Tag Archive | Tin tức

Học và làm theo Bác, cho “lòng ta trong sáng hơn”

(TCTG) – Cách đây 5 năm, đầu xuân Đinh Hợi vào ngày thành lập Đảng, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ngay từ những ngày đầu, Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi, nhiệt tình của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân
Qua mỗi năm, nội dung học tập và các hình thức tổ chức hoạt động tập thể nối tiếp nhau được tổ chức, tạo nên những phong trào có dấu ấn sâu đậm trong dư luận xã hội, mang lại những kết quả bước đầu đầy ấn tượng, đặc biệt là về nhận thức, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Qua thực hiện Cuộc vận động, nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đầy biến động, tác động đến lối sống của mỗi người, mỗi gia đình và xã hội, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn lời dạy của Bác “đạo đức không phải là cái gì từ trên trời rơi xuống, nó do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Với cán bộ, đảng viên, những người đã tuyên thệ dưới cờ Đảng, nguyện phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng của dân tộc qua cuộc vận động thêm một lần được ôn lại lời dạy của Bác: “Làm cách mạng là công việc to tát. Người cách mạng phải có đạo đức. Nếu không có đạo đức, tự mình tham ô, hủ hóa thì làm nổi việc gì”. Với Đảng, với những người cộng sản chân chính đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, từng trải qua những chặng đường đầy gian lao, thử thách, bao “uy vũ không khuất phục”, có dịp để suy ngẫm thêm quan niệm Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức suốt đời. Đó là: “Một Đảng, một dân tộc và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến, kính phục, không có nghĩa là hôm nay vẫn được mọi người tôn trọng, nếu như lòng dạ không trong sáng nữa, sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tổng kết 4 năm triển khai Cuộc vận động, Ban Chỉ đạo Trung ương đã báo cáo những kết quả bước đầu quan trọng của Cuộc vận động với Đại hội lần thứ XI của Đảng. Đại hội đã đánh giá cao kết quả của Cuộc vận động, nhất là trong việc hình thành nhận thức mới về việc rèn luyện đạo đức và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó yêu cầu phải đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên quan trọng trong Đảng và xã hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 14-5-2011 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nội dung việc học tập và làm theo lần này là tiếp tục những nội dung đã thực hiện trong Cuộc vận động, đồng thời có mở rộng và làm sâu sắc hơn, đặc biệt thêm điểm mới là học tập và làm theo phong cách của Bác.

Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là học tập tư tưởng đạo đức mang đậm những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với tư tưởng đạo đức tiên tiến nhất của thời đại, đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản. Đó là tư tưởng đạo đức vì con người, cho con người, vì nước vì dân, trung với nước, hiếu với dân, yêu thương, quý mến, kính trọng nhân dân. Tư tưởng đạo đức đó thể hiện một cách sống động trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong sáng, giản dị, thật sự khiêm tốn…, xuyên suốt cuộc đời của Người.

Nội dung học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung mới, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong thực hiện giải pháp đột phá cải cách hành chính. Phong cách là sự kết hợp giữa tư tưởng đạo đức, phương pháp và lối sống của mỗi người được thể hiện ra bên ngoài. Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức. Đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được tư tưởng đạo đức, nhân cách của một con người. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng đạo đức, nhân cách, phương pháp làm việc của Người, là một chỉnh thể, tạo thành một hệ thống với những thể hiện quan trọng nhất là phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt .v.v.

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Độc lập, tự chủ là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã qua thực tiễn kiểm nghiệm là sai, những cái cũ lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng nay không còn phù hợp, để tìm tòi, đi tới những cái mới mang tính thời đại, trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra. Sự sáng tạo ở Hồ Chí Minh là luôn xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tìm tòi, phát triển lý luận, tìm ra cái mới phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nhận thức về các quy luật phát triển chung của xã hội và thời đại. Tư duy đó luôn hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ của mình bằng những kiến thức rất phong phú, sâu rộng.

Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung, chủ yếu là tác phong quần chúng, tác phong tập thể – dân chủ, tác phong khoa học.

Tác phong quần chúng được thể hiện qua niềm tin yêu và tôn trọng con người; sự sâu sát quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng; sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Tác phong tập thể – dân chủ Hồ Chí Minh là luôn luôn tạo ra không khí sôi nổi, hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo trong tập thể. Người chỉ ra những hệ lụy của làm việc không tập thể, không dân chủ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “nội bộ của Đảng âm u”, “uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”, cấp trên cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng xa rời cán bộ, đảng viên… Tác phong khoa học Hồ Chí Minh tập trung ở những điểm chủ yếu như: làm việc đi sâu, đi sát cơ sở, có điều tra nghiên cứu, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể… Biết sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo dối trá, những phương án thiếu trung thực. Biết sử dụng bộ máy, những người cộng sự, những cơ quan giúp việc. Thường xuyên đặt ra chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng…

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là cách nói, cách viết trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc. Người đặt ra bốn vấn đề khi nói và viết là: Nói, viết cái gì?; Nói, viết cho ai?; Nói, viết để làm gì?; Nói, viết như thế nào? Đây là những vấn đề có tính nguyên tắc, định hướng cho việc nói và viết của mỗi người, nhất là đối với người lãnh đạo. Mặc dù công việc rất bận nhưng Hồ Chí Minh đã viết hơn 2.000 bài báo với hơn 100 bút danh khác nhau. Đặc trưng cơ bản trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là: chân thực, ngắn gọn, rõ ràng, trong sáng, giản dị, dễ hiểu, đi thẳng vào vấn đề, không màu mè, lắt léo, quanh co… Người căn dặn phải chống các bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, sính dùng chữ nước ngoài, thậm chí không hiểu cũng dùng; chống “thói ba hoa”…

Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là sự ứng xử trên một bình diện văn hóa cao. Đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình, vừa chủ động linh hoạt lại vừa ân cần, tế nhị, tự nhiên, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều cảm thấy không khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không e ngại, sợ sệt, không còn sự cách biệt giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa vĩ nhân với bình dân. Trong quan hệ với mọi người, Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng, khiêm nhường, sự khoan dung, độ lượng với con người. Chính vì vậy mà sức cuốn hút, cảm hóa, cảm phục, ngưỡng mộ và thôi thúc mọi người hướng tới Người, hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống, trong công tác, học tập, trong xây dựng và phát triển…

Phong cách sống, sinh hoạt Hồ Chí Minh có nhiều nét đã trở thành huyền thoại không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với cả thế giới. Đó là sự giản dị, thanh đạm, thanh cao trong sinh hoạt hàng ngày; là cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian, không ham muốn danh lợi riêng cho mình. Đó là tình thương yêu con người quyện với tình yêu thiên nhiên, tạo nên tinh thần lạc quan của người chiến sỹ, kết hợp chặt chẽ với những rung động say mê của một tâm hồn nghệ sĩ.

Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, nhân cách, lối sống Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống của Người, để Người trở thành sự toàn vẹn, với một cuộc sống trọn vẹn. Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện cuộc đời của Người, không cần đến bất cứ sự trang sức nào. Người không phải cố ý sống khác đời để mọi người ca ngợi, mà phong cách của Người xuất phát từ một triết lý nhân sinh là lấy khiêm tốn, giản dị làm nền; lấy chừng mực đức độ làm chuẩn; lấy trong sạch thanh cao làm vui; lấy gắn bó với con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trên vị trí công tác. Trên cơ sở trung thành, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng, lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong giai đoạn mới, góp phần tạo nên những động lực mới cho sự phát triển đất nước.

