liệt một thời đã bày tỏ: “Hà Nội 12 ngày đêm luôn sống trong ký ức những người con Hà Nội xưa như chúng tôi. Những hiện vật trong bảo tàng sẽ là cầu nối giúp thế hệ con cháu hiểu về một phần lịch sử và thêm tự hào về thành phố nơi mình sinh ra và lớn lên. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc, tinh thần đoàn kết và ý chí quật cường mới có thể chiến thắng những vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ.”

Trung bình mỗi năm có hơn 10 vạn khách đến tham quan bảo tàng Chiến thắng B52. Càng gần đến ngày Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” càng có nhiều tổ chức, cá nhân đến đăng ký tham quan bảo tàng. Với khuôn viên rộng, các hiện vật phong phú, được giữ gìn cẩn thận, Bảo tàng Phòng không – Không quân Hà Nội cũng là điểm đến quen thuộc của nhiều gia đình người dân Hà Nội mỗi cuối tuần. Tự hào về Hà Nội, tự hào về chiến thắng 12 ngày đêm, những gì các bảo tàng lịch sử đã và đang làm được là đưa những ký ức không thể nào quên về tầm vóc lớn lao của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” ấy sống mãi với thời gian.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Lao vào điểm nóng để ghi lại tội ác của giặc

Cùng với những phóng viên viết, trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) có một đội ngũ đông đảo các phóng viên ảnh tỏa đi khắp các chiến trường, đặc biệt là những “điểm nóng” để ghi lại những hình ảnh về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ. Trong 12 ngày đêm Mỹ sử dụng B52 ném bom Hà Nội cuối năm 1972, những phóng viên ảnh TTXVN cũng có mặt ở nhiều nơi địch đánh ác liệt để chụp ảnh. 

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi đã gặp gỡ nhà báo Chu Chí Thành, phóng viên ảnh TTXVN tác nghiệp trong những ngày B52 trút bom xuống Hà Nội.

Pháo thủ Phan Tuấn Thi, khẩu đội 4, phân đội 2 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô (1972).Ảnh: Chu Chí Thành

Trong căn phòng khách rộng rãi của ngôi nhà trên phố Minh Khai (Hà Nội), nhà báo Chu Chí Thành xúc động kể cho chúng tôi nghe những gì ông được tận mắt chứng kiến trong quá trình tác nghiệp 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Mở đầu câu chuyện, nhà báo Chu Chí Thành kể: “Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cái ngày đầu tiên B52 Mỹ ném bom xuống Hà Nội. Hôm đó là tối 18/12/1972, tôi đang chụp ảnh cho một cuộc họp báo ở 37 Hùng Vương thì nghe tiếng ù ù từ xa, rồi thấy bầu trời Hà Nội sáng rực bởi tên lửa, cao xạ bắn lên. Tất cả mọi người dự họp báo đều xuống hầm trú ẩn. Lúc đó, B52 đã đánh ra Hà Nội, nhưng chủ yếu là ở mạn Đông Anh, Yên Viên. Ngay sau đó tôi về cơ quan thì được lệnh cùng một số anh em sang Yên Viên chụp ảnh, lấy tin tức. Từ hôm đó, ban ngày thì máy bay tiêm kích, các trận địa cao xạ, đêm thì B52 quần đảo trên bầu trời Hà Nội. Các phóng viên ảnh, tin của TTXVN thay nhau trực 24/24 giờ để sẵn sàng tác nghiệp.

“Anh em phóng viên chúng tôi chia nhau ra để đi vào các trận địa cao xạ trong nội thành và quanh Hà Nội chụp ảnh. Có hôm tôi ở sân Hàng Đẫy, có hôm lại lên đường Thanh Niên, chỗ bán đảo hồ Trúc Bạch, có hôm sang Yên Viên… Những bức ảnh chúng tôi chụp chủ yếu là ảnh quân và dân ta chiến đấu kiên cường, ảnh chụp những máy bay Mỹ rơi, bắt được giặc lái… Bên cạnh đó là những bức ảnh chụp những nơi bị bom Mỹ tàn phá…”.

Khu trung tâm Bệnh viện Bạch Mai sáng sớm ngày 22/12/1972 sau trận bom B52 của Mỹ.Ảnh: Chu Chí Thành

Theo lời ông Thành, thời đó, TTXVN thường gửi ảnh ra nước ngoài theo đường telephoto, vừa là tuyên truyền về việc nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng như thế nào, vừa là để tố cáo tội ác của địch đến với bạn bè quốc tế.

Trong suốt 12 ngày đêm lăn lộn ở nhiều trận địa, nhiều nơi chụp ảnh, nhưng có lẽ lần đi chụp ở Bệnh viện Bạch Mai và phố Khâm Thiên sau trận bom rải thảm đã để lại trong ông những ấn tượng sâu sắc nhất, nhưng cũng đau thương nhất. Ông trầm ngâm kể lại: “4 giờ sáng ngày 22/12, Mỹ ném bom xuống Bệnh viện Bạch Mai. Ngay khi trời sáng rõ, tôi nhận lệnh đến Bệnh viện Bạch Mai chụp ảnh. Khi tôi đến nơi, thấy cả tòa nhà trung tâm bệnh viện bị sập. Các lực lượng từ công an, bộ đội, dân quân, bác sỹ, y tá… đều lao vào khắc phục, cứu những người mắc kẹt. Và tôi chứng kiến một cảnh tượng vô cùng thương tâm, đó là để mở đường, người ta phải tháo khớp của những người đã chết, để lấy chỗ kéo người bị thương ra. Lần khác là khi tôi đến chụp ảnh khu phố Khâm Thiên vào sáng 27/12. Khi tôi tới hiện trường, nhìn thấy dãy quan tài xếp hàng dài trên đường phố. Cả khu phố Khâm Thiên hầu như bị san phẳng. Những người sống sót đang đi nhặt nhạnh từng cái bát, cái mâm, những đồ dùng còn sót lại trong gia đình sau trận bom, trông thương lắm. Đi đến Cống Trắng, tôi nhìn thấy một phụ nữ, đầu đội chiếc khăn rằn, vai đeo súng, đang rảo những bước chân vội vã trên đống đổ nát. Hỏi ra mới biết đêm qua cô trực chiến, biết khu phố nhà mình bị ném bom, sáng ra vừa hết ca trực, cô vội vã trở về xem nhà mình ra sao…”.

Còn một hình ảnh nữa khiến ông nhớ mãi cho đến tận bây giờ, đó là hình ảnh một viên phi công Mỹ chết bên cạnh xác máy bay rơi ở cánh đồng Định Công đêm 26/12. Khi ông cùng đồng nghiệp đến nơi để chụp xác chiếc máy bay rơi, ông nhìn thấy trong chiếc túi cá nhân của viên phi công Mỹ rơi ra từ buồng lái có tấm hình một phụ nữ và một em bé. Có lẽ đó là vợ và con của viên phi công đã chết.

Người vợ trẻ trung, xinh đẹp, đứa con có lẽ chưa đầy một tuổi trông rất dễ thương. “Khoảnh khắc ấy, trong lòng tôi trào dâng nỗi xót xa. Tôi thầm nghĩ, nếu người lính ấy không tham gia cuộc chiến tranh phi nghĩa này, có lẽ anh ta đang sống rất hạnh cùng vợ con, chứ không phải phơi xác nơi đất khách quê người ngay tại chính nơi anh ta gây tội ác như vậy”, ông Thành nhớ lại.

Phương tiện đi lại của các phóng viên thời đó thường là xe đạp, nhưng nhiều lúc không có cả xe thì phải chạy bộ. Thỉnh thoảng cũng được đi ô tô, nhất là khi đi chụp xa. “Lãnh đạo cơ quan thường dặn anh em chúng tôi, khi tác nghiệp cần phải bảo đảm an toàn, không chỉ để bảo vệ tính mạng mình mà còn là để thực hiện được nhiệm vụ. Nhưng nào có ai chịu nghe đâu. Cứ thấy máy bay là chúng tôi lại lao ra, tìm chỗ nào cao nhất, góc nào thoáng nhất để chụp được những bức ảnh tốt nhất. Nhiều khi đang ngồi ở cơ quan, nghe tiếng còi báo động, mọi người chạy xuống hầm trú ẩn thì các phóng viên ảnh lại chạy ngược lên gác thượng, tìm vị trí thuận tiện nhất để chụp ảnh. Cũng chính trong một lần như vậy mà anh Lâm Hồng Long đã chụp được bức ảnh rất giá trị, đó là khoảnh khắc máy bay B52 bị bắn cháy trên bầu trời Hà Nội đấy” – nhà báo Chu Chí Thành hào hứng kể.

Những phóng viên ảnh thời chiến tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng họ cũng là những người rất dũng cảm, sẵn sàng lao vào những nơi bom đạn để lưu lại những bằng chứng tố cáo tội ác của giặc Mỹ với thế giới, thể hiện tinh thần chiến đấu bất khuất của quân và dân ta. “Chúng tôi đều biết mình có thể hy sinh bất cứ lúc nào, nhưng ai nấy đều sẵn sàng nhận nhiệm vụ”.

Khi được hỏi: “Điều gì khiến cho những phóng viên ảnh không ngần ngại lao vào những nơi bom đạn ấy?”, ông Thành trả lời ngay: “Khi ấy, cả Hà Nội đang bừng bừng khí thế, tinh thần quyết chiến rất cao. Ta cũng thường xuyên tổ chức những cuộc họp báo để công bố danh sách phi công, số máy bay Mỹ bị bắn rơi. Mọi góc phố, nhà máy, công trường, cơ quan… luôn luôn sẵn sàng, tình người yêu thương gắn bó. Nơi nào có công việc, nơi nào cần sự giúp đỡ là mọi người sẵn sàng lao vào hỗ trợ giải quyết, không ngần ngại. Trong không khí ấy, người phóng viên như chúng tôi cũng thấy vững vàng, tự tin nên không hề có cảm giác sợ hãi, thậm chí còn rất yêu đời. Tôi còn nhớ phóng viên Minh Lộc, hôm nào cũng mua một bó hoa ở Ngọc Hà về cắm trên bàn làm việc…”.

