Tag Archive | Tin tức

Điện gửi Hội nghị thế giới chống bom nguyên tử và khinh khí lần thứ mười (1-8-1964)

Nhân dịp Hội nghị thế giới lần thứ mười chống bom nguyên tử và khinh khí, thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Nhật Bản đòi triệt để cấm vũ khí nguyên tử, đòi hủy bỏ các cǎn cứ quân sự của Mỹ trên đất Nhật, đòi trả lại Ôkinaoa cho Nhật Bản.

Chúng tôi tin rằng với truyền thống đấu tranh anh dũng và liên tục trong những nǎm qua, Hội nghị sẽ lên án nghiêm khắc âm mưu gây chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và sẽ góp phần động viên đông đảo nhân dân Nhật Bản và nhân dân các nước khác tham gia sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới và giải phóng dân tộc.

Với lòng tin chắc vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Nhật Bản và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, tôi xin chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 3776, ngày 1-8-1964.
cpv.org.vn

Bài nói tại buổi lễ tuyên dương các đơn vị phòng không và hải quân (7-8-1964)

Bác rất vui mừng thay mặt Đảng và Chính phủ đến khen ngợi các chú đã lập được thành tích lớn trong các cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ vừa qua.

Các chú đã chiến đấu rất dũng cảm, đã bắn rơi tám chiếc máy bay Mỹ và bắn hỏng ba chiếc, vừa rồi lại nghe tin bốn chiếc máy bay Mỹ đến Biên Hoà bị hỏng. Các chú đã bắt sống phi công Mỹ, đánh đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi vùng biển nước ta. Như vậy là rất tốt.

Nhân dịp này, Bác gửi lời thân ái hỏi thǎm các đơn vị phòng không, hải quân, các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và đồng bào ta ở các vùng bị giặc khiêu khích đã nêu cao truyền thống quyết chiến quyết thắng và đã trừng phạt đích đáng kẻ địch.

Để gỡ thế bí của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ ráo riết hoạt động khiêu khích phá hoại miền Bắc, đưa tàu chiến, máy bay đến khiêu khích, bắn phá, nhưng chúng đã thất bại.

Các chú đã thu được thắng lợi vẻ vang nhưng chớ vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải biết rằng đế quốc Mỹ và tay sai chết thì chết, nết không chừa. Chúng còn nhiều âm mưu hiểm ác.

Trong trận này, chúng ta đã cho đế quốc Mỹ một bài học đích đáng. Đồng thời chúng ta đã thấy rõ hơn những ưu điểm và nhược điểm của ta. Các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và các địa phương cần rút kinh nghiệm để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Các chú phải tiếp tục đẩy mạnh mọi mặt công tác và luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình, nhưng nếu đế quốc Mỹ và tay sai xâm phạm đến miền Bắc nước ta, thì toàn dân ta nhất định sẽ đánh bại chúng.

Nói ngày 7-8-1964.

————————–

Báo Nhân dân, số 3783, ngày 8-8-1964.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của Hãng thông tin Mỹ UPI (9-8-1964)

“Về những câu hỏi ông nêu ra, bản Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 6 tháng 8 nǎm 1964 có thể cung cấp những câu trả lời đầy đủ nhất.

Tôi muốn nói với dư luận nhân dân ở nước Mỹ và toàn thế giới sự cǎm phẫn của toàn thể nhân dân Việt Nam trước những hành động xâm lược có tính toán từ trước của Chính phủ Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi cũng muốn nói lên ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam, với sức mạnh được tǎng cường gấp bội, quyết đấu tranh chống bọn xâm lược cho đến thắng lợi.

Nhân dân Việt Nam mạnh vì có chính nghĩa, có sự đoàn kết và lòng dũng cảm và được sự ủng hộ của các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ.

Trong khi Chính phủ Mỹ đang tiến hành chiến tranh trên đất nước chúng tôi, tôi thiết tha kêu gọi nhân dân Mỹ và nhân dân toàn thế giới hiệp lực đấu tranh để ngǎn chặn sự xâm lược đầy tội ác đó đối với nước Việt Nam, để bảo vệ hoà bình.

————————

Báo Nhân dân, số 3784, ngày 9-8-1964.
cpv.org.vn

Điện cảm ơn cụ Béctơrǎng Rútxen (10-8-1964)

Kính gửi Cụ Béctơrǎng Rútxen,

Tôi hoan nghênh việc Cụ đã lên án những hành động của Mỹ gây chiến và đe doạ hoà bình đối với đất nước chúng tôi và khu vực Đông – Nam Á.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà luôn luôn tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954. Nhưng vì đế quốc Mỹ đã có những hành động gây chiến đối với nước chúng tôi, cho nên nhân dân chúng tôi phải dùng biện pháp tự vệ cần thiết để giữ gìn chủ quyền và an ninh của nước chúng tôi.

Chúng tôi luôn luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình.

Tôi xin cảm ơn Cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi Cụ lời chào kính trọng.

Hồ Chí Minh

——————–

Báo Nhân dân, số 3785, ngày 10-8-1964.
cpv.org.vn

Thủ đoạn tội ác của đế quốc Mỹ (15-8-1964)

Đế quốc Mỹ càng thất bại và sa lầy ở miền Nam, chúng càng cǎm thù miền Bắc. Vì chúng cho rằng miền Bắc chỉ huy và tiếp tế phong trào yêu nước chống Mỹ của miền Nam. Đã lâu, chúng có âm mưu khiêu khích và phá hoại miền Bắc. Từ đầu nǎm nay, âm mưu đó càng lộ liễu. Vài chứng cớ:

24-2-1964: HãngAP đưa tin: “Mỹ có thể đưa chiến tranh đến miền Bắc Việt Nam”.

25-2: Báo Bưu điện Nữu Ước viết: “Người phụ trách kế hoạch Bộ Ngoại giao Mỹ là Rôxtâu chủ trương rằng khi cần thì trực tiếp đánh Hà Nội”.

9-3: Hãng UPIđưa tin: “Việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đi Sài Gòn lần này có quan hệ với kế hoạch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc”.

