Tag Archive | Tin tức

“Chính nghĩa bao giờ cũng thắng”

– Ngày 12/3/1965, tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về âm mưu của Mỹ và đối sách của ta, Bác đã phát biểu nhiều ý kiến quan trọng (được ghi trong biên bản).

Bác nói: Mỹ đã nói đến việc mở rộng chiến tranh từ tháng 2/1964 mà chúng ta nghiên cứu còn yếu. Phải có quyết tâm từ Bắc chí Nam là hy sinh, là trận sống còn (một là chết hai là thắng lợi), phải có tổ chức, phải làm cho toàn Đảng toàn dân hiểu và quyết tâm.

Phải tính đến hoàn cảnh thật gay gắt, địch sẽ dùng cả không quân và hải quân nên phải đề phòng sự dao động nghiêng ngả. Phải tăng cường tổ chức và tiềm lực. Phòng không nhân dân phải chú ý giải quyết đời sống của những gia đình khó khăn. “Các cháu bé quý hơn nhà máy”. Cách sống của mình còn hoà bình, phải chuyển miền Bắc sang “nửa chiến tranh”.

Ngày 12/3/1961, Bác tiếp các đại biểu dân tộc ít người tham dự Đại hội Phụ nữ VN lần thứ IIINgày 12/3/1961, Bác tiếp các đại biểu dân tộc ít người tham dự Đại hội Phụ nữ VN lần thứ III

Về ngoại giao, Bác chỉ rõ: Cần nghĩ trước việc vận động mở lại Hội nghị Giơnevơ để tranh thủ dư luận đồng thời nên tổ chức các hoạt động tuyên truyền chống chiến tranh ở nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế.

Phải thấy trong quá trình tiến hành chiến tranh chống Mỹ, phải vừa kiên quyết vừa khéo léo. Lúc nào Mỹ muốn đi thì tạo điều kiện cho Mỹ rút. Thực tiễn lịch sử 10 năm sau đó (1975) đã chứng minh giá trị những ý kiến trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cùng trong ngày hôm đó, báo “Nhân Dân: số ra ngày 12/3/1965, đăng bài “Đế quốc Mỹ cút đi” của Bác, viết dưới bút danh “Chiến Sĩ” trong đó nhắc lại ý kiến sáng suốt và thiện chí của một số chính khách và nhà báo Mỹ khi đánh giá về tình hình cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là “vô vọng”.

Bài báo kèm theo lời “tái bút”: “Nhân dân Việt Nam kiên quyết đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược. Nhưng chúng ta thông cảm với những người Mỹ có chồng con bị lừa đi chết ở chiến trường Việt Nam. Chúng ta cảm ơn các vị nghị sĩ, các người trí thức và lãnh đạo các tôn giáo, các đoàn thể công nhân, các chị em phụ nữ và anh em thanh niên, sinh viên Mỹ đã cương quyết bảo vệ chính nghĩa và đòi đế quốc Mỹ rút ngay ra khỏi miền Nam Việt Nam…”.

Chỉ 1 năm sau, vào thời điểm Mỹ đã mở rộng chiến tranh bằng không quan và hải quân ra miền Bắc, trực tiếp đưa bộ binh vào tác chiến ở miền Nam, ngày 12/3/1966, Bác họp Hội nghị Bộ Chính trị nghe báo cáo tình hình chiến sự và đồng ý tuyển 50 ngàn quân đợt 3 và 4 năm 1966 và đề nghị không tuyển người đứng tuổi, con em những gia đình đã có nhiều con vào bộ đội, không tuyển những người có trình độ cao còn cần cho các ngành kinh tế.

Trước đó 22 năm, vào tháng 3/1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang có những biến chuyển ác liệt, trả lời điện hỏi của nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm của nhân dân Việt nam về chiến tranh: “Dù phải hy sinh cực khổ mấy. Chính phủ và Nhân dân Việt Nam cũng quyết kháng chiến đến cùng để tranh kỳ được thống nhất và độc lập thực sự…

Hơn 80 năm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu là nô lệ lần nữa… Nếu thực dân Pháp vẫn khư khư giữ chặt tham vọng cũ thì chúng sẽ thất bại. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng!”.

Có thể thấy, trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán và toàn diện với những dự báo chủ động và chính xác!

X&N
bee.net.vn

Về chuyến thăm bí mật Liên Xô và Trung Quốc năm 1950

– Ngày 11/3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Bắc Kinh lên đường trở về Chiến khu Việt Bắc, kết thúc chuyến thăm Liên Xô và Trung Quốc tạo nguồn lực cho cuộc kháng chiến đang đứng trước những thử thách quyết định.