Phương Lan
baotintuc.vn

Về Trung đoàn bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên

Để làm nên chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, một trong những đơn vị luôn được nhắc tới là Trung đoàn 238 (Sư đoàn 363, Quân Chủng Phòng không – Không quân)- đơn vị bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên của cả nước. Trung đoàn cũng là đơn vị chủ lực nghiên cứu cách đánh B52, sau này in thành cuốn “Cẩm nang đỏ”- tài liệu để đánh B52, làm nên chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972.

Xác chiếc máy bay B-52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi ngày 22/12/1972. Ảnh: TTXVN

Bắn rơi pháo đài “bất khả xâm phạm”

Những ngày này, Trung đoàn tên lửa 238 (Đoàn Hạ Long) đóng trên địa bàn xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng đang sôi nổi thi đua chào mừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên phủ trên không”.

Trung tá Nguyễn Duy Hiền, Phó Chính uỷ Trung đoàn Tên lửa 238 tự hào cho biết: “238 là Trung đoàn bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên của đế quốc Mỹ. Trong chiến dịch Linerbacker II- chiến dịch tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh khác từ 18/12- 30/12/1972- Trung đoàn Tên lửa 238 là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên và cuối cùng trên bầu trời Hải Phòng.

Để tìm ra cách bắn rơi máy bay B52, pháo đài “bất khả xâm phạm” của Mỹ, cán bộ Trung đoàn nói riêng và cán bộ của Quân chủng Phòng không Không quân phải trải qua bao khó khăn, vất vả, khắc phục khó khăn do thiếu vũ khí, các trang thiết bị phục vụ tác chiến”.

Theo Hồi ký của cố Đại tá Lê Thanh Cảnh- nguyên Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 238, năm 1967, đế quốc Mỹ có các phương tiện chiến tranh hiện đại, trong đó có máy bay B52 ngày ngày ném bom xuốngVĩnh Linh, Quảng Binh hòng hủy diệt tất cả những gì có trên mặt đất. Để đáp trả sự tấn công dữ dội của đế Quốc Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân chủng phòng không- Không quân đã điều Trung đoàn 238 vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B52.

Một đặc điểm của khí tài tiêu diệt máy bay chiến đấu của Mỹ là phải cố định tại chỗ, nhưng với sự thông minh, sáng tạo, cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 238 đã di chuyển khí tài cơ động đi qua nhiều tỉnh, thành phố. Ngày 17/9/ 1967, sau một thời gian dày công nghiên cứu, nhận dạng, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 84-Trung đoàn 238 đã bắn rơi 1 chiếc B52. Đây là lần đầu tiên ta bắn rơi “Siêu pháo đài bay B52” của đế quốc Mỹ.

Chiến công này đã tác động rất lớn đến tư tưởng và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, khẳng định khả năng đánh thắng các cuộc tập kích đường không bằng B52 của địch, củng cố lòng tin, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội và nhân dân. Từ chiến công này, Quân ủy Trung ương giao cho Trung đoàn 238 là đơn vị đầu tiên nghiên cứu cách đánh B52, sau này tập hợp lại thành cuốn tài liệu có tên “Cẩm nang đỏ” nói về cách bắn rơi máy bay B52.

Đế quốc Mỹ đã từng đưa máy bay B52 đánh phá thành phố Cảng. Trong chiến dịch Linebacker II, từ đêm 18/12, chúng dồn dập đưa B52 cùng các máy bay chiến thuật khác đánh phá Hà Nội và Hải Phòng. Quân và dân thành phố Cảng anh dũng chiến đấu, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch. Đêm 22, rạng ngày 23/12, địch cho 24 lần chiếc B52 và 27 lần máy bay chiến thuật khác đánh phá Nhà máy Xi măng, Sở Dầu, khu tập thể An Dương. Trung đoàn Tên lửa 238 cùng các đơn vị chiến đấu khác đánh trả địch quyết liệt.

Hơn 5 giờ sáng, Trung đoàn 238 đã bắn rơi chiếc B52 đầu tiên trong chiến dịch Linerbacker II của đế quốc Mỹ. Đêm 26/12, đế quốc Mỹ toan tính đánh đòn quyết định. Chúng sử dụng 105 lần chiếc B52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật ồ ạt tập kích đánh vào nhiều mục tiêu. Riêng ở Hải Phòng, đế quốc Mỹ sử dụng hàng chục tốp máy bay, trong đó có 18 lần máy bay B52 đánh phá Sở Dầu và nhà máy Xi măng. 22 giờ 36, Trung đoàn 238 bắn rơi chiếc máy bay B52 cuối cùng của địch trên bầu trời thành phố Cảng.

Với thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Trung đoàn tên lửa 238 đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân 15/1/1976.

Viết tiếp truyền thống anh hùng

Tiếp nối truyền thống của lớp cha anh đi trước, cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn tên lửa 238 tiếp tục phấn đấu học tập, chiến đấu bảo vệ vùng trời Hải Phòng. Để thiết thực kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, Trung đoàn phát động đợt thi đua cao điểm trong 40 ngày (từ 19/11 đến 28/12/2012) với nội dung: “Bốn nhất, một không”. Bốn nhất là: Sẵn sàng chiến đấu cao nhất; Hoàn thành phong trào thi đua quyết thắng năm 2012 và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2013 đạt chất lượng tốt nhất; chấp hành kỷ luật và duy trì nề nếp chính quy tốt nhất; Tham gia giúp dân, thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa tốt nhất. Một là không để xảy ra vi phạm kỷ luật, mất an toàn trong trong huấn luyện và tham gia giao thông.

Cán bộ Trung đoàn 238 về thăm lại trận địa cũ nhân kỷ niệm 40 năm
ngày bắn rơi máy bay B52 đầu tiên ở Việt Nam. Ảnh: quangtri.gov.vn

Để hoàn thành mục tiêu này, Trung đoàn 238 tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, âm mưu của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Trung đoàn duy trì nghiêm nề nếp sẵn sàng chiến đấu từ Sở chỉ huy đến các phân đội, không để bất ngờ, lỡ thời cơ. Thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt trên các hướng, canh thu các mạng đúng, đủ, kịp thời, không để sai sót, lọt, chậm…

Bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu với các phương án sát thực tế, Trung đoàn còn tích cực tham gia giúp đỡ nhân dân khi gặp thiên tai bão lũ. Sau trận lốc lớn tàn phá xã An Lư, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng vào tháng 6/2011, Trung đoàn đã kịp thời cử quân nhân xuống xã giúp bà con dựng lại nhà cửa, giải quyết hậu quả do cơn lốc gây ra. Ngoài ra, Trung đoàn còn quyên góp, ủng hộ các quỹ Vì người nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, các cháu nạn nhân chất độc da cam với số tiền gần 200 triệu đồng, xây dựng 2 nhà tình nghĩa…

Lớp cha anh đi trước, lớp chiến sĩ trẻ đi sau luôn tự hào với truyền thống của Trung đoàn.Tâm sự với chúng tôi, Trung sĩ Phạm Văn Ánh cho biết: “Em nhập ngũ vào đơn vị từ đầu năm 2011. Vào đây, được nghe các bác kể về truyền thống của đơn vị, em rất tự hào, động viên bản thân luôn tự phấn đấu, rèn luyện. Với sự giúp đỡ của các bác, các chú đi trước, em từng bước hoàn thành nhiệm vụ được giao”. Ánh hồ hởi khoe năm 2012, em giành giải nhì trong cuộc thi “Hội thao tiêu đồ 5 x 5”. Ánh phấn đấu học tập, mong muốn sẽ được ở lại Trung đoàn cống hiến, làm việc giống như các thế hệ cha anh đi trước.

TTXVN/Tin Tức
baotintuc.vn

Vài nét về sự phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn – Bài 2

(Tiếp theo và hết)
Thiệu coi thường cả quốc tế

QĐND Online- …Trả lời yêu cầu của Quân giải phóng đề nghị 4 bên tại Ban Liên hợp quân sự cùng ra nghị quyết chung kêu gọi “ngừng bắn” và “thi hành các điều cấm”, Thủ tướng Sài Gòn Trần Thiện Khiêm thẳng thừng ra chỉ thị “quyết định không ra nghị quyết chung” [1]. Trước sức ép của dư luận lên án hành động trắng trợn phá hoại Hiệp định của chính quyền Sài Gòn, ngày 09.02.1973, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm phải ra chỉ thị cho Bộ Quốc phòng “tránh không nên dùng các danh từ tấn công, hành quân, phi xuất, tin chiến trường…” [2].

Toàn cảnh Hội nghị Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam

Ngày 10.02.1973, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ban hành “công điện mang tay” mật – thượng khẩn số 5458/TTM/P345 ra lệnh cho các đơn vị cấm “phổ biến các tin tức chiến sự trên báo chí, đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình”, trong đó nêu rõ: “Từ nay cấm không được nói rõ số lượng phi xuất, hải xuất, pháo binh yểm trợ…mà phải thay đổi hình thức giải thích đó là các hoạt động bạn có tính cách phản ứng tự vệ” [3]. Tuân hành công điện của tướng Cao Văn Viên, trong các báo cáo của Trung tâm hành quân của quân đội Sài Gòn bị cắt bỏ, thay vào đó cụm từ “hoạt động an ninh lãnh thổ”. Với ý nghĩa mọi hoạt động quân sự của quân đội Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam đều thuộc phạm vi vùng đất của chính quyền Sài Gòn. Thực tế họ đã vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris về ngừng bắn.

Trong thực thi các điều khoản của Hiệp định Paris và các nghị định thư, chính quyền Thiệu tìm mọi cách né tránh hoặc trắng trợn vi phạm.

Để né tránh thực hiện Điều 6 của Hiệp định quy định “Việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác” [4], trước khi Hiệp định được ký kết, quân đội Mỹ tiến hành bàn giao toàn bộ căn cứ, phương tiện chiến tranh cho chính quyền Thiệu. Vì vậy, khi Hiệp định được ký kết, Điều 6 của Hiệp định trở nên “vô hiệu lực”.