4-4: Chính mồm tổng Giôn đã nói: đối với vấn đề miền Nam Việt Nam chỉ có hai cách giải quyết: hoặc là Mỹ cuốn gói chuồn, hoặc là “mở rộng chiến tranh”.

1-6: Tuần báo Mỹ viết: “Hội nghị ở Hônôlulu có Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng và hơn 40 tướng tá Mỹ đã bàn đến bốn biện pháp đối với miền Nam. Một trong bốn biện pháp là “mở rộng chiến tranh đến miền Bắc cộng sản” và “tập trung các tàu chiến Mỹ trên vùng biển miền Bắc để phô trương lực lượng của Mỹ”.

1-7: Taylo sang làm “đại sứ” ở Sài Gòn để chuẩn bị việc mở rộng chiến tranh.

10-7: Báo Nữu Ước luận đàm viết: “Mỹ đã có kế hoạch tỉ mỉ để “trả đũa” bằng cách ném bom miền Bắc”.

13-7: Hãng UPIviết: “Mỹ có thể ném bom miền Bắc, hoặc phong toả miền Bắc bằng hải quân”.

Từ cuối tháng bảy, đế quốc Mỹ đã bắt đầu hành động tội ác của chúng.

30-7: Tàu chiến Mỹ đã xâm phạm vùng biển của ta, chúng bắn vào Hòn Mê và Hòn Ngư.

31-7 và hai hôm sau: Tàu chiến Mỹ Mađốc xâm phạm vùng biển ta để khiêu khích, bị hải quân ta đuổi chạy.

1-8: Máy bay Mỹ từ sân bay Lào đến bắn phá đồn Nậm Cắn và làng Noọng Dẻ ở biên giới ta.

5-8: Mỹ bày chuyện dựng đứng cái gọi là “lần thứ hai tàu phóng ngư lôi Việt Nam đánh tàu chiến Mỹ”. Chúng nặn ra chuyện hoang đường đó để mượn cớ cho máy bay Mỹ bắn phá mấy nơi trên đất nước ta.

Cùng trong lúc đó, tổng Giôn làm trò hề đã sắp xếp sẵn. Y vội vã họp quan vǎn tướng võ và các lãnh tụ Quốc hội Mỹ; vội vã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trước nhân dân Hoa Kỳ; vội vã cho đại biểu Mỹ ở Liên hợp quốc vu cáo ta là kẻ “xâm lược”; vội vã phái Lốt, cựu “đại sứ” ở Sài Gòn đi “thuyết phục” các nước đồng minh Mỹ.

Mưu ma chước quỷ của đế quốc Mỹ đã quá rõ ràng và chúng đã thất bại nhục nhã.

Như bà con đã biết, quân và dân ta đã chiến đấu rất anh dũng, đã bắn rơi tám chiếc máy bay Mỹ, bắn bị thương ba chiếc và bắt sống một phi công. Chắc là đế quốc Mỹ không ngờ bị một vố cay như vậy về quân sự. Vố chính trị càng đau hơn nữa. Khắp nǎm châu trên quả đất, các nước anh em và các nước bè bạn ta, các đoàn thể và nhân sĩ yêu chuộng hoà bình và công lý đều nghiêm khắc lên án đế quốc Mỹ, đều nhiệt liệt ủng hộ ta. Riêng ở Trung Quốc đã có hàng chục triệu người biểu tình với khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ!”. Thanh niên Mỹ cũng biểu tình lên án hành động xâm lược của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam. Trước Quốc hội Mỹ, ông Moxơ đã lên án bọn quân phiệt và chính khách hiếu chiến Hoa Kỳ “đã gây ra vụ vịnh Bắc Bộ… vì đã bắn vào các đảo của Bắc Việt Nam trước …và trong mấy tháng qua đã tán thành mở rộng cuộc chiến tranh”.

Nhân dân ta cần có hoà bình để xây dựng đời sống mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chính vì vậy mà chúng ta phải ra sức đẩy mạnh sản xuất, luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc.

Nếu đế quốc Mỹ điên cuồng xâm phạm đến ta, thì nhân dân cả nước ta nhất định sẽ đánh quỵ chúng. Chính nghĩa nhất định thắng!

Chiến sĩ

———————-

Báo Nhân dân,số 3790, ngày 15-8-1964.
cpv.org.vn

Điện mừng Hội nghị quốc tế thảo luận khoa học (21-8-1964)

Kính gửi Chủ tịch đoàn Hội nghị quốc tế thảo luận khoa học, Bắc Kinh

Nhân dịp Hội nghị quốc tế thảo luận khoa học họp tại Bắc Kinh, tôi xin gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Tôi tin rằng cuộc Hội nghị thảo luận khoa học này sẽ thắt chặt hơn nữa sự đoàn kết và hợp tác giữa các nhà khoa học, tạo điều kiện cho sự phát triển khoa học và vǎn hóa nhằm phục vụ độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới.

Kính chúc Hội nghị thành công rực rỡ.

Hồ Chí Minh

—————–

Báo Nhân dân,số 3797, ngày 22-8-1964.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của nhà báo Iôcô Mátxuôca (11-9-1964)

Hỏi: Thưa Chủ tịch, đề nghị Chủ tịch phân tích tình hình hiện nay của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và nhiệm vụ của hai miền Bắc và Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh đó; cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ của Việt Nam có ý nghĩa như thế nào trong sự so sánh lực lượng giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa và đã có ảnh hưởng như thế nào đối với châu á, đặc biệt là đối với Đông – Nam á?

Trả lời: Miền Nam chống Mỹ và tay sai đã mười nǎm. Với lòng yêu nước, tuy bắt đầu chiến đấu với gậy tầm vông, cung ná, nhưng ngày càng thắng lợi từ nhỏ đến lớn. Nay đã có một đội quân giải phóng hùng mạnh, giải phóng hai phần ba đất đai, hơn một nửa dân số.

Đế quốc Mỹ và tay sai có 50 vạn quân, hàng vạn cố vấn Mỹ, hàng trǎm máy bay, tàu chiến, đại bác… ngày càng thất bại, sa lầy, đi sâu vào “đường hầm không lối thoát”.