Trước khi rời thủ đô nước bạn, Bác làm bài thơ chữ Hán “Ly Bắc Kinh”: “Ký Bắc thiên tâm huyền hạo nguyệt/ Tâm tuỳ hạo nguyệt cộng du du/ Hạo nguyệt thuỳ phân vi lưỡng bán?/Bán tuỳ cựu hữu, bán chinh phu” (Bản dịch của Phan Văn Các: Rời Bắc Kinh/ Trời Ký Bắc treo vầng trăng rọi/ Lòng theo trăng vời vợi sáng ngời/ Vầng trăng ai sẻ làm đôi?/Nửa theo bạn cũ, nửa soi lữ hành).

tháng 3-1951, Bác Hô và Bác Tôn cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Tháng 3/1951, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận.

Đây là một chuyến đi bí mật trong bối cảnh biên giới phía Bắc nước ta vẫn bị quân Pháp kiểm soát và phía bên kia biên giới, tàn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa và bọn thổ phỉ vẫn còn hoạt động. Do vậy, thời điểm khởi đầu chuyến đi chỉ được xác định là đầu tháng 1/1950. Sau này được biết, trước khi lên đường, Bác đã để lại nhiều bài báo hay bài phát biểu viết sẵn để công bố vào thời điểm Bác đã rời đất nước nhằm đánh lạc hướng của kẻ thù.

Vượt cửa khẩu ở Tà Lùng, cùng đi còn có Trần Đăng Ninh, người phụ trách hậu cần của quân đội và được Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đón đến Long Châu rồi đến Nam Ninh (18/1) và rời đây để đi Bắc Kinh.

Tại thủ đô của nước Cộng hoà Nhân dân mới được thành lập được hơn 2 tháng (10/1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ và các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc, nhưng 2 nhà lãnh đạo chủ chốt là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lại thì đang ở Matxcơva để chuẩn bị ký Hiệp ước Tương trợ Xô-Trung. Để mở rộng quan hệ ngoại giao với cả Liên Xô và Đông Âu, Bác đã đề nghị và được phía Trung Quốc tạo điều kiện để qua tiếp Matxcơva.

Ngày 1/2/1950, cả Mao Trạch Đông và Nguyên soái Stalin đều gửi điện đến Bắc Kinh chào Hồ Chí Minh. Tối 9/2, các nhà lãnh đạo Xô viết mở tiệc chào mừng nhà lãnh đạo cách mang Việt Nam nhưng vắng mặt người lãnh đạo cao nhất. Ít hôm sau, Bác mới được tiếp kiến Stalin và nhận được sự bảo đảm Liên Xô sẽ viện trợ cho Việt Nam nhưng thông qua “các đồng chí Trung Quốc”.

Trong không khí của cuộc chiêu đãi chào mừng Đoàn Trung Quốc, Bác đề cập tới một Hiệp ước Tương trợ Xô-Việt, Stalin hỏi: “Nếu người ta hỏi đồng chí từ đâu đến thì chúng tôi biết giải thích như thế nào?”, Bác đã trả lời: “Điều đó thì dễ thôi. Đồng chí cứ cho một chiếc máy bay chở tôi bay quanh một vòng, sau đó đưa một số người ra sân bay đón chúng tôi, rồi đăng tin lên báo, chẳng lẽ không được sao?”. Mọi người đều cười, Satlin cũng cười to rồi nói: “Quả là người phương Đông giàu trí tưởng tượng !”.

Chiều 1 Tết Canh Dần, cách đây đúng 60 năm, Bác rời nước Nga trên chuyến tàu hoả cùng với 2 nhà lãnh đạo Trung Quốc để tiếp tục hoạch định sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam nó sẽ được cụ thể hoá sau đó không lâu bằng Chiến dịch giải phóng Biên giới.

Sau khi rời Bắc Kinh, ngày 11/3/1950, ngày 19/3, đã đến sát biên giới Tổ quốc, khi đến Long Châu, Bác có làm một bài thơ với lời dịch như sau: “Còn cách Long Châu ba chục dặm/ Nghe tàu bay rú, pháo gầm rung/ Nhân dân nước Việt, anh hùng thật/ Diệt thù, dựng nước ắt thành công”.

