Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” – Bản hùng ca bất tử

(ĐCSVN) – Thế kỷ XX loài người đã phải gánh chịu các cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử và cũng phải nếm trải một hình thức, một phương pháp tác chiến mới của chiến tranh, mà hậu quả do nó gây ra vô cùng to lớn. Đó là những cuộc tập kích đường không – một sản phẩm của chiến tranh hiện đại.

Tự vệ Nhà máy Y Hà Nội ngày đêm nêu cao tinh thần cảnh giác, luyện tập sẵn sàng
chiến đấu, bắn rơi máy bay Mỹ gây tội ác ở Thủ đô trong 12 ngày đêm tháng 12/1972.
(Ảnh: TTXVN)

Tập kích đường không là sự phát triển và biến thể của chiến tranh chớp nhoáng, nó ra đời không lâu sau khi loài người làm ra máy bay – một sản phẩm đánh dấu bước tiến vĩ đại của khoa học – công nghệ. Trớ trêu thay, mơ ước ngàn đời của con người muốn được bay lên không trung nhưng đến khi làm ra được những phương tiện bay để thực hiện khát vọng cháy bỏng đó thì chính nó lại gây ra thảm họa cho con người bằng các cuộc tập kích đường không. Có thể kể ra hàng loạt các trận tập kích đường không trong vòng mấy chục năm qua để thấy rõ tính chất khốc liệt của phương thức tác chiến hiện đại. Tập kích đường không là đòn đánh từ trên không bằng các lực lượng không quân đánh phá một cách ồ ạt, bất ngờ, liên tục trong một thời gian ngắn nên nó gây ra cái chết cho hàng loạt sinh linh, hủy hoại khủng khiếp cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị chiến tranh của đối phương. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức đã sử dụng hàng trăm máy bay tập kích đánh chiếm Na Uy ngày 9-4-1940 và chiếm được nước này trong thời gian ngắn; các cuộc tập kích đường không cũng của Đức đánh chiếm Hà Lan, Anh, đảo Cret-tơ của Hy Lạp; các cuộc tập kích đường không của quân đồng minh ở Man-tơ, Von-tuốc-nơ, Bắc Phi, Xi-xin, Noóc-măng-đi; của Hồng quân Liên Xô ở Vi-a-dơ-ma, Ki-ép; các cuộc tập kích đường không chiến lược của Anh và Mỹ vào các thành phố đông dân của Đức đều gây ra hậu quả khôn lường. Cuộc tập kích đường không của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng ngày 7/12/1941 là một trong những cuộc tập kích đường không điển hình trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật Bản đã bất ngờ cho hàng trăm máy bay cất cánh từ các tàu sân bay phối hợp với các tàu thiết giáp, tàu diệt ngư lôi, tàu tuần dương, tàu phóng lôi và tàu ngầm tấn công Trân Châu Cảng trên quần đảo Ha-oai ở trung tâm Bắc Thái Bình Dương của Mỹ, giết chết hơn hai nghìn sĩ quan, binh lính, hàng nghìn người bị thương và mất tích, đánh chìm 150 tàu các loại, làm cháy, hỏng 170 máy bay của Mỹ. Trận tập kích đường không của Mỹ nhằm vào Thủ đô Nhật Bản ngày 16/3/1945 cũng gây cho Nhật thiệt hại nặng nề. Mỹ đã sử dụng 150 lần chiếc máy bay B.29 ném 1.500 tấn bom xuống các khu dân cư ở Thủ đô Tô-ky-ô của Nhật Bản, thiêu hủy sạch nhiều khu phố xá. Đặc biệt, ngày 6 – 9/8/1945, Mỹ đã mở cuộc tập kích đường không tàn bạo nhất, bất ngờ cho máy bay ném bom nguyên tử xuống thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản, giết chết, làm bị thương hàng vạn người, san phẳng, đốt cháy hàng chục ki-lô-mét phố xá, phá hủy hàng chục nghìn ngôi nhà. Nửa sau thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trên thế giới đã xảy ra nhiều cuộc tập kích đường không với quy mô lớn, tính chất ngày càng khốc liệt hơn. Từ ngày 5 – 10/6/1967, Ix-ra-en đã phát động chiến dịch Focus dùng không quân ồ ạt tập kích vào các nước Ả-rập, có ngày cường độ hoạt động của không quân lên tới một nghìn lần chiếc, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược chớp nhoáng các nước Ả-rập. Trong vòng 6 ngày, nhờ sự hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả của các cuộc tập kích đường không, Ix-ra-en chiếm được 70.000 ki-lô-mét vuông đất đai của các nước Ả-rập, gấp ba lần diện tích nước này, với 1,5 triệu dân. Năm 1991, lấy cớ trừng phạt I-rắc xâm lược Cô-oét, Mỹ đã cùng Liên quân (13 nước có không quân tham gia) mở liên tục các đợt tập kích đường không phá hủy tối đa tiềm lực kỹ thuật, quân sự của I-rắc, mục tiêu làm cho I-rắc tàn lụi không còn đủ sức tranh giành quyền lực với Mỹ ở khu vực Trung Đông. Năm 1999, Mỹ và NATO đã tiến hành các đợt tập kích đường không ở vùng Ban-căng gây sức ép và tiến hành chiến tranh leo thang ở Nam Tư. Đêm mùng 7/10/2001, lấy cớ tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố, Mỹ đã bắtđầu các cuộc tập kích đường không đối với Áp-ga-nix-tan, thực chất là củng cố vai trò của Mỹ ở khu vực Trung Đông, Trung Á và tạo điều kiện để nắm nguồn tài nguyên phong phú về dầu lửa ở khu vực này.

Ở Việt Nam, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc tập kích đường không vô cùng ác liệt, đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược Lai-nơ-bếch-cơ II cuối tháng 12/1972. Đây là chiến dịch có quy mô lực lượng tác chiến đối kháng trên không gian lớn nhất từ sauChiến tranh thế giới thứ hai, gồm toàn bộ không phận miền Bắc, trong đó Thủ đô Hà Nội là điểm tựa phòng ngự đối không cuối cùng và quyết định thắng bại giữa ta và địch. Mỹ đã huy động tới mức cao nhất lực lượng không quân chiến lược, không quân chiến thuật và không quân hỗn hợp nhằm “biến Hà Nội thành bình địa”, “hạ gục Hà Nội” trong phen quyết đấu cuối cùng.

Trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, Mỹ đã huy động 193 chiếc máy bay chiến lược B-52 từ Gu-am và U-ta-pao (chiếm hơn 48% tổng số máy bay chiến lược B-52 của toàn nước Mỹ), xuất kích 663 lần chiếc đánh vào miền Bắc, tập trung ở khu vực Hà Nội tới hơn 400 lần chiếc. Chiến dịch này là một mô hình đặc trưng cho cuộc tập kích đường không hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới tính đến thập kỷ bảy mươi của thế kỷ XX. Mỹ đã huy động khoảng 1.000 máy bay chiến thuật các loại, chủ yếu là F-105, F-4A, A-6A, A-7A, F-111A (chiếm 31% tổng số máy bay chiến thuật của Mỹ), xuất kích tới 3.920 lần chiếc để hộ tống, bảo vệ B-52 và trực tiếp đánh phá các sân bay, các trận địa phòng không, các mục tiêu khác của ta. Lần đầu tiên Mỹ sử dụng cả một liên đội máy bay “cánh cụp cánh xòe” F-111 khoảng 50 chiếc, xuất kích mỗi đêm từ 10 đến 25 lần chiếc, hoạt động xen kẽ giữa các đợt đánh phá của B-52. Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng 50 máy bay KC-135 tiếp dầu trên không, máy bay trinh sát không người lái để chụp ảnh và nhiều máy bay gây nhiễu ngoài đội hình như EB-66, EA-6A cùng 60 tàu chiến các loại của hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Tất cả các căn cứ không quân của Mỹ ở Đông Nam Á đều được Mỹ sử dụng để phục vụ tối đa cho trận tập kích quy mô này. Với việc tiến hành một chiến dịch tập kích đường không chiến lược lớn như vậy, chính quyền Mỹ hy vọng chỉ trong vòng vài ngày sẽ “bắt Hà Nội phải quỳ gối”, đưa Thủ đô của chúng ta “trở về thời kỳ đồ đá”.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã ném hơn 100 nghìn tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Riêng Hà Nội, 441 lần chiếc B-52 cùng nhiều máy bay chiến thuật ném xuống hơn 10 nghìn tấn bom đạn, tương đương 2 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản năm 1945. (Mai-cơn Mác-lia đánh giá tương đương 5 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hi-rô-si-ma – TG). Ních-xơn muốn biến Hà Nội thành Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki không cần bom nguyên tử. Chúng đã hủy diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Trải qua 12 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí sáng tạo, với ý chí quyết chiến, quyết thắng quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến lược B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (2 chiếc rơi tại chỗ) và 42 máy bay chiến thuật các loại, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải chấp nhận ký kết Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sau bốn mươi năm chúng ta có điều kiện để nhìn nhận đầy đủ hơn, toàn diện hơn về tầm vóc to lớn và ý nghĩa sâu sắc của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” để tiếp tục khẳng định rằng đó mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường bất khuất của dân tộc, của trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thế trận Phòng không – Không quân nhân dân bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là bản hùng ca bất tử.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã phải đương đầu với hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến, thực dân, đế quốc và đều giành thắng lợi vẻ vang. Những chiến công hiển hách của các vị tiên liệt như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung… mãi mãi là những trang vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc.

Kế thừa truyền thống quật cường của Bạch Đằng, Như Nguyệt, Đông Bộ Đầu, Vạn Kiếp, Chi Lăng – Xương Giang, Rạch Gầm – Xoài Mút, Ngọc Hồi – Đống Đa…; thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân ta tiếp tục lập nên những chiến công kỳ diệu, viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc. Chúng ta đã làm nên trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954; chiến thắng vẻ vang trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, tạo tiền đề để giành thắng lợi hoàn toàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta khẳng định, chiến dịch đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược cuối năm 1972 của Mỹ “Là chiến dịch đầu tiên trên thế giới đã đánh thắng không quân hiện đại của đế quốc Mỹ. Đây thực sự là một chiến công vĩ đại trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX, là bản hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới”. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:”Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý sáng ngời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thôi thúc quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác; đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là đỉnh cao của cuộc chiến tranh nhân dân Phòng không – Không quân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ; là chiến thắng của sức mạnh chính trị tinh thần toàn dân tộc, là ý chí, quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Dân tộc ta vốn có truyền thống vẻ vang trong chống giặc ngoại xâm, suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn luôn phải đối mặt với kẻ thù có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh gấp nhiều lần nhưng nhân dân ta đều nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng đứng lên chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh hùng hồn rằng lòng yêu nước, thương nòi, chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta có sức mạnh vô song, giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ, nhấn chìm mọi kẻ thù xâm lược. Trong thời đại mới, truyền thống yêu nước được gắn với yêu chủ nghĩa xã hội đã trở thành động lực to lớn thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, dám xả thân vì sự nghiệp cách mạng cao cả. Cùng với chủ nghĩa yêu nước, ý chí dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng đã trở thành quyết tâm của cả dân tộc mỗi khi bị xâm lăng. Đó chính là sức mạnh chính trị tinh thần, là yếu tố tiên quyết nhất bảo đảm giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân ta.

Sức mạnh chính trị tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” còn được biểu hiện ở lòng tin, quyết tâm đánh thắng trận đầu, quyết tâm bắn rơi tại chỗ máy bay B-52, bắt sống giặc lái, tạo niềm tin đánh bại hoàn toàn mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù và tinh thần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt; tinh thần độc lập tự chủ, tự cường, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể.

Sức mạnh chính trị tinh thần còn được thể hiện sinh động ở sự phát huy cao độ ý chí quyết tâm, thế mạnh, sở trường, sở đoản của tất cả các lực lượng, của các loại vũ khí; động viên tổng lực sức mạnh cho chiến dịch. Quân chủng Phòng không – Không quân luôn xác định đúng vị trí, vai trò là trung tâm hiệp đồng, là lực lượng nòng cốt trong tác chiến Phòng không – Không quân, là chỗ dựa vững chắc cho các lực lượng Phòng không – Không quân nhân dân. Sức mạnh chính trị tinh thần còn là sự khéo léo sử dụng khả năng kỹ thuật, chiến thuật, uy lực vũ khí, đồng thời tạo điều kiện để phát huy sức mạnh chiến đấu tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân. Lực lượng phòng không các địa phương, dân quân, tự vệ đã nêu cao ý chí quyết tâm, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, góp phần tạo lập thế trận nhiều tầng, nhiều nấc, liên hoàn, hiểm hóc như “thiên la, địa võng” đánh địch trên mọi hướng, mọi độ cao, mọi thời điểm, mọi khu vực.

Được tận mắt chứng kiến cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhà báo Mỹ I-tơn đã bày tỏ lòng thán phục trước hình ảnh những nữ dân quân, tự vệ Hà Nội dũng cảm chiến đấu với không quân Mỹ: “Trong bom đạn mịt mờ, tôi đã thấy những phụ nữ trên những ụ súng lia những khẩu súng trường theo các máy bay phản lực khổng lồ của Mỹ đang bay trên trời. Họ tin rằng, họ có thể bắn rơi máy bay phản lực bằng một khẩu súng trường. Đây là một ý chí có tính chất truyền thống trong từng người dân mà tôi đã gặp”.