Học tập và làm theo phong cách làm việc Hồ Chí Minh, cần thực sự sâu sát quần chúng, tin yêu và tôn trọng quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Thực hiện và phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ trong Đảng, trong tổ chức sinh hoạt Đảng. Có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, hợp tác; có chương trình, kế hoạch sát hợp, thiết thực. Nói và viết dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe, người đọc; duy trì kỷ luật phát ngôn.

Học tập phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, xây dựng cho mình cách ứng xử có văn hóa với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em. Xuất phát từ thái độ yêu thương, quý mến con người, trân trọng con người, khoan dung, khiêm nhường, độ lượng với con người để có sự ứng xử tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình với mọi người. Xây dựng thái độ ứng xử với tự nhiên, môi trường đúng đắn, trách nhiệm, cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng môi trường sinh thái trong sạch, bền vững.

Học tập phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh, xây dựng lối sống giản dị, thanh cao, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian; tinh thần lạc quan, tự trọng và tôn trọng cộng đồng, xã hội.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh để mỗi chúng ta tự phấn đấu, vươn lên, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, làm việc có hiệu quả hơn.

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua mang lại cho chúng ta một nhận thức mới, giản dị nhưng rất quan trọng là học tập và làm theo Bác là công việc của mỗi người và mọi người.

Với mỗi người, khi trăn trở, vật lộn với cuộc sống làm cho chúng ta đôi khi sao lãng việc rèn luyện đạo đức. Với toàn xã hội, sự tập trung quá mức vào các mục tiêu kinh tế, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng để khắc phục nguy cơ tụt hậu, đuổi kịp các nước trong khu vực…, với bối cảnh kinh tế thị trường như một cơn lốc ập đến, tình trạng lệch chuẩn, loạn chuẩn trong xã hội ngày càng gia tăng. Tình trạng xem thường, không đánh giá đúng, hoặc không coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, vị tiền… đã dẫn đến những trả giá… Và Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hơn bốn năm qua đã góp phần mang đến sự thay đổi trong nhận thức, dù không phải là mới, được nhiều người chấp nhận: học tập và rèn luyện về đạo đức trước hết là của mỗi người, vì chính mình và phải luôn nêu gương về đạo đức. Sự trả giá nào đó trong những cuộc đời, gia đình và xã hội làm cơ sở để mọi người càng thấy rõ hơn “tính di truyền xã hội” của đạo đức, ý nghĩa và trách nhiệm trong sự nêu gương. Bác Hồ dạy, ông bà nêu gương cho con cháu, cha mẹ nêu gương cho con, anh chị nêu gương cho em, đảng viên nêu gương cho quần chúng. Đó là sự khẳng định về một nguyên tắc thực hành đạo đức, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tự mình rèn luyện đạo đức của mỗi người.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên cùng tập thể. Đứng trước những bão táp, mưa sa của cuộc sống vận động với tốc độ của âm thanh, ánh sáng thời công nghệ số, mỗi người đều cần đến một chỗ dựa từ tập thể. Việc đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị là một biện pháp quan trọng. Duy trì sinh hoạt thường xuyên, trong sinh hoạt định kỳ có nội dung trao đổi, thảo luận về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong tập thể, phát hiện những vấn đề nảy sinh về đạo đức, lối sống để chấn chỉnh, phát hiện những việc tốt, người tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến để học tập và noi theo… Hàng năm có tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, chú trọng công tác thi đua khen thưởng, động viên, khuyến khích kịp thời để các điển hình tiên tiến ngày càng nhiều thêm, nảy nở như hoa mùa xuân. Tổ chức đảng, chính quyền cấp trên chú trọng công tác kiểm tra, giúp cơ sở thực hiện đúng định hướng và có hiệu quả thiết thực.

Trong thực hiện Chỉ thị lần này cần chú trọng hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Bác Hồ đã dạy “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Điều ấy đang được thể hiện trong mục tiêu “dạy chữ, dạy người, dạy nghề” của ngành giáo dục. Dạy chữ luôn luôn là quan trọng hàng đầu. Nhưng trong điều kiện cách mạng công nghệ và “thời của Internet”, không thể và không cần đưa hết tri thức của nhân loại hiện có vào các chương trình đào tạo, đặc biệt là trong các trường phổ thông. Một số môn học có thể được giảm tải, tích hợp, chuyển thành môn tự chọn theo các định hướng nhất định…, để dành thời gian cho dạy người và dạy nghề. Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng các chương trình giáo dục đạo đức theo tư tưởng, tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các cấp học, bậc học. Thực hiện “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đưa nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh vào chính khóa là thực hiện lời dạy của Người, đó là “giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”.

Bước vào năm mới, vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, của dân tộc, mỗi người trong chúng ta hãy tự mình học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập và làm theo Bác cho “lòng ta trong sáng hơn”./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lời Người dạy ta

Trong bao câu chữ của đời
Hiếu Trung hai chữ lời Người dạy ta
Trung là trung với nước nhà
Hiếu là hiếu với dân ta muôn đời

Trong bao câu chữ của đời
Cần, Kiệm, Liêm, Chính lời Người dạy ta
Cần, Kiệm xây dựng nước nhà
Liêm, Chính là để chúng ta thành người

Mô tả ảnh.

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Đoàn Kết lời Người dạy ta
Kết Đoàn là một bài ca
Làm nên sức mạnh dân ta bao đời

Trong bao câu chữ của đời
Hai chữ Nhân ái lời Người dạy ta
Yêu người, yêu nước, yêu nhà
Nhân dân là gốc, bài ca muôn đời./.

Thái Ninh

baonamdinh.com.vn

Về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò về Đảng, và vấn đề đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cả cuộc đời của mình, Người đã tự thực hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn những tư tưởng và khát vọng đạo đức cách mạng; Người vừa là nhà lý luận đạo đức cách mạng, vừa là một tấm gương đạo đức trong sáng gần gũi và độc đáo nhất.

Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Và theo cách diễn đạt bình dị của Người: Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, và đi được xa. Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta tiến hành sự nghiệp vĩ đại giải phóng và thống nhất đất nước, Người đã khái quát và cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng thường xuyên nhấn mạnh: “Đảng phải là đạo đức, là văn minh”, cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng phải vừa hồng vừa chuyên, hội tụ đủ đức tài, đức là gốc; phải có sự trung với nước, và hiếu với dân. Trung với nước đó là sự trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, vì hòa bình hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Hiếu với dân đó không phải chỉ dừng lại ở chỗ thương dân, mà là phải chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng học tập dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc.

Về cần, kiệm, liêm chính, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là phẩm chất gắn liền với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể hàng ngày của mỗi con người không thể che đậy được; gắn chặt giữa nói và làm, giữa suy nghĩ và hành động. Thể hiện cụ thể:

+ Cần, là sự lao động, làm việc cần cù sáng tạo, có tổ chức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có kế hoạch, có năng suất, chất lượng cao. Những thói hư, tật xấu lười lao động, ăn bám, ăn cắp, làm láo báo cáo hay, vô tổ chức, vô kỷ luật là không phù hợp với đạo đức phẩm chất cách mạng. Bác Hồ rất ghét kẻ đạo đức giả, nói mà không làm, nói một đường làm một nẻo. Người cho rằng kẻ đó làm giảm đi lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

+ Kiệm, là tiết kiệm sức lao động, thời giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân từ cái nhỏ, đến cái lớn, không phô trương hình thức, xa xỉ, hoang phí. “Tiết kiệm là quốc sách”.