Miền Nam là tiền tuyến chống Mỹ. Miền Bắc là cơ sở của cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà. Nhân dân miền Bắc ủng hộ đồng bào miền Nam của mình. Chúng tôi tôn trọng Hiệp định Giơnevơ 1954. Chính Mỹ và tay sai là những kẻ phá hoại.

Cuộc đấu tranh yêu nước của miền Nam chẳng những nhằm giải phóng hoàn toàn một nửa Tổ quốc chúng tôi, mà còn có tác dụng ngǎn chặn đế quốc Mỹ và tay sai tiến công miền Bắc Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nước xã hội chủ nghĩa.

Đó là một bộ phận của phong trào chung giải phóng dân tộc đang tiến công mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

Cần nói rõ thêm: đế quốc Mỹ xem miền Nam là nơi thí nghiệm “chiến tranh đặc biệt” để đàn áp các dân tộc khác. Vì vậy, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi là để tự giải phóng mà cũng là một cống hiến vào cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc ở châu á, châu Phi, châu Mỹ latinh và nhất là ở Đông – Nam á, để tự vệ chống sự xâm lược của bọn đế quốc hiếu chiến, đặc biệt là đế quốc Mỹ.

Hỏi: Đề nghị Chủ tịch cho biết ý kiến về triển vọng của sự thống nhất hai miền Bắc và Nam Việt Nam.

Trả lời: Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi, dù còn nhiều gian khổ, song nhất định thắng lợi. Miền Nam nhất định sẽ được giải phóng, sự nghiệp đấu tranh để hoà bình thống nhất đất nước chúng tôi nhất định sẽ thành công.

Hỏi: Đề nghị Chủ tịch cho biết những đặc điểm của công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển sau này của chủ nghĩa xã hội trên thế giới?

Trả lời: Chúng tôi xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh một nước vốn là thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá. Hoàn cảnh ấy, cố nhiên gây cho chúng tôi rất nhiều khó khǎn. Song, những thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả nǎng của một nước như nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết Việt Nam đối với vấn đềchủ nghĩa xét lại trong phe xã hội chủ nghĩa như thế nào?

Trả lời: Lịch sử phong trào cách mạng thường có những mâu thuẫn, có những cuộc đấu tranh về tư tưởng, nhưng kết quả là chủ nghĩa Mác – Lênin thắng lợi, cách mạng ngày càng phát triển.

Chúng tôi tin rằng cuộc đấu tranh tư tưởng trong phe xã hội chủ nghĩa, tuy còn khó khǎn, nhưng sẽ được giải quyết tốt đẹp. Trong cuộc đấu tranh ấy, chúng tôi luôn luôn giữ thái độ kiên trì đoàn kết trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo vệ những nguyên tắc cách mạng của hai bản tuyên bố Mátxcơva 1957 và 1960.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có lời gì gửi nhân dân Nhật Bản trên tinh thần tǎng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản.

Trả lời: Nhân dân Việt Nam rất cảm phục tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân Nhật Bản chống đế quốc Mỹ và bọn phản động trong nước, nhằm xây dựng một nước Nhật Bản hoà bình, độc lập, dân chủ và xây dựng tình hữu nghị với các dân tộc.

Chúng tôi cảm ơn sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Nhật Bản đối với cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi và đối với cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam chúng tôi.

Mong rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Nhật Bản ngày càng chặt chẽ, vì lợi ích chung của nhân dân hai nước chúng ta, của nhân dân châu á và nhân dân toàn thế giới yêu chuộng hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

————————

Báo Nhân dân,số 3816, ngày 11-9-1964.
cpv.org.vn

Bác Hồ và Phật giáo

 Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Nhờ thế, sau ngày thống nhất đất nước (1975), nhiều lần tôi được các Sư bà Thích nữ Diệu Không, Sư bà Thích nữ Cát Tường, Sư cô Tịnh Giải (thế danh là Trương Thị Bích Vân) tiếp tại chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Sư bà Cát Tường cho tôi chiếc xe Jeep của trường Mẫu giáo Kiều Đàm trước năm 1975.

Tôi không được dùng xe riêng nên đã chuyển cho anh Võ Đông – Trưởng phòng TTVH TP Huế sử dụng vào việc công. Chiếc xe ấy đã giúp nhiều việc cho phòng, mãi đến thời gian gần đây mới cho “giải nghiệp”.

aẢnh IE

Biết tôi là người rất lịch sử, thích chuyện cũ và thơ văn, Sư bà Thích nữ Diệu Không đã kể cho tôi nghe chuyện các gia đình Hồ Đắc – Cao Xuân của Sư bà quan hệ với gia đình Bác Hồ, chuyện Phật giáo cứu dân và đặc biệt chuyện Sư bà làm thơ Kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ mừng Ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

1. Chuyện ông Tư Sinh

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi quan tâm ngay việc nghiên cứu Huế để giải toả những thắc mắc về lịch sử Huế mà suốt thời gian theo kháng chiến, tôi không tự trả lời cho mình được.

Một trong những thắc mắc đó là thời gian gần mười năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và học hành ở Huế. Nhờ có ý thức sớm như vậy, tôi đã may mắn gặp được những người bạn học, những “người cùng thời” với Bác ở Huế.

Một trong những “người cùng thời” đó là Sư bà Thích nữ Diệu Không. Sư bà không những là người cùng thời mà còn từng làm dâu trong gia đình Cao Xuân Nghệ An – gia đình có mối quan hệ sâu sắc với gia đình thân sinh của Bác.

Sư bà Diệu Không nhũ danh Hồ Thị Hạnh, ái nữ của cụ Thượng Hồ Đắc Trung, lúc chưa xuất gia là vợ ông Cao Xuân Xang (con trai thứ của cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).
[…]

Sư bà kể:

-“Năm lên 10 tuổi, tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong Bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói.

Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ những không hiểu hết ý nghĩa nên hỏi thầy tôi. Thầy tôi đáp:

-“Nghe nói trước đây, gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên Bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái rất tốt nên thầy truyền cho thợ phải để lại.”

