Tag Archive | Tin tức

Học tập cách viết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là nhà báo lớn của dân tộc. Người đã hoạt động báo chí liên tục suốt cuộc đời cách mạng của mình. Người để lại một di sản báo chí quý báu với khoảng 2000 bài báo đủ các thể loại. Tìm hiểu di sản báo chí đồ sộ của Bác Hồ, mỗi người làm báo có thể tiếp cận học tập được nhiều điều bổ ích cho công việc của mình. Bài viết này sẽ trình bày một số điểm thiết thực có thể học tập từ cách viết của Bác Hồ.

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957
Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957

Viết phải có mục đích

Hồ Chí Minh tâm niệm: “Viết và nói phải có mục đích, phải có nội dung”. Trả lời câu hỏi “Viết để làm gì?” Người khẳng định: “Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng”. Người cũng chỉ rõ thêm: “Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ Chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới” và “Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với mục đích như vậy, rõ ràng hoạt động báo chí nói chung và việc viết báo nói riêng không thể tách rời với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Điều này đòi hỏi người viết phải có lập trường chính trị đúng đắn, vững vàng, phải có nhãn quan chính trị sắc bén và phải có độ nhạy cảm chính trị – xã hội cao. Trong đó, ngòi bút của nhà báo phải hướng tới phục vụ lợi ích của Đảng, của dân, của đất nước và dân tộc.

Viết phải có nội dung

Về nội dung, Hồ Chí Minh xác định: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội”. Còn đối với địch “thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết…để gây lòng căm thù đối với quân địch”. Như thế, nội dung viết phải nhằm tới việc thực hiện mục đích viết, giúp cho việc đạt được mục đích viết. Nội dung viết phải chứa đựng những thông tin, những vấn đề của thực tiễn thực sự cần thiết cho bạn đọc, phục vụ lợi ích của bạn đọc, lợi ích của dân của nước. Muốn được như vậy, người viết phải năng động, xông xáo, bám sát thực tiễn, tìm tòi, phát hiện.

Viết phải đúng sự thật

Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”. Như vậy, Người yêu cầu bài viết phải bảo đảm tính chân thực. Không bảo đảm tính chân thực sẽ làm mất niềm tin của bạn đọc, sẽ không thuyết phục được họ. Muốn vậy, người viết phải bám sát thực tiễn, điều tra, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra, chọn lọc thông tin, phải thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin. Với tinh thần như vậy, Hồ Chí Minh căn dặn: “Không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”. Đáng tiếc là hiện nay nhiều người viết còn chưa thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin, vì nôn nóng muốn có tin bài ”nóng” mà không thẩm tra, cân nhắc kỹ lưỡng, đưa lên mặt báo những tin bài có nội dung sai lạc; điều này nhiều khi gây ra những hậu quả tiêu cực khôn lường.

Ngắn gọn

Ngắn gọn là điều Hồ Chí Minh rất chú trọng khi viết. Người chỉ rõ: “Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống”, nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”. Mình viết ra cốt để giáo dục, cổ động, nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích…”. Người giải thích: “Ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn với ý nghĩa như vậy đòi hỏi bài viết phải hàm súc, cô đọng, mỗi chữ, mỗi ý đều phải thực sự thiết thực, gắn với mục đích đặt ra, không có chữ thừa, ý thừa. Để đạt được điều này, điều tối quan trọng là người viết phải rèn luyện công phu. Hồ Chí Minh đã từng kể lại việc Người đã học viết báo công phu như thế nào, khởi đầu là viết ngắn, sau đó là viết dài, rồi từ viết dài phải tập viết ngắn lại, viết cho cô đọng ra sao. Viết dài, ba hoa, sáo rỗng rõ ràng là điều tối kỵ đối với người viết, nhưng không phải hiện nay người viết báo nào cũng tránh được điều này. Để bài viết được ngắn gọn, cũng cần chống tư tưởng viết dài chiếm nhiều “diện tích” trên mặt báo để được trả nhuận bút nhiều hơn.

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu là điều có thể nhận thấy rất rõ ở tất cả các bài viết của Hồ Chí Minh, dù các bài viết này thuộc thể loại nào, phục vụ cho đối tượng người đọc nào, nói về những vấn đề cụ thể nào của cuộc sống chiến đấu, lao động hay những vấn đề lớn nào của đất nước, dân tộc, thời đại. Theo Hồ Chí Minh, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu phải học cách nói của quần chúng. Có học cách nói của quần chúng thì mới được người đọc là quần chúng chấp nhận. Người dạy “chớ ham dùng chữ”, “viết phải thiết thực”. Mặc dù là người uyên bác, am hiểu văn hóa phương Đông, phương Tây, biết nhiều ngoại ngữ nhưng Người thường sử dụng từ ngữ đơn giản, thông dụng mà lại phản ánh đúng bản chất sự vật, có sức thuyết phục cao. Chính bởi vậy nhiều câu, nhiều ý trong các bài viết của Người đã đi vào đời sống và trở thành khẩu hiệu, phương châm hành động như: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…” vv… Người cực lực phê phán những cách dùng chữ cầu kỳ, không phù hợp đối tượng, ví dụ như đem “tân dân chủ nghĩa” giáo dục cho các cháu nhi đồng chẳng hạn.

Cái tâm người cầm bút

Tôi muốn dùng mục nhỏ này để thay cho lời kết của bài viết. Cái tâm là điều chúng ta có thể cảm nhận được và học tập từ tất cả các bài viết của Bác Hồ. Cái tâm là điều không thể dùng kỹ thuật viết thay thế được. Cái tâm ở đây chính là tình cảm rộng lớn và sâu sắc của Người đối với đồng bào, đồng chí, đồng loại, với các cháu thiếu niên, nhi đồng, với đất nước, dân tộc. Chính tình cảm lớn này đã góp phần quan trọng nâng nhà báo lớn Hồ Chí Minh lên tầm một danh nhân văn hóa kiệt xuất.

TS. Nguyễn Danh Bình
gdtd.vn

Thấm nhuần tư tưởng của Người về GD-ĐT

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Người thể hiện rõ  trong mọi chính sách, chủ trương về GD.

Ngay khi cách mạng Tháng 8 thắng lợi, Người đã khai sinh cho nền GD mới, tiến bộ; một nền GD dân tộc, nhân dân, khoa học, dân tộc và đại chúng. Và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn “những ngày trứng nước” của chính quyền mới, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Người còn đặt ra nhiệm vụ diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời bấy giờ với vận mệnh của dân tộc. Ngay tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người đề nghị “mở chiến dịch để chống nạn mù chữ”, và ngày 4/10/1945, Người ra “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”. Bởi Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Phát động phong trào chống nạn mù chữ, Người mong muốn mỗi người dân đều “Biết học, biết viết chữ quốc ngữ” để “Nâng cao dân trí”, “Giữ vững nền độc lập” và “Làm cho dân mạnh nước giàu”. Nhờ vậy, từ chỗ 95% dân số mù chữ trước Cách mạng Tháng 8, dân tộc ta đã vươn lên trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ của dân tộc. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường (tháng 9/1945): Người dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đặc biệt trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người đã một lần nữa khẳng định: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Đồng thời, Người căn dặn: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những căn dặn đó của Người cũng là những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà trường XHCN chúng ta trong quá trình GD-ĐT, dù ở thời kỳ nào, dưới hình thức nào. Thấm nhuần tư tưởng của Người và thực hiện những căn dặn mà Người để lại trong Di chúc, trong suốt 40 năm qua, ngành GD&ĐT nước nhà đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, nâng cao chất lượng GD – ĐT, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ XHCN, bước đầu đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới “sánh vai các cường quốc năm châu” như mong đợi của Người.

Có thể nói những căn dặn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân trong Di chúc là kết tinh của toàn bộ tư tưởng của Người. Đối với tư tưởng về GD, sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến GD toàn diện với sự cân bằng cả về GD đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách của con người mới – con người XHCN. Người từng dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền GD toàn diện ngày nay chúng ta hướng tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền GD trong khu vực và trên thế giới. Tư tưởng GD toàn diện của Người đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế kỷ 21, trước mắt là đến năm 2010, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng cốt thực hiện là ngành GD&ĐT.

Trong tư tưởng về phương pháp GD, Người đặc biệt chú ý đến vấn đề tự học và học tập suốt đời. Người quan niệm: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Điều này tương đồng với quan điểm của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tư tưởng tự học của Người có thể quy thành 5 vấn đề:

1 – Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

2 – Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.

3 – Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.

4- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.

5- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó.

Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy – học của nước ta mà trong suốt bao năm qua ngành GD&ĐT đã triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Ngày nay, xã hội chúng ta là một xã hội học tập, học tập không ngừng. Đảng và Nhà nước đã xác định GD là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho GD là đầu tư cho tương lai của nước nhà; chỉ có đẩy mạnh GD&ĐT mới có thể đưa đất nước sớm “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi. Riêng đối với ngành GD, không những ngày càng đẩy mạnh đổi mới GD, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm mà việc học đi đôi với hành đã thực sự được chú trọng, qua đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng GD-ĐT nước nhà thời gian qua.

Bên cạnh đề cao việc “tự học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác GD phải nhận thức đúng đắn “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng lớn này tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp GD, không chỉ bằng mặt vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng mặt con người mới cho thế hệ trẻ – những người kế thừa xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Còn nhớ sinh thời mặc dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn quan tâm theo dõi chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, “người tốt, việc tốt”. Tư tưởng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” của Người đã được Đảng, nhân dân ta và ngành GD&ĐT vận dụng một cách sáng tạo thành phong trào xã hội hoá GD đang phát triển sôi nổi và rộng khắp trên phạm vi cả nước hiện nay trên cơ sở xây dựng mối quan hệ giữa ba lực lượng GD: Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Trên cả nước, mạng lưới cơ sở GD không ngừng được mở rộng; các loại hình GD ra đời đáp ứng như cầu xã hội; các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở GD thường xuyên ngày càng được mở rộng với sự tham gia của toàn xã hội. Công tác xã hội hoá chưa bao giờ được coi trọng và đẩy mạnh như ngày nay. Để làm được điều đó, chính là nhờ chúng ta đã nhận thức đúng đắn được quan điểm của Người: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc thực sự là kết tinh toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta không ngừng học tập, noi theo; trong đó có những quan điểm, những lời căn dặn quý báu của Người về sự nghiệp GD-ĐT nước nhà mà ngành GD-ĐT ngày nay đã và đang thực hiện theo để sớm đưa nền GD nước ta đạt tới sự tiên tiến, toàn diện, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Người đã dặn.

Mai Thành Chung
gdtd.vn

“Cụ Hồ ở giữa lòng dân”

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là vị lãnh tụ, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam chúng ta. Người được tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên Hợp Quốc (Unesco) tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Hình tượng Bác Hồ đã đi vào thơ ca, nhạc, họa, và được thể hiện đặc biệt sinh động trong ca dao, dần tạo nên một kho tàng “Ca dao Việt Nam về Bác Hồ”.

Với mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ thân yêu và gần gũi như ruột thịt. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Để nói lên tâm tư, tình cảm của mình, nhân dân ta thường sáng tác ca dao. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có nhiều câu ca dao ca ngợi Bác Hồ. Những câu ca dao này nói lên tình cảm kính yêu Bác của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớn nhân dân trên các vùng miền đất nước.

Đối với nhân dân ta, Bác Hồ là tên gọi đẹp nhất, sáng chói nhất, lung linh nhất:

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Công ơn trời biển của Bác Hồ đối với đất nước, đối với dân tộc và toàn thể nhân dân ta là không gì có thể so sánh được:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ hơn cha
Ơn cao, nghĩa nặng bao la biển trời
Vì dân chiến đấu suốt đời

và:

Trên trời có ông sao Rua
Việt Nam ta có cụ Hồ, em ơi!
ánh sao Rua sáng ngời một góc
Gương cụ Hồ tỏ khắp năm châu.

Nhân dân ta đã dùng những hình anh so sánh cổ truyền để nói lên công ơn vĩ đại của Bác:

Đố ai đếm được trời sao
Đố ai đếm được công lao Bác Hồ
Đố ai lên được trời cao
Đố ai đáp được công lao Bác Hồ

Nhân dân ta cũng dùng những hình ảnh cụ thể, những sự vật cụ thể để ghi ơn công đức Bác, của Đảng.

Ngày xưa bưng lấy bát cơm
Nhớ thầy, nhớ mẹ phong sương cấy cày
Ngày nay bưng bát cơm đầy
Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên.

Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu cho nhân dân, cho đất nước. Đất nước ta, nhân dân ta cũng kính yêu người với tình cảm sâu sắc, bao la:

Lòng Bác rộng khắp bao la
Lòng dân, lòng Bác chan hoà nước non

Các cháu thiếu nhi thì luôn luôn ghi nhớ
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”

và luôn luôn các cháu mong đợi”

Bao giờ được Bác về chơi
Để cho các cháu khắp nơi đón mừng.

Trải qua những ngày kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ. Trải qua những ngày hậu phương tiền tuyến cùng góp sức, góp công, góp của chiến thắng khẻ thù xâm lược quỷ quyệt, tàn ác, nhân dân ta càng thấm thía công ơn của Bác:

Trèo đèo mới biết đèo cao
Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ.

Càng nhớ ơn Bác Hồ, mọi người, mọi tầng lớp nhân dân càng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được cách mạng phân công, giao phó:

Cụ Hồ với dân
Như chân với tay
Như chày với cối
Như cội với cành
Toàn dân dốc một lòng thành
Làm tròn nhiệm vụ, đáp tâm tình Cụ thương dân.

Nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh đã bao đời cực khổ vì bọn thống trị thực dân, bọn chủ mỏ bóc lột, áp bức:

Ăn cơm với cá mòi he
Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời

Họ mong ngày kháng chiến thắng lợi, ngày ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ về với vùng mỏ:

Bao giờ mà Cụ về đây
Bao nhiêu đau khổ một ngày sạch không
Ăn cơm với cá mòi bông
Lấy chồng Cẩm Phả sướng hơn ông chủ nhì

Nhân dân Nam Bộ với gậy tầm vông, với mã tấu, với lựu đạn đã đứng lên anh dũng chiến đấu chống đội quân xâm lược nhà nghề có vũ khí hiện đại cũng mong đợi:

Bài thơ Nam Bộ của Người, Người ơi
Có vần, có điệu đủ rồi
Còn đợi bóng Người in giữa bài thơ
Bao giờ độc lập Người vô
Bấy giờ là lúc bài thơ hoàn thành

Nhân dân Liên khu 5 trong những tháng ngày kháng chiến gian lao và trường kỳ luôn luôn nhận được tình thương bao la của Bác Hồ, trong lòng luôn luôn tâm niệm và mong ước:

Ai ngoài muôn dặm trùng dương
Cũng thường nhận được tình thương Bác Hồ
Mong ngày độc lập Cụ vô
Thoả lòng mong đợi, ước mơ đêm ngày.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (ảnh TL)

Nhân dân cả nước ta thấm thía công ơn của Đảng, của Bác Hồ. Có Bác Hồ, có Đảng, nhân dân cả nước mới có độc lập, tự do, có điều kiện để xây nền hạnh phúc cho bản thân mình và cho muôn đời con cháu mai sau. Người nông dân càng thấm thía công ơn của Bác mang lại ruộng đất, được làm chủ ruộng đồng, làm chủ quê hương. Công ơn Bác, hình ảnh Bác đi liền với hạnh phúc, ấm no:

Ơn Người lúa lại vàng tươi
Sắn khoai lại biếc mây trời lại xanh.

Đồng bào miền Nam khi tiễn con em ra miền Bắc tập kết theo Hiệp định Giơ – ne – vơ năm 1954 đã nhắn nhủ:

Con ra thưa với Bác Hồ
Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao

Bác Hồ ở giữa lòng dân, Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân cả nước. Hình ảnh Bác Hồ thật cao quý, thiêng liêng nhưng lại rất thân thiết, gẫn gũi:

Cụ Hồ ở giữa lòng dân
Tuy xa xa lắm mà gần, gần ghê
Mỗi khi thư Cụ gửi về
Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng.

Bác Hồ là lãnh tụ cách mạng, là hình ảnh của toàn dân tộc. Bác Hồ đem lại sự đổi đời cho đất nước, cho toàn dân, nhưng Bác Hồ cũng là người ông, người cha, người anh thân thiết của mỗi gia đình người Việt Nam chúng ta. Bác Hồ là người dẫn đường, là tấm gương sáng, là ngọn đuốc lung linh soi sáng cho nhân dân cả nước đi lên trên con đường tới độc lập, tự do và hạnh phúc. Bác Hồ là cả một chân trời:

Cụ Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu, là vừng thái dương
Chúng con đi giữa đêm trường
Nhờ cha dìu dắt, dẫn đường chúng con
Ơn cha như nước, như non
Như gương Hồ Thuỷ, như hòn Thái Sơn

“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đó là truyền thống đạo đức của nhân dân ta. Được sống trong đất nước hoà bình, độc lập, tự do, nhân dân ta càng thấm thía, càng ghi sâu công ơn và tấm gương đạo đức trong sáng, cao quý của Bác Hồ:

Uống nước là nhớ đến nguồn
Cơm no áo ấm nhớ ơn Bác Hồ
Ơn Bác Hồ sâu hơn Nam Hải
Công Bác Hồ bằng dải Trường Sơn
Nam Hải sâu ta đo cũng được
Trường Sơn dài ta vượt cũng qua
Công ơn của Bác bao la
Nhân dân kể đến bao giờ cho xong

Làm sao kể hết công lao của Bác Hồ và làm sao kể hết những câu ca dao của nhân dân ta viết về Bác Hồ vì nhân dân vẫn không ngừng sáng tác những câu ca dao, những bài cao dao ca ngợi công ơn của Bác. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu và cả nhân dân vẫn tiếp tục sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu… về Người. Và công việc ấy sẽ còn tiến hành mãi mãi…Đó là mạch nguồn cảm hứng vô tận, như nghĩa tình tha thiết dân Việt hướng về vị Cha già dân tộc kính yêu.

Đặng Trần Tụy
(Hội Văn Nghệ Dân gian Hà Nội)
gdtd.vn

Học tập “phong cách học tập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(GD&TĐ) – Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, trí tuệ, tài năng, nhân cách và lối sống mà còn là một mẫu mực về phương pháp và phong cách. Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà người đã để lại cho dân tộc và nhân loại.

Trong đó, phong cách học tập là một trong những nội dung cơ bản trong phong cách Hồ Chí Minh. Nghiên cứu ngày càng sâu về phong cách học tập Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm vĩ đại của Người với tư cách là nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà hoạt động thực tiễn lỗi lạc và là tấm gương sáng ngời đã để lại những bài học quý giá trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng và rèn luyện phong cách học tập của người cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Phong cách học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở động cơ học tập trong sáng, thái độ học tập đúng mực và phương pháp học tập khoa học, sáng tạo với phương châm lấy tự học làm trung tâm. Phương pháp đó là sự thống nhất biện chứng giữa động cơ, thái độ, nội dung và phương pháp học tập.

Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, người chủ tương lai của nước nhà… Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống nhân dân”.

Phong cách học tập Hồ Chí Minh là một cống hiến quan trọng, là đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận dạy – học của nước ta; trở thành một triết lý học tập; một giá trị nhân sinh cao đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ, tâm hồn và phong cách Việt Nam – phong cách đó rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hóa, có thể học tập và làm theo. Phong cách học tập Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách học tập đó không những tạo cơ sở khoa học mà còn là tấm gương mẫu mực và thiết thực cho mọi người học tập và tự học tập suốt đời để vươn lên không ngừng. Phong cách đó không chỉ là lý luận mà còn là cách thức và phương pháp soi đường và chỉ dẫn cho chúng ta học tập và noi theo.

Nét đặc trưng trong phong cách học tập Hồ Chí Minh mang tính độc đáo, đó là phong cách học tập hàm chứa những yếu tố rất giản dị, đại chúng với động cơ, mục đích cao cả, trong sáng mà thiết thực; với thái độ cầu thị, khiêm tốn nhưng lại đòi hỏi rất cao và hết sức nghiêm túc; với phương pháp học tập khoa học mà dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi… Cụ thể là:

Một là, động cơ học tập trong sáng vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại. Quan tâm, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục của nước nhà, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, “còn sống thì còn phải học”. Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học tập: “Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng” [1]. Tức là, trước hết phải có động cơ học tập đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của mình là vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của chính bản thân mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại ”[2 ].

Động cơ chính là động lực bên trong của mỗi con người, sự thể hiện nó được biểu hiện qua hành vi, thái độ và việc làm của con người đó. Do vậy, chỉ khi nào xác định được động cơ học tập đúng đắn thì mỗi chúng ta mới có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn và khoa học. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người học cũng phải nỗ lực, cố gắng và phải xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn; đồng thời không cho phép tồn tại những tư tưởng cơ hội, vụ lợi, thực dụng, ích kỷ cá nhân, hay những biểu hiện lười học tập, ngại rèn luyện, hoặc là dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt kết quả cao trong học tập. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và tương lai của cách mạng, học để hành”; “học để làm việc”; chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm quan cách mạng”… cho nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”[ 3].

Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò của việc học tập đối với người cán bộ cách mạng. Trong nhiều lần nói chuyện với giới trí thức, Bác thường nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Trên cơ sở nắm bắt được xu thế của thời đại và khả năng dự báo được tương lai, Người đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập”[ 4] và “nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được … không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Người thường dẫn câu nói của Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở bản thân, để giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi người.

Bản thân Hồ Chí Minh đã nêu gương mẫu mực về động cơ học tập trong sáng. Người học tập với một động cơ hết mực trong sáng và với một ý nguyện thật cao cả; việc học tập đó không chỉ dừng lại ở sự mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao trình độ tri thức và tiến bộ của bản thân, đó cũng hoàn toàn không phải vì bằng cấp nọ, học vấn kia… mà quan trọng hơn là để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[ 5]. Động cơ và mục đích này luôn luôn trở thành động lực thường xuyên và trực tiếp thôi thúc Bác một cách mạnh mẽ trong việc học tập, tiếp thu tri thức nhân loại.

Hai là, thái độ học tập đúng đắn, khiêm tốn, say mê, cầu thị, chân thành, không kiêu ngạo, không dấu dốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần học tập suốt đời, về thái độ khiêm tốn, say mê và cầu thị, không dấu dốt trong học tập.. Cho đến những năm cuối đời mình, Người vẫn chú trọng, không sao nhãng việc học tập. Tháng 5-1966, trong một buổi nói chuyện với các đồng chí đảng viên mới ở Hà Nội, Người đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[ 6]. Người cho rằng: “Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi” và “người nào tự cho là đã biết đủ rồi, thì người đó dốt nhất”, mỗi người phải biết khiêm tốn, chớ “kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”. Đức tính khiêm tốn yêu cầu, đòi hỏi con người ta không được thỏa mãn với vốn kiến thức của mình và cũng không được phép bằng lòng với những thành tích đã đạt được.

Ba là, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo và hiệu quả theo phương châm “lấy tự học làm cốt”. Việc xác định đúng động cơ và thái độ trong học tập là nội dung hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng để hiện thực hóa động cơ, thái độ đó; đòi hỏi tất yếu khách quan là phải xây dựng được phương pháp học tập khoa học. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và thông qua quá trình đó, Người đã hình thành cho mình một phương pháp học tập khoa học, đó là con đường tự học, với phương châm “lấy tự học làm cốt” và phải biết “tự động học tập”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: tự học, tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”[ 7].

Trong tự học phải xác định đúng nội dung tự học, “học cái gì”? Theo Hồ Chí Minh, nội dung tự học rất rộng lớn, bao gồm: học tập lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá, đạo đức… trong đó, Người luôn coi trọng việc học tập lý luận; bởi lẽ “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người luôn đặt ra yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”[8 ]. Mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất nhân cách và đạo đức cách mạng.

Muốn tự học thành công phải có kế hoạch cụ thể, khoa học. Kế hoạch học tập đó không phải là một sự tự do, tùy ý mà được xây dựng một cách chủ động, trên cơ sở căn cứ vào tình hình công việc, khả năng, thời gian và điều kiện phù hợp. Trong điều kiện thời gian không cho phép thì phải nắm cho được những vấn đề cơ bản,“phải thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Đặc biệt, theo Người, phải tự nguyện, tự giác; tích cực, chủ động và kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện kế hoạch đến cùng, phải xem công việc học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập; nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để học. Người vạch ra: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[ 9]; “Học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ”. Học tập trong kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Học đến đâu phải ra sức luyện tập thực hành đến đó, “học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Học đi đôi với hành cùng một lúc sẽ hình thành ở người học cả tri thức lẫn kỹ năng; do đó, “hành” trở thành một hình thức chính của “học”, quá trình “học” xảy ra trong chính quá trình “hành”. Trong buổi nói chuyện với cán bộ giảng dạy và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Ngày 20/10/1964), Người đã khuyên: Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lúc thanh niên cho đến khi trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thành người chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản quốc tế là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, lấy tự học làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ về mọi mặt của bản thân. Sự thành công của Người trong việc tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin và trong việc sáng tạo sách lược đấu tranh cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến cũng chính là kết quả của một quá trình tự học kiên trì, gian khổ trong cuộc đấu tranh cách mạng liên tục, kiên cường. Người đã tổng kết những kinh nghiệm quý báu về quá trình học tập – tự học suốt cả đời mình và đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá. Tuy nhiên, tự học ở Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tuỳ ý, vô nguyên tắc… Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học.

Thực tiễn sống động trên là minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất về ý thức, thái độ và cách thức học tập đúng đắn của Người; thể hiện sâu sắc và rõ nét một phong cách học tập khoa học, mẫu mực. Thế hệ hôm nay có thể tìm thấy trong phong cách học tập đó tinh thần học tập không mệt mỏi; không tư lợi, học để phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân; học tập một cách thông minh, sáng tạo; học ở sách vở, học tập thực tiễn, ở quần chúng… Ngoài ra, phong cách học tập Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế. Phương pháp học tập của Người là tùy theo điều kiện, thời gian mà thực hiện từng bước và có hiệu quả; đặc biệt, phải lấy tự học làm chính. Phải hết sức khiêm tốn, không dấu dốt.

Phong cách học tập của Người là một cống hiến quan trọng, đóng góp to lớn vào kho tàng lí luận dạy học của nước ta; trở thành một triết lí học tập, một giá trị nhân sinh cao đẹp tiêu biểu cho trí tuệ tâm hồn và phong cách Việt Nam – rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hoá. Phong cách học tập của Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách đó đã tạo cơ sở khoa học để mọi người giáo dục và tự giáo dục suốt đời để vươn lên không ngừng.

Nguyễn Văn Thanh
(Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)
gdtd.vn

Bác Hồ với giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò của đoàn viên, thanh niên, Người luôn dành tình cảm, sự quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, động viên đến các thế hệ thanh niên của nước nhà.

Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bởi theo Người, đoàn viên, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay yếu, suy hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên. Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò “Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai.” Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc.

Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi theo Người: “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên.

Bác Hồ với đoàn viên, thanh niênBác Hồ với đoàn viên, thanh niên

Để tuổi trẻ trở thành người cách mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần thiết phải giáo dục đoàn viên, thanh niên tính trung thực, ngay thẳng, tác phong khiêm tốn, giản dị, tinh thần lao động tích cực, siêng năng, táo bạo và sáng tạo. Đoàn viên, thanh niên phải luôn có tinh thần cố gắng vươn lên, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Không những thế, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay…đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

Thương yêu hết lòng và đặt niềm tin trọn vẹn vào đoàn viên, thanh niên, Người nhấn mạnh: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên “. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên “Muôn vàn tình thương yêu”,

Người đánh giá: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”; và căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng”vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Từ bức thư tâm huyết gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho đoàn viên, thanh niên tình cảm thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc ân cần.

Không chỉ chăm lo và giáo dục, cổ vũ đoàn viên, thanh niên học tập và phấn đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng, cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và nhân dân. Suốt đời phấn đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng đoàn viên, thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng – sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên  trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, tuổi trẻ cả nước đã phát huy truyền thống của thế hệ trước, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào: “Xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành cùng thanh niên lập thân lập nghiệp”, tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Thanh niên sống đẹp sống có ích”…

Những tình cảm, sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của Bác Hồ dành cho đoàn viên, thanh niên luôn là nguồn động lực cổ vũ, khích lệ tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Yên Bái nói riêng hăng hái, xung kích cùng toàn dân xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như Bác kính yêu hằng mong muốn.

Phạm Thị Duyên
gdtd.vn

Tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học cho thế hệ trẻ

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nhiều bài học quý giá cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Có những bài học được Người dạy trực tiếp hoặc lập ngôn, trước tác để lại, tuy nhiên cũng có những bài học mà thế hệ sau rút ra được từ tư tưởng, hành động của Người. Chẳng hạn từ tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể rút ra bài học về định hướng tương lai và hành động cho thế hệ trẻ.

Dưới chân tượng đài Bác Hồ (ảnh do đoàn cung cấp)Đoàn tình nguyện Hành trình xanh chụp ảnh lưu niệm nơi tượng đài Bác Hồ trong chương trình “Hành trình xuyên Việt 2011- từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng” (ảnh do đoàn cung cấp)

Có thể thấy, tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thuở nhỏ, khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, được giáo huấn lòng yêu nước, gần dân của gia đình; được thừa hưởng nền văn hóa truyền thống đấu tranh bất khuất của xứ Nghệ, lại tiếp thu truyền thống chống ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc để rồi hình thành ở Người lòng yêu nước thương nòi.

Đặc biệt khi được hầu chuyện cha với các sĩ phu yêu nước đồng thời là thầy học của mình như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân, Phan Bội Châu… Người dần hiểu được thời cuộc và nỗi ưu tư của các bậc thầy, cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Những câu chuyện đàm đạo đó đã truyền lửa tới tâm hồn Người. Và, vốn có tư chất thông minh, tư duy độc lập, Người đã ôm ấp chí lớn cứu nước, cứu dân. Với nghị lực phi thường, không chịu đi theo lối cũ của các bậc tiền bối, Người đã quyết chí đi sang phương Tây để thấy tận mắt đất nước của những kẻ đã tới thôn tính dân tộc mình, mong tìm con đường giải phóng dân tộc.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì Tổ quốc, vì dân tộc là mối quan tâm hàng đầu, trở thành tư tưởng trung tâm, cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người. Và tất cả những suy nghĩ, những lời nói, mọi hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhằm để thực hiện lý tưởng, hoài bão đó.

Năm 1911, với tên Văn Ba, Người ra đi tìm đường cứu nước. Tất cả những việc làm như phụ bếp, bồi bàn đến dọn tuyết, …, Người đều không từ nan để thực hiện lý tưởng. Trong suốt thời gian đó, hễ có cơ hội là Người thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình. Như tại Đại hội Tours cuối năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp, đến lúc biểu quyết, gia nhập Đệ Tam hoặc ở lại Đệ Nhị Quốc tế thì với tên Nguyễn Ái Quốc, Người bỏ phiếu cho Đệ Tam Quốc tế. Bởi vì Người hiểu rõ một điều Quốc tế thứ 3 rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế thứ 3 nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” .

Tìm con đường giải phóng dân tộc cứ canh cánh trong lòng Nguyễn Ái Quốc, như một lực hấp dẫn, chiêu cảm mạnh mẽ, để rồi dẫn đường Người tới với Sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa là “cái cần cho chúng ta, là con đường giải phóng chúng ta”.

Trở về nước năm 1941, Người chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trong thư Kính cáo đồng bào, Người khẳng định và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” . Thế rồi cách mạng tháng Tám thành công, chính Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” .

Rõ ràng, Tổ quốc và nhân dân là mối quan tâm thường hằng tạo nên những trăn trở thường xuyên trong tâm khảm Người. Trả lời các nhà báo, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Cuối tháng 5 năm 1946, nhận lời mời đi thăm hữu nghị nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Người đi vắng (4 tháng). Trước khi đi Người đã nói chuyện với đồng bào: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân […]. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” . Và Người nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến””. Đó chính là một triết lý, là mối quan hệ giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng,… là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng có muôn hình vạn trạng, có thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, biến hóa khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó. Ở đây cái bất biến của dân tộc Việt Nam trong lúc “ngàn cân treo sợi tóc” là Tổ quốc độc lập, dân tộc tự do. Chính với phương châm triết lý đó, ở nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nghiêm khắc trừng trị bọn Quốc dân Đảng gây rối, cũng như các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam non trẻ, giữ vững được nền độc lập dân tộc.

Nhưng chỉ sau một năm tuyên bố độc lập cho Tổ quốc trước toàn thể quốc dân đồng bào và quốc tế, thì thực dân Pháp định cướp nước ta một lần nữa. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đanh thép tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” . Và, chính bằng quyết tâm thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân và toàn dân ta đã đánh thắng giặc Pháp xâm lược, làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu.

Để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, tự do dân tộc, nhân dân ta hết kháng Pháp lại kháng Mĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, ngày 17/7/1966, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện câu nói bất hủ, cũng là nguyên lý, nguyên tắc đầu tiên và trên hết trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” . Đó là đỉnh cao của lý luận, được đúc rút từ thực tế đất nước Việt Nam, trong suốt cuộc đời hoạt động của Người và đã trở thành chân lý vĩnh hằng…

Như vậy, bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại thật nhiều. Có những bài học đã trở thành giá trị văn hóa có ảnh hưởng không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Từ tư tưởng chủ đạo và hành động suốt cuộc đời của Người, có thể rút ra nhiều bài học, nhưng nổi bật hai bài học quan trọng cụ thể là:

Thứ nhất bài học mang tính thực tiễn không chỉ dành cho lớp trẻ mà cho mỗi người dân đất Việt đó là: luôn có một tình yêu đối với Tổ quốc, với dân tộc, với đồng bào, với gia đình. Tình yêu đó phải thường trực mới có thể trở thành con người không bị thất cước, không mất đi cái bản thể, cái gốc của mình.

Thứ hai là bài học mang tính lý luận. Chúng ta thấy Người đã thực hiện theo đúng quy luật của tự nhiên, của triết học về mối quan hệ của bản thể và hiện tượng, giữa cái bất biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi. Bởi hoài bão, định hướng cứu nước, cứu dân trở thành bản thể cho tất cả những biểu hiện hành động của Người. Điều này cho mỗi người trẻ một bài học rằng cần có một lý tưởng, một mục đích tốt làm gốc cho sự phát triển cuộc đời.

Đành rằng mỗi người sẽ có một ý chí, một hướng đi khác nhau trong đời, nhưng điều quan trọng hàng đầu là sớm xác định cho mình một hướng đi đúng, một lý tưởng đẹp, một mục đích cao cả để từ đó làm cái đích hướng tới cho những hành động cụ thể trong cuộc đời của mình. Bởi chỉ có thể định hướng rõ kết hợp với tư duy thường trực và thường xuyên hành động thì mới sớm đạt được đích, gặt hái thành công.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

——————————

Tài liệu tham khảo:

Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Trẻ, 2005 (Bản PDF 11/2/2007), tr. 44.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 198.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 12.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 379.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 568.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 1018.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 110.

Học dân để lãnh đạo dân

Chính quyền về tay ta đã hơn 65 năm qua. Suốt thời gian ấy, mỗi lần không nghe dân, không học dân, cách mạng lại chịu tổn thất. Cải cách ruộng đất kết hợp với đấu tố là việc nông dân không đồng tình nhưng cán bộ bên dưới khi báo cáo đều cho chủ trương của trên là đúng và dân hoan nghênh. Lãnh đạo không chịu xuống cơ sở kiểm tra tại chỗ, chỉ tin vào báo cáo.

Bác Hồ về thăm xã Vinh Quang, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Ảnh: TL

Ngày 25-8-1956, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa 2) Bác Hồ đã nói: Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít nên bây giờ phải dân chủ. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này thúc đẩy chúng ta”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 6 – Trang 334).

Bài học dân chủ lúc nào cũng hết sức thiết thân với toàn dân, toàn Đảng. Nông dân hiểu rõ ai là địa chủ và nông dân cũng biết địa chủ nào đã hiến điền, đã tham gia kháng chiến, con cháu là đảng viên, cán bộ, nên về thực chất không còn là địa chủ nữa.

Một thời gian sau, Bộ Chính trị họp bàn về tổng kết Cải cách ruộng đất, Bác Hồ lại nói đến bài học dân chủ, quá tin vào kinh nghiệm nước ngoài và coi thường mọi ý kiến đóng góp của dân nên có lúc Đảng trở nên chủ quan, giáo điều, máy móc. Bác Hồ nhắc đi nhắc lại tại hội nghị: “Quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, chỉ tin vào người báo cáo”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 7 – trang 127).

Chỗ yếu của nhiều lãnh đạo là chỉ dựa vào báo cáo của cấp dưới, thiếu hẳn cảnh giác với nạn thành tích chủ nghĩa đã thành thói quen của các địa phương; nơi nào cũng ít hoặc nhiều “thành tích phô ra, xấu xa đậy lại”, lại còn tô hồng thêm báo cáo gửi lên trên. Qua 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ không còn lạ gì bệnh thành tích. Có nơi Bác về thăm, lãnh đạo đã chuyển lợn gầy của trại lợn tập thể đi nơi khác và mượn lợn béo của các cơ sở chăn nuôi cá thể mang về trại lợn của hợp tác xã nông nghiệp để khoe thành tích với Bác. Lại có nơi biết Bác về thăm đã bố trí nhà dân để Bác Hồ đến thăm, chủ nhà đã được bồi dưỡng để nói với Bác về thành tích còn thiếu sót chỉ nói qua loa. Chúng ta hiểu tại sao Bác Hồ đến bất cứ địa phương nào đều không báo trước để thực tế ở đó còn nguyên vẹn, chưa bị sắp xếp, trang trí, tô vẽ.

Bác Hồ đã nói: “Không gần gũi dân thì không hiểu biết dân, không hiểu biết dân thì không học hỏi được những kinh nghiệm và sáng kiến của dân, vì vậy không lãnh đạo được dân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 6 – Trang 68).

Đối với Bác, một Nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao dân thì sẽ thấy dân không chỉ nói lên điều dân mong muốn mà còn làm sáng tỏ trí tuệ của dân, gợi ý hoặc chỉ ra rằng dân cần luật lệ gì và luật lệ ấy phải có nội dung như thế nào, cơ quan Nhà nước cần giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh ra sao. Công cuộc đổi mới đã chứng minh rất hùng hồn, sinh động, không nghe dân, học dân đương nhiên Đảng không thể khởi xướng công cuộc đổi mới. Đổi mới là kết quả cụ thể của quá trình học dân, phát hiện cái mới trong dân. Nhiều sáng kiến đột phá giàu tâm huyết của dân là một nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương và biện pháp đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Khoán hộ là sự sáng tạo của nông dân Vĩnh Phú, ra đời năm 1966. Một cách làm ăn hợp với lòng dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao, dân không những đủ ăn mà còn có tích lũy, đóng góp cho Nhà nước đầy đủ nhưng lại không được thực hiện. Thoạt nghe khó tin, nhưng lại là sự thật rất nhỡn tiền. Mãi đến tháng 4-1988, khoán hộ mói được công nhận là hợp pháp và chỉ sau hai vụ lúa, năm 1989 nước ta đã xuất khẩu gạo. Nguyên nhân của sự chậm trễ quá đáng này là do không làm theo lời của Bác Hồ, nên một số lãnh đạo xa nông dân, chỉ tin vào báo cáo bên dưới, không chịu về bám nông thôn tìm hiểu tại chỗ, tại sao nông dân chỉ thích khoán hộ và không chịu chấp nhận khoán việc do trên áp đặt. Chắc chắn với đà đổi mới ngày càng toàn diện và mạnh mẽ như hiện nay, bảo thủ, trì trệ không thể cố thủ kéo dài 10 năm, 20 năm nhưng khoán hộ mãi mãi là bài học sâu sắc, nhắc nhở lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương phải giảm hẳn các cuộc họp và dành thời gian về cơ sở gần dân, học dân.

Học dân không phải dễ nếu về địa phương lại có đưa, có đón; đi đâu cũng có cán bộ địa phương đi theo thì dù có đến nhà dân hẳn hoi dân cũng không thể nói mọi sự thật, nhất là những tiêu cực liên quan đến địa phương. Phải có một cuộc cách mạng về cách đi công tác địa phương, làm sao để lãnh đạo dù giữ bất cứ chức vụ gì đều phải hiểu rõ về công tác địa phương là trách nhiệm được Đảng và Nhà nước giao phó, phải tự lo nơi ăn chốn ở, phải thanh toán sòng phẳng mọi chi tiêu; địa phương không phải đưa và đón, không phải chiêu đãi. Nhiều nơi biện bạch lãnh đạo trên về cần có chiêu đãi cho có tình cảm. Nếu thực sự là tình cảm thì phải bỏ tiền riêng của cá nhân, sao lại đều đưa ra nhà hàng, khách chỉ có một, hai còn chủ gấp năm, bảy lần, rượu ngoại hàng triệu đồng một chai; mọi chi phí do ngân sách Nhà nước tức là dân phải chịu. Bữa trưa cũng bia rượu, bữa chiều cũng bia rượu, thì đầu óc còn tỉnh táo sao được nữa để về cơ sở nghe dân, học dân.

Chỉ thị 54CT/TU của Ban Bí thư (khóa VII) đăng trên trang nhất báo Nhân dân ngày 27-3-1995 quy định lãnh đạo trên về địa phương công tác, cá nhân và đoàn đều phải thanh toán tiền ăn và ở và không được nhận bất cứ thứ quà biếu nào. Rất tiếc Chỉ thị này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh.

Học dân cần biết trân trọng ý kiến trái chiều, ý kiến ngược, cần lắng nghe và trao đổi, bàn bạc tìm ra câu trả lời cho những vấn đề dân đang rất quan tâm. Dân có những bức xúc không thể bàn với cán bộ địa phương, thấy cán bộ trên về họ rất muốn được gặp, được thổ lộ, tâm tình, tất nhiên với điều kiện phải làm cho dân tin. Đôi khi dân gửi thư lên cấp trên để phê bình khuyết điểm của cán bộ địa phương, nêu những băn khoăn thắc mắc mong được trên giải đáp hoặc đưa ra những kiến nghị về dân sinh, dân chủ mong được sớm thực hiện. Bác Hồ khuyến khích dân gửi thư lên trên, Bác coi đây là quyền dân chủ của mỗi công dân. Bác còn gợi ý dân gửi thư cần suy xét kỹ lưỡng, bày tỏ thật thà, viết tên, họ và địa chỉ rõ ràng thì cơ quan nhận được mới có thể điều tra, nghiên cứu. Bác căn dặn cán bộ, cơ quan, đoàn thể cần thật sự xem trọng ý kiến của quần chúng nhân dân. Trong sách “Hồ Chí Minh – Về Đảng Cộng sản Việt Nam” ở mục “Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”, Bác Hồ đã viết: “Thậm chí có cán bộ địa phương đã tự tiện bóc thư cấp trên gửi cho nhân dân, dùng dằng trao thư ấy cho nhân dân một cách chậm trễ, hoặc không trao mà cán bộ tự viết trả lời cho cấp trên (như Ủy ban Hành chính xã Đồng Minh – Nam Định). Có cán bộ đã dọa nạt nhân dân vì họ đã gửi thư cho cấp trên như Phó Chủ tịch xã Xuân Yên – Hà Tĩnh.

Làm như vậy các đồng chí ấy đã phạm kỷ luật một là bóc thư riêng của người khác, hai là bưng bít tai, mắt cấp trên, bịt mồm, bịt miệng quần chúng. Sai lầm ấy phải được chấm dứt”. (Trang 119).

Thái Duy
daidoanket.vn

Nhìn ra biển lớn: Câu chuyện lập chí của Bác thời trẻ

Nguồn YouTube

“Nhìn ra biển lớn” là bộ phim truyện nhựa kể về quãng thời gian hơn hai năm của thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ thời trẻ) vừa hoàn thành kịp tiến độ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Kịch bản phim “Nhìn ra biển lớn” của Giám đốc Hãng phim Hội Điện ảnh Việt Nam – Nguyễn Thị Hồng Ngát đã đoạt giải A trong cuộc thi kịch bản phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội do Cục Điện ảnh tổ chức và được Bộ VHTTDL đặt hàng sản xuất bộ phim này.

Diễn viên Minh Đức trong vai Nguyễn Tất Thành

Lát cắt thời gian trong câu chuyện phim từ năm 1908-1910. Thời điểm này, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đang là một học sinh xuất sắc của trường Quốc học Huế. Sớm nghe chuyện vua Hàm Nghi chống Pháp, sớm chứng kiến cảnh vua Thành Thái bị đi đày nên lòng yêu nước thù giặc càng thôi thúc trong lòng chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Bởi vậy, khi phong trào nông dân, tiểu thương biểu tình chống sưu cao thuế nặng, Nguyễn Tất Thành đã dũng cảm đi đầu trong đoàn người để phiên dịch giúp đồng bào. Phong trào bị đàn áp, Nguyễn Tất Thành bị thương. Sau đó anh bị đuổi học. Tìm vào huyện Bình Khê (Bình Định) nơi cha đang làm tri huyện, Nguyễn Tất Thành được cha dẫn đến gặp người bạn của ông là Hồ Tá Bang – Tổng lý Công ty nước mắm Liên Thành cũng là người đồng sáng lập trường Dục Thanh ở Phan Thiết để anh được dạy học tại ngôi trường này. Qua hai năm dạy học, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã để lại một dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí những thầy giáo, học sinh, những chí sĩ yêu nước. Dù lưu luyến nơi đây nhưng cuối cùng, như con chim bằng đã đủ lông đủ cánh sau bao ngày rèn chí, Nguyễn Tất Thành cũng vẫn lựa chọn sự ra đi. Thông điệp: “Muốn làm việc lớn phải dám ra biển lớn” của bộ phim thể hiện nổi bật ở đoạn kết này.

Tuy nhiên, có thể do thời gian thúc bách nên bộ phim không tránh khỏi một số hạt sạn. Ngôn ngữ được các nhân vật sử dụng trong phim là tiếng Hà Nội nên chưa tạo cho người xem sự đồng cảm. Nếu các nhà làm phim lồng tiếng đúng với âm điệu lời nói ở quê hương của chính nhân vật thì hay biết bao. Một số chi tiết chưa được tìm hiểu kỹ đã làm giảm đi sức hấp dẫn của bộ phim như chi tiết quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mắng con sao lại làm thông ngôn giúp bà con để bị đuổi học thì không hợp với điều mà quan Phó Bảng dạy con: “Đừng đợi đến tuổi tráng niên mà muộn, hãy gánh lên vai tất cả từ tuổi hoa niên”. Hoặc chi tiết cụ Nguyễn Sinh Sắc khuyên con không lựa chọn theo tư tưởng ông Phan Bội Châu thì không đúng với tư liệu lịch sử, trong đó cho biết ông Phan Bội Châu và cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng chí hướng. Hoặc chi tiết giữa khi biển động, Nguyễn Tất Thành dám ra khơi cùng ngư dân đánh cá nhưng trên phim lại là hình ảnh biển đẹp, nắng vàng, gió nhẹ, sóng lăn tăn, lưới nặng cá… và điều gây ngạc nhiên là một chàng trai từ bé đã gắn bó với biển như Nguyễn Tất Thành lại… say sóng.

Nhìn tổng thể, bộ phim “Nhìn ra biển lớn” đã khắc họa được khá sinh động giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng đã thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm lập chí của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Từ Khôi
daidoanket.vn

Tháng Năm nhớ Bác

Trong những ngày Tháng 5 lịch sử, toàn Đảng, toàn dân ta nhớ về ngày sinh của Bác với tấm lòng trân trọng và vô cùng thành kính. Bác có công lao vô cùng to lớn, đó là đem lại sự hồi sinh cho dân tộc ta, đưa đất nước ta từ nô lệ, lầm than trở thành một đất nước độc lập, tự do. Nhưng cái to lớn và vĩ đại hơn cả là những tư tưởng đạo đức, nhân văn của Người mãi mãi tỏa sáng trong hành trình phát triển của nhân dân ta và nhân loại tiến bộ.

Cả cuộc đời Bác Hồ kính yêu là cả cuộc đời “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Nhớ về những kỷ niệm Ngày sinh của Bác khi Người còn sống, Người thường tránh việc tổ chức linh đình, tốn kém, tránh quà cáp, biếu xén. Nhiều năm trên cương vị là người đứng đầu Đảng cầm quyền – Đảng Lao động Việt Nam, người đứng đầu Nhà nước – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác thường tránh mọi người tổ chức ngày sinh của mình. Khi thì Bác đi thăm thương binh, khi thì Người đi sang nước bạn. Có năm sang nước bạn, bên nước bạn phát hiện ngày sinh của Người, liền tổ chức chúc tụng, chiêu đãi, tặng hoa. Bác đã bày tỏ rõ tâm tình của mình là không muốn được mọi người tung hô, chúc tụng. Có lần Bác còn yêu cầu đồng chí Bí thư riêng của mình là nhắc mọi người dành quà mừng tặng sinh nhật Bác để giúp cho các cháu thiếu niên, nhi đồng có thêm điều kiện học tập, vui chơi. Ngày 19-5-1969, năm cuối cùng trên cõi nhân sinh, Bác đến thăm một lớp tập huấn các tướng lĩnh cao cấp toàn quân. Khi Bác đến, cả hội trường lặng đi, sau đó tất cả các đồng chí có mặt đều đứng dậy hô vang những lời chào mừng Bác. Nhân Ngày sinh của Bác, đồng chí đồng bào chưa kịp đến chúc thọ Người mà Người lại chủ động đến thăm và chúc Tết Quân đội. Hôm đó, một sĩ quan cao cấp của quân đội ta đã ôm một bó hoa lên chúc thọ Người và hứa với Người là sẽ làm tròn nhiệm vụ của Đảng, của nhân dân giao cho như lời Người dặn… Bác đến như nhắn gửi lời của Người nhân Ngày sinh của Người về một nỗi niềm lớn lao, một tâm nguyện lớn lao miền Nam phải được giải phóng, mà muốn giải phóng miền Nam, bên cạnh sức mạnh toàn dân, chiến tranh nhân dân, thì lực lượng chủ công quyết định chiến thắng là Quân đội nhân dân. Miền Nam với Bác, như Người đã nói: Miền Nam trong trái tim tôi! Chừng nào miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa thống nhất thì tôi ăn chưa ngon, ngủ chưa yên… Đồng chí Vũ Kỳ là người sống gần Bác đã kể lại câu chuyện Bác muốn đi thăm miền Nam năm đó. Chắc Bác đã linh nghiệm được điều mà mình khó có thể sống thêm được 5, 6 năm nữa, cho đến ngày giải phóng miền Nam, nên Người có ý định vào Nam. Bác đã dự liệu cho chuyến đi, các phương án đi, phương tiện đi, cách cải trang để đi… Nhưng các đồng chí trong Bộ Chính trị đã không dám để Bác đi bởi vì Người không thật khỏe.

Cả cuộc đời, Bác sống trong giản dị, đạm bạc, kể cả những năm tháng trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, của dân tộc, thay cho cháo bẹ, rau măng của những tháng ngày cách mạng còn trong trứng nước là cơm trắng, cá kho, cà muối, canh cua, không có cao lương, mỹ vị. Tất cả Bác còn lo và dành cả cho đời, cho dân, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trên cương vị là Chủ tịch Đảng mười tám năm, Chủ tịch nước hai mươi bốn năm khi đi thăm hỏi đồng bào, đồng chí, ít khi Bác báo cho biết trước và càng không cho tổ chức tiếp đón linh đình. Bác thường đến thăm nom từ chỗ đơn giản nhất, chỗ ăn, nơi ở, như người cha đến thăm con…

Tháng Năm nhớ Bác, học ở Bác đức tính khiêm tốn, giản dị, hết lòng vì dân, vì nước, vì những mảnh đời còn gian nan vất vả. Tháng Năm, có ngày sinh của Đức Phật, có ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mùa sen thơm ngát. Đức Phật dạy sống phải chân chính từ ý nghĩ, sự ham muốn đến việc làm. Bác Hồ dạy chúng ta, lời dạy có gốc từ đạo Nho, đạo Phật, chắt lọc tinh hoa của tiền nhân: Phải cần, kiệm, liêm, chính. Chữ chính tưởng như dễ mà khó, bởi vì trong mỗi con người đều đang tồn tại những ham muốn mang nặng chủ nghĩa cá nhân – một thứ giặc ở trong lòng, chỉ cần thiếu chịu tu dưỡng là nó kéo ta nhào xuống hố, học cái tốt thì khó như leo núi, khó mới phải kiên trì học.

Tháng Năm nhớ Bác và học theo Bác. Bài học thiết thực và hiệu quả nhất là nói đi đôi với làm, bởi vì sinh thời Bác đã dạy: Đối với các dân tộc phương Đông, một tấm gương sống có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Bác đã sống là một tấm gương trong sáng và mãi mãi sáng trong soi cho mỗi người con theo Bác, theo con đường mà Người đã chọn cho Đảng ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta./.

Theo vfu2.edu.vn
Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Hồi ức của một nhà ngoại giao về Chủ tịch Hồ Chí Minh

LTS – Ông E.P.Gla-du-nốp (trong ảnh) nguyên là Tham tán Công sứ Ðại sứ quán Liên Xô (cũ) tại Việt Nam,Vụ trưởng Vụ Ðông Dương Ðảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt. Trong thời gian công tác tại Việt Nam, ông đã có vinh dự nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt ông còn được trực tiếp dịch trong những cuộc gặp giữa Ðại sứ Liên Xô X.A.Tốp-man-xi-an và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Nhân dịp sang thăm Việt Nam, ông đã đến Bảo tàng Hồ Chí Minh kể lại những kỷ niệm của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin lược trích hồi ký của ông về những lần gặp và những cảm nghĩ của ông về Người.

Trong một lần khai mạc hội nghị có 54 Ðại sứ quán các nước, đồng chí Hồ Chí Minh đề nghị chọn ra người phiên dịch cho Ðại sứ Liên Xô X.A.Tốp-man-xi-an, và tôi đã được chọn. Thường khi có điện thoại do thư ký của Bác Hồ gọi đến, tôi sẽ lên xe đến Phủ Chủ tịch, có nhân viên ngoại giao ra đón. Theo thông lệ, cuộc gặp gỡ bao giờ cũng ở Phủ Chủ tịch, nhưng có khi chuyển sang ngôi nhà của người làm vườn. Mở đầu là những câu chuyện hội đàm chung, sau đó chuyển sang phòng chiếu phim, chiếu phim tài liệu của Việt Nam, Liên Xô hoặc quốc tế, thông thường có rất nhiều trẻ em cùng xem phim. Hồ Chí Minh khi xem phim thì bình luận những đoạn trong phim, trao đổi với Ðại sứ những cảnh quay trong phim, hoặc là nói với các em thiếu nhi những điều trong phim. Tôi lúc đó làm nhiệm vụ phiên dịch. Sau đó khoảng 15 – 20 phút, phim kết thúc, Bác Hồ đề nghị chuyển sang một phòng khác, hoặc ngôi nhà của người làm vườn, chúng tôi thường chuyển xuống phòng ở tầng 1, tôi thì không nhớ được vì thông thường lúc đó chỉ có Ðại sứ với Bác cùng đồng chí Phạm Văn Ðồng và đồng chí Hoàng Lương. Hồ Chí Minh thông báo cho Ðại sứ các vấn đề của Việt Nam, hoặc nghe Ðại sứ thông báo tình hình Liên Xô. Tôi không thể nhớ nội dung những cuộc đối thoại ấy vì nghề phiên dịch cần phải quên, khi chúng tôi nghe xong và ghi chép lại, sau đó đưa cho lãnh đạo và quên buổi phiên dịch đó. Tôi chỉ nhớ tính chất những buổi phiên dịch đó mang tính anh em thân thiện. Trong những buổi làm việc, mặc dù buổi trao đổi rất nghiêm túc, nhưng Bác thường vui vẻ và thân thiện.

Trong quá trình làm việc, thỉnh thoảng Bác lại hỏi tôi những câu hỏi rất đời thường như: Công việc của anh thế nào, cuộc sống ra sao? Ðại sứ cũng hỏi Hồ Chí Minh về tôi, thí dụ như tôi phiên dịch thế nào? v.v.

Có một lần Bác Hồ hỏi tôi kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam. Bác hỏi tôi đã đọc những cuốn sách của các nhà văn Việt Nam, thí dụ như nhà thơ Xuân Diệu chưa? Tôi trả lời có quyển tôi đọc rồi, có quyển chưa đọc.

Sau khi cuộc nói chuyện kết thúc, Bác Hồ tự nói với Ðại sứ Tốp-man-xi-an bằng tiếng Nga là có hỏi đồng chí phiên dịch về kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam.

Tôi muốn kể về lần gặp gỡ của tôi với Bác Hồ trong các buổi tiếp thông thường của Người với các chuyên gia nước ngoài ở Câu lạc bộ Quốc tế. Tháng 8-1962, tại Phủ Chủ tịch diễn ra buổi lễ kỷ niệm Quốc khánh Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dạo với các đồng chí lãnh đạo trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, mọi người thông báo với Bác đã đến giờ bắt đầu buổi lễ. Bác Hồ cầm mi-crô nói bằng các thứ tiếng: Việt, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc mời mọi người vào phòng, mọi người vỗ tay đồng ý. Trong buổi lễ đó, Người đã đến và mời tôi nâng cốc chúc mừng ngày Quốc khánh, lúc đó cốc của tôi chưa có rượu. Bác Hồ liền tự tay rót rượu vào cốc của tôi. Tôi rất lo lắng và hồi hộp, vì lần đầu tiên một nhân viên bình thường ở sứ quán được Chủ tịch nước quan tâm như vậy. Bác Hồ hỏi tôi:

– Cháu làm gì ở đây?

Tôi trả lời:

– Tôi là cán bộ Sứ quán.

Bác Hồ nói:

– Còn tôi là Chủ tịch nước, cán bộ bình thường thì phải tuân lệnh Chủ tịch nước.

Thế là Bác Hồ rót rượu mời tôi uống.

Ðó là thí dụ cụ thể về cách mà Bác Hồ tiếp xúc đối với mọi người, từ những người có cương vị cao đến những người có cương vị thấp, Bác đều không phân biệt ai cả, Bác đều chú ý. Người có một trí nhớ tuyệt vời, đã gặp một lần là không bao giờ quên. Ðến lần gặp gỡ sau, Bác coi tôi như một người thân quen, hỏi tôi về gia đình, vợ con, về mọi người trong gia đình tôi, về công việc, v.v.

Lần gặp sau, khoảng tháng 5 năm sau đó, tôi được gặp Bác trong dịp mừng chiến thắng phát-xít, Người cũng đến và phát kẹo cho thiếu nhi, sau đó Người lại đến hỏi tôi:

– Cháu thế nào, cháu có khỏe mạnh không? v.v.

Tôi vô cùng kính trọng Bác Hồ. Người không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, mà còn là một con người có những phẩm chất rất tuyệt vời. Tôi muốn nói, hiện nay trải qua rất nhiều năm, tên tuổi Hồ Chí Minh vẫn được mọi người nhớ và kính trọng. Hồ Chí Minh đặt nền móng cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô, tên tuổi Người chắc chắn còn được nhắc đến mãi vì Người đã đưa ra sáng kiến thành lập Hội Hữu nghị Xô – Việt (Hội Hữu nghị Nga – Việt hiện nay). Người không chỉ là “kiến trúc sư” xây đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Người còn xây dựng mối quan hệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… giữa Việt Nam và Liên Xô. Ðiều đó càng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có chỗ đứng vững chắc trong lòng người dân Xô-viết cũng như người Nga hiện nay, mặc dù qua bao biến đổi của thời gian, những cuộc chính biến.

Theo quan điểm của chúng tôi, Liên Xô cũng như nước Nga cần nói lời cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Người chính là cầu nối quan trọng giữa nhân dân Liên Xô với Việt Nam. Trước Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam chưa có tên trên bản đồ chính trị thế giới, mà lúc đó là thuộc địa của Pháp. Bác Hồ đến Liên Xô từ năm 1923, những độc giả Liên Xô đã biết về đất nước Việt Nam qua bài báo, tác phẩm của Bác. Người tham gia Ðại hội Quốc tế Nông dân, tham gia Ðại hội VI, VII Quốc tế Cộng sản và đã làm cho mọi người biết đến đất nước Việt Nam. Người quảng bá cho đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Hồ Chí Minh còn là một nhà mác-xít xuất sắc. Người luôn nói Người là học trò của Lê-nin, bởi vì Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam. Lịch sử đã cho thấy Hồ Chí Minh còn là một nhà chiến thuật rất tuyệt vời. Năm 1945, khi cách mạng Việt Nam ở thế nghìn cân treo sợi tóc, khi ở Việt Nam có cả quân Nhật, có cả quân Pháp, Hồ Chí Minh đã tìm ra biện pháp và lối thoát ra khỏi tình thế này. Hồ Chí Minh còn rất yêu trẻ em. Người yêu trẻ em vì đó là thế hệ tương lai của đất nước.

Tôi xin nhắc lại lời của Ðô-ra-rét In-ba-ru-rin, đảng viên Ðảng Cộng sản Tây Ban Nha khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người huyền thoại, một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà mác-xít Lê-nin-nít. Quan điểm của chúng tôi, Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

HOA ÐÌNH NGHĨA
(Bảo tàng Hồ Chí Minh)
nhandan.com.vn

Ký ức về Bác trong lòng người cận vệ xưa

ANTĐ – Suốt 10 năm thực thi nhiệm vụ bảo vệ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, cũng chừng ấy năm, ông được vinh dự theo chân Bác đi khắp mọi miền của tổ quốc. Qua những chuyến đi đó, ông học được rất nhiều đức tính cao đẹp từ con người của Bác, để rồi hôm nay, dù Bác đã ra đi nhưng những đức tính đó vẫn ngấm sâu vào tâm hồn của người cận vệ.

Bức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo năm 1968
(ông Thưởng ngồi bên cạnh Bác, trên tay bế một cháu nhỏ)

Niềm vinh hạnh 10 năm theo chân Bác

Ông Lê Minh Thưởng (SN 1941, trú tại xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) sinh ra trong một gia đình thuần nông tại vùng đất Nghi Thịnh. Sau khi học xong cấp 2 trường làng, ông Thưởng tình nguyện làm đơn đi nghĩa vụ quân sự nhưng không thành. Ấp ủ ước mơ được đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng đất nước vẫn ngày đêm thôi thúc ông, năm 1959, ông được tuyển vào công an vũ trang (nay là bộ đội biên phòng). Cũng trong năm đó, ông được đơn vị cho đi học tại trường C500.

Một năm sau, ông Thưởng tốt nghiệp ra trường và được điều về công tác tại cục cảnh vệ với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ. Khỏi phải nói, khi nhận nhiệm vụ mới, ông Thưởng vui mừng đến độ nào. Vậy là từ nay ông sẽ được làm việc gần Bác và đặc biệt là ông lại đảm nhận việc bảo vệ cho Người. Nhiệm vụ lớn lao và vô cùng quan trọng, ông cũng thấy thật tự hào vì ông được Đảng và nhân dân tin tưởng. Ban đầu, khi mới về, ông Thưởng được phân công trực gác ở vòng ngoài, một thời gian sau, ông được phân công trực tiếp bảo vệ Bác. Ông Thưởng chia sẻ về niềm vui ngày chính thức làm cận vệ cho bác, từng câu nói của ông hào hứng như chúng vừa mới xảy ra hôm qua, dù đã 43 năm trôi qua: “Tôi không thể kể hết niềm vui sướng của mình trong cái ngày mà tôi được phân làm cận vệ cho Bác, bảo vệ Bác chính là được bảo vệ cả Tổ quốc. Tôi thấy mình thật may mắn, đó là một vinh hạnh của cả đời tôi”.

Hạnh phúc xen lẫn với nhiều lo lắng, bởi ông Thưởng cũng sợ rằng mình không làm tròn trách nhiệm của mình để ảnh hưởng đến cả đất nước. Do đó, mỗi ngày làm việc, ông đều cố gắng hoàn thành thật tốt công việc của mình. Suốt 10 năm theo chân bảo vệ Bác, chừng đó thời gian cũng giúp ông có cơ hội ở bên Bác nhiều hơn và học được nhiều điều từ Bác.

Suốt 10 năm theo chân Bác cùng là thời gian để ông Thưởng có cơ hội hiểu rõ hơn về Bác. Và giờ đây, khi sống trong thời bình, ông Thưởng vẫn không quên hình bóng của người cha già dấu yêu. Trong căn nhà nhỏ của mình, ông vẫn dành riêng một gian để bày những búc ảnh và những kỷ vật mà ông giữ được trong thời gian làm việc cạnh Bác. Đối với ông, những bức ảnh đó như là những báu vật vô giá mà “dù nhà có nghèo rớt mồng tơi mà có người ta trả giá cao để mua” ông cũng không bao giờ bán. Ông thường ngồi lặng yên trong căn phòng đặc biệt này mỗi khi ông nhớ về quá khứ. Đến nay, dù đã vào cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông Thưởng vẫn giữ được phong thái của người bộ đội cụ Hồ, nhanh nhẹn, tháo vát. Hàng ngày, dù làm bất cứ việc gì, ông cũng đều lấy chuẩn mực đạo đức sống của Bác khi xưa làm kim chỉ nam. Vì lẽ đó, trở về làng quê Nghi Thịnh, hỏi đến ông Lê Minh Thưởng ai cũng đều biết, không phải vì ông giàu hay nổi tiếng vì lý do nào mà vì ông là một trong rất ít người có được niềm vinh hạnh bảo vệ Bác Hồ.

Hình ảnh Bác qua ký ức của người cận vệ xưa

Ông Thưởng ôn lại kỉ niệm xưa qua những bức ảnh

Được ở bên cạnh, làm cận cho Bác thực chẳng dễ dàng. Đến nay, trong tâm trí của ông Thưởng vãn nhớ như in những kỷ niệm về Bác Hồ trong suốt những tháng ngày theo chân Bác. Khi mới vào làm việc gần Bác, ông Thưởng còn khá nhút nhát, thấy vậy Bác nói: “Con người ta sợ nhất là giấu dốt, nếu biết chuyện gì thì cứ nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Con người như thế đã dốt lại còn dốt hơn và mang tiếng tự cao, tự đại”.

Một lần vào Tết năm 1964, ông Thưởng cùng các đồng chí khác cùng Bác đi chợ Đồng Xuân để tìm hiểu về nguồn lương thực, thực phẩm chuẩn bị cho người dân ăn Tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm. Lại hàng thực phẩm tự do Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh tiến lên phía trước và hỏi lại bằng giọng Bắc khiến cô bán thịt không để ý nữa.

Một lần nữa, trên đường đi công tác tại Thanh Hoá, khi phát hiện Bác về, người dân ùa ra vậy kín cốt để một lần được thấy Bác bằng xương bằng thịt. Ông Thưởng cho biết: “Đi cùng Bác để bảo vệ, thực ra chúng tôi không sợ có ai ám sát nhưng chỉ sợ dân mình biết ai cũng ra sức chen vào để được thấy Bác mà thôi”. Trong suốt những chuyến đi đó, đi đến đâu Người cũng rất giản dị, không quan cách và sống rất gần gũi nhân dân. Lần Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hoá, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm đã bỏ dụng cụ làm việc ào chạy về phía Bác. Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi vòng vây.

Đọc báo và chăm sóc cây cảnh là niềm vui của ông Thưởng khi về già

Chính từ những lần được gần Bác, ông Thưởng lại được Bác bày dạy cho những điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng dấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt, là tự kiêu…”. Dù đi đến đâu, trong chuyện ăn uống Bác cũng rất giản dị. Nhiều địa phương, thấy Bác về nên thiết đãi tiệc, nhưng Bác không vừa lòng. Bác nói: “khi đất nước còn khó khăn mọi thứ đều phải tiết kiệm thì bản thân một người cán bộ phải gương mẫu thực hiện để người dân lấy đó mà noi theo”.

Sau khi Bác qua đời, ông Thưởng lưu lại Phủ chủ tịch 1 năm để bàn giao công việc, sau đó ông được điều về làm việc tại cục cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông lại được luân chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ đội trưởng đội săn bắt cướp. Trong quãng thời gian công tác với nhiệm vụ mới, ông Thưởng và đồng đội đều lập được nhiều chiến công làm bao tên tội phạm khét tiếng một thời phải nể phục. Năm 1990, ông Lê Minh Thưởng về hưu với quân hàm trung tá, suốt thời gian hoạt động, ông Thưởng nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.

Thoáng chút trầm ngâm, ông Thưởng bộc bạch: “Có ở gần Người mới biết được cái tâm của Người như thế nào. Người quả thực là vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta, lớp hậu sinh có học hết cả đời cũng không thấm nhuần hết đạo đức của Người”. Vì lẽ đó, khi về với cuộc sống thường nhật, ông Thưởng cũng học tập theo tấm gương đạo đức của Bác, sống giản dị và luôn quan tâm mọi người. Đặc biệt, thế hệ con cháu trong gia đình, ông Thưởng đều răn dạy theo tấm gương của Bác. Những câu chuyện về chặng đường hoạt động của Bác như một kho tàng truyện mà cứ mỗi lúc rảnh rỗi, hay khi có đông con cháu ông Thưởng lại kể cho các con, cháu cùng nghe. Khi đó, con người ông như thực sự sống lại giai đoạn ấy. Nghe lời cha, ông, con cháu trong gia đình ông Thưởng lại lấy chuẩn mực đạo đức của người để học tập và noi theo.

Trịnh Nguyễn
anninhthudo.vn

Kỷ niệm về Bác

Tháng Năm về, hình ảnh Bác Hồ – người cha già dân tộc gần gũi, nhân từ và rất đỗi cao đẹp như hiển hiện trong lòng mỗi người dân đất Việt. Từng vinh dự được gặp Bác, những người cựu chiến binh xúc động nhớ về Người với niềm tự hào và kính trọng sâu sắc. Những kỷ niệm và hình ảnh đẹp về Người mãi mãi khắc ghi trong trái tim của những người lính năm xưa. 

“Ghế của Bác chứ có phải ngại đâu mà các chú ngại” Ông Nguyễn Ngọc Châu, 83 tuổi, nguyên Chính ủy Trung đoàn 600 bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1953-1969 xúc động kể lại: Mỗi tối thứ 7, anh em bảo vệ lại được quây quần cùng xem phim với Bác trong tình cảm chan hòa như tình ông-cháu, cha-con ruột thịt, không hề có cảm giác xa cách. Bác cũng thường hay nói đùa nên không khí rất vui vẻ. Có lần xem một bộ phim thần thoại của Pháp, đồng chí thuyết minh chưa kịp xem trước, chỉ căn cứ vào bản dịch để đọc nên không khớp với hình ảnh. Bác bèn bảo: “Chú thuyết minh như thế thì làm hỏng phim mất. Chú đứng lên !”, rồi Bác ngồi vào ghế thuyết minh liền cả 3 tập. Kết thúc buổi chiếu, tôi để ý thấy mọi người đều nói: “Hôm nay mà không có Bác dịch thì hỏng cả buổi xem phim”.

Nhiều lần xem phim sau này, hễ thấy thuyết minh không đạt là Người lại làm thay công việc đó, rồi chỉ ghế của mình bảo: “Các chú ra ghế của Bác mà ngồi. Có phải là cái ngai đâu mà các chú ngại”. Vậy là ghế của Bác thì người thuyết minh ngồi, còn ghế của người thuyết minh thì Bác ngồi ! Nhiều anh em chiến sĩ trông đợi buổi xem phim cuối tuần để được nhìn Bác, nghe Bác giới thiệu. Sau này khi Bác đã đi xa, những buổi chiếu phim tối thứ 7 vẫn được đồng chí Phạm Văn Đồng duy trì nhưng dường như thiếu vắng hình ảnh Bác, buổi chiếu không có “hồn”. Nhớ mãi hình ảnh Bác, ông Nguyễn Ngọc Châu đã viết thành một câu chuyện nhỏ mang tên “Đồng chí thuyết minh tóc bạc”.

Các cháu có “tủ” gì mới không ?

Nhiều lần được biểu diễn phục vụ Bác, bà Trần Thị Ngà, nguyên là nghệ sĩ Đoàn văn công Tổng cục Chính trị nhớ mãi sự quan tâm, chăm lo tận tình của Người đối với anh chị em làm nghệ thuật nói chung và những kỷ niệm về những ngày tháng được kề cận bên Bác. Từ 1960-1969, cô văn công Trần Thị Ngà được vào Phủ Chủ tịch hát, đọc sách báo cho Người nghe, giúp Người tiếp khách quốc tế. Một kỷ niệm vui mà cô nhớ mãi là lần chuẩn bị biểu diễn văn nghệ phục vụ buổi tiếp đoàn Tiệp Khắc, Bác hỏi: Hôm nay các cháu có “tủ” gì mới không ? Cô trả lời: “Thưa Bác, hôm nay chúng cháu sẽ hát một bài hát của Tiệp Khắc bằng tiếng Việt ạ”. Bác cười, dặn dò: “Các cháu phải hát làm sao đừng để lúc hát tiếng Việt mà khách tưởng là đang hát tiếng Tiệp, còn khi các cháu hát tiếng Tiệp, khách lại tưởng là đang hát tiếng Việt”. Có lần, Bác chia đôi cốc sữa của mình đưa cho Ngà uống và hóm hỉnh nói: “Đồng cam cộng khổ với Bác chứ !” khi cô không dám nhận. Người còn gửi thư cho anh chị em văn công Tổng cục Chính trị đi biểu diễn tại Trung Quốc năm 1964 với lời dặn dò ấm áp và chan chứa yêu thương: “Mong các cháu đoàn kết nội bộ, đoàn kết với anh em Trung Quốc, biểu diễn tốt, cố gắng học hỏi các đồng chí Trung Quốc, nhờ các đồng chí Trung Quốc thẳng thắn phê bình để không ngừng tiến bộ, giữ gìn sức khỏe. Chúc các cháu thành công !…”

Từ ngày Bác đi xa, hàng năm cứ đến ngày sinh của Người, bà Trần Thị Ngà và những người đã từng kề cận, gắn bó bên Bác lại tụ về bên ngôi Nhà sàn thiêng liêng, tưởng nhớ Người và cùng ôn lại những năm tháng mà đối với họ là đẹp đẽ và vui sướng nhất cuộc đời.

Buổi học không bao giờ quên 

Đối với ông Chi Phan, Phó Tổng Biên tập báo Cựu chiến binh Việt Nam, buổi chiều 1/4/1959 là “buổi học không bao giờ quên”. Đây cũng chính là tên bài viết của cậu học trò Chi Phan, khi ấy đang học lớp 8D trường Bưởi – Chu Văn An, ngay sau lần đầu tiên được gặp Bác Hồ, đăng trên trang nhất của tuần báo Văn. Ông kể: “Chiều hôm đó, khi lớp chúng tôi đang học bài thơ “Sáng tháng Năm”, đến đoạn “Bàn tay con nắm tay Cha. Bàn tay Bác ấm vào da, vào lòng. Bác ngồi đó lớn mênh mông. Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng nước non” thì có tiếng reo “Bác Hồ ! Bác Hồ !” rồi Bác xuất hiện nơi cửa lớp, thật mà lại như mơ. Bác chuyện trò, căn dặn chúng tôi chăm chỉ học hành, giúp đỡ bà con, xứng đáng với truyền thống lâu đời của nhà trường”. Kể từ buổi chiều thiêng liêng ấy, Chi Phan luôn tự hào là học sinh của ngôi trường được Bác tặng 8 chữ vàng “Yêu nước, cách mạng, dậy tốt, học tốt”. Ông mãi khắc ghi trong tâm khảm hình ảnh của Bác và những phút giây ngắn ngủi được gặp mặt, được Bác xoa đầu ân cần dạy bảo.

Sau đó hơn 1 năm, tháng 8/1960, tại vườn hoa Bách Thảo, khi đang cùng 1.500 học sinh Hà Nội lập dàn hợp xướng chuẩn bị biểu diễn chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3, Chi Phan lại được gặp Bác khi Người đến thăm, chúc các cháu học sinh hát hay, hát tốt hơn nữa những bài hát ca ngợi Đảng, đất nước và quê hương. Sau này còn vinh dự được gặp Bác 3 lần nữa nhưng đối với ông Chi Phan, hình ảnh Bác cầm cây đũa chỉ huy bắt nhịp dàn hợp xướng hát bài ca Kết đoàn trong ngày mùa thu tháng tám rực rỡ nắng vàng ấy mãi mãi để lại dấu ấn sâu đậm nhất, xúc động nhất cuộc đời./.

BTK-TTXVN
cpv.org.vn