+ Liêm, là “luôn luôn tôn trọng của công, của dân”, “liêm khiết trong mọi hoàn cảnh” không tham địa vị, không tham tiền tài; không ham người tâng bốc mình. Lợi dụng chức vụ quyền hạn đục khoét của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc làm những việc trái đạo đức, trái pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân là người không liêm.

+ Chính, là “người không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình, đối với người và đối với việc. “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc sai thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Người còn dạy: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ; đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân phải tôn trọng lễ phép; đối với công việc phải tận tụy; đối với địch phải cương quyết khôn khéo”.

Về chí công vô tư, theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước cho thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người còn chỉ ra mối quan hệ: cần, kiệm, liêm chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính. Người đặc biệt lưu ý: “Trước nhất là cán bộ cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Người cũng còn chỉ ra một luận điểm rất quan trọng, có giá trị vô cùng thiết thực: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm việc trước cho người ta bắt chước”. Luận điểm này thể hiện rõ một phương châm xây dựng đạo đức là nêu gương. Không gì thiết thực hơn, có sức cảm hóa và lôi cuốn hơn trong lĩnh vực đạo đức bằng việc nêu gương tốt. Quần chúng nhân dân đã và đang phàn nàn về một số cán bộ, đảng viên không thường xuyên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, không tự phê bình và phê bình để góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Ở một số Chi, Đảng bộ thực hiện việc tự phê bình và phê bình có lúc, có nơi chỉ làm qua loa, lấy lệ. Mấy ai “dũng cảm” tự bộc bạch những hành vi tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính của mình; còn việc phê bình góp ý cho nhau thì xuê xoa “dĩ hòa vi quý” chính vì vậy một số cán bộ, đảng viên đã tự đánh mất mình không còn “cái tâm” trong sáng của người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của dân. Đó chính là do lãng quên việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà Bác Hồ đã dạy và do không thực thi nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.

Nguyễn Hoàng Long

baobinhdinh.com.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Cán bộ Đảng viên

Tư cách một người cách mệnh

Tự mình phải:

Cần kiệm.

Hòa mà không tư.

Cả quyết sửa lỗi mình.

Cẩn thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).

Hay nghiên cứu, xem xét.

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

Nói thì phải làm.

Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng tham muốn về vật chất

Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.

Với đoàn thể thì nghiêm.

Có lòng bày vẽ cho người.

Trực mà không táo bạo.

Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

Quyết đoán.

Dũng cảm.

Phục tùng đoàn thể.

Đường Kách mệnh,
Năm 1927, sđd, t.2, tr. 260.

Cán bộ là gì?

Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được.

Vậy cán bộ phải có đức tính như thế nào?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

2. Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…

3. Đối với công việc phải thế nào? Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh… Phải có kế hoạch bước đầu làm thế nào? Bước thứ hai làm thế nào? Bước thứ ba làm thế nào? Thành công thì thế nào? Nếu thất bại thì thế nào? Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay phải làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì? Phải cẩn thận, cẩn thận không phải là nhút nhát, do dự.

4. Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết.

5. Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm phải hy sinh vì Đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa
Ngày 20-2-1947, sđd, t.5, tr. 54-55.

Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

1. Cần – Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân.

2. Kiệm – Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần. Mỗi ngày, công sở cả nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì. Nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Các vật liệu cũng vậy. Nhờ các công sở tiết kiệm, mà lợi cho dân rất nhiều.

3. Liêm – Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu.

4. Chính – Mình và người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mệnh.

Đời sống mới,
Ngày 20-3-1947, sđd, t.5, tr.104-105.

15. …Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sư giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa:

– Trí – Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

– Tín – Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

– Nhân – Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

– Dũng – Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

– Liêm – Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết.

Lời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp,
ngày 10-10-1947, sđd, t.5, tr. 223-224.

16. …Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể.

…Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng.

…Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên là không nổi.

Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ,…)

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.236, 238.

17. … Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.

Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.250-251.

18. … Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.

Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu,
ngày 18-1-1949, sđd, t.5, tr. 552.

19. … Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng.

Vì vậy, đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây
ngày 10-2-1967, sđd, t.12, tr. 221-222.

20. … Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân.

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.

quangbinh.gov.vn

Người Cách mạng phải có đạo đực

Trong hơn nửa thế kỷ bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ từ một trí sĩ yêu nước đã trở thành một người cách mạng chân chính. Và với sự trải nghiệm của bản thân Bác đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về đạo đức của người cách mạng mà qua sự kiểm chứng khách quan của lịch sử, những quan điểm này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn và thực tiễn.

Vai trò và tầm quan trọng của đạo đức đối với người cách mạng đã được Bác nhấn mạnh: “người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không…” (Người cán bộ cách mạng, tháng 3-1955, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 480). Quan điểm này không chỉ đúng trong thời đại của Người mà trong thời đại của chúng ta quan điểm này vẫn là kim chỉ nam dẫn đường cho mỗi người cán bộ, Đảng viên noi theo vì ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, Đảng viên cũng là những mắt xích không thể thiếu trong hệ thống chính trị, làm việc vì mục tiêu thực hiện hoá lý tưởng của Đảng và Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nếu một mắt xích bị han rỉ sẽ ảnh hưởng tới sự vững mạnh của cả hệ thống, mà hệ thống có vững thì mỗi mắt xích mới được duy trì vì vậy giữ gìn đạo đức của người cách mạng là yếu tố vô cùng quan trọng để ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế- văn hoá- xã hội của một quốc gia, dân tộc phát triển.

Trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, Bác đã mở rộng quan điểm về đạo đức cách mạng: “Một người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quí hơn tính mệnh của mình. Bao giờ cũng quang minh, chính trực, ham cách sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc dân chúng, giữ gìn kỷ luật, chống lại “bệnh cá nhân””. Và đạo đức cách mạng không phải bỗng dưng mà có, nó là kết quả của quá trình tự đấu tranh và rèn luyện hàng ngày của mỗi cán bộ, Đảng viên. Đạo đức ấy phải được các cán bộ, Đảng viên thực hiện một cách nghiêm túc, bền bỉ trong suốt quá trình hoạt động cách mạng như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Tuy nhiên, đạo đức cách mạng không phải là những lời nói suông mà cần những hành động cụ thể. Trong bức thư Bác gửi thanh niên năm 1947, có viết Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Đây thực chất là lời căn dặn về việc “nói phải đi đôi với làm” vì nói có đi đôi với làm thì mới tạo ra sức mạnh thực tiễn và điều này đã được làm sáng tỏ trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ vì đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ, Đảng viên được thể hiện ở ý chí quyết tâm giết giặc, tinh thần quả cảm, hăng hái xông pha trên các chiến trường, sẵn sàng hy sinh xương máu vì tự do, độc lập của dân tộc nên đã động viên được toàn dân tham gia đánh giặc. Khi đất nước hoà bình, trước vô vàn khó khăn do tàn dư chiến tranh để lại, các cán bộ, Đảng viên từ Trung ương đến địa phương đã sát cánh cùng nhân dân tham gia lao động sản xuất, đưa đất nước ta từng bước thoát nghèo và trở thành  nước đang phát triển với một nền kinh tế năng động. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, muốn phát huy cao độ sức mạnh quần chúng trong việc hiện thực hoá các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng thì trước tiên các cán bộ, Đảng viên phải thực hiện tốt hành động cách mạng “nói đi đôi với làm”.