Bà kể tiếp:

– “Sau đó, thầy tôi không làm ở Bộ Học nữa. Tôi lớn lên, lấy chồng là ông Cao Xuân Xang – con trai cụ Cao Xuân Dục – bạn với thầy tôi (1). Nhớ chuyện cũ, có lần tôi hỏi nhà tôi:

– “Anh có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong Bộ Học – nơi anh ở trước đây không?”

Ông nhà tôi đáp:

– “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với anh Cả (2). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân Sửu (1901), ông mới đỗ Phó bảng. Sau này, con ông là Nguyễn Sinh Côn, học sinh trường Đông Ba và trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình”.

Tôi (Sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó đã hỏi ông nhà tôi: “Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền, chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà anh nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông nhà tôi không muốn kể nhưng biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu chưa được trả lời đầy đủ.

Để khỏi bị “quấy rầy”, ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy, ông mình (3) đang chuẩn bị thành lập Bộ Học cho Triều đình thì một hôm, ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông.

Ông hỏi Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?”

Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây, nên tôi phải vào Kinh”.

Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây, những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi không?” – Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không tìm được câu trả lời.

Ông mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để dạy con ở giữa chốn Kinh kỳ này”.

Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được”. Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!”.

Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của Bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông.

Về sau ông Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng, bỏ trống chức Thừa biện ở Bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Chuyện kể của Sư bà đã giúp tôi thông tin để viết về chuyện cụ Nguyễn Sinh Huy vào Huế làm quan. Thông tin này chưa từng được phát hiện nên tôi đã phải ghi chép xong rồi đem đọc lại cho Sư bà nghe. Sư bà sửa chữa nhiều lần rồi tôi mới dám đưa vào cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế (Nxb Văn Học tái bản năm 2003).

2. Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo.

Sư bà dạy tôi:“Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng…không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng, và người thân của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận. Sau chiến dịch Huế xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng.

Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu Thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân”, đứng ra xin Chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan  một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế, và chắc chắn không làm gì còn có nhà báo viết chuyện cười Hoàng Thiếu Phủ sau này. Và, anh của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế – khó lòng được yên ổn để đi cho đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Trung phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn.

Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng. Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo.

Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật. Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử Giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch :

Tặng Việt Nam Độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt nầy.

3. Thơ kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp Cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi), đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao.

Bà Tâm Hải bảo tôi: “Sư bà Thích nữ Diệu Không” rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp bà và đề nghị bà viết cho một bài”.

Tôi thực hiện ý kiến của bà Tâm Hải ngay. Nhưng lúc Sư bà Diệu Không lại đi Thành phố Hồ Chí Minh nên chuyện “xin bài” của Sư bà chưa thành. Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ, Sư bà rất tiếc.

Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy Ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự. 

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm người như một bậc Thầy.
Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.
Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi chí lớn,
Lòng thành trong sạch nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ, có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được giải phóng và thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác “Mùa thu Bính Thìn 1976”, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời  của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (Giáo sư Bác Cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng Bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách thuyền quy.
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi             

Thích nữ Diệu Không dịch,

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi

(Mùa thu Bính Thìn 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưa, Thăm tháp Quảng Đức (chùa Hòa Giai Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịch, Thăm trường Quảng Bá, Đêm thu trên Hồ Tây, Đi thăm mộ.v.v. và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà. Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ. Sư bà không những viết về sự nghiệp cứu nước của Bác mà Sư bà cùng đồng hành hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Tuy nhiên, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam. Sư bà không phải là người của Bác.

Theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo. Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo chánh/ Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông“. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 12/2007    

Chú thích:

1.Sư bà Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh,  sinh năm 1905 (có nơi ghi 1906) em gái út trong gia đình 9 anh chị em con của cụ Hồ Đắc Trung.

Năm 1930, cô Hạnh lập gia đình với Cử nhân Cao Xuân Xang, sinh được một người con trai (Cao Xuân Chuân), hương lửa chưa quá một năm thì phu quân của bà mất vì bệnh lao.

Từ đó, bà lao vào việc từ thiện xã hội, rồi gởi con cho chị nuôi, bà xuất gia đầu Phật với pháp hiệu Thích nữ Diệu Không. Sư bà đã thành lập nhiều chùa Sư nữ ở miền Nam VN, ba ngôi nổi tiếng nhất  Diệu Đức, Hồng Ân, Kiều Đàm ở Huế.

2.Tức Cao Xuân Tiếu (1865-1939)

3.Tức Cụ Cao Xuân Dục thân sinh của Cao Xuân Tiếu và Cao Xuân Xang.

Tâm Hằng N.Đ.X.
bee.net.vn

Không chỉ là Tết Độc lập…

– Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Dù không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Tại sao gọi là Tết Độc lập?

Theo nghĩa đen, “Tết Độc lâp” được dành cho Tết Bính Tuất (1946) là cái Tết Nguyên đán cổ truyền đầu tiên được tổ chức trong khung cảnh đất nước đã độc lập sau 80 năm bị đô hộ của thực dân Pháp. Trong bài báo có nhan đề là “Tết” đăng trên “Cứu Quốc”, Bác viết rằng đây là “Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Giao thừa năm đó, Bác cải trang hoà mình vào dòng người đi lễ và hái lộc trong Đền Ngọc Sơn rồi nửa đêm Bác đi thăm một vài gia đình nghèo nhất, không có Tết và đề nghị lãnh đạo Hà Nội lo Tết cho đồng bào nghèo.

Nhưng “Tết Độc lập” cũng còn được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945) cho đến nhiều năm về sau.

Sở dĩ như vậy vì theo cách gọi của người xưa chữ “Tết” là biến âm của chữ “tiết” theo nghĩa của Hán tự để nói đến những thời điểm lập lại trong tiến trình vận hành của thời gian trong mỗi năm mà nó mang một ý nghĩa nào đó với đời sống tâm linh hay tín ngưỡng của dân gian.