X&N
bee.net.vn

“Cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào”

– Cách đây 63 năm, ngày 10/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, các chiến sĩ ở tiền tuyến và Uỷ ban Hành chính Nam Bộ để thông báo về việc chính phủ đã ký Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Bác khẳng định: “Đối với nước Việt Nam ta, sự ký kết đó có một kết quả hay là nước Pháp thừa nhận nước Việt Nam là một nước tự chủ. Ấy cũng là nhờ ở sự tranh đấu anh dũng của tất cả đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ và của hết thảy anh em chiến sĩ khắp các mặt trận trong sáu tháng nay…

Trong giờ phút này, tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc tranh đấu cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng…

Ngày 10/3/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn về việc thu xếp để Người vào thăm đồng bào chiến sĩ miền NamNgày 10/3/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn về việc thu xếp để Người vào thăm đồng bào chiến sĩ miền Nam.

Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai cho Tổ quốc. Sự kiến thiết sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hành động nữa. Trong giai đoạn mới của lịch sử nước nhà hiện nay, tinh thần đoàn kết của anh em sẽ đưa lại những kết quả hơn nữa.”

22 năm sau, ngày 10/3/1968, Bác viết thư gửi Bí thư thứ nhất Lê Duẩn: “Nhớ lại Noel năm ngoái, Chú có khuyên B.(Bác) đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Bác rất tán thành.

Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn… Đi thăm đúng lúc, đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em… Có lẽ chú và các đồng chí khác e rằng sức khoẻ của Bác không cho phép Bác đi chơi xa. Nhưng thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu, sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn.”.

Trong hồi ức, ông Vũ Kỳ người thư ký gần gũi của Bác, cho biết Bác đã chuẩn bị cho chuyến đi này với quyết tâm rất cao, nhưng vì lý do sức khoẻ mà Bộ Chính trị chưa thể đồng ý ngay, để rồi nguyện vọng tha thiết đó đã không thực hiện được…

X&N
bee.net.vn

“Chúng ta hoà để tiến!”

– Ngày 9/3/1946, Báo “Cứu Quốc” đăng “Tuyên cáo dân chúng Pháp và Việt Nam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Leclerc đồng ký tên nêu rõ chủ trương quân Pháp sẽ trở lại khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16.

Bác kêu gọi “người Pháp và người Việt Nam hãy tuân lệnh những người lãnh đạo của 2 nước, thi hành các mệnh lệnh một cách triệt để, để cùng nhau xây dựng kinh tế và kiến thiết”.

Đây là những bước đi cần thiết để thúc đẩy việc thực hiện Hiệp định Sơ bộ 6/3, đấu tranh với những thế lực muốn phá hoại văn bản này nhằm đẩy tới một cuộc chiến tranh càng sớm càng tốt, với hy vọng sẽ bóp chết nhà nước cách mạng Việt Nam còn non trẻ.

Ngày 9/3/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Hội nghị Công giáo toàn quốcNgày 9/3/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Hội nghị Công giáo toàn quốc

Tướng Leclerc là người chỉ huy quân đội Pháp trong Lực lượng Đồng minh chống phát xít đã tiến vào giải phóng Thủ đô Paris của nước Pháp, là người đã tức thời muốn thúc đẩy quá trình hoà hoãn này. Có thể vì vậy mà không bao lâu sau đó, ông đã phải rời khỏi Đông Dương rồi chết trong một tai nạn máy bay một cách bí hiểm ở Châu Phi.

Ngày 9/3/1946, cũng là ngày Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (lúc này đã rút vào hoạt động không công khai) đã đưa ra bản chỉ thị lịch sử có tên “Hoà để Tiến”, với lời kết luận: “Các đồng chí, Tổ quốc đang gặp những bước khó khăn. Nhưng con thuyền cách mạng đang luồn những mỏm đá ghềnh để lướt tới. Chúng ta hoà với nước Pháp để giành lấy thời gian, bảo toàn thực lực, giữ vững lập trường đặng mau tiến tới độc lâp hoàn toàn”.

Cũng trong ngày 9/3/1946, tiếp và trả lời phỏng vấn của báo giới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán một số quan điểm trong chính giới Pháp chưa thực sự tôn trọng nền thống nhất của Việt Nam.

Bác khẳng định: “Nếu chiến tranh kéo dài thì Khối Liên hiệp Pháp cũng hỏng, lợi quyền Pháp ở Á Đông cũng mất, nước ta sẽ bị tàn phá tiêu điều. Nhưng dù tiêu điều đến đâu, non nước này vẫn là non nước Việt Nam. Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con cháu ta, sẽ xây dựng một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

X&N
bee.net.vn

“Phụ nữ Việt Nam xứng đáng là con cháu của Hai Bà”

– Ngày 8/3/1952, lần đầu tiên kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế phụ nữ ”.