Đi ngược lại với tinh thần Hiệp định Paris về giảm quân số các lực lượng vũ trang, chính quyền Sài Gòn thực hiện đôn quân, xiết chặt kỷ luật quân đội và tăng cường cả lực lượng và trang bị cho lực lượng nghĩa quân và địa phương quân của chúng. Theo báo cáo của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn là 1.086.926 quân. Đến ngày 15.02.1973, mặc dù số quân đảo ngũ là 12.595, nhưng tổng số quân của quân đội Sài Gòn vẫn còn tới 1.076.091 quân [5]. Trong những tháng tiếp theo của năm 1973, quân số quân đội Sài Gòn luôn giữ ở mức trên 1.900.000 quân, dù số quân đảo ngũ hằng tháng nằm trong khoảng 6.000 – 15.000 quân.

Điều 4 của Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các ban liên hợp quân sự, mặc dù Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhiều lần đề nghị nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố, cự tuyệt. Ngày 19.02.1973, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công văn số 437/PThT/BĐPT/KH “Tuyệt đối không có việc tự động bắt tay giữa các chỉ huy trưởng đơn vị các cấp của ta (chính quyền Sài Gòn) với địch(Quân giải phóng) để chia khu vực và để cho địch tự do di chuyển” [6]. Ngày 26.02.1973, tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Paris, chính quyền Sài Gòn vẫn âm mưu thay đổi các điều khoản của Hiệp định Paris. Theo Điều 19 của Hiệp định Paris về Việt Nam quy định: “Các bên thảo luận về việc triệu tập một hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các hiệp định đã ký kết” [7]. Nhưng chính quyền Sài Gòn lại dùng Hội nghị để “đòi hỏi các cường quốc bảo đảm những gì mà chúng ta đã không nhận được ở Hội nghị Ba Lê” [8]. Trong đó có những “đòi hỏi” đi ngược lại tinh thần Hiệp định Paris như: “Hội nghị quốc tế cần phải xác nhận và đảm bảo phương thức một dân tộc hai quốc gia Việt Nam”; “Việt Nam cộng hòa phải xác nhận không thừa nhận Mặt trận giải phóng miền Nam như một chính phủ”… “mà chỉ chấp nhận Mặt trận giải phóng miền Nam được quyền tham gia sinh hoạt chính trị tại miền Nam như một đảng phái chính trị…” [9]. Trong diễn văn đọc tại Hội nghị, Trần Văn Lắm, Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn đã trắng trợn tuyên bố : “Tại Nam Việt Nam chỉ có một chánh phủ dân cử hợp hiến và hợp pháp duy nhất đó là chánh phủ Việt Nam cộng hòa” [10].

Tại Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam ở Sài Gòn, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng luôn tìm cách né tránh giải quyết các vấn đề theo đúng tinh thần Hiệp định Paris. Mặc dù thừa nhận Điều 10 của Hiệp định “đặt ra một tiên quyết là phải ngững bắn trước đã rồi mới thảo luận được vấn đề hòa bình. Chỉ sau ngừng bắn thực sự, hai bên mới có thể thương lượng với nhau về các giải pháp cho các vấn đề tranh chấp” [11]. Nhưng tại Hội nghị của hai bên miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra Đề nghị 6 điểm, đầu tiên là tôn trọng ngừng bắn rồi mới giải quyết các vấn đề khác. Phía chính quyền Sài Gòn lại đưa ra Đề nghị 5 điểm, trong đó đưa vấn đề tổng tuyển cử lên trước nhằm đánh lừa dư luận về một “thiện chí hòa bình” của chính quyền Sài Gòn, mà thực chất là nhằm trì hoãn việc thực thi các quy định của Hiệp định Paris, để có thời gian để tiến hành các hoạt động quân sự đẩy lui Quân giải phóng trên chiến trường.

Trước thái độ của chính quyền Thiệu, tại phiên họp thứ 10 ngày 09.5.1973, ông Nguyễn Văn Hiếu, Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã gay gắt lên án: “Nếu mà sau khi ký Hiệp định đã có hòa bình thì ở đây chúng ta cần gì phải bàn cãi nữa. Nhưng mà chúng ta đang đứng trước một cái thực tế là từ khi Hiệp định có hiệu lực đến nay, chiến sự chưa chấm dứt. Thế thì chúng tôi muốn nêu vấn đề này với các ông, bây giờ các ông nêu vấn đề là phải tiến hành tổng tuyển cử, thế thì tổng tuyển cử trong khi còn bắn nhau thì tổng tuyển cử như thế nào, do đó mà trong bài phát biểu của chúng tôi, chúng tôi cho rằng các ông như là đặt cái cày trước con trâu, mà bây giờ phải làm thế nào để mà có thể có cái chấm dứt chiến sự chớ, cái đó là cái vấn đề đầu tiên, là vấn đề đầu tiên nêu ra trong Hiệp định chấm dứt chiến sự. Do đó mà chúng tôi nghĩ rằng đây là vấn đề các ông muốn nói tiên quyết cũng được là vì cái này là theo lẽ nó phải có… mà chiến sự tiếp diễn đây thì là do về phía các ông chủ trương có những hành động lấn chiếm…

Trước khi ký Hiệp định Paris các ông đã chống lại với các cuộc ngừng bắn, cái ngừng bắn mà gọi là ngừng bắn tại chỗ thì cái điều này báo chí của các ông, những người lãnh đạo của các ông đã từng lên tiếng một cách công khai chống lại cái ngừng bắn tại chỗ. Cho nên người ta không lấy làm lạ là khi Hiệp định đã ký rồi, các ông tìm cách phá hoại cái ngừng bắn đó mà rõ ràng ý đồ của phía các ông mà theo chúng tôi biết được ở tại chiến trường là tìm cách xóa bỏ những cái vùng của chúng tôi mà người ta thường gọi là những cái da báo ở trong vùng các ông, các ông tìm cách lấn chiếm những cái vùng đó rồi ngay cả những cái vùng giải phóng lớn của chúng tôi các ông cũng tìm cách lấn chiếm mà có những cái cuộc hành quân như thế là sư đoàn, hàng sư đoàn. Cái chuyện này là không thể chối cãi được. Thế thì chúng tôi cho rằng về phía các ông thì rõ ràng là chưa muốn tái lập hòa bình, chưa muốn chấm dứt chiến sự. Cho nên do đó mà chúng tôi thấy rằng bây giờ phải làm thế nào để tái lập hòa bình và chúng tôi đã đề những cái biện pháp hết sức là cụ thể mà tiến tới tái lập được cái hòa bình đó” [12].

Với thái độ đó của chính quyền Sài Gòn, Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam luôn rơi vào tình trạng bế tắc.Trước thái độ hiếu chiến của chính quyền Thiệu, ngày 08.10.1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố không thương thuyết với chính quyền Sài Gòn.

Tiếp theo đó, Bộ Tư lệnh miền phát lệnh cho toàn thể các lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến lên “kiên quyết trừng trị bọn Mỹ – Thiệu ngoan cố và hiếu chiến, kiên quyết đập tan hệ thống đồn bốt của địch, mở rộng vùng giải phóng, giành quyền làm chủ về tay nhân dân”. Phát động toàn quân, toàn dân: “Hãy vượt mọi gian khổ, khó khăn, đạp lên đầu thù xốc tới giành thắng lợi. Hãy đánh mạnh, đánh liên tục, đánh tiêu diệt gọn quân địch, đánh cho chúng tan rã về tinh thần, tư tưởng, suy sụp về tổ chức, đạt yêu cầu cao của mùa khô. Hãy đánh giỏi, công tác giỏi, xây dựng giỏi, giành thắng lợi giòn giã. Giương cao cờ quyết chiến, quyết thắng. Tấn công như năm 1972, nổi dậy như đồng khởi, diệt gọn nhiều đơn vị, nhiều đồn bốt địch, giải phóng nhân dân… Toàn thể các đồng chí hãy anh dũng tiến lên!” [13].

Ngày 12.11.1974, phát biểu tại Hội thảo và học tập về Hiệp định Paris tại Bộ Dân vận chính quyền Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đã tỏ rõ thái độ hiếu chiến, lỗ mãng và thách thức. Đối với Ủy hội quốc tế, Thiệu cho rằng: “Quốc tế bây giờ nói ông Thiệu không thi hành Hiệp định Ba Lê… a lê quốc tế dẹp, chuyện này không phải mấy người. Tôi biết tôi phải làm cái gì, Hiệp định Ba Lê này mấy ông có đọc chưa, mấy ông thuộc bằng tôi không, mấy ông xen cái lỗ mũi vô trong chuyện của tôi… Ôi đồ ba cái thứ là hội quốc tế này, quốc tế kia đánh điện tôi xé, tôi vứt giỏ rác, kể cả Liên hợp quốc chẳng làm cái trò trống gì cho nên hình”.

Tôi nói ông già tôi cộng sản tôi cũng chặt chớ đừng nói ai”.

Hễ nó (Quân giải phóng) giỏi nó thắng mình chịu. Mình thắng nó phải chịu. Không có cái chánh phủ liên hiệp tiên quyết. Đi lại cái chánh phủ tiên quyết bây giờ mà như mấy cha mà đi cổ võ đó, nói chánh phủ liên hiệp, chánh phủ liên hiệp… thì là trở lại mấy chuyện mà mình tranh đấu mấy năm trời để tránh nó ở trong cái bản Hiệp định” [14].