Theo tâp quán dân gian, ngoài Tết Nguyên đán là mở đầu cho một năm mới; còn rất nhiều sinh hoạt tín ngưỡng cũng được gọi là “Tết”, ví như: Tết Trung Thu, Tết  Đoan Ngọ, Tết Hàn thực (ít nhiều có ảnh hưởng với văn hoá Trung Hoa)… Vì thế, khi người dân Việt Nam gọi Ngày Độc lập (2/9/1945) và những ngày Quốc khánh hàng năm là “Tết Độc lập” là theo cái nghĩa một sự kiện có ý nghĩa như cái mốc mở ra một cái gì tốt đẹp cho cả một dân tộc. Đó là một ngày hội thực sự của những con người nhận thấu được một sự thay đổi to lớn không chỉ với quốc gia mà với chính mỗi con người.

“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi dùng hình tượng một dân tộc “rũ bùn đứng dậy”, còn những sĩ phu của nền học cổ hay những trí thức của nền học mới thì nhận ra từ cái nhục vong quốc nô trở thành một “dân quốc”, một công dân của một quốc gia độc lập tự do. Còn số đông người dân thì nhận thấy những kẻ cai trị hôm qua như thực dân, quan lại phong kiến giờ đây đã bị tước đoạt hết quyền lực và họ nhận thấy hy vọng của sự “đổi đời” khi thấy mọi thứ đã khác trước.

Tâm trạng của số đông ấy là có thực, với những người cao tuổi thì là một phần ký ức sâu sắc; còn với những người không được sống vào thời điểm lịch sử ấy chúng ta có thể thấy được phần nào sự “thăng hoa” hay “hưng phấn” ấy qua những dấu ấn của đời sống văn hoá, xã hội mà báo chí, các tác phẩm văn chương và nghệ thuật phản ánh lại.

Tết Độc lập “thời lập bàn thờ Tổ quốc là trên hết”

Ý niệm về Tết Độc lập ấy kéo dài qua cuộc kháng chiến chống thực dân để có ngày chiến thắng 1954. Một lần nữa cái cảm nhận về “Tết Độc lập” trở lại sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng kéo dài phần nào cho đến trước khi chiến tranh trở lại…

Khi Cách mạng thành công, tôi chưa ra đời. Nhưng tôi có thể thấy phần nào không khí vào thời điểm Thủ đô giải phóng (10/10/1954) với cái Tết giải phóng đầu tiên, năm 1955.

Tôi nhớ hồi đó người ta hay lập các “bàn thờ Tổ quốc” ở nơi công cộng hay ở cả một số gia đình. Trên bàn thờ ngoài những vật thờ như bàn thờ gia tiên thế nào cũng có lá cờ đỏ sao vàng và dòng chữ để cao nơi trang trọng nhất: “Tổ quốc trên hết”.

Hồi đó, tôi còn thấy một tập quán vốn có từ thời Cách mạng mới thành công 1945-1946 là người ta đun những nồi nước chè đặt cửa nhà mình hay nơi công cộng để cho khách vãng lại dùng. Việc đón các chú bộ đội, hay cán bộ miền Nam tập kết về nhà mình là phổ biến.  Một bữa ăn thịnh soạn hơn ngày thường để người ta tập trung ôn lại những ngày đầu “dân quốc” mới cách đó chưa đầy một thập kỷ và những ngày tạm chiếm vừa mới qua…

Rồi không khí “Tết” dường như nhạt dần cùng với những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là những rạn vỡ trong quan hệ giữa người với người. Thời kỳ chiến tranh phá hoại mới bùng nổ, gặp khó khăn chung con người có thể bắt đầu hàn gắn và cô kết lại. Người thành phố sơ tán về nông thôn vẫn nhận được những tình cảm chia sẻ rất mộc mạc của người dân quê với câu đầu lưỡi “Ơn Đảng, ơn Bác” các ông các bà mới về đây với chúng tôi. Họ chia sẻ thực sự cái tình đồng bào tưởng chừng đã mất. Và cái không khí “Tết Độc lập” có phần nào trở lại trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, cái ý nghĩ chính trị hoà vào trong nếp sống và ứng xử văn hoá… Nhưng chiến tranh qua rồi thì hình như nó lại bắt đầu nhàn nhạt dần, đến hôm nay ít người còn gọi Ngày Quốc khánh là “Tết Độc lập”.

“Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”

Ý niệm về “Tết Độc lập” đã phai dần trước những thử thách mới. Không phải là chiến tranh, vì với chiến tranh gian khổ hy sinh nhưng người ta còn hy vọng vào ngày chiến thắng. Chính quá trình tìm kiếm con đường phát triển, cùng với nó là một số chính sách, nhất là những “chính sách cải tạo” với hy vọng sẽ xây dựng một xã hội mới tốt đẹp nhưng duy ý chí đã làm đổ vỡ không ít những giá trị tốt đẹp và niềm tin.

Sau những sai lầm trong cải cách ruộng đất dù đã được nỗ lực sửa sai, tiếp đó cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, thực chất là tấn công vào sở hữu tư nhân và đội ngũ các nhà công thương đã từng được tôn vinh từ những ngày đầu  nước nhà Độc lập; kể cả cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn mà tập trung ở quá trình hợp tác hoá ở nông thôn, nhân danh chủ nghĩa tập thể đã tước đoạt phần nào một vài thành quả mà cách mạng và kháng chiến đã đem lại với mục tiêu “ruộng đất cho dân cày” đã khiến cho không khí xã hội mất dần cảm xúc ngày Tết. Còn lại chỉ là những chương trình nặng tính tuyên truyền chính trị pha thêm những quan điểm không tưởng gắn với đấu tranh giai cấp.

Hơn nữa chiến tranh diễn ra trên cả nước khốc liệt nên ít ai nghĩ về Ngày Quốc khánh như những ngày hội mà chủ yếu là những đợt vận động chính trị hướng về tiền tuyến…

Đến nay, dù cuộc sống của nhân dân đã yên bình và ngày một sung túc hơn, nhưng cảm xúc về một ngày Tết Độc lập cũng không còn như trước lâu. Trong khi, các nhà chính trị luôn hướng tâm thức Ngày Tết Nguyên đán tới “Mừng Đảng, mừng Xuân”, xu thế chung ngày Tết người dân thường hướng về đời sống gia đình, tổ tiên và thoả mãn những nhu cầu của chất lượng sống hiện đại như du lịch hay làm từ thiện!