Với mưu đồ bá chủ thế giới, đế quốc Mỹ đã làm ra nhiều loại vũ khí giết người tối tân như vũ khí hạt nhân, tàu ngầm nguyên tử và máy bay chiến lược B-52. Chúng luôn luôn nuôi ảo tưởng nhằm khuất phục đối phương bằng sức mạnh vũ khí. Máy bay chiến lược B-52, kể từ khi ra đời, Mỹ đã dùng làm con bài răn đe, dọa dẫm những người yếu bóng vía. Trên thực tế, B-52 là loại máy bay chiến lược hiện đại, khó có thể bắn hạ, nằm trong bộ ba vũ khí chiến lược của đế quốc Mỹ, với sức chở tới 30 tấn bom đạn, B-52 có sức tàn phá khủng khiếp được Mỹ sử dụng lần đầu tiên ở chiến trường Việt Nam từ năm 1965. Như vậy, đối với Việt Nam, Mỹ không chỉ dọa dẫm mà đã sử dụng B-52 để ném bom rải thảm giết chóc không thương tiếc những người dân vô tội và hủy diệt một dân tộc có chủ quyền ngay từ những ngày đầu leo thang chiến tranh.

Khi bị đế quốc Mỹ đem quân xâm lược nước ta, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc. Mọi sự đe dọa và các thủ đoạn tàn bạo của Mỹ không làm nao núng tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân ta. Với ý chí Không có gì quý hơn độc lập, tự do, chúng ta đã đánh cho đế quốc Mỹ và tay sai những đòn đích đáng trên cả mặt đất, mặt nước và trên không trung bất kể chúng có binh hùng, tướng mạnh, có vũ khí tối tân, hiện đại. Mỹ hy vọng đưa con “át chủ bài” B-52 ra sẽ khuất phục được nhân dân ta, hòng cứu vãn được tình thế bi đát của chúng. Nhưng nhà cầm quyền Mỹ đã lầm. B-52 hay “bê” gì thì Việt Nam cũng quyết đánh và quyết đánh thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy quân và dân ta như vậy.

Quyết tâm đánh thắng B-52 của nhân dân ta được bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng và sự chỉ đạo chiến lược sáng tạo, tài tình của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ngay từ khi đế quốc Mỹ chuẩn bị leo thang chiến tranh ra đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân vào đầu những năm 60 thế kỷ XX. Đảng và Bác Hồ đã nắm vững quy luật của chiến tranh, sớm nhìn rõ bản chất và âm mưu của kẻ thù, phân tích đúng tình hình, dự báo sớm, chính xác diễn biến sẽ xảy ra. Từ đó, đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về con người, về lực lượng, về vũ khí trang bị kỹ thuật, về thế trận và cách đánh. Trong suốt quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến, máy bay B-52 và âm mưu sử dụng B-52 trên chiến trường Việt Nam của đế quốc Mỹ luôn luôn là mối quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã chỉ ra một cách cụ thể về công tác chuẩn bị, xây dựng lực lượng, trang bị vũ khí, tổ chức huấn luyện, rèn luyện bộ đội để sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của Mỹ, kể cả khi chúng dùng máy bay chiến lược B-52 đánh phá miền Bắc.

Nhờ sự tiên đoán thiên tài và sự chỉ đạo sát sao của Bác Hồ, các lực lượng Phòng không – Không quân và quân dân miền Bắc đã chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, tích cực tìm hiểu tình hình địch, đặc biệt là đã đưa các lực lượng tên lửa, ra-đa, không quân, cao xạ vào nam Quân khu 4 – nơi máy bay B-52 hoạt động thường xuyên để vừa nghiên cứu vừa tìm cách đánh và đánh B-52.

Quyết tâm đánh thắng B-52 của ta được thể hiện ở ý chí dũng cảm, kiên cường, tinh thần chủ động, mưu trí sáng tạo vượt qua khó khăn, ác liệt của bộ đội Phòng không – Không quân trong nghiên cứu tìm cách đánh thắng B-52. Việc đưa các lực lượng Phòng không – Không quân vào vùng đất lửa là một quá trình công phu, gian khổ, chồng chất khó khăn và gian khổ, hy sinh. Nhất là đưa một Trung đoàn Tên lửa với hàng trăm xe pháo cồng kềnh vượt hàng trăm cây số qua các trọng điểm ác liệt như cầu Hàm Rồng, Bến Thủy, Đồng Lộc, Ka Tang, khe Ve, ngầm Bùng, khe Dinh, Quán Hầu, sông Gianh, Xuân Sơn, Long Đại… quả là nhiệm vụ hết sức cam go chưa nói đến phải “ở lâu, bám sâu, trụ vững” trong vùng chảo lửa ngày đêm bị cày xới bởi đạn bom của kẻ thù. Có những Tiểu đoàn Tên lửa trên đường vào chiến trường đã bị địch đánh hỏng gần như toàn bộ khí tài, cán bộ, chiến sĩ thương vong nặng nề, phải quay ra Bắc củng cố lực lượng, nhận khí tài mới; có đài ra-đa mỗi lần phát sóng không chỉ bị bom giội từ trên không mà còn bị pháo, tên lửa từ các hạm tàu ngoài biển bắn vào; mỗi chuyến xuất kích của không quân từ sân bay tuyến trước vào chiến trường như những chuyến bay cảm tử, vừa phải đối phó với địch ở trên không vừa phải cảnh giác với chúng ở đất liền, ngoài biển; bộ đội cao xạ vừa phải làm nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển vừa bảo vệ các trận địa tên lửa, ra-đa và phối hợp hiệp đồng với các đơn vị bạn trong tác chiến hợp đồng quân binh chủng vừa phải đánh địch tự bảo vệ mình. Trong khi đó, từ nam Quân khu 4 trở vào, có giai đoạn không quân, hải quân địch tác oai tác quái, ném bom, bắn pháo, phóng tên lửa vào bất cứ đâu chúng muốn để tiêu diệt các lực lượng của ta, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. Sự khốc liệt đã được kẻ thù đẩy lên đến đỉnh điểm khi chúng đánh hơi chúng ta đưa tên lửa và các lực lượng vào Quảng Bình, Vĩnh Linh (Quảng Trị), nhưng kẻ thù đã không ngăn nổi ý chí quyết tâm đánh B-52 của bộ đội Phòng không – Không quân. Chính nhờ có ý chí sắt đá ấy nên dù phải trải qua những năm tháng ác liệt ở chiến trường nam Quân khu 4, phải trả giá bằng bao mồ hôi, xương máu, bộ đội Ra-đa, Tên lửa, Không quân, Cao xạ sau những ngày “nếm mật nằm gai”, “tàng hình rình mồi” đã “bắt được cọp” trong hang ổ của chúng. Bộ đội Tên lửa đã bắn rơi máy bay chiến lược B-52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Các lực lượng đã từng bước đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về quy luật hoạt động, các thủ đoạn tác chiến, đội hình bay, lực lượng bảo vệ của máy bay chiến lược B-52 để xây dựng thành cuốn cẩm nang đặc biệt về cách đánh loại “pháo đài bay” này.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân còn được thể hiện ở ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân miền Bắc trong xây dựng thế trận lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân và sự kế thừa, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới; là chiến thắng của trí thông minh và lòng dũng cảm của dân tộc ta chống cuộc tập kích đường không có quy mô lớn của kẻ thù với vũ khí trang bị hiện đại.

Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 của quân và dân miền Bắc với lực lượng không quân chiến lược của Mỹ thực chất là cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam với sức mạnh tổng lực của đế quốc Mỹ được tập trung vào sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, của nghệ thuật sử dụng lực lượng, bài binh, bố trận, cơ động tác chiến, theo một ý định, cách đánh đã được chuẩn bị, tính toán từ trước kết hợp với sự chuyển hóa linh hoạt trước các diễn biến, tình huống. Trong suốt chiến dịch ta đã phát huy cao độ tiềm năng chiến đấu của lực lượng Phòng không – Không quân ba thứ quân, lấy Quân chủng Phòng không – Không quân làm nòng cốt, tạo nên hệ thống hỏa lực Phòng không – Không quân rộng khắp và quy tụ thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng, vừa tập trung hiệp đồng đánh tiêu diệt lớn, vừa đồng thời đánh liên tục, đánh tại chỗ, đánh rộng khắp trên các địa bàn.

Ở tất cả các địa phương trên miền Bắc đều có lực lượng phòng không sẵn sàng đánh máy bay địch, ở đâu cũng có hệ thống báo động Phòng không nhân dân, có hầm hào trú ẩn, có trận địa bắn máy bay và thực hiện phòng tránh sơ tán triệt để nhằm đối phó thắng lợi với mọi tình huống. Các lực lượng Phòng không tầm thấp, tầm trung không đánh được máy bay B-52 thì đánh máy bay chiến thuật, máy bay bay thấp. Các lực lượng đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ tạo thành thế trận trên mọi độ cao, hiểm hóc, liên hoàn, vừa có chiều sâu vừa có trọng tâm, trọng điểm, hoạt động nhịp nhàng, có thể liên tục đánh địch từ xa đến gần, đánh địch ở mọi tầng cao, đánh từ nhiều phía, đánh trực diện, đánh từ sau, từ bên sườn, gây cho địch lúng túng không thể cơ động tránh được lưới lửa phòng không, đảm bảo chiến đấu thắng lợi của toàn bộ chiến dịch.

Các lực lượng dân quân, tự vệ trong chiến dịch là lực lượng tại chỗ rộng khắp, có nhiệm vụ đánh máy bay địch bay thấp, hoạt động theo đội hình tốp nhỏ, chiếc lẻ, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu quan trọng của địa phương. Ở nhiều khu vực trọng yếu, dân quân, tự vệ đã thực sự là thành phần quan trọng trong chiến thuật “dựng màn đạn”, tạo ra “tọa độ lửa” trên chiến trường miền Bắc. Ngoài nhiệm vụ tập trung bắn máy bay, lực lượng Phòng không ở địa phương và dân quân, tự vệ còn là lực lượng báo động phòng không nhân dân, chỉ đạo và tổ chức sơ tán phòng tránh, bắt giặc lái nhảy dù, san lấp, sửa chữa sân bay, làm trận địa tên lửa, cao xạ, ra-đa, ngụy trang cất giữ vũ khí, khí tài, cứu thương, tải thương. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch,các đơn vị súng máy phòng không chủ yếu do lực lượng dân quân tự vệ đảm nhiệm được bố trí đón lõng bắn máy bay bay thấp. Ta đã tổ chức 364 phân đội dân quân, tự vệ với 1.428 khẩu pháo và súng máy phòng không các loại; tổ chức trên 100 trận địa pháo phòng không, gần 500 đài quan sát xa, quan sát bổ trợ, tạo thành thế trận phòng không nhân dân khắp trên các vùng miền. Hiếm có dân tộc nào có lực lượng dân quân, du kích, tự vệ được trang bị pháo cao xạ để đánh máy bay siêu âm hiện đại như ở Việt Nam. Với tinh thầnđánh giặc bằng mọi loại vũ khí, trang bị hiện có, các lực lượng “phi chính quy” của ta không chỉ sử dụng các loại súng pháo phòng không cỡ nhỏ như 12,7ly, 14,5ly mà còn thuần thục thao tác, sử dụng các loại cao xạ 37, 57, 85, 88, 90, 100ly để hạ phản lực siêu âm của Mỹ. Trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cả 5 chiếc máy bay hiện đại cánh cụp, cánh xòe F-111 đều do các lực lượng dân quân tự vệ và pháo cao xạ tầm trung tiêu diệt, không ít tên giặc lái từng mệnh danh là “người hùng” của nước Mỹ bị những dân quân “đầu trần, chân đất” tóm cổ.

Chứng kiến cuộc đọ sức quyết liệt giữa lực lượng không quân chiến lược của Mỹ với lưới lửa phòng không miền Bắc, báo Tin Mỹ và Thế Giới ngày 21/12/1972 đánh giá: “Hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam hiện đại, rộng khắp và hiệu quả đến nỗi trong bất kỳ một trận đánh phá nào, 90% máy bay của không quân Mỹ phải lo bảo vệ máy bay ném bom để chống lại MiG tiến công, đồng thời khống chế súng phòng không và tên lửa mặt đất”. Tạp chí Tin Mỹ hằng tuần thì tuyên bố không úp mở rằng: “Hiện nay Bắc Việt Nam có hệ thống phòng không lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Các pháo thủ Việt Nam là những tay súng giỏi nhất vì họ có rất nhiều kinh nghiệm”. Sự thú nhận của người Mỹ là một bằng chứng sinh động khẳng định sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.

Chiến thắng của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” không chỉ tính bằng số mục tiêu được bảo vệ, số lượng máy bay địch bị bắn rơi mà ý nghĩa to lớn của nó là đã động viên được toàn dân tham gia chiến đấu, phòng tránh đánh trả và tổ chức lao động sản xuất. Ở khắp các địa phương trên miền Bắc, từ miền núi đến đồng bằng đâu đâu cũng tổ chức các tổ săn máy bay bay thấp, bố trí các vọng quan sát, xây dựng hệ thống báo động phòng không bằng còi, kẻng. Các công sở, nhà máy, trường học đều tổ chức ngụy trang thường xuyên, có hệ thống hầm hào trú ẩn xung quanh nơi làm việc, học tập. Nhân dân các địa phương đã tích cực cùng bộ đội chủ lực xây dựng hệ thống trận địa phòng không, làm trận địa giả, ngụy trang nghi binh cho bộ đội. Phong trào trồng cây xanh, đào công sự trên các đường phố, đường quốc lộ, đường giao thông trong xóm, làng được phát động rộng rãi. Mọi người khi ra đường, học sinh đi học đều phải ngụy trang, đội mũ rơm, đeo nùn rơm, đề phòng bom đạn địch. Trong bom đạn ác liệt các công xưởng, nhà máy, trường học, cơ quan, trên ruộng đồng khắp nơi trên miền Bắc đâu đâu không khí lao động sản xuất, học tập, công tác vẫn diễn ra sôi nổi và hết sức khẩn trương. Khẩu hiệu “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” được dấy lên thành những cao trào mạnh mẽ.

Ở Hà Nội, trước khi bước vào chiến dịch, quân và dân Thủ đô đã tổ chức được 36 đài quan sát xa, 414 đài quan sát bổ trợ, bố trí 16 còi báo động lớn, 1.300 loa công cộng, 48.133 loa gia đình để báo động phòng không, hướng dẫn phòng tránh và phục vụ chiến đấu. Toàn thành phố đã đào được 63 vạn hầm cá nhân, 178.519 hầm kèo chữ A, 6.119 hầm cất giấu tài sản; 1.130 ki-lô-mét giao thông hào để phòng tránh bom đạn ở các khu vực dân cư, cơ quan, xí nghiệp và dọc hai bên đường giao thông, sơ tán hơn 50 vạn người ra khỏi khu vực bị đánh phá, tổ chức 1.202 điểm và tổ cấp cứu, 11 tổ phẫu thuật, 226 cơ sở điều trị. Đây là một thành công lớn trong việc hạn chế thiệt hại do chiến tranh gây ra đối với nhân dân Hà Nội. Do đó, trong suốt 12 ngày đêm chiến dịch, ngoài những khu vực bị trúng bom B-52 rải thảm như phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai…, còn lại thương vong, tổn thất không lớn.

Với tầm vóc to lớn và ảnh hưởng mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” của dân tộc ta đã mang ý nghĩa thời đại sâu sắc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta được đánh dấu bằng những chiến công to lớn, từ chiến thắng Ấp Bắc, Vạn Tường, Núi Thành đến Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị Thiên, chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và kết thúc thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài, nhiều gian khổ, hy sinh và cũng là một trong những chiến thắng to lớn, vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam, mang ý nghĩa sâu sắc trong thời đại ngày nay. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá: “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không là chiến công mang tầm vóc thời đại, là đỉnh cao chiến công trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam anh hùng với tên đế quốc đầu sỏ Hoa Kỳ”. Sau bốn mươi năm nhìn lại chúng ta càng tự hào, càng nhìn nhận rõ hơn tầm vóc vĩ đại chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trong thời đại Hồ Chí Minh.

Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong điều kiện một nửa nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc không chỉ là hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam mà còn là mặt trận đánh Mỹ nóng bỏng. Trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giữa ta và Mỹ diễn ra trên chiến trường miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được thôi thúc bởi ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của cả dân tộc; sự cổ vũ bằng những chiến công vang dội của quân và dân miền Nam đánh bại sức mạnh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ.

Chiến tranh bao giờ cũng là sự thử thách lớn nhất đối với một dân tộc, một chế độ xã hội. Đánh thắng cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cuối tháng 12/1972 đã minh chứng hùng hồn về sức mạnh của chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, được dẫn dắt bởi đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và bản chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chiến thắng đó được kết tinh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Phòng không – Không quân, trở thành động lực to lớn thôi thúc quân và dân ta vượt qua khó khăn ác liệt, chiến đấu ngoan cường và giành chiến thắng vẻ vang.

Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam đã trở nên quyết liệt, trên miền Bắc ta đã khẩn trương từng bước chuyển mọi mặt sinh hoạt và sản xuất sang chế độ thời chiến. Đảng ta kiên quyết giữ thế chủ động tiến công trên chiến trường miền Nam, phát huy vai trò của miền Bắc là hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa trong cuộc chiến tranh. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã phát huy cao độ quyền làm chủ của mỗi người dân trong thời chiến, không những giữ được sự ổn định mà còn phát triển không ngừng về mọi mặt. Trên toàn miền Bắc, chiến tranh nhân dân đất đối không phát triển rộng khắp, khí thế vừa sản xuất vừa chiến đấu và đẩy mạnh chi viện cho tiền tuyến phát triển mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân. Trong suốt cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, phải hứng chịu hàng triệu tấn bom đạn của giặc Mỹ, mặc dù ta còn nhiều khó khăn thiếu thốn nhưng trẻ em đều được học hành, ai cũng có cơm ăn, áo mặc kể cả khi gặp thiên tai, bão lụt nặng nề trong các năm 1969, 1971. Ở khắp các địa phương, nhà máy, công trường không kể già, trẻ, trai, gái tất cả sẵn sàng cầm súng bắn máy bay Mỹ bảo vệ quê hương. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã hun đúc ý chí “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” thành sức mạnh vô song của cả dân tộc để đánh bại kẻ thù cho dù chúng có nhiều âm mưu thủ đoạn gian ngoan và các loại vũ khí tối tân, hiện đại.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã làm thất bại toàn bộ các mục tiêu chiến lược của Mỹ, đánh sập “thần tượng không lực Hoa Kỳ”, phá sản quan điểm quân sự “sức mạnh không quân quyết định thắng lợi trong chiến tranh”, đẩy Mỹ vào thất bại chiến lược toàn diện về quân sự và chính trị, tạo bước ngoặt lịch sử dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu năm 1975. Nếu thập niên 50của thế kỷ XX, nhiều nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã giành độc lập sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam thì tới thập niên 70 của thế kỷ này sau thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và dưới sự tác động của thắng lợi của nhân dân Việt Nam, nhiều nước thuộc thế giới thứ ba đã đứng dậy đấu tranh giành chủ quyền độc lập cho đất nước.

Nhìn nhận về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt của nhân dân ta, các nhà lãnh đạo, các học giả, nhà báo, nhà văn trên thế giới đã đánh giá rất cao và hết lòng ca ngợi. Ông Rô-mét Chan-đra – Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới lúc đó đã nói: “Việt Nam đồng nghĩa với sự quang vinh, lòng dũng cảm và tinh thần quyết thắng. Nhân dân các dân tộc trên thế giới mắc một món nợ rất lớn đối với Việt Nam. Mỗi lần đứng bên hố bom do đế quốc Mỹ rải xuống Việt Nam, chúng tôi đều nhận ra rằng nhân dân Việt Nam không phải hy sinh chỉ vì Việt Nam mà vì cả chúng tôi. Những người anh hùng ngã xuống trên mảnh đất Việt Nam là những liệt sĩ của thế giới, vì họ đấu tranh cho cả thế giới, cho châu Phi, châu Mỹ La-tinh, châu Á, châu Âu và cho cả nhân dân nước Mỹ”. Chúng tôi nhìn thấy ở Việt Nam tương lai của cả loài người”.

Nhà báo Pháp Mác-ri-bu viết: “Xưa nay chưa từng có một dân tộc nào nhỏ như vậy, mà lại có trọng lượng tolớn như thế đối với lịch sử”. Còn nhà văn Pháp nổi tiếng Giắc-mô-đa, một người theo đạo Thiên Chúa, vốn rất xa với tư tưởng của chúng ta, nhưng chỉ sau mấy ngày Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, đã viết: “Nếu dân tộc Việt Nam vĩ đại mà đầu hàng thì cả loài người sẽ suy sụp. Chiến thắng đế quốc Mỹ, nước đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, loài người tiến bộ coi Việt Nam là lương tri của thời đại”. Sở dĩ chiến thắng của nhân dân ta được bạn bè khắp năm châu khâm phục, trân trọng bởi vì chúng ta đã để lại cho họ niềm tin chiến thắng của sức mạnh chính nghĩa, sức mạnh của thời đại mới, của cách mạng vô sản. Đồng thời cuộc chiến đấu của chúng ta luôn luôn vì một mục tiêu cao cả là đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh sức sống mãnh liệt của hệ tư tưởng mới, một học thuyết cách mạng, khoa học nhất của nhân loại trong thời đại hiện nay mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đặc biệt, những vấn đề về chiến tranh và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Việt Nam càng được sáng tỏ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, truyền thống yêu nước, truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc đã có bước phát triển về chất khi được trang bị những vấn đề cơ bản về thế giới quan và nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã biết phát huy và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết của cả dân tộc, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại để phát động toàn dân tiến hành một cuộc chiến tranh đất đối không chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới. Ních-xơn và Lầu Năm Góc với bộ máy chiến tranh tinh vi, hiện đại vào hàng số một thế giới nhưng không thể hiểu nổi một đất nước tất cả toàn dân không kể trẻ, già, trai, gái, với mọi vũ khí có trong tay đều nhất tề đứng lên chiến đấu khi bị xâm lược.

Sau thất bại thảm hại của cuộc tập kích chiến lược, nhiều học giả Mỹ và phương Tây đã chỉ trích gay gắt sự non kém, ngạo mạn trong đường lối chiến tranh xâm lược của chính quyền Ních-xơn, dựa vào sức mạnh của vũ khí, coi vũ khí là yếu tố quyết định sức mạnh giành chiến thắng trong chiến tranh. Giáo sư lịch sử quân sự Học viện tham mưu không quân Mỹ E-tin-pho, người đã trực tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam, tác giả cuốn sách “Gió ngang – Những điều không thể thiếu về mặt văn hóa của chiến tranh đường không”, đã viết: “Cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thất bại từ lâu. Nó thất bại vì đối phương đã đề ra chiến lược quân sự giỏi hơn, một chiến lược nhận thức chiến tranh ở phạm vi rộng lớn hơn, coi như một hiện tượng văn hóa kết hợp chặt chẽ các mặt xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao, cũng như quân sự. Chiến lược hòa hợp với lịch sử và văn hóa Việt Nam đã loại bỏ những lợi thế và làm tê liệt không lực – sức mạnh to lớn nhất của Mỹ”.

Học giả Rô-be Ghi-lanh thì viết: “Chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa yêu nước đã nhân lên gấp bội ý chí hy sinh quên mình của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Họ vẫn tiếp tục chiến đấu dưới làn bom khủng khiếp của Mỹ, vị tất đã tìm trong lịch sử có kẻ sánh bằng. Thực chất người Mỹ đã không biết tý gì về đất nước mà họ tiến công. Người Mỹ có thể tàn phá đất nước này bằng bom đạn nhưng đất nước này thậm chí khi bị tổn thương vẫn không chịu cúi đầu, vẫn không chịu khuất phục”. Rõ ràng sức mạnh để giành chiến thắng trong chiến tranh phải là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nhân tố con người là quyết định nhất.

Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có thể coi như một cuộc đụng đầu lịch sử tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa sâu xa về chính trị và quân sự, không những đối với quá khứ mà còn cho cả tương lai.Thất bại nhục nhã đó đã để lại “hội chứng Việt Nam” nặng nề còn đeo đẳng, ăn sâu lâu dài trong lòng nước Mỹ, không dễ gì xóa được. Suốt bốn thập kỷ qua, người Mỹ đã dày công mổ xẻ dưới nhiều góc độ khác nhau để tìm ra lời giải cho thất bại thảm hại của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nhưng họ không thể tìm ra đáp số chính xác. Đơn giản là vì họ không hiểu biết về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam, cụ thể là họ không phân biệt được chính nghĩa và phi nghĩa, giữa nhân văn và bạo tàn, giữa độc lập, tự do và áp bức, xâm lược.

Tướng Pan-mơ – Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, trong cuốn sách “Vai trò quân sự của Mỹ trong cuộc chiến tranh 25 năm ở Việt Nam” đã viết: “Chỉ chúng ta, những người thất bại trong chiến tranh Việt Nam nay phải chịu đào bới lại quá khứ để tìm ra những bài học áp dụng cho tương lai”. Nhưng dù có đào bới thế nào chăng nữa thì sự thật vẫn là sự thật, không ai có thể phủ định được; sự thật đó như một chân lý hiển nhiên là không thể dùng bom đạn để khuất phục ý chí con người.

Giáo sư Mỹ Guen-ter Lê-vy trong tác phẩm nổi tiếng “Mỹ ở Việt Nam” đã khẳng định: “Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II là thất bại chính trị – quân sự của Mỹ, vì nó không buộc được đối phương đầu hàng, nghĩa là có những nhượng bộ mới. Bắc Việt Nam, về thực chất đã kết thúc cuộc chiến tranh với một hiệp định có lợi cho họ… Mỹ phải thừa nhận một điều khoản mà họ đã dồn mọi nỗ lực hơn 10 năm qua để nó không xảy ra –sự có mặt của các lực lượng Bắc Việt Nam ở miền Nam Việt Nam được hợp pháp hóa Sự kiện sau đó đã chứng minh, chỉ hơn hai năm sau cái gọi là “rút quân trong danh dự” của Mỹ, Bắc Việt Nam đã hoàn thành cái việc mà họ muốn là giải phóng miền Nam và thống nhất hoàn toàn đất nước”.

Tiến sĩ Ga-bri-en Côn-cô viết trong cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” đã bóc trần tính chất không tưởng trong nỗ lực tuyệt vọng của Tổng thống Ních-xơn: “Mọi người, kể cả không quân đều thừa nhận rằng sử dụng B-52 là rất sai lầm và việc ném bom không có tác dụng về mặt quân sự lâu dài. Không lực gây thương vong đáng sợ cho các mục tiêu dân sự, nhưng đồng thời cũng phải trả giá chưa từng có”. Ngay với tổn thất máy bay chiến lược B-52 mà Mỹ thừa nhận thì tỷ lệ bị ta tiêu diệt là trên 10% trong vòng hơn mười ngày, một con số cao hơn con số không quân Mỹ có thể chịu đựng được nên đã làm cho họ mất tinh thần. Thực tế trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở những nơi có hỏa lực phòng không mạnh, tỷ lệ tổn thất về máy bay của bên tấn công trong các cuộc tập kích đường không thường là trên dưới 1 đến 2% so với tổng số máy bay tham chiến. Trong cuộc tập kích chiến lược cuối tháng 12/1972, chỉ tính riêng B-52 bị bắn rơi lên tới 34 chiếc trong tổng số 193 chiếc tham chiến, chiếm tỷ lệ hơn 17%.

Sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, trên trường quốc tế phong trào cách mạng thế giới trên khắp các châu lục phát triển rất mạnh mẽ, tiến công phá vỡ chiến lược toàn cầu của Mỹ ở nhiều khu vực.

Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngoài mục tiêu chính trị và quân sự, nước Mỹ chịu một hậu quả lớn về kinh tế; với 676 tỷ đô-la (thời giá lúc bấy giờ – TG) chi cho chiến tranh Việt Nam đã không đem lại kết quả gì; nước Mỹ phải gánh chịu di chứng nặng nề của chiến tranh, giải quyết hậu quả lính Mỹ bị mất tích trong chiến tranh và một lực lượng ngụy quân, ngụy quyền bỏ chạy, di tản sang Mỹ sau chiến tranh mà Mỹ phải cưu mang, gánh chịu.

Bốn mươi năm nhìn lại chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đặc biệt là sau các cuộc chiến tranh do Mỹ cùng các nước đồng minh của Mỹ gây ra và các cuộc tiến công hỏa lực đường không của chủ nghĩa đế quốc tiến hành từ những năm cuối thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa thời đại của chiến thắng vĩ đại này. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, âm vang chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sẽ vang vọng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mãi mãi là bản hùng ca bất tử.

Nguyễn Phương Diện (CTV)
cpv.org.vn

Người chụp bức ảnh B52 bốc cháy trên bầu trời Hà Nội

(Chinhphu.vn) – Với nhà báo-nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Xuân Át, bức ảnh ““Pháo đài bay B-52 đền tội trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972” là một trong những tấm ảnh khiến ông tự hào vì nó không chỉ là tấm ảnh ghi lại một chiến công mà tấm ảnh còn khơi gợi biết bao kỷ niệm về 12 ngày đêm tháng 12/1972 khi Mỹ dùng B52 ném bom Hà Nội…

Ông Nguyễn Xuân Át bên Đài tưởng niệm Khâm Thiên, nơi lưu giữ nhiều hình ảnh về những ngày B52 của Mỹ ném bom phố Khâm Thiên năm 1972. Ảnh: VGP/Việt Hà

 

Đã hơn 40 năm, nhưng hình ảnh Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972 vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Xuân Át. Trong câu chuyện kể với chúng tôi, nhiều lúc giọng ông trầm hẳn xuống khi hồi tưởng về những ngày B 52 Mỹ ném bom Thủ đô Hà Nội.

Thưa ông, để có được những tấm ảnh ghi lại chân thực và sống động những ngày đêm lịch sử đó, hẳn những người làm báo cũng có những phút giây sinh tử?

Ông Nguyễn Xuân Át: Trong chiến tranh, những người làm báo cũng phải bám các trận địa, trận đánh, tình hình diễn biến của các trận đánh của lực lượng phòng không không quân, để ghi lại những thời khắc, hình ảnh đáng nhớ của các chiến sỹ ta.

Thực tế, lúc đó anh em xác định hi sinh là bình thường. Là bộ đội xung trận rồi thì không có ai nghĩ đến chuyện lẩn tránh, tinh thần chiến đấu rất cao, bất chấp những khó khăn gian khổ ác liệt, phức tạp.

Đêm 18/12/1972, địch bắt đầu đánh vào Hà Nội, thì sáng hôm sau (19/12), tôi được phân công nhiệm vụ lên chụp ảnh xác máy bay B-52 bị bắn rơi ở Phù Lỗ, Đông Anh. Lúc đó, cầu Long Biên không đi được, phải đi cầu phao Chương Dương. Nhưng đường tới Đông Anh cũng bị tắc vì bị đánh bom, cây cối đổ, nhà sập, đất cát tung tóe.

Vậy những ngày đó, người Hà Nội sống ra sao thưa ông?

Ông Nguyễn Xuân Át: Trong những ngày đó, những người Hà Nội không có nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất đã nhận được lệnh đi sơ tán hết. Từng dòng người lớn cứ đi tỏa về các hướng bằng cả xe đạp xe thồ, ô tô, đi bộ,… trâu, bò, ngựa, xe cùng theo. Và đông nhất là hướng đường số 6 Hà Đông.

Những người ở lại, lúc máy bay địch không đánh thì vẫn sinh hoạt bình thường. Mỗi khi có báo động thì người dân xuống hầm, còn bộ đội sẵn sàng chiến đấu.

Bức ảnh “Pháo đài bay B-52 đền tội trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972” của tác giả Xuân Át

 

Bức ảnh “Pháo đài bay B-52 đền tội trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972” đã trở thành bức ảnh nổi tiếng trong bộ sưu tập ảnh về chiến thắng B-52 của quân và dân Hà Nội. Xin ông nói thêm về thời khắc ghi lại bức ảnh đó?

Ông Nguyễn Xuân Át: Tôi chụp ngay tại phố Khâm Thiên, nhà tôi lúc đó ở con phố này. Ban ngày đi trực chiến nhưng ban đêm, tôi được phép về qua nhà. Vệt sáng trong bức ảnh là đám cháy phát ra từ chiếc máy bay B-52 bị bắn, nó ngoài sức tưởng tượng vì tôi cũng chưa nhìn thấy bao giờ. Ngay khi bom B-52 chuẩn bị trút xuống Khâm Thiên, cả khoảng trời nơi tôi đứng tối đen như mực. Anh tôi nói: “Mưa chú ạ”. Còn tôi bảo: “B-52 đấy anh ạ”.

Lúc ấy tôi 32 tuổi. Đêm 26/12 là trận đánh then chốt, đến sáng 27/12, tôi điện về chỉ huy sở, đồng đội của tôi trực ở chỉ huy sở đã nói như gào trong máy: “Có đúng Át không? Đêm qua chúng tao đã thắp hương mày rồi”. Hẳn lúc đó mọi người đều nghĩ tôi đã chết….

Bây giờ nhớ lại những ngày tháng đó, ông cảm thấy điều gì?

Ông Nguyễn Xuân Át: Lúc đó, chiến tranh ác liệt, cho đến bây giờ, có những cái thời đó vẫn được nhớ đến, có cái cũng bị sao nhãng đi. Nhưng tôi không bao giờ quên được những hình ảnh đau thương mùa đông năm 1972. Khi ấy, lòng căm thù địch trào dâng, những người lính đã nói với nhau: “Thù này không đội trời chung, muôn đời muôn kiếp không quên…”

Giờ đây, đã 40 năm trôi qua rồi, chiến tranh cũng đã qua rồi, nhưng mỗi lúc nghĩ lại vẫn thấy như mới ngày hôm qua, vẫn nguyên cảm giác đau thương mất mát, lòng căm thù, ý chí chiến đấu để chiến thắng, những cảm giác ấy cứ đan xen trong tâm trí…

Có thể các bạn trẻ bây giờ không thể hình dung hết được về những ngày hào hùng ấy. Phim ảnh, tư liệu chỉ phản ánh phần nào sự ác liệt của chiến tranh cũng như tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của lớp thanh niên chúng tôi thời đó, còn tôi nghĩ những ai đã trải qua những ngày tháng lịch sử ấy thì không dễ dàng quên được. Tôi thấy tiếc là mình không ghi lại hết được những hình ảnh Hà Nội lúc đó, những hình ảnh về chứng tích tàn khốc của chiến tranh, những hình ảnh về người Hà Nội, người Việt Nam anh hùng chống Mỹ…

Việt Hà thực hiện
chinhphu.vn

“Siêu pháo đài bay” ăn đòn cao xạ Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Trung tướng Dương Đức Hoà, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 2 viết về chiến công bắn rơi máy bay B-52 bằng pháo cao xạ của Lữ đoàn Pháo phòng không 297, Quân khu 2 và những bài học kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng này.

Trung tướng Dương Đức Hòa, Tư lệnh Quân khu 2 kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu của Lữ đoàn Phòng không 297, Quân khu 2. – Ảnh: VGP/Minh Diễm

Lữ đoàn Pháo phòng không 297 – Quân khu 2 ngày nay (tiền thân là Trung đoàn 256- Quân khu Việt Bắc năm xưa) được thành lập ngày 27/6/1972. Ra đời vào thời điểm ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong chiến dịch 12 ngày đêm (18-29/12/1972), Lữ đoàn đã cùng lực lượng phòng không cả nước tiêu diệt nhiều máy bay Mỹ các loại, trực tiếp bắn rơi 2 siêu pháo đài bay B-52 trong đêm 24 và 26/12/1972.

Quyết tâm bắn rơi siêu pháo đài bay

Ngày 05/12/1972, sau khi có công điện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 256 xác định rõ quyết tâm, khẩn trương triển khai kế hoạch luyện tập phương án, động viên cán bộ, chiến sĩ tranh thủ ngày đêm luyện tập, đặc biệt là phương án và cách đánh B-52.

Ngay từ những ngày đầu tháng 12, lãnh đạo Quân khu và Quân chủng Phòng không – Không quân đã trực tiếp xuống từng trận địa pháo 100 ly động viên cán bộ, chiến sĩ, chỉ đạo hiệu chỉnh khí tài, để đảm bảo phát hiện B-52 được từ xa.

Đêm 19, rạng sáng ngày 20/12, địch cho nhiều tốp máy bay F4 và các loại máy bay chiến thuật khác quần đảo xung quanh các trận địa pháo của Trung đoàn. Sáng ngày 20/12, 5 tốp máy bay cùng nhiều máy bay cường kích chiến thuật ồ ạt ném gần 1.000 quả bom xuống 10 điểm của thành phố Thái Nguyên.

Tại trận địa của Đại đội 5 ở xã Quang Vinh, địch thả hơn 100 quả bom quanh trận địa, Trung đoàn cùng với lực lượng phòng không của tỉnh Thái Nguyên đánh trả quyết liệt nhưng phần vì hỏa lực hạn chế, phần do kinh nghiệm chưa có nên không bắn hạ được chiếc B-52 nào.

Chiều ngày 24/12, Trung đoàn được lệnh của Quân khu sẵn sàng đánh B-52. Ban chỉ huy Trung đoàn đã cử cán bộ xuống kiểm tra, chỉ đạo động viên các Đại đội cao xạ 100 ly chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm “bắn rơi siêu pháo đài bay” của địch.

Lúc 19 giờ 45 phút ngày 24/12, Sở chỉ huy Trung đoàn nhận được điện báo từ trạm quan sát Đèo Khế và núi Pháo (Đại Từ), “có B52 từ hướng Tây – Tây Bắc đang bay vào thành phố Thái Nguyên theo trục đường 1A”. Pháo thủ các trận địa pháo 100mm, Đại đội 3, 5, 9 bình tĩnh ngồi trực trên mâm pháo, các quả đạn pháo 100mm đã nằm gọn trên từng máng pháo, sẵn sàng rời khỏi nòng.

Bốn chiếc máy bay F4 bay trước, Sở chỉ huy Trung đoàn xác định B52 sắp đến tầm bắn. Với tính quyết đoán, mau lẹ của người chỉ huy, Trung đoàn trưởng Đồng Quốc Huệ ra lệnh như thét vào máy 2W “Bỏ F4, đánh B52, bắn loạt, bắn nhanh… bắn!”, 18 nòng pháo đồng loạt gầm lên dữ dội, dựng thành màn đạn bắn cản khá tập trung, chớp lửa đầu nòng sáng rực trên các trận địa, các loạt đạn liên tục trút vào đội hình B52.

Kết quả, chỉ với 12 quả đạn pháo 100mm, cán bộ chiến sĩ Đại đội 5 đã tiêu diệt chiếc B-52 to xác trên 100 tấn. Đây là đơn vị đầu tiên trong toàn quân bắn rơi siêu pháo đài bay bằng pháo cao xạ 100mm – kết quả của những ngày đêm dày công huấn luyện chiến thuật cách đánh B52.

Ngày 25/12, theo chỉ lệnh của Tư lệnh Quân khu, tất cả các đơn vị phòng không tham gia chiến đấu đã tiến hành tổ chức rút kinh nghiệm từ chiến thắng của Đại đội 5, Trung đoàn pháo cao xạ 256 để tìm ra cách đánh hiệu quả trước thủ đoạn, chiến thuật nham hiểm và các trang bị kỹ thuật hiện đại của không quân Mỹ. Các đơn vị trong Trung đoàn khẩn trương củng cố lực lượng, công sự trận địa chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

Đêm ngày 26/12, Mỹ huy động 105 máy bay B52 và 120 chiếc máy bay chiến thuật điên cuồng đánh phá vào khu vực Trung đoàn đảm nhiệm bảo vệ. Ngay đợt đầu không kích, địch đã làm hỏng 2 khẩu pháo và 2 chiến sĩ bị thương. Song sự điên cuồng của giặc Mỹ không làm lung lay ý chí của cán bộ, chiến sĩ, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đặc biệt khi địch oanh tạc dữ dội vào khu vực trận địa Đại đội 5.

Lúc này, Đại đội 5 mất hoàn toàn toàn thông tin liên lạc với Sở chỉ huy Trung  đoàn, nhưng với tính quyết đoán của người Đại đội trưởng trong chiến đấu, đồng chí Nguyễn Công Tuấn đã kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục đánh địch theo phương án 2.

Những quả đạn pháo 100mm đã được cắt ngòi nổ ở các độ cao 14, 12, 10 km, bắn liên tục tạo thành lưới lửa đạn dày đặc bao vây kẻ thù. Kết quả, các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 5 lại lập công xuất sắc, tiêu diệt chiếc B-52 thứ hai bằng pháo cao xạ 100mm.

Chiến công này đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn, Trung đoàn đã được Nhà nước tặng Huân chương Quân công hạng Ba và Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng gửi lẵng hoa chúc mừng.

Sức mạnh chính trị tinh thần là yếu tố tiên quyết

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, lực lượng vũ trang Quân khu 2 cần phát huy tốt một số bài học và kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”.

Một là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu  dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng cho cán bộ, chiến sĩ.

Sức mạnh chính trị tinh thần tr­ước hết là tinh thần yêu nước được thể hiện dám đánh, quyết đánh và quyết thắng. Đó là yếu tố tiên quyết, chỉ có dám đánh, quyết đánh thì chúng ta mới tìm ra đ­ược phương pháp, cách đánh hay, hiệu quả chiến đấu cao; ý chí dám đánh, quyết đánh trở thành một lực l­ượng vật chất vô cùng to lớn giúp ta chiến thắng mọi kẻ thù. Sức mạnh chính trị tinh thần phải được biểu hiện ở tinh thần v­ượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, độc lập tự chủ, tự lực, tự c­ường, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể.

Những thành tích mà cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 256 năm xưa cho ta thấy, bất luận trong mọi khó khăn, gian khổ, với vũ khí, trang bị còn hạn chế so với vũ khí tối tân, hiện đại của địch, song chúng ta đã chiến thắng, đó là chiến thắng của tinh thần người chiến sĩ trên chiến trường.

Hai là, phát huy tốt tinh thần mưu trí, sáng tạo, quyết đoán của người cán bộ trong chiến đấu; biết vận dụng, sử trí linh hoạt sáng tạo, phát huy tốt tính năng của vũ khí trang bị hiện có.

Chiến công mà cán bộ chiến sĩ Trung đoàn pháo cao xạ 256 năm xưa giành được trong chiến dịch 12 ngày đêm cho thấy: tinh thần quyết đoán, mưu trí, nhanh lẹ sáng tạo của người chỉ huy luôn là yếu tố then chốt quyết định nên thắng lợi, người chỉ huy cần biết quyết đoán, quyết định đúng thời cơ; đồng thời vận dụng linh hoạt trong từng tình huống cụ thể, chính yếu tố quyết đoán xác định quyết tâm đánh địch trong điều kiện mất liên lạc với trên, biết chỉ đạo cắt ngòi nổ ở các tầng, tạo nên một lưới đạn dày đặc đã buộc B-52 của địch phải rơi dưới làn đạn pháo. Việc đưa ra quyết định này chỉ bằng sự phán đoán mau lẹ và kinh nghiệm của người chỉ huy, không một nguồn thông tin của trên, không một thiết bị quan sát.

Người cán bộ trong chiến đấu luôn là linh hồn của trận đánh, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị, nó như tiếp thêm sức mạnh ý chí quật cường, không ngại hy sinh gian khổ; không một sức mạnh nào có thể chiến thắng được sức mạnh chính trị tinh thần đó.

Ba là, bố trí, sử dụng các lực lượng phòng không hợp lý nhằm phát huy hiệu quả các lực lượng, các loại vũ khí trang bị hiện có tạo thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, đánh địch ở mọi độ cao, mọi hướng.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của nghệ thuật sử dụng lực lư­ợng. Trong tương lai, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chúng ta phải phát huy cao độ tiềm năng chiến đấu của lực lư­ợng phòng không ba thứ quân, tạo nên hệ thống hoả lực phòng không rộng khắp, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng, vừa tập trung hiệp đồng tiêu diệt lớn, vừa đồng thời đánh liên tục, tại chỗ, rộng khắp trên các địa bàn.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi 

Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, chúng ta đã rất thành công trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân, tạo nên hệ thống hoả lực phòng không rộng khắp, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù.

Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của chính phủ và nhân dân các n­ước yêu chuộng hòa bình; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, của các lực l­ượng cách mạng, dân chủ hoà bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ.

Năm là, luôn kế thừa và phát huy kinh nghiệm đánh giặc của cha ông, thường xuyên làm tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện có.

Bốn mươi năm đã trôi qua, những trận địa pháo của Trung đoàn pháo cao xạ 256 năm xưa nay đã trở thành ruộng vườn, nhà cửa, nhà máy, trường học mới khang trang…. Nhưng, những ký ức về cuộc chiến đấu gan góc, mưu trí, sáng tạo và vô cùng dũng cảm của quân dân ta nói chung và thành tích vẻ vang của Lữ đoàn pháo phòng không 297 nói riêng vẫn luôn là niềm tự hào, sự cổ vũ lớn lao của Lực lượng vũ trang Quân khu 2, từ đó giành những thành tích mới, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

chinhphu.vn

Những trắc thủ ra đa phá nhiễu, diệt B52

(Chinhphu.vn) – Kinh nghiệm phá sóng gây nhiễu máy bay B52 Mỹ của đơn vị pháo cao xạ 57 ly thuộc Đại đội C4, Trung đoàn 228 Hàm Rồng (Thanh Hóa) đã góp phần cùng bộ đội tên lửa chủ động đánh thắng B52 trong 12 ngày đêm tháng 12/1972 lịch sử.

Trắc thủ Lê Xuân Giang trong dịp mừng công chiến thắng. Ảnh: VGP/Sao Chi

Trong cuộc gặp gỡ của các nhân chứng lịch sử, các anh hùng, những người từng góp phần làm nên chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, ông Lê Xuân Giang (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), người Trung đội trưởng thuộc Đại đội C4 anh hùng, của Trung đoàn 228 Hàm Rồng đã chia sẻ những kinh nghiệm góp phần đánh thắng B52 trên vùng trời Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12/1972.

Ông Giang kể, tháng 4/1972, ông đang là Trung đội trưởng Đại đội C4 chịu trách nhiệm bảo vệ cầu Hàm Rồng nhằm đảm bảo thông suốt con đường vận tải chiến lược từ Bắc vào Nam. Đại đội C4 chốt giữ trên đồi C4 cạnh cầu Hàm Rồng, đây cũng là vị trí mà ra đa và pháo 57 ly có thể dễ dàng bắt sóng và bắn máy bay địch một cách thuận lợi.

Với nhiệm vụ của một trắc thủ ra đa pháo cao xạ, ông Giang và đồng đội phải tìm cách phát hiện rồi hướng dẫn các khẩu đội pháo cao xạ của Trung đoàn bắn các loại máy bay Mỹ ( như F105, F111, F4, A4, A6, A7…) khi chúng đánh phá cầu Hàm Rồng.

Sau 8 năm đánh phá miền Bắc (kể từ ngày 5/8/1964) , tới ngày đầu tháng 4/1972, Mỹ bắt đầu thực hiện chiến dịch Linebacker I ném bom trở lại toàn miền Bắc hòng lật ngược tình thế ở chiến trường miền Nam và trên bàn đàm phán Pari.

Ngày mùng 10/4, Mỹ cho máy bay đánh phá thành phố Vinh; tới ngày 13/4 Mỹ tiếp tục điều 64 lần chiếc máy bay cường kích và 6 chiếc B52 không kích cầu Hàm Rồng và sân bay Thọ Xuân (căn cứ không quân của ta) và từ ngày 16/4 Mỹ đánh phá Hải Phòng.

Tới đêm ngày 21/4 Mỹ điều động 30 máy bay B52 đánh phá khu vực cầu Hàm Rồng, (Thanh Hóa)…

Ông Giang kể lại, thời ấy các loại ra đa của pháo cao xạ, tên lửa của ta chủ yếu là do Liên Xô sản xuất và quân đội Mỹ cũng đã nắm được tính năng kỹ thuật của các loại khí tài này. Vì vậy chúng hoàn toàn “tự tin” vào khả năng gây nhiễu của B52 nhằm “bịt mắt” ra đa của quân đội ta.

Ngay trong đêm 21/4, máy bay B52 cùng rất nhiều máy bay tiêm kích và máy bay gây nhiễu sóng ra đa của Mỹ đánh phá cầu Hàm Rồng, sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa). Nhưng điều chúng không ngờ là Việt Nam có một loại máy ra đa mang tên K860 trang bị cho pháo cao xạ 57 ly do Đại đội C4 của Trung đoàn 228 Hàm Rồng sử dụng lại có thế phá nhiễu sóng và lần ra được “pháo đài bay” B52 của chúng.

Ngay sau khi nghe tin Hàm Rồng bị B52 ném bom và thông tin ra đa K860 của pháo cao xạ 57 ly có thể phát hiện được B52, bắt sóng chính xác mục tiêu, Quân chủng Phòng không-Không quân đã thu thập kinh nghiệm kĩ thuật này để cho binh chủng tên lửa phòng không chuẩn bị sẵn sàng ứng phó nếu Mỹ đem B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng.

Tháng 12/1972, Mỹ điên cuồng tiếp tục chiến dịch Linebacker 2 bằng việc ồ ạt đưa con “át chủ bài” B52 ném bom miền Bắc nhằm khuất phục nhân dân ta.

Vì đã có kinh nghiệm đánh B52 từ khắp các chiến trường trước đây (bộ đội phòng không, không quân còn biên soạn cuốn cẩm nang đánh B52), lực lượng ra đa tên lửa của ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Khi đó đồng chí Phan Thu, kỹ thuật viên, đã tiếp thu được kinh nghiệm dùng máy ra đa K860 mà Đại đội C4 đã cải tiến để dẫn đường cho tên lửa bắn chính xác mục tiêu B52 khi bay vào vùng trời Hà Nội cũng như ở một số tỉnh thành phố khác.

19h10 tối 18/12/1972, Đại đội ra đa 45, Trung đoàn 291 thông báo sớm 35 phút trước khi B52 vào đánh phá Hà Nội. Đây là khoảng thời gian vô cùng quý giá để quân, dân, đặc biệt là các tiểu đoàn tên lửa ở các thành phố lớn ở miền Bắc chủ động đánh trả B52.

Lúc 20h13, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261 đã tiêu diệt chiếc pháo đài bay đầu tiên ở cánh đồng Chuôm (huyện Sóc Sơn, Hà Nội).  Và kết thúc ngày chiến đấu đầu tiên (ngày 18/12), bộ đội tên lửa đã bắn rơi 3 máy bay B52. Sau 12 ngày của trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, 34 chiếc B52 trong tổng số 81 máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng… đã khiến Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom bằng B52 ở miền Bắc Việt Nam.

Có thể nói chiến thắng của 12 ngày đêm “Điên Biên Phủ” trên không là sự thắng lợi của tinh thần đoàn kết và hiệp đồng tác chiến của quân, dân ta mà đặc biệt phải kể tới các binh chủng không quân, tên lửa, cao xạ…

Trong đó, những bài học kinh nghiệm phá nhiễu sóng máy bay B52 của những người lính ra đa pháo cao xạ 57 ly, Trung đoàn 228 Hàm Rồng anh hùng trong đó có trắc thủ Lê Xuân Giang, đã góp một phần quan trọng làm nên chiến thắng…

Sao Chi
chinhphu.vn

Người lính canh chừng B-52 bên Cột cờ Hà Nội

(Chinhphu.vn) – “Suốt 12 ngày đêm tháng 12/1972, chúng tôi biết mình có thể hi sinh bất cứ lúc nào nhưng chưa bao giờ run sợ trước kẻ thù, luôn bám trụ Cột cờ Thủ đô”, ông Trần Đức Thịnh, ở xã Úc Kỳ (huyện Phú Bình, Thái Nguyên), nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội Cột cờ bồi hồi nhớ lại.

Những người lính của Tiểu đội Cột cờ năm xưa-Ảnh do nhân vật cung cấp

Nhiệm vụ của Tiểu đội Cột cờ trong những ngày Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc là quan sát Hà Nội và vùng phụ cận, bằng mắt thường, hay qua ống nhòm, trong từng trận ném bom để báo cáo diễn biến cho Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.

Ông Dương Sỹ Nguyên, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Úc Kỳ, trên đường dẫn chúng tôi đến nhà ông Thịnh cứ tấm tắc mãi: “Mỗi lần nghe anh Thịnh kể về những ngày tháng làm nhiệm vụ bảo vệ Cột cờ Hà Nội dưới bom đạn của đế quốc Mỹ, chúng tôi luôn cảm thấy tự hào về ý chí quật cường của quân và dân ta”.

Qua câu chuyện bên chén trà nóng, ông Thịnh cho biết từ năm 1966, ông đã được điều chuyển sang tiểu đội Cột cờ Hà Nội.

Hàng ngày, tiểu đội chia làm 3 ca thay nhau trực. Mỗi ca có 4 người, chia làm 4 hướng. Mỗi người chịu trách nhiệm quan sát một hướng nhất định. Cả tiểu đội bao quát toàn bộ các vị trí ở Hà Nội, kịp thời báo cáo diễn biến từng trận đánh về Cục Tác chiến bằng điện thoại.

Bình thường trên đỉnh Cột cờ rất bằng phẳng, nhưng trong những trận ném bom, mỗi người lính tự buộc mình vào cột thu lôi trên cột cờ bằng dây dây da cho khỏi bị ngã, nhất là trong những trận bom ném gần ga Hà Nội, phố Khâm Thiên, Cửa Nam…

Biết mình có thể hi sinh bất kể lúc nào, nhưng ông Thịnh và đồng đội luôn tâm niệm lời thề trong bất kể tình huống nào, cũng không rời vị trí.

Từ Cột cờ Hà Nội, nhiều lần ông Thịnh và đồng đội vô cùng đau xót khi chứng kiến cảnh tàn phá khủng khiếp của những trận bom Mỹ rải xuống Hà Nội và vùng phụ cận.

 “Có lần tôi đang làm nhiệm vụ, máy bay Mỹ đến oanh kích Hà Nội, ném bom cầu Long Biên. Mới đầu, chúng thả bom hơi, rồi bom phá, cuối cùng là bom tấn làm mấy nhịp cầu đổ sập xuống, trời đất mù mịt. Người tôi giật tung lên. Có nhiều lúc chúng tôi cảm tưởng như bom nổ ngay bên mình”, ông Thịnh nhớ lại.

Song mọi thành viên trong Tiểu đội Cột cờ đều nén đau thương để nhìn kỹ, nhìn chính xác vị trí của từng trận ném bom của địch để báo cáo về Cục Tác chiến, góp phần cung cấp thông tin trong việc xây dựng các phương án phòng không hiệu quả cho Thủ đô.

Ông Trần Đức Thịnh đang xem lại những kỉ vật thời chiến tranh-Ảnh: VGP/Nguyễn Thắng

Ông Thịnh nói rằng, trong suốt 7 năm làm nhiệm vụ ở Cột cờ Hà Nội, 12 ngày đêm cuối năm 1972 là khốc liệt, gian khổ nhưng cũng rất tự hào, anh dũng.

12 ngày đêm rực lửa ấy, máy bay Mỹ rải bom dữ dội xuống Thủ đô và các tỉnh lân cận, ông cùng đồng đội làm việc suốt đêm không ngủ. Cứ mỗi lần nghe tiếng báo động, mọi người xuống hầm trú ẩn còn cả Tiểu đội Cột Cờ lại lên vị trí quan sát không sợ mưa bom bão đạn của kẻ thù.

“Lúc đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Chúng tôi biết mình có thể hi sinh bất cứ lúc nào. 12 người chúng tôi cầm tay nhau đứng dưới chân Cột cờ cùng thề sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc”, ông Thịnh nói.

Đêm 19/12/1972, máy bay B-52 của Mỹ liên tục dội bom xuống Thủ đô làm rung chuyển đất trời. lực lượng phòng không Việt Nam đáp trả bằng tên lửa, pháo phòng không sáng rực cả bầu trời.

Xác máy bay B-52 bị bắn rơi, cháy đỏ rực. Các mảnh vỡ bay tung tóe…

Giờ đây, hồi tưởng về những ngày tháng không thể nào quên ấy, trong tình cảm của người cựu chiến binh vẫn còn nguyên vẹn niềm tự hào. Ông nói: “Chúng tôi không sợ bom đạn của kẻ thù. 12 người lính trong tiểu đội Cột cờ đều thấy vinh dự và tự hào khi được làm nhiệm vụ dưới lá cờ Tổ quốc giữa Thủ đô Hà Nội trong những ngày tháng rực lửa ấy”.

Nguyễn Thắng
chinhphu.vn

“Điện Biên Phủ trên không” qua ký ức một tiêu đồ viên

(Chinhphu.vn) – Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, Hầm Chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu là nơi chứng kiến cuộc đấu trí cam go giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Đức Phách, ngoài cùng bên trái, thăm lại Hầm Tác chiến. Ảnh: VGP/Việt Hà

 

Phóng viên Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ có dịp trò chuyện với cựu chiến binh Nguyễn Đức Khách, một tiêu đồ viên đã có mặt trong Hầm Tác chiến trong những ngày khốc liệt năm 1972.

Thưa ông, nhiệm vụ của một tiêu đồ viên là gì?

Tiêu đồ viên có nhiệm vụ theo dõi đường bay của máy bay địch và máy bay ta, ghi lại thông tin tình hình về máy bay địch do rađa thu thập qua tổng hợp của tổng đài Phòng không – Không quân.

Thông tin đó về từng tốp máy bay, loại gì, bao nhiêu chiếc. Có những tốp vào gần ven biển lại quay ra, có thể muốn trinh sát hoặc thăm dò một cái gì đó. Diễn biến đó phải được theo dõi sát.

Ông làm việc dưới Hầm Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu thời gian nào?

Tôi nguyên từ Trung đoàn rađa 291 đóng tại Sân bay Gia Lâm. Đồng chí Phùng Thế Tài điều tôi về làm tiêu đồ viên từ tháng 2/1965. Năm 1967, Hầm Tác chiến được xây dựng xong, chúng tôi xuống làm việc ở đây, cho đến khi hòa bình.

Trong 12 ngày đêm với cường độ dày đặc máy bay Mỹ vào như vậy, các tiêu đồ viên làm như thế nào để kịp ghi đường bay?

Chúng tôi vẫn làm việc như ngày thường nhưng chỉ có điều phải nhanh mắt, nhanh tay và cường độ làm việc tối đa. Chúng tôi làm việc bằng tất cả tinh thần và ý chí để làm thế nào thông tin kịp thời và chuẩn xác cho Sở chỉ huy, giúp Trung ương và Bộ Quốc phòng lãnh đạo toàn quân, toàn dân đánh thắng B-52.

Tinh thần của cán bộ, chiến sỹ trong Hầm Tác chiến khi đó thế nào?

Chúng tôi chỉ trào lên lòng căm thù trước tội ác ném bom giết hại người dân vô tội nhưng phải nén lại để hoàn thành nhiệm vụ mà quân đội giao cho. Ban đêm, chúng tôi tập trung hết dưới hầm, vừa trú ẩn nhưng thực ra là trực chiến.

Những lúc lên khỏi hầm, đứng trên Lầu Công chúa, chúng tôi thấy một Hà Nội hiên ngang đánh trả những trận bom B52 dội xuống. Người dân Hà Nội những ngày đó rất bình thản, những người lại đều tham gia dân quân, tự vệ, luôn khoác súng trên vai.

Ông có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong 12 ngày đêm ấy?

Kỷ niệm thì nhiều lắm. Nhưng kỷ niệm mà chúng tôi không thể quên là khi nghe thông báo đã bắn gục B52. Lúc đó, chúng tôi sung sướng lắm, càng thêm quyết tâm và  ý chí trong công việc.

Mỗi lúc như vậy, chúng tôi thấy vui vì mình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của một người lính.

Nhưng chúng tôi cũng không thể quên hình ảnh Bạch Mai, Khâm Thiên bị tàn phá bởi bom Mỹ, hàng nghìn người chết, có gia đình không còn ai…

Hôm nay về đây, cảm xúc của ông thế nào ?

Nhiều lần muốn về thăm lại nơi này nhưng đây là lần đầu tiên tôi trở lại nơi mình đã gắn bó suốt thời trai trẻ. Chúng tôi rất xúc động và phấn khởi. Trong không khí kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tôi tự hào vì đã góp phần cùng với quân dân cả nước đánh bại B52 của Mỹ. Đó cũng là niềm tự hào mà tôi muốn nhắn nhủ tới con cháu và các thế hệ sau này: Bất cứ giá nào cũng phải giữ được độc lập tự do, phải xây dựng được Tổ quốc ta mạnh giàu.

Việt Hà (Thực hiện)
chinhphu.vn

Công an nhân dân với chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết: “Lực lượng Công an nhân dân góp phần xứng đáng vào chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” của Thượng tướng Trần Đại Quang,  Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Bài viết nêu  bật những đóng góp to lớn của lực lượng Công an nhân dân trong những ngày lịch sử ấy.

Đúng vào những ngày này cách đây 40 năm, từ 18-29/12/1972, đế quốc Mỹ đã cho máy bay chiến lược B52 và các loại máy bay chiến thuật trút hơn 100 nghìn tấn bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của quân và dân ta, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của họ tại Hội nghị Paris về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Với tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng lững lẫy “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đang chữa cháy tại Tổng kho Xăng dầu Đức Giang năm 1972. Ảnh tư liệu

 

Hiệp đồng chiến đấu, chủ động bảo vệ an ninh trật tự

Trong trận chiến đấu 12 ngày đêm lịch sử ấy, có sự đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân.

Ngay từ năm 1971, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 26, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ cho toàn lực lượng Công an năm 1972: “Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự xã hội với yêu cầu cao hơn và khẩn trương hơn; xác định các địa bàn trọng điểm phải tập trung chỉ đạo là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Các cấp công an từ Đồn, Huyện đến Ty, Sở đều phải chuyển sang thực hiện nếp sống quân sự hoá, mọi sinh hoạt, công tác, học tập đều phải chuyển hướng theo tình hình thời chiến để có thể sẵn sàng đối phó có hiệu quả trước mọi âm mưu phiêu lưu quân sự mới của địch”. Đồng thời, quán triệt Nghị quyết số 220-NQ/TW, ngày 1/6/1972 của Bộ Chính trị “Về chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Bộ Công an đã kịp thời có kế hoạch chuyển hướng hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới.

Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại trở lại miền Bắc, thả mìn, phong toả cảng và đánh phá thành phố Hải Phòng, Bộ Công an đã chỉ đạo Sở Công an Hà Nội cử đoàn cán bộ xuống Hải Phòng nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, rút kinh nghiệm công tác phòng không sơ tán, khắc phục hậu quả, giữ gìn trật tự, an ninh của thành phố Hải Phòng để bổ sung kịp thời vào kế hoạch và các phương án chiến đấu của Công an Thủ đô.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Công an, Công an Hà Nội, Công an thành phố Hải Phòng và một số địa phương khác đã tổ chức thực tập phương án phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng Công an với lực lượng Quân đội, Giao thông, Y tế… trong công tác đảm bảo giữ gìn an ninh, trật tự khi có tình huống xảy ra. Lực lượng Công an đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền tổ chức sơ tán ra khỏi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng hơn 500.000 người già, trẻ em và những người không trực tiếp sản xuất, chiến đấu; tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác bảo vệ những địa bàn trọng điểm, bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải và tổ chức các đội cứu hỏa, cứu sập; phối hợp với các ban, ngành trong việc nạo vét, củng cố các hầm trú ẩn đã có, tích cực làm hầm mới và lập hồ sơ hầm trú ẩn trong thành phố; thành lập các đội tải thương, cứu thương, sửa chữa điện, nước, thu dọn đường sá, hướng dẫn giao thông, chôn cất người bị hy sinh và cứu giúp người bị nạn; phối hợp với Quân đội thành lập Bộ Chỉ huy chung để thống nhất chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện các phương án tuần tra cảnh giới, bảo vệ mục tiêu. Công tác tuần tra, bảo vệ an toàn tài sản của những người dân đi sơ tán đã được lực lượng Cảnh sát khu vực, Cảnh sát bảo vệ phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ đảm bảo tốt.

Công an các địa phương đã mở đợt tấn công trấn áp những phần tử có thể gây nguy hại đến an ninh, trật tự, bắt tập trung giáo dục cải tạo hàng nghìn đối tượng lưu manh, trộm cắp. Do công tác chuẩn bị khẩn trương, tích cực, nên khi bước vào cuộc chiến đấu ác liệt với địch, lực lượng Công an đã đối phó với tình hình một cách chủ động, linh hoạt, bảo vệ an ninh, trật tự, phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu, góp phần làm giảm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Trong những ngày cuối tháng 12/1972, công an Thủ đô luôn sát cánh cùng các lực lượng khác chiến đấu và giữ gìn an ninh. Ảnh Tư liệu

 

Trong chiến dịch 12 ngày đêm chiến đấu, giữa mưa bom, bão đạn, cán bộ, chiến sĩ công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương đã luôn bám sát vị trí chiến đấu, tiếp tục làm tốt công tác vận động nhân dân phòng không sơ tán, dũng cảm cứu dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước và tài sản của nhân dân. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ  đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật của Trung ương và địa phương, như Đài phát thanh Mễ Trì (Từ Liêm), kho xăng Đức Giang (Gia Lâm), Đài Điện Ly (Đông Anh), Đài phát tín Sơn Đồng (Hoài Đức), cầu Long Biên, Nhà máy Điện Yên Phụ ở Hà Nội, cảng Hải Phòng và các mục tiêu khác thường xuyên bị máy bay Mỹ bắn phá. Lực lượng Công an đã ngày, đêm bám trụ, tổ chức việc cứu người, dập lửa, tổ chức canh gác, chăm lo bảo vệ tài sản cho nhân dân; thăm hỏi động viên những gia đình bị nạn, tích cực góp phần cùng với chính quyền địa phương và các đoàn thể nhanh chóng ổn định mọi sinh hoạt  thường ngày cho nhân dân. Đặc biệt, lực lượng Công an Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh…  đã không quản tính mạng, tập trung đào bới cứu hàng nghìn người bị  sập hầm.

Hình ảnh người chiến sĩ công an với sắc phục truyền thống, có mặt ở các trận địa nóng bỏng nhất, trên từng con đường, ngõ, phố của Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh… trong 12 ngày đêm chiến đấu đã trở nên quen thuộc, gần gũi với người dân. Xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ công an xông pha trong nơi lửa đạn cõng em bé, cụ già ra hầm trú ẩn; hướng dẫn và cùng đội viên dân phòng, bảo vệ dân phố chữa cháy, cứu thương, cứu sập; tiêu biểu cho tinh thần “Vì nước quên thân vì dân phục vụ” là tấm gương của anh hùng Nguyễn Văn Uân, cảnh sát khu vực Mai Hương, khu phố Hai Bà Trưng đã dũng cảm hy sinh thân mình cứu dân dưới làn bom, đạn xối xả của kẻ thù.

Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy của Bộ và các địa phương đã tổ chức sẵn sàng chiến đấu về lực lượng và phương tiện; bố trí thường trực cao nhất để tiếp nhận, xử lý thông tin, kịp thời có mặt tại hiện trường, bất chấp bom rơi, dập tắt các đám cháy, cứu thương, cứu sập, bảo vệ tính mạng của nhân dân, tài sản của Nhà nước và của nhân dân. Khi máy bay Mỹ tập trung đánh phá các trận địa tên lửa phòng không, kho xăng dầu, cảng, khu dân cư, nhà máy điện… lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã không quản hy sinh, kiên cường bám trụ, ngày đêm chữa cháy; đặc biệt khi trận địa tên lửa phòng không Chèm bị trúng bom, một quả tên lửa đang nằm trên bệ phóng bị mảnh bom xuyên thủng, nhiên liệu chảy ra ngoài gây cháy, cán bộ, chiến sĩ phòng cháy, chữa cháy đã kịp thời có mặt, khống chế nhiên liệu chảy ra từ quả tên lửa, tập trung dập gọn từng cụm lửa, cứu được cả trận địa tên lửa trước sự khâm phục của bộ đội và nhân dân. Đêm 19 rạng ngày 20/12/1972, khi máy bay địch ném bom cảng Hải Phòng, làm cháy tàu JOZEP KORNAD của Ba Lan và một số kho hàng trong cảng, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã phối hợp với bảo vệ cảng chữa cháy kịp thời, dập tắt đám cháy trên tàu, cứu được 11 thuỷ thủ bạn bị thương.

Trên mặt trận đảm bảo an toàn giao thông, với quyết tâm “Sống bám cầu đường, chết kiên cường anh dũng”, cán bộ, chiến sĩ cảnh sát giao thông đã phối hợp với lực lượng Giao thông ngày đêm bám tuyến đường, thường trực chiến đấu, phân tuyến, phân luồng, dũng cảm chỉ huy trật tự giao thông trên đường phố; giải toả kịp thời tắc nghẽn, đảm bảo giao thông thông suốt, nhân dân đi sơ tán được thuận lợi, an toàn. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm của lực lượng Cảnh sát giao thông bảo vệ cầu, phà, đường bộ, đường sắt, đường thủy đã được nhân dân ca ngợi, tiêu biểu là đồng chí cảnh sát giao thông Phan Điện Biên đã dũng cảm nhảy lên toa xe lửa đang cháy, giật chốt cho toa xe lửa tách toa hàng để bảo vệ tài sản Nhà nước.

Cùng với việc tập trung lực lượng vào công tác phòng không và khắc phục hậu quả do bom đạn Mỹ gây ra, Công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác vẫn đẩy mạnh các mặt công tác trấn áp các loại tội phạm lợi dụng tình hình địch đánh phá để trộm cắp tài sản, gây rối trật tự, an ninh; việc phối hợp với lực lượng dân quân, tự vệ, thanh niên tuần tra trong khối phố được tăng cường, nên tội phạm và các tệ nạn xã hội đã giảm nhiều so với trước.

Bài học quý từ thực tiễn chiến đấu

Sau chiến dịch 12 ngày đêm, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phối hợp cùng với các ban, ngành, các lực lượng nhanh chóng tổ chức ổn định đời sống sinh hoạt của nhân dân và giải quyết hậu quả chiến tranh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trong đợt chiến đấu ác liệt này, 18 cán bộ, chiến sĩ công an đã anh dũng hy sinh, hàng trăm đồng chí khác bị thương; 2 tập thể và 1 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 15 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công các loại. Cùng với Công an Hà Nội, Công an Hải Phòng, Ty Công an Quảng Ninh cũng được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký lệnh khen thưởng Huân chương Kháng chiến và Huân chương Chiến công vì thành tích xuất sắc trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch 12 ngày đêm chống B.52 của đế quốc Mỹ.

Những phi công Mỹ bị bắt và giam giữ tại Hỏa Lò, trong chiến dịch Hà Nội-Điện Biên phủ trên không-Ảnh tư liệu

 

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân tự hào về những chiến công, những đóng góp to lớn trên lĩnh vực đảm bảo an ninh, trật tự, góp phần xứng đáng cùng với quân và dân cả nước đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược tàn bạo của đế quốc Mỹ.

Thực tiễn bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cuộc chiến đấu ác liệt 12 ngày đêm chống pháo đài bay B.52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an.

Trước hết, đó là bài học kết hợp chặt chẽ giữa phòng không nhân dân với thế trận an ninh nhân dân, chủ động nắm tình hình kịp thời, chính xác; nhanh chóng chuyển hướng về tổ chức và chỉ đạo toàn lực lượng thích ứng với tình hình thời chiến; tích cực làm tốt công tác chuẩn bị trước khi bước vào trận chiến đấu; đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với lực lượng quân đội, dân quân tự vệ, bảo vệ dân phố và các ban, ngành có liên quan và quan trọng nhất là bài học nêu cao tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, quên thân phục vụ, giữ vững hình ảnh cao đẹp của người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong lòng nhân dân. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Phát huy truyền thống quật cường, anh dũng của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và hết lòng phụng sự nhân dân, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

*Các tiêu đề bài viết do Cổng TTĐT Chính phủ đặt
chinhphu.vn

Bắn rơi F-111A bằng súng phòng không

(Chinhphu.vn)-Chỉ với những khẩu súng máy cao xạ 14,5mm nhưng lực lượng tự vệ Nhà máy cơ khí Lương Yên, Nhà máy cơ khí Mai Động, Nhà máy gỗ Hà Nội, đã bắn rơi 1 máy bay chiến đấu hiện đại F-111A của Mỹ, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước.

Bà Phạm Thị Viễn

Kể về những ngày tháng bom Mỹ cày xới Hà Nội 40 năm trước, bà Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, nhiều lần nghẹn lời khi nhớ lại những người thân bị bom Mỹ sát hại.

Năm 1967, mẹ của bà Viễn đã thiệt mạng trong một đợt ném bom của máy bay Mỹ. Còn trong những ngày liên tục trực chiến tại trận địa phòng không những ngày cuối năm 1972, bà Viễn lại đón nhận tin dữ, đêm 26/12, bom B52 đã dội trúng hầm và giết hại 2 người anh họ và bố của bà Viễn.

Trong đau thương, mất mát, bà Viễn và đồng đội càng nung nấu quyết tâm chiến đấu và cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, bên cạnh những đợt ném bom rải thảm bằng máy bay B52, không quân Mỹ còn sử dụng máy bay F-111A bay rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội để đánh phá.

Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội khi ấy đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm. Các chiến sỹ trong biên chế gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

14 giờ chiều ngày 22/12, bà Viễn và đồng đội nhận lệnh trực chiến tại trận địa Vân Đồn (ngoài bãi sông Hồng, Hà Nội). Đến 21 giờ 30 phút thì còi báo động nổi lên, một tốp F-111A xuất hiện, bay thấp, dọctheo  sông Hồng. Đến cự ly thích hợp, chỉ huy trận địa hô: “Một điểm xạ ngắn, bắn!”, cả 5 khẩu súng máy đồng loạt phát hỏa.

“Tôi ở vị trí pháo thủ số 1 nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay trúng đạn, phần đuôi của nó lóe sáng. Đấy là chiến công đầu tiên của đơn vị chúng tôi mà cũng vào ngày 22/12 nên chúng tôi không bao giờ quên được”, bà Viễn nhớ lại.

Sáng hôm sau (23/12), cấp trên thông báo trận địa Vân Đồn đã bắn rơi chiếc F111A (chiếc may bay này rơi tại Lương Sơn, Hòa Bình, du kích địa phương bắt sống được hai phi công Mỹ).

Cũng trong ngày hôm đó, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân và Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Duy Hưng đã tới thăm các chiến sỹ dân quân tự vệ trận địa Vân Đồn đồng thời khen ngợi: “Các đồng chí chiến đấu rất dũng cảm. Đó là niềm tự hào đối với dân quân Hà Nội”.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã tới thăm anh chị em và tặng lẵng hoa cho các tự vệ ngay tại trận địa.

Việt Hà-Bảo Minh (ghi)
chinhphu.vn

Đêm mở màn “Điện Biên Phủ trên không” tại Sở chỉ huy tác chiến

(Chinhphu.vn) – Với Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Cục phó Cục Tác chiến, cuộc đấu trí cam go giữa cơ quan tham mưu chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam với không lực Hoa Kỳ đêm 18/12/1972 vẫn còn nguyên vẹn trong hồi ức.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh kể lại diễn biến trận đánh mở màn chiến dịch Điên Biên Phủ trên không đêm 18/12. – Ảnh: VGP/Minh Anh

Thăm lại hầm Sở chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu trong Thành cổ Hà Nội trong ngày mở cửa cho khách tham quan, từng diễn biến trong trân đánh mở màn 12 ngày đêm được người cựu chiến binh 82 tuổi kể lại một cách rành mạch, chi tiết.

Từ ngày 17/12/1972, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho Quân chủng Phòng không – Không quân vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đề phòng B-52 Mỹ đánh từ vĩ tuyến 20 trở ra các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là Hà Nội.

Sáng 18/12, hoạt động của máy bay trinh sát địch vẫn diễn ra bình thường. Lúc 16h, Thiếu tá Nguyễn Văn Ninh có mặt tại Sở chỉ  huy nhận trực ban phó, kiêm trực ban phòng không bên cạnh đồng chí Trần Độ trực ban trưởng; đồng thời cũng là lúc từ Cục 2, đồng chí Mạc Lâm thông báo tới Sở Chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu và Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân, có nhiều tốp B-52 sẽ cất cánh từ sân bay Andesin đảo Guam vào đánh phá miền Bắc.

Đến 18h20 phút, các tiêu đồ viên cũng đã có mặt đầy đủ, Thiếu tá Ninh và các đồng chí trong kíp trực ban hội ý và nhận định tối nay máy bay sẽ đánh Hà Nội.

Lúc 19h10, Sở Chỉ huy nhận được  điện báo của Quân chủng Phòng không – Không quân, đài ra đa ở Đô Lương, Nghệ An đã phát hiện máy bay B-52 từng tốp đang bám theo đất Lào, ngược lên phía Bắc Việt Nam. Các tiêu đồ viên trong hầm chỉ huy thận trọng vẽ những nét chì xanh trên bản đồ. Các sĩ quan tham mưu chăm chú theo dõi những đường xanh ngoằn ngoèo là máy bay phản lực tiêm kích, những đường xanh thẳng tắp từ xa nhích dần vào Hà Nội là các tốp B-52 Mỹ. Trên tiêu đồ, khoảng cách mục tiêu B-52 càng xích gần về Hà Nội.

Kíp trực ban bình tĩnh nhắc các nữ  tiêu đồ viên tập trung cao độ nhận và ghi chính xác những tín hiệu “BB” lên bảng tiêu đồ và căn cứ vào đường bay của địch, báo cáo tình hình với cấp trên từng chi tiết cụ thể, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh trên miền Bắc. Sở chỉ huy lúc này sôi động hẳn lên, vì ngay từ đầu ta đã phát hiện được B-52 Mỹ và Tổ quốc không bị bất ngờ.

Kíp trực ban lập tức gọi điện báo cáo Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, là B-52 Mỹ đang bay ra đánh Hà Nội, đồng thời báo cáo Tổng Tham mưu trưởng – Thượng tướng Văn Tiến Dũng, xin chỉ thị được kéo còi báo động trước 5 phút so với quy định. Thượng tướng nói: “Đồng ý, tôi sẽ sang phòng chính của Sở chỉ huy ngay”.

Nhìn tiêu đồ, máy bay địch chỉ  cách Hà Nội khoảng 200 km, Thiếu tác Nguyễn Văn Ninh bật công tắc micro, báo cáo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Sau giây phút hội ý với trực ban trưởng, ông ấn nút kéo còi báo động thông báo cho Hà Nội điềm tĩnh bước vào chiến đấu. Rồi ông quay sang thông báo tình hình với Bộ Giao thông vận tải…

Một nữ tiêu đồ viên đang mô tả lại công việc của mình trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không ( nhân ngày hầm tác chiến mở cửa đón khách tham quan sáng 20/12). – Ảnh: VGP/Minh Anh

Lát sau, trong hầm chỉ huy đã có mặt Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài,  Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng và đồng chí Lê Hiến Mai – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị… Trong những giờ phút cam go và quyết định ấy, từ hầm Sở chỉ huy tác chiến, mệnh lệnh chiến đấu chính xác, kịp thời được phát ra cho các đơn vị tên lửa, phòng không quyết đánh trúng đích, “vít cổ” lũ B-52.

Lúc này, từng đàn máy bay B-52 đã rền vang trên bầu trời Hà Nội. Từng loạt bom rung chuyển thành phố. Trong hầm chỉ huy tác chiến, không khí thật im lặng, trật tự, đèn nê ông rất sáng. Bên bàn lớn đối diện với bảng tiêu đồ là bàn trực ban Sở chỉ huy, ngồi bên cạnh Đại tá Vũ Lăng, Cục trưởng Cục Tác chiến là Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng.

Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài cầm máy, liên tiếp ra lệnh cho Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân và các đơn vị, địa phương thực hiện mệnh lệnh chiến đấu. Trực ban Phòng không – Không quân liên tục báo về, hết đơn vị tên lửa này đến đại đội pháo cao xạ khác nổ súng. Máy bay ta cất cánh chiến đấu đã trở về sân bay Gia Lâm an toàn.

Trực ban phó Nguyễn Văn Ninh áp chặt ống nghe, tốc ký báo cáo của trực ban Phòng không – Không quân rồi nhắc khẽ: “Có tin mừng báo ngay nhé”. Vừa lúc đó, đài quan sát trên đỉnh cột cờ báo về: “Một đám cháy lớn trên bầu trời phía Bắc”.

Thiếu tá Nguyễn Văn Ninh nhớ lại một cảm xúc  đáng nhớ nhất là khi chiếc máy bay B -52 đầu tiên rơi, kíp trực nghe giong nói qua cái loa trong hầm tác chiến từ anh em trực chiến trên Cột cờ: “Cháy to lắm rồi, cháy to lắm rồi”.

Rồi trực ban Quân chủng Phòng không – Không quân thông báo gấp gáp: “Một B52 rơi rồi, phía Đông Anh”. Trực ban phó reo lên vui sướng. Mọi người trong hầm chỉ huy ôm chầm lấy nhau, mắt nhoè đi như có nước. Lúc đó là 20h30 ngày 18/12/1972.

Trời sáng, trực ban sở chỉ huy bấm công tắc micro: “lệnh báo yên thành phố”, đồng thời báo cáo Thủ trưởng Bộ: Trận đánh B-52 đêm 18 rạng ngày 19/12/1972 kết thúc. Địch sử dụng trên 400 lần chiếc máy bay không quân chiến thuật và 90 lần chiếc B-52, đánh trên 100 điểm. Ta bắn rơi 3 máy bay B-52 Mỹ, 5 máy bay phản lực chiến đấu, bắt sống 7 giặc lái.

Đêm 18/12/1972, đêm mở màn chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” đã trở thành đêm chiến thắng của quân và dân ta, đêm hãi hùng đối với bộ máy chiến tranh Hoa Kỳ.

Hầm chỉ huy tác chiến – Bộ Tổng tham mưu được xây dựng ngay từ những ngày  đầu Mỹ chính thức tiến hành chiến tranh phá  hoại miền Bắc (lần thứ nhất) cuối năm 1964 đầu năm 1965. Hầm có kết cấu nửa nổi nửa chìm bằng bê tông nguyên khối với khối lượng khoảng 1.000m3; nóc dày 1,4m; tường dày 40cm. Tại đây, đã diễn ra nhiều cuộc họp do các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước chủ trì và đưa ra những quyết định quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ.

Minh Anh
chinhphu.vn

Vị Đại sứ Liên Xô và quyết định nâng cấp SAM 2 tại Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Một quyết định rất đặc biệt của một nhà ngoại giao của Liên Xô tại Việt Nam đã tháo gỡ nhiều bế tắc, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”cuối năm 1972.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gửi Tư lệnh không quân Liên bang Nga bức tranh bằng đồng tới gia đình đồng chí Ilia S.Shcherbakov, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô  tại Việt Nam. – Ảnh: VGP/Từ Lương

Tháng 9/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để đánh phá Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cứu đánh B-52 đã được Bác Hồ giao cho đồng chí Tư lệnh Phòng không -Không quân.

Với sự chuẩn bị chu đáo với nhiều cách đánh sáng tạo, riêng có, ngay ngày đầu tiên của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, lực lượng tên lửa Việt Nam đã quật ngã tại chỗ máy bay B-52 của Không quân Hoa Kỳ, mặc dù B-52 sở hữu hệ thống gây nhiễu hiện đại nhất thời bấy giờ.

Góp phần quan trọng vào chiến thắng này phải kể tới một quyết định rất đặc biệt của đồng chí Ilia S.Shcherbakov, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam nhiệm kỳ 1964-1974.

Ông đã trực tiếp đến thăm các trận địa phòng không, biết rõ những khó khăn về kỹ thuật xuất hiện trên các chiến trường. Từ việc am hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2 theo hướng tăng công suất ra -đa lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B-52.

Thời kỳ đó, Chính phủ Liên Xô và quân đội Liên Xô đã có quy định rất ngặt nghèo: Việc can thiệp vào tên lửa SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện nếu không ở trong lãnh thổ Xô Viết. Vì vậy, quyết định táo bạo nhưng vô cùng có trách nhiệm với Việt Nam của vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam đã góp phần quan trọng để tên lửa SAM 2 có thể vươn tới độ cao và vượt nhiễu của B-52.

Kết quả cải tiến này của chuyên gia Liên Xô và của bộ đội phòng không đã thu được kết quả lớn, khi chúng ta liên tục hạ gục tại chỗ pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không,” đã có 34 chiếc B52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến tại Việt Nam).

Chiều 28/12/2012, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp thân mật Trung tướng Bondarev Viktor Nhikolaevich, Tư lệnh Không quân Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga đại diện Bộ Quốc phòng Nga sang dự lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Bằng tất cả tình cảm chân thành, Phó Thủ tướng đã gửi đồng chí Tư lệnh không quân Liên bang Nga bức thư bằng tiếng Nga cùng bức tranh Vịnh Hạ Long bằng đồng tới gia đình đồng chí Ilia S.Shcherbakov, tỏ lòng tri ân của nhân dân cũng như Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mong muốn các thành viên của gia đình Đại sứ Ilia S.Shcherbakov luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và sẽ tới thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

 Từ Lương
chinhphu.vn

Ai đặt tên Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không?

Ngày nay, khi nói đến chiến thắng đợt tập kích chiến lược của không quân Mỹ vào Hà Nội và các tỉnh thành miền Bắc tháng 12.1972, cụm từ Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đã là một phần lịch sử hào hùng gắn bó với thủ đô. Thế nhưng ai đã đặt tên cho chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972 là Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không?

Ai đặt tên Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không?Trang 2 – 3, báo Nhân Dân số ra thứ sáu, ngày 29.12.1972 – Ảnh: Tư liệu

Tại Thư viện Quốc gia còn lưu giữ tờ báo Nhân Dân số ra thứ sáu, ngày 29.12.1972 – ngày thứ 12 của cuộc chiến chống lại chiến dịch tập kích chiến lược bằng B-52 của không quân Mỹ. Ở trang 2 và 3 có tiêu đề: Chiến đấu oanh liệt – Chiến thắng vẻ vang. Đây có thể là một trong những chứng cứ rõ nhất xác định nguồn gốc của tên gọi Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không.

Trong đó, trang 2 đăng bài mở chuyên mục: Viết tại chỗ về Hà Nội – Điện Biên Phủ, với lý do:

“…Có người nói: “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không”.

Mỗi chiếc B-52 mà chúng ta diệt phải chăng là một thứ cứ điểm Điện Biện Phủ?

Xin mượn ý đó để đặt tên mục này là Viết tại chỗ về Hà Nội – Điện Biên Phủ”.

… Và sau đó, báo chí phương Tây và thế giới đã mặc nhiên sử dụng tên gọi này cho chiến thắng.

Trang 3 đăng bài hát Hà Nội, Điện Biên Phủ! của nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng là một trong những “viên gạch” góp phần xây dựng tên gọi Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Theo nhạc sĩ, vào ngày 27.12.1972, trong những giờ phút chiến đấu ác liệt và chiến thắng oai hùng của quân và dân Hà Nội, khi nghe lại lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn còn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B-52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn “Điện Biên Phủ” ngay trên bầu trời Hà Nội, thủ đô thân yêu của chúng ta”, nhạc sĩ đã nhanh chóng sáng tác bài hát mang tên Hà Nội, Điện Biên Phủ! mà ca từ có những câu:

“Một trận Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng”
“Một trận Điện Biên mới oai hùng”
“Một trận Điện Biên sáng chói, Hà Nội ơi!”

Như thế, cái tên Hà Nội – Điện Biên Phủ hay còn gọi là chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không có lẽ là ý nghĩ chung của quân và dân Hà Nội từ đại tướng đến binh nhì, của những người đang chiến đấu và chiến thắng cuộc tập kích không quân lớn nhất của Mỹ lúc bấy giờ. Đó là những cụm từ thể hiện niềm tự hào, ý chí kiên cường, tầm cao trí tuệ của quân và dân Hà Nội, quân và dân miền Bắc trong những ngày cuối tháng 12.1972 và trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Lê Huỳnh Hoa – Nguyễn Văn Kết
thanhnien.com.vn

Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không”, tầm nhìn chiến lược của Ðảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Cách đây tròn 40 năm, vào tháng 12-1972, quân và dân ta, mà trực tiếp là quân và dân Hà Nội, Bộ đội Phòng không – Không quân đã làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không, chủ yếu bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ.

Chiến thắng oanh liệt đó là sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích vô song – biểu tượng của tầm cao trí tuệ, bản lĩnh, ý chí và sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” tiếp tục chứng minh tầm nhìn chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Ðảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ðiều đó thể hiện trước hết ở việc đánh giá đúng tình hình, dự báo sớm, chính xác âm mưu, khả năng và hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ. Trên cơ sở đó, kiên định ý chí quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược. Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhận rõ âm mưu thay chân Pháp để biến miền nam thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ. Với tầm nhìn chiến lược, tư duy độc lập, tự chủ, nắm vững quy luật chiến tranh, phân tích khoa học, toàn diện lực lượng địch – ta, Ðảng ta đã khẳng định: Mỹ giàu nhưng không mạnh; chúng có những điểm yếu chí mạng và rất cơ bản, mà ta có thể khoét sâu để đánh thắng chúng. Trên cơ sở đó, Ðảng ta hạ quyết tâm quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược; đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và phương pháp, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược tài tình, giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, quyền chủ động chiến lược để đánh bại ý chí xâm lược, các chiến lược,(1) các bước leo thang chiến tranh của chúng, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” có mối quan hệ biện chứng với các sự kiện, diễn biến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; nó hoàn toàn nằm trong tư duy chiến lược của Ðảng ta. Ngay từ cuối năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua… Ở Việt Nam Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.(2) Từ sự phân tích khách quan, toàn diện tình hình, Ðảng ta nhận định: với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, đế quốc Mỹ không dễ dàng chấp nhận thua cuộc, chúng sẽ sử dụng biện pháp quân sự hòng buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của chúng trên bàn đàm phán. Thực tế diễn ra đúng như vậy. Chúng vừa đàm phán, vừa bí mật chuẩn bị kế hoạch tập kích chiến lược đường không quy mô lớn mang tên Linebacker II. Vì thế, khi chúng tiến hành cuộc tập kích, ta chủ động hoàn toàn cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; sớm chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, cả “tinh thần và lực lượng”, đặc biệt là huấn luyện Bộ đội Tên lửa đánh B.52; đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và ngoại giao… đánh bại ý chí xâm lược của chúng.

Ðứng trước việc đế quốc Mỹ sử dụng một lực lượng lớn máy bay chiến lược B.52 (một trong bộ ba vũ khí chiến lược của chúng) để hủy diệt Hà Nội, không ít người đã lo ngại cho ta. Song, chúng ta có niềm tin chiến thắng trên cơ sở biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của đối phương và hiểu rõ sức mạnh tổng hợp của chính mình. Ðó là sức mạnh của chính nghĩa, của truyền thống dân tộc, của đường lối chiến tranh nhân dân, của khát vọng hòa bình… và trên hết là sự tin tưởng, gắn bó của nhân dân với Ðảng. Từ đó, quân và dân ta nêu cao ý chí quyết đánh và quyết đánh thắng theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”(3). Ý chí quyết chiến, quyết thắng mãnh liệt đó là nguồn sức mạnh chính trị – tinh thần to lớn để các lực lượng, mà trực tiếp là quân và dân Hà Nội, Bộ đội Phòng không – Không quân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, mưu trí, sáng tạo, tìm ra cách đánh phù hợp, đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không của đế quốc Mỹ.

Tầm nhìn chiến lược của Ðảng được biểu hiện tập trung ở nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân độc đáo, sáng tạo tiếp tục được thể hiện trong Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” mà cốt lõi là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của lực lượng vũ trang ba thứ quân, tìm ra cách đánh phù hợp, xác định đúng đối tượng chủ yếu để tập trung tiêu diệt đạt hiệu quả chiến đấu cao. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với việc thực hiện đường lối, nghệ thuật chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo, Ðảng ta đã huy động được sức mạnh của cả nước, phát động toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy trên cả ba vùng chiến lược làm tan rã và đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 lịch sử. Trong chiến dịch phòng không cuối năm 1972, Ðảng ta đã thực hiện sáng tạo, hiệu quả nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không. Do chủ động về chiến lược, nên ta rất chủ động trong chỉ đạo chiến dịch và chiến thuật. Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu xây dựng kế hoạch đánh B.52 bảo vệ Hà Nội từ rất sớm; qua nhiều lần bổ sung, điều chỉnh và hoàn thành trước tháng 12-1972. Trên cơ sở đó, việc bố trí, sử dụng lực lượng phòng không ba thứ quân và xây dựng thế trận phòng không nhân dân cũng như việc tổ chức cho nhân dân sơ tán và phát động toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu được thực hiện tốt ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến dịch. Ðó là nghệ thuật tổ chức thế trận phòng không nhân dân “liên hoàn, vững chắc”, bố trí lực lượng phòng không ba thứ quân rộng khắp, nhiều tầng, nhiều lớp và có trọng điểm, vừa có lực lượng tại chỗ, vừa có lực lượng cơ động mạnh và lực lượng dự bị thích hợp, chuyển hóa thế trận linh hoạt, ứng phó kịp thời với các tình huống. Thế trận đó đã phát huy cao nhất khả năng hỏa lực, sức mạnh chiến đấu của từng lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh không quân địch với mọi quy mô, từ nhiều hướng, nhiều tầng, liên tục cả đêm lẫn ngày. Nét đặc sắc về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch còn được thể hiện ở việc xác định đúng cách đánh (với đối tượng tác chiến chủ yếu là B.52), đúng khu vực tác chiến chủ yếu (địa bàn Hà Nội), tổ chức các trận đánh then chốt, quyết định với lực lượng nòng cốt là Quân chủng Phòng không – Không quân, trong đó Bộ đội Tên lửa là lực lượng chủ công diệt B.52. Ðồng thời, chỉ đạo thực hiện tốt việc kết hợp hai phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân. Ðó là: đánh địch rộng khắp của lực lượng phòng không các địa phương, của dân quân tự vệ với đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng của Quân chủng Phòng không – Không quân. Thực tiễn đã khẳng định, chiến dịch phòng không cuối năm 1972 là đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến chống tiến công đường không hiện đại. Chiến dịch đó tuy chỉ diễn ra trong 12 ngày đêm, nhưng đã đạt hiệu quả chiến đấu rất cao: bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B.52, bắt sống nhiều phi công Mỹ.

Tầm nhìn chiến lược của Ðảng còn được thể hiện ở việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ðảng ta đã tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy tối đa sức mạnh của thời đại, coi đó là bộ phận hợp thành của đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần tạo nên sự vượt trội về thế và lực của nhân dân ta để đánh thắng kẻ thù. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” là thắng lợi chung của sự đoàn kết quốc tế, của các lực lượng XHCN, của phong trào cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Do cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta sáng ngời chính nghĩa, nên chúng ta đã nhận được sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về tinh thần và vật chất của bạn bè quốc tế, của nhân dân tiến bộ khắp năm châu, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Ðặc biệt, chúng ta nhận được sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em khác về vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại và các nguồn lực vật chất, tinh thần khác. Cùng với đó, còn có sự đoàn kết keo sơn, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của ba nước Ðông Dương: Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Những nhân tố đó góp phần tạo thành động lực và sức mạnh tổng hợp để quân và dân ta làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” nói riêng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đang diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước vừa có thuận lợi, vừa có thách thức đan xen. Ðáng chú ý là các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng những khó khăn của ta để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Vì thế, hơn bao giờ hết quân và dân ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đoàn kết, thống nhất và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng; tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Ðảng về bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện kết hợp có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; tạo môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; góp phần vào giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không” là dịp để chúng ta ôn lại quá khứ hào hùng, chiến công rực rỡ của quân và dân ta; đồng thời, thấy rõ hơn tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với niềm tự hào sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn đối với Ðảng, Bác Hồ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

(1) Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”.
(2) Hồ Chí Minh, Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb QÐND, H.1990, tr.203.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, tr.467.

Ðại tướng Phùng Quang Thanh Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Bí thư Quân ủy T.Ư
Bộ trưởng Quốc phòng

nhandan.com.vn