Tag Archive | Tin tức

Cuộc hội kiến trên Vịnh Hạ Long

– Ngày 24/3/1946 đã diễn ra cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cao uỷ Pháp D’ Argenlieu trên tuần dương hạm “Émile Bertin” đậu trên Vịnh Hạ Long.

Vào thời điểm ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3, diễn biến chính trường nước Pháp có những thay đổi mạnh mẽ. Đảng Xã hội Pháp đã thay thế Tướng De Gaulle trên chính trường.

Phái “diều hâu” ở Đông Dương đứng đầu là Cao uỷ – Đô đốc D’ Argenlieu tìm mọi cách phá hoại hoà hoãn, đặt Chính phủ Pháp vào những việc đã rồi, với Việt Nam là dung dưỡng các phần tử khiêu khích và tách Nam Bộ thành lập chính phủ tự trị.

Ngày 24/3/1966, Bác nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lượcNgày 24/3/1966, Bác nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Và trong nội bộ tìm cách gạt các nhân vật chủ trương thực hiện Hiệp định Sơ bộ. Trong bối cảnh và ý đồ ấy, D’ Argenlieu đã đề nghị tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng địa điểm được mời đến lại là trên một chiến hạm đậu tại Vịnh Hạ Long.

Bác nhận lời và ngày 24/3/1946 từ sân bay Gia Lâm, bằng một chiếc thuỷ phi cơ, Bác cùng Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam và Thứ trưởng Bộ nội vụ Hoàng Minh Giám bay đến điểm hẹn: Tuần dương hạm “Émille Bertin”

Đô đốc D’Argenlieu đã tiếp đón với hình thức trọng thị để tỏ rõ quyền lực tối cao của mình ở Đông Dương cũng là để gạt bỏ ảnh hưởng của Tướng Leclerc, người có khuynh hướng hoà hoãn đã tham gia quá trình dẫn đến ký kết Hiệp định Sơ bộ mà Đô đốc cho rằng đã nhượng bộ Việt Minh quá nhiều. Hạm đội Pháp đã duyệt binh vừa để chào mừng vừa để thị uy sức mạnh của vũ khí.

Cuộc thảo luận xoay quanh việc thúc đẩy những cuộc tiếp xúc cao cấp giữa hai bên trong đó có cuộc gặp thượng đỉnh mà vị Chủ tịch nước Việt Nam yêu cầu sẽ phải được diễn ra tại thủ đô nước Pháp nhằm ngăn chặn những mưu đồ của các phần tử thực dân muốn phá hoại những nỗ lực hoà bình và tranh thủ chính giới tiến bộ ở Pháp.

Cũng trong cuộc tiếp xúc này mà nội bộ giữa hai viên đô đốc và tướng Pháp càng trở nên căng thẳng. Leclerc sau khi tỏ rõ sự bất đồng với D’Argenlieu, không bao lâu sau bị điều động rời khỏi Đông Dương. Còn viên đô đốc thực dân thì đòi hỏi phải có một cuộc hội nghị sơ bộ ở Đà Lạt nhưng đã phải chấp nhận một chuyến thăm viếng chính thức của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang thăm hình thức Cộng hoà Pháp.

Trên máy bay trở về Hà Nội, Bác nói với viên tướng Pháp Salan, người đi tháp tùng đoàn cảm nghĩ về cuộc găp này: “Nếu đô đốc (D’Argenlieu) muốn đem tàu bè ra lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi!”.

Nhận xét sau cuộc hội kiến này, chính viên Đô đốc D’ Argenlieu đưa ra nhận xét: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có một bản lĩnh vững vàng. Ông biết mình muốn điều gì và chỉ đạo hoạt động của mình một cách kiên nhẫn… Chủ tịch có được cái kỹ thuật của một lãnh tụ cách mạng, cũng là cái kỹ thuật của đảng đã đào tạo nên ông” (P.Devillers. “ Paris-Sài Gòn- Hà Nội”, tr.295).

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ”

– Ngày 23/3/1949, báo “Cứu Quốc” đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Walter Briggs, phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ. Cuộc phỏng vấn này không thực hiện trực tiếp mà qua văn bản.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Trả lời câu hỏi điều kiện nào Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc, Bác khẳng định: “Độc lập và thống nhất thực sự của Việt Nam”;

Hỏi “Cụ có phải là một người cộng sản nữa không?”, Bác trả lời: “Tôi luôn luôn là người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thực sự của Tổ quốc tôi”;

Hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố trong 24 vị thành viên của Chính phủ có 4 vị là cộng sản, thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt hay cũng như các vị khác”, Bác trả lời: “Tất cả các bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng bình quân”;

Hỏi: “Một khi độc lập thì Việt Nam sẽ đứng với Nga và các nước đồng minh với Nga hay là với dân chủ phương Tây?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bàu bạn”;

Hỏi: “Một khi độc lập đã thành công, về mặt quốc tế, Cụ sẽ đưa Việt Nam đứng với Nga và các nước đồng minh của Nga hay là với dân chủ phương Tây, hay là theo chính sách độc lập của mình?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”….