Đó cũng là điều thường tình. Vì nếu trong những buổi đầu Đất nước mới độc lập thì người dân thấy hiểu hơn cái giá trị độc lập vốn là niềm khao khát bấy lâu.

Nhưng để có lại được không khí Tết Độc lập, để không khí đó sẽ trở thành động lực cho con đường mà dân tộc ta sẽ phải tiến nhanh hơn, tiêu chí hàng đầu chính là niềm tin của người dân và tình yêu nước phải được hướng vào những giá trị đích thực.

Với thế hệ hiện tại, sinh ra đã là người dân độc lập rồi, có lẽ người dân thấm câu nói Bác Hồ đã từng đề cập tới từ rất sớm là “Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”.

Dẫu rằng, nhiều cái tốt đẹp trong quá khứ mất dần là điều khó tránh… Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Nhưng chắc chắn rằng, không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn chẳng nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

“Việt Nam – Lào đoàn kết chặt chẽ”

– “Việt Nam đoàn kết chặt chẽ. Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên (Campuchia) đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết ở đây là đoàn kết trong tinh thần, đoàn kết trong hành động, đoàn kết trong đấu tranh, chứ không phải đoàn kết ngoài miệng”.

Khi nhờ chuyển tặng món quà cho Chủ tịch Souphanuvon một tấm lụa, một thanh kiếm và một bộ quần áo với ý nghĩa được Bác giải thích: “Tấm lụa tượng trưng cho sự mềm mỏng và đại đoàn kết. Đoàn kết chặt chẽ như những sợi tơ trong tấm lụa. Mềm mỏng là để đối với nhân dân. Thanh kiếm là tượng trưng cho sự sắc sảo và kiên quyết. Còn bộ quần áo để tặng cho cán bộ Lào thi đua giỏi nhất”.

Đó là quan điểm về tình đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp được Bác phát biểu ngày 14/9/1945 tại Hội nghị Cán bộ liên minh Việt Lào.

dNăm 1954, tại Việt bắc, Bác tiếp Hoàng thân Chủ tịch Souphanuvon, Chủ tịch Neo Lào Hắec xạt

14 năm sau, đến thăm Hội nghị Thuỷ lợi toàn miền Bắc họp tại tỉnh Bắc Ninh, Bác phân tích: “Làm thuỷ lợi phải là phong trào của toàn dân, xã này với xã khác, huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đều có liên quan với nhau, phải cùng làm, phải thảo luận với nhau, phải đoàn kết  giúp đỡ lẫn nhau, không nên chỉ nhìn thấy lợi ích của nơi mình mà để thiệt nơi khác”.

Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ còn khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói“Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”. Lời dặn dò của Bác với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn trong bữa cơm chia tay các vị tướng lên đường vào mặt trận miền Nam vào trung tuần tháng 9/1964.

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn

Mùa hè năm 1959, cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức tại Lư Sơn. Lúc bấy giờ, đối với quốc tế là một tin tức tuyệt mật. Nhưng lại có một vị nguyên thủ quốc gia của nước ngoài một mình đến Lư Sơn. Người ấy là ai? Người ấy đến Lư Sơn có công việc gì? Câu chuyện bí mật xảy ra cách đây hơn 50 năm đến nay cần được biết rõ.

Một mình lên Lư Sơn

Tháng 8/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm Liên Xô, lúc về qua Bắc Kinh, nghe ông Trần Nghị nói Mao Trạch Đông và các đồng trí khác đều đang họp tại Lư Sơn, Hồ Chí Minh quyết định một mình đến Lư Sơn. Theo nhật lý của ông Dương Thượng Côn và hồi ký của các nhân vật có liên quan thời kỳ bấy giờ, Hồ Chí Minh ngồi máy bay hàng không dân dụng Trung Quốc cất cánh tại sân bay Bắc Kinh, sáng sớm ngày 9/8, khoảng độ 10 giờ sáng hôm đó đã đến sây bay Thập Lý Phố của thành phố Cửu Giang. Khi Hồ Chí Minh vừa ra khỏi máy bay, các ông Dượng Thượng Côn, Uông Đông Hưng đã đón chờ từ lâu liền mang hoa đến, ông Dương Thượng Côn nói to lên: “Chúc Chủ tịch mạnh khoẻ, Mao Chủ tịch cử chúng tôi đến đón Bác”.

dHồ Chủ Tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai

Vì ở Lư Sơn đang có “cuộc họp bí mật”, nên ở Bắc Kinh Hồ Chí Minh đã nói trước là không tổ chức nghi thức đón tiếp, không đưa tin, không xuất hiện công khai. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh thấy ông Dương Thượng Côn đặc trách xuống núi đón, người liền nói: “Là người cùng một nhà, đã nói trước rằng đừng có xuống núi đón tiếp cơ mà” và tươi cười hai tay nhận lấy bó hoa tươi.

Tiệc đón tiếp

Hai xe cùng lúc chạy theo hướng Lư Sơn, Dương Thượng Côn và Hồ Chí Minh ngồi xe thứ nhất, Uông Đông Hưng, Trình Tiên Hỷ và phiên dịch Việt Nam ngồi xe thứ hai. 12 giờ trưa, hai xe cùng đỗ tại toà biệt thự số 394, Dương Thượng Côn mời Hồ Chí Minh xuống xe, nghỉ ngơi tại đây. Nào ngờ Hồ Chí Minh lắc đầu và kiên quyết nói rằng: “Hiện giờ tôi đi gặp Mao Chủ tịch, tôi muốn sớm được gặp ông ta”.

Hôm ấy tại phòng khách gác 2 biệt thự số 180, đều bày đủ các món ăn, đồng thời bày thêm hai chai rượu Mao Đài. Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác mời Hồ Chí Minh ngồi ở chỗ thượng toạ, Hồ Chí Minh nhìn vào Mao Trạch Đông vừa cười vừa nói: “Ở đây đều là đồng chí anh em cả, ai lớn tuổi thì ngồi thượng toạ”. Mao Trạch Đông với giọng vùng Thiệu Sơn nói to rằng: “Được được, đồng chí Chu Đức lớn tuổi nhất ngồi thượng toạ, liền sau đó là Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Dương Thượng Côn… ngồi theo thứ tự.