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chưa lúc nào chính quyền Sài Gòn chấp hành Hiệp định Paris mà thường xuyên chống phá quyết liệt và chống phá ngay từ khi Hiệp định Paris chưa được ký kết cho đến khi chúng bị thất bại hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn


[1]. Biên bản phiên họp tại Phủ Thủ tướng chính quyền Sài Gòn ngày 13.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1252.
[2]. Biên bản phiên họp tại Phủ Thủ tướng chính quyền Sài Gòn ngày 09.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1252.
[3]. Công điện mang tay số 5458/TTM/P345 ngày 10.02.1973 của Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18112.
[4]. Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1235.
[5]. Tổng kết hoạt động quân lực chính quyền Sài Gòn tháng 3.1973 của Bộ Tổng tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 17778.
[6]. Công văn số 43/PThT/BĐPT/KH ngày 19.02.1973 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[7,8]. Tài liệu nhận định Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Pari ngày 26.02.1973 của chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
[9]. Diễn văn của Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm tại Hội nghị Quốc tế ngày 27.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
[10]. Phân tích và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn của chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[11]. Bản ghi tốc ký phiên họp thứ 10 Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam tại Pari ngày 09.5.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1247.
[12, 13]. Động viên lệnh của Bộ Tư lệnh miền, tài liệu do Đại đội 288 địa phương quân chính quyền Sài Gòn thu ngày 20.12.1974.
[14]. Bài nói của Nguyễn Văn Thiệu tại khóa hội thảo và học tập về Hiệp định Pari của chính quyền Sài Gòn, ngày 12.11.1974, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1293.

Vài nét về sự phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn

Kỳ 1: Thái độ hai mặt của Thiệu

QĐND Online- Hiệp định Paris về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết ngày 27.01.1973. Nhưng trước khi Hiệp định được ký kết, chính quyền Sài Gòn đã có âm mưu, thủ đoạn cụ thể hòng phá hoại Hiệp định. Ngày 23.01.1973, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hànhCông điện số 004-TT/CĐ gửi Thủ tướng chính phủ, các đô, tỉnh, thị trưởng, Tổng Tham mưu trưởng và tư lệnh các quân đoàn, quân khu “ra lệnh treo cờ trên toàn quốc” nhằm “tràn ngập lãnh thổ bằng cờ quốc gia để xác nhận phần đất và phần dân” [1]. Trong đó ấn định ngày giờ cụ thể: “Ngày giờ có thể là 12 giờ trưa, ngày thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973. Ngày giờ này sẽ được xác nhận vào sáng thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973 vừa bằng công điện vừa bằng hai đài phát thanh quốc gia và quân đội” [2].

Cùng ngày, thực hiện công điện của Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ra lệnh cho quân đội Sài Gòn thực hiện chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ”. Cụ thể: “Yêu cầu các nơi nhận lãnh ngay Quốc kỳ tại cơ quan tiếp vận liên hệ. Theo tiêu chuẩn mỗi quân nhân ba lá và phân phối cho toàn thể quân nhân các đơn vị hành quân. Thực hiện cắm cờ trong vùng hành quân tại các vị trí trọng yếu: Đình, chùa, nhà thờ, trường học, cầu cống, đồi núi, cao điểm, nhà dân chúng…” [3].

Sau một ngày, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công điện mật hỏa tốc ra lệnh cho các đô, tỉnh và thị trưởng phải cấp tốc thực hiện: “Khẩn ra thông cáo nhắc nhở đồng bào, bắt buộc mỗi tư gia phải treo một quốc kỳ kể từ 12 giờ ngày 24.01.1973. Mỗi trụ sở cơ quan công, bán công, các tòa hành chính đô, tỉnh, thị, trụ sở quân, xã, phường, khóm, ấp, các nhà buôn, xí nghiệp, hãng xưởng, trụ sở tôn giáo, chánh đảng, đoàn thể hiệp hội, các công viên, các nơi tiện ích công cộng và mọi nơi mà quý tòa xét thấy cần thiết phải treo quốc kỳ kể từ ngày giờ nói trên.

Trực tiếp kiểm soát tổng quát và khẩn thành lập các toán kiểm soát gồm có CB/PTNT (Cán bộ phát triển nông thôn), viên chức phường, xã, khóm ấp, cảnh sát quốc gia và nhân dân tự vệ để thường xuyên kiểm soát.

Tất cả tư gia cũng như trụ sở, công sở đô, tỉnh, thị, quận, xã, phường, khóm, ấp đều phải dự trù hai lá cờ, một lá để sử dụng ngay và một lá để dự phòng.

Chỉ thị cơ quan an ninh, cán bộ quân chính mọi cấp… hăng hái, tích cực vào việc triệt hạ hoặc bôi xóa ngay những người cộng sản được treo hoặc vẽ sơn tại bất cứ nơi nào, đồng thời thay thế ngay vào đó bằng cờ quốc gia.

Mỗi cán bộ và quân nhân hoạt động tại chỗ hoặc lưu động công tác phải mang theo mình ba lá cờ quốc gia để cấp thời có ngay cờ ứng dụng, tùy trường hợp” [4].

Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định

Khi đã có bản Dự thảo Hiệp định Paris trong tay, Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn của chính quyền Sài Gòn tiến hành phân tích từng câu chữ nhằm tìm kiếm “kẽ hở” để “lách luật”. Ngay câu đầu của Hiệp định ghi: “Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam” [5]. Từ “Các bên” được chính quyền Sài Gòn giải thích là “chỉ có hai phe tham dự hòa hội Ba Lê (tức Paris). Một phe là Việt Nam cộng hòa và đồng minh Hoa Kỳ và phe kia là cộng sản”3. Để từ đó kết luận là ở miền Nam Việt Nam chỉ có chính quyền Sài Gòn là “chính phủ hợp pháp duy nhất” mà không thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đúng tinh thần của Hiệp định.

Câu “Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn” được ghi ở Điều 2, bị chính quyền Thiệu bắt bẻ “Bản tiếng Anh dùng chữ “durable and without limits of time” trong khi bản tiếng Việt lại dịch là “vững chắc và không thời hạn”. “Durablekhông có nghĩa là vững chắc, mà chỉ có tính cách lâu dài”. Và Điều 3, cụm từ “ở nguyên vị trí của mình” bị bóp méo thành “là tạm thời ở nguyên tại chỗ để thực hiện ngừng bắn, một cuộc ngừng bắn tại chỗ. Nên lưu ý một cuộc ngừng bắn tại chỗ không phải là một cuộc ngừng bắn da beo. Theo phương thức ngừng bắn tại chỗ, việc đóng quân của một đơn vị quân sự tại một địa điểm nào đó chỉ có tính cách tạm thời; địa điểm này vẫn thuộc chủ quyền của chính phủ Việt Nam cộng hòa. Vùng kiểm soát nói trong điều này có nghĩa là sự kiểm soát của các đơn vị quân sự, không phải là sự kiểm soát hành chánh” [6]. Đồng thời lợi dụng Mục c của Điểm 3 không quy định cụ thể về lực lượng vũ trang của các bên, chính quyền Thiệu đặt lực lượng “Cảnh sát Quốc gia” và “nhân dân tự vệ” của chính quyền Sài Gòn nằm ngoài phạm vi của Hiệp định [7]. Thực tế ngay sau đó, hai lực lượng này trở thành lực lượng chủ yếu dưới sự yểm trợ của chủ lực quân đội Sài Gòn, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh “giành dân, lấn đất” với cách mạng. Qua đó cho thấy, trước dư luận chính quyền Thiệu luôn thể hiện thái độ cam kết nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Paris nhưng thực chất vẫn ngoan cố nuôi ý đồ chiến tranh, phá bỏ Hiệp định.

Từ những phân tích của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn, chính quyền Thiệu từng bước có những hành động cụ thể phá hoại Hiệp định Paris.

Chiến sĩ QĐNDVN đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù của quân ngụy tại cứ điểm 31. Ảnh tư liệu/internet.

Về quân sự, để che mắt dư luận, ngày 22.01.1973, Bộ Tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn ban hành Công điện số 3386/TTM/P341, Công điện số 7230/TTM/P345 ngày 17.02.1973Huấn thị số 310-27/TTM/P363 ngày 03.3.1973 về thực thi lệnh ngừng bắn. Nhưng trên thực tế, chỉ trong đêm 27.01 rạng ngày 28.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên và 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu [8]/a>. Trong đó có các cuộc hành quân quan trọng:

Hành quân Đại bàng 72/M trong vùng Quảng Trị – Thừa Thiên; Hành quân Lam Sơn 63 tại Thừa Thiên; Hành quân Quang Trung 81 tại Quảng Nam; Hành quân Quyết Thắng 27A trong vùng Quảng Tín, Quảng Ngãi; Hành quân Đăkto 15 tại Kon Tum; Hành quân Đồng Thắng 1/BĐQ trong vùng Kon Tum – Pleiku; Chiến dịch Đồng Khởi 73/1 tại Bình Định, Tuyên Đức; Hành quân Toàn Thắng TB tại Hậu Nghĩa; Hành quân Cửu Long 7/11 trong vùng Định Tường – Kiến Phong – Kiến Tường – Campuchia; Hành quân Cửu Long 44/17 trong vùng Châu Đốc – Kiên Giang [9].

Theo tổng kết hoạt động tháng 01.1973, của Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đến ngày 31.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 694 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, gồm 603 cuộc cấp tiểu đoàn, 34 cuộc cấp trung đoàn và 57 cuộc cấp sư đoàn [10].

Theo báo cáo của lực lượng pháo binh quân đội Sài Gòn, bình quân hàng tháng trong năm, lực lượng này thực hiện hơn 200 cuộc hành quân lớn.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn


[1], 2. Công điện số 004-TT/CĐ ngày 23.01.1973, của Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[2]. Công điện hỏa tốc số 006-TTM/TC.CTCT/KH.1 ngày 23.01.1973, của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[3]. Công điện số 106/PThT/73/M ngày 24.01.1973 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[4]. Hiệp định Pari về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1235.
[5]. Phân tách và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[6]. Phân tách và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[7]. Chính quyền Thiệu “Lực lượng Cảnh sát Quốc gia và nhân dân tự vệ không bị lệ thuộc vào điều này vì nó không phải là lực lượng chánh quy hay không chánh quy”.
[8]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[9]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[10]. Tổng kết hoạt động tháng 01.1973 của Bộ Tổng tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 17778.

Ký ức tự hào về một Thủ đô anh hùng

(HNM) – Nhiều nhân chứng lịch sử đã tụ hội tại TP Hồ Chí Minh để tham dự cuộc tọa đàm “Hà Nội 12 ngày đêm, chuyện bây giờ mới kể” nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” do Đài Truyền hình thành phố phối hợp với Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức. Những ngày tháng hào hùng không bao giờ quên trên mảnh đất Thủ đô 40 năm về trước được tái hiện đầy xúc động, thiêng liêng, tự hào…

Dù sinh ra trên quê hương “5 tấn” – Thái Bình, thế nhưng trong ký ức của Trung tướng Phạm Tuân, người phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay B52 luôn chan chứa những ký ức về một Hà Nội kiên cường, bất khuất trước bom đạn kẻ thù. Ông tâm sự, được mời vào TP Hồ Chí Minh tham dự buổi tọa đàm là một vinh dự lớn, vì đây là dịp để ông và đồng đội họp mặt, ôn lại kỷ niệm.

Chiếc máy bay Mig 21 do Anh hùng Phạm Tuân điều khiển đã bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ năm 1972. Ảnh tư liệu

“Chúng tôi đã phải rất vất vả để chống lại “pháo đài bay bất khả xâm phạm” của không lực Mỹ. Thế nhưng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, chúng tôi đã không lùi bước. Một chiếc, hai chiếc, ba chiếc… rồi nhiều pháo đài bay B52 đã bị bắn hạ là điều phi thường trong lúc lực lượng không quân của ta nhỏ bé hơn Mỹ rất nhiều vào thời điểm đó”. Trung tướng Phạm Tuân ví cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân Hà Nội lúc bấy giờ, không chỉ giáng một đòn bất ngờ vào tham vọng của Mỹ, mà còn cho thấy những người con của Thủ đô đã chiến đấu bằng ý chí, sự khôn ngoan và bằng những cách đánh riêng, sáng tạo, mà rất ít dân tộc có thể làm được.

Một nhân vật lịch sử khác, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 tên lửa Đinh Thế Văn, người đã chỉ huy đơn vị bắn rơi 4 máy bay B52, cũng bồi hồi nhớ lại những ngày tháng hào hùng. Ông Văn kể rằng, lúc đó chính quyền Mỹ tuyên truyền rằng B52 sẽ bay vào đánh phá Hà Nội như… đi du lịch, không một vũ khí nào của Việt Nam có thể bắn rơi. Ông đã cùng đồng đội dày công nghiên cứu và nắm được tất cả những đặc điểm, tính năng của máy bay B52. Chính sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó của bộ đội tên lửa cùng với ý chí, quyết tâm, cách đánh linh hoạt, khéo léo, thông minh đã khiến nhiều “pháo đài bay” của Mỹ rơi rụng trên bầu trời Thủ đô.

Nhận định về cuộc chiến đấu kiên cường của những người cộng sản anh em, Đại tướng, chuyên gia Liên Xô Anatoli Ivanovich Khiupenen bày tỏ sự cảm phục về một đất nước tuy nhỏ bé nhưng anh dũng, phi thường: “Bản thân chúng tôi cũng không mấy tin tưởng là Việt Nam có thể đánh thắng một trong những lực lượng không quân mạnh nhất thế giới, mà máy bay B52 là biểu tượng cho sức mạnh hủy diệt của họ. Thế nhưng Việt Nam đã giành được chiến thắng oanh liệt”, Đại tướng Anatoli Ivanovich Khiupenen không giấu được xúc động, đôi mắt ông đỏ hoe nhìn sang người hùng Việt Nam bắn hạ máy bay B52 – Trung tướng Phạm Tuân. Hai người đồng chí đã dành cho nhau cử chỉ thân mật, trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt của cả khán phòng.

Cùng có mặt tại buổi tọa đàm, nhà quay phim Nguyễn Việt Tùng bồi hồi, xúc động khi xem lại những cuốn băng tư liệu mà chính ông đã ghi lại về cảnh đổ nát mà những cỗ “pháo đài bay” của đế quốc Mỹ gây ra đối với Bệnh viện Bạch Mai, các khu dân cư, các tuyến phố Hà Nội và hình ảnh những chiến sĩ phòng không, không quân, những người lính trẻ Hà Nội vẫn bám phố phường để chiến đấu chống lại sức mạnh hủy diệt từ vũ khí tối tân của kẻ thù. Ông Tùng nhớ lại, một trong những cảnh quay xúc động nhất là cảnh người dân Hà Nội sơ tán khỏi Thủ đô, mà sau này xác định được danh tính của hai mẹ con trong đoàn người sơ tán ấy là bà Lê Thị Hương và chị Nguyễn Thị Phương. Có mặt trong buổi tọa đàm, hai nhân chứng lịch sử – hai mẹ con chị Phương cùng rưng rưng khi xem lại những thước phim quý giá về một thời điểm lịch sử vô cùng thiêng liêng mà oai hùng của Thủ đô.

Cuộc chiến đã lùi xa, trở lại TP Hồ Chí Minh trong một sự kiện đặc biệt, chuyên gia Liên Xô Anatoli Ivanovich Khiupenen bày tỏ sự ngỡ ngàng trước sự đổi thay của đất nước Việt Nam anh hùng: “Tôi còn nhớ như in vào những ngày tháng 12 năm 1972, khi tôi đặt chân đến Hà Nội chỗ nào cũng thấy đổ nát, bầu trời thì rực lửa. Vậy mà giờ đây Hà Nội thật khang trang và tươi đẹp. Tôi coi đó là một chiến thắng nữa của các bạn – chiến thắng trên mặt trận đổi mới, hội nhập”.

Trung tướng Phạm Tuân còn nhắc tới kỷ niệm khi tiếp xúc với những phi công Mỹ bị bắn rơi phải cúi đầu khuất phục trước ý chí của quân và dân Hà Nội. “Tôi nhớ lúc gặp một phi công lái B52 của Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò. Lúc đó tôi đã hỏi: “Ông suy nghĩ gì khi bay vào Hà Nội”. Viên sĩ quan trả lời: “Vũ khí của không quân Bắc Việt chúng tôi biết hết, gồm có Mig, Sam và một số loại vũ khí khác. Thậm chí chúng tôi còn diễn tập bằng các loại khí tài này và nghĩ rằng bay vào Hà Nội là chuyến bay luyện tập thôi, vào ném bom xong rồi bay ra”. Tôi hỏi tiếp: “Vậy giờ ngồi ở đây, ông cảm thấy như thế nào?”. “Đúng là chúng tôi chưa đánh giá hết các ông nên giờ chúng tôi mới ngồi ở đây”. Trung tướng Phạm Tuân kết luận: “Câu chuyện trên cho thấy rằng, chúng ta có quyền tự hào về chiến thắng của mình”.

Ký ức và những câu chuyện bây giờ mới kể về Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972 được tái hiện giữa thành phố mang tên Bác Hồ như đang thôi thúc trong mỗi người dân thành phố cùng đồng bào Thủ đô và nhân dân cả nước chung niềm tự hào, xúc động được là “người Việt Nam”.

Thành Luân
hanoimoi.com.vn

Chia lửa” với Hà Nội từ chiến trường miền Đông…

QĐND – Những cựu binh Trung đoàn 209 và Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7, miền Đông Nam Bộ), quê Hà Nội vẫn thường gặp nhau, ôn lại bao kỷ niệm xưa. Những xạ thủ súng AK, B-41, 12,7mm năm nào, từng kiên gan dưới bom đạn Mỹ ở Chư-tan-cơ-ra hay Chơn Thành, Tàu Ô (Bình Phước), hứng chịu bom cày đạn xới bao đợt của máy bay B-52 rải thảm giữa chiến trường, vậy mà năm 1972, khi nghe tin B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, ai cũng thấy như trong lòng có lửa đốt.

Đoàn Nhiên, một trinh sát dạn dày của Sư đoàn 7 kể: Nghe tin bom B-52 trút xuống Nội Bài quê tôi, tôi bần thần suốt ngày. Bom đạn ở đây, giữa rừng le, giữa rừng cao su còn có vật che chắn, sức ép giảm đi. Bom ném xuống khu dân cư, ở Hà Nội chắc tang thương lắm. Còn Trần Đại Đồng, trinh sát pháo của Tiểu đoàn 7 kể, mỗi “vệt” bom B-52 dài hàng cây số, dân lành chịu sao nổi.

Tay súng AK gan góc Lại Anh Vĩnh tâm sự, khi nghe tin Hà Nội “vít cổ” B-52 xuống cánh đồng Phủ Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội), bắt sống phi công, chúng mình nhảy lên, sướng quá, vội đi tìm đồng hương Hà Nội thông báo cho anh em mừng. Lính bộ binh Nguyễn Văn Ngọc hào hứng kể, không mừng sao được, khi ở trong này, nhìn thấy B-52 thì đành chịu, nó bay cao quá, không súng nào với nổi. Hằng ngày nó bay đội hình ba chiếc rõ lắm, nhìn lên phát tức, nó nghênh ngang như đi vào chốn không người. Lính tên lửa Hà Nội giỏi quá!

Nguyễn Văn Chúc, nhà ở phố Đại La kể: “Ở một căn cứ ven sông Bé, suốt đêm mình ghé sát tai vào ra-đi-ô để nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, phát từ Hà Nội và không bỏ qua chi tiết nào. Chính đài phát thanh của bọn quân ngụy cũng đưa tin nhiều B-52 của “Không lực Hoa Kỳ” không trở về căn cứ. Nửa đêm mình còn lay các đồng hương dậy để loan tin Hà Nội đưa phi công Mỹ ra họp báo quốc tế”.

Giờ đây, những cựu chiến binh miền Đông gan góc năm xưa đã ngoài 60 tuổi, hàng trăm đồng đội của họ đã nằm lại Sa Thầy (Kon Tum), Tàu Ô, Xóm Ruộng… Hà Nội – quê hương các anh đã chia lửa với miền Đông, và năm 1972, chính các anh đã kiên cường chốt chặn suốt 150 ngày đêm trên đường 13 để “chia lửa” với Hà Nội. Mong muốn của các cựu chiến binh là Hà Nội ngày càng đẹp hơn, an ninh trật tự tốt hơn, môi trường xanh, sạch, đẹp hơn…

ĐỒNG PHƯƠNG
qdnd.vn

Chiến công thầm lặng của lực lượng trinh sát kỹ thuật

QĐND – Cuối năm 1965, chúng tôi gồm hơn 60 sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, phần lớn là của Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và một số trường khác được điều động vào học khóa đặc biệt tại Trung tâm Đào tạo trinh sát kỹ thuật (TSKT) thuộc Cục 2 (Bộ Tổng tham mưu). Kết thúc khóa huấn luyện, tôi được điều động về Mặt trận 959.

Giữa tháng 12-1972, lãnh đạo Phòng 2 (Bộ tư lệnh Mặt trận 959) cử tôi về Cục 2 báo cáo tình hình. Tôi về tới Hà Nội giữa lúc cả thành phố đang hối hả chuẩn bị bước vào trận chiến cam go, quyết liệt. Không chỉ các cơ quan, đơn vị trực chiến, mà cả những người dân không có điều kiện đi sơ tán luôn phải trong tư thế sẵn sàng đối phó với những đợt không kích của không quân Mỹ. Mấy ngày ở Trạm 66 (phố Hoàng Diệu), tôi chứng kiến nhiều đợt oanh kích khốc liệt, tàn nhẫn của Không quân Mỹ vào Ga Hàng Cỏ, Bệnh viện Bạch Mai, Kho xăng Đức Giang… Khói bom mù mịt, tiếng gầm rú của máy bay xé nát màn đêm bầu trời Hà Nội. Nhưng quân và dân Thủ đô lại không hề nao núng, đặc biệt, không ít đêm, nhiều người còn ra đường phố, lên sân thượng hò reo, cổ vũ bộ đội ta bắn trúng máy bay Mỹ, thiêu cháy “pháo đài bay” B-52, nhất là khi những mảnh xác máy bay Mỹ cháy, rơi lả tả thắp sáng cả bầu trời Hà Nội.

Sáng 24-12-1972, đồng chí trực ban đến Trạm 66 đón tôi vào Cục 2 làm việc. Anh X.L, Trưởng phòng 70, biết tôi ở bộ phận TSKT, anh rất vui và đánh giá cao lực lượng TSKT đã thu và báo cáo tin tức về Cục rất nhanh và chính xác, góp phần để Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các quân, binh chủng, lực lượng phòng không của các địa phương bình tĩnh, chủ động đưa ra phương án tác chiến phù hợp, đón đánh máy bay Mỹ đúng hướng, đúng tầm, tạo hiệu suất chiến đấu cao, hạn chế thương vong, tổn thất… Anh kể lại, cách đây mấy ngày, trong buổi giao ban của Bộ Tổng tham mưu, sau khi nghe báo cáo tình hình địch của Cục 2, một đồng chí lãnh đạo cấp cao trầm tư giây lát rồi hướng về phía đồng chí lãnh đạo Cục 2 hỏi: Theo các đồng chí, nhận định thì đợt tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ ra miền Bắc sẽ kéo dài đến bao giờ? Rất nhiều ý kiến nêu ra, trong đó anh X.L bình tĩnh, khiêm tốn nói: “Căn cứ trên thông tin chúng ta tổng hợp được, theo tôi, đợt tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ sẽ không thể bước sang năm 1973…”.

Trở lại chiến trường, hằng ngày tôi vẫn hồi hộp theo dõi chiến sự đang diễn ra ác liệt trên bầu trời Hà Nội. Sáng 30-12-1972, nghe tin Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, tôi cùng đồng đội sung sướng, reo hò mừng chiến thắng. Càng vui hơn khi biết chiến thắng đó có phần đóng góp của lực lượng TSKT chúng tôi, những người lính trinh sát kỹ thuật của ngành Tình báo quân sự anh hùng.

VŨ MINH TÂM
qdnd.vn

Đàm phán Paris – nền móng phát triển của ngoại giao Việt Nam

(VOV) -Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh.

Hiệp định được ký kết ngày 27/1/1973 tại Paris sau chưa đầy một tháng, kể từ ngày Mỹ ngừng ném bom Hà Nội và các tỉnh miền Bắc Việt Nam với nội dung chính là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi miền nam Việt Nam.

Vinh dự là một thành viên của đoàn đàm phán, ông Nguyễn Khắc Huỳnh – nguyên Đại sứ, thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại cuộc đàm phán Paris về Việt Nam nay đã gần 90 tuổi vẫn rưng rưng nhiều cảm xúc về “cuộc đàm phán để đời” trong sự nghiệp ngoại giao của mình. Phóng viên VOV có cuộc trò chuyện với ông.

PV: Thưa ông, trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, chưa có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Paris. Cuộc đấu tranh của chúng ta trên bàn thương lượng đã giành thắng lợi quan trọng, to lớn về nhiều mặt. Xin ông cho biết vai trò, vị trí và ý nghĩa của chiến thắng này?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Cuộc đàm phán Paris kéo dài gần 5 năm, tiến hành trên hai diễn đàn: một là diễn đàn gặp riêng, thật sự giải quyết các vấn đề; diễn đàn thứ hai là diễn đàn bốn bên, hay còn là diễn đàn công khai, mà ở đó mỗi đoàn tới đọc diễn văn để tranh thủ dư luận thế giới.

Ta biết đàm phán Paris là lâu dài và gian khổ bởi nó phụ thuộc vào tình hình chiến trường, quân đội ta ở miền Nam có thắng được Mỹ thì bàn đàm phán mới yên được. Bản thân cuộc đàm phán là một cuộc đấu trí giữa hai nền ngoại giao: ngoại giao Việt Nam và Mỹ.

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh (Ảnh: QĐND)

Vừa đấu trí vừa đấu chiến lược, đấu chiến thuật, đấu bản lĩnh và đấu mưu. Ta kiên trì đấu tranh trong đàm phán để đạt mục tiêu cao nhất là Mỹ chấp nhận rút và chấm dứt chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Để đạt mục tiêu đó là cực kỳ khó khăn vì Mỹ rất mạnh, giành thắng lợi với Mỹ rất khó. Thắng như thế nào, thắng đến mức nào thì Mỹ chấp nhận được và kết quả Hiệp định Paris là phải đạt được mục tiêu đó.

Không phải là ta đạt được tất cả đâu, nhưng ta đạt được mục tiêu cơ bản nhất là Mỹ công nhận độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước ta đồng thơi chấp nhận rút quân nhưng ta không rút, quân ta vẫn ở lại miền Nam để mở đường thắng lợi sau này. Như vậy Hiệp định Paris đã mở đường, làm thay đổi tương quan lực lượng ở miền Nam, thay đổi thế trận để quân ta tiến lên giải phóng miền nam. Đó là ý nghĩa của Hiệp định Paris.

PV: Hiệp định Paris đã góp phần đặt nền móng cho sự phát triển lớn mạnh của ngành ngoại giao Việt Nam hiện nay như thế nào thưa ông?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Cho đến bây giờ, 40 năm nhìn lại thì thấy khi ký Hiệp định Paris vị trí Việt Nam như thế nào, nền ngoại giao của ta như thế nào. Khi ấy Việt Nam mới quan hệ với 30 – 40 nước thôi, còn bây giờ ta quan hệ với 180 nước. Trước kia, ta chưa có quan hệ với Mỹ, thắng Mỹ xong ta lại có quan hệ bình thường với Mỹ.

Hiện nay, Việt Nam còn có quan hệ với hầu hết các nước lớn trên thế giới, ta có môi trường hòa bình rộng lớn, người Việt Nam đi đâu cũng được, nói chuyện với ai cũng bình đẳng, quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa đều mở rộng.

Có thể thấy rằng, Hội nghị Paris khiến chúng ta hiểu biết thêm về thế giới, mở rộng quan hệ, nhân dân trên thế giới kính trọng nhân dân Việt Nam hơn, thế giới kính trọng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hơn. Ý nghĩa quan trọng của việc phát huy vai trò và vị thế  Việt Nam sau Hội nghị Paris là như vậy.

PV: Ông có thể so sánh Hiệp định Paris với các hiệp định ngoại giao mà ta đã kí kết trong thời đại Hồ Chí Minh, cụ thể như Hiệp định Geneve, cũng như nói thêm về các văn kiện, thỏa thuận ngoại giao mà ông cha ta đã tiến hành trong lịch sử?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Trong lịch sử ông cha ta 1.000 năm trước thì thỏa thuận ngoại giao với phương Bắc không nhiều. Lý Thường Kiệt có thỏa thuận với quân Tống về vấn đề rút khỏi phía Bắc, sau này Nguyễn Trãi có thỏa thuận Bồ Đề ở bến Bồ Đề để quân Minh rút khỏi thành Đại La.

Đến thời đại Hồ Chí Minh thì ta ký thỏa thuận quốc tế nhiều hơn. Mở đầu là Hiệp ước ký ngày mồng 6/3/1946, đó là hiệp ước quốc tế đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, giúp Việt Nam thoát khỏi tình thế cùng lúc phải chống lại nhiều kẻ thù là Pháp và quân Tưởng.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ta ký Hiệp nghị Geneve. Đó là thắng lợi lớn khi so sánh lực lượng của ta với quốc tế lúc bấy giờ. So sánh với Hiệp định Paris thì Hiệp định Geneve chưa phản ánh được thắng lợi của chiến trường, trong khi đó Hiệp định Paris đã nêu bật thắng lợi của chiến trường.

Người xưa thường nói, không giành ở trên bàn đàm phán những gì chưa dành được ở chiến trường, nhưng lạ một điều là ở Hội nghị Paris ta giành thắng lợi cao hơn thắng lợi trên chiến trường. Ví dụ như: Mỹ rút quân đơn phương, Mỹ phải chấp nhận bồi thường chiến tranh cho Việt Nam, chấp nhận việc từ nay Mỹ không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam… Đó là một cam kết rất sâu sắc, rất có lợi.

PV: Như vậy Hiệp định Paris đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật đàm phán của nước ta phải không, thưa ông?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Nói rộng hơn là Hiệp định Paris và cuộc đàm phán Paris đã nâng cao trình độ của ngoại giao Việt Nam lên ngang tầm quốc tế, góp phần phát triển ngoại giao Việt Nam ngang tầm thời đại. Từ sau Hội nghị Paris, ngoại giao Việt Nam chững chạc, vững vàng hơn nhiều, người Việt Nam đi giao dịch quốc tế cảm thấy tự nhiên, thoải mái, thong thả, bình đẳng hơn nhiều.

Trước khi có Hiệp định Paris ta còn chập chững chỗ này, chỗ khác như một đứa trẻ, thì sau Hiệp định Paris ta có nền ngoại giao của người lớn, trưởng thành, vững chắc hơn.

PV: Hiệp định Paris không phải là một chiến thắng đơn lẻ mà là một chiến thắng tổng hòa của sức mạnh ngoại giao cũng như sức mạnh nhân dân, cộng với đường lối của Đảng và tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè thế giới. Là một người trực tiếp trong phái đoàn đàm phán khi ấy, ông có cảm nhận gì về nhận định này?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Hiệp định Paris là tổng hòa các thắng lợi của chiến trường, thắng lợi đấu tranh của nhân dân, quan trọng nữa là có sự ủng hộ của nhân dân Mỹ. Hồ Chủ Tịch đã nói, sức ép của nhân dân Mỹ khiến Mỹ rút quân chính là mặt trận thứ hai sau mặt trận thứ nhất là ở Việt Nam, mặt trận thứ ba là sự ủng hộ của cả thế giới.

Vậy nên, chúng ta coi Hiệp định Paris không phải là thắng lợi của ngoại giao đơn thuần mà đó là thắng lợi tổng hòa, thắng lợi quyết định của chiến trường nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và thế giới.

PV: Là người tham gia phái đoàn đàm phán tại Paris, ông đã từng chứng kiến sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cũng như của Đảng cộng sản Pháp dành cho mình như thế nào?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Tôi hoạt động quân sự, chính trị cho đến khi về hưu là gần 60 năm, tôi có nhiều kỉ niệm lắm, nhưng với cá nhân tôi thì đàm phán Paris là kỉ niệm lớn nhất trong cuộc đời sự nghiệp của tôi. Tất cả đã ăn sâu vào tâm khảm của tôi. Bởi thế sau khi nghỉ hưu tôi đã viết sách về đàm phán Paris và cho ra đời đến chục cuốn rồi.

Những cảm xúc mà tôi nhớ nhất là dịp khi tôi đi dự một phiên họp, phiên họp này có bà Nguyễn Thị Bình xuất hiện. Việt kiều, nhân dân Pháp và các nhà báo tập trung rất đông trước cửa hội trường Kléber để hoan hô phái đoàn của Mặt trận dân tộc giải phóng Việt Nam, dẫn đầu là một người phụ nữ sắc sảo, xinh xắn, tiêu biểu cho anh hùng của phụ nữ Việt Nam và miền Nam Việt Nam.

Tôi rất xúc động trước tình cảm của Việt kiều, của bà con quốc tế. Sau này, tôi có nhiều cuộc tiếp xúc quốc tế hơn thì những tình cảm đó tiếp tục được củng cố thêm. Tôi còn nhớ, khi tôi sang Italy, cuộc mit-tinh vừa kết thúc thì hàng vạn thanh niên bao vây hội trường nơi chúng tôi đến phát biểu, tôi quay lại nói với đồng chí Tổng Bí thư Đảng cộng sản Italy là “Chúng tôi bị bao vây rồi đấy”. Thì ông ấy nói “đó là cuộc bao vây hữu nghị, rất hữu nghị, là biểu hiện tình cảm của nhân dân Italy với những người Việt Nam, những người Việt Nam đang chiến đấu, đàm phán ở Paris”. Những kỉ niệm ấy ăn sâu trong tôi.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!./.

Mỹ Trà-Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin thực hiện
vov.vn

Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris

(VOV) – Cuốn sách của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh đề cập tới nhiều vấn đề ít người biết về đàm phán Hiệp định Paris.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nhằm góp phần giúp bạn đọc có thêm tư liệu để nghiên cứu, tìm hiểu về Hội nghị và Hiệp định Paris, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách “Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris” của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh.

Tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh có kinh nghiệm nhiều năm công tác trong ngành ngoại giao và nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Ông là một nhân chứng, người được trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán Hội nghị Paris.

Cuốn sách dày 235 trang, đề cập đến 11 vấn đề, bao gồm một số bài viết, bài nghiên cứu đã được chọn lọc và xuất bản của tác giả trong những năm gần đây và một số bài tham luận tại các cuộc hội thảo trong nước và ngoài nước nhân các dịp kỷ niệm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

Bìa cuốn sách của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh

Bằng những phân tích sắc sảo, những luận chứng súc tích, tác giả tập trung trình bày và làm rõ thêm một số vấn đề, sự kiện lớn trong quan hệ quốc tế, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và quá trình diễn ra cuộc đàm phán Paris.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris được coi như một đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, mãi mãi là một dấu son không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc. Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam là một hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới (4 năm 8 tháng 14 ngày).

Đó thực sự là cuộc đấu trí vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao, cuối cùng ngoại giao Việt Nam đại thắng trên bàn đàm phán, góp phần quan trọng “đánh cho Mỹ cút” để dẫn tới “đánh cho ngụy nhào” với đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đó cũng là hội nghị thể hiện rõ nét nhất, hiệu quả nhất, thành công nhất của nghệ thuật kết hợp đánh – đàm dưới sự lãnh đạo của Đảng./.

Trà Ngọc/VOV-Trung tâm Tin
vov.vn

Đạo diễn Pháp Daniel Roussel làm phim về Hiệp định Paris

(VOV) -“Hiệp định Paris là một câu chuyện kỳ diệu về hành trình tìm lại hòa bình” – đây cũng là lý do để ông Daniel Roussel làm phim…

Đó là lý do thôi thúc nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel làm bộ phim tài liệu mà ông dự định đặt tên rất giản đơn là “Hiệp định Paris”.

Từng là phóng viên thường trú của báo Nhân đạo tại Việt Nam trong giai đoạn khó khăn bị cấm vận sau chiến tranh, nhà báo người Pháp này có những cảm nhận đặc biệt về đất nước – con người Việt Nam và từng gây nhiều tiếng vang với 2 bộ phim về Việt Nam: “Cuộc chiến giữa hổ và voi” và “Tù binh Mỹ ở Hà Nội”.

Bộ phim “Hiệp định Paris” dự định sẽ được trình chiếu vào ngày 1/4/2013 tại thành phố Choisy le Roi, như một hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris lịch sử.

PV VOV thường trú tại Pháp trò chuyện với nhà làm phim Daniel Roussel về bộ phim mà ông đang thực hiện.

P.V: Thưa ông Daniel Roussel, ông có thể cho biết vì sao ông quyết định làm phim về Hiệp định Paris ?

Ông Daniel Roussel: Đã từ lâu, tôi thích làm phim về đề tài hòa bình, Việt Nam, tôi từng làm phim về Điện Biên Phủ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những tù binh Mỹ… Và câu chuyện của Hiệp định Paris là một hành trình kỳ diệu giành hòa bình cho Việt Nam. Tôi muốn chỉ ra rằng khát vọng hòa bình đã chiến thắng thế nào.

Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel

Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là một câu chuyện thần kỳ, là kết quả của một quá trình thương lượng đối mặt giữa 4 bên trong gần 5 năm. Câu chuyện khó tin ở chỗ đoàn đàm phán của Việt Nam nghĩ rằng họ chỉ lưu lại tại Pháp vài tháng, nhưng cuối cùng họ đã ở gần 5 năm. Câu chuyện khó tin ở chỗ nhiều khi hòa bình tưởng như đã trong tầm tay, rồi lại đột ngột bị đẩy ra rất xa. Đó là câu chuyện đấu trí căng thẳng giữa hai con người Lê Đức Thọ và Kissinger.

Đó cũng là câu chuyện về đoàn Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu, một người phụ nữ dịu dành nhưng cũng rất kiên cường. Các cuộc thương lượng như song hành với trận địa ở Việt Nam. Các cuộc đàm phán tiến và lùi cùng với diễn biến trên chiến trường. Câu chuyện dài gần 5 năm ấy còn kỳ diệu ở tình đoàn kết giữa đoàn miền Bắc với người dân ở Choisy Le Roi, hoặc ở gần đó; những người đã đón tiếp đoàn trong những bữa cơm gia đình; ở tình cảm của những người bạn Pháp, người phục vụ đoàn, người lái xe, người bảo vệ, đội y tế…

Đó là những thời điểm kỳ lạ, hàng trăm người trong 5 năm đã giúp đỡ đoàn miền Bắc, miền Nam, như một gia đình thực sự. Câu chuyện làm tôi rung động tận trái tim. Câu chuyện nói về hành trình giành lấy hòa bình, dù là một hành trình khó khăn, gồm cả chiến tranh, dù hành trình kéo dài đến 5 năm, nhưng đó là một câu chuyện hòa bình và nhân văn mà tôi muốn kể.

P.V: Theo tôi được biết, rất nhiều nhân chứng từng tham gia hoặc biết về quá trình đàm phán nay đã già yếu, một số đã mất hoặc không còn trí nhớ. Để tái hiện lại những nẻo đường hòa bình dẫn tới hiệp định, ông có gặp nhiều khó khăn không?

Ông Daniel Roussel: Đúng là rất khó. Nhiều người đã mất, một số khác chuyển nhà, không có một danh sách cụ thể những người đã từng tham gia quá trình đó, do thông tin hồi đó rất bí mật. Rồi gặp người này lại được giới thiệu tới người kia, dần dần thì tôi tìm ra được một số nhân chứng.

Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ảnh tư liệu)

Tôi cũng đã phải tận dụng mạng lưới những người đồng chí trong Đảng Cộng sản Pháp để tìm lại những người từng liên quan. Tôi cũng đã đến Việt Nam nhiều lần, gặp bà Nguyễn Thị Bình để trò chuyện với bà và một số nhân chứng tại Việt Nam. Tôi cũng đến thăm và gặp gia đình ông Lê Đức Thọ, ông Xuân Thủy để tìm những tư liệu quý cho bộ phim. Không chỉ vậy, tôi còn sang Mỹ đến gặp hai nhà ngoại giao gần gũi với ông Kissinger hồi đó là ông John Negroponte và Winston Lord để tìm hiểu quan điểm của phía Mỹ và phản ánh chân thực trên bộ phim.

P.V: Ông có nghĩ rằng những người Mỹ sẽ dễ dàng và thẳng thắn nói lại những câu chuyện lịch sử với ông hay không?

Ông Daniel Roussel: Họ sẽ kể câu chuyện theo quan điểm của họ, nhưng dù họ có nói gì thì lịch sử cũng là điều không thể đảo ngược. Mọi người đều đã biết những gì đã diễn ra trong lịch sử, hiểu hơn vì sao đàm phán lâu thế, Hiệp định đã tưởng như được ký vào tháng 10/1972, nhưng rồi Mỹ lại đánh bom xuống miền Bắc Việt Nam. Câu chuyện đã được ghi nhớ bởi nhiều nhân chứng, phía Mỹ hay bất kỳ bên nào cũng không thể nói ngược lại thực tế lịch sử.

P.V: Đúng như ông nói là lịch sử đã được ghi bằng thực tế và bởi các nhân chứng. Vậy liệu bộ phim của ông có đưa ra những điều gì mới mẻ chưa được biết đến về lịch sử? Trong bộ phim, ông có tìm cách lý giải nhiều câu hỏi đặt ra về quá trình đàm phán, ví dụ như vì sao đàm phán lại kéo dài đến thế, những diễn biến trên chiến trường đã tác động qua lại đến cuộc đàm phán như thế nào?

Ông Daniel Roussel: Bộ phim của tôi chắc chắn sẽ mang lại một số chi tiết mới vì câu chuyện này chưa được khắc họa nhiều, chưa được biết tới nhiều.

Theo tôi biết, chưa có bộ phim tài liệu nước ngoài nào về Hiệp định Paris, rất ít tài liệu trên thế giới viết về Hiệp định, mới có một tác giả người Canada viết sách về Hiệp định. Nhiều người trên thế giới nghĩ rằng chiến tranh kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 , nhưng thực tế, từ 2 năm trước, Việt Nam đã thành công trong việc ký Hiệp định Paris, đuổi quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Thông qua việc đưa trung thực quan điểm của các bên qua lời kể của các nhân chứng và những tư liệu thu thập được, bộ phim giải thích vì sao các cuộc thương lượng không tiến triển trong 3 – 3,5 năm đầu. Có những lúc thương lượng tưởng như tiến tới hòa bình nhưng rồi đột ngột lại bị đẩy ra rất xa. Riêng trong năm 1972, liên tục có những hi vọng rồi thất vọng, rồi chiến tranh nổ ra, người chết và bị thương, nhiều tài sản bị phá hủy một cách vô ích trong chiến tranh.

P.V: Xin cảm ơn ông./.

Nhà báo, nhà làm phim tài liệu Daniel Roussel sinh ngày 23/2/1946. Ông từng là Phóng viên thường trú của báo Nhân đạo (L’Humanité) tại Việt Nam giai đoạn 1980-1986.  Trở về Pháp, ông trở thành nhà làm phim tài liệu và những cảm nhận sâu sắc về Việt Nam đã thôi thúc ông làm những bộ phim về đề tài chiến tranh ở Việt Nam.

Trong đó có bộ phim “Cuộc chiến giữa hổ và voi” (nói về trận Điện Biên Phủ, với những lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) hay phim “Tù binh Mỹ ở Hà nội – Hilton”.

Năm 2007, ông lập trang web riêng giới thiệu về những bộ phim, những tư liệu quý mà mình đã có được, trang http://danielroussel.blogzoom.fr/, với chủ đề lớn “Những nẻo đường của Việt Nam”.

Thùy Vân/VOV – Paris
vov.vn

Hiệp định Paris qua góc nhìn của một nhà nghiên cứu Nga

(VOV) -Thắng lợi to lớn của việc ký kết Hiệp định Paris đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cả về vật chất và tinh thần

40 năm trước, sau chiến thắng lịch sử “Điện Biên phủ trên không”, Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký kết. Thắng lợi này có được là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới và sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô.

Trong dịp kỷ niệm trọng đại này, phóng viên Đài TNVN thường trú tại Liên bang Nga đã có những cuộc gặp gỡ, trao đổi với nhiều cựu chuyên gia quân sự Liên Xô trước đây, nhiều nhà nghiên cứu, nhà Việt Nam học để tìm hiểu về những nhận định, đánh giá của họ đối với sự kiện lịch sử này.

Nhà Việt Nam học Anatoly Voronin là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng công tác tại Vụ Quan hệ hợp tác với các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông từng trực tiếp tham gia phiên dịch trong các cuộc gặp giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Nguyễn Duy Trinh… với các nhà lãnh đạo Liên Xô trong những năm diễn ra đàm phán ký kết Hiệp định Hòa bình Paris.

Qua trao đổi với ông, chúng tôi được biết thêm những chi tiết mà chỉ có những người trong cuộc mới biết và đến nay ông vẫn còn nhớ rõ. Đó là những gì diễn ra tại Moscow, nhưng lại liên quan trực tiếp tới cuộc đàm phán đang diễn ra căng thẳng tại Paris.

Ông Anatoly Voronin nhớ lại: “Đây là một câu chuyện đặc biệt, bởi vì tất cả đều qua chỗ chúng tôi (Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô). Từ Nga, đoàn Việt Nam sang đến hội nghị đàm phán là cả một câu chuyện dài. Càng về cuối, người Mỹ càng “láu cá”, họ thay đổi thời hạn, yêu sách… và thường là vào giờ chót cốt để ông Lê Đức Thọ không kịp đến nơi đàm phán, gặp Trợ lí Tổng thống Mỹ Kissinger như đã thỏa thuận…

Tôi còn nhớ, khi ông Nguyễn Duy Trinh chuẩn bị bay sang Paris, tôi đã làm phiên dịch trong cuộc gặp của ông với ông Shuslov (Mikhail Andreevich Shuslov – Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) tại Moscow. Trước đó, ông Nguyễn Duy Trinh đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko. Họ đã trao đổi các vấn đề xung quanh Hiệp định. Những vấn đề chiến lược, những vấn đề chính trị chung cũng được họ thảo luận trong Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tôi nhớ là, ông Shuslov đã rất thông thái khi vận dụng tư tưởng của Lênin vào tình huống của Việt Nam. Ông ấy nói, chúng ta không thể đòi hỏi ngay lập tức đạt được thắng lợi toàn diện, hãy từng bước để đi đến kết quả cuối cùng. Quá trình đàm phán ở Paris còn quá nhiều vấn đề phức tạp, nên điều cốt lõi hiện nay là đấu tranh bằng được để Mỹ rút hết khỏi Việt Nam đã; buộc người Mỹ phải nói “Vâng, chúng tôi đồng ý rút hết quân khỏi Việt Nam từ ngày 1/3/1973”. Việt Nam đã có điều kiện để kiểm soát quyết định này, để cả thể giới biết đến quyết định này của Mỹ và Mỹ cũng sẽ không thể từ chối được. Còn về sau mới tính tiếp giải phóng Sài Gòn”.

Năm 1968, Liên Xô đã có những nỗ lực để góp phần triệu tập Hội nghị bốn bên tại Paris tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Từ năm 1970-1975, trên các diễn đàn quốc tế, trong Đại hội các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, hoặc các chuyến trao đổi đoàn đại biểu các cấp với các nước khác…, Liên Xô thường xuyên nêu lên và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Liên Xô cũng tích cực giúp đỡ Việt Nam vận động các đoàn thể chính trị thế giới, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế, tranh thủ sự đồng tình của các lực lượng tiến bộ đối với Việt Nam.

Theo ông Voronin, điều quan trọng là hai nước Việt Nam và Liên bang Nga cần đánh giá một cách sâu sắc và rút ra những bài học kinh nghiệm không chỉ đối với Việt Nam, đối với Nga mà đối với cả thế giới trong giải quyết các vấn đề quốc tế của ngày hôm nay. Và quan trọng hơn là cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp này.

“Hôm nay chúng ta đang nói về 40 năm ký Hiệp định Hòa bình Paris… đó cũng là một bài học rất quan trọng về công tác ngoại giao đã buộc Mỹ phải chấp nhận. Hiện nay có một số cuốn sách về Hiệp định Paris và coi đây là thành công ngoại giao của Việt Nam. Đúng, song nếu chỉ mình ngoại giao Việt Nam (gồm cả miền Nam Việt Nam) thì chưa đủ, bên cạnh đó còn có sự ủng hộ, đoàn kết của ngoại giao Xô Viết, theo nghĩa rộng của từ này, bao gồm cả ngoại giao nhân dân. Đó không chỉ là ngoại giao chuyên nghiệp, mà còn là ngoại giao nhân dân. Tạo dư luận xã hội ủng hộ Việt Nam còn có đóng góp của các nhà báo, của các nghị sỹ… Việt Nam đã giành được chiến thắng cũng chính là bởi đã tập hợp được những sức mạnh này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói một câu rất nổi tiếng là phải biết “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại”. Tất nhiên thời đại ngày nay cũng có những nét không giống thời đại của 40 năm về trước, nhưng vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là một công thức thông thái – là công thức toán học mà chúng ta cần tiếp tục phát triển, thực hành và chứng minh” – ông Anatoly Voronin nhấn mạnh.

Thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc đàm phán lịch sử để đi đến ký kết Hiệp định hòa bình Paris về Việt Nam tháng 1/1973 mà trước đó là chiến thắng mang tính bước ngoặt của trận “Điện Biên phủ trên không” đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cả về vật chất và tinh thần. Đây cũng chính là bài học, là truyền thống hết sức quý báu và trở thành nền tảng của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Nga hiện nay./.

Điệp Anh-Đoan Hải/VOV-LB Nga
vov.vn