Thư viết: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang, là dũng cảm kháng chiến Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế giúp Phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy, hăng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà và là lực lượng trong Quốc tế phụ nữ.

Ngày 8/3/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy Dệt 8/3 Hà NộiNgày 8/3/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy Dệt 8/3 Hà Nội

Nhân dịp 8/3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng… Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Cùng ngày, Bác viết bài “Nam nữ bình quyền” với những lập luận sâu sắc: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó.

Vì trọng nam khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội… Vì thế mà không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…

Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”.

Ngày 8/3/1964, trên báo “Nhân Dân” dưới bút danh “Chiến sĩ”, Bác viết bài “Gửi chị em phụ nữ Hoa Kỳ” để lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không những gây đau khổ cho nhân dân và phụ nữ Việt Nam mà còn đối với cả phụ nữ Mỹ.

Bài báo viết “Nhân dân hai nước chúng ta không hề thù oán gì nhau. Chúng ta, nhất là chị em phụ nữ chúng ta đều muốn sống trong hoà bình và hữu nghị… Nếu không chấm dứt chiến tranh thì nhân dân Mỹ trước hết là chị em phụ nữ Mỹ cũng sẽ bị thêm gánh nặng đau thương vì mất chồng, mất con…

Nhân dip này, chúng tôi gửi lời chào thân ái đến 400 chị em ở các bang New York, Maryland, Virginia,Connecticut… vừa rồi biểu tình trước Phủ Tổng thống Mỹ để đòi giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam”.

Ngày 8/3/1965, Bác Hồ đến thăm Nhà máy Dệt 8/3 vào thời điểm chuẩn bị làm lễ khánh thành. Đây là công trình xây dựng từ nguồn vốn có phần đóng góp của phụ nữ cả nước có quy mô và trang bị hiện đại nhất miền Bắc vào thời diểm đó. Nói chuyện vói cán bộ và công nhân, Bác nhấn mạnh đến ý nghĩa như tên gọi của nhà máy là biểu dương sức mạnh và đóng góp của phụ nữ đối với đất nước.

X&N
bee.net.vn

“Tôi thà chết chứ không bán nước!”

– Ngày 7/3/1946, Hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” thuật lại: tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bội Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng và Cố vấn Vĩnh Thuỵ đồng tiếp J.Sainteny để bàn việc triển khai tiếp bản Hiệp định sơ bộ vừa ký kết ngày hôm trước. Người đứng đầu nhà nước Việt Nam đặt vấn đề cuộc hội đàm chính thức nên được tổ chức tại Paris.

Đầu giờ chiều, Bác đạt được thoả thuận với J.Sainteny sẽ cùng ký dưới một thông báo chung để bố cáo rộng rãi trong đó có nội dung: “Chính phủ Pháp thừa nhận Việt Nam tự thành lập một chính phủ riêng của mình để cho Việt Nam hoàn toàn tự do trong việc thiết lập chính quyền.

Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.

Chính phủ Việt Nam không phản đối việc quân đội Pháp trở lại một cách hoà bình để thay thế quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở khu vực Đông Dương từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên. Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định sơ bộ là chấm dứt mọi cuộc xung đột trên lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông báo này đựoc phát đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn”.

16 giờ ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tính lớn của đông đảo nhân dân trước Nhà Hát lớn thành phố để giải thích về nội dung bản hiệp định đã ký kết. Sau phát biểu của Võ Nguyên Giáp kết thúc bằng sự khắng định: “Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hoà bình vì tiến bộ. Con đuờng mở ra với hiệp định chính là con đường dẫn chúng ta đến độc lập trong một ngày gần đây, thật sự và hoàn toàn. Đó là mục đích của chúng ta”, Vũ Hồng Khanh, người tham gia ký bản hiệp định cũng xác nhận : “Mục đích của chúng ta là độc lập hoàn toàn. Mục đích đó, chúng ta không chỉ một bước mà đạt được”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng: “Nước ta độc lập thực sự từ tháng Tám 1945. Nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó dẫn ta đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế . Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trong kỷ luật”.

Cuối cùng, vị Chủ tịch của nước Việt Nam Mới tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bán nước !”. Cùng trong ngày, Bác ký giấy uỷ nhiệm cho các phái viên đặc biệt của Chính phủ là Hoàng Quốc Viêt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Một năm sau đó, ngày 7/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các vị Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây, lãnh đạo “Phòng Nam Bộ” cơ quan trực thuộc Chính phủ theo dõi và hỗ trợ cho phong trào kháng chiến Nam Bộ. Thư có đoạn: “Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta biết trước những sự gay go khốn nạn đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta”.

X&N
bee.net.vn

Chuyện ký kết Hiệp định Sơ bộ

– Ngày 6/3/1946, hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: Đó là một thời điểm nghiêm trọng.

Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo ngòi nổ. Tình thế đã khiến cho cả Pháp lẫn Trung Hoa Quốc dân Đảng đều muốn Pháp – Việt có một thoả thuận, ít nhất là tạm thời để tránh xung đột nổ ra.

Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt - Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộNgày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt – Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộ

Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Bác thấy đã đến lúc cần đi đến một quyết định bằng cách đưa ra giải pháp “Nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do” thay vì đòi “độc lập” mà lúc này Pháp không thể thừa nhận và cũng tránh được khái niệm “tự trị” của phía Pháp áp đặt mà chúng ta cũng không thể chấp nhận.

Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành. Buổi trưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hoàng Minh Giám tiếp tục thảo luận những nội dung cuối cùng với đại diện phía Pháp J.Sainteny .

Và 16h30 phút Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, với những điều khoản khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam tự giải quyết… và nằm trong Liên bang Đông Dương cũng như trong Khối Liên hiệp Pháp.

Việc ký kết có sự chứng kiến của các bên liên quan và cả đại diện phái bộ Mỹ và lãnh sự Anh.  Phát biểu sau lễ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Đây là một quyết định sáng suốt nhưng đầy khó khăn. Sáng suốt bởi vì nó giúp cho lực lượng cách mạng còn quá non trẻ tránh phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nằm trong mưu đồ của các thế lực diều hâu trong chính giới Pháp và các thế lực chống đối ở trong nước như Việt Quốc, Việt Cách… Còn khó khăn bởi vì phải làm sao cho đồng bào hiểu rằng đó là một sách lược chứ không phải từ bỏ mục tiêu giành độc lập hoàn toàn.

Trong “Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ”, Bác chân thành bày tỏ: “Đồng bào Việt Nam nghe tôi, tin tôi, vì suốt đời tôi đã tranh đấu chống chế độ thực dân, tranh quyền độc lập cho nước nhà… Vì tin vào sự hoàn toàn độc lập tương lai của nước nhà, tôi cùng Chính phủ đã ký bản Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp…” và kêu gọi “đồng bào hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ”.

Vì muốn tránh một cuộc chiến tranh, Bác đã làm hết sức mình, qua nước Pháp 3 tháng rưỡi để vận động hoà bình và hợp tác, ký Tạm ước 14/9… Nhưng khi thực dân Pháp quyết xâm lược nước ta một lần nữa thì chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân nhất tề bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến (19/12/1946)…

Chỉ một năm sau ngày ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 6/3/1947, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước qua tháng thứ ba, gặp gỡ những người làm việc gần mình, Bác giải thích: “Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu mà sức giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được. Phải vừa đánh vừa nuôi sức mình cho khỏe lên…

Khi sức ta đã khoẻ, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy mới chắc thắng. Cho nên kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi”.

Và những người giúp việc gần Bác nhất từ đó, mang các tên: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ, Nhất, Định, Thắng, Lợi.

X&N
bee.net.vn

“Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”

– Ngày 5/3/1947, trước tình hình quân Pháp từ Hà Nội đang âm mưu chiếm tỉnh lỵ Hà Đông để gây thanh thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bức thư để ứng phó với tình hình chiến sự đang diễn ra rất gay go, ác liệt và động viên nhân dân tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Trước tiên, trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, sau khi vạch trần thủ đoạn của địch, Bác động viên: “Chúng ta không hoang mang. Chúng ta phải nhẫn nại, phải cương quyết. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay ta”.

Quan điểm ấy được đưa ra trên cơ sở phân tích rằng: “Vì địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng… Trong cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”.

Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.

Trong “Thư gửi đồng bào hậu phương” viết cùng ngày, Bác kêu gọi: “Đồng bào tản cư đi đến đâu, thì đồng bào ở nơi đó… cần an ủi họ, giúp đỡ họ. Có cơm giúp cơm, có cháo giúp cháo. Ít nhất cũng có một bát nước chè, một lời thân ái gọi là tỏ nghĩa đồng tình: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” và kết luận: “Mỗi một đồng bào phải sẵn lòng bác ái, phải cư xử cho xứng đáng là con Rồng cháu Tiên”.

Không chỉ với đồng bào của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết thư gửi Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lòng mong muốn được sống hoà bình và hợp tác thân thiện với nước Pháp của nhân dân Việt Nam.

Thư lên án âm mưu gây chiến của các thế lực thực dân ở Đông Dương mà tiêu biểu là của Đô đốc D’Argenlieu và nêu rõ: “Chính sách “bắt nạt” của các người đại diện Pháp ở Đông Duơng đã bắt chúng tôi phải chịu đựng cuộc chiến tranh này. Chiến tranh chồng chất đổ nát và tang tóc kên trên đất nước chúng tôi, nhưng chúng tôi cuơng quyết chịu mọi sự hy sinh để bênh vực những nguyện vọng và quyền lợi của chúng tôi.

Chúng tôi muốn độc lâp và thống nhất. Chúng tôi muốn cộng tác với dân tộc Pháp trong Khối Liên hiệp Pháp. Chúng tôi muốn hoà bình để kiến thiết lại nước chúng tôi. Quốc hội và nhân dân Pháp cần phải làm cho cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này chấm dứt, cần phải giải quyết vấn đề Việt – Pháp một cách xứng đáng với nước Pháp mới”.

Thư còn vạch rõ chiến dịch quân sự mà giới thực dân phát động vào ngày 2/3/1947 từ thành phố Hà Nội mới chiếm đóng tiếp tục đánh chiếm Hà Đông và một số vùng lân cận chỉ “đoạt được những đống gạch vụn. Nhưng trái lại, họ đã mở đầu cho thời kỳ chiến tranh du kích tốn kém và ác hại, có thể kéo dài tới 10 hay 20 năm”.

Bức thư kết luận: “Máu Pháp và Việt chảy đã nhiều. Chiến tranh không nên kéo dài nữa. Chiến tranh không đưa đến đâu cả. Chúng tôi sẵn sàng lập lại hoà bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện”.

X&N
bee.net.vn

“Đảng LĐVN sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa của dân”

– Ngày 3/3/1951, thưc hiện Nghị quyết của Đại hội II, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức buổi “lễ ra mắt quốc dân” (một thời kỳ ngày 3/3 được coi là ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam).

Trong “lời kết thúc”, với cương vị là Chủ tịch Đảng mới được bầu, Bác Hồ nhấn mạnh rằng mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”; nhiệm vụ là lãnh đạo toàn dân đi đến “Kháng chiến thắng lợi, Kiến quốc thành công”; chính sách của Đảng “có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta Độc lập – Thống nhất – Dân chủ – Phú cường”…

Ngày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa IndonesiaNgày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa Indonesia

“Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ. Nghèo khó không thể chuyển lay. Uy lực không thể khuất phục…” vì thế “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân.

Tuy vậy, Đảng Lao động Việt Nam cũng do nhiều người tổ chức lại mà thành. Mà người thì ai cũng có ít nhiều khuyết điểm. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam mong mỏi và hoan nghênh sự phê bình thật thà của các đảng phái và đoàn thể bạn, của các nhân sĩ và của toàn thể đồng bào để cho Đảng tiến bộ mãi”.

Thành lập từ mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố “tự giải tán” để góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong bối cảnh vô cùng phức tạp sau ngày  giành được độc lập. Nói cách khác, sự thành lập Đảng Lao động Viêt Nam cũng có ý nghĩa là sự “ra mắt, trở lại hoạt động” của Đảng Cộng sản ở nước ta.

Vào thời điểm này không còn quan điểm về một Đảng Cộng sản Đông Dương và ở Lào và Campuchia các đảng cộng sản cũng đã được thành lập đoàn kết cùng Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Cùng ngày hôm đó, Bác còn tham dự lễ khai mạc Đại hội thống nhất 2 Mặt trận Việt Minh và Liên Việt và bày tỏ niềm sung sướng khi chứng kiến “rừng cây đại đoàn kết ấy nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão” và “chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết mà toàn dân 2 nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cũng đi đến đại đoàn kết”.

X&N
bee.net.vn

Ngày Bác Hồ bắt tay viết sách

 – Ngày 28/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh tại Quốc tế Cộng sản đề nghị gửi cho mình các tờ báo cánh tả như các tờ “La Vie Ouvrière” (Đời sống công nhân) và tạp chí “Quốc tế Công hội Đỏ”, đồng thời đề nghị gửi cả mấy tờ báo cánh hữu, báo “tư sản”: để che mắt và ứng phó “nếu cảnh sát thấy rằng tôi đã nhận những  tờ báo chí “lật đổ”.

Cùng ngày hôm đó, nhà cách mạng Việt Nam lúc này vẫn đang ở Hồng Kông sau khi đã thông báo với Quốc tế Cộng sản về sự kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt để giới thiệu về đất nước Xô Viết:

Ngày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền BắcNgày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc

“Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sạp báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam, phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam.

Nhiệm vụ của cúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm viêc này tôi có ý đinh viết một quyển sách, bằng tiếng An Nam, đương nhiên, dưới hình thức “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi  mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện…”

Bức thư kèm theo một đề cương chi tiết về  nước Nga trước và trong cách mạng và nước Nga ngày nay. Nội dung của nó đề cập tới những thay đổi lịch sử, vai trò của các tầng lớp đối với cách mạng và các tổ chức cách mạng. Về nước Nga sau cách mạng, quyển sách sẽ giới thiệu về tổ chức nhà nước và xã hội của nước Nga mới, đời sống của các tầng lớp xã hội, vấn đề ruộng đất, chính sách “Kinh tế mới”,  các thành tựu về kinh tế giáo dục, văn hoá và y tế cùng  Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế …

Để viết quyển sách này, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản cung cấp thêm tư liệu gửi qua Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời cũng nêu khó khăn về in ấn, nhất là thiếu các con chữ la tinh đặc thù của tiếng Việt là có nhiều dấu…

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam và Indonesia luôn gắn bó với nhau”

– Ngày 27/2/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đặt chân tới thủ đô Jakartar chính thức mở đầu chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hoà Indonesia. Tổng thống Sukarno, chính phủ và nhân dân Indonesia đã nồng nhiệt đón Đoàn.

Ngoài các cuộc đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa, sau Ấn Độ và Myanmar, Công hoà Indonesia là quốc gia thứ ba ở châu Á và cũng là các quốc gia dân tộc chủ nghĩa mà Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến thăm. Riêng Cộng hoà Indonesia cũng giành được độc lập cùng thời điểm với Việt Nam khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh.

Cuối tháng 2/1957, Bác dự Đại hội Văn hóa và Văn nghệ Toàn quốc lần thứ IICuối tháng 2/1957, Bác dự Đại hội Văn hóa và Văn nghệ Toàn quốc lần thứ II

Trước khi máy bay cất cánh từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác đã phát biểu với những người ra tiễn rằng:  “Chúng tôi sẽ thay mặt đồng bào ta mang tình hữu nghị thắm thiết đến với nhân dân Indonesia anh em. Chắc rằng lúc chúng tôi trở về sẽ đem theo món quà quý báu, tức là tình hữu nghị của nhân dân Indonesia đối với nhân dân ta”. Máy bay rời Hà Nội ngày 26/2 những phải quá cảnh tại Rangun, thủ đô Myanmar.

Phát biểu tại Quốc hội Indonesia (ngày 28/2), Bác khẳng định: “Lịch sử hai nước chúng ta chứng tỏ rằng: đoàn kết toàn dân là một yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của chúng  ta. Sự đoàn kết chặt chẽ giữa các nước Á-Phi cũng là yếu tố quan trọng để thắng chủ nghĩa thực dân đế quốc… Nhiều nước Á Phi đã giành được độc lập. Các nước Á-Phi chúng ta ngày nay càng có quan hệ mật thiết với nhau, ủng hộ lẫn nhau, hợp tác với nhau trong sự nghiệp chung là giữ gìn hoà bình, bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước…”.

Tại bữa tiệc do Tổng thống Indonesia Sukarno chiêu đãi, trong đáp từ, Bác chia sẻ: “Hai dân tộc Việt Nam và Indonesia đều có những giai đoạn lịch sử giống nhau, đã từng kiên quyết chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân, đã cùng một lúc đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ…” .

Còn trong diễn văn tại cuộc mít tinh chào mừng của nhân dân Băng Đung, Bác khẳng định ràng nhân dân hai nước “gắn bó với nhau trong cuộc cách mạng vĩ đại giành độc lập dân tộc đã luôn luôn đồng tình và ủng hộ nhau lẫn nhau, ngày nay càng đoàn kết ủng hộ nhau hơn nữa”.

Trong lời cảm ơn khi nhận bằng “bác si danh dự” của Trường Đại học Patgiangiaran (Băng Đung), Bác nói: “Thế giới ngày nay đang tiến những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người  Khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội và của bản thân mình. Thế hệ thanh niên như mùa Xuân, như vì sao mới mọc, chúng tôi đặt rất nhiều hy vọng vào các bạn…”.

Còn khi nhận tấm “Huân chương Du kích” do đích thân Tổng thống Sukarno trao, Bác bày tỏ : “…tôi rất sung sướng nhận Huân chương và sẽ trao lại vinh dự này cho toàn thể nhân dân Việt Nam”.

Trên đường trở về Bác ghé qua Côn Minh (Trung Quốc) và ngày 11/3/1959 về tới Hà Nội. Ngày 24/6 cùng trong năm đó Tổng thống Sukarno bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam…

X&N
bee.net.vn

“Để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn”

– Ngày 26/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh thảo điện mật gửi Đặng Việt Châu, phái viên của Chính phủ tại Thanh Hoá yêu cầu nhanh chóng củng cố quyền lực của chính quyền ở 6 châu thượng du vẫn phải thuộc quyền hành chính của tỉnh và phải có đại diện chính phủ tham gia các Uỷ ban của 6 châu thượng du đó.

Đồng thời Bác nhắc Văn phòng gửi điện cho lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá phải đăng lá thư “Gửi đồng bào thượng du” và động viên các vị quan lang và dân chúng để củng cố hậu phương vào thời điểm chiến tranh đang lan rộng.

Tháng 2/1961, Bác Hồ trở lại thăm chiến khu Cao Bằng xưaTháng 2/1961, Bác Hồ trở lại thăm chiến khu Cao Bằng xưa.

Bức thư “Gửi đồng bào thượng du” viết: “Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, đồng bào thiểu số đã tỏ lòng nồng nàn yêu nước… Tôi nhận được nhiều thơ của đồng bào Thổ, Mường, Nùng, Mèo, Mán… đều nói kiên quyết ủng hộ Chính phủ, kháng chiến đến cùng, chống giặc thực dân, để giữ gìn giang sơn đất nước…

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào và trân trọng hứa rằng: Đến ngày kháng chiến thành công, Tổ quốc và Chính phủ sẽ luôn luôn ghi nhớ những công lao của đồng bào…”.

Đồng bào các dân tộc ít người ở Cao Bằng đón chào BácĐồng bào các dân tộc ít người ở Cao Bằng đón chào Bác.

Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Bác Hồ luôn quan tâm đến công tác vận động bà con các dân tộc ít người và trong thực tế, chiến khu cách mạng thường là địa bàn sinh sống của cộng đồng nhiều thành phần dân tộc ít người đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi của cách mạng.

Ngay sau ngày, giành được chính quyền, tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt vẫn quan tâm cử người ở lại chiến khu củng cố căn cứ địa phòng khi phải trở lại, mặt khác luôn quan tâm đến các dân tộc ít người trong quá trình xây dựng chính sách quốc gia.

Ngày 23/11/1945, tiếp đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang về thăm Thủ đô, Bác phát biểu:

“Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng dân tộc rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán (nay gọi là dân tộc Dao và Tày) ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, ghét oán bọn giặc xâm lăng.

Trước kia, còn thời Pháp, Nhật, tất cả già trẻ, đàn ông, đàn bàn… ai cũng tham gia cách mạng hoặc ra mặt trận giết giặc, hoặc ở đằng sau trồng trọt ngô khoai, giúp cho quân lính mình. Bây giờ, nước ta độc lập, tôi thay mặt đồng bào Kinh cảm ơn anh chị em….

Bao giờ bọn giặc Pháp không trở lại được nữa, đồng bào Kinh sẽ được rảnh rang giúp đồng bào Thổ, Mán nhiều hơn. Chính phủ cũng sẽ giúp cho đồng bào Thổ, Mán như sẽ giúp cho các dân tộc nhỏ khác đuợc có đủ ruộng làm, đủ trâu bò cày…

Tôi nhờ anh chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em một nhà và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng hưởng chung”.

Và chỉ 10 ngày sau, ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam họp tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia, các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn…” đồng thời nêu rõ:

“Anh em thiểu số chúng ta sẽ được: 1. Dân tộc bình đẳng, Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những hủ tục cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt…; Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng đuợc độc lập hoàn toàn và thái bình”.

X&N
bee.net.vn