Hồ Chí Minh nâng cốc, thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam cám ơn những người cộng sản Trung Quốc, và nói rằng: “Chúng ta vừa là đồng chí, vừa là anh em thật sự”. Câu nói ngắn gọn của Hồ Chí Minh làm xúc động nhiều người”.

Sáng sớm đã đột nhiên “mất tích”

Buổi chiều hôm đó, Hồ Chí Minh từ biệt thự số 180 trở về biệt thự số 394. Thể theo quy định thống nhất của cuộc họp, những người quản lý nói chung không ngủ tại toà biệt thự. Trình Tiên Hỷ không ngủ tại toà biệt thự này. Sáng hôm sau, khi anh Hỷ bước vào toà biệt thự 394 cảm thấy rất kỳ lạ, không thấy Bác Hồ, kể cả anh phiên dịch và vệ sĩ cũng tìm không thấy. Đang lúc anh Hỷ nóng ruột cầm điện thoại định hỏi rõ nguyên nhân, thì anh phiên dịch được người lái xe đưa về nhà, nói rằng Bác Hồ một lúc nữa sẽ về, đừng nóng ruột. Vậy Bác Hồ sáng sớm đi đâu, anh phiên dịch nói luôn một câu tiếng Trung Quốc rất mẫu mực là: “Hãy tạm thời giữ bí mật”.

Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đang ở trước cửa số nhà biệt thự 124 ngay cạnh con đường có cây thông, Bác đang nói chuyện với Lưu Thiếu Kỳ chăng? Không, Bác đang một mình ngồi trên ghế đá ngay trước cửa. Vì Hồ Chí Minh không cho phiên dịch trình bày, cũng không cho phép anh vệ sĩ đi báo cáo, còn Lưu Thiếu Kỳ và thư ký của ông ta vì tối thức khuya, nên chưa ai thức dậy, còn các nhân viên khác đều không nhận ra Hồ Chí Minh, anh quản lý Bành Dục Viêm mấy lần đều hỏi, có cần gọi thủ trưởng thức dậy không, Bác đều tỏ ý không cần thiết, vì chẳng có việc gì cả, ngồi tại đây chờ đồng chí Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy cũng chẳng sao.

Hồ Chí Minh nói tiếng Trung Quốc lưu loát, ăn mặc giản dị, trên đầu lại đội chiếc mũ vải màu ghi, người ta khó mà nhận ra ông già gầy còm này là một nguyên thủ nước ngoài. Khoảng độ 30 phút, Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy, cậu Viêm mới thông báo tình hình này, thư ký riêng mới mở cửa ra ngó nhìn, vào báo cho Lưu Thiếu Kỳ ra ngoài cửa mời Hồ Chủ tịch vào trong nhà.

Lưu Thiếu Kỳ cùng Hồ Chí Minh xem kịch Giang Tây

Tối ngày 11/8, Trình Tiên Hỷ đưa Hồ Chí Minh đến kịch viện nhân dân Lư Sơn xem vở kịch Truy ngưthuộc loại kịch của tỉnh Giang Tây. Vì quãng đường rất gần, Hồ Chí Minh không lên xe, mấy người cuốc bộ đến kịch viện. Khi đến kịch viện, đã trông thấy Lưu Thiếu Kỳ đứng đợi trước cửa. Khi thấy Hồ Chí Minh, Lưu Thiếu Kỳ liền bước đến gần nói: “Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch dặn dò tôi đến cùng với Chủ tịch xem vở kịch này”. Tiếp đó, Hồ Chí Minh đi trước, bước vào kịch viện. Vở kịch Truy ngư là vở kịch xuất sắc của Đoàn kịch tỉnh Giang Tây, về lối hát, động tác và ánh đèn đều thuộc loại hạng nhất. Hồ Chí Minh chăm chú xem, cho tới lúc nghỉ nửa buổi, mới hỏi Lưu Thiếu Kỳ: “Về kịch Giang Tây với Kinh kịch, cách hát rõ ràng có khác nhau, song động tác múa trong vở kịch thì khác nhau không nhiều?” Ngày thường, Lưu Thiếu Kỳ ít khi bỏ thì giờ đi xem phim, còn xem kịch lại càng ít, nên đành thú thật nói rằng: “Tôi rất ít đi xem kịch, nghe nói các động tác trong Kinh kịch là hay nhất trong các loại kịch, nên các loại kịch khác cũng phỏng theo Kinh kịch”. Hồ Chí Minh liền gật đầu nói: “Loại kịch Giang Tây chưa được trình diễn ở Việt Nam, song Việt kịch của Quảng Đông thì ở Việt Nam được người ta hoan nghênh, Việt kịch tương đối chú trọng cách hát”.

Bị các đồng chí nữ đòi ăn kẹo cưới

Chiều ngày 12/8, đội quân nữ giới xông vào, trong đó có bà Thái Xướng vợ Lý Phú Xuân, bà Đặng Dĩnh Siêu vợ Chu Ân Lai, bà Khang Khắc Thanh vợ Chu Đức, bà Vương Quang Mỹ vợ Lưu Thiếu Kỳ cùng một số người nữ khác, nét mặt của các bà tươi cười, ai nấy đều mời Hồ Chí Minh ở lại thêm vài ngày nữa tại Lư Sơn.

Hồ Chí Minh nói: “Được được, khi nào Việt Nam thống nhất, tôi sẽ ở Lư Sơn trên nửa năm hay một năm gì đó”.

Bà Thái Xướng nói một cách lắt léo rằng: “Xin đừng đến một mình nhé”.

“Lẽ tất nhiên, tôi sẽ mời một số đồng bào cùng tôi sang đây ở”.

“Không, chỉ mời Bác và phu nhân”.

Bác cười, rồi nói thư thả: “À, té ra Đặng Dĩnh Siêu góp ý kiến trên hội đồng phụ nữ không muốn làm chiếc áo bông sợi tơ cho tôi là như thế này đấy”.