Đạo đức của người cách mạng cũng cần phải được nêu cao ở tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao. Tinh thần trách nhiệm ấy phải là: “Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm tròn nhiệm vụ”. Người cán bộ, Đảng viên là người cầm cân nảy mực trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, vì vậy nếu người cán bộ, Đảng viên không có tinh thần trách nhiệm với công việc thì chính sách sẽ không được triển khai một cách đầy đủ, chính xác đến với nhân dân, từ đó quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân sẽ không được đảm bảo, hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước không cao, do đó người cán bộ Đảng viên cũng không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào đạo đức cách mạng cũng là yếu tố quyết định đến kết quả hoạt động, công tác của người cách mạng. Tuy nhiên đạo đức ấy phải được tôi rèn trong nhân dân, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Thời đại ngày nay là thời đại của tri thức, của những tiến bộ khoa học, công nghệ, người cán bộ, Đảng viên không thể chỉ biết chính trị mà còn phải am hiểu rộng rãi nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Khi đề ra một chính sách liên quan đến lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, người cán bộ nhất thiết phải am hiểu về lĩnh vực đó, làm sao chính sách ấy có lợi cho cả doanh nghiệp và sự phát triển KT-XH của địa. Đó mới là sự biểu hiện thực tế của đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng luôn có sự kế thừa và phát triển. Người cán bộ, Đảng viên hiện nay cần nâng cao đạo đức cách mạng gắn liền với việc không ngừng học hỏi những kiến thức mới, tiến bộ của nhân loại để giải quyết công việc một cách hiệu quả, khách quan và khoa học.

Hồng Nhung

khcncaobang.gov.vn

Học tập lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm của Bác Hồ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm. Sự giản dị, khiêm tốn, tiết kiệm ấy mãi mãi là tấm g­ương sáng cho các thế hệ sau noi theo, nhất là trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hiện nay.

Sau khi tiếp quản Thủ đô (10/10/1954), Trung ư­ơng bố trí Bác ở và làm việc trong ngôi nhà cao tầng, đồ sộ, vốn là nơi ở của viên toàn quyền Đông Dư­ơng. Bác không đồng ý và sau đó chọn một căn phòng nhỏ trư­ớc đây là nơi ở của ng­ười thợ điện trong Phủ toàn quyền, đồng thời bảo anh em phục vụ quét dọn ngôi nhà đồ sộ ấy làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi. Chỉ một việc đó thôi, đã có bao nhiêu điều đáng nói về vị Chủ tịch nư­ớc: Không ham lầu son gác tía, mà gần gũi với nhân dân lao động, dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em…

Thấy đôi dép cao su của Bác đã cũ, anh em phục vụ đề nghị cho thay đôi dép mới nhưng Bác chư­a đồng ý, vì thấy dép vẫn còn dùng đư­ợc. Có ngư­ời mạnh dạn th­ưa với Bác là một đôi dép chỉ có hai đồng rưỡi. Như­ng Bác giải thích: “Vấn đề không phải là hai đồng rưỡi mà phải xem là đã cần thay dép mới chư­a? Đôi dép của Bác còn dùng đ­ược thì chư­a nên thay!”. Nhiều lần đi thăm các địa ph­ương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Theo Bác, xuống thăm các địa ph­ương, cơ quan, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém, Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh nh­ư vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã đư­ợc báo trư­ớc là Bác có mang cơm theo, như­ng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi đ­ược mời Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Thiết nghĩ, việc học tập và làm theo t­ư tư­ởng, đạo đức Bác Hồ trong việc thực hành lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm cần phải triển khai sâu rộng trong xã hội. Nhữ­ng lời dạy, nhữ­ng việc làm của Bác cần đư­ợc ôn lại, soi lại và làm cho nó bừng sáng trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Theo BCB

khcncaobang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện thân đạo đức – văn minh của Đảng và dân tộc ta

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó cũng là thắng lợi của ý chí, đạo đức, văn minh Việt Nam trước vũ khí, kỹ thuật và sự dã man, tàn bạo của kẻ thù

tranh_co_dong21_500.jpg
Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Công lao đó trước hết thuộc về nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất, thế hệ nối tiếp thế hệ, đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu liên tục, ròng rã 30 năm trời dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và với sự cổ vũ kỳ diệu của tư tưởng – đạo đức Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, tạo cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng một nền văn hóa mới và một nền đạo đức mới Việt Nam. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã cổ vũ, động viên các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân cách đó được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu người con anh hùng của đất nước – những chiến sĩ cách mạng kiểu mới của thời đại Hồ Chí Minh: trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Những cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng ta đã gương mẫu đi tiên phong trong cuộc đấu tranh anh hùng đó và chính họ đã cùng với nhân dân làm nên hiện tượng “kỳ diệu Việt Nam” trong thế kỷ 20, tiêu biểu cho lương tâm, vinh dự và phẩm giá con người.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới, đạo đức mới trong lịch sử dân tộc. Người đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta, nhân dân ta, truyền thống quang vinh của Đảng ta. Người nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức – văn minh” và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức = văn minh đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử dân tộc, Người còn để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc và của loài người.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân – một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

Vấn đề số một trong đạo đức của một vĩ nhân – cũng như của một người bình thường là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì? “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị – đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là “không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa trông rộng của một “phượng hoàng đại ngàn”, Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử. Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người chỉ thị: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” Vào giữa những năm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền nam Việt Nam và tăng cường cho không quân, hải quan ném bom, bắn phá dữ dội miền băc, hòng đưa chúng ta trở lại thời kỳ đồ đá! Trước tình thế đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí phách của toàn Đảng, toàn dân ta: “Dù nó ném hóa biển cũng phải giải phóng miền nam cho kỳ được!” (xem báo Nhân Dân ngày 24-5-1970). Thật “hiếm có một nhà lãnh đạo nào, trong những giờ phút thử thách, lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr 90). Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn “tự khuyên mình”: muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải “hoá lệ thành thơ” thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luộn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, “lấy dân làm gốc”. Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”

Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân. của “những người không quan trọng”, không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận”. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối vớii nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là “muôn vàn tình thân yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là “tư cách của người cách mạng”. Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Cuộc đời của Người, từ một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh đến khi làm Chủ tịch nước, sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã. Khách nước ngoài vào thăm nhà sàn của Bác Hồ đã rất xúc động khi được biết Người không hề có một chút của riêng. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.

Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết nhiều về tấm gương đạo đức của V.I.Lê-nin. Rèn luyện theo tấm gương đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân loại một tấm gương trọn vẹn, mười phân vẹn mười. ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức – văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội? Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

G.S Song Thành
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

nhoNguoicha

Để có nhân hòa

Bác Hồ trao đổi công tác quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Quân sự lần thứ năm họp vào tháng 8/1948, Bác Hồ đã nêu ra 6 yếu tố tạo nên đạo đức cách mạng của người cán bộ cộng sản là trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung. Người cán bộ có đủ 6 yếu tố này mới có thể đạt được “nhân hoà” và thực sự có uy tín trước quần chúng để người dân tin yêu, sống chết cùng mình không sợ hiểm nguy, góp phần đưa cách mạng thành công mau chóng và vững chắc.

Tư duy cổ truyền phương Đông luôn nhấn mạnh tới yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Bác Hồ từng lý giải: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: Thiên thời, địa lợi, và nhân hòa.

Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa.

Nhân hoà là thế nào

Nhân hoà là tất cả mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết”.

Như vậy, theo ý tưởng của Bác Hồ, thu phục được nhân tâm là nhiệm vụ quan trọng trên hết của các cán bộ, “những người tướng của đoàn thể”.
Và để đạt được mục đích “nhân hòa”, các cán bộ cộng sản cần phải Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung. Cũng trong bài nói chuyện đã dẫn ở trên, Bác Hồ đã giải thích khá cặn kẽ nội dung của các tiêu chí trên. Theo Người, “Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng…”.

