Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Nhìn lại chứng tích “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Cho đến nay, khi đứng trước những xác pháo đài bay B52 nằm ngổn ngang trong khuôn viên các bảo tàng, hay xác máy bay rơi vẫn nằm trong lòng hồ Hữu Tiệp, quận Ba Đình, rất nhiều du khách nước ngoài vẫn chưa hết kinh ngạc về sức chịu đựng của một thành phố nhỏ bé mang tên Hà Nội.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng Chiến thắng B52 (Hà Nội )

1. Có thể thấy những con số thống kê, tưởng chừng rất khô khan, nhưng đã tố cáo sự ác liệt của cuộc chiến Hà Nội trong những ngày đêm của năm 1972. Chỉ tính riêng trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Mỹ đã sử dụng 726 lần B52, 3.120 lần máy bay chiến thuật và trút hàng chục nghìn tấn bom đạn xuống miền Bắc. Trong đó, tại Hà Nội, Mỹ đã sử dụng 444 lần B52 (chiếm 61% tổng số lần B52 tham gia cuộc tập kích), hơn 1.000 lần máy bay chiến thuật, ném hơn 1 vạn tấn bom đạn, giết hại 2.380 người và làm bị thương 1.355 người… Giờ đây, tại Bảo tàng Chiến thắng B52, nơi lưu lại những kỷ vật, chứng tích của cuộc chiến, người ta thấy vẫn còn đó hình ảnh về những chia sẻ cộng đồng trước những mất mát đau thương cùng những hình ảnh, hiện vật sinh động về cuộc chiến chấn động địa cầu của quân dân Thủ đô đánh trả quyết liệt các cuộc không kích tàn bạo của Mỹ. Quân và dân Hà Nội đã bắn rơi 358 máy bay (trong đó có 25 chiếc B52). Khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng gây ấn tượng mạnh với hàng loạt vũ khí, khí tài mà quân, dân Thủ đô đã sử dụng và một số mảnh xác máy bay Mỹ, một xác máy bay B52 có thân dài 48,07m, sải cánh 56,42m – bằng chứng thất bại thảm hại của đế quốc Mỹ trong cuộc đánh phá Hà Nội.

Bảo tàng Phòng không – Không quân cũng là nơi lưu giữ những kỷ vật của cuộc chiến đấu “Điện Biên Phủ trên không”. Hiện Bảo tàng đang giữ Bộ sưu tập hiện vật Ra đa phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bắt được tín hiệu máy bay chiến lược B.52 vào Hà Nội sớm 35 phút để thông báo cho quân và dân Thủ đô chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; Bệ phóng tên lửa lập công bắn rơi máy bay B.52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12- 1972; Máy bay Mig.21 bắn rơi máy bay B.52 đêm 27-12-1972…từng trang sử hào hùng của Hà Nội vẫn được lật giở sau 40 năm với bao đổi thay.

2. Sau 40 năm, một thế hệ người Hà Nội vẫn chưa hết bàng hoàng bởi trận oanh tạc của đế quốc Mỹ trong cuộc đánh phá miền Bắc Việt Nam và Thủ đô Hà Nội. Và 12 ngày đêm tháng 12 -1972 là một dấu mốc thật đáng nhớ. Quá khứ về chiến tranh, dù đau thương nhưng vẫn phải nhắc lại, bởi bên cạnh những nỗi đau, sự mất mát còn là lòng tự hào, sự quật cường vươn lên của những thế hệ người Việt Nam tiếp nối. Với cuộc chiến 12 ngày đêm cách đây 40 năm ở Hà Nội là như vậy, đến với Bảo tàng Chiến thắng B52 như một sự trở về với quá khứ.

Không phải giản đơn mà có rất nhiều ý kiến của bạn bè quốc tế được lưu lại tại Bảo tàng Chiến thắng B52 ở Hà Nội. Họ cho rằng Bảo tàng là một trong những nơi lưu giữ lịch sử độc đáo nhất trên thế giới. Ở đó, dấu vết của một cuộc chiến từng cày xới mảnh đất Thăng Long qua 12 ngày đêm tháng 12- 1972 dường như vẫn còn nguyên vẹn. Xác pháo đài bay B52 nằm ngổn ngang, hình ảnh cảnh hoang tàn ở Hà Nội sau các đợt oanh tạc khủng khiếp tại các địa danh: Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, Ga Hà Nội… Và qua những tài liệu, hình ảnh, hiện vật còn lại, sẽ thấy rõ âm mưu thâm độc và dã man của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự, thời điểm năm 1972 máy bay B52 chính là con át chủ bài của không quân chiến lược Mỹ và được chính quyền Mỹ coi là sự bất khả chiến bại khi gây chiến với các nước. Lúc đó, Mỹ muốn miền Bắc Việt Nam “trở lại thời kỳ đồ đá”, ngăn sự chi viện của miền Bắc với miền Nam, đã tiến hành cuộc đánh phá ồ ạt bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và một số nơi ở miền Bắc. Dư luận quốc tế khi biết Hà Nội trở thành “túi bom” hứng chịu các đợt rải thảm bằng B52 đã không khỏi lo ngại kết cục bi thảm của thành phố nhỏ bé, nên hết sức kinh ngạc khi biết nhiều “pháo đài bay” đã bị bắn rơi tại Hà Nội.

3. Giờ đây, chứng tích của cuộc chiến năm 1972 vẫn còn in dấu trên mảnh đất Hà Nội. Và Bảo tàng Chiến thắng B52 là nơi lưu giữ đậm đặc nhất những kỷ vật, những tài liệu liên quan tới sự kiện này. Tại Bảo tàng còn có một nơi rất thu hút khách tham quan, đó là sa bàn tổng hợp diễn biến trận “Điện Biên Phủ trên không”. Với diện tích 200m², có không gian ba chiều (thể hiện địa hình khu vực gồm khu dân cư, các trận địa phòng không, điểm B52 rơi…) và khi sa bàn này hoạt động, hệ thống ánh sáng, âm thanh, tạo khói và phim video chiếu màn ảnh lớn đã tái hiện rất ấn tượng những khoảnh khắc lịch sử bi thương nhưng cũng rất hào hùng của Hà Nội. Xem lại những kỷ vật, những hình ảnh, tư liệu và cùng “sống” trong 200m2 tái hiện lại cuộc chiến, người ta mới thấy được sự hi sinh to lớn đến nhường nào để có một Hà Nội- thành phố vì hòa bình hôm nay.

Theo kế hoạch, trong tháng 12 tới, chuyên đề trưng bày “Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” sẽ diễn ra tại Bảo tàng Chiến thắng B-52; Bảo tàng Phòng không – Không quân; Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Sau 40 năm, hàng ngàn kỷ vật về cuộc chiến chấn động địa cầu tháng 12 -1972 tại Hà Nội vẫn còn được lưu giữ trong hệ thống bảo tàng tại Hà Nội.

Minh Duy
daidoanket.vn

40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không: Hào hùng sau đau thương, đổ nát

Ngày 28-11, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy, UBND TP. Hà Nội cùng phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp Nhà nước về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”. Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Tưởng Phi Chiến và nhiều tướng lĩnh, lãnh đạo Bộ quốc phòng và TP. Hà Nội tham dự.

Cách đây 40 năm, vào những ngày cuối tháng 12-1972, đế quốc Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn ở miền Bắc, hòng xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Paris. Tuy nhiên, với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, trong 12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích. Động thái quân sự này của Mỹ bắt đầu từ sau khi Tổng thống Mỹ Nichxơn tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Với mưu đồ đã tính toán trước, chính quyền Nichxơn huy động gần 200 máy bay B52, 30 máy bay F111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên đội tàu sân bay và 50 máy bay tiếp dầu KC.135 mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân với quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu khác với mật danh”Lainơ Bếchcơ II”. Riêng tại Hà Nội, trong 12 ngày đêm, không quân Mỹ đã tập trung trên 1.000 lượt máy bay, trong đó có khoảng một nửa là B52, trút 40.000 tấn bom xuống nhiều khu dân cư: Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ, Bệnh viện Bạch Mai, Yên Viên, Gia Lâm, Đông Anh, Văn Điển, Giáp Bát, Đài Phát thanh Mễ Trì… làm cho gần 2.400 người chết và 1.355 người khác bị thương. Với hào khí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sau 12 ngày đêm  anh dũng chiến đấu (18-12 – 29-12-1972), quân và dân Thủ đô cùng các địa phương miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, trong đó Hà Nội bắn rơi 25 B52. Chiến công này mang tầm vóc thời đại, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973, chấp nhận rút hết quân viễn chinh và chư hầu về nước.

Tại Hội thảo, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân cho biết, vào thời điểm đó, chỉ trong vòng vài ba ngày đã tổ chức sơ tán gần 55 vạn dân nội thành ra khỏi thành phố… Các trường học sơ tán đều có thầy và trò đi theo để tổ chức học tập. Tại thành phố, vẫn đảm bảo cho được cho mỗi người đều có ba nơi trú ẩn: gia đình, nơi làm việc và nơi công cộng. Ba đội cứu thương, cứu hỏa và cứu sập sẵn sàng cứu trợ. Theo ông Nguyễn Văn Trân, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hà Nội thời bấy giờ là làm thế nào vừa chiến đấu vừa sản xuất. Và, kỳ diệu thay, sau khi kết thúc cuộc chiến, Hà Nội không những không giảm đi số nhà máy, xí nghiệp mà lại tăng lên do chủ trương chia nhỏ các nhà máy lớn để dễ dàng ứng phó trong chiến tranh. 12 ngày đêm của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, theo ông Trân, tuy ngắn ngủi nhưng ta thu được thắng lợi rất to lớn. “Điện Biên Phủ  dưới đất – Pháp thua, Điện Biên Phủ trên trời – Mỹ thua”- ông Trân kết thúc bài phát biểu.

Ôn lại thời kỳ lịch sử này, các tham luận đều nêu rõ bí quyết thành công của trận đánh là ta không để bị bất ngờ. Từ cuối năm 1967, đến thăm Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua… Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị. Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh” – Người chỉ thị. Thực hiện chỉ thị của Người, Bộ đội Phòng không đã bí mật đưa lực lượng tên lửa và rađa vào chiến trường Vĩnh Linh, trực tiếp tìm hiểu, nghiên cứu qui luật hoạt động, cách đánh phá của B52, từ đó tìm ra cách đánh B52 thích hợp. Cùng với sự phối hợp của nhiều nhà khoa học, nhiều binh chủng khác, chúng ta đã tìm cách đánh phù hợp nhất.

Đã qua những năm tháng đầy đau thương mà hào hùng của dân tộc. 40 năm nay nhìn lại, mỗi chúng ta vẫn nguyên vẹn niềm tự hào và lòng biết ơn lớp cha anh ngày trước. Đến dự hội thảo hôm nay còn có cả những nhân chứng sống, những mảnh đời mà vết thương chưa khép lại. Nhưng tất cả đã bừng lên sức sống mới, rạng rỡ niềm vui trên từng gương mặt…

Trung tướng Phạm Tuân: “Qua nhiều đêm mất ngủ, cùng anh em bàn bạc chúng tôi mới đưa ra được cách đánh hay nhất. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật ý chí và lòng quyết tâm cao độ”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu: “7 năm ở Quân chủng Phòng không mà chưa lúc nào tôi căng thẳng như hôm đó. Trời mùa đông rét như cắt thế mà mồ hôi cứ túa ra. Là vì Trung ương Đảng và Bác Hồ đang hết sức mong đợi phải thắng B52 Mỹ ngay từ trận đầu trong chiến dịch này. Thế rồi, đúng 20giờ20 ngày 18-12-1972, có điện thoại của anh em quan sát từ bên Cột cờ báo về có B52 rơi thành một đám cháy to lắm từ phía Đông Anh… Tôi cùng các anh Phùng Thế Tài, Lê Hiến Mai, Vũ Lăng ôm nhau vô cùng sung sướng.

Trần Ngọc Kha
daidoanket.vn

Bảo tàng Phòng không – Không quân: Sáng ngời chủ nghĩa Anh hùng cách mạng

Tọa lạc trên đường Trường Chinh, Hà Nội, Bảo tàng Phòng không – Không quân (PKKQ) là điểm đến quen thuộc của nhiều du khách Việt Nam và các đoàn khách quốc tế, đặc biệt là các vị nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh của quân đội các nước… Tới đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các bộ sưu tập hiện vật vũ khí độc đáo về 4 lực lượng của Bộ đội PKKQ, đó là: Tên lửa, Không quân, Pháo Cao xạ và Ra đa.

Bảo tàng Phòng không – Không quân Ảnh: TH

Được thành lập ngày 22-10-1963, Bảo tàng PKKQ (tiền thân là Phòng Truyền thống Phòng không thành lập năm 1958) được biết đến là nơi lưu giữ những hình ảnh, tư liệu, hiện vật minh chứng cho quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng của Bộ đội PKKQ Việt Nam. Ngay tại khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng, khách tham quan có thể bắt gặp những vũ khí đã “gây tiếng vang” như: khẩu pháo 37mm của khẩu đội Tô Vĩnh Diện tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ; Ra đa phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bắt được tín hiệu máy bay chiến lược B.52 sớm 35 phút thông báo cho quân và dân Hà Nội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; Bệ phóng tên lửa lập công bắn rơi máy bay B.52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12- 1972…
Khu trưng bày trong nhà, với hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh trưng bày đã tái tạo lại những trang sử kiêu hùng, những chiến công xuất sắc của Bộ đội PKKQ trong quá khứ cũng như giai đoạn hiện nay. Một trong số hiện vật quý hiếm của Bảo tàng phải kể đến chiếc ghế đặt trên máy bay Mi-4 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi đi công tác; hay bộ sưu tập hiện vật về Ban Nghiên cứu không quân, về Trung đoàn Pháo cao xạ 367 đã lập những chiến công xuất sắc tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Bộ đội tên lửa, hiện nay, tại Bảo tàng PKKQ đang diễn ra triển lãm chuyên đề với nhiều hiện vật, hình ảnh phong phú.

Là một công trình lịch sử, văn hóa, khoa học ở Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng PKKQ không chỉ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho Bộ đội PKKQ, mà còn là địa chỉ văn hóa hấp dẫn thu hút đông đảo nhân dân trong nước và khách nước ngoài. Điểm nổi bật của Bảo tàng là mở cửa tất cả các ngày trong tuần kể cả ngày lễ (riêng thứ Sáu chỉ phục vụ khách đoàn).

Phan Thanh
daidoanket.vn

Xuất bản bộ sách về đề tài Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sau 30 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang. Trong cuộc chiến tranh thần thánh đó, thắng lợi của chiến tranh nhân dân chống lại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc có ý nghĩa hết sức to lớn. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52 – trận “Điện Biên Phủ trên không”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ( NXB QĐND) đã ấn hành một bộ sách mới viết về đề tài này.

Bộ sách Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

“Rồng lửa Việt Nam” là tập hồi ức của các cựu chiến binh – Bộ đội tên lửa phòng không thể hiện. Đây là những nhân chứng lịch sử đã gắn bó với binh chủng từ những ngày đầu thành lập, trực tiếp tham gia nhiều trận chiến đấu mà đỉnh cao là trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Với cách thể hiện chân thực nhưng sinh động và giàu cảm xúc, cuốn sách đem đến cho bạn đọc những tư liệu có giá trị về một thời hào hùng của thế hệ cha anh, tô đậm thêm lịch sử vẻ vang của Bộ đội tên lửa và Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam anh hùng.

Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đình Kiên trăn trở nhớ lại những sự kiện đã diễn ra trong đời mình để thể hiện trong tập hồi ức: “Người lính với bầu trời Hà Nội”. Đây là những trang viết xúc động xen kẽ rất nhiều dòng nhật ký đứt đoạn, thậm chí có chỗ câu chữ, ngôn từ chưa thật chuẩn mực. Người đọc sẽ rơi nước mắt ngay từ những trang đầu tiên bởi yếu tố chân thực, không màu mè của tác phẩm, NXB QĐND gần như không chỉnh sửa nhiều để đảm bảo tính chân thực. Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy ở đó ý chí, nghị lực của những người lính mà từng phút, từng giây luôn kề cận bên sự sống và cái chết.

Ký sự “Thành phố nở hoa” cũng là một tác phẩm có giá trị về nội dung, tư tưởng. Cuốn sách đã tập hợp nhiều bài viết về Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972, ghi lại khí thế anh dũng chiến đấu, hăng hái lập công đánh giặc như thêm một lần cùng bạn đọc ôn lại những chiến công quật khởi của Hà Nội, để Hà Nội hiện lên thật hào hùng kiêu hãnh, xứng đáng là “Thủ đô của phẩm giá con người”.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52, NXB QĐND đang tiếp tục hoàn chỉnh in ấn một số tên sách mới khác để hoàn thiện bộ sách về đề tài này. Hy vọng bộ sách mới của NXB QĐND sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu tìm hiểu lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân và dân Thủ đô trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Lâm Hoàn
daidoanket.vn

Tấm lòng người dân Hà Nừng với Bác Hồ

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội không chỉ là công trình văn hóa, mà còn mang yếu tố tâm linh, là nơi hội tụ và thể hiện tình cảm và tấm lòng của nhân dân cả nước đối với vị Cha già của dân tộc. Ít ai biết rằng, trong vô vàn tình cảm và tấm lòng ấy có sự đóng góp bằng cả mồ hôi, công sức và tình cảm của đồng bào Ba Na xa xôi thuộc làng Hà Nừng, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai ngày nay.

tam long Một góc làng Hà Nừng của người Ba Na hôm nay.

Được biết đến qua sách báo và các tài liệu lịch sử ghi lại, nhưng mãi đến những ngày cuối tháng 8 năm 2012 vừa qua, chúng tôi mới có dịp về Kbang và được các anh ở huyện đưa về làng Hà Nừng để gặp lại một số người từng trực tiếp chỉ huy và tham gia công việc đưa gỗ về xây Lăng Bác. Những người của ngày xưa ấy bây giờ không còn nhiều, có người đã mất, người tuổi đã cao… vậy mà khi được gợi lại ký ức của những việc làm ý nghĩa này, dù đã cách đây gần 40 năm nhưng có lẽ vì tình cảm và lòng kính yêu đối với Bác không hề phai nhạt, ai cũng phấn khởi và tự hào khi kể về công việc của mình đã làm.

Ông Đinh Văn Đoàn, dân tộc Ba Na lúc đó là Bí thư xã đoàn nhớ lại: Vào đầu năm 1974, đồng chí H’Nhan, cán bộ của Tỉnh uỷ Gia Lai Kon Tum và đồng chí Đinh A, Bí thư Tỉnh đoàn được cử về làng Hà Nừng thông báo chủ trương của Đảng về việc đưa gỗ về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội ai cũng phấn khích, mặc dù biết đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Lúc đó, trong rừng gỗ thì rất nhiều song khai thác và vận chuyển là điều không phải dễ, bởi không có máy cưa mà chỉ có dao với rựa; không có phương tiện vận chuyển bằng xe cơ giới mà chỉ làm bằng thủ công. Đã vậy, vì Kbang nói chung, Hà Nừng nói riêng là nơi đóng quân của các cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Gia Lai nên cũng đồng thời là vùng trọng điểm đánh phá của địch… Gỗ là loại quí, tốt, dao, rựa đưa vào dội ngược ra nhưng vì biết việc làm của mình có ý nghĩa lớn lao nên dân làng chúng tôi động viên nhau phải làm cho tốt, phải bảo đảm đúng thời gian Trung ương quy định. Ngày làm đêm nghỉ, và đúng một tháng lẻ hai ngày, dân làng Hà Nừng đã hoàn thành khối lượng công việc được giao.

Ông Đinh Văn Đoàn cùng với các trai làng lúc đó là Đinh A Nhô, Đinh Kriêng, Đinh Thị Pẻ… trực tiếp tuyên truyền, vận động dân làng thực hiện chủ trương này của Đảng và Chính phủ và đã huy động hơn 100 người tự nguyện tham gia. Mỗi người một việc và được phân công nhau cụ thể phù hợp với thực tế từng khâu công việc: Người già, người lớn tuổi vào rừng chặt gỗ, thanh niên trẻ khoẻ kéo gỗ, còn phụ nữ lo cơm ăn nước uống hàng ngày. Những người tham gia chiến dịch đều được tổ chức ăn ở tại rừng. Cung đường kéo gỗ từ rừng đến điểm tập kết giao cho các đơn vị bộ đội xa đến hơn 12 km, đường rừng chủ yếu nên dân làng phải dùng tời và kéo bằng sức người là chính. Bà Đinh Thị Pẻ, người phụ trách lo cơm nước hàng ngày cho mọi người tham gia công việc ngày ấy tâm sự trong niềm vui sướng và tự hào: Tổ hậu cần lúc đó chỉ có mười chị em nhưng phải lo cho hơn 100 người ăn, tuy công việc không vất vả bằng các trai làng, song việc lo toan hàng ngày cũng quan trọng không kém. Hồi đó, chiến tranh khổ lắm, gạo ít nên phải độn, thức ăn chủ yếu chỉ có rau rừng với muối. Lâu lâu, Tổ Hậu cần cắt cử người về làng mang hàng hoá về xuôi đổi lấy cá khô, nước mắm mang về mới có điều kiện cải thiện bữa ăn. Mình thường nói với chị em rằng, thương Bác Hồ là phải làm theo Đảng; việc đưa gỗ ra Hà Nội xây dựng Lăng Bác là trách nhiệm cao cả của cả dân làng mình.

Đến nay, nhiều người tham gia công việc ngày ấy giờ đã không còn; số còn sống cũng đã lên niên lão, sức khỏe đã yếu nhưng tình cảm và tấm lòng của họ và người dân làng Hà Nừng với Bác thì không bao giờ cạn. Ông Đinh A Nhô có lẽ là người may mắn nhất trong số những người hiện còn sống vì vinh dự được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác hai lần vào năm 1985 và năm 1987, trong đó có một lần đi theo Đoàn do huyện Kbang tổ chức và một lần ông tự bỏ tiền đưa cả vợ con cùng đi.

Ông Đinh A Nhô phấn khởi: Lần đầu, mình được ra Hà Nội rồi được vào thăm Lăng Bác trong lòng luôn bồi hồi và xúc động, bởi ngoài việc được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ, mình còn được nhìn thấy Lăng Bác, muốn được tận mắt nhìn thấy những tấm gỗ mà chính mồ hôi và công sức của người dân Hà Nừng mình gửi ra để đóng góp cùng với nhân dân cả nước xây Lăng Bác.

Công lao của người dân làng Hà Nừng trong những năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận và tôn vinh. Đồng chí Đinh Văn Tư, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Lang, cho biết: Làng Hà Nừng là vùng căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau ngày thống nhất đất nước, nhờ thường xuyên nhận được sự quan tâm chăm lo của Đảng và Nhà nước, người dân xã Sơn Lang nói chung và bà con Ba Na làng Hà Nừng nói riêng đã từng bước tạo lập cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Làng hiện có hơn 100 hộ với khoảng 700 nhân khẩu đang có cuộc sống yên bình và ngày càng đầy đủ hơn về các mặt sinh hoạt; hệ thống điện thắp sáng đã được kéo đến tận hộ dân, đường sá đi lại thuận lợi, 100% con em trong độ tuổi đều đến trường lớp học, đau ốm có cơ sở y tế điều trị miễn phí. Cả làng hiện chỉ còn khoảng 20% hộ nghèo theo tiêu chí mới, số hộ vươn lên khá và giàu ngày càng nhiều bằng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá như cà phê, bời lời, nuôi bò lai…

Luôn phát huy truyền thống là quê hương cách mạng, người Ba Na ở đây một lòng, một dạ theo Đảng và Bác Hồ và việc góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội cho đến bây giờ vẫn là niềm tự hào của người dân Hà Nừng.

Phan Hòa
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Ký ức 12 ngày hoa – lửa

Những ngày này cách đây 40 năm, người dân thủ đô Hà Nội đã sống trong không khí hào hùng của trận Điện Biên Phủ trên không. Ký ức về những ngày ấy vẫn sống động trong nhiều người.

Chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Mỹ vào cuối tháng 12-1972 đã khiến Hà Nội từ vị trí hậu phương trở thành tiền tuyến. Một nơi thanh bình như Ngọc Hà, làng hoa nổi tiếng nhất ở Hà Nội, cũng trở thành mục tiêu bắn phá. 38 năm sau, chúng tôi đã tìm gặp vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không.

Vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không

Làng hoa thành lũy thép

Đến Ngọc Hà, chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện về trận chiến kéo dài 12 ngày đêm này. Hàng trăm người thiệt mạng trong những ngày máy bay Mỹ trút bom xuống Hà Nội. Bà Phạm Thị Quy nhớ lại: “Sáng 27-12-1972, một chiếc B52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp, bom cũng rơi vãi khắp làng. May mắn là không quả nào nổ, chỉ có một quả rơi trúng hầm trú ẩn làm 2 người dân thiệt mạng. Sáng hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về làng thăm hỏi chúng tôi và ca ngợi chiến công của bộ đội ta. Lúc ấy, Mỹ đã sắp thua trận Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày ấy, bà Quy chưa đầy 30 tuổi, tham gia lực lượng dân quân của làng Ngọc Hà bảo vệ Hà Nội. Bà Quy bồi hồi: “Có hơn 90 quả bom từ xác chiếc máy bay này rơi vãi khắp làng, quả cắm sâu xuống lòng đất, quả nằm ngay trên đường làng… Hôm đó, bộ đội công binh được cử đến giúp dân tháo gỡ bom mìn, phải đến một tuần sau mới dọn sạch”. Tháng 12-1972, làng hoa giữa lòng thủ đô cũng trở thành lũy thép và mỗi người dân đều là một chiến sĩ.

Trong bản anh hùng ca của người Hà Nội, có nhiều câu chuyện xúc động đã được viết thành tiểu thuyết, dựng thành phim. Bà cụ gần 70 tuổi vừa kể cho chúng tôi câu chuyện về ngôi làng của bà cũng có một chuyện tình gắn chặt với trận đánh trên bầu trời thủ đô năm nào.

Vợ chồng cùng trận địa

Với dân làng Ngọc Hà, bà Quy là một nhân chứng lịch sử không thể không nhắc đến của trận Điện Biên Phủ trên không. Bà cũng chính là người tặng hoa Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông về thăm làng một năm sau trận đánh ấy. “Khi Đại tướng về thăm lại làng Ngọc Hà, mọi người đều tin rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã sắp đến ngày thắng lợi. Hôm ấy, tôi thưa với Đại tướng: “Người dân Ngọc Hà mong Đại tướng và quân đội ta sớm thực hiện ước nguyện của Bác Hồ, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào để đất nước sạch bóng quân thù” – bà Quy hồi tưởng.

Chồng bà Quy, ông Nguyễn Chí Hiền, từng tham gia trận Điện Biên Phủ trên không, hiện là đại tá nghỉ hưu. Ông cũng là một “pho sử” về sự kiện 12 ngày đêm người Hà Nội bảo vệ bầu trời thủ đô. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm chiến thắng này, ông vẫn thường được mời đến các trường học ở Hà Nội để kể cho học sinh về trận chiến ấy.

Cuối những năm 1960, ông Hiền được điều động tới nhiều mặt trận nóng bỏng như Quảng Trị, Campuchia. Khi đó, vợ chồng ông đã có với nhau hai mặt con. “Tôi đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng, được Quân chủng Phòng không – Không quân điều về Hà Nội để tăng cường” – ông Hiền kể. Nhiều năm xa nhà, lúc ấy về Hà Nội, ông Hiền cứ nghĩ thế là có cơ hội được gặp vợ con nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành Hà Nội, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mọi thứ ác liệt hơn ông nghĩ.

“Suốt năm 1972, tôi đóng quân ở Hà Nội nhưng không được rời trận địa nửa bước, thế nên ở rất gần nhưng cũng không được về gặp vợ con”- ông Hiền cho biết. Bà Quy gia nhập đội dân quân của làng Ngọc Hà năm đó. “Thế là cả hai vợ chồng tôi đều không sơ tán hay rời Hà Nội trong những ngày ấy”- bà Quy nhớ lại. Bà muốn ở lại để chiến đấu và hy vọng sẽ được gặp chồng. Ngọc Hà những ngày ấy phải gồng mình trong những cơn mưa bom của địch. Ông Hiền ở trận địa pháo cứ thấp thỏm lo cho vợ con, không biết ở nhà có được yên bình. Bà Quy vừa nuôi hai con vừa canh cánh trong lòng mỗi khi nghe thông báo máy bay Mỹ lại mở rộng chiến dịch phá hoại hay đánh phá thêm một căn cứ nào đó của ta…

Vì tình yêu chung mà vợ chồng ông Hiền đã hy sinh tình yêu riêng để rồi sau đó, họ được đền đáp xứng đáng bằng thời khắc hội ngộ. Hà Nội sạch bóng máy bay địch, cuộc chiến tranh cứu nước đạt được một thắng lợi quan trọng buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Tự hào

Ông Hiền nay đã cao tuổi nhưng vẫn thuộc từng con số về chiến công của lực lượng bộ đội tên lửa mà ông tham gia ngày nào: “Trong suốt 12 ngày đêm của trận Điện Biên Phủ trên không, miền Bắc bắn rơi 34 máy bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ. Riêng các lực lượng bảo vệ Hà Nội bắn rơi 30 máy bay, trong đó có 23 chiếc B52”.

Chiếc B52 của không quân Mỹ đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội cũng là “pháo đài bay” đầu tiên bị bắn hạ trên thế giới. Người lính tên lửa năm nào hào hứng: “Cái khó nhất là phải bắt được mục tiêu và chống được dải nhiễu do máy bay B52 tạo ra. Đêm 18-12-1972, hôm đầu tiên của trận Điện Biên Phủ trên không, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn 263 bắn rơi một máy bay Mỹ ở cánh đồng Chuông, huyện Đông Anh. Trên đài quan sát, bằng kính quang học, chiến sĩ của ta reo lên: “Cháy rồi! Đúng B52 rồi!”.

Ông Hiền không nén nổi những cảm xúc từ 38 năm trước ùa về: “Bộ đội tên lửa của ta báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông liền hỏi: “Có đúng B52 không?”. Lúc ấy, chúng tôi liên tưởng ngay câu nói của Đại tướng tại chiến dịch Điện Biên Phủ đánh tan cứ điểm quân sự Pháp năm 1954 – khi nghe tin bắt được tướng De Castries, ông cũng hỏi ngay: “Có đúng De Castries không?”.

Nếu như chiếc B52 đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội khiến những chiến sĩ bộ đội tên lửa như ông Hiền phấn khích tột độ thì chiếc B52 cuối cùng rơi trúng làng Ngọc Hà lại khiến ông hết sức âu lo về sự an nguy của gia đình. Ông Hiền xúc động: “Lo lắm  nhưng tôi không thể về được. May mắn là trong một lần hành quân qua bến Chèm sang bên kia sông Hồng, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà vài giờ. Về nhà không gặp vợ con, tôi hoang mang lắm nhưng bà con cho biết vợ tôi đang là chính trị viên trung đội dân quân của làng, phải tham gia gỡ bom mìn… Tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục hành quân”.

Nhắc lại những ngày hoa – lửa năm xưa, bà Quy không giấu được niềm tự hào:  “B52 rơi xuống cháy rực đỏ mặt hồ Hữu Tiệp, đến tận sáng hôm sau khói vẫn còn bốc lên. Mọi người nô nức đổ ra hồ xem xác  máy bay Mỹ. Khi ấy, tôi cảm thấy rất tự hào vì chồng mình là một chiến sĩ bộ đội tên lửa góp phần giữ gìn bình yên cho thủ đô”.

Dấu tích không phai

Hàng chục năm đã trôi qua, nhiều vết thương đã lành nhưng ký ức của những người sống trong thời khắc mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh ấy vẫn rõ mồn một.

Những dấu tích của bom B52 ở Hà Nội năm 1972 cũng đã phai mờ, đây đó chỉ còn vài đài tưởng niệm. Thế nhưng, nếu có dịp đi qua Ngọc Hà, người ta vẫn cứ phải ngoái nhìn xác chiếc máy bay B52 nằm ngay trên hồ Hữu Tiệp giữa làng.

Bà Phạm Thị Quy chỉ chiếc B52 cuối cùng bị bộ đội ta bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp giữa làng Ngọc Hà sáng 27-12-1972

Bài và ảnh: MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

Tin bài liên quan:

Ký ức 12 ngày hoa – lửa 1: Phi đội bay quyết tử
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 2: Tuổi trẻ can trường
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 3: Hào khí Điện Biên Phủ trên không

Một đêm bắt sống 5 phi công Mỹ

QĐND – Như thường lệ, từ trước hôm đế quốc Mỹ tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, tối 21-12-1972, chúng tôi – dân quân của thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Đồng (Tứ Kỳ, Hải Hưng, nay là Hải Dương) tập trung tại sân kho đầu làng, chờ lệnh của xã đội. Bầu trời phía Hà Nội rực lửa, kẻ thù đã bị trừng trị, cuộc chiến đấu kéo dài tới lúc rạng đông…

Buổi trưa, loa truyền thanh loan tin: Thêm 10 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 3 chiếc B-52 rơi tại chỗ, 7 máy bay chiến thuật bị bắn hạ ở Hà Nội và Hải Phòng. Ấn tượng nhất là được nghe thông tin: “Quân dân Hải Hưng, đêm qua bắt sống 5 phi công Mỹ”.

Bắt giặc lái B52. Ảnh: TTXVN.

Trước khi vào buổi trực chiến đêm 22-12, ông Phạm Đức Dục, cán bộ dân quân xã vừa đi nghe quán triệt nhiệm vụ ở huyện về, kể: Dưới những làn lửa đạn rạch chéo trời đêm, khi dân quân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang nhìn thấy hai chiếc dù đang rơi trên cánh đồng, tiếng reo hò gọi nhau đi bắt giặc lái nổi lên khắp các thôn xóm. Hai tên phi công Mỹ khi vừa chạm đất đã vội giơ tay xin hàng. Các chiến sĩ dân quân tóm luôn và “tống giam” chúng trong trụ sở hợp tác xã, đợi bàn giao lên cấp trên. Các nữ dân quân xã Tráng Liệt từng bắn rơi máy bay AD6 Mỹ ngày 31-3-1968, nay chính họ lại xung kích lập công bắt sống 2 giặc lái B-52 vào những ngày đầu của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ông Dục tiếp lời: “Chính sách đối với tù hàng binh đã được quán triệt! Tôi nhắc lại, nếu tóm được phi công Mỹ, phải báo cáo chỉ huy để trình lên huyện, không được tùy tiện xử lý nó. Đó là chính sách, là kỷ luật chiến trường…”.

Bà con đồng thanh: Nhớ rồi, nhưng còn ba tên phi công nữa đâu?

– Ba tên kia nhảy dù bên Mỹ Hào. Cùng lúc xã Tráng Liệt bắt phi công thì nhân dân xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào theo dõi trận chiến trên không phía Hà Nội, phát hiện 3 chiếc dù rơi xuống địa phận xã. Nhiều người dân và bộ đội, dân quân bủa vây, bắt ngay ba tên giặc lái khi dù của chúng vừa tiếp đất. Cả ba tên đều là phi công lái máy bay B-52…

Câu chuyện đó là một trong những điều gây ấn tượng sâu sắc và niềm tự hào về quê hương trong suốt cuộc đời quân ngũ của tôi. Những ngày lịch sử này, kỷ niệm đó lại trỗi dậy trong tôi như một lời nhắn nhủ về truyền thống “Đường 5 anh dũng – Bãi Sậy kiên cường” của vùng đồng bằng phía đông thủ đô Hà Nội.

PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Điện Biên Phủ trên không là nguồn lực tinh thần lớn lao

Trong không khí cả nước hướng về kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ngày 28-12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp mặt thân mật đoàn cựu chiến binh dân quân tự vệ Phòng không – Không quân trực tiếp tham gia chiến dịch.

Biểu dương chiến công ngàn đời không quên của các anh hùng, chiến sĩ, dân quân tự vệ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “40 năm nhìn lại, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi là nguồn lực tinh thần lớn lao, sâu sắc, khích lệ thế hệ trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đại diện Bộ Tư lệnh TPHCM trao giấy khen cho các tập thể, cá nhân dũng cảm truy bắt cướp. Ảnh: PHAN ANH

Chủ tịch nước đề nghị cán bộ, chiến sĩ Phòng không – Không quân tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; xây dựng quân chủng “cách mạng – chính quy – tinh nhuệ – hiện đại”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

– Sáng cùng ngày, Bộ Tư lệnh TPHCM đã sơ kết thi đua cao điểm “Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Diễn ra từ ngày 19 đến 28-12, đợt thi đua đã tạo khí thế sôi nổi trong toàn đơn vị với 450 cán bộ, chiến sĩ tham gia hành trình “Tuổi trẻ lực lượng vũ trang TP – Hành trình về với bảo tàng”; 1.200 chiến sĩ tham gia hội trại “Tuổi trẻ giữ nước”. Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh TP còn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tặng 200 phần quà cho gia đình chính sách; khám bệnh và phát thuốc cho 200 lượt người; tặng 6 căn nhà tình nghĩa, tình thương, tình bạn cho gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn và 30 suất học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học…

Dịp này, Bộ Tư lệnh TP đã tuyên dương 2 tập thể và 29 dân quân dũng cảm truy bắt cướp.

Ph.Anh – T.Bình
nld.com.vn

Vị Đại sứ Liên Xô và quyết định điều chỉnh SAM 2 tại Việt Nam

QĐND – Có một quyết định rất đặc biệt đã giúp tháo gỡ những bế tắc tưởng chừng không có lối ra của quân và dân ta, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Người đưa ra quyết định táo bạo ấy là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp (Ilia S.Shcherbakov).

Tháng 9-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để quyết định chiến tranh tại Việt Nam. Việc nghiên cứu đánh B-52 đã được Bác Hồ giao cho đồng chí Tư lệnh không quân tập trung nghiên cứu cách đánh B -52. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo với nhiều cách đánh sáng tạo, riêng có của bộ đội phòng không Việt Nam bằng cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” thì ngay từ ngày 18-12-1972 (ngày đầu tiên bắt đầu bước vào Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972), lực lượng tên lửa Việt Nam đã quật ngã tại chỗ máy bay B-52 của không quân Hoa Kỳ mặc dù B -52 có hệ thống gây nhiễu hiện đại nhất thời bấy giờ. Pháo đài bay B-52 bị bất ngờ và bị quy phục trên bầu trời Việt Nam, khi mà các đơn vị kỹ thuật của quân đội Hoa Kỳ đã khẳng định vô hiệu hóa SAM 2 thông qua tần số.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao cho Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích bức tranh bằng đồng để gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp.

Một trong những người góp phần quan trọng vào chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp. Thấu hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, bằng tất cả tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2 theo hướng tăng công suất ra-đa lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B -52.

Thời kỳ đó, Chính phủ và Quân đội Liên Xô đã quy định: Việc can thiệp vào SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện ở đâu trên thế giới mà chỉ được phép thực hiện khi SAM 2 ở trong lãnh thổ Xô-viết. Vì vậy, quyết định táo bạo của vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam đã góp phần giải mã hoàn toàn việc quy phục pháo đài bay B-52 trong năm 1972.

Kết quả này đã thu được kết quả vô cùng bất ngờ, khi liên tục hạ gục pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã có 34 chiếc B-52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến tại Việt Nam) góp phần quyết định vào thắng lợi vang dội năm 1972.

Chiều 28-12-2012, tại Trụ sở Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp thân mật Trung tướng Bôn-đa-rép Vích-to Nhi-cô-la-e-vích (Bondarev Viktor Nhikolaevich), Tổng tư lệnh Không quân -Lực lượng vũ trang LB Nga dẫn đầu Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng LB Nga sang dự Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”. Bằng tất cả tình cảm chân thành, qua Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp bức thư bằng tiếng Nga cùng bức tranh bằng đồng để tỏ lòng tri ân của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mong muốn các thành viên của gia đình Đại sứ I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp luôn hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và sẽ tới thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

Bài và ảnh: TỪ LƯƠNG
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Mãi sáng ngời biểu tượng hào hùng (*)

(NLĐO) – Ngày 29-12, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu quan trọng trong Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012). Người Lao Động Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước (đầu đề do Báo NLĐO đặt):

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
 Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng; các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các vị khách quý,

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Hôm nay, trong niềm phấn khởi và tự hào của đồng bào và chiến sỹ cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích có một không hai – biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửi tới các vị đại biểu, khách quý, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm hỏi các đại biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Tháng 12 năm 1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pari về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc nước ta với tên gọi Chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II” nhằm đánh phá, huỷ diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản có lợi cho Mỹ; hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, giảm thế và lực của ta so với địch trên chiến trường; đe doạ phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đây là cuộc tập kích bằng đường không huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B.52, được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay” – “thần tượng bất khả chiến bại” của không lực Hòa Kỳ cùng hàng ngàn máy bay chiến thuật và nhiều tàu sân bay, tàu chiến tối tân, hiện đại.

Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, sớm nhận rõ và dự báo chính xác tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định quyết tâm chiến lược, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, động viên quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để quyết đánh, quyết thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ. Từ cuối năm 1967, đầu năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân uỷ Trung ương, Quân chủng Phòng không – Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không – Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18 tháng 12 năm 1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B.52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “siêu pháo đài bay B.52” thảm bại và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau thất bại này, nhà cầm quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau chiến công của phi công Phạm Tuân đêm 27-12-1972, đêm sau đó,

phi công Vũ Xuân Thiều tiếp tục tiêu diệt thêm 1 chiếc B-51. Ảnh tư liệu

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng; tạo ra cục diện mới để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh hùng hồn chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, một nước đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một đảng mácxít chân chính với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì có thể chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới; củng cố niềm tin chiến thắng cho các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam: mưu trí, sáng tạo, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; chiến thắng của nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy cao nhất vai trò của lực lượng phòng không ba thứ quân; là chiến thắng của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo; của ý chí quyết đánh và quyết thắng; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có sự đóng góp hy sinh to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Bắc, trực tiếp là Thủ đô Hà Nội. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc đã phải hứng chịu hơn tám mươi ngàn tấn bom đạn tàn phá, hủy diệt, nhưng quân và dân ta, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô văn hiến, anh hùng đã biến đau thương thành hành động cách mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; vượt qua mọi hy sinh gian khổ, anh dũng, ngoan cường, quyết chiến đấu với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đó là một trong những điển hình về sức mạnh chính trị tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Trong những ngày chiến đấu đó, cả nước hướng về Thủ đô, bảo vệ Thủ đô. Quân và dân ta ở miền Nam ruột thịt đã “chia lửa” cùng đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường, làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó trên nhiều hướng, nhiều mặt trận, hoang mang, nhụt chí chiến đấu.

Đêm 26-12-1972, bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi 6 chiếc B-52, trong tổng số 8 chiếc bị tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Năm tháng sẽ qua đi, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo; là niềm tự hào của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta, là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng; ghi đậm dấu ấn của cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Ngày nay, đất nước ta hòa bình, thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đó, đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chiến công oanh liệt của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, của quân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố miền Bắc trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ cổ vũ, khích lệ chúng ta vững bước đi lên.

Lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo đánh thắng máy bay chiến lược B.52 và những phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những bài học về dự báo tình hình, chuẩn bị và tổ chức lực lượng; nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến thắng lợi, cần được vận dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện mới. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; tăng cường đoàn kết gắn bó giữa quân và dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy truyền thống 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và thành tựu 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng Quân chủng Phòng không – Không quân hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị, chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, đã giành cho nhân dân ta trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt. Trải qua những tàn phá nặng nề và hy sinh to lớn trong chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thiết tha, quý trọng hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhân dân ta luôn mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước; xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước!

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc; tự hào về Đảng ta, một Đảng mácxít kiên trung, có đường lối đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; tự hào về dân tộc ta, một dân tộc giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình và công lý, không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược hung bạo nào; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giữ gìn và phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Các đại biểu dự lễ kỷ niệm, ôn lại chiến thắng hào hùng của dân tộc

Hào khí Việt Nam, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Tinh thần Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bất diệt!

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin cảm ơn toàn thể đồng bào, đồng chí và các vị đại biểu!

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Theo nld.com.vn

Món quà hậu phương

QĐND – Tìm đến nhà Đại tá Hoàng Bình bây giờ không còn vất vả như những năm trước kia nữa, cho dù chỗ ở của ông không hề thay đổi suốt mấy chục năm qua. Vẫn ở khu tập thể Nam Đồng, Hà Nội nhưng nhờ quy hoạch của thành phố mà tự nhiên cái tòa nhà ông nằm tít tận cuối khu tập thể ẩm thấp nay lại ngoi ra mặt phố Hồ Đắc Di, nhìn thẳng xuống hồ Xã Đàn nước trong xanh dìu dịu. Căn hộ của ông được cấp ở tầng 1, ngày xưa chưa mưa đã lụt nhưng nay hóa may, bước vài bước là xuống tới đường.

Lâu lâu tôi không đến thăm nên hôm nay ông hỏi đủ thứ chuyện, nào là tình hình quân đội hiện nay ra sao, ta có thêm được những vũ khí hiện đại gì, anh em mình hiện nay có ra nước ngoài học tập nhiều không? Lựa lúc ông đang hào hứng sau câu chuyện vui, tôi đặt vấn đề:

– Bác ạ, hôm nay đến thăm bác nhưng cũng có việc cháu muốn hỏi bác kỹ hơn về lá thư Hoàng Hà gửi cho bác và những món quà bác nhận được trong thời gian chiến đấu ở chiến trường miền Trung 40 năm trước đây.

– Chuyện đó thì mọi người đều rõ cả rồi, mà đó cũng là việc làm bình thường thôi. Hà làm việc đó khi còn là học sinh, bây giờ đã là anh sĩ quan cấp tá, có hơn ba chục năm phục vụ trong quân ngũ rồi còn gì?

– Gần hai chục năm qua, kể từ khi Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân trưng bày những kỷ vật bác tặng có rất nhiều khách đến tham quan quan tâm tìm hiểu về việc này. Năm nay, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, anh em chúng cháu muốn nhấn mạnh thêm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến mà câu chuyện của gia đình ta là một trong những câu chuyện rất có ý nghĩa đối với sự kiện lịch sử quan trọng này.

– Ừ! Mà nói cho đúng thì miền Bắc lúc đó cũng là mặt trận chứ! Không những thế còn là mặt trận, là chiến trường vô cùng ác liệt và nóng bỏng nữa.

Rồi ông kể.

Hồi đó ông đang chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5 với cương vị là Tham mưu trưởng Sư đoàn 711, sau là Sư đoàn 2. Giữa lúc đơn vị ông đang phải đối phó quyết liệt với âm mưu “Mỹ hóa” trở lại thì được thông báo Mỹ đang ráo riết chuẩn bị dùng B-52 đánh phá Hà Nội. Nghe tin mà lo đến nao lòng. Cái gì chứ B-52 thì cánh lính chiến trong chiến trường miền Trung, miền Nam chẳng ai lạ lẫm gì. Bom B-52 như cơm bữa, bom ném bất cứ lúc nào, có trận kéo dài hàng giờ. Sau mỗi đợt bom B-52, mặt bằng chiến trường như thay đổi, sự tan hoang đổ nát đã làm biến dạng cả địa hình, thậm chí san phẳng cả một khu vực gò, đồi hoặc biến cả đoạn đường dài thành một chuỗi ao chuôm xếp gối nhau như dòng sông nham nhở, nhiều trận bị địch đánh bất ngờ đã gây cho ta tổn thất không nhỏ về người và vũ khí trang bị. Nhưng dù sao ngoài chiến trường, không gian còn rộng lớn, còn có núi, rừng, sông, suối chứ Hà Nội, một thành phố nhà cửa san sát, người chen chúc như nêm, khi phải hứng chịu những loạt bom rải thảm của B-52 thì hậu quả sẽ khủng khiếp thế nào? Hà Nội là nơi Trung ương và các cơ quan trọng yếu của cả nước đang lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, khi kẻ thù liều lĩnh dùng B-52 đánh hủy diệt thì tình hình sẽ ra sao? Không hiểu ta có thể đánh thắng được loại máy bay ném bom khổng lồ B-52 này hay không? Chỉ nghĩ tới đó đã rùng mình, càng lo cho Thủ đô trước trận cuồng phong của bom, đạn…

Ông kể tiếp, ngày ấy ở chiến trường, thường thì khi B-52 chuẩn bị đánh, cấp trên đều thông báo sớm để sơ tán, phòng tránh nên cũng hạn chế được thương vong, thế nhưng mỗi lần nhìn thấy chúng ngang nhiên hoành hành mà uất ức đến tận cổ. Chúng biết ta chưa có hỏa lực gì chống trả được nên bay tương đối thấp, những ngày trời quang mây nhìn thấy rõ mồn một. Những lúc như thế chỉ mong có thứ vũ khí gì bắn tan thây chúng nó cho hả giận. Hy sinh, mất mát thì nhiều nhưng ông không bao giờ quên được cái trận bom B-52 đã cướp đi sinh mạng những đồng đội của mình mà vừa mới vài chục phút trước đó họ còn trò chuyện vui vẻ với ông.

Hôm ấy, ông và ông Củng, Phó chủ nhiệm Chính trị sư đoàn cùng một số anh em đang làm nhiệm vụ ở chân núi Chôm, lợi dụng công sự cũ để tổ chức chiến đấu. Tang tảng sáng, ông Củng tới mời ông đến chỗ anh em cơ quan chính trị uống trà do mấy anh em tuyên huấn của sư đoàn mang xuống. Ông hẹn một lúc nữa sẽ qua nhưng đúng lúc đó thì ba chiếc B-52 từ phía nam bay rất thấp về phía trận địa, tất cả anh em xuống hầm ẩn nấp. Bỗng một loạt tiếng nổ dài, vang lên dữ dội. Biết địch ném bom ở khu vực của mình, ông đã lao khỏi hầm chạy lại nơi khói bụi đang mịt mù.

Trước mắt ông là cảnh tan hoang không còn nhận ra hầm hào gì nữa. Phán đoán vị trí cái hầm trú ẩn của anh em cơ quan chính trị, ông đã dùng tay ra sức moi đất đá hy vọng sẽ cứu được anh em. Nhưng khi moi tới hầm thì cả bốn đồng chí đã hy sinh, trong đó có Phó chủ nhiệm Chính trị và Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn. Thời điểm này đã chuẩn bị ký kết Hiệp định Pa-ri, Tâm – Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn xuống Sở chỉ huy phía trước để phổ biến tình hình cho bộ đội nhưng chưa kịp làm thì đã bị hy sinh vì bom B-52. Đơn vị ông phải di chuyển trận địa. Vừa đến trận địa mới, ông lại nhận được tin có thư và quà từ miền Bắc gửi vào. Ông không biết quà của vợ con hay cơ quan nào hoặc ai đó gửi cho mình. Ông chợt lo lắng không biết liệu có chuyện gì đã xảy ra với gia đình vì đã rất lâu kể từ khi nhận được cuốn băng ghi âm, ông không hề nhận được tin tức gì ở nhà. Vừa qua Hà Nội lại bị ném bom dữ dội như vậy… Tự nhiên ông phát run lên. Sống trong bom B-52 đã bao năm nay, nhiều trận cái chết đã cận kề gang tấc mà không có cảm giác sợ, nhưng không hiểu sao cứ khi nào nghĩ đến cảnh hậu phương bị “con quái vật” ấy mò ra gây tội ác, ông lại thấy lo lắng, bồn chồn không yên.

Cậu chiến sĩ thông tin rất mau mồm mau miệng, chưa về đến nơi đã oang oang thông báo rằng thủ trưởng Hoàng Bình có thư và quà của con trai gửi vào, lúc đó ông mới thở phào nhẹ nhõm. Bỗng mặt ông biến sắc, tim đập thình thịch khi thoáng nghĩ bà ấy đâu mà lại để con trai ông gửi thư cho bố? Cả ba đứa con của ông đều còn nhỏ, đứa lớn mới vào tuổi mười lăm. Từ trước tới giờ thư vẫn do bà ấy viết, mấy đứa có viết thư cho bố thì cũng để chung trong phong bì của mẹ. Nghĩ vậy ông đã giật ngay gói quà từ tay cậu chiến sĩ thông tin rồi vội vã xé toạc tờ giấy bọc, lấy lá thư. Thấy ông đọc đến đâu mặt giãn ra đến đấy, có lúc bất chợt còn thốt lên: “Thế chứ! Cho đáng đời chúng mày. Giỏi lắm, con trai của bố giỏi lắm!”, anh em đứng xung quanh mới thở phào. Thì ra lá thư là của Hoàng Hà – cậu con trai thứ hai. Khi ông vào Nam thì Hà chưa đi học, mấy năm sau ông ra Bắc lại không gặp vì Hà được sang Quế Lâm, Trung Quốc học cấp I. Hà báo tin đợt B-52 đánh vào Hà Nội, ba anh em đều đi sơ tán, chỉ có mẹ ở lại nhà máy, cả nhà đều an toàn. Phần lớn bức thư Hà dành để kể cho bố nghe chuyện các chú bộ đội chiến đấu bắn rơi máy bay B-52 ở Hà Nội. Thấy ông đang bị hút hồn vào lá thư và dường như lá thư đã thôi miên, làm cho ông ngây ngất nên anh em cứ đứng xung quanh chờ đợi, không ai nỡ làm gián đoạn cái giây phút sung sướng hiếm hoi của ông…

Đợi ông bớt xúc động, anh em mới đưa món quà đặc biệt mà do vui quá ông quên không đả động gì đến. Đó chính là một mảnh nhỏ xác máy bay B-52, Hà đã gửi vào cùng với lá thư. Ông sực tỉnh, trong thư Hà đã nói qua về “xuất xứ” những “chiến lợi phẩm” này. Hà kể, mảnh xác B-52 và mấy mảnh tài liệu tiếng Anh cháy nham nhở do chính Hà nhặt từ đống xác chiếc B-52 rơi ở nơi ba anh em sơ tán, (xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây cũ) rạng sáng ngày 19-12. Đã biết tin quân và dân Hà Nội chiến đấu rất kiên cường, bắn rơi hàng chục “pháo đài bay” B-52 nhưng không ngờ ở tận trong này ông và anh em lại được cầm trên tay cái mảnh xác của “con quái vật” B-52 mới bị đền tội. Những năm tháng ở chiến trường chứng kiến B-52 tung hoành gieo rắc tội ác, gây cho ta biết bao tổn thất, hy sinh, giờ cầm mảnh xác nó trên tay mới thấy hả lòng, hả dạ… Ông Bình nhớ ra là chưa đọc thư cho anh em nghe như những lần trước. Mà cũng lạ, lần này không thấy đứa nào đòi xem thư mà đều dán mắt vào mảnh xác máy bay B-52…

– Thế sau chiến thắng của quân và dân miền Bắc, ở trong đó các bác có còn bị B-52 gây khó dễ nữa không? Tôi hỏi Đại tá Hoàng Bình.

– Đỡ nhiều chứ, cũng chỉ một thời gian ngắn là chấm dứt ngay, nó còn hơi sức đâu nữa mà đánh với đấm. Với lại B-52 là của Mỹ, Mỹ buộc phải rút thì “con ngáo ộp” cũng phải “cuốn gói” theo. Thế mới biết trận thắng B-52 ở Hà Nội quan trọng thật, quật cổ được lũ B-52 là cục diện chiến trường cả nước thay đổi ngay… Sau chiến thắng của ta ở miền Bắc, đơn vị tôi tiếp tục chiến đấu đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, nhiều đồng chí được thấy món quà quý báu của tôi ngày đó đã ngã xuống trên đường tiến về Sài Gòn, một số sau khi trở về hậu phương già yếu và đã qua đời khá nhiều…

Nói xong ông rút khăn chấm chấm vào đôi mắt đã đỏ hoe từ lúc nào. Nhìn về xa xăm, giọng ông khẽ khàng như nói với đồng đội cũ của mình:

– Đã mấy chục năm xa nhau, nay người còn người mất nhưng với người lính chúng ta cái còn lại vẫn là nghĩa tình đồng đội. Thỉnh thoảng gặp nhau ôn lại những kỷ niệm một thời trận mạc càng thấm thía sự chia ngọt sẻ bùi có giá trị thế nào. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà đắt tiền nhưng nó không thể thiêng liêng như những lá thư, gói quà nhỏ bé của hậu phương gửi vào tiền tuyến hồi chiến tranh. Những thứ đó bình thường nó là của riêng, chỉ có chủ nhân mới được sở hữu, nhưng trong chiến tranh, nó là của chung. Chính sự sẻ chia ấy đã gắn kết người lính lại thành một khối vững chắc để vượt qua gian khổ, hy sinh.

– Có phải vì vậy mà bác đã quyết định tặng lại bảo tàng toàn bộ những kỷ vật mà bác đã nâng niu, giữ gìn trong suốt hơn hai mươi năm?

– Món quà của tôi đã là của anh em đồng đội từ khi tôi nhận nó rồi. Năm 1995, khi gặp lại đồng đội cũ, anh em khuyên tôi nên tặng lại bảo tàng để mọi người biết được phần nào nghĩa tình của hậu phương với tiền tuyến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc nên tôi đã quyết định tặng cho Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân.

Ông tỏ ra mãn nguyện. Tôi hiểu tâm trạng của ông. Đã 40 năm trôi qua, kể từ khi cậu bé mười ba tuổi Hoàng Hà đến tận nơi máy bay rơi, lửa khói còn đang ngùn ngụt, chờ cho lửa tắt rồi nhanh tay lượm một mảnh xác nhỏ và mấy miếng tài liệu cháy dở gửi cho bố nơi chiến trường ác liệt chỉ với suy nghĩ giản đơn là báo tin cho bố: Hà Nội đã bắn rơi máy bay B-52. Hẳn lúc đó cậu chưa đủ khôn để hiểu rằng món quà nhỏ bé đó đã có một ý nghĩa lớn lao, nó đã tiếp sức cho bố mình và đồng đội trong những trận đánh cuối cùng. Cậu bé Hoàng Hà ngày nào, nay đã mang trên vai quân hàm Đại tá. Tiếp bước cha anh, Hà đã toại nguyện ước mơ là vào bộ đội tên lửa và công tác liên tục trong Quân chủng Phòng không – Không quân cho đến nay, trải qua nhiều cương vị khác nhau, trong đó có vị trí từ khi còn nhỏ, anh đã từng mơ ước là chỉ huy một đơn vị hỏa lực tên lửa. Chỉ có khác với bố là Hoàng Hà không phải ra trận. Ông Bình nói đó là điều ông mong ước không chỉ cho Hà mà cho cả con cháu của Hà. Ông kể, năm 1975, ông được sang Cộng hòa dân chủ Đức chữa bệnh, đón ông tại sân bay, một nữ cán bộ của bạn đã làm cho ông ngạc nhiên. Bà ta nói: “Chào Đại tá thất nghiệp Hoàng Bình”, rồi giải thích: “Ông đã đánh thắng Mỹ thì còn ai dám đến nữa mà đánh nên ông là Đại tá thất nghiệp”…

Trải lòng xong, ông cười sảng khoái, cái cười của vị Đại tá già cứ văng vẳng mãi bên tai làm cho tôi hào hứng viết ra những dòng gan ruột này.

NGUYỄN PHƯƠNG DIỆN
qdnd.vn

Mở đường thống nhất đất nước

Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không” của các chiến sĩ không quân miền Bắc đã thôi thúc lòng quyết chiến, quả cảm của phi công trẻ Nguyễn Thành Trung thả bom Dinh Độc Lập, mở đường thống nhất đất nước.

Năm 1972, khi không quân Mỹ mang “pháo đài bay” đánh phá miền Bắc thì ở miền Nam, một người con cách mạng được cài cắm vào không quân ngụy đau thắt từng ngày bởi hơn ai hết, ông hiểu rất rõ sự hủy diệt mang tên B52. Từ đó, một điều mãnh liệt luôn thôi thúc ông là mang bom ném vào dinh thự đầu não của chế độ Sài Gòn như lời đáp trả cho những mất mát, đau thương mà nhân dân thủ đô Hà Nội gánh chịu trong 12 ngày đêm. Ông là đại tá – Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Thành Trung.

Đại tá Nguyễn Thành Trung (giữa) nhận hoa chúc mừng từ đồng đội

5 giây quyết định

Ông Trung còn nhớ rất rõ việc Mỹ ném bom đã tác động rất lớn đến thanh niên lúc bấy giờ. “Sinh ra trong chiến tranh, sống trong chiến tranh nên chúng tôi mơ biết bao ngày hòa bình! Vì vậy, sự kiện 12 ngày đêm ở Hà Nội một lần nữa thúc đẩy chúng tôi làm nhanh, làm cho bằng được để chấm dứt cuộc chiến, để đồng bào ta không chịu thêm cảnh chết chóc” – ông thổ lộ.

Khi được tổ chức phân công ném bom Dinh Độc Lập, ông Trung vô cùng sung sướng. Ông hồi tưởng: Hôm ấy, ngày 8-4-1975, không quân ngụy có nhiệm vụ đi ném bom ở Phan Rang. Đây là một cơ hội tốt cho ông nhưng cũng là việc cực kỳ khó khăn vì khi đã bay thì không thể tách khỏi phi đội, càng không thể lấy máy bay trong căn cứ. “Nghĩ đến chuyện “pháo đài bay” bất khả xâm phạm của Mỹ còn bị các chiến sĩ không quân miền Bắc bắn rơi, tôi quyết tâm thực hiện cho được nhiệm vụ này” – ông cho biết.

Theo quy định của đài chỉ huy, khi phi đội cùng bay, mỗi chiếc sẽ bay cách nhau 5 giây. Nếu máy bay nào đó bị trễ, họ cho thêm 5 giây, tổng cộng là 10 giây. Nếu quá 10 giây, sang giây thứ 11 mà không thể cất cánh, phi công sẽ không được bay nữa, trở về nơi đỗ an toàn. Lợi dụng điểm này, ông Trung đã quyết định táo bạo: Đánh lạc hướng, làm cho phi đội trưởng và đài kiểm soát không lưu nhầm lẫn trong việc chỉ huy bay.

“Phi đội bay ra Phan Rang lần ấy có 3 chiếc, tôi ở vị trí số 2. Khi viên chỉ huy quay lại nhìn, tôi giơ 2 ngón út và áp út để báo bị trục trặc về điện. Ông ấy ra hiệu cho tôi ở lại, còn số 1 và 3 cất cánh bình thường. Tôi vừa mừng vừa hồi hộp, thầm nhủ thời cơ đến rồi” – ông Trung nhớ lại. Sau khi 2 máy bay cất cánh, ông Trung đếm 5 giây, cộng thêm 5 giây nữa và cũng cất cánh. Phi đội nghĩ là ông ở lại, còn đài chỉ huy cho rằng ông chỉ bị trễ một chút và đã tiếp tục cất cánh chứ không có gì trục trặc. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi 5 giây cuối đó, ông đã bay thẳng về hướng Sài Gòn.

Chỉ sau 5 phút, ông đã đến mục tiêu và ném bom xuống Dinh Độc Lập. Hoàn thành nhiệm vụ, ông hạ cánh an toàn trên đường băng dã chiến ở sân bay Phước Long (nay thuộc Bình Phước) trong sự vui mừng khôn xiết của các cán bộ, chiến sĩ. Hai tuần sau, ngày 21-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và chạy ra nước ngoài.

Điều không tưởng với người Mỹ

Đại tá Nguyễn Thành Trung còn làm nên một kỳ tích khi chỉ trong 4 ngày đã huấn luyện Phi đội Quyết thắng lái được máy bay A37 để thực hiện nhiệm vụ ném bom sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 28-4-1975.

Năm 1985, một đoàn khách Mỹ 5 người đến Việt Nam muốn gặp đại tá Trung để nói chuyện về chiến tranh. Sau khi gặp, Bộ Ngoại giao cũng như ông hoàn toàn bất ngờ vì biết trong đoàn có 2 nhân viên CIA. Trong buổi gặp, họ hỏi: “Tôi biết ông lấy được máy bay chúng tôi ở Đà Nẵng rồi đem về huấn luyện đồng đội nhưng không thể nào hiểu được vì sao chỉ trong thời gian rất ngắn, ông có thể làm được?”. Ông Trung khẳng khái: “Người Mỹ các ông sẽ không bao giờ hiểu được. Khi mất nước, chúng tôi có thể làm bất cứ điều gì để mang lại kết quả cao nhất”.

Đại tá Trung cho biết ngày 22-4-1975, ông mới đến Đà Nẵng nhưng ngày 28-4 phải ném bom. Thời gian 6 ngày nhưng chuyển quân hết 2 ngày, ông chỉ còn 4 ngày để huấn luyện. Khó nhất là lúc bấy giờ, phi công của ta chưa từng lái máy bay Mỹ, chỉ quen Mig của Liên Xô và chủ yếu sử dụng máy bay tiêm kích. Lần này, nhiệm vụ của họ là phải sử dụng thành thạo những “con chim sắt” A37. “Bằng ý chí, trí tuệ và nghị lực, chúng tôi đã làm được. Đó là điều không tưởng với người Mỹ bởi họ huấn luyện một phi công phải mất 3 tháng” – ông Trung tự hào.

Cũng tại cuộc gặp này, một nhân viên CIA đã tiếp lộ rằng khi đó, Mỹ biết chắc chắn Việt cộng sẽ tấn công Sài Gòn. “Mỹ nghĩ trận chiến đó sẽ xảy ra ở Sài Gòn nên để 3.000 cố vấn ở lại chỉ với mục đích duy nhất là xem đánh nhau” – ông Trung kể. Thế nhưng, người Mỹ đâu ngờ được ngày 28-4-1975, ta ném bom Tân Sơn Nhất, họ buộc phải thay đổi kế hoạch và lập tức đưa ngay 3.000 cố vấn rời Sài Gòn bằng trực thăng. Chính sự rút đi đột ngột của Mỹ đã khiến cuộc chiến rối loạn. Một lực lượng quân ngụy đã buông súng đầu hàng và 2 ngày sau, Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi vẻ vang, đất nước hoàn toàn thống nhất.

Không còn đứng 2 đầu chiến tuyến

Chiến dịch ném bom xuống Hà Nội của Mỹ 40 năm trước gặp sự phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới. Làn sóng phản đối càng gay gắt hơn trong lòng nước Mỹ. Trong những ngày B52 đánh phá ác liệt ấy, cựu binh Robert Mulholland đã tổ chức cuộc vận động sâu rộng trên toàn nước Mỹ để chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, chống ném bom bằng B52 xuống Hà Nội. “Tôi là lính nhảy dù của Mỹ ở chiến trường miền Nam những năm 1967-1968. Sau khi tìm hiểu và đọc Hiệp định Geneve năm 1954, tôi hiểu tổng thống Lyndon Baines Johnson và Richard Milhous Nixon đã nói dối người dân Mỹ” – ông Robert Mulholland cho biết. Còn cựu binh Mỹ David Anderson Everett, phi công lái máy bay F4, tâm sự: “Vì mệnh lệnh, chúng tôi đã ném bom xuống mảnh đất xinh đẹp của các bạn. Tôi rất lấy làm tiếc. Sau 40 năm, trở lại Việt Nam, tôi rất vui khi chúng ta không đứng ở 2 đầu chiến tuyến nữa”.

Bài và ảnh: PHAN ANH
nld.com.vn

Kỳ trước: Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không”