Một bà nhanh nhảu nói rằng: “Đúng vậy, bây giờ Bác nên lấy một bà vợ cách mạng, đừng có cứ bóc lột bà Đặng Dĩnh Siêu mãi”, trong phòng vang lên tiếng cười khà khà.

Hồ Chí Minh lâu nay vẫn sống một mình. Bao năm nay nhiều đồng chí Việt Nam và Trung Quốc đều quan tâm đến việc hôn nhân của Bác. Song khi còn trẻ, Bác đã có chí hướng: Tổ quốc không độc lập không thống nhất sẽ không kết hôn. Như vậy, những người bạn cũ quen biết lâu năm như Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu đành phải thường xuyên quan tâm đến sự mặc ấm cúng của anh cả này. Năm 1957, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tự mình làm chiếc áo bông sợi tơ cho Bác.

Các đồng chí nữ luôn miệng nói đùa rằng: “Khi Hồ Chủ tịch sang đây lần nữa, chúng tôi phải đòi bác cho ăn kẹo cưới”.

6 giờ 30 phút sáng ngày 13/8, chiếc xe con đỗ ngay trước cửa toà biệt thự số 394. Trước lúc chia tay, Hồ Chí Minh tặng cho mỗi người làm việc trong biệt thự một cuốn sổ tay có mang chữ ký của Bác và huy hiệu kỷ niệm “Việt Trung hữu hảo”, đồng thời chụp ảnh kỷ niệm chung với mọi người làm việc ở đây.

(Trần Thiện – Xưa & Nay, số 331, 5 – 2009)
bee.net.vn

Chuyện 1 liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác

– Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ, Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”. Câu chuyện về liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác, được kể lại 37 năm sau ngày mất của anh.

… Học kì  2 năm học 1964- 1965, do giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc mà Lâm cùng 2 em được theo trại nội trú của Bộ Công an sơ tán về Thuận Thành, Hà Bắc (bố Lâm là Cục trưởng Cục Cảnh vệ nên con được sơ tán theo trại). Vùng quê nghèo ven bờ sông Đuống năm học này ríu rít tiếng học trò Hà Nội về.

Chiều  ấy, Lâm theo chúng bạn ra sông tắm. Vừa tới bờ sông thì thấy một bạn gái đang chới với dưới nước. Cô giáo từ trên bờ vội nhảy xuống cứu. Nhưng cả 2 cô, trò không biết bơi. Cố vùng vẫy rồi chìm dần, chìm dần.

Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.

Theo phản xạ, Lâm lao như mũi tên xuống dòng. Nhớ anh trai dặn khi cứu người chết đuối phải vòng ra phía sau lưng, túm lấy tóc hoặc ôm lấy cổ rồi bơi ngửa, dìu họ vào bờ. (Người bị nạn cuống quýt mà ôm chặt lấy mình thì chết cả). Như con rái cá, Lâm lặn sâu rồi quàng tay vào cổ bạn, bơi ngửa, dìu vào bờ. Sau đó quay ra đón cô. Chuyện chỉ đơn giản có vậy.

Biết tin có cháu nhỏ dũng cảm cứu bạn, Bác Hồ gửi huy hiệu tặng Lâm, biểu dương “người tốt, việc tốt”.

Tháng 8/1965, tổ chức Đoàn các cơ quan Trung ương tổ chức “Đại hội “3 sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước”. Các tấm gương lao động, chiến đấu điển hình được mời về dự. Trong đại hội, hầu hết đại biểu là thanh niên, riêng thấy có 2 gương mặt thiếu niên – Nguyễn Lâm cùng Lưu Kim Oanh (diễn viên nhí của Đoàn Xiếc TW).

Bác Hồ  đã đến dự. Từ trên Chủ tịch đoàn, thấy có cháu bé ngồi hàng ghế đại biểu, Bác hỏi: “Cháu bé có thành tích gì mà được mời dự?”. “Dạ, đó là cháu Nguyễn Lâm có thành tích dũng cảm cứu bạn đấy ạ!”, chú thư kí trả lời.  “Vậy mời cháu lên đây!”.

Nguyễn Lâm  được các chú gọi lên, đứng trước mặt Bác. Xoa đầu Lâm, Bác âu yếm hỏi:

 –   Cháu tên là gì?

–   Dạ, Nguyễn Lâm ạ!

–   Thế cháu bao nhiêu tuổi?

–   Dạ, 12 ạ!

–   Cháu con ai?

–   Dạ, con bố Hoàng Hữu Kháng ạ!

–   A, thế ra cháu là con bố Kháng trong tổ bảo vệ cho Bác thời kì kháng chiến chống Pháp? Nghe các chú báo cáo, cháu dũng cảm, lao xuống sông cứu bạn. Thế cháu học bơi ở đâu?

–   Dạ, khi chưa đi sơ tán, cháu hay được theo bố vào CLB Ba Đình. Tại đây có bể bơi nên bố cháu và anh Sơn dạy cho biết bơi.

   –   Cháu biết bơi gì?

–   Cả bơi ếch, bơi sải ạ.

–   Các cô các chú có thấy không – Bác quay sang bên – cháu Lâm nhỏ tuổi mà đã có hành động dũng cảm. Qua đây chúng ta rút ra bài học: không chỉ dạy cho các cháu học văn hóa giỏi mà còn phải dạy cả thể thao, bơi lội, phải xây dựng cho các cháu tình yêu thương con người và lòng dũng cảm, dám hy sinh bản thân cứu người. Cháu Lâm là tấm gương sáng cho thanh, thiếu niên ta học tập…

Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác  đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”.

Tháng 10 năm ấy, Lâm nhập trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, đóng quân ở An Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên. Và chuyện này Lâm chưa kể với ai. Phải 37 năm sau ngày bạn hy sinh, chúng tôi mới biết. Xin cảm ơn gia đình đã cung cấp bức ảnh tư liệu vô giá cùng câu chuyện cảm động này! Xin ghi lại như 1 nén tâm nhang tưởng nhớ đến Nguyễn Lâm – LS Thành cổ!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn