Tag Archive | Tư tưởng Hồ Chí Minh

Về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta. Trong công tác xây dựng đảng, Người đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra.

Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau trong một quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dân chủ vừa là bản chất, vừa là động lực, mục tiêu của xã hội mới mà Đảng ta lãnh đạo nhân dân xây dựng nên. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề trong sinh hoạt đảng để góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết, đưa được nghị quyết vào cuộc sống. Vì vậy, dân chủ phải đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung. Phải tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, dân chủ hình thức. Những kiểu dân chủ như thế là rất nguy hại, làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng.

Về tập trung, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Đảng phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Biểu hiện của tập trung là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên… Tập trung trên cơ sở phát huy dân chủ chứ không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền.

Hiểu và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, thống nhất trong tư tưởng và hành động “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(1).

Tập trung dân chủ phải được quán triệt và thực hiện trong từng đảng viên, trong các tổ chức đảng để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ, Người còn đề cập tới nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trên phương diện lãnh đạo, quản lý.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”(2). Theo Hồ Chí Minh thì một người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể nào thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể thấy hết được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, để lãnh đạo được sát, đúng cần phải có sự tham gia ý kiến của nhiều người. Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do đó hiểu được toàn diện, mọi vấn đề. Khi tập thể đã bàn bạc kĩ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì giao cho một người phụ trách chính. Làm như vậy thì kế hoạch mới được thực hiện đầy đủ, tránh dựa dẫm, chồng chéo nhau, công việc mới đạt kết quả cao. Khi đánh giá công việc mới có cơ sở để biểu dương những người làm giỏi, phê bình những người làm kém, mới xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân. “Lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không có cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3).

Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay luôn luôn tuân thủ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động và sinh hoạt đảng. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta khi mới 15 tuổi với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Cùng với sức mạnh đó Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên những chiến công hiển hách đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và hiện nay đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn hiểu rõ bản chất và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng chính là làm cho Đảng ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trung thành và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, góp phần làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.

………………………………………………….

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.553.
(2), (3). Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.505.
Nguyễn Khánh Ly
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An

xaydungdang.org.vn

Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Quá trình hình thành tư tưởng về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như mọi người đều thấy rõ, trước khi học thuyết Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam thì các phong trào yêu nước của người Việt Nam chống thực dân Pháp liên tục nổ ra, nhưng kết cục đều thất bại. Nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về đường lối, mặc dù các bậc lãnh tụ của những phong trào yêu nước ấy đã dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình, nhưng do họ không nhận thức được xu thế của thời đại, nên không thấy được giai cấp trung tâm của thời đại lúc này là giai cấp công nhân – giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, một lực lượng tiến bộ xã hội. Do đó, mục tiêu đi tới của những phong trào ấy không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại, nên không thể đem lại kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Trước yêu cầu bức xúc của vấn đề giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. ”Công lao to lớn đầu tiên của Bác đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là đã tìm ra con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhận xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ của công nhân, nông dân lao động ở cả “chính quốc” cũng như ở thuộc địa. Nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu ”tự do”, ”bình đẳng”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động. Người viết: Tiếng là cộng hoà, dân chủ kì thực trong thì nó bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Tuy khâm phục các cuộc cách mạng ấy, nhưng Nguyên Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức, phong trào giải phóng giai cấp công nhân ở các nước tư bản. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với cách mạng Tháng Mười Nga, đến với V.I. Lênin; như một tất yếu lịch sử. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Đặc biệt, sau khi đọc ”Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua. Người khẳng định: ”Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”; rằng: ”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kết luận trên đây của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng. Vì vậy, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN. Người chỉ rõ: ”Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ khi hoạt động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một hố sâu ngăn cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ”chính quốc” với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc địa. Đó là chủ nghĩa sô-vanh nước lớn của các dân tộc đi thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối với các dân tộc bị thống trị.

Trong Đại hội Tua, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi những người xã hội ủng hộ phong trào giải phóng ở các thuộc địa và lên án phái nghị viện đi theo đường lối cơ hội của Đệ nhị quốc tế, theo đuổi bọn thực dân phản động, từ chối yêu cầu giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Trong nhiều tham luận tại các Đại hội quốc tế và các bài viết, Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, phê bình một cách kiên quyết và chân thành những sai lầm, khuyết điểm của các Đảng Cộng sản chính quốc. Các Đảng Cộng sản này, tuy thừa nhận 21 điều kiện của Quốc tế cộng sản, trong đó Điều 8 quy định các Đảng Cộng sản ở chính quốc phải ủng hộ và hoạt động một cách thiết thực giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc; nhưng trên thực tế hoạt động rất ít, do không nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, trong ”Chính cương vắn tắt” do Nguyên Ái Quốc khởi thảo đã khẳng định: ”Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng XHCN. Cuộc cách mạng này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân – điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc. Sức mạnh đi tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam không phải là cái gì khác mà là mục tiêu dân tộc luôn thống nhất với mục tiêu dân chủ trên cơ sở định hướng XHCN. Đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để, tạo tiền đề cho bước chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH; tức là, cách mạng XHCN là bước kế tiếp ngay khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi và giữa hai cuộc cách mạng này không có một bức tường nào ngăn cách. Đây là quan điểm hết sức căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện để tiến lên CNXH và chỉ có cách mạng XHCN mới giữ vững được thành quả cách mạng giải phóng dân tộc, mới mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, mới có độc lập dân tộc thực sự.

Như chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó, Người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, trong sự thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Bởi vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đúng như Ph. Ăng-Ghen đã nói: Những tư tưởng dân tộc chân chính… đồng thời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính. Sự phát triển tự tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong sự thúc đẩy lẫn nhau giữa dân tộc và giai cấp, ý thức giác ngộ về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tiếp thu quan điểm mác-xít về giai cấp. Đó chính là nhân tố đảm bảo tính khoa học và cách mạng cho sự phát triển tinh thần dân tộc đúng đắn ở người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu tranh cách mạng: giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản không phải chỉ là chứng minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn là sự phát triển sáng tạo và có giá trị định hướng rất cơ bản. Qua thực tiễn đấu tranh và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn bám sát đặc điểm thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm các nước khác, Hồ Chí Minh đã có những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; đó cũng chính là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng nước ta trong suốt bảy thập kỷ qua. Bởi lẽ:

Một là, cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay muốn thành công triệt để nhất định phải đi theo quỹ đạo và là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng đó phải đưa vào lực lượng của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông, do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ, nếu chỉ đưa vào lực lượng của riêng giai cấp công nhân, thậm chí cả giai cấp nông dân là hoàn toàn không đủ, mà theo Người, chỉ có phát động cả dân tộc tham gia mới biến sức mạnh dân tộc thành lực lượng vô địch.

Hai là, cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc (mâu thuẫn địa chủ – nông dân, mâu thuẫn tư sản – vô sản) không tách rời cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với các thế lực đế quốc xâm lược. Ở giai đoạn đầu của cách mạng, cần đặt vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc lên trên hết. ”Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. ”Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc”. Ở đây rõ ràng cái giai cấp được biểu hiện ở cái dân tộc, cái dân tộc được giải quyết theo lập trường giai cấp công nhân, chứ đâu phải là “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người từng cố chứng minh.

Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc như ”hai cánh của một con chim”, phải thực hiện sự liên minh giữa vô sản ở chính quốc với vô sản và nhân dân các nước thuộc địa thì cách mạng mới thắng lợi. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không phụ thuộc một chiều vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể và phải chủ động tiến lên giành thắng lợi, thậm chí có thể giành thắng lợi trước, từ đó góp phần tích cực hỗ trợ cho cách mạng ở các nước tư bản. Đó là nhận định hết sức đúng đắn, táo bạo và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đáng tiếc là có lúc quan điểm này của Hồ Chí Minh không được một số người, trong đó có một vài người của Quốc tế cộng sản cũng không thừa nhận.

Bốn là, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang, khỏi chế độ thuộc địa, dân tộc vừa được giải phóng phải quá độ lên CNXH và trong bước quá độ ấy phải tự mình tìm tòi con đường, phương thức riêng phù hợp với tình hình và đặc điểm đất nước, tránh giáo điều, dập khuôn những hình thức, bước đi, biện pháp của nước khác.

Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp thiết. Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất. Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả về phương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đề này.

Tuy thế, trong những năm gần đây, ở nước ta đã nảy sinh ý kiến cho rằng: mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước khác nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì đều dẫn đến sai lầm. Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một chiều vấn đề dân tộc, tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý nghĩa quan trọng, bức thiết của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai cấp làm quan điểm cơ sở lập trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc. Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc, còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Mục tiêu ”dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được họ đồng tình, thưng giải thích theo hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất thiết phải theo định hướng XHCN. Thực chất là họ bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân. Quan điểm nêu trên đi ngược với con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó đã chỉ ra rằng, trong bất cứ giai đoạn nào, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đều phải kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc; trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn luốn gắn bó hữu cơ với lý tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do, sự giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một cách bền vững trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân. Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức; bước đi và biện pháp phù hợp. Nói cách khác, giữ vững định hướng XHCN là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta.

Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp.

Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó khăn của hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đang thể hiện giá trị trường tồn nhất là trong bối cảnh các dân tộc đang đứng trước những thách thức cực kì nguy hiểm khi các thế lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến tranh xâm lược những nước có chủ quyền, bất chấp luật pháp.

Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới, làm cơ sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, vững bước trong quá trình xây dựng một đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

GS.VS Nguyễn Duy Quý
(Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

hochiminhhoc.com

Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

Nếu tính từ tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên Hồ Chí Minh bàn về vấn đề tự phê bình và phê bình của người cách mạng cho đến tác phẩm cuối cùng là “Di chúc”, Người đã công bố khoảng 200 bài nói, viết về xây dựng Đảng, trong đó sử dụng 90 lần thuật ngữ tự phê bình và phê bình, 67 lần thuật ngữ phê bình và tự phê bình. Ở Người, tự phê bình và phê bình đã trở thành một phẩm chất trong nhân cách và là một đặc trưng trong phong cách lãnh đạo. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự phê bình và phê bình. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”[1], là “thang thuốc” tốt nhất để chữa trị các “chứng bệnh” do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Qua nghiên cứu những tác phẩm của Hồ Chí Minh, vấn đề tự phê bình và phê bình là một cống hiến quan trọng của Người trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác-Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng mác-xít; là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực trong xã hội; với văn phong giản dị, trong sáng chúng ta thấy toát lên bản chất nhân văn mác-xít, “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”.

Thực chất của tự phê bình và phê bình là xây dựng, là vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ, là thúc đẩy sự tiến bộ, là cách mạng và khoa học trong cấu trúc nhân cách của mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn xem xét con người trong tính đa dạng của các quan hệ xã hội, trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng; trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc,… Theo Người trong hoạt động thực tiễn, ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm, chỉ khác nhau ở mức độ, trạng thái biểu hiện mà thôi: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không kiên quyết sửa nó đi”[2].
Hồ Chí Minh không trừu tượng hoá con người, mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và tự phê bình và phê bình được ví như “thang thuốc” thần diệu, có tác dụng chữa khỏi bệnh, đồng thời bồi bổ để người ta sống cao đẹp hơn. Thông qua tự phê bình và phê bình mà mỗi cá nhân, mỗi tổ chức ngày càng hoàn thiện, tạo ra sự biến đổi về chất, tạo ra sức mạnh nội sinh trong mỗi tổ chức, mỗi con người; mọi sự kìm nén, ức chế được giải toả, luồng sinh khí mới sẽ sưởi ấm “cái tâm” của mỗi người, để họ không ngừng phấn đấu, vươn lên.

Vì vậy, về bản chất, tự phê bình và phê bình là cách mạng và khoa học; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm và lý trí, giữa cái riêng và cái chung; là sự đấu tranh giữa mặt tốt và mặt xấu, đúng và sai, cao cả và thấp hèn,… trong mỗi con người, mỗi tổ chức cho đến toàn xã hội, qua đó đi đến những giá trị chân, thiện, mỹ .

Đối tượng trực tiếp của tự phê bình và phê bình là “Phê bình việc làm (nhận thức, hành vi và việc làm không đúng), chứ không phải phê bình người”[3]. Người chỉ rõ cần tránh hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù tiểu khí”[4]. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm khuyết điểm của cá nhân hay tổ chức đều phải được phê bình nghiêm túc và “phải lập tức sửa chữa”.

Tự phê bình và phê bình những nhận thức, hành vi và việc làm không đúng trong tư tưởng tự Hồ Chí Minh khác về bản chất với tư tưởng phê phán và trừng trị, lợi dụng phê bình để thổi phồng hoặc bóp méo sự thật, định kiến, ghen ghét, ganh tỵ, trù dập, hạ thấp con người, phê bình theo kiểu “chụp mũ”, quy kết hay “bới lông, tìm vết”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là sự mổ xẻ một căn bệnh mang ý nghĩa như là sự khởi nguyên của một quy trình chữa lành con bệnh, làm cho con người tồn tại và phát triển khoẻ mạnh; khi mà tìm ra nguyên nhân vì sao mắc sai lầm, khuyết điểm? ảnh hưởng đến công việc như thế nào, làm thế nào để sửa chữa. Người nói: Tự phê bình và phê bình cốt để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để tư tưởng và hành động được đúng hơn, và tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn, để gần nhau hơn, để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Tự phê bình và phê bình thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, tránh cho con người không rơi vào cái “tôi” vị kỷ, thấp hèn, đố kị, nhỏ nhen.

Tự phê bình và phê bình là một nghệ thuật về phép ứng xử giữa người với người. Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”[5] hàm chứa phương pháp, nghệ thuật khi phê bình. Theo Người, “Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”[6].
Tư tưởng “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình” của Hồ Chí Minh do quan điểm dân chủ và nhân đạo chi phối. Tư tưởng đó thể hiện quan điểm biện chứng trong đánh giá con người, biết phối hợp hài hòa giữa tình-lý trong hành vi và thái độ ứng xử giữa con người với nhau. “Khéo” trước hết phải được thể hiện trong ngôn ngữ nói: là sự chuẩn mực và mô phạm, sự thẳng thắn và chân thành của người phê bình. Người căn dặn: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc….”[7]. “Khéo” là sự kết hợp giữa các biện pháp giáo dục từ trên xuống và từ dưới lên, từ nội bộ Đảng đến ngoài xã hội. Nhưng trên hết là sự giúp đỡ, cảm hóa, thức tỉnh lương tâm để mọi người vươn lên tự khẳng định mình. “Khéo” là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, phải hiểu cặn kẽ các nhân tố khách quan, chủ quan, “phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn xây dựng “trị bệnh cứu người ” chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”[8].

“Khéo” sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình thì tác dụng cảm hóa, lan tỏa rất lớn. Tính hiệu quả của phê bình được khẳng định khi đối tượng của phê bình trở thành đồng chủ thể tự phê bình, tự kiểm tra. Ngược lại, tự phê bình và phê bình không “khéo” sẽ gây hiệu ứng tiêu cực, thậm chí là có hại.

Hiện nay, nhận thức về tự phê bình và phê bình còn những lệch lạc, tác động nguy hại đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đoàn kết trong đơn vị, ảnh hưởng xấu đến sự tiến bộ của cá nhân cũng như tập thể. Như: Một là, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm qua loa đại khái, trông trước, ngó sau, hùa theo số đông hoặc đón ý cấp trên, dĩ hoà vi quý. Hai là, cơ hội, lợi dụng phê bình để công kích những người mình không ưa, kéo bè, kết cánh, gây mất đoàn kết nội bộ. Cả hai khuynh hướng này đều làm mất đi tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình. Điều đó giải thích tại sao thời gian qua hoạt động tự phê bình và phê bình ít hiệu quả, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng tổng kết: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đặt ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu ”[9].

Thiết nghĩ, để nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đòi hỏi mỗi cán, bộ đảng viên phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình. Nhận thức rõ vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp tự phê bình và phê bình; mở rộng thông tin, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật. Đặc biệt, việc tìm hiểu và quán triệt giá trị nhân văn trong tự phê bình và phê bình gắn với nội dung Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là thiết thực góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10, tr.614
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 4, tr.166
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr. 323
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.258
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.265
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.244
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.232
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10 tr.614
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr 267.

Ths. Đàm Trọng Tùng
Học viện Kỹ thuật quân sự

xaydungdang.org.vn

Thực hành dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Dân chủ là một giá trị xã hội. Dân chủ cũng là một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước.

1. Xét về mặt giá trị xã hội, dân chủ là một trong những thứ quý báu nhất của con người, là một giá trị vĩnh hằng mà từ khi có con người, từ khi chưa có chữ viết và chưa có khái niệm dân chủ, con người lúc đó đã có một đời sống “hoàn toàn” dân chủ. Dù là một xã hội dân chủ sơ khai, con người lúc đó đã cùng nhau làm chủ, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, cùng lao động, cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra. Tuy nhiên, từ  khi có nhà nước tới nay, xã hội dân chủ sơ khai thơ mộng và đẹp đẽ ấy đã một đi chưa đến ngày trở lại. Nhiều nhà tư tưởng đã bàn về cái ngày trở lại ấy và nhận thức về dân chủ là một quá trình. Theo giả thuyết khoa học của C.Mác, cái ngày trở lại ấy sẽ là một xã hội hiện thực, không có của riêng, không còn giai cấp, không còn nhà nước, sức sản xuất phát triển tới mức “của cải tuôn ra dào dạt” thoả mãn mọi nhu cầu của con người. Con người sẽ sống hoàn toàn dân chủ và bình đẳng, tự do làm chủ thiên nhiên, xã hội và làm chủ bản thân mình. Đó là một “Con đường muôn dặm” như Hồ Chí Minh đã từng nói, là mơ ước tương lai và hy vọng của loài người, là mục đích phấn đấu không ngừng nghỉ của rất nhiều thế hệ người tiếp nối nhau. Không phải cứ đập tan sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, thiết lập được chính quyền mới thì lúc đó đã là cuộc đấu tranh cuối cùng, đã có một đời sống hoàn toàn dân chủ và tự do.

hochiminh634125022554815000.jpg“Dân chủ” là điều trăn trở suốt đời của chủ tịch Hồ Chí  Minh. Ảnh: Tuấn Anh

2. Từ khi có chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước ra đời tới nay, dân chủ đã trở thành một chế độ chính trị với những nội dung và hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển trong mỗi kiểu nhà nước, ở mỗi quốc gia, dân tộc. Dân chủ từ đó gắn liền với lợi ích giai cấp, gắn với quyền làm chủ của giai cấp này và mất (hoặc hạn chế) quyền làm chủ của giai cấp khác. Xã hội loài người đã trải qua hai chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ chủ nô, mặc dầu có nhiều hạn chế, nhưng cũng là một bước tiến so với chế độ cộng sản nguyên thủy, nhưng rồi, cùng với sự phát triển của sản xuất, nền dân chủ chủ nô được thay bằng chế độ phong kiến chuyên chế. Phải hàng ngàn năm sau, khi cuộc cách mạng tư sản thành công ở một số nước tư bản phát triển và cùng với nó, nền dân chủ tư sản ra đời.

Do đặc thù của “phương thức sản xuất châu Á”, Việt Nam không qua chế độ chiếm hữu nô lệ nên cũng không có nền dân chủ chủ nô. Thời phong kiến, xét về thiết chế xã hội có hình thức dân chủ làng, xã (tính tự trị làng – xã). Nếu xét về hành vi dân chủ, thì một số triều đại cũng làm một số việc như trưng cầu ý dân – Hội nghị Diên Hồng – (nhà Trần), hoặc tuyển dụng quan lại thông qua thi tuyển, không phân biệt đẳng cấp, giai cấp để chọn người tài đảm trách công việc quốc gia. Từ khi bị thực dân Pháp đô hộ thì nước ta không những mất chủ quyền quốc gia mà còn mất dần những yếu tố dân chủ ngay cả ở làng, xã.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được hiến định bởi Hiến pháp đầu tiên do Quốc hội thông qua ngày 9-1-1946. Người khai sinh ra nền cộng hoà dân chủ và bản Hiến pháp đầu tiên ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất đã đưa dân tộc vào con đường phát triển hợp quy luật, xây dựng nước ta thành một nước dân chủ của nhân dân lao động bỏ qua nền dân chủ của giai cấp tư sản. Sự “bỏ qua” là một tiến bộ vượt bậc của lịch sử, nhưng như các nhà kinh điển đã chỉ rõ mọi sự bỏ qua đều gặp những khó khăn, trở lực không nhỏ. Cho đến trước Cách mạng tháng Tám – 1945 chúng ta chưa qua một chế độ dân chủ nào, chưa có sự trải nghiệm về thực tiễn dân chủ. Chính vì thế mà cả thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và việc thực hành dân chủ, chúng ta đều đi những bước chập chững, mắc không ít sai lầm, khuyết điểm, phải vừa học vừa làm. Điều này được thể hiện qua nhiều bài viết, nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1950 và kể cả sau này.

3. Trên 60 năm xây dựng chế độ dân chủ và thực hành dân chủ, quan niệm về dân chủ và thực hành dân chủ ở nước ta cũng diễn biến cùng với những năm tháng đổi thay của đất nước. Dân chủ và thực hành dân chủ là một quá trình cách mạng, không phải là một con đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, phức tạp. Dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó cả nhà nước và công dân đều phải có trách nhiệm xây dựng pháp luật và đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là tối thượng để đảm bảo cho nhà nước thực sự là nước dân chủ. Nghĩa là mọi tổ chức và công dân, từ nguyên thủ quốc gia đến mỗi người dân đều phải “Tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp 1946). Ngày nay, đọc lại Hiến pháp 1946, do Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo, tất cả những người nghiên cứu về dân chủ, dù khác nhau về tư tưởng và chính kiến, cũng đều phải thừa nhận rằng, từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới. Nổi bật nhất là việc xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, Hiến pháp 1946). Để thực hành quyền bính ấy phải thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nhân dân uỷ quyền quản lý đất nước cho các cơ quan đại diện đảm trách. Trong sự uỷ thác ấy có nguy cơ của sự lạm quyền và cả những sai lầm khi cơ quan đại diện của dân ra các quyết sách chính trị và ban hành các đạo luật. Do đó, nhân dân phải giữ lại một số quyền để quyết định trực tiếp và tối hậu. Đó là quyền phúc quyết mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng và sửa đổi Hiến pháp. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở Hiến pháp 1946 thì Quốc hội được uỷ thác quyền soạn thảo Hiến pháp, đặt ra pháp luật, sửa đổi Hiến pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia. Nhưng “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; về sửa đổi Hiến pháp, “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều 70, Hiến pháp 1946). Quyền phúc quyết không phải là việc đưa ra cho nhân dân tham gia, góp ý kiến hay đề nghị mà là quyền Hiến định, là điều bắt buộc các đạo luật và cơ quan đại diện cao nhất của dân phải tuân thủ. Quyền phúc quyết là thể chế hoá tư tưởng quan trọng nhất của Hồ Chí Minh về dân chủ: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, … quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [1]. Một khi quyền dân chủ đã được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia thì không còn tranh cãi về “thu hẹp” hay “mở rộng”, ai có quyền “thu hẹp” hay “mở rộng” dân chủ mà là tuân thủ theo luật định.

4. Thể chế dân chủ tuy là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất nhưng việc thực hành dân chủ lại là điều cốt tử của thể chế dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho nhân dân biết hưởng và biết dùng quyền dân chủ. Chỉ có thực hành dân chủ mới có thể biến các quan niệm dân chủ trong các lời tuyên bố thành dân chủ thực tế. Chính V.I.Lênin cũng cho rằng, mọi điều tốt đẹp về dân chủ thì các học giả tư sản đã nói cả rồi, cái ưu việt của chế độ dân chủ chúng ta so với dân chủ tư sản ở chỗ hiện thực hoá những điều tốt đẹp ấy.

Để thực hành dân chủ đòi hỏi phải:

– Có đủ những văn bản luật phù hợp với thực tiễn và được lòng dân. Nhưng văn bản luật nào cũng đều là luật thực định, nghĩa là do giai cấp cầm quyền định ra thông qua cơ quan đại diện của dân soạn thảo và ban bố. Vậy thực hành dân chủ, mấu chốt là ở vấn đề bầu cử và ứng cử. “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử… hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” [2]. Nhìn vào luật bầu cử và ứng cử, quy trình thực hiện, cách thức tiến hành và thái độ của dân chúng, người ta sẽ nhận ra chất lượng của điểm xuất phát, cái cơ bản nhất của chế độ dân chủ ở mỗi nước.

– Tổ chức bộ máy nhà nước thực thi luật pháp là công cụ đảm bảo thực hành dân chủ. Hồ Chí Minh đã khẳng định bộ máy nhà nước phải gọn nhẹ, trong sạch, đủ năng lực và bản lĩnh để chấp hành pháp luật. Con người trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, phải có uy tín trong dân chúng, có năng lực và liêm, chính. Những người được Quốc hội cử ra thành lập Chính phủ mới, theo Hồ Chí Minh, phải tuyên thệ về tư cách của bản thân và tư cách từng thành viên Chính phủ. Tại phiên họp ngày 31-10-1946, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đã tuyên bố như sau: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc” [3].

– Phải có chính sách dùng người đúng, tạo cơ hội như nhau cho bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, sang hèn, giàu nghèo… hễ là công dân Việt Nam đều có thể thi tuyển vào cơ quan nhà nước, được giao những nhiệm vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ. Người được tuyển lựa làm cán bộ, công chức phải cam kết trung thành với nhà nước và dân tộc Việt Nam, phải hoàn thành công vụ, không tham nhũng, lãng phí của công, không xách nhiễu dân; được thăng tiến, đãi ngộ về vật chất xứng đáng nhưng cũng sẽ bị trừng phạt, thậm chí truy tố trước toà án nếu có lỗi. Một xã hội thật sự dân chủ và pháp quyền khi cơ quan nhà nước tận tụy phục vụ dân, làm việc cho dân và làm tốt. Nhà nước ấy phải có đội ngũ công chức, viên chức là công bộc của dân, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tự hào với nghề nghiệp và biết xấu hổ khi không làm tròn chức nghiệp bị dư luận phê phán. Cán bộ, công chức, viên chức, phải thường xuyên được giáo dục tư tưởng, tự phê bình và phê bình, phải chịu sự giám sát của dân, đồng thời phải bị xử phạt nghiêm minh theo luật. Tuyệt đối không có bất kỳ ai dù ở cương vị nào, người trong Đảng hay ngoài Đảng được sống ngoài vòng pháp luật theo kiểu “xử nội bộ”, thiếu công minh, thiên vị, có tội “nhưng không bị trừng phạt xứng đáng” [4].

– Có Hiến pháp và pháp luật đúng và đủ, có cơ quan công quyền trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ công chức, viên chức mẫn cán, đồng thời phải có hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có cơ quan tư pháp phải thực sự “Dĩ công vi thượng”, không bị áp lực từ bất cứ ai, cơ quan nào. “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69, Hiến pháp 1946). Hồ Chủ tịch đã từng dạy tư pháp phải “Phụng công thủ pháp” là chìa khoá để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của chế độ ta. Do đó tư pháp phải công minh, công tâm, khoan dung và đại lượng, không được “lạm dụng hình phạt”[5].

– Giáo dục pháp luật và nâng cao văn hoá dân chủ cho tất cả mọi người. Nâng cao dân trí và quan trí để “nước ta là nước dân chủ, mọi người có quyền làm, có quyền nói”[6] trở thành hiện thực và tất cả các cơ quan nhà nước phải tôn trọng các quyền dân chủ ấy của công dân. Dân có hiểu biết về pháp luật, biết hành xử theo pháp luật thì đó là cơ sở để nhà nước thực thi đúng pháp luật. Hồ Chí Minh đã từng nói “quan tham vì dân dại”[7]. Thực hành dân chủ sẽ chống lại có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, “tệ quan tham lại nhũng” và các tệ nạn khác.

Ngày nay, dưới ánh sáng của sự nghiệp đổi mới, nhìn lại một thời đã qua và những gì là sự nỗ lực để đi tới, chúng ta càng thấy những giá trị cao cả, đích thực trong Tư tưởng Hồ Chí Minh khi khẳng định “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”[8].

[1]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG. H.2002, tr.698.
[2]. SĐD, tập 4, tr.133.
[3]. SĐD, tập 4, tr.427.
[4]. SĐD, tập 5, tr.73.
[5]. SĐD, tập 4, tr.20.
[6]. SĐD, tập 12, tr.225.
[7]. SĐD, tập 5, tr.641.
[8]. SĐD, tập 12, tr 249.

Trần Đình Huỳnh

hochiminhhoc.com

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và đoàn kết quốc tế

090929132718_gs_vu_duong_ninh226.jpg

Vũ Dương Ninh - GS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội

TCCS – Thấm thoắt đã hơn 40 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi về thế giới vĩnh hằng nhưng tư tưởng của Người vẫn tỏa sáng dẫn dắt chúng ta. Di chúc của Người – từ bản thảo đầu tiên viết năm 1965 đến những đoạn bổ sung trong những năm tiếp sau – là lời nhắn nhủ chân tình về những điều cần làm cho kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.

Hướng về nhân dân thế giới, Người dự định đến ngày chiến thắng, sau khi đi chúc mừng và thăm hỏi đồng bào hai miền Nam Bắc, “sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”(1). Có thể cảm nhận ở đây phong thái của một nhà cách mạng lão thành, một cụ già phương Đông, rất trọn vẹn trong nghĩa tình, rất chu đáo trong ứng xử. Không chỉ một bức thư hay bức điện cảm tạ mà phải đi đến tận nơi, bày tỏ hết tấm lòng biết ơn chân thành tới những người đã từng giúp mình trong những năm tháng gian nan vất vả. Phong cách đó nói lên tình cảm bao la, tư tưởng sâu sắc mà trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ thường nhắc nhở đồng bào, đồng chí. Đó là quan điểm về hội nhập và đoàn kết quốc tế.

Cuộc hành trình tìm đường cứu nước qua khắp năm châu đã tạo nên ở Hồ Chí Minh một cách nhìn mới về thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới. Người đã vượt qua tầm nhìn hạn hẹp của các bậc tiền bối để hướng ra bên ngoài, gắn kết giữa sự nghiệp cứu nước với công cuộc cách mạng của các dân tộc.

Vào nửa sau thế kỷ XIX, các thủ lĩnh nghĩa quân của phong trào kháng Pháp hay các nhà văn thân dưới ngọn cờ Cần Vương đều thu hẹp hoạt động trong từng địa phương, chưa mở rộng đến phạm vi toàn quốc, lại càng không có mối liên hệ với bên ngoài. Đến đầu thế kỷ XX, các sĩ phu cấp tiến đã đón nhận làn gió mới từ Duy tân Minh Trị, Biến pháp Mậu Tuất cho đến Cách mạng Tân Hợi, hoặc hướng về nền dân chủ phương Tây với hy vọng cải cách chế độ phong kiến thối nát. Làn sóng yêu nước ở Việt Nam được khởi sắc với việc mở Đông Kinh nghĩa thục và các trường học khác, với phong trào Đông Du từng đợt cử thanh niên sang Nhật Bản học tập văn hóa và huấn luyện võ bị. Nhưng những hoạt động đó đều không mang lại kết quả, một trong những nguyên nhân chính là do thời đại đã đổi thay. Nơi mà các nhà chí sĩ trông chờ không còn là quê hương của phong trào cách mạng nữa, ý tưởng duy tân cũng như lý tưởng dân chủ đã đi vào quá khứ để thay thế bằng chủ nghĩa thực dân, mở rộng bá quyền thuộc địa. Giới cầm quyền Pháp – Nhật câu kết với nhau để dẹp trừ sự phản kháng, để ngăn chặn trào lưu cách mạng nước ta.

4.jpgBác Hồ và Mao chủ tịch

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đi theo con đường khác và rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”(2) Có thể coi đây chính là điểm khởi phát của tư tưởng hội nhập và đoàn kết quốc tế, bao hàm hai điều mới: một là, tầm nhìn được mở rộng ra toàn thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương Đông; hai là, quan điểm đoàn kết đặt vào tất cả những ai làm cách mạng, không bị ràng buộc bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó. Nghĩa là Hồ Chí Minh đã phát hiện một trong những nhân tố dẫn đến thành công của sự nghiệp cứu nước phải là hội nhập với thế giới, đoàn kết với phong trào cách mạng trên thế giới. Chính từ đây, Người đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo quốc tế và trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng quốc tế.

Dưới ánh sáng của học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn kết công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng vô sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam và cũng là sợi dây nối bền chặt giữa cách mạng Việt Nam với phong trào vô sản quốc tế. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít trên thế giới: “Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát-xít”(3). Khi phát-xít Nhật đầu hàng, lực lượng cách mạng đã phát huy thế chủ động của mình, cùng toàn thể đồng bào vùng lên giành chính quyền, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam độc lập.

Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng hội nhập và đoàn kết quốc tế trong thời chiến cũng như thời bình, tập trung vào mấy điểm chính sau đây:

1 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế phải phục vụ mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là Độc lập – Thống nhất – Chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chính phủ đã ra “Thông cáo về chính sách đối ngoại” khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” mà tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước, từ các nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải phóng cho đến nhân dân Pháp, kể cả kiều dân Pháp đều được bảo đảm sinh mệnh và tài sản nếu họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

Đến năm 1947, năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, Người nhắc lại đường lối đối ngoại của Việt Nam vẫn là “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4). Người nhấn mạnh: “Mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập… bạn của ta trong giai đoạn này tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”(5).

Như vậy, cách mạng Việt Nam đi vào trào lưu chung của thế giới, hòa vào dòng chảy của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành một trong những nhân tố chủ yếu dẫn đến thành công. Từ năm 1950, Việt Nam chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, hội nhập vào phe xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh trật tự hai cực của thế giới. Đồng thời, Việt Nam luôn gắn kết cuộc đấu tranh của mình với phong trào giải phóng dân tộc, với nhân dân các nước mới giành độc lập hoặc đang đấu tranh vì nền độc lập, tự do. Tổng kết thành quả của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”(6).

Hội nhập và đoàn kết quốc tế không chỉ diễn ra một chiều, không chỉ nhằm giành được lợi ích cho mình mà còn là sự đóng góp vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của thế giới: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”(7).

Bước vào thời kỳ đổi mới, xác định đúng xu thế của thế giới sau “Chiến tranh lạnh”, Đảng ta đã thực hiện chính sách đối ngoại mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế. Tại Đại hội VII và Đại hội IX Đảng ta đã tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy” của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Nhờ vậy, nước ta đã vượt qua tình trạng bị bao vây, đặt quan hệ chính thức với hầu hết các nước, đặc biệt là với tất cả các nước lớn và các nước láng giềng. Nước ta cũng tham gia nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, WTO…, phát huy vai trò tích cực trong mọi hoạt động của các tổ chức đó, kể cả cương vị ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, giành được sự tin cậy của bạn bè thế giới và đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa, xã hội.

12.jpgẢnh: Bác Hồ thăm Ấn Độ

Cho nên, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, nắm vững xu thế phát triển của thế giới để gắn kết mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia, các dân tộc là nền tảng của sự hội nhập quốc tế. Qua đó mới giành được sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ, mới tìm ra được mẫu số chung trong nguyện vọng và chí hướng của nhân dân các nước, mới đi đến sự đoàn kết trong cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đi ngược với xu thế chung, dù có nỗ lực đến đâu cũng khó thành công.

2 – Trong sự hội nhập và đoàn kết quốc tế, nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều không thay đổi.

Năm 1946, đã nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp, nêu rõ: “Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam”(8). Với chính phủ Mỹ, Người kiên quyết yêu cầu: “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam”(9). Chính vì mục tiêu và nguyên tắc đó, nhân dân Việt Nam đã phải đổ bao xương máu trong suốt những năm kháng chiến vì độc lập và thống nhất đất nước. Cuối cùng, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp định Pa-ri năm 1973 đều ghi nhận các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tại Giơ-ne-vơ, nước Pháp đã phải cam kết điều đó và 19 năm sau, tại Pa-ri nước Mỹ cũng phải cam kết điều đó. Nhờ vậy, sau khi hòa bình lập lại, với phương châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ giữa Việt Nam với Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã được thiết lập, phát triển trên tinh thần hữu nghị và hợp tác.

Trong hoàn cảnh hòa bình kiến thiết đất nước, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ hữu cơ, gắn kết vô cùng chặt chẽ. Nó phải được thể hiện rõ ràng trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, an ninh đến kinh tế, xã hội. Không thể vì áp lực chính trị và kinh tế mà chủ quyền của ta bị tổn hại, không thể vì áp lực quân sự mà lãnh thổ của ta bị tổn thất, an ninh của ta bị đe dọa. Dù không ở trong tình thế chiến tranh khốc liệt như trước đây nhưng vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ vẫn là điều không thể coi nhẹ. Có gìn giữ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì mới có được nền hòa bình vững chắc, mới tạo dựng được môi trường an ninh và ổn định cho sự phát triển lâu dài.

3 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế nhằm tiến tới việc xây dựng sự hợp tác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.

Trong Thư gửi Liên hợp quốc (năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(10). Kèm đó, Người nêu ra một số giải pháp cụ thể như Việt Nam sẽ dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan… Ngay trong những năm kháng chiến, Người đã dự tính: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”, “chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(11). Rõ ràng, những nét lớn đó đã phác họa cả một chương trình phát triển và hợp tác với các nước, với các đối tác mà Người đã định liệu từ 40 năm trước khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới.

Bàn về quan hệ hợp tác, Người luôn nhấn mạnh đến thực lực của bản thân là nhân tố quyết định thành công. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, Người thường nhắc nhở phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp mình thì trước hết phải tự giúp lấy mình đã”. Người đặc biệt nhấn mạnh: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”.(12)

Có thể thấy ở đây một lời cảnh báo nghiêm khắc, chẳng những đúng trong thời kỳ chiến tranh mà có ý nghĩa rất thiết thực với mối quan hệ hợp tác trong thời kỳ hòa bình. Trong công tác ngoại giao, Người dặn dò: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”(13). Nói rộng ra, thực lực trước hết phải xuất phát từ việc định ra đường lối đúng phù hợp với mục tiêu và hoàn cảnh của nước ta mà không ai có thể làm thay, cũng không thể để cho ai làm thay được. Đó chính là tính độc lập tự chủ trong đường lối phát triển, trong việc hoạch định chính sách và đề ra các biện pháp thực hiện.

Ngày nay, trong mối quan hệ đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa, việc kiên trì đường lối độc lập, tự chủ là một thách thức lớn, đồng thời là một nguyên tắc không thay đổi. Xuất phát từ mục tiêu lâu dài và hoàn cảnh hiện nay, Đảng khẳng định “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế” như nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã chỉ rõ. Đó chính là đường hướng chung để xử lý các vấn đề cụ thể trong quan hệ quốc tế của nước nhà nhằm bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính.

Chúng ta bước vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn toàn cầu hóa nhằm mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư, tiếp thu khoa học – công nghệ tiên tiến. Nước ta vốn xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, sự hội nhập kinh tế quốc tế quả là không dễ dàng. Thành tựu hơn 20 năm đổi mới đánh dấu sự đúng đắn của chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện sự nỗ lực và bước phát triển của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song, khó khăn còn nhiều, thách thức còn ở phía trước. Xây dựng cho được một nền kinh tế tự chủ, có thực lực là bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp, doanh nhân và toàn xã hội. Bởi vì chỉ có thực lực thì mới có thể hội nhập thành công vào các hoạt động kinh tế thế giới với sự khắt khe của quy luật cạnh tranh và sự ganh đua không nhân nhượng của các đối tác.

4 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế cần “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn”(14).

Với phương châm “thêm bạn bớt thù”, cách mạng Việt Nam luôn xác định rõ ai là bạn, ai là thù, phân hóa “bạn”, “thù” ngay trong hàng ngũ đối phương để giành được sự đồng tình, ủng hộ nhiều nhất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ: “Chúng tôi không ghét không thù gì dân tộc Pháp… Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”(15). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc lại quan điểm đó: “Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng”(16); “Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình”(17). Nhờ quan điểm đúng đắn đó mà ở Pháp và ở Mỹ đã dấy lên phong trào các tầng lớp nhân dân đòi chính phủ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tiếng nói phản chiến từ các cuộc biểu tình trên đường phố đã tác động vào nghị viện và chính phủ buộc giới cầm quyền phải ký hiệp định đình chiến, rút quân về nước. Có thể nói trong lịch sử thế giới, hiếm có trường hợp nào mà cuộc chiến đấu của một dân tộc lại giành được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước đối phương rộng lớn, mạnh mẽ đến vậy. Nguồn gốc cơ bản là do chính nghĩa thuộc về chúng ta, với quan điểm đoàn kết quốc tế, chúng ta đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa đó.

Theo đường lối đổi mới, Việt Nam mở rộng mối quan hệ bạn bè, đối tác gồm những ai phấn đấu vì mục tiêu chung là “hòa bình, độc lập và phát triển”. Trong quan hệ đó vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Những ai đi đúng mục tiêu và nguyên tắc đó, tôn trọng độc lập chủ quyền, xây dựng quan hệ bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đem lại lợi ích cho tất cả các bên thì đều là bạn, là đối tác của ta. Những ai đi ngược những điều trên, có âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Nhưng, trong mỗi đối tượng cũng có mặt cần tranh thủ, trong mỗi đối tác cũng có điều phải đấu tranh, đấu tranh để hợp tác. Sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh sẽ làm cho chúng ta tranh thủ được nhiều lực lượng ủng hộ và hạn chế những thế lực thù địch chống phá ta, tránh trực diện đối đầu, tự đẩy mình vào thế cô lập hoặc lệ thuộc.

5 – Hội nhập và đoàn kết quốc tế phải “dựa vào lực lượng nhân dân” ở trong nước cũng như trên thế giới.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pa-ri với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp. Ngoài những buổi tiếp xúc chính thức với đại diện chính phủ và các chính khách, Người dành nhiều thời gian gặp gỡ các đoàn thể quần chúng, giới báo chí và đông đảo Việt kiều. Qua các cuộc trò chuyện thân tình, Người đã phân tích tính chất chính nghĩa của nước Việt Nam mới, bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, chia sẻ niềm lo âu với các bà mẹ, người chị có con em bị điều sang Đông Dương. Nhờ vậy cuộc kháng chiến của Việt Nam đã tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân Pháp và chính họ đã góp phần tích cực vào việc buộc chính phủ Pháp phải đình chiến và rút quân khỏi Đông Dương. Về sau, Người cũng viết nhiều bức thư, gửi những lời nhắn nhủ đến nhân dân Mỹ để làm rõ tính chất xâm lược của đội quân viễn chinh Mỹ, nêu bật tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Người khơi gợi ở thanh niên, sinh viên và nhân dân Mỹ truyền thống đáng tự hào của nước Mỹ với những tên tuổi Oa-sinh-tơn, Lin-côn, Ru-dơ-ven; Người chia sẻ nỗi đau của những bà mẹ mất con, người vợ mất chồng trên chiến trường xa không vì mục đích lý tưởng cao cả. Trong các cuộc đi thăm các nước, Người cũng hòa vào quần chúng, thân mật thăm hỏi và khích lệ từ các cháu thiếu nhi, thanh niên đến các bậc phụ lão. Những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu phục trái tim nhân dân thế giới, đi vào lòng người, tạo nên sức mạnh tinh thần ủng hộ Việt Nam. Đó chính là “ngoại giao tâm công”, nền tảng của đường lối đối ngoại nhân dân, một mặt trận rộng lớn kết hợp chặt chẽ với hoạt động đối ngoại của Đảng và của Nhà nước.

Với đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa ngày nay, cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài được mở rộng, hoạt động đối ngoại không chỉ thu hẹp trong các cơ quan ngoại giao mà đã bao gồm toàn xã hội. Bất cứ ai, từ học giả, doanh nhân cho đến bất cứ người dân thường nào cũng đều có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài. Chính sự gặp gỡ đó là dịp giao lưu văn hóa, thể hiện đất nước và con người Việt Nam, phản ánh thành tựu kinh tế và xã hội Việt Nam. Cho nên tạo được những ấn tượng đẹp, tình cảm sâu trong con mắt người nước ngoài cũng là đóng góp vào thành quả của đối ngoại nhân dân. Đồng thời sự giao lưu với nước ngoài cũng tạo điều kiện để chúng ta hiểu biết về thế giới, về văn hóa thế giới và qua đó có thể tiếp thu điều hay, lẽ phải, đồng thời hạn chế những mặt xấu, tiêu cực. Như vậy, đối ngoại nhân dân chính là một mặt trận góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

*
*    *

Điểm lại một số nét cơ bản trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm sâu công ơn của Người và ra sức thực hiện những lời Người để lại. Tinh thần và tình cảm quốc tế của Người được ghi sâu đậm nét trong lời kết của bản Di chúc thiêng liêng: “Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Bốn mươi năm Bác đã đi xa, lời Người nhắn nhủ vẫn còn vang mãi với non sông, với đời đời con cháu./.

——————————————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội ,1996, t 12, tr 509
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 2, tr 301
(3) Văn kiện Đảng: Toàn tập (1940 – 1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr 114
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 220
(5) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 8, tr 437
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 19
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 434
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 303
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 489
(10), (11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 470, tr 74
(12) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 7, tr 244
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 126
(14) Văn kiện Đảng đã dẫn, t 8, tr 27
(15) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 65
(16) Hồ Chí Minh: Sđd, t 11, tr 271
(17) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 93

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đội ngũ đảng viên. Ngay từ năm 1925, bài giảng đầu tiên của Người cho những cán bộ cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam là vấn đề “tư cách một người cách mệnh”.

Nghiên cứu những bài nói và viết của Người, chúng ta đều thấy mối quan tâm hàng đầu của Người là xây dựng một đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản.

Người căn dặn mỗi đảng viên “không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”; phải biết đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết; nếu khi “lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì phải quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng”. Người chỉ rõ: suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân “là phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là đạo đức cách mạng. Đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của đảng, của giai cấp, của nhân dân”. Người đánh giá rất cao những đảng viên luôn luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đồng thời phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động.

Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi mỗi đảng viên cộng sản cùng với phẩm chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của Đảng giao cho. Người dạy rằng, “Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. Muốn vừa thạo về chính trị, vừa giỏi về chuyên môn, mỗi đảng viên phải ra sức “học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và năng lực công tác của mình”. Bởi vì, có học tập lý luận Mác – Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt được công tác Đảng giao cho mình; “có nắm vững đường lối cách mạng mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”. Người cũng chỉ rõ rằng, muốn học tập có kết quả tốt, phải có thái độ đúng và phương pháp đúng, lý luận phải liên hệ với thực tế, phải “biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một yêu cầu quan trọng về phẩm chất đảng viên là liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy quyền làm chủ tập thể và sức mạnh sáng tạo to lớn của quần chúng. Bởi lẽ, Đảng là đội tiên phong của quần chúng, nhưng Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên “phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo…Phải luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công, vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. “Người nghiêm khắc phê phán những đảng viên “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng…ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng…mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, không yêu…” và họ không làm nên trò trống gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách đảng viên cộng sản luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Bởi lẽ, sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Người đòi hỏi mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu về phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền. Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, người yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Bởi lẽ, đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Do đó, tất cả cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những biện pháp thiết thực để mỗi đảng viên cộng sản phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách của mình. Trước hết, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu…sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Việc giữ gìn bản chất, tư cách đảng viên cộng sản cần gắn với xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng, nhất là chi bộ, vì chi bộ “là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”. Thực tế đã chứng minh rất rõ: ở đâu chi bộ mạnh, cấp ủy mạnh thì đảng viên mạnh, ở đâu chi ủy, chi bộ rệu rã thì ở đó cán bộ, đảng viên tê liệt sức chiến đấu, dễ trở thành hư hỏng, thoái hoá. Cho nên, trong xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chi bộ, các cấp ủy đảng phải thực hiện dân chủ nội bộ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, đảng viên, kịp thời giúp họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống và công tác. Song, phải nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm; tẩy bỏ những phần tử hủ hoá nhằm giữ gìn nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới.

Cùng với việc giữ nghiêm kỷ luật, phải “mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên”. Người còn vạch rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”. Đồng thời, Người yêu cầu phải tăng cường công tác kiểm tra trong Đảng nhằm “thúc đẩy và giáo dục đảng viên làm trọn nhiệm vụ…,làm gương mẫu cho nhân dân” và xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đứng trước những vận hội mới và thách thức mới, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết chúng ta phải giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, xây dựng các tổ chức chi bộ vững mạnh, rèn luyện tư cách đảng viên với phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đảng viên cộng sản nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm củng cố tổ chức đảng, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đại tá, PGS.TS. Đinh Hùng Tuấn

vannghedanang.org.vn

Xây dựng Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(TCTG)- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam

V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng là phải có một đảng cộng sản, có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác và Lênin làm gốc”. Và trên tinh thần kế thừa, phát triển những luận điểm của Lênin về Đảng Cộng sản, trên cơ sở nhận thức sâu sắc về chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của các dân tộc phương Đông khác với phương Tây, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp chung của dân chúng, và muốn quần chúng đ­ược giác ngộ, đư­ợc tổ chức lại để tiến hành đấu tranh cách mạng, tất yếu phải có một tổ chức tiền phong lãnh đạo. Vì vậy, Người chỉ rõ: “Cách mạng trư­ớc hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững thì cách mệnh mới thành công, cũng nh­ư ng­ười cầm lái có vững thuyền mới chạy”[1].

Không dừng lại ở đó, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, cùng với việc tổ chức, giảng bài tại những lớp Huấn luyện chính trị, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán, sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và ra báo Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của Hội tại Quảng Châu trong những năm từ 1925- 1927, Hồ Chí Minh đã nỗ lực chuẩn bị một cách đầy đủ những tiền đề và điều kiện cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Tiếp đó, như một tất yếu khách quan của lịch sử, luồng gió mới của thời đại, những nguyên lý của học thuyết Mác- Lênin về Đảng Cộng sản, về phương pháp đấu tranh cách mạng, vận động quần chúng, về vai trò của các tổ chức quần chúng,v.v.. đã theo những hội viên của hội Việt Nam cách mạng thanh niên, theo những tờ báo Thanh Niên được bí mật truyền về trong nước, góp phần làm cho đời sống chính trị – xã hội trong nước có những chuyển biến tích cực. Và phong trào công nhân phát triển từ tự phát đến tự giác, phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta đã ngả theo khuynh hướng vô sản,v.v.. đã dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam trong những năm 1929- 1930.

Trong bối cảnh đó, để tránh nguy cơ phân liệt và mất đoàn kết, nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử của mình, Hồ Chí Minh đã viết thư mời đại diện các tổ chức cộng sản và triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng ta được thành lập, một hành trình đấu tranh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH bắt đầu.

Thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thời đại ngày nay, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất và độc nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Và trong cuộc đấu tranh giải phóng, dù là lực l­ượng cách mạng to lớn, nhưng do những hạn chế về mặt giai cấp, nên giai cấp nông dân không thể tự mình lãnh đạo cách mạng, mà phải liên minh với giai cấp công nhân, là đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân.

Tuy nhiên, cũng theo quan điểm của Người, Đảng dù là tổ chức của những người con ưu tú nhất của giai cấp công nhân và của dân tộc, nhưng Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận và nhân dân thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà, Đảng “phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất, chân thực nhất; chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành đư­ợc địa vị lãnh đạo”[2].

Thực tiễn quá trình ra đời và hoạt động của Đảng ta trong 82 năm qua đã chứng minh rằng: Vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Người còn xây dựng thành công một Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng cũng đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định bản chất của giai cấp công nhân của Đảng không chỉ là thành phần xuất thân của đảng viên, mà chính là nền tảng tư tưởng của Đảng – đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, là mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, là đ­ường lối của Đảng thực sự vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; đó không chỉ là việc tuân thủ những nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng kiểu mới, mà còn là thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy vinh quang và gian khó của Đảng, nên trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951), Người nêu rõ: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.

Xuyên suốt và nhất quán quan điểm này, khi Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư­, thiên vị” (9/12/1961). Ng­ười còn nói rõ thêm, Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những ngư­ời thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, nên luôn luôn và nhất định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung s­ướng”[3].

2. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trong điều kiện Đảng cầm quyền

Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Theo Hồ Chí Minh, là ng­ười lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, nhưng “Đảng cầm quyền, nhân dân là chủ” và mọi quyền hành, mọi lực lư­ợng đều ở nơi dân.

Ngay từ những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề này, và nhấn mạnh đó chính là điểm khác biệt, phân biệt bản chất của một chính Đảng vô sản kiểu mới với các chính đảng khác. Và dù là người lãnh đạo, song trong chế độ xã hội mới mà nhân dân ta đang xây dựng và tiếp tục xây dựng, thì quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc. Nguyên tắc đó khẳng định vai trò Đảng lãnh đạo cách mạng, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, đồng thời chỉ rõ: cán bộ, đảng viên của Đảng nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan công quyền thực sự là công bộc của dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, v.v… Nếu làm trái với những điều này, nếu cậy quyền, cậy thế, quan liêu, tham nhũng, những “ông quan cách mạng”, những kẻ “vinh thân phì gia”, vì quyền lợi ích kỉ của bản thân, gia đình, giòng họ mà xa rời mối liên hệ máu thịt Đảng – Dân, thì những con “sâu mọt của dân” ấy đã làm cho nguy cơ thoái hóa, biến chất, đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền đến rất gần.

Tiên liệu trước nguy cơ thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên trong Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: để Đảng cầm quyền bao gồm những người con ưu tú nhất của dân tộc, đó là những người công nhân, nông dân, lao động trí óc, và những người ưu tú của các giai tầng khác trong xã hội (đã giác ngộ cách mạng, sẵn sàng hy sinh phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân), thì những đội ngũ cán bộ đảng viên phải là những người “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Muốn vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng phấn đấu, học tập, để một mặt nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, phương thức lãnh đạo, mặt khác “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư­, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là ngư­ời lãnh đạo ng­ười đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[4]. Đây chính là một luận điểm quan trọng của Người về mối quan hệ giữa Đảng và Dân; Đảng và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Và cũng theo lời Người, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh trong điều kiện Đảng cầm quyền, tất yếu và thư­ờng xuyên phải tiến hành xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Phải chỉnh đốn nội bộ Đảng… Đảng ví nh­ư cái máy phát điện, các công việc trên ví như­ những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (1/1949); “Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư­ t­ưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí”(4/1952); và trong bản Di chúc lịch sử, Ng­ười nhấn mạnh: “Việc phải làm tr­ước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm đ­ược như­ vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(5/1968),v.v..

Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cán bộ, đảng viên phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư­ t­ưởng và kim chỉ nam cho hành động; nâng cao trình độ nhận thức, nắm vững bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững lập tr­ường, ph­ương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn, năng lực trí tuệ, nắm chắc thực tiễn cách mạng để hoạch định và kịp thời bổ sung chủ trư­ơng, đường lối của Đảng; chống giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa,v.v..Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải luôn tuân thủ và vận dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng: nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng về tư­ t­ưởng, ý chí và hành động, và trong mọi hoàn cảnh phải kiên quyết chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Đồng thời, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng thành công, một công việc không kém phần quan trọng, đó là Đảng phải phải loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hoá, biến chất ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, để Đảng luôn là bộ tham mưu tối cao, ưu tú của giai cấp và dân tộc, luôn luôn giữ vững đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phục vụ Tổ quốc và nhân dân.

3. Tiếp tục xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta từng b­ước tiến hành đổi mới chính trị, nhằm thực hiện mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ và sức mạnh của nhân dân. Trong khi đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã coi trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo đối với toàn bộ hệ thống chính trị và cả xã hội. Đảng phải thư­ờng xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo, trên tinh thần: 1/ Xác định đúng mục đích xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững và nâng cao năng lực hiệu quả, uy tín lãnh đạo xã hội về mọi mặt của Đảng. 2/ Xác định đúng chức năng của Đảng trong sự lãnh đạo xã hội về mọi mặt. 3/ Xác định đúng phương thức lãnh đạo của Đảng chủ yếu bằng hệ t­ư t­ưởng, lý luận, đư­ờng lối, chủ trư­ơng, và xác định đúng ph­ương pháp lãnh đạo tuyên truyền, giáo dục thuyết phục, kiểm tra và nêu g­ương của cán bộ, đảng viên, của tổ chức Đảng.

Trên tinh thần đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI ghi rõ: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của hệ thống đó, nên “Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[5]. Để Đảng đảm đương được vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng phải mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững truyền thống đoàn kết, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, luôn xây dựng và tự chỉnh đốn, v.v…

Đồng thời để đội ngũ cán bộ đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đến thành công, thấm nhuần lời dạy của Người: “Đảng có vững cách mạng mới thành công”, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng một cách nghiêm túc trên tinh thần đổi mới. Đó là thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới trong hơn tám thập kỷ; là cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ư­ơng VI (lần thứ 2) của Ban Chấp hành Trung ư­ơng Đảng khoá VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng“, trên cả ba lĩnh vực (nhận thức, tư­ t­ưởng, chính trị; đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên và một số vấn đề tổ chức); là triển khai thực hiệnHọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị và đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 12- khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” sâu rộng trong cả nước,v.v..

Trên tinh thần,”xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay”, và nhất là “chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, có năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI, mỗi cán bộ đảng viên của Đảng “phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng”[6].

Đó là yêu cầu, là nhiệm vụ bức thiết, thường xuyên của một Đảng cầm quyền, đó cũng là thực hiện theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” đưa sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của nhân dân ta đi đến thành công./.

Ths. Văn Thị Thanh Hương
Nxb. Chính trị Quốc gia

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.2, tr. 268

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.138

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.249

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.510

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.89

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.57

tuyengiao.vn

Xây dựng chế độ dân làm chủ

Bữa cơm đạm bạc của Hồ Chủ tịch với đồng bào.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng, kiểm soát mới thực hiện được nhà nước vì dân. Đó là nhà nước phục vụ vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh.

Năm 1919, nhân danh một nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, đòi các quyền tự do cho dân tộc mình, trong đó có nội dung đòi thủ tiêu nhà nước thuộc địa phong kiến, thiết lập một nhà nước dân chủ.

Người đã nghiên cứu mô hình nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, Người phát hiện ra ở đó, nhà nước nằm trong tay của số ít là giai cấp địa chủ phong kiến hay giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nhân dân lao động là lực lượng đa số trong xã hội.

Năm 1925 Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, năm 1927, Người xuất bản tác phẩm “Đường kách mệnh” đưa ra quan điểm “nhà nước của số đông”, thực hiện một nền dân chủ cho đa số nhân dân lao động. Người chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm kách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Năm 1930, trong các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng do Người soạn thảo, đã xác định mục tiêu làm cách mạng dân tộc và cách mạng thổ địa để thiết lập một nhà nước Công-Nông-Binh.

Năm 1941, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đề ra “Chương trình Việt Minh” trong đó nêu rõ: “sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa … chính phủ ấy do Quốc dân đại hội cử ra”.

Năm 1946, diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta, lập ra Quốc hội và các cơ quan tối cao của Nhà nước, Hồ Chí Minh được bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước. Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên do Người làm Trưởng ban soạn thảo. Từ đây hình thành mô hình Nhà nước dân chủ nhân dân do nhân dân lao động làm chủ, của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở n¬i dân”.

Dân chủ bao gồm dân là chủ và dân làm chủ. Dân là chủ nói lên bản chất của thể chế chính trị xã hội. Dân làm chủ là sự thể hiện trên thực tế thể chế chính trị được thực hành trong đời sống xã hội. Dân muèn làm chủ phải có tri thức, ý chí và hành động để xây dựng, phát triển và bảo vệ nền dân chủ. Dân chủ với đa số nhân dân, chuyên chính với thiểu số phản động chống lại nhân dân.

Nhà nước của dân, như Điều 1, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính ở trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 2, Hiến pháp năm 1992 qui định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Điều 32, Hiến pháp 1946 cũng qui định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”, đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp, cũng như ngày nay bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tiếp xúc cử tri, tiếp thu ý kiến của nhân dân tại các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân để nghe ý kiến, kiến nghị của cử tri đã trở thành nề nếp.

Sau khi bầu ra người đại diện cho nhân dân vào các cơ quan quyền lực nhà nước, dân cũng “có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.

Có những vị đại biểu đã lầm lẫn sự ủy quyền của nhân dân với quyền lực của cá nhân, sinh ra lộng quyền, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu dân, trở thành bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí “họ quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân chứ không phải cậy thế với dân”, dân chủ chứ không phải “quan chủ”.

Nhà nước do dân là do nhân dân lựa chọn thể chế chính trị, tổ chức hình thức nhà nước, dân bầu ra đại biểu đại diện cho mình. Nhà nước đó được dân ủng hộ, tin tưởng, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước tồn tại và phát triển. Nhà nước đó do dân kiểm tra, giám sát, phê bình nhằm phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”. Nghĩa là khi các cơ quan nhà nước không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì dân sẽ bãi miễn.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng, kiểm soát mới thực hiện được nhà nước vì dân: Đó là nhà nước phục vụ vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh.

Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Muốn thực hiện được dân là chủ và dân làm chủ thì tất cả đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức vừa là người đầy tớ phục vụ nhân dân vừa là người lãnh đạo của nhân dân. Đã là đầy tớ thì phải trung thành, tận tụy, sáng tạo, phục vụ nhân dân vô điều kiện. Đã là người lãnh đạo thì phải có hiểu biết, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, nhìn xa trông rộng, gần gũi nhân dân để tổ chức và hướng dẫn nhân dân biết làm chủ và dám làm chủ.

Như vậy để làm người đại diện cho nhân dân phải gồm đủ cả đức và tài mà “đức là gốc của cán bộ cách mạng”.

Nguyễn Doãn Kình

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm, chăm lo đến việc bồi d­ưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau – Thế hệ trẻ. Trong Di chúc, Người căn dặn “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết”(1). Nghiên cứu, học tập và vận dụng quan điểm của Ng­ười về chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ hiện nay là vấn đề có ý nghĩa chiến l­ược, nhằm đào tạo, bồi dưỡng lớp người kế tục vừa “hồng” vừa “chuyên” cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò của thanh niên đối với vận mệnh đất nư­ớc. Người nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(2). Vì vậy, Ngư­ời yêu cầu Đảng, Nhà nư­ớc, các tổ chức chính trị-xã hội, các thế hệ đi trước phải quán triệt sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Đồng thời, Ngư­ời cũng chỉ ra nhiệm vụ của thế hệ trẻ là noi gương những người đi tr­ước, thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của cách mạng. Người chỉ rõ: “Thanh niên muốn làm chủ cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho tương lai đó”(3).

Theo Hồ Chí Minh, “Muốn xây dựng CNXH trước hết cần phải có con người XHCN”, tức là xây dựng thế hệ tương lai, chủ thể của đất nước phải là một nhiệm vụ chiến lược, đi trước một bước so với xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích của việc chăm lo bồi d­ưỡng thế hệ trẻ là đào tạo ra những con ng­ười mới, những cán bộ mới cho cách mạng, những chiến sỹ cách mạng kiên cường đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Trước những điều kiện, hoàn cảnh mới trên thế giới và ở nước ta hiện nay, giáo dục, bồi d­ưỡng thế hệ trẻ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Giáo dục, bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ để thành người cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Theo Hồ Chí Minh, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ phải toàn diện: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(4). Trước hết và quan trọng nhất là giáo dục, bồi dưỡng lý t­ưởng cách mạng cho thanh niên. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, không có giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin cho lớp thanh niên yêu nước ở Quảng Châu (Trung Quốc), ở Liên-xô (cũ) và trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, thì không có thắng lợi của cách mạng tháng Tám và những thắng lợi sau này. Do vậy, trước hết và phải thường xuyên coi trọng giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên, mà hạt nhân là giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi thanh niên sống có lý tư­ởng cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thì dù khó khăn gian khổ thế nào, họ vẫn nguyện suốt đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp của Đảng, không từ bỏ con đường đã chọn, con đư­ờng đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Coi trọng giáo dục, bồi d­ưỡng về học vấn và năng lực hoạt động thực tiễn.

Bồi dưỡng, nâng cao tri thức toàn diện, sâu sắc cho thế hệ trẻ là nội dung rất quan trọng. Không có trình độ học vấn thì không có khả năng tiếp thu những kiến thức khoa học, kỹ thuật và do đó không đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng, không làm chủ xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”(5).

Quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thế hệ trẻ.

Thế hệ trẻ là người chủ tương lai của nước nhà, chúng ta không chỉ đòi hỏi ở họ cống hiến mà phải có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sự tiến bộ của họ. Những nhu cầu, lợi ích chính đáng được thoả mãn là một động lực trực tiếp thúc đẩy họ hoạt động tích cực và hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống, công tác, học tập của thanh niên, phải tránh thành kiến, hẹp hòi, cô độc”(6).

Nắm chắc ph­ương châm giáo dục, bồi d­ưỡng thế hệ trẻ.

Theo Hồ Chí Minh là: “Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”(7). Giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau phải xuất phát từ yêu cầu cách mạng mỗi giai đoạn, từ thực tiễn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song Y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là trí thức chỉ có một nửa. Trí thức của Y là trí thức sách vở, chưa phải trí thức hoàn toàn”(8).

Quán triệt T­ư t­ưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi d­ưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay cần phải tuyên truyền sâu rộng về vai trò của thanh niên, cũng nh­ư tầm quan trọng của việc chăm lo bồi d­ưỡng thế hệ trẻ. Không ngừng đổi mới, hoàn thiện nội dung, ph­ương pháp bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Trư­ớc hết, cần tập trung đổi mới nâng cao chất l­ượng giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, T­ư tư­ởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư­ tư­ởng và định hướng tình cảm trong thế hệ trẻ Việt Nam. Giáo dục cho thế hệ trẻ truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, đạo đức cách mạng, sống và làm việc theo pháp luật. Không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, nắm bắt những tri thức khoa học hiện đại, làm cho thế hệ trẻ biết kết hợp chặt chẽ giữa yêu n­ước và yêu chế độ XHCN trong hành động, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

………

1. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.498.
2,3. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr 185.
4. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr 190.
5. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 4, tr 36.
6. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr 235.
7. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 6, tr 50.
8. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr 235.
Hoàng Văn Vân – Nguyễn Phượng Toản
Hệ sau đại học, Học Viện chính trị

Hoàng Văn Vân – Nguyễn Phượng Toản
Hệ sau đại học, Học Viện chính trị

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với hành trình lựa chọn con đường dân chủ

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

1. Sức hấp dẫn của những giá trị dân chủ tư sản…

Đau xót chứng kiến nỗi thống khổ, cảnh lầm than của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cũng như nhiều sĩ phu và thanh niên trí thức yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý chí đuổi Pháp, giải phóng đồng bào. Rất khâm phục các sĩ phu dũng cảm tìm đường đấu tranh cứu dân, cứu nước nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng sớm nhận ra những hạn chế trong con đường của các vị ấy… Cụ Phan Chu Trinh yêu cầu thực dân Pháp thực hiện cải lương, việc này “chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương”. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, đã trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng còn nặng cốt cách phong kiến(1), mà con đường theo lập trường phong kiến thì đã hết thời…

Vào tuổi mười ba, nhận thấy sức hấp dẫn của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái… mà người Pháp đã tuyên truyền, Người muốn tìm hiểu xem cái gì ẩn dấu đằng sau những từ ngữ mỹ miều ấy… Sức hấp dẫn của các giá trị văn minh dân chủ phương Tây đã khiến không ít người nghĩ rằng Anh có thể giúp ta, có người lại cho rằng có thể cậy nhờ nước Mỹ… Nguyễn Tất Thành thấy, cần phải ra nước ngoài xem cho rõ. Người đã nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác làm ăn ra sao, nhất là xem họ “tổ chức và cai trị như thế nào”(2) rồi sẽ về giúp dân, giúp nước. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, đó là mục đích, “ham muốn tột bậc” của Người. Với mục đích và ý chí đó, Người đã rời Sài Gòn đi ra nước ngoài vào ngày 5 tháng 6 năm 1911. Như vậy, sức hấp dẫn trong buổi đầu tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành không phải lá cờ của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu… mà chính là lá cờ cách mạng dân chủ tư sản ở phương Tây.

2. Dân chủ tư sản, từ những điều mắt thấy…

Nguyễn Tất Thành đã đi nhiều nước, đến nhiều nơi, tiếp xúc nhiều nền văn hóa, chính trị và đã dần hiểu rõ thực chất của nền văn minh tư sản, nền dân chủ tư sản dưới các hình thức khác nhau của nó. Đến Pháp, Người nhận thấy, hóa ra cũng có những người Pháp tốt và ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Người Pháp ở Pháp tốt và lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương. Ở Pháp, những sinh hoạt dân chủ như lập hội, mít-tinh, tranh luận trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, nghệ thuật… là chuyện của các gia đình, của đàn ông, phụ nữ, người trẻ, người già, nhưng những ai dám vạch tội ác của thực dân, dám đấu tranh cho quyền độc lập dân tộc, thì sẽ bị cảnh sát mua chuộc, dụ dỗ, dọa dẫm và cấm đoán. Đến các thuộc địa của Pháp, Người thấy rằng, những người Pháp thực dân thì rất hung ác và vô nhân đạo. Người thấy nhiều người Pháp hết sức căm phẫn và thấy nhục nhã khi biết những tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa. Người nhận ra rằng, trong cuộc chiến đấu để giải phóng đồng bào, giành độc lập cho Tổ quốc, chúng ta không cô độc, bên cạnh chúng ta còn có những người bạn Pháp dân chủ, chân chính… Đến Mỹ, quê hương của bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, thăm tượng nữ thần tự do, Nguyễn Tất Thành đã viết: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”(3). Đến Ý, Thụy Sỹ, Người thấy Thụy Sỹ là một nước nhỏ, đường phố sạch sẽ, nhân dân có trình độ văn hóa khá cao; nước Ý có nhiều thành phố đẹp, nhiều lâu đài nguy nga, nhưng ở đây người thường dân thì cực khổ vì giá sinh hoạt đắt đỏ và thuế khóa nặng nề. Nói chung, ở các nước tư sản, ở trong nền dân chủ tư sản, tầng lớp trên sống một đời hết sức xa hoa và nhân dân thì sống một đời nheo nhóc(4)…

Vậy là, từ ách thống trị dã man, tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, từ nỗi thống khổ của đồng bào, từ những điều tận mắt trông thấy mà đau lòng ở những thuộc địa, nơi Người đã đặt chân tới, cũng như nếm trải, thấm thía những sự thật ở Pháp và các nước tư bản khác, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện ra những mặt trái của nền dân chủ và văn minh phương Tây. Sau sự kiện yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc-xây đòi những điều sơ giản nhất về dân chủ cho nhân dân Việt Nam của Người bị chính những kẻ nhân danh dân chủ từ chối thì những nhận xét của Người đối với nền dân chủ tư sản càng rõ rệt hơn. Người nhận rõ thực chất của nền dân chủ tư sản là “dùng chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”, “tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5).

Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị” của nhiều nước phương Tây, nhất là của nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh, Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ sự “không đến nơi” của cách mạng tư sản, “sự giả dối” của các tuyên ngôn dân chủ, nhân quyền tư sản. Cho dù, cách mạng tư sản, “cách cai trị” của tư sản, nhất là cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ có ý nghĩa nhất định đối với cách mạng Việt Nam nhưng con đường ấy, mẫu hình ấy không thể đem lại độc lập thật sự cho dân tộc và tự do, dân chủ, hạnh phúc thật sự cho dân chúng số nhiều. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc chính thức đoạn tuyệt với học thuyết dân chủ tư sản, từ chối nền dân chủ tư sản dưới các hình thức của nó. Người chỉ rõ, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã dạy chúng ta rằng, làm cách mạng thì không nên sợ phải hy sinh, và đã hy sinh làm cách mạng thì nên làm cách mạng cho “đến nơi”, nghĩa là làm cách mệnh rồi thì chớ để chính quyền trong tay số ít, chính quyền phải thuộc về dân chúng số đông.

3. V.I.Lênin và con đường giải phóng …

Đứng trong hàng ngũ đấu tranh của công nhân Pháp, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp và tham gia các hoạt động công nhân ủng hộ nước Nga Xô-viết. Lúc đầu, “về cảm tính” Người thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy, nhưng Người biết rất ít về V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Tháng 7-1920, Người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Trong văn kiện này, V.I.Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Tác phẩm của V.I.Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do thật sự cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(6). Như một lẽ tự nhiên, rất đơn giản và rõ ràng, sau khi đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, tin theo V.I.Lênin và quyết định lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười. Thời điểm đánh dấu bước ngoặt quan trọng này là tháng 12 năm 1920. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và Nguyễn Ái Quốc đồng thời cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Vậy là, từ hành trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn chính trị và lý luận hằng chục năm ở nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận dứt khoát. “Cách mạng có nhiều thứ”, “chủ nghĩa”, “học thuyết” cũng có nhiều nhưng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là thành công “đến nơi” và Chủ nghĩa Mác-Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”(7).

Vậy là, trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, muốn nước độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Muốn có dân chủ hoàn bị, triệt để thì Tổ quốc phải độc lập và phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước không có độc lập, thống nhất thì mọi thứ dân chủ chỉ là giả dối, chỉ là trò bịp bợm. Nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì. Chỉ có con đường cách mạng vô sản, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thật sự, dân chủ thật sự, dân chủ rộng rãi, dân chủ đến nơi. Nhưng để đi đến mục tiêu ấy thì mỗi nước tùy theo điều kiện của mình mà có thể có những bước đi khác nhau. Người khẳng định, “tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”(8).

4. Nền dân chủ vô sản non trẻ đầy sức sống ở Nga…

Được Luận cương của V.I.Lênin soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng ở Việt Nam. Người tích cực nghiên cứu xây dựng đường lối cách mạng và từng bước phác thảo về một chế độ dân chủ ở Việt Nam sau khi cách mạng thắng lợi.

Nước Nga đã làm cách mang thành công, nước Nga được nhiều người yêu nhưng cũng nhiều kẻ ghét. Có kẻ cho nước Nga là địa ngục, có người bảo nước Nga là một thiên đường. Cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Nga hoạt động trong Quốc tế Cộng sản và trực tiếp quan sát, nghiên cứu việc xây dựng nền dân chủ mới – dân chủ vô sản. Không gặp được V.I.Lênin, V.I.Lênin đã mất, nhưng Nguyễn Ái Quốc nhận thấy nhân dân và đất nước Nga đã hồi sinh. Nước Nga là một đất nước đang xây dựng có nhiều ưu điểm nhưng chưa kịp sửa chữa hết những khuyết điểm. Nước Nga còn thiếu thốn mọi thứ, vết thương chiến tranh còn nhiều nhưng những vết thương đang được hàn gắn nhanh chóng và khắp nơi nhân dân phấn khởi, hăng hái làm việc. Do đó, đối với Người, nước Nga chưa phải là thiên đường nhưng nhất định không phải là địa ngục!

Ở đất nước của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc không chỉ nghiên cứu lịch sử cách mạng, con đường, phương pháp và những kinh nghiệm cách mạng trong giai đoạn “giành chính quyền” mà Người còn rất chú ý tìm hiểu cách thức, kinh nghiệm tổ chức xây dựng chế độ dân chủ mới. Người nhận thấy, ở nước Nga mọi người đều ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ. Chính phủ giúp đỡ, khuyến khích nhân dân học tập. Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước nhưng thực tế do nông dân sử dụng. Mọi người làm chung và phân phối theo lao động. Những người ốm đau được chăm sóc không mất tiền. Trẻ em, phụ nữ được Nhà nước, xã hội, nhà máy chăm sóc chu đáo. Trẻ em được ưu ái trong nuôi dưỡng, học hành. Những gì tốt nhất đều để dành cho trẻ em… Do đó, nếu nước Nga chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người thì nước Nga đã là một thiên đường cho trẻ em(9)… Đó là kết quả vận dụng lý thuyết dân chủ xã hội chủ nghĩa vào điều kiện nước Nga. Đó là những ưu việt của một nền dân chủ mới dưới ánh sáng khoa học của học thuyết dân chủ cách mạng Mác-Lênin. Dân chủ đã trở thành hiện thực sinh động, nhân dân Nga đã sáng tạo nên một nền dân chủ mới đầy sức sống và bước đầu thụ hưởng những giá trị dân chủ đích thực của chính mình. Những thành công “đến nơi” của cách mạng Nga, những ưu việt thực chất của nền dân chủ mới ở Nga đã trở thành mẫu hình quan trọng đầy tính gợi mở để Nguyễn Ái Quốc từng bước xây dựng mô hình dân chủ cho cách mạng Việt Nam.

5. Thiết kế mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ ở Việt Nam…

Thiết kế xây dựng mô hình và nguyên tắc vận hành của nền dân chủ mới là một trong những vấn đề cơ bản của cách mạng nên đây cũng là một quan tâm lớn đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Điều này đã được Bác thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói, trong các giai đoạn khác nhau, trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước cũng như trong những chỉ đạo thực tiễn, khi Bác ở nước ngoài cũng như khi Người về nước, trong quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng, chuẩn bị giành chính quyền cũng như trong quá trình xây dựng, vận hành chính quyền mới, nền dân chủ mới. Theo Bác, nền dân chủ ở nước ta cần phải được xây dựng trên những nội dung cơ bản sau:

– Cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng của nền dân chủ: Chủ nghĩa Mác-Lênin, vì đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”.

– Mục tiêu của nền dân chủ: Nước được độc lập, nhân dân được hưởng ấm no, tự do, hạnh phúc, sung sướng. Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau có thuốc… “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(10).

– Mô hình dân chủ cộng hòa, trong đó,

+ Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là “dân là chủ”(11), “dân làm chủ”(12), “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Nền dân chủ xây dựng ở Việt Nam là nền dân chủ “tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân”. Hồ Chí Minh viết: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(13). Dân và nhân dân ở đây được hiểu với nội dung rất cụ thể và rộng lớn: gồm cả cộng đồng người, nhân dân, đồng bào, quần chúng nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh thiếu niên, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài. Những bọn tay sai cho đế quốc, thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc thì không thuộc nhân dân, đó là bọn phản nhân dân.

+ Nền dân chủ toàn diện, cụ thể, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nền dân chủ phải là: Về chính trị, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(14); xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Về kinh tế, xuất phát từ “chỗ bắt đầu đi của chúng ta” là “nước nông nghiệp lạc hậu”, nên dân chủ trên lĩnh vực kinh tế cần: tôn trọng, bảo đảm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, “công tư đều được chiếu cố, chủ và thợ đều có lợi”(15); trong đó, “kinh tế quốc doanh lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa”(16); dưới các hình thức, người lao động làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ trong quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”(17), “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng – những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Về văn hóa – xã hội, xây dựng một nền văn hóa “dân tộc, khoa học, đại chúng”, mọi người Việt Nam đều hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, có kiến thức để xây dựng đất nước; xây dựng đời sống mới trên tất cả các lĩnh vực trong cả nước đến hoạt động sống hằng ngày ở gia đình và cộng đồng dân cư; xây dựng đạo đức công dân, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học và bảo vệ của công…

– Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của nền dân chủ:

+ “Đảng lãnh đạo… công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính…”(18), nghĩa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhà nước, đoàn thể đối với dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh. Dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân. Nhân dân đối với đoàn thể và Chính phủ của mình thì phải giúp đỡ, theo đúng kỷ luật, làm đúng chính sách, đôn đốc, kiểm soát, phê bình để Chính phủ và đoàn thể làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó.

+ Để có dân chủ thật sự, “tư tưởng phải được tự do”. Tự do tư tưởng là, “đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”, “khi tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Và cần lưu ý rằng, “chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”, “ra sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tức là phục tùng chân lý”(19).

+ “Chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân; chúng ta cần mở rộng dân chủ đối với nhân dân, đồng thời cần tăng cường chuyên chính với kẻ địch của nhân dân. Có tăng cường chuyên chính với kẻ địch thì mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân ta”(20).

+ “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, để xây dựng nền dân chủ thì phải phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được đông đảo lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(21). “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(22). Trong đó, trước hết cần đặc biệt chú ý thực hành dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ ở cơ sở, ở nông thôn…

Tóm lại, với Bác Hồ, yêu nước gắn với yêu thương và kính trọng nhân dân. Ngày 5-6-1911, rời Tổ quốc đi ra nước ngoài, với Người, mục đích rất cụ thể: tìm đường cứu nước, cứu dân, tìm kiếm con đường để nước được độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, sung sướng. Đây là mục đích và cũng là “tiêu chí” để Người tìm kiếm, khảo sát, phân tích, đánh giá các lý thuyết giải phóng, các chế độ chính trị, các cuộc cách mạng, các nền dân chủ trên thế giới. Nghiên cứu lịch sử cách mạng và “cách cai trị”của nhiều nước trên thế giới, Bác nhận rõ cách mạng tư sản là “không đến nơi”. Trong thế giới bấy giờ chỉ có cách mạng Nga do đảng của V.I.Lênin lãnh đạo là thành công “đến nơi”. Do đó, để đi tới độc lập cho Tổ quốc, ấm no, tự do và hạnh phúc cho đồng bào, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Chủ nghĩa Mác-Lênin và tấm gương Cách mạng Tháng Mười. Đó là con đường xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác chính thức lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Mô hình dân chủ do Bác Hồ và Đảng ta thiết kế đã từng bước tỏ rõ sức sống và triển vọng phát triển của nó trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta, nhất là trong 25 năm đổi mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng.

Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực…”(23). Đảng ta coi đây vừa là mục tiêu, động lực, vừa là con đường, giải pháp cơ bản để từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là sự tiếp tục con đường dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

————–

(1), (2), (4), (9) Trần Dân Tiên – Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2004, tr 10-11; tr 41; tr 40; tr 58-62.
(3) Http://bee.net.vn/channel/1984/201004/Toi-xin-cat-loi-ca-muon-man-cua-hau-the-ve-Nguoi-1750687/
(5),(7) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, tập 1, NXB CTQG, H, 2002, tr 274; 388.
(6) Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo chí, NXB Thanh Niên, H, 2005, tr 260.
(8), (15), (18) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, NXB CTQG, H, 1996, tr 210; 361; 217.
(10), (17), (22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, NXB CTQG, H, 2000, tr 512; 568; 249.
(11), (14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, NXB CTQG, H, 1995, tr 515.
(12), (19), (20) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, NXB CTQG, H, 1996, tr 375; 216; 313,314.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H, 1995, tr 698.
(16), (21) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, NXB CTQG, H, 1996, tr 590; 593.
(23) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, H, 2011, tr 85.

ThS. Nguyễn Anh Tuấn
Trường Đại học Tây Nguyên

xaydungdang.org.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên

Màu xanh thanh niên tình nguyện

Trong Di chúc trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là hệ thống nhận thức tư duy, quan điểm lý luận của người về những vấn đề quan trọng: Nhìn nhận, đánh giá vai trò, vị trí của thanh niên trong tiến trình lịch sử qua các thời kỳ cách mạng; đường lối nội dung bồi dưỡng, giáo dục – đào tạo thanh niên thành lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; nhiệm vụ công tác thanh niên của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đội dự bị tin cậy của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tiềm năng, vai trò, vị trí to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, luôn tin tưởng và nhìn nhận thanh niên theo quan điểm phát triển. Ngay từ khi đất nước còn trong đêm đen nô lệ, Người đã nêu tư tưởng: Thức tỉnh thanh niên để đi đến thức tỉnh dân tộc. Vào những năm đầu khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”(1). Người cho rằng sự phát triển trong tương lai của đất nước và tiền đồ vẻ vang của dân tộc nằm trong tay thanh thiếu nhi. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Thanh niên “phải tham gia ý kiến vào công việc của chính phủ, chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự rèn luyện từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác những việc trọng đại của nước nhà”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ vai trò của thanh niên trên cả hai bình diện xã hội và mối quan hệ kết nối quá khứ với tương lai không thể tách rời nhau: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”(3). Vai trò này vô cùng quan trọng quyết định vận mệnh của dân tộc và của giai cấp công nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin và mong đợi ở thanh niên. Người đưa ra dự báo hết sức đúng đắn mà nay đã trở thành hiện thực: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận thanh niên theo quan điểm phát triển và toàn diện. Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải tránh thái độ thành kiến, hẹp hòi, bảo thủ, cô độc đối với thanh niên. Bởi theo người, thanh niên sống trong điều kiện mới tất yếu có những nhu cầu, lợi ích khác với cha, anh họ, không nên xem xét thanh niên một cách cứng nhắc, trước sao nay vậy. Người nói: cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết vấn đề một cách thiết thực.

Trên cơ sở nhìn nhận vai trò quyết định của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng và tương lai của dân tộc, đất nước, Người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác thanh niên. Chính người đã sáng lập, rèn luyện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhà nước đề ra các chính sách thanh niên phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, đặc biệt là về mặt giáo dục, đào tạo. Công tác thanh niên mà cơ bản là đào tạo, giáo dục, phát huy thanh niên theo Người là quá trình tác động đồng bộ của các chủ thể từ gia đình, đoàn thể, xã hội cho đến các cấp ủy đảng và chính quyèn. Người đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(5). Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho Đảng và dân tộc, Bác còn căn dặn: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nội dung bao quát của công tác thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình thành “lớp người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”. “Hồng” theo tư tưởng của Người là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”(6); còn “chuyên” là trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và quân sự.

Để thực hiện nội dung và mục đích của công tác thanh niên không có cách nào khác là giáo dục và tổ chức thanh niên. Vấn đề quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu là phải tổ chức thanh niên thành lực lượng chính trị hùng hậu chung quanh Đảng. Tổ chức tập hợp thanh niên là điều kiện để giáo dục và ngược lại phải tiến hành đào tạo, giáo dục thanh niên qua tổ chức. Phải kiên trì xây dựng một tổ chức thanh niên cộng sản làm cánh tay và đội hậu bị của Đảng.

Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (1956), Người dạy: “Đoàn là cánh tay đắc lực của Đảng để thực hiện những chủ trương, chính sách cách mạng”(7), Người còn căn dặn: “Phải củng cố tổ chức Đoàn, phải đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ và phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên”(8). Theo Người, củng cố tổ chức đoàn là điều kiện tiên quyết để mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên. Nhưng muốn củng cố tổ chức đoàn thì trước hết phải “đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ” để thống nhất ý chí và hành động trong nội bộ đoàn, làm cho tổ chức đoàn thật sự là tổ chức của những thanh niên tiên tiến, có lý tưởng cách mạng và phấn đấu kiên định vì lý tưởng đó. Tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người chỉ rõ: “Đoàn thanh niên lao động – phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục các thế hệ thanh niên, nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(9). Đây là một chức năng hết sức quan trọng của tổ chức đoàn với tư cách là một tổ chức quần chúng gần Đảng nhất mà trong Điều lệ Đảng từ trước đến nay đều ghi rõ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn phải ra sức đoàn kết, tập hợp thanh niên thành một mặt trận rộng lớn. Theo Người, đoàn kết tập hợp thanh niên là mặt công tác lớn, một nhiệm vụ rất quan trọng của Đoàn. Người yêu cầu tổ chức đoàn phải nghiên cứu tìm ra những hình thức và phương pháp thích hợp để đoàn kết và tổ chức thanh niên một cách rộng rãi và vững chắc. Các hình thức và phương pháp đó vừa thu hút rộng rãi thanh niên tham gia nhưng phải được định hướng vững chắc, nghĩa là có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, có tính ổn định và triển vọng phát triển. Theo Người, muốn củng cố và phát triển Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên. Phải quan tâm đến đời sống công tác, học tập của thanh niên và tất cả đoàn viên phải gương mẫu. Trong công tác xây dựng đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lưu ý về việc phải phát triển đoàn viên về số lượng đồng thời phải coi trọng việc nâng cao chất lượng. Người dạy: Tổ chức Đoàn phải rộng hơn Đảng… cố nhiên khi kết nạp đoàn viên cần phải lựa chọn cẩn trọng những thanh niên tốt.

Là người sáng lập và rèn luyện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bác Hồ luôn chú trọng vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên và công tác đoàn. Người căn dặn: “Chi bộ phải chăm lo xây dựng Đoàn thanh niên cho thật tốt”, đồng thời: “Trung ương và các cấp đảng bộ địa phương phải chăm sóc hơn nữa đến công tác thanh niên” trong đó vấn đề quan trọng là chăm lo công tác xây dựng đoàn để “phát huy tác dụng tiên phong của Đoàn về mọi mặt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất coi trọng vai trò của nhà nước trong công tác thanh niên. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người đã chỉ thị thành lập Bộ Thanh niên rồi Nha Thanh niên trong chính phủ để chăm lo công tác thanh niên. Người căn dặn công tác thanh niên “phải liên hệ với các lực lượng của chính phủ”. Điều này có nghĩa là muốn đưa công tác thanh niên đạt đến kết quả như mong muốn, trước hết Đảng cần tăng cường sự lãnh đạo và tổ chức sự phối hợp giữa nhiều lực lượng trong đó Chính phủ.

Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên là sự tổng kết lý luận và thực tiễn được nâng lên tầm cao qua các thời kỳ cách mạng, đang và sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta trên con đường xây dựng, tổ chức thanh niên thành lực lượng cách mạng, phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vì hạnh phúc, tương lai tương sáng của tuổi trẻ.

—————-

(1) Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, HN, 1980, tr.82, 84.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, HN, tr.29.
(3), (4) Hồ Chí Minh, Sđd, tr.315, 375.
(5) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập II, Nxb Sự thật, 1980, tr.129.
(6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, HN, 1980, tr.28, 165, 166.

Lê Văn Ri
Trung tâm Thanh thiếu niên miền Trung Số 226 Huỳnh Thúc Kháng,
TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

xaydungdang.org.vn