Và vì thế người cán bộ cách mạng “tuyệt đối không được khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột phải dùng hết sức mới bắt được”. Khinh địch tất sẽ thất bại”. Trong quan niệm của Bác, “Tín là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng là phải thưởng. Tín còn có nghĩa là tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn, tự cao”.
Bác căn dặn thêm: “Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”. Còn “Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh…”. Với Bác, “Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung…”.

Bác viết: “Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống…”. Theo Bác, “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon đều là bất liêm”. Bác từng kể ra những hạng người bất liêm trong tác phẩm Cần kiệm liêm chính viết xong khoảng tháng 6/1949:

“Người cán bộ cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lận chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của mình. Đều là tham lam, đều là bất liêm.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.

Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều trái với chữ Liêm…”.

Bác Hồ định nghĩa: “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”. Chữ Trung trong khái niệm mà Bác đưa ra rộng hơn chữ Trung của thời cũ…

Nếu đạt được tất cả những phẩm hạnh trên, người cán bộ cách mạng tất yếu “đắc nhân tâm”. Bản thân Bác Hồ đã luôn là một tấm gương mẫu mực về trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung. Những phẩm chất ấy đã giúp Bác luôn luôn thành công trong việc gây dựng yếu tố “nhân hòa”, dù ở bất cứ tình huống nào và vào bất cứ thời điểm nào của cách mạng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một sĩ phu lão thành ở tuổi “cổ lai hy” ngỡ như đã từng trải mọi sự đời, không còn gì để phải ngạc nhiên nữa, nhưng tháng giêng âm lịch năm 1946, sau lần đầu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã ngay lập tức thốt lên: “Dân ta có được Cụ Hồ, quả là hồng phúc!”. Cụ Huỳnh về sau còn lại một bài thơ tự vịnh nhan đề Thất thập tự tiếu (Bảy mươi tuổi, tự cười), như sau:

“Huỳnh Thúc Kháng tiếu kha kha,
Tứ phương, tam kỳ chi gia,
Hương, tộc, quốc, hữu da, vô da?
Đắc nhất tri kỷ kỳ như dĩ lão hà!”
Cụ Huỳnh tự dịch bài thơ đó như sau:
“Nghĩ ta ta cũng nực cười,
Nhà nhà ba cõi, người người bốn phương,
Hỏi đến nước, đến làng, đến họ,
Có hay không? không có? có không?
Bảy tuần đầu bạc như bông,
Được người tri kỷ thôi xong đã già”.

“Người tri kỷ” của Cụ Huỳnh ở đây chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì mến phục Bác Hồ nên Cụ Huỳnh đã không nề hà tuổi cao sức yếu tận tụy với sự nghiệp cách mạng của dân tộc cho tới tận hơi thở cuối cùng. Trước khi mất trên đường đi công tác vào ngày 21/4/1947, Cụ Huỳnh đã viết cho Bác Hồ những dòng đầy xúc động mà chỉ những tri âm, tri kỷ đích thực trên đời mới dành cho nhau: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang hạnh phúc. Chào vĩnh quyết!”.

Cũng trong giai đoạn sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Hoàng Minh Giám, một trí thức nổi tiếng thời đó, mới chỉ được làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh một khoảng thời gian ngắn, đã trầm trồ khoe với người bạn học cũ của mình từ Trường Quốc học Huế: “Cụ nhạy cảm vô cùng, thông minh tuyệt vời và có những hiểu biết cực kỳ sâu rộng. Tôi mới làm việc với Cụ một tuần lễ mà đã học tập được không biết bao nhiêu điều bổ ích…”.

Nhà báo Pháp Jean Lacouture, từng được Bác Hồ tiếp tại Bắc Bộ Phủ sau Cách mạng Tháng Tám, đã nhận xét rằng Bác “là nhân vật có tài chinh phục người đối thoại với mình ngay từ câu thứ hai”. Thời gian đó, vận nước cam go, quân Tàu Tưởng đã lợi dụng tình hình tràn vào nước ta với danh nghĩa thay mặt Đồng minh giải giáp tàn quân phát xít Nhật. Không khôn khéo, hòa hoãn đối xử với bọn chúng dễ nảy sinh tai họa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng tạo dựng được uy tín ngay cả với những tên tướng vốn rất hay “mục hạ vô nhân” như Tiêu Văn, Lư Hán, Hà Ứng Khâm…

Theo hồi ức của đồng chí Nguyễn Đức Thụy, công tác tại Ủy ban Ngoại giao Chính phủ ta trong những năm 1945-1946, Bác đã “rất bình tĩnh, đĩnh đạc” đối xử với tên trung tướng Tiêu Văn, vốn là chỗ đỡ đầu quan trọng nhất của bọn Nguyễn Hải Thần và từng tuyên bố: “Tiêu diệt Việt Minh trước rồi mới giải giáp quân Nhật sau”.

Ngang bướng, “ông kễnh”, Tiêu Văn từ chối tất cả những gì mà Chính phủ ta chuẩn bị sẵn để đón hắn như ngôi nhà cao đẹp cạnh Phủ Chủ tịch, các phương tiện đi lại tốt… Y đến ở tại tư gia của một Hoa kiều. Thấy vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đến thăm xã giao Tiêu Văn tại nhà người Hoa kiều đó.

Cách nói chuyện, ứng xử của người đứng đầu Chính phủ ta đã khiến Tiêu Văn dần bớt hung hăng và hiểu rõ hơn về quan điểm của chúng ta… Thậm chí, tới một thời điểm nào đó, quan hệ cá nhân giữa Bác với Tiêu Văn có thể nói là đã đạt được mức hữu hảo… Với Lư Hán cũng thế, sau vài ba lần tiếp xúc, Bác Hồ đã khiến cho y phải nể trọng. Đồng chí Nguyễn Đức Thụy nhớ lại: “Mỗi lần Bác đến thì Lư Hán và Mã Anh (Tham mưu trưởng của Lư Hán) đều ra cổng đón và tiễn Bác, đợi xe Bác quay đi rồi mới vào. Bác nói chuyện bằng tiếng Trung Quốc. Bác dùng cổ văn và thành ngữ của Trung Quốc nên nói ít mà ý nghĩa nhiều, họ rất khâm phục. Trong các công văn giao thiệp, họ không bao giờ dùng chữ Hồ Chủ tịch mà dùng Hồ Chí Minh tiên sinh. Đó là vì họ chưa công nhận chính quyền của ta. Nhưng lúc nói chuyện với Bác, họ đều xưng hô với Bác là Hồ Chủ tịch. Như vậy họ rất kính trọng Bác…”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của mình, đã không chỉ một lần Bác Hồ thoát được khỏi những tình huống hiểm nguy tưởng như nghìn cân treo sợi tóc chính bởi Người đã “đắc nhân tâm”, bởi Người luôn sống và làm việc không phải vì những mục đích cá nhân, mà thực sự ham muốn tột bậc của Người chỉ là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi…” (Trả lời các nhà báo nước ngoài ngày 21/1/1946).

Văn Bình An
Theo Tutuonghochiminh.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Một bài báo của Bác in đúng Ngày thành lập Đảng

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và không ngừng chăm lo đến công tác xây dựng Đảng. Người mong muốn và đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trong sạch, lớn mạnh, là đạo đức và văn minh, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là một Đảng cách mạng, vì nước vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt NamChủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng 3 tháng 2 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Ban Tuyên huấn của Đảng chuẩn bị một bài báo, mà Bác đặt tiêu đề là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Ít ngày sau, bài báo được Ban Tuyên huấn gửi đến, Bác đã đọc lại, sửa chữa, và sau đó mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách Ban Tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ thư ký của Bác đến cùng nghe và góp ý kiến.  Nghe đọc xong, đồng chí Tố Hữu nói:

– Bác đã chữa hết bài báo của Ban Tuyên huấn rồi ạ. Bác cười:

– Bác chữa nhưng vẫn để lại một số ý của các chú…

Mọi người đều góp ý, đây là một bài báo có nội dung rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng. Ý Bác muốn mọi cán bộ đảng viên, từ người lãnh đạo cao cấp đến những đảng viên, đoàn viên đều phải gương mẫu, ra sức tu dưỡng để trở thành những cán bộ tốt phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Song đồng chí Tố Hữu xin Bác đổi lại tựa đề bài báo là đưa câu Nâng cao đạo đức cách mạng lên trên… Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý sửa lại tựa đề, nhưng nội dung trong bài thì cứ để như cũ.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: “Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới đem về. Chú có quét nhà ra trước không rồi mới kê chiếc tủ mới vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà?”.

Ý Bác sâu sắc như thế đấy, nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Có thể nói, đây là một trong những bài báo cuối cùng của Bác, để lại cho chúng ta. Bài báo này đã được Bác gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên Báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác cũng muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng về vấn đề quan trọng chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách  mạng.

Đã rất nhiều lần, rất nhiều lần, Bác đã nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bác dùng từ “quét sạch” để thể hiện một quyết tâm chính trị lớn.

Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, ngay phần mở đầu “Tư cách của một người cách mệnh” Bác đã viết phải “vị công, vong tư “, “biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Năm 1947, trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, Bác đã viết: “Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ”.

Lần này, trong bài báo của mình, Bác nhấn mạnh:

“Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ và đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau, và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo: “Mình vì mọi người” mà chỉ muốn “Mọi người vì mình”.

Bác vạch rõ những nguy hại do chủ nghĩa cá nhân gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”.

Chúng ta đều biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Bác Hồ cũng đã viết: “Cán bộ ta nhiều người “Cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết.

Năm 1951, trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai khai mạc tại Tuyên Quang, Bác cũng đã nói: “Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Bác cũng nhấn mạnh “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính…”.

Trong Di chúc của mình, Bác cũng dặn dò: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ này, Bác đã 4 lần nhấn mạnh chữ “Thật” và “Thật Sự”. Ý Bác là vấn đề quét sạch chủ nghĩa cá nhân nâng cao đạo đức cách mạng là vấn đề phải được hết sức quan tâm, hết sức coi trọng, chứ không thể chỉ làm qua loa, nửa vời, nói xong rồi đâu lại vào đấy. Vì như vậy sẽ làm cho nhân dân mất niềm tin.

*

Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI vừa qua, với tinh thần trách nhiệm rất cao đã ban hành Nghị quyết của Trung ương “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu:

1 – Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

2 – Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

3 – Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã chỉ rõ:

“Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó khăn, thách thức. Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp. Trong tình hình ấy, nếu Đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo để đưa đất nước tiếp tục đi lên. Vì vậy, lần này Trung ương quyết định phải tiếp tục tiến hành củng cố xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta”.

Quyết tâm ấy của Đảng đang truyền một niềm tin tưởng trong nhân dân. Toàn thể đảng viên và nhân dân đều mong muốn Đảng ta trong sạch, lớn mạnh xứng đáng là đạo đức là văn minh, để đưa nhân dân ta tiến lên những thắng lợi mới trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta.

Trong thời điểm này của đất nước, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng làm chúng ta suy ngẫm một cách sâu sắc. Tháng 6 năm 1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói:

“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và tiêu diệt nó. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Và Bác cũng chỉ ra cách làm là phải:

“Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Mùa Xuân này, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu. Và chúng ta lại nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Hải Như đã viết: “Đừng tưởng Bác Hồ chỉ có vui thôi/ Có những phút Bác Hồ buồn ghê gớm/ Ấy là lúc: Ta sai lầm to lớn/ Quên mọi người, ta chỉ thấy mình ta…”.

Nhớ Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và tất cả nhân dân ta hãy tự mình quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, như đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nói, nếu mỗi người chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động./.

Bùi Hải Bình

nhoNguoicha

Chiếc áo trấn thủ và mùa đông năm ấy (*)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tăng gia sản xuất sau giờ làm việc ở Chiến khu Việt Bắc

Mùa đông năm 1948, cơ quan chúng tôi đóng ở bản X, thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Năm ấy là năm rét nhiều, sương muối sa liên tục, hết đợt này đến đợt khác. Sáng ra, sương đóng trắng quanh nhà, có hôm đến tám, chín giờ sương vẫn chưa tan hết. Hai bàn tay, hai bàn chân buốt tê cóng.

Trước khi về nhận công tác ở gần Bác, có nhiều lần anh em phải nằm trong hang núi đá ở Võ Nhai (Thái Nguyên) để tránh quân Pháp nhảy dù. Quần áo ít, không có chăn chiếu, lại gặp cái lạnh của núi đá nên anh T bị ho. Hôm về phục vụ Bác, anh vẫn ho sù sụ suốt ngày, nhiều lúc ho quá, tức ngực tưởng long cả phổi.

Bác phải làm việc nhiều, cần yên tĩnh, nên chúng tôi làm riêng một cái lán nhỏ để Bác ngủ và làm việc ngay tại đó. Tất cả anh em chúng tôi ở lán ngoài, chỉ khi nào cần mới vào lán của Bác. Chính vì thế mà anh T đã giấu được, không để Bác biết anh bị ho.

Trước mắt Bác, anh cố làm ra vẻ khoẻ mạnh, khi nào muốn ho, anh lại lẩn ra chỗ khác. Nhưng hôm đưa thư vào lại đúng lúc tức ngực, ngứa cổ muốn ho, anh cố nín nhưng không tài nào nín được, đành bật ra mấy tiếng.

Đưa thư xong, anh vội chào Bác quay ra, thì Bác ra hiệu cho anh đứng lại. Bác lại đầu giường lấy đưa cho anh một cái áo trấn thủ mà Bác vẫn thường mặc. Bác nói:

– Chú lấy cái áo này mặc vào cho đỡ rét.

– Anh T lưỡng lự không dám nhận. Mùa rét, Bác cũng chỉ có cái áo trấn thủ với chiếc áo bông mỏng mặc ngoài. Anh còn ít tuổi khỏe mạnh, rét một tí cũng không sao, còn Bác thì già rồi, lại phải làm việc nhiều. Nghĩ vậy, anh từ chối:

– Thưa Bác, cháu mặc thế này được rồi ạ.

Như hiểu được ý của anh, Bác nói:

– Cứ lấy mà mặc. Bác đã có áo rồi. Mặc như chú thế này tài nào mà chẳng ho. Thôi mặc vào!

Nhìn đôi mắt hiền từ đầy tình yêu thương trìu mến của Bác, anh không dám từ chối nữa. Nhờ cái áo của Bác giữ ngực được ấm nên vài hôm sau anh đã đỡ và khỏi ho dần. Mỗi lần mặc cái áo, anh lại thấy rạo rực, ấm áp lạ lùng. Sự ấm áp ấy là từ cái áo và cả từ tấm lòng yêu thương, chăm sóc từng ly, từng tý đến đời sống anh em cán bộ của Bác.

(*) Tựa do Tiền phong đặt.

Chuyện về những vết mạng trên áo của Bác

Chú Bốn về đội cảnh vệ chỗ Bác từ năm 1949, là người chuyên giặt là, vá mạng quần áo cho Bác kể lại: “Quần áo Bác mặc chủ yếu có 2 bộ lễ phục. Một bộ mà anh em cảnh vệ gọi là bộ “Ka ki vàng” là bộ lịch sự, Bác mặc từ khi đọc Tuyên ngôn độc lập ở vườn hoa Ba Đình. Bộ thứ hai là bộ “kháng chiến”, được may từ khi Bác lên Việt Bắc và được mặc suốt thời kỳ kháng chiến cho đến sau này. Ngoài ra, hồi đi Chiến dịch Biên Giới năm 1950, Bác có thêm một bộ quân phục màu xanh. Sau này lại may thêm một bộ màu gụ bằng lụa Hà Đông. Bác còn có cái áo len và một chiếc khoác ngoài để mặc rét. Bộ “kháng chiến” là bộ chủ lực nên có nhiều vết mạng. Miếng mạng gần vai khá to là kỷ niệm lần Bác đi chiến dịch Biên Giới năm 1950. Bác thắt bao gạo ngang lưng, cài lá ngụy trang trên mũ, khăn mặt vắt vai. Nhiều chặng đường Bác hành quân với bộ đội, dân công. Một hôm gặp một cụ dân công, Bác cùng cụ nói chuyện và động viên: “Già như cụ còn hết lòng phục vụ tiền tuyến, làm gương cho con cháu”. Cụ dân công nói: “Tôi làm sao bì được với cụ. Cụ tóc bạc như vậy mà vẫn tham gia quân đội. Thế mới gọi là chiến sĩ bạch đầu quân”. Khi qua một đoạn suối, cụ dân công bị sảy chân may được Bác đỡ kịp. Chiếc đinh ở đầu đòn gánh cụ dân công làm rách vai áo Bác.

Miếng mạng ở khuỷu tay áo là kỷ niệm Ngòi Thia (Tân Trào, Việt Bắc). Hôm ấy họp Hội đồng Chính phủ, Bác đi ngựa, Đội trưởng Đội Cảnh vệ đi trước. Đến quãng đường vòng có cây tre đổ chặn ngang đường, ngựa của anh cảnh vệ đã qua rồi, ngựa Bác vừa phi tới, ghìm không kịp. Con ngựa đứng lại quá nhanh, Bác ngã. Anh cảnh vệ sợ quá vội nhảy xuống chạy lại đã thấy Bác gượng dậy. Con ngựa của Bác cũng khôn, nó đứng lại. Đội trưởng Cảnh vệ hỏi Bác: “Bác có làm sao không?”. Vừa kịp nhìn thấy khuỷu tay Bác có vết đất sỏi, lại có dấu máu thấm ra dưới ống quần, đầu gối Bác bị xước, máu đang rỉ ra. Bác nhìn qua rồi gạt đi: “Các chú đừng lo, ta đi thôi.”. Rồi Bác lên ngựa trước. Tới nơi họp, Bác vui vẻ tham gia hội nghị ngay, giờ nghỉ Bác mới chịu để y tá băng vết thương.

Về nhà, các anh cảnh vệ tự phê bình với Bác. Bác cũng tự phê rằng mình có khuyết điểm là giục ngựa phóng nhanh cho kịp giờ họp.

Ở gần gấu áo của Bác lại có vết thâm mờ mờ giặt nhiều lần không sạch. Đó là kỷ niệm Bác đi chống hạn. Cùng đi hôm đó có đại diện Tỉnh ủy. Gặp chỗ đồng bào đang tát nước bằng gầu giai, Bác liền bảo chú Tỉnh ủy đó cùng tát nước với Bác. Khổ nỗi, chú ấy không quen việc nhà nông. Chiếc gầu cứ lẳng nha, lẳng nhẳng, miệng gầu cứ bổ vào máng nước bình bịch. Mồ hôi mồ kê của chú ấy tháo ra như tắm.

Chú Bốn hôm đó có mặt, sợ Bác mệt nên đến xin phép Bác tát thay cho chú Tỉnh ủy. Bác trả lời nhẹ nhàng: “Không được, để chú ấy tập làm dân với Bác. Muốn lãnh đạo nông nghiệp, phải biết cách làm ăn của nông dân chứ”. Lần đó, Bác đã giúp chú cán bộ kia tập tát nước bằng được. Chỗ bùn ở dây gầu bám vào áo Bác đã khô đi nên chú Bốn về giặt xà phòng thế nào cũng không sạch.”

Theo Tiền Phong Online
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Ðảng ta và nhân dân ta. Người đã để lại cho chúng ta những bài học lớn về rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, nhân cách làm người, làm cán bộ. Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Người là một trong những bài học sinh động đó.

Làm việc khoa học là có chương trình, kế hoạch rõ ràng, cụ thể; làm việc chu đáo là phải hết sức cẩn thận, đầy đủ, tỷ mỷ. Hai mặt đó có liên quan chặt chẽ với nhau, làm tiền đề và bổ sung cho nhau để đem lại hiệu quả cao nhất cho công việc. Trong những năm tháng đi tìm đường cứu nước, lao động để kiếm sống và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, luôn luôn bị kẻ thù theo dõi, chính nhờ có tác phong làm việc khoa học, chu đáo, Bác Hồ đã vượt qua nhiều cạm bẫy của địch. Trong những năm tháng hoạt động ở Pa-ri, Thủ đô nước Pháp, nhà cầm quyền thực dân đã cử hai mật thám chuyên theo dõi những hoạt động của Người. Người Pháp đã dự báo người thanh niên mảnh khảnh đó sẽ trồng cây thập tự cho sự cáo chung của chế độ thực dân Pháp ở Ðông Dương. Năm 1923, Bác được mời sang Mát-xcơ-va (Liên Xô), dự Ðại hội V và công tác tại Quốc tế Cộng sản. Ðể bảo đảm an toàn cho chuyến đi, Người đã xây dựng một chương trình làm việc theo một lịch trình cố định: Sáng đến làm việc tại hiệu phóng đại ảnh để lấy tiền ăn, chiều đến thư viện đọc sách, tối đi dự các cuộc mít-tinh của thợ thuyền, đêm về nhà ngủ. Ðến khi mật thám phát hiện ra sự “biến mất” của Bác thì Người đã đang trên tàu bí mật đến nước Nga Xô viết. Mọi công việc đã được Bác và những đồng chí của mình xếp đặt một cách khoa học và chu đáo.

Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Bác Hồ đến Quảng Châu (Trung Quốc). Lấy bí danh là Vương, Người mở những lớp huấn luyện cán bộ chính trị để đào tạo cán bộ chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam. Chương trình huấn luyện do Bác biên soạn rất ngắn gọn và dễ hiểu. Các bài giảng cũng được thực hiện rất khoa học và chu đáo. Thời gian các lớp huấn luyện không thể kéo dài, Người tranh thủ mọi điều kiện để giúp học viên bồi bổ thêm kiến thức về văn hóa, kinh nghiệm hoạt động bí mật.

Những năm 1928, 1929, với bí danh Thầu Chín, Bác Hồ hoạt động ở Thái Lan, nơi có đông đồng bào Việt kiều sinh sống. Ðồng chí Lê Mạnh Trinh kể lại những ngày đầu gặp Bác tại Thái Lan: Việc đầu tiên là Thầu Chín đặt chương trình hằng ngày của mình: Buổi sáng lao động mấy giờ, học tiếng Xiêm mấy chục chữ, dịch mấy trang sách; buổi tối huấn luyện chính trị hoặc nói chuyện với mọi người… Thầu Chín đã làm đúng chương trình ấy. Trên đường đi công tác, Bác giảng giải cho mọi người nghe Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm. Người không bỏ phí một chút thời gian nào. Nhờ cách làm việc khoa học và chu đáo như vậy, trong thời gian ngắn Bác đã xây dựng được cơ sở cách mạng vững chắc trong bà con Việt kiều ở Thái Lan.