Có thể nói đây là quan điểm nhất quán mà ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, người đứng đầu nhà nước đã tuyên bố “Nước Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, không muốn gây sự với ai…”(1945-1946), và nó tiếp tục được khẳng định ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ và vào thời điểm phỏng vấn đang diễn ra ác liệt.

Cũng trong tháng 3/1949, trả lời phỏng vấn của nhà báo Standley Harrison của báo “Telepress” (đăng trên Cứu Quốc ngày 26/3/1949), Bác cũng khẳng định: “Pháp công nhận Việt Nam thống nhất thực sự và độc lập thực sự thì chiến tranh sẽ lập tức chấm dứt”.

Trả lời câu hỏi: “Vì lẽ gì mà Việt Nam thành công về mặt quân sự?”, Bác trả lời: “Vì toàn dân đại đoàn kết để chống thực dân Pháp và để tranh lấy thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc mình”.

Hỏi: “Khi ngoại thương Việt Nam đã khôi phục, thì Việt Nam sẽ giao dịch với các nước dân chủ nhân dân những gì?”, Bác khẳng định: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”.

X&N
bee.net.vn

Bác và nhà báo Úc W.Burchett

– W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954 bằng trận tấn công vào cứ điểm Him Lam và kết thúc đợt 1 bằng việc đánh trên đồi Độc lập (15/3) và bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo.

Giữa đợt 1 và đợt 2 (bắt đầu từ 30/3), tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Úc Wilfred Burchett người sau này tiếp tục gắn bó phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.

Mối quan tâm của dư luận lúc này là sau khi chiến trận đã bùng nổ, với những diễn biến vô cùng ác liệt và thực dân Pháp được can thiệp Mỹ hỗ trợ cũng thể hiện cũng đang say máu quyết huy động lực lượng vào trận quyết chiến này với tất cả các vũ khí hiện đại thì liệu khả năng chiến thắng của lực lượng kháng chiến sẽ ra sao?

Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn, đưa những ngón tay gầy guộc theo vành chiếc mũ và nói: “Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi đang chiếm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương. Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”.

“Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” Burchett hỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”.

W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

X&N

bee.net.vn

Ý kiến của Bác Hồ tại phiên họp của Bộ Chính trị

 – Những phát biểu của Bác tại các phiên họp của Bộ Chính trị thường được bút lục trong biên bản lưu trữ. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu của Bác trong các cuộc họp rơi vào ngày 21/3 của một số năm. Tuy tình hình ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng những tinh thần cơ bản liên quan đến mục tiêu phát triển và phương thức lãnh đạo vẫn còn nhiều điều gần gũi với ngày hôm nay.

Ngày 21/3/1958, tham dự phiên họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch nhà nước, trong phát biểu kết luận, Bác nhấn mạnh đến việc Trung ương cần kiên quyết đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến các khâu nước, phân và công cụ. Không nhất thiết đưa ra chỉ tiêu mỗi huyện một hợp tác xã mà tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể có huyện có vài ba, có huyện chưa cần lập, cán bộ hợp tác xã nên dùng người của địa phương.

Về công nghiệp phải chú trọng khâu kiểm tra. Vấn đề thu mua “phải chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tổ chức chu đáo thì nông dân mới đồng tình…về giá cả phải định cho phải chăng, không nên hạ”.

Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956

Ngày 21/3/1962, cũng trong một phiên họp Bộ Chính trị bàn về công tác chuẩn bị cho Hội nghị trung ương về công nghiệp, Bác phát biểu: “Phần nói nông nghiệp còn nhẹ quá. Công nghiệp nặng phải có, nhưng 8 năm thiếu gang thép ta vẫn xoay xở được, còn mất mùa một năm thì chúng ta méo mặt, mất mùa thì gang thép cũng không làm được”.

Bác cũng phê bình: “Ta có họp, có nghị, có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm đựơc thì khen, thấy ai làm sai không có thái độ rõ ràng, làm không được thì cách chức ngay (tỉnh Thái Bình được thưởng hơn 700 huân chương, huy chương mà không thấy phạt một ai), ý tôi còn nhu nhược với vấn đề này”.

Ngày 21/3/1964, cũng tại trong một lần họp Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: quân và dân ta rất tốt, thiên thời địa lợi cũng không khó khăn lắm, nhưng công việc không chạy do lãnh đạo có sức ỳ lớn, phối hợp chưa chặt chẽ, chưa tốt, chỉ đạo chưa thống nhất. Bác còn phê bình tình trạng thiếu lương thực, hàng hoá kém phẩm chất, hình thức xấu, giá cả đắt đỏ, thiếu cán bộ cụ thể chịu trách nhiệm và phải coi vấn đề củng cố chi bộ là một trọng tâm.

X&N
bee.net.vn

“Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”

– Ngày 20/3/1947, dưới bút danh “Tân Sinh”, Bác hoàn thành cuốn sách “Đời Sống Mới” và giao cho Uỷ ban Trung ương Vận động Đời sống mới xuất bản rộng rãi. 

“Đời Sống Mới” có thể được coi là cuộc vận động văn hoá đầu tiên được phát động cùng với sự ra đời của chế độ mới, ngay sau khi nước nhà độc lập, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nêu lên những “nhiệm vụ cấp bách”, ngoài những mục tiêu chống nạn đói, nạn dốt, tổ chức tổng tuyển cử, bỏ các loại thuế bất hợp lý, ban hành tự do tín ngưỡng… đã nhấn mạnh: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”.

Ngày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân TràoNgày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân Trào

Và ngày 3/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập “Ban Trung ương vận động Đời sống mới” nhằm giáo dục cán bộ và nhân dân tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính, xoá bỏ những tư tưởng và tập quán lạc hậu của chế độ thực dân và phong kiến để lại và tham gia cuộc vận động này có vai trò của Hội Văn hoá Cứu quốc.

Ngay trong hoàn cảnh chiến tranh đã bùng nổ trên cả nước, phải tập trung sức lực cho công cuộc kháng chiến, nhưng mục tiêu xây dựng con người Việt Nam mới vẫn là một tư tưởng nhất quán .

Trong lời tựa, Bác viết: “Trong lúc kháng chiến, chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành “Đời sống mới” là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc”.

Giải thích thế nào là “Đời sống mới”, tác giả nêu rõ: “Không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay thì phải làm… Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của Đời sống mới”.

Cuốn sách được viết dưới dạng những câu hỏi và câu trả lời đề cập tới nhiều lĩnh vực của đời sống, nhiều tầng lớp xã hội. Để trả lời câu hỏi “Thực hành Đời sống mới khó hay dễ?”, tác giả trả lời: “Nói dễ thì dễ. Nói khó thì khó. Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”.

4 năm sau đó, ngày 20/3/1951 cái tinh thần này một lần nữa đã được Bác nhắc lại như một châm ngôn hành động cho thế hệ trẻ Việt Nam. Gặp gỡ phân đội Thanh niên Xung phong C12 đang làm nhiệm vụ tại Nà Cù thôn Nà Tu, xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, Bác tặng 4 câu thơ: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ gặp tướng Leclerc

 – Ngày 18/3/1946, đúng vào ngày các đơn vị quân Pháp kéo vào Hà Nội thay thế quân đội Trung Hoa-Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để cập nhập tình hình và tìm những giải pháp để ứng phó.

5 giờ chiều, sau khi 1.200 quân cùng 200 chiến xa của  Pháp từ Hải Phòng về tới Hà Nội, Leclerc, người đứng đầu lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương và Uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Sainteny cùng nhiều tướng lĩnh khác như Salan, Valuy, Pignon… đến chào Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người đại diện cho nước Pháp lên tiếng chào: “Thưa Chủ tịch, người Việt Nam và người Pháp chúng ta bây giờ trở thành những người bạn”.

Trong tiệc rượu, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philipines) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào  rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đã cùng ký kết theo tinh thần đó… Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu cho hoà bình thế giới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên GiápChủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Có thể nói rằng biết khại thác những nhân tố tích cực trong chính giới Pháp như Leclerc, Sainteny… Bác đã đưa đất nước ta thoát hiểm trong gang tấc trước những âm mưu của cá thế lực “diều hâu” của cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc. Trên thực tế, Pháp và Trung Hoa từ lâu đã có những mặc cả về Đông Dương cho nên việc ký kết được Hiệp ước 6/3/1946 đã biến việc quân đội Trung Hoa rời khỏi Việt Nam để Pháp thay thế thành một sự “nhượng bộ” của phía ta buộc Pháp cũng phải đáp lại bằng một thái độ hoà hoãn, tránh cho cuộc chiến tranh bùng nổ sớm, bất lợi cho lực lượng cách mạng Việt Nam còn  “trứng nước”.

Ít lâu sau, nhận xét về tướng Leclerc, Bác có nói với nhà báo Dessingé, của tờ “Paris-Saigon” rằng “Ông ta (Leclerc) là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type)… Chính với những con người như thế mà người ta mong muốn bàn bạc”.

Ngày hôm sau, cả hai bên Việt-Pháp, đều đưa những đơn vị quân đội của mình tổ chức một cuộc duyệt binh chung, và Tướng Leclerc, con người đã dẫn đầu Đoàn quân Pháp trong lực lượng Đồng Minh vào giải phóng Thủ đô Paris, có lần đã nói với Võ Nguyên Giáp: “Ngài hãy nói với người Việt Nam rằng, họ có thể tin tưởng ở tôi. Nhưng tôi là người Pháp và trong sự tôn trọng nguyện vọng của nhân dân các ngài, tôi sẽ hành động với tư cách là người Pháp, trước tiên là người Pháp”.

Thế nhưng, sau đó không lâu, những người Pháp thiện chí như Leclerc cũng bị phái “diều hâu” tìm cách gạt bỏ. Ông đã được lệnh rời khỏi Việt Nam thực hiện một sứ mạng ở châu Phi rồi chết trong một vụ tai nạn đầy ẩn khuất.

X&N
bee.net.vn

“Tham ô có hại, nhưng lãng phí còn hại hơn nhiều”

– Ngày 17/3/1952, Bác Hồ có bài nói chuyện tại Hội nghị phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm diễn ra ngay trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt nhất, nhằm khẳng định mục tiêu của cả nước lúc này không chỉ là kháng chiến mà còn phải kiến quốc.

Bác nhấn mạnh: “Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Vì vậy từ khu đến tỉnh, huyện cho đến xã phải làm thế nào cho kế hoạch đó thiết thực và nhất định phải làm cho kỳ được. Làm kế hoạch một cách dân chủ như vậy, nhất định chúng ta thành công.

háng 3-1951, Bác Hô và Bác Tôn cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận (73KB)Tháng 3/1951, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận

Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm muốn thành công cần ba điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hoà và nhân hoà là chính. Nhân hòa gồm 3 lực lượng: Đoàn thể và Chính phủ; bộ đội và nhân dân; cán bộ”.

Bác khẳng định: “Kinh nghiệm đã tỏ rằng chính sách, phương châm của Chính phủ và Đoàn thể là đúng. Kinh nghiệm cũng tỏ rằng bộ đội và nhân dân bao giờ cũng sẵn sàng chịu đựng hy sinh, bất kỳ trong mọi việc lớn hay nhỏ”.

Và Bác cho rằng vấn đề còn lại là: cán bộ. Có những cán bộ tốt làm đúng đuờng lối và sâu sát nhân dân, nhưng cũng có những cán bộ làm sai.Vì thế phải quan tâm dến công tác cán bộ.

Bài nói cũng đề cập tới nhiệm vụ “chống quan liêu, tham ô, lãng phí”. Vì công cuộc sản xuất và tiết kiệm “cũng như đang vun trồng một rừng cây. Rừng cây thì chắc chắn nở hoa sinh quả, nhưng cũng có những con sâu mọt, rút lá , cắn hoa, khoét quả. Chúng ta phải tiêu diệt các con sâu mọt ấy : bệnh quan liêu, nạn tham ô lãng phí…

Tham ô có hại, nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến: lãng phí của cải, lãng phí thời giờ, lực lượng của nhân dân, của Chính phủ…”.

Bác  phân tích “bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô lãng phí nảy nở được… Vậy bất kỳ ngành nào, địa phương nào cũng phải giáo dục cho cán bộ, nhân dân chiến sĩ gớm ghét nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu”.

Bài phát biểu cũng đề cập tới nhiệm vụ “thi đua ái quốc” và khẳng định: “Nhờ thi đua mà nhân tài càng phát triển, của cải càng dồi dào, nhân dân càng sung sướng. Nay ta kháng chiến để xây dưng một nước dân chủ mới, chỉ có thi đua mới giúp ta tiến bộ trên con đường ấy”.

Lời kết luận của Bác: “Tóm lại ta có 2 việc phải làm và 3 điều phải chống. Hai việc phải làm là:… Thi đua giết giặc lập công, thi đua tăng gia và tiết kiệm. Ba điều phải chống là: Nạn tham ô, nạn lãng phí, bệnh quan liêu. Chúng ta nhất định làm được.

Những cán bộ già còn nhớ thời kỳ bí mật, chúng ta không có tiền, không có nhà ở, không có cơm ăn mà còn làm cách mạng thành công. Nay chúng ta có chính quyền, có mặt trận, có bộ đội, có đoàn thể nhân dân hưởng ứng, hơn nữa, có các nuớc bạn giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất, thì chúng ta nhất định sẽ thành công…”

X&N
bee.net.vn

Về một bản thảo của Nguyễn Ái Quốc

– Ngày 16/3/1920, mật thám Pháp ghi nhận được cuộc trò chuyện giữa Nguyễn Ái Quốc với một nhân vật tên là Lâm trong đó Nguyễn cho biết đã hoàn thành bản thảo sách mang tên “Những người bị áp bức” (Les Opprimés), đang có ý định gặp Marcel Cachin và Jean Longuet đề nghị viết lời tựa cho sách. Nguyễn cũng cho biết đã dành được 300 quan tiền Pháp để in và dự định sẽ đến vùng Pons làm nghề nhiếp ảnh để kiếm thêm kinh phí tái bản cuốn sách đó.

Có thể nói rằng sau khi xuất hiện cái tên “Nguyễn Ái Quốc” ký dưới “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” (Les Revendications du Peule Annamite) gửi tới các đại biểu tham dự Hoà hội Versailles, cả bộ máy an ninh của thực dân Pháp được huy động để theo dõi nhân vật mang tên tác giả của văn kiện này.

16-3-1961 - CTHCM về thăm và nói chuyện với công nhân Nhà máy Cơ khí Duyên hải.jpg (38KB)Ngày 16/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với công nhân Nhà máy Cơ khí Duyên hải.

Ban đầu, đây là tên ký chung của Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, nhưng để ứng phó với chính quyền thực dân, Nguyễn Tất Thành đã đứng nhận trách nhiệm về mình.

Kể từ đó cái tên Nguyễn Ái Quốc trở thành môt bí danh nổi tiếng của Bác đồng thời cũng là một nhân vật bị bộ máy mật thám Pháp và một số nước theo dõi chặt chẽ. Vào thời điểm này có một viên mật thám có bí danh là “Jean” thường xuyên tìm cách tiếp cận để thu thập và theo dõi mọi hoạt động của nhà cách mạng Việt Nam.

Trong một báo cáo vào cuối năm 1919, Jean viết: “(Nguyễn Ái Quốc) Đó là một nhà trí thức, nhưng nói năng có vẻ khô khan, biết viết và nói khá tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, đọc và nói được chút ít tiếng Italia.

Ông ta có những xét đoán nhạy bén về nhiều sự việc. Ông ta dành cả ngày để học hỏi, đọc tất cả những sách bằng tiếng Pháp hay tiếng nước ngoài đã đề cập đến Đông Dương.

Mục đích duy nhất khiến ông ta muốn ở lại Pháp là để có thể bênh vực quyền lợi của Đông Dương một cách tự do. Rất có thể ông ta nói được tiếng Trung Quốc và Nhật. Một ngày nào đó tôi sẽ hỏi về việc trên”.

(Viên mật thám này cho biết sau đó đã nhờ Nguyễn Ái Quốc dịch một đoạn quảng cáo ra tiếng Trung Quốc và cho biết ông ta đã làm đựơc việc đó).

Viên mật thám đã sử dụng những tin tức do một nhân vật là “phó quản Lâm” tiếp cận với đối tượng theo dõi  nhằm trả lời câu hỏi: Nguyễn Ái Quốc là ai và đang làm gì?

Khi Lâm hỏi vì sao lại tham gia các hoạt động yêu nước và chống chính quyền thuộc địa, nhà cách mạng đã trả lời: “Nói cho cùng, ai làm gì tôi? Lưu đầy tôi ư? Hoặc cắt đầu tôi, điều ấy có xảy ra tôi cũng bất cần”.

Nguyễn Ái Quốc còn cho biết rằng mình đang viết một cuốn sách với 4 phần nội dung: tình trạng Đông Dương trước khi Pháp chiếm đóng; nước Pháp đem lại những gì cho Đông Dương; tình trạng Đông Dương hiện tại; và tương lai.

Trả lời cho câu hỏi “Lấy tiền đâu để in sách”, Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ: “Tôi sẽ làm rất giản dị thôi. Khi nào tôi hoàn thành xong quyển sách ấy, tôi sẽ đem bản thảo đến một đảng viên xã hội hay bất cứ ai khác. Sau khi biết giá tiền để in, tôi sẽ bán thân tôi cho họ như một người đầy tớ. Chả nhẽ tôi không biết đánh giày hay dọn nhà hay sao?”.

Về khả năng có ai đó được chính quyền xui kiện vì đã sử dụng nhưng tư liệu của họ, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Tôi có gì để họ kiện tôi? Tôi sẽ đi từ toà án này đến toà án khác để khiếu naị, có lẽ đây sẽ là dịp  để quảng cáo và tuyên truyền trước các ông toà và công chúng của toà án”…

Bản báo cáo của mật thám ngày 16/3/1920 còn cho biết: “Nguyễn Ái Quốc đang dịch một đoạn “L’ Esprit des Lois” (Vạn pháp tinh lý) của Montesquieu sang quốc ngữ” và “Quốc chẳng được một Hội kín nào giúp đỡ. Ông ta rất tự trọng, muốn là do tự mình đảm nhận việc in sách bằng tiền để dành”.

Các báo cáo của mật thám khẳng định là đến tháng 5/1920 thì bản thảo sách này đã hoàn tất. Rất tiếc là cho đến nay chúng ta chưa tìm được cuốn sách này và cũng rất ít khả năng rằng cuốn sách này chỉ là tên khác của “Bản án chế độ thực dân Pháp” (Le Procès de la Colonisation Francaise) được xuất bản tại Pháp năm 1925 và tái bản ở Việt Nam năm 1946.

X&N

(Bài viết này tham khảo nhiều tài liệu trong sách “Nguyễn Ái Quốc tại Paris” của bà Thu Trang)
bee.net.vn

“Tôi sẽ trở về Tổ quốc”

– Ngày 15/3/1924 Tờ báo “L’Unita” (Đoàn kết) của Đảng Cộng sản Italia đã đăng nội dung trả lời phỏng vấn nhà báo Giôvanni Giécmanettô của Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang có mặt ở nước Nga Xô viết.

Tự giới thiệu về mình “tôi là người An Nam, bị Pháp cai trị, học sinh Trường Đại học Phương Đông ở Matxcơva. Tôi tên là Nguyễn Ái Quốc”, người được phỏng vấn trả lời tiếp câu hỏi “Tại sao anh lại sang châu Âu?”: “Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước tôi… Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Paris. Khi trường Đại học Phương Đông ở Matxcơva mở, tôi bèn xin học”.

Ngày 15/3/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu phong trào hòa bình Pháp thăm VN.Ngày 15/3/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn đại biểu phong trào hòa bình Pháp thăm VN.

Nguyễn Ái Quốc cũng cho biết: “Tôi đã đọc nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống đối (chống chủ nghĩa thực dân), nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi sự giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà “những người gieo rắc văn minh” đã giam hãm chúng tôi…

Nhiều người đã hiểu tình trạng kém cỏi của chúng tôi nhưng chưa có ai, trừ những người làm cách mạng Nga chỉ cho chúng tôi con đường đi đến giải phóng… chính đồng chí Itlitxơ (Lênin) thân mến của chúng tôi đã nêu lên những đề án và hướng dẫn chúng tôi đi những bước đi đầu để làm cho chúng tôi có khả năng cùng tiến bước với giai cấp vô sản thế giới”.

Khi được phóng viên hỏi: “Tay anh làm sao thế?”, Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Không sao, tôi mang vòng hoa của học sinh viếng Lênin, vì thế hai ngón tay tôi bị tê cóng…”. Với câu hỏi “Khi học xong, anh dự định làm gì?” Nguyễn trả lời: “Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi… Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc thuộc địa tuỳ thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi…”. Bài phỏng vấn cũng giành để giới thiệu về trường đại học Phương Đông như một “sáng kiến bônsêvich”của nước Nga.

Cũng trong ngày hôm ấy, Nguyễn Ái Quốc đang công tác tại “Phân bộ số 33” viết thư gửi Chủ tịch Quốc tế Cộng sản Zinoviev đề nghị cho được gặp “để tôi thảo luận với đồng chí về tình cảnh những thuộc địa của Pháp”.

Đó là những quan điểm đầu tiên mà Hồ Chí Minh lựa chọn con đường thực hiện những mục tiêu yêu nước của mình hướng về nước Nga Xô viết.

X&N
bee.net.vn

“Xin thật thà tự phê bình và xin lỗi bạn đọc”

 – Ngày 14/3/1962, báo “Nhân Dân” đăng bài báo “Làm thế nào cho lạc thêm vui?” dưới bút danh “T.L”. Với bút danh đã trở nên quen thuộc với độc giả, Bác đề cập tới một vấn đề tưởng chừng rất nhỏ: việc dùng lạc để làm kẹo diễn ra ở quê hương của mình là tỉnh Nghệ An, cũng là một địa phương chuyên sản loại nông sản vào thời điểm đó có giá trị xuất khẩu cao.

Bài báo mở đầu bằng một đoạn văn vần: “Dân Nghệ nhà choa/ Mỗi năm ăn quà/ Hết chín nghìn bẩy (9.720) tấn gang!”. Xin giải thích: “Những năm bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân các nước anh em ta đều thắt lưng buộc bụng để mua thêm máy móc và nguyên liệu của nước ngoài…

Trong những năm ấy, những thứ của ngon vật quý như quả trứng gà ta, quả cây tốt, vải vóc đẹp… nhân dân đều nhịn, không ăn, không dùng, để đưa ra nước ngoài, đổi lấy máy móc”.

Tháng 3/1960, Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái NguyênTháng 3/1960, Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên.

Bài báo liên hệ với hoàn cảnh nước ta: “… Các nước anh em giúp ta nhiều, nhưng ta cũng phải mua một số ở nước khác. Muốn mua thì phải có nhiều ngoại tệ, hoặc lấy nông sản mà đổi, ví dụ: lấy lạc đổi lấy gang. Muốn làm như vậy thì ta phải tiết kiệm lạc. Đằng này chúng ta lại phung phí lạc lu bù.

Báo “Nhân Dân” có đăng bài nói ở Nghệ An “trên trời, dưới lạc”. Từ thành thị đến thôn quê, từ ngoài đường đến trong chợ, đâu đâu cũng làm và bán kẹo lạc. Chí ít mỗi thành cũng hết 54 tấn lạc, mỗi năm hết 650 tấn. Nếu đưa ra nước thì 1 tấn lạc đổi được 15 tấn gang.

Thế là nếu đồng bào Nghệ chịu khó “thắt lưng buộc bụng một chút, tiết kiệm lạc để xuất khẩu, thì mỗi năm đổi được 9.720 tấn gang. Và nếu đồng bào các nơi khác đều tiết kiệm lạc thì mỗi năm chúng ta có thể đổi hàng trăm máy cày cho nông thôn… Vậy có thơ rằng: “Làm thế nào cho lạc thêm vui? Đổi lấy máy móc, thì bày tui quyết làm”.

Giờ đây, sau gần nửa thế kỷ đọc lại bài báo này, cho dù đã qua rất nhiều biến đổi của đất nước, nhiều thay đổi trong quan điểm phát triển kinh tế, nhưng cái tinh thần tiết kiệm, chắt chiu tích luỹ nguồn lực vẫn là một nhân tố mà nền kinh tế thời nào cũng phải quan tâm. Bài báo viết nhẹ nhàng, đổi chữ “vui” với “lạc” khi đề câp tới một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Nhưng người viết bài báo này cũng rất nghiêm túc, khi chúng ta biết rằng, một tháng sau, trong một bài viết có nhan đề “Cần phải ra sức trồng nhiều hoa màu” cũng đăng trên báo “Nhân Dân” (17/4/1962) và cũng ký tên “T.L”, ở cuối bài, Bác đã viết lời xin lỗi độc giả vì những sai sót của bài báo trước: “Đúng ra là 1 tấn lạc đổi được 1,5 tấn (1 tẫn rưỡi) gang. Vì để sót một dấu phẩy (,) mà viết sai thành 15 (mười lăm) tấn gang. Đó là một thái độ không nghiêm túc, cẩn thận, T.L xin thật thà tự phê bình và xin lỗi bạn đọc”.

X&N
bee.net.vn

“Việt – Lào… tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

– Ngày 13/3/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiễn đưa Đoàn đại biểu cao cấp Vương quốc Lào do Vua Xrivang Vathana và Thủ tướng Xuvana Phuma dẫn đầu kết thúc chuyến thăm Việt Nam.

Trong lời tiễn Bác đã đọc 4 câu thơ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt – Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

Trong bối cảnh rất phức tạp ở bán đảo Đông Dương sau khi thực dân Pháp đã phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (1954) và từng bước rút khỏi chính trường Đông Dương, đế quốc Mỹ đã thế chân tiếp tục can thiệp mở rộng chiến tranh, Vương quốc Lào thực hiện một chính sách trung lập.

Ngày 13-3-1960, Bác Hồ thăm Trường thiếu nhi vùng cao nhân thăm tỉnh Thái Nguyên.jpg (57KB)Ngày 13/3/1960, Bác Hồ thăm Trường thiếu nhi vùng cao nhân thăm tỉnh Thái Nguyên

Việt Nam một mặt tiếp tục cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước từ phương pháp hoà bình thực hiện Hiệp định Giơnevơ đến tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng chống sự can thiệp của Mỹ.

Nhằm tranh thủ nền trung lập của Lào hạn chế sự can thiệp của Mỹ vào đất nước láng giềng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước Việt Nam đã giành một thái độ rất trọng thị khi mời nhà Vua, Hoàng gia và Chính phủ Vương quốc Lào sang thăm Việt Nam.

Ngay trong lời chào mừng đọc ngày 10/3, Bác điểm lại lịch sử: “Hai dân tộc Việt – Lào từ lâu đời đã có những quan hệ anh em khăng khít với nhau. Nhưng gần một thế kỷ, bọn đế quốc đã cướp nước chúng ta, chia rẽ nhân dân 2 nước. Chúng ngăn cản, không để nhân dân Viêt Lào gần gũi giúp đỡ nhau.

Chúng làm cho nhân dân hai nước chúng ta: “Bức tường nô lệ chắn ngang/ Tuy trong gang tấc, gấp ngàn quan sơn”. Ngày nay hai nước chúng ta đã độc lập… dễ dàng đi lại thăm viếng nhau “Bấy lâu cách trở quan hà/ Từ nay Lào – Việt rất là gần nhau”.

Con tại buổi chiêu đãi các vị khách quý Lào (tối 10/3), Bác lại khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chúng một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau,giúp đỡ lẫn nhau như anh em. Trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ và anh dũng, nhân dân hai nước chúng ta đã giành được độc lập, đã làm chủ đất nước của mình. Ngày nay chúng ta lại giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cuộc sống mới. Tình nghĩa láng giềng anh em Việt – Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”.

Một đường lối hoà bình, hữu nghị cùng chung mục tiêu giành độc lập đối với nước Lào láng giềng chính là một nhân tố bảo đảm thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Chính nghĩa bao giờ cũng thắng”

– Ngày 12/3/1965, tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về âm mưu của Mỹ và đối sách của ta, Bác đã phát biểu nhiều ý kiến quan trọng (được ghi trong biên bản).

Bác nói: Mỹ đã nói đến việc mở rộng chiến tranh từ tháng 2/1964 mà chúng ta nghiên cứu còn yếu. Phải có quyết tâm từ Bắc chí Nam là hy sinh, là trận sống còn (một là chết hai là thắng lợi), phải có tổ chức, phải làm cho toàn Đảng toàn dân hiểu và quyết tâm.

Phải tính đến hoàn cảnh thật gay gắt, địch sẽ dùng cả không quân và hải quân nên phải đề phòng sự dao động nghiêng ngả. Phải tăng cường tổ chức và tiềm lực. Phòng không nhân dân phải chú ý giải quyết đời sống của những gia đình khó khăn. “Các cháu bé quý hơn nhà máy”. Cách sống của mình còn hoà bình, phải chuyển miền Bắc sang “nửa chiến tranh”.

Ngày 12/3/1961, Bác tiếp các đại biểu dân tộc ít người tham dự Đại hội Phụ nữ VN lần thứ IIINgày 12/3/1961, Bác tiếp các đại biểu dân tộc ít người tham dự Đại hội Phụ nữ VN lần thứ III

Về ngoại giao, Bác chỉ rõ: Cần nghĩ trước việc vận động mở lại Hội nghị Giơnevơ để tranh thủ dư luận đồng thời nên tổ chức các hoạt động tuyên truyền chống chiến tranh ở nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế.

Phải thấy trong quá trình tiến hành chiến tranh chống Mỹ, phải vừa kiên quyết vừa khéo léo. Lúc nào Mỹ muốn đi thì tạo điều kiện cho Mỹ rút. Thực tiễn lịch sử 10 năm sau đó (1975) đã chứng minh giá trị những ý kiến trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cùng trong ngày hôm đó, báo “Nhân Dân: số ra ngày 12/3/1965, đăng bài “Đế quốc Mỹ cút đi” của Bác, viết dưới bút danh “Chiến Sĩ” trong đó nhắc lại ý kiến sáng suốt và thiện chí của một số chính khách và nhà báo Mỹ khi đánh giá về tình hình cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là “vô vọng”.

Bài báo kèm theo lời “tái bút”: “Nhân dân Việt Nam kiên quyết đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược. Nhưng chúng ta thông cảm với những người Mỹ có chồng con bị lừa đi chết ở chiến trường Việt Nam. Chúng ta cảm ơn các vị nghị sĩ, các người trí thức và lãnh đạo các tôn giáo, các đoàn thể công nhân, các chị em phụ nữ và anh em thanh niên, sinh viên Mỹ đã cương quyết bảo vệ chính nghĩa và đòi đế quốc Mỹ rút ngay ra khỏi miền Nam Việt Nam…”.

Chỉ 1 năm sau, vào thời điểm Mỹ đã mở rộng chiến tranh bằng không quan và hải quân ra miền Bắc, trực tiếp đưa bộ binh vào tác chiến ở miền Nam, ngày 12/3/1966, Bác họp Hội nghị Bộ Chính trị nghe báo cáo tình hình chiến sự và đồng ý tuyển 50 ngàn quân đợt 3 và 4 năm 1966 và đề nghị không tuyển người đứng tuổi, con em những gia đình đã có nhiều con vào bộ đội, không tuyển những người có trình độ cao còn cần cho các ngành kinh tế.

Trước đó 22 năm, vào tháng 3/1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang có những biến chuyển ác liệt, trả lời điện hỏi của nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm của nhân dân Việt nam về chiến tranh: “Dù phải hy sinh cực khổ mấy. Chính phủ và Nhân dân Việt Nam cũng quyết kháng chiến đến cùng để tranh kỳ được thống nhất và độc lập thực sự…

Hơn 80 năm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu là nô lệ lần nữa… Nếu thực dân Pháp vẫn khư khư giữ chặt tham vọng cũ thì chúng sẽ thất bại. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng!”.

Có thể thấy, trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán và toàn diện với những dự báo chủ động và chính xác!

X&N
bee.net.vn