Ðầu năm 1941, Bác Hồ về căn cứ địa Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Công tác huấn luyện cán bộ càng trở nên cấp bách. Nhiều học trò của Bác đã trưởng thành và được Người giao mở các lớp huấn luyện cán bộ cho phong trào. Chương trình và kế hoạch các lớp huấn luyện được Người chỉ ra thật ngắn gọn nhưng rất khoa học và chu đáo: Một là, huấn luyện cho ai? Hai là, huấn luyện những gì? Ba là, huấn luyện bao lâu? Bốn là, huấn luyện ở đâu? Năm là, lấy gì ăn mà huấn luyện?

Người luôn căn dặn cán bộ khi đã xây dựng chương trình, kế hoạch cho công việc rồi thì phải quyết tâm thực hiện, kể cả những công việc cá nhân. Ðồng chí Cao Hồng Lãnh, người đã có nhiều thời gian được sống gần Bác kể lại những ngày Người còn ở Pác Bó (Cao Bằng): Suốt thời gian ở gần Bác, sáng nào tôi cũng thấy Bác tập thể dục. Ngày ngày, tôi thấy Bác năng tập cổ tay, hai tay cầm hai hòn đá lấy ở dưới suối, cứ ngồi bóp mãi. Hai mắt Bác vẫn đọc sách. Ngày mới ở Tĩnh Tây về, vào đến Khuổi Nậm thấy thế, tôi nghĩ: Trong lúc đọc sách Bác vẫn sợ hai tay bỏ không! Qua những ngày ở bên Bác, tôi đã hiểu rõ Bác làm gì cũng rất quyết tâm. Cho nên có lần Bác nói: Các chú đã biểu quyết là phải thực hiện. Không nên “biểu” rồi lại bỏ đấy. Bác cũng luôn luôn là một tấm gương sáng về quyết tâm thực hiện kế hoạch công việc. Sau ngày cách mạng thành công, toàn dân bị nạn đói đe dọa. Người kêu gọi tăng gia sản xuất để cứu đói và mỗi người cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi bữa một bơ để dành gạo giúp đồng bào bị đói. Ðến bữa cơ quan nhịn ăn để góp gạo cứu đói thì Bác được mời đi ăn cơm khách. Hôm sau Người đã kiên quyết nhịn bù.

Thời kỳ hoạt động bí mật tại căn cứ địa Việt Bắc, Bác đặc biệt chú trọng công tác giữ bí mật. Trong cơ quan, Bác giao việc cho từng người, ai biết việc người ấy. Các bộ phận công tác cũng rất gọn nhẹ, cơ động. Bác yêu cầu mỗi người có một túi đựng đồ dùng cá nhân và tài liệu lúc nào cũng mang bên người, khi cần thiết có thể nhanh chóng di chuyển địa điểm mà không để lại dấu vết.

Trong những ngày chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Bác ở trong lán nhỏ Nà Lừa ở Tân Trào (Tuyên Quang). Mặc dù đang yếu nhưng Người vẫn duy trì tác phong làm việc hết sức khẩn trương, khoa học và chu đáo. Ðại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại những ngày được làm việc với Bác ở Tân Trào: Bác làm việc không mấy lúc nghỉ ngơi. Lần nào tôi lên cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị, Bác đều tự tay đánh máy và đánh số cẩn thận, rõ ràng.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ về Thủ đô Hà Nội làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ðó là những năm tháng đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ðồng bào vừa trải qua nạn đói chết hơn hai triệu người; chính quyền cách mạng non trẻ chưa có kinh nghiệm điều hành công việc; giặc ngoài, thù trong tập trung đánh phá… Người vẫn giữ tác phong làm việc khoa học, chu đáo, cả trong những công việc đại sự của quốc gia, cả trong cuộc sống đời thường. Giờ làm việc của Bác bắt đầu từ cuộc hội ý của Thường vụ. Bác rất coi trọng nếp làm việc tập thể. Bác nói với các đồng chí Thường vụ hàng ngày sáu giờ tới chỗ Bác, có gì trao đổi rồi đi đâu hãy đi. Hai buổi làm việc của Bác thường là rất khẩn trương. Việc Ðảng, việc nước bề bộn. Lo giải quyết giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Lo đối phó ở miền Bắc, lo kháng chiến ở miền Nam. Lo việc nội trị, ngoại giao.

Ngày 3/9/1945, Người chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời. Phá bỏ những nghi thức thông thường, Người đi ngay vào nội dung cuộc họp, nêu rõ sáu công việc cấp bách phải làm. Tất cả mọi vấn đề được Bác nêu ra chỉ trong 30 phút. Những khó khăn chồng chất, phức tạp của chế độ thực dân phong kiến để lại suốt tám mươi năm, những vấn đề sinh tử, cấp bách của dân tộc đã được Bác nêu ra một cách ngắn gọn, rõ ràng cùng với những phương hướng, đôi lúc cả những biện pháp để giải quyết.

Ðể có được một tác phong làm việc khoa học, chu đáo như vậy, Người đã trải qua những năm tháng gian khổ rèn luyện, học tập và đấu tranh. Những điều Bác nêu ra trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời năm đó, ngắn gọn, cụ thể nhưng đó là tầm cao trí tuệ, dự báo cả tương lai. Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ðiều Người cảnh báo cho đến nay vẫn là điều trăn trở của toàn Ðảng, toàn dân ta về trình độ dân trí và nền giáo dục nước nhà trong thế kỷ XXI.

Ðối với Bác, mọi việc hàng ngày, bao giờ cũng được lựa chọn, sắp đặt có mục đích rõ ràng. Làm việc khoa học và chu đáo nên cùng với những công việc của đất nước, Người vẫn dành được thời gian đi thăm đồng bào, chiến sĩ, anh chị em công nhân, các cháu nhi đồng; chăm sóc vườn cây, ao cá; chơi bóng chuyền hay tập thái cực quyền; nghe một làn điệu dân ca, một câu hò xứ sở… Do làm chủ được thời gian, chủ động trong công việc, cho nên Bác luôn biểu hiện một phong cách ung dung, tự tại, lạc quan, bình tĩnh, tự tin, sáng suốt ngay cả trong những tình huống phức tạp, nguy hiểm của bản thân mình hay cùng Trung ương, Chính phủ chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những thác ghềnh, lãnh đạo toàn dân tiến hành hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Bác còn là một nghệ thuật mà Người đã đạt đến đỉnh cao, biểu hiện của nhiệt tình cách mạng luôn cháy bỏng, một quyết tâm sắt đá, một nghị lực phi thường qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, dẻo dai, luôn luôn vì lợi ích của quốc gia, dân tộc; vì hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới.

PGS, TS PHÙNG ÐỨC THẮNG
Theo Báo Nhân dân
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò, Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân.

Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội Nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban Đời sống mới”, nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, dân chủ và khoa học. Nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của “Ban Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục Sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cửa, trường học, bệnh xá bị đổ bao nhiêu. Khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân.

Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”. Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự. Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: “Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được”. Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nữa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình.

Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự Hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự Hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cũng đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân. Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi: “Tết vừa qua gia đình đón, Tết có vui không?”. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn Tết không vui. Bác hỏi: “Vì sao?”. Cụ kể lại: Gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn Tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui, Bác bảo: Làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”.

Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền lợi của nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo./.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn