Tag Archive | Tin tức

Bác Hồ ở “thủ đô gió ngàn”.

(DVT.vn) – “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ”. Cái “nhà sàn đơn sơ” nơi Bác Hồ tiếp nhà thơ Tố Hữu năm 1947 ấy là ở đâu? Tân Trào hay Định Hóa?

HÀM CHÂU

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ…

Trước kia, đọc mấy câu thơ hết sức quen thuộc ấy của Tố Hữu, tôi thường tự hỏi: Vậy cái “thủ đô gió ngàn”, nơi “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ” ấy nằm ở đâu trong chiến khu Việt Bắc bao la? Phải chăng là ở Tân Trào, Sơn Dương?

Phải đến gần đây, sau bốn lần “về nguồn” thăm Định Hóa, tôi mới biết rõ chốn “suối dài xanh mướt nương ngô” kia chính là ở Định Hóa.

Sở dĩ Định Hoá được chọn làm “thủ đô xanh” – hay còn gọi là “thủ đô gió ngàn” – trong những ngày đầu kháng chiến, bởi vì trước hết đây là vùng núi non hiểm trở, quân Pháp khó sử dụng xe cơ giới đánh chiếm. Nhưng ta thì lại có thể sử dụng mạng đường mòn xuyên rừng và đường ngựa thồ chằng chịt để liên lạc với vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng nước ta, cũng như với các cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Hoa Nam lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền kiêm soát của Tưởng Giới Thạch. Định Hoá không quá xa miền xuôi như vùng căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), tiện cho việc kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến trong cả nước.

Ngay từ năm 1906, nhà yêu nước Phan Bội Châu từ Quảng Châu trở về Định Hoá, đã có ý định xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp, nhưng không thành. Bởi vì, lúc bấy giờ, mới chỉ có địa lợi, chứ thiên thời chưa xuất hiện, và nhân hoà cũng chưa rõ nét. Phải đến thập niên 1940, thì mới hội đủ cả ba yếu tố đó.

Chúng ta còn nhớ, đến cuối tháng 8/1945, cách mạng mới thành công trong cả nước. Nhưng, riêng Định Hoá, thì sớm hơn nhiều. Rạng sáng 26/3/1945, Cứu quốc quân và tự vệ địa phương đã nổ súng đánh chiếm đồn lính khố xanh Chợ Chu. Rồi vào ngày 18/4/1945, 130 đại biểu đồng bào bảy dân tộc trong châu đã họp tại Bản Lác, bầu ra Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời .châu Định Hoá. Cán bộ và nhân dân Định Hoá luôn kiên trung với cách mạng.

Tập thể dục ở chiến khu.

Trong tám năm chống Pháp, Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh vùng Phú Đình (Định Hoá) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên ngọn núi Hồng. Bác thường “ung dung yên ngựa trên đường suối reo” qua lại trên con đường ngựa thồ vượt đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét. Nơi đây có cánh rừng phách, một loại cây thân gỗ khá lớn, lá rực vàng lúc thu sang, đã đi vào thơ Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Theo lời Bác dặn, những cái lán Bác ở phải đạt mấy tiêu chí sau đây:

Trên có núi,
Dưới có sông,
Có đất ta trồng,
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối đến Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái,
Gần dân, không gần đường.

Rất tiện cho công việc mà cũng rất đẹp, xét từ góc nhìn “phong thuỷ” cổ xưa hay sinh thái học hiện đại.

Trong bài Quê hương Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi từng miêu tả ngôi nhà sàn của Bác Hồ ở Định Hóa bằng những câu thơ thật giản dị, sáng trong:

Một nhà sàn đơn sơ vách nứa
Bốn bên suối chảy cá bơi vui
Đêm đêm cháy hồng lên bếp lửa
Ánh đèn khuya còn sáng trên đồi

Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
Cả đời người là của nước non…

Trong cuốn Những năm tháng bên Bác (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1985), đồng chí Hoàng Hữu Kháng kể:

“Chúng tôi làm cho Bác một cái “lầu”, tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí núi rừng ẩm thấp. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái đều chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ.”

Bác Hồ và các đồng chí giúp việc.

Cái “lầu” mà đồng chí Kháng kể chính là ngôi nhà sàn ở Khuôn Tát, Định Hoá.

Qua cuốn Chiến đấu trong vòng vây (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ta biết thêm: Bữa cơm của Chủ tịch nước lúc bấy giờ “phần lớn là sắn do cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng. Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối”. Những hôm có khách, nếu săn thú trong rừng, câu cá ngoài suối chẳng được gì, thì Chủ tịch tiếp khách bằng “món đặc biệt trong ống tre, món thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều muối và ớt mà Chủ tịch thường dùng trên đường đi công tác.”

Năm 1947, những dãy núi chung quanh thung lũng Chợ Chu còn nhiều khỉ vượn. Cán bộ miền xuôi, nhất là thanh niên Hà Nội quen “sống vui phố hè” giữa “Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”, những ngày đầu mới lên Định Hoá, nghe “vượn hót, chim kêu suốt cả ngày”, cảm thấy man mác một nỗi buồn nhớ thành phố, nhớ đồng bằng. Vẫn là tiếng “vượn hót, chim kêu” ấy thôi, nhưng Bác lại cảm thấy “hay”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Bác Hồ chia vui với bà con thôn bản trong mùa gặt ở chiến khu.

Đúng là cảnh vật được cảm nhận qua tâm trạng con người. Như Nguyễn Du miêu tả, qua tâm trạng của Thuý Kiều trong những năm lưu lạc ê chề, thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Là nhà cách mạng từng trải, được tôi luyện qua lao tù ngục thất, quen nằm gai nếm mật, Bác Hồ luôn lạc quan. Hơn nữa, vào năm 1947, lực lượng cứu nước đã đông đảo, hùng mạnh hơn nhiều so với năm 1941, khi Bác mới về nước, ở trong hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Trong bài thơ Chúc năm mới, Đinh Hợi -1947, Bác viết những lời hào sảng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông…

Bác vui vì thấy rõ:

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng…
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông…

Chính vì tin chắc vào sức mạnh quật cường của cả dân tộc nhất tề đứng dậy “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Bác mới có thể sáng tác nên bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc với âm hưởng lạc quan như vậy. Một số vị trí thức, nhân sĩ trong Chính phủ kháng chiến, lúc bấy giờ tuổi còn khá trẻ, như luật sư Phan Anh, xin được họa bài thơ này của Bác. Một không khí tin tưởng bao trùm khắp các cơ quan trung ương. Cuộc sống núi rừng với choé rượu cần, bát nước chè tươi, bắp ngô nếp nướng, và đôi khi có miếng thịt rừng quay, hóa ra cũng không đến nỗi buồn, mà còn có nét nào đó… “thật là hay”!

Giản dị như một nhà nông, Bác uống bát nước chè xanh với người dân.

Hai câu cuối nói lên tình cảm thuỷ chung của Bác: Sau ngày kháng chiến thành công, Bác sẽ trở lại thăm chiến khu xưa, không bao giờ quên những con người chất phác đã từng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với mình.

Bài thơ của một nhà cách mạng hiện đại, thế mà lại toát lên cốt cách thanh cao của một nhà hiền triết phương Đông cổ đại “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

dvt.vn

“Việt Nam! Tôi thở tâm hồn Người đây”

(DVT.vn) – Về làng Sen quê Bác vào mùa sen nở, Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova coi hương sen thơm ngát mà bà đang hít thở là biểu tượng của tâm hồn Việt Nam.

HÀM CHÂU

Tôi trở về làng Sen quê Bác. Nói “trở về” bởi vì thuở nhỏ đi học, tôi vẫn thường cuốc bộ qua đây, khi ông Cả Khiêm và cô Thanh vẫn còn sống. Quê tôi cũng ở Nam Đàn, Nghệ An. Làng tôi cách làng Sen chẳng bao xa.

Làm báo ở Hà Nội đã hơn nửa thể kỷ, nhưng năm nào tôi cũng sắp xếp thời gian để trở về thăm quê hương bản quán một đôi lần, khi nửa tháng, lúc chỉ vài giờ.

Đi xe lửa vào Vinh, xuống ga, ngồi xe buýt theo con đường hàng tỉnh số 49, qua huyện Hưng Nguyên, lên huyện Nam Đàn. Đến cây số 13, rẽ sang trái một quãng, là đến làng Sen hay còn gọi là làng Kim Liên.

Con đường làng gồ ghề sống trâu thuở trước – khi tôi là một cậu bé học sinh trung học trường huyện – nay đã được mở rộng, trải nhựa phẳng phiu. Hai bên đường, bạch đàn cao vút, tiếng lá reo vi vu trong nắng sớm.

Chiều chiều ra đứng Cồn Sen
Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng…
Vui nhất là cảnh xã mình
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu…

Người dân khắp nước đổ về thăm ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở làng Sen.

Kim Liên, tên chữ của làng Sen, có nghĩa là sen vàng. Nhưng ở làng Sen này không chỉ có sen vàng, mà còn có sen trắng (bạch liên), sen đỏ (hồng liên) nữa. Sen nở khắp mặt đầm. Hương sen thơm dịu lan xa…

Về làng Sen, ta sẽ hiểu vì sao cô Thanh, người chị gái của Bác Hồ, còn được gọi là Nữ sĩ Bạch Liên.

Ngôi nhà Bác Hồ ở trong thời niên thiếu đơn sơ, thanh bạch như bao nhiêu ngôi nhà khác ở chốn làng quê. Bờ tre xanh. Cánh cổng liếp tre sơ sài. Hoa râm bụt nở hiền hoà bên hai bờ giậu thấp. Dăm ba bụi chuối. Mấy gốc mít, gốc chanh. Vài hàng cau. Một ngôi nhà dọc năm gian. Một ngôi nhà ngang nho nhỏ. Cả hai đều nền đất, mái tranh, phên tre, giại nứa. Trong nhà vẻn vẹn chỉ có mấy thứ: cái sập gỗ, chiếc chõng tre, cái án thư, chiếc võng gai, chum nước, vại cà và vài ba cái nồi đất…

Thời trẻ, cụ Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) ở gửi rể bên làng Chùa. Năm 1894 cụ thi đỗ Cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng (đồng khoa với các cụ Ngô Đức kế, Phan Châu Trinh).

Đây là lần đầu tiên, không những trong làng Kim Liên, mà cả trong toàn xã Chung Cự và toàn tổng Lâm Thịnh, mới có được một người đỗ đại khoa. Thế mà cụ Phó bảng lại chưa hề có nhà ở bên quê nội!

Dân làng bèn bỏ tiền ra mua một ngôi nhà ở dưới xã Xuân La, khiêng về dựng lên trên một thửa đất công rộng non năm sào. Từ đấy gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc dọn về làng Sen. Nhưng rồi, trong những năm gia đình cụ phiêu cư bạt quán, ngôi nhà ấy cũng “trôi giạt” nhiều nơi, bị mua đi bán lại nhiều lần.

Năm 1956, hoà bình trở lại trên miền bắc, dân làng Sen mới tìm chuộc được cột, kèo của ngôi nhà ngày trước, nhặt nhạnh mỗi nơi một thứ, đem về dựng lại trên thửa vườn xưa.

Đường về quê nội Bác Hồ – (Ảnh: Internet)

Và một năm sau, ngày 9/6/1957, Bác Hồ trở về thăm quê hương sau 52 năm xa cách. Lúc bấy giờ ngôi nhà, thửa vườn, lối cổng nhà chưa được khôi phục đúng như ngày trước. Cái ngõ đáng lẽ ở giữa bờ rào, thì lại để một bên. Nhà cũ đằng sau thưng phê nứa, nhà lúc này thưng gỗ ván. Bàn thờ ngày trước chỉ giản đơn là một tấm liếp tre đan mau phía trên trải chiếu, bàn thờ lúc này lát ván phẳng phiu…

Bác Hồ hầu như không quên một tí gì trong ngôi nhà và thửa vườn xưa. Bác chỉ tay vào từng chỗ đất nơi xưa kia có gốc mít, gốc bưởi, cây chanh, cây cau. Bác hỏi xem mấy ngôi mộ trong vườn giờ bốc đi đâu…

Vui chân đi vào lối xóm, Bác tìm xem cái giếng Cốc thuở nào, cái giếng đất nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung vẫn ngồi câu cá. Giếng Cốc vẫn còn, bờ giếng vẫn um tùm cây cỏ, mặt nước vẫn lăn tăn gợn sóng do sự chuyển động của các sinh vật phù du. Bác rẽ sang phía lò rèn cố Điền. Cố Điền đã mất, và anh Điền trai trẻ ngày nào giờ là một cụ già râu tóc bạc phơ.

Rời làng Sen từ tuổi mười lăm, vào Huế, vào Phan Thiết, Sài Gòn; rồi xuống cảng Nhà Rồng đi sang Pháp, sang Anh, sang Đức, Hà Lan; rồi lênh đênh trên tàu thuỷ vòng quanh châu Phi, sang Mỹ và quay trở lại châu Âu; rồi đi qua Liên Xô, Trung Quốc, Xiêm …
Mấy mươi năm phiêu bạt nơi chân trời góc biển, khắp xứ lạ quê người, ấy vậy mà Bác Hồ vẫn không hề quên con người, cảnh vật quê hương, không hề quên một điệu ru hời, một bát canh rau muống, quả cà dầm tương….
Cái “gốc” truyền thống Việt Nam trong lòng Bác sâu bền, vững chãi biết bao, không thể nào bị lung lay, bật rễ trước bão tố bốn phương. Chung đúc tinh hoa của các nền văn hoá đông, tây, kim, cổ, nhưng, ở con người ấy, đố ai tìm thấy một nét lai căng, một cái gì còn sượng. Bởi vì, ngay từ thuở lọt lòng, cậu bé Cung đã được hít thở không khí trong lành của đất trời, sông núi quê hương, cùng ăn, cùng ở với nhân dân thuần hậu, cần cù, và uống nước từ mạch nguồn sâu thẳm của các tầng văn hoá Việt Nam.

Về làng Sen vào mùa sen nở, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Nữ thi sĩ Blaga Dimitrova, người Bulgaria, viết về hoa sen, về tâm hồn Việt Nam thanh khiết. Bà đã đến nước ta vào năm 1966, về thăm làng Sen quê Bác Hồ, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang diễn ra ác liệt. Bài thơ của bà chỉ có sáu câu, đã được nhà thơ Xuân Diệu dịch ra tiếng Việt:

Hoa sen trắng dịu trên ao
Diệt hơi bùn độc, ngạt ngào trổ hoa
Biến ao thành một vườn thơ
Để tôi đứng lại bên bờ uống hương
Hương thanh ẩn, sức lạ thường!
Việt Nam! Tôi thở tâm hồn người đây.

Nữ thi sĩ nổi tiếng thế giới Blaga Dimitrova, người Bulgaria.

Blaga Dimitrova về sau được bầu làm Phó Tổng thống nước Cộng hòa Bulgaria. Bài thơ của bà cho ta thêm một “luận cứ” để tin rằng việc chọn hoa sen làm quốc hoa là đúng.

Về làng Sen, nhớ đến Bác Hồ, nghĩ tới điều triết lý về biểu tượng hoa sen, ta càng muốn giữ cho tâm hồn mình được luôn luôn trong sạch ngát hương, không bao giờ “hôi tanh mùi bùn”.

H. C.

dvt.vn

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu nhi dịp Tết Trung thu và 1/6

(DVT.vn) – Trung thu đến gần, đọc lại những bức thư này khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Bác. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện đang lưu giữ khá nhiều bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thiếu niên nhi đồng nhân dịp Tết Trung thu và ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Những bức thư này do Văn phòng Trung ương Đảng chuyển giao cho Bảo tàng từ trước năm 1959.

Đáng chú ý là cuốn sách có nhan đề Tập thư Bác Hồ, tập hợp một số bức thư Bác gửi cho thiếu nhi từ năm 1945 đến năm 1954, của Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cứu quốc Liên khu V, miền Nam Trung Bộ.

Năm 1954, cuốn sách đã được in ra thành nhiều bản để phát hành và tuyên truyền vào dịp Tết Trung thu với mong muốn “Các em sẽ chăm chỉ đọc ôn lại các bức thư của Bác, ghi sâu và làm theo lời Bác dạy để xứng đáng là cháu yêu của Bác”.

Sách có kích thước 14,5 x 10 cm, gồm 18 trang, in 2000 quyển và được kiểm duyệt theo giấy phép in số 493 của Ban Ấn loát miền Nam Trung Bộ.

Bác Hồ vui tết Trung thu với các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế, ngày 27/9/1958.

Năm 1945, nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho thiếu niên nhi đồng cả nước. Với tình cảm thương yêu trìu mến nhất, Người hòa mình với các em: “Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười hớn hở với các em. Đố các em biết vỡ sao? Là vì… Trung thu năm nay đã được tự do và các em đã thành những tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Người gửi tới các cháu “trăm cái hôn thân ái”.

Tiếp đến là Thư Trung thu 1948. Đó là năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ nên thư của Người cũng chất chứa bùi ngùi thương xót.

Người thấu hiểu những khó khăn mà thiếu nhi phải chịu đựng: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người thấy “áy náy”, thấy “căm giận bọn thực dân phản động Pháp”. Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Bác Hồ cùng các cháu thiếu nhi quốc tế trong đêm liên hoan mừng ngày Quốc tế thiếu nhi tổ chức tại Phủ Chủ tịch, ngày 31/5/1960.

Năm 1949 là năm kháng chiến thứ ba và cũng là Trung thu thứ ba các cháu thiếu nhi “phải ăn Tết thiếu thốn hơn trước”. Đó cũng là ý đầu tiên trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ và chia sẻ. Dù vậy, Người vẫn chúc các cháu “vui hơn”.

Bằng lời lẽ giản dị phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, Người phân tích để thiếu nhi thấy những thành tích cụ thể, thiết thực mà các cháu đã làm được trong khó khăn của cuộc kháng chiến, qua đó biểu dương và khen ngợi. Từ sâu thẳm lòng mình, Người bộc bạch: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì biếu các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1950, Người cũng có thư gửi các cháu. Vẫn là sự băn khoăn “Đáng lẽ các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như con trẻ Liên Xô”, Người phân tích cho thiếu nhi hiểu dân tộc ta kháng chiến thắng lợi thì các cháu “sẽ đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”. Dù còn nhiều khó khăn, vui buồn, Người vẫn không quên “gửi các cháu nhiều cái hôn”.

Trung thu 1951, Người mở đầu thư bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viêt mấy dòng
Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Sau khi thông báo đã nhận được thư của nhi đồng vùng tạm bị chiếm và thư của nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua, Người giải thích về ý nghĩa của ngày 1/6 và căn dặn thêm các cháu những việc nên làm, phải làm trong sinh hoạt đội, trong học tập và cả khi vui chơi để trở thành người có ích cho Tổ quốc.

Bác Hồ và các cháu thiếu nhi Hà Nội và Quốc tế vui tết Trung thu, tại vườn hoa Phủ Chủ tịch.

Trung thu 1952 là năm đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ niềm thương nhớ thiếu nhi ở mọi vùng đất nước. Lời lẽ trong thư Người ẩn chứa nỗi buồn lo cho các cháu. Người biểu dương tinh thần tiến bộ của thiếu nhi, “đã biết yêu nước, ghét giặc, đều chăm học, siêng làm… biết đoàn kết, thương yêu cha mẹ, giúp đỡ bộ đội và thương binh, giúp tăng gia sản xuất và tiêt kiệm”. Đặc biệt, Người tỏ lòng thương xót khi thấy tinh thần chiến đấu hi sinh dũng cảm của các cháu ở vùng tạm chiếm “đã giữ bí mật để giúp đỡ các cán bộ và bộ đội”. Cuối thư, Người lại có bài thơ:

Ai yêu các nhi đồng, bằng Bác Hồ Chí Minh.
Tính các cháu ngoan ngoãn. Mặt các cháu xinh xinh…

Năm 1952, nhân ngày 1/6, Người gửi thư cho thiếu nhi, nhấn mạnh tinh thần Quốc tế để các cháu hiểu rõ và cùng nhau giữ gìn hòa bình, dân chủ.

Trung thu 1953, Người lại có bài thơ gửi cho các cháu với mong muốn “Thu sau so với thu này vui hơn”.

1/6/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng tới toàn thể thiếu nhi trong nước và quốc tế. Người mong các cháu “ngoan ngoãn, mạnh khỏe, vui vẻ, tiến bộ”.

Có thể nói, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu niên nhi đồng chiếm một mảng lớn trong tâm hồn của Người. Thực tế, chúng ta thấy, ở đâu và lúc nào bên cạnh Người cũng có các cháu. Không chỉ thiếu nhi trong nước mà thiếu nhi quốc tế cũng luôn quây quần quanh Bác .

Năm 1954, nước ta được hưởng nền hòa bình sau chín năm kháng chiến chống Pháp. Điều trước tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ đến là các cháu thiếu niên nhi đồng. Người viết thư (khi là văn xuôi, khi bằng những vần thơ) để khen ngợi, biểu dương tinh thần của các cháu trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng thời, Người cũng bày tỏ lòng thương yêu, nhớ nhung thiếu nhi ở cả hai miền Nam, Bắc. Người viết cho các cháu bằng cả tấm lòng thương yêu vô hạn: “Trăng thu trong đẹp, sáng rọi khắp nơi, từ Nam đến Bắc. Cũng như lòng Bác yêu quý tất cả các cháu miền Bắc và miền Nam“.

Tình cảm bị kìm nén bấy lâu, đến năm 1954 Người mới được thỏa lòng vì thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Trong thư, Người tỏ ý xin lỗi “Vì bận việc quá” nên “không rảnh làm thơ gửi các cháu“. Cuối thư, Người không quên chúc các cháu “Vui mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành“, để:

Đến ngày Nam Bắc vui chung
Các cháu xúm xít thì lòng ta vui.

Nhưng, niềm vui của Người chưa trọn vẹn vì Người còn một điều trăn trở. Một nửa đất nước chưa được độc lập. Người vẫn còn một nỗi niềm khi nhớ đến các cháu thiếu nhi miền Nam. Các cháu vẫn còn phải sống trong hoàn cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Từ xúm xít được Người thể hiện trong hai câu thơ kết của bức thư làm chúng ta cũng xúc động theo Người.

Ước vọng đó của Người ngày nay chúng ta đã làm được: Bắc, Nam đã liền một dải. Đất nước hòa bình thịnh vượng đang sánh vai tiến bước cùng các nước trong khu vực và toàn cầu. Thiếu niên nhi đồng Việt Nam cũng đang được hưởng một nền giáo dục tiên tiến, được cả xã hội quan tâm và yêu thương.

Vui Tết Trung thu, đọc lại những bức thư này của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến chúng ta thêm nhớ và hiểu về Người. Người cả cuộc đời luôn quan tâm và yêu thương thiếu nhi. Người được cả thế giới ngưỡng mộ và gọi bằng cách thân mật là Bác Hồ! Bác Hồ kính yêu!

Lê Minh Độ

dvt.vn

Trong chiếc gương kỉ vật

(DVT.vn) – Chiếc gương có tấm hình Bác Hồ đã theo suốt cuộc đời một người lính thông tin, thôi thúc anh sống, chiến đấu và cứu mạng anh trong tình huống bất ngờ.

Hồi kí của Đặng Trường Lưu

Nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975

Trong số chín anh em cùng xung phong vào bộ đội của xã tôi dạo mùa hè năm 1967, Hoạt là người thân với tôi nhất, ít tuổi hơn nhưng anh đã có vợ và con anh chào đời cũng vừa mấy tháng. Anh là người ít nói, ưa hoạt động, xốc vác và chân tình. Khi vào chiến trường, Hoạt và tôi ở cùng tiểu đội trong tiểu đoàn bộ binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận B5. Một thời gian sau, cả tiểu đoàn chuyển sang phối thuộc với Trung đoàn 132 thông tin chiến lược của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ khẩn trương xây dựng đường dây trần xuyên Trường Sơn, phục vụ cho Trung ương chỉ huy cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân ở Huế.

Nhiệm vụ mới như người lính thông tin, nhưng công việc chủ yếu của chúng tôi là vận chuyển trên vai hàng nghìn tấn vật tư, vật liệu như: tách sứ, dây sắt, dây đồng, bu-lông, ốc vít…, từ bãi đổ hàng (của các binh trạm có đường ô-tô) đến từng cột mốc trên tuyến để lắp đặt, dựng lên một con đường âm thanh lịch sử, qua bao đỉnh cao trên nghìn mét, qua sông Sê-bang-hiêng, hay Sê-pôn ù ù thác réo, qua những vực sâu nhìn xuống mà sởn gai người.

Bộ đội vượt Trường Sơn (Ảnh tư liệu: Internet).

Chiến dịch kết thúc, chúng tôi vừa củng cố đường dây thông tin, vừa tổng kết kinh nghiệm. Hoạt được bình bầu là chiến sĩ thi đua, là Dũng sĩ Quyết thắng, hai lần được mặt trận tặng bằng khen. Anh là gương sáng của đơn vị.

Cuối năm 1968, chúng tôi có lệnh hành quân ra bắc an dưỡng. Hoạt được đưa lên làm cần vụ cho thủ trưởng trung đoàn. Sự xốc vác và kiệm lời của anh được thủ trưởng vô cùng tin cậy. Sau ba tháng nghỉ ngơi và tập huấn, chúng tôi lại hành quân vào mặt trận. Thủ trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ chiến sĩ xuất sắc được ở lại dự Đại hội “Thi đua lập công” toàn binh chủng, tổ chức ở Hà Nội. Hoạt cũng nằm trong số đại biểu được bầu, đại diện cho lực lượng bộ đội thông tin đang đối mặt quân thù trên khắp chiến trường miền nam. Sau đại hội, Hoạt được tranh thủ ghé thăm nhà một tuần. Đứa con gái, lúc này đã biết bám chặt vào quần mẹ, vừa ngọng nghịu hát bài “Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê” vừa chằm chằm nhìn vào người lính lạ lẫm mà mẹ bảo phải gọi bằng bố.

Khi tiểu đội đang triển khai công việc trên tuyến thì Hoạt xuất hiện. Anh em xôn xao và thực sự cảm động khi anh kể chuyện cứ nằng nặc xin thủ trưởng cho phép trở về tiểu đội cũ. Với một người như anh, cuộc sống trong vòng tay đồng đội hẳn ý nghĩa hơn nhiều. Mà thật vậy, nếu không có sự trở về để cùng “nếm mật nằm gai” với tôi và anh em tiểu đội, thì làm sao tôi với anh lại có được những kỉ niệm tuyệt vời trong câu chuyện mà tụi sắp kể ở đây, khi bộ đội thông tin toàn quân đang long trọng chuẩn bị kỉ niệm 40 năm Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Tấm ảnh Bác Hồ và kỉ niệm không thể quên trong đời người lính

Giữa những ngày Bác mất (tháng 9/1969), Hoạt và tôi được cử đi tăng cường cho trung đội khảo sát địa hình, chuẩn bị cho một nhánh đường dây mới. Chúng tôi chạm trán với lực lượng thám báo do đối phương thả xuống, đang len lỏi dò dẫm trong rừng hòng phát hiện nơi đóng quân và tuyến dây trần thông tin lợi hại của ta. Ác một nỗi là trang phục của chúng y hệt bộ đội ta: cũng mũ tai bèo, áo quần Tô Châu xanh lá, cũng súng AK báng gập thay vì bộ quần áo rằn ri biệt kích.

Trong khi cả trung đội khảo sát vừa bắn vừa rút nhanh khỏi khu rừng có khả năng chỉ trong ít phút thành tọa độ bom lửa, Hoạt và tôi bị thương. Chúng tôi tỉnh dậy thấy mình bị trói chặt, nằm trong một hang đá, giữa bao nhiêu đôi mắt ngầu đỏ, mở ra trừng trừng của những người dân đen đủi, hốc hác, đàn ông và đàn bà, người già và con trẻ. Ấy là những người Lào Thơng sống sót, chui lủi trong hang đá ven tây Trường Sơn, dọc hai bờ Sê-băng-phai.

Tôi và Hoạt nhìn nhau, sau khi đã nhận ra chợt ngơ ngác và khó hiểu vì những cái nhìn căm giận ấy. Khi mọi người xô đẩy rồi cùng nhau quỳ xuống, nhìn vượt qua đầu những người Lào Thơng khốn khổ, tôi và Hoạt cùng kinh ngạc nhận ra một bàn thờ được xếp lên bằng những tảng đá, và khói trầm đầm đìa ngút ngát từ một miếng vỏ cây đang cháy. Mấy nải chuối xanh xếp thành vòng tròn quanh cây chuối còn nguyên những tàu lá xanh mướt. Trên bẹ chuối lớn, người ta xăm hình một ngôi sao 5 cánh cùng những vạch tỏa ra tựa hồ ánh sáng. Họ ngồi im lặng và khóc, lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào. Không hiểu tiếng Lào, càng không biết tí gì thứ ngôn ngữ líu ríu như chim của những người Thơng kia, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Hồ, Hồ, Hồ…

Thế là rõ. Tin Bác Hồ của chúng ta vừa mất đã đến được với những người dân Lào dưới chân Trường Sơn. Ai đã báo tin cho họ hay sự mách bảo của trời đất? Cái bàn thờ được dựng lên trong hang đá kia với biểu tượng ngôi sao khắc vào bẹ chuối thay bức chân dung mà họ không sao có được cùng với khói hương từ vỏ cây trầm đã nói lên tất cả. Chúng tôi lẳng lặng khóc. Một lát, những người Lào Thơng đứng lên, người cầm nỏ, kẻ cầm dao, nhiều người cầm đá, chậm rãi và dữ tợn, tiến về phía chúng tôi. Thì ra, họ nghĩ chúng tôi là biệt kích. Trong giờ phút đau thương, họ muốn hành xử kẻ thù.

Giữa khoảnh khắc vô cùng nguy hiểm ấy, Hoạt vùng vẫy, la hét: “Tôi là lính Bác Hồ! Tôi là lính Bác Hồ! Lấy cái gương trong túi cho tôi!”. Đầu anh ngúc ngoắc và cằm đập liên hồi xuống phía ngực. Một thanh niên với mảnh khố rách bươm tiến đến, thò tay vào túi áo của Hoạt, lấy ra chiếc gương tròn, to gần bằng miệng bát đưa cho già làng. Ông lão không thể hiểu câu nói của Hoạt: “Mở ra, mở vành nhựa ra, ở bên trong…”. Một cô gái xin nhận chiếc gương, đem đến bàn thờ đá, quỳ xuống và lẩm nhẩm điều gì đó. Rồi như được thần linh mách bảo, cô kéo lật vành tròn nhựa.

Ảnh tư liệu minh họa (Nguồn: Internet).

Từ phía trong, kẹp giữa tấm nhựa và miếng kính, đột ngột rơi ra tấm ảnh hai mẹ con, người thiếu phụ trẻ ôm đứa bé gái mũm mĩm: Hẳn đó là vợ con Hoạt. Một mảnh giấy báo gấp tư được mở ra. Gần như cùng một lúc, tất cả ồ lên và quỳ xuống. Đó là tấm ảnh Bác Hồ cầm ống nói được chụp ở Việt Bắc cùng với bức thư khen bộ đội thông tin in ngay dưới bức ảnh. Lập tức, chúng tôi được cởi trói. Hoạt nhanh nhẹn găm mảnh báo cũ hình Bác Hồ ấy vào bẹ chuối trên bàn thờ, dưới hình ngôi sao tỏa sáng. Trong không gian thiêng liêng hang đá Trường Sơn và mùi trầm thơm ngát, tôi và Hoạt cứ để cho dòng nước mắt đầm đìa tuôn chảy.

Sau những ngày được chữa chạy, vết thương đã tương đối lành, chúng tôi tìm về đơn vị đường dây của mình. Suốt chặng vượt rừng ấy, Hoạt kể tôi nghe về mảnh báo mà anh cắt từ tờ báo quân đội, phát hành trong ngày Đại hội thi đua của binh chủng ở Hà Nội, rồi kể về tấm ảnh vợ con, kể về chiếc gương xin được từ một người lính khi gặp nhau trên bến phà Xuân Sơn, kẻ ra Bắc đi học, người về lại chiến trường. Tấm ảnh vợ con cùng mẩu báo có hình Bác Hồ và bức thư của Người, anh kín đáo giấu vào chiếc gương, giữa hai lần kính và nhựa.

Tại sao phải giấu diếm thế? Kỉ luật chiến trường quy định: Những người lính đi B không được phép để lộ nhân thân của mình. Với anh, đây là chứng tích của một kỉ niệm đẹp, là niềm vinh dự lớn. Lời Bác khen Bộ đội Thông tin cũng là lời nhắc nhủ bản thân anh phải luôn gắng để vượt lên qua bao gian khổ và sống chết.

Những bí mật về bức ảnh “đặc biệt” ấy

Sau chiến thắng 1975, tôi về quê thăm nhà. Tôi không quên tìm đến gia đình những người đồng đội. Trong chín anh em đi cùng tôi đợt ấy, năm người hi sinh và đã có giấy báo tử gửi về. Riêng Hoạt, vợ và con anh vẫn trông chờ mỏi mắt. Tôi không giúp được gì cho chị, bởi tôi cũng không một manh nha tăm tích của anh. Sau cái lần bị thương và thoát hiểm trước cơn giận dữ do hiểu lầm của những người Thơng bên Lào hạ, nhờ tấm ảnh Bác Hồ và bức thư in trên mảnh báo mà Hoạt bí mật giấu trong chiếc gương, chúng tôi tìm về đơn vị. Hoạt được điều sang một đơn vị thông tin khác của chiến trường khu 5. Hai đứa bặt tin nhau từ đó.

Mãi cuối năm 1976, người ta mới đưa giấy báo tử cùng những di vật của Hoạt về gia đình. Anh đã hi sinh anh dũng từ mùa xuân năm 1974, trong một trận càn dữ dội của đối phương tràn lên trên núi, khi anh đang cố gắng ngụy trang đoạn đường dây rải hớ hênh qua khoảng trống của rừng.

Năm ngoái, sau ngày giỗ của Hoạt, vợ anh mời tôi nán lại. Trong câu chuyện nhỏ to, gián đoạn bởi những giọt nước mắt cạn kiệt, chị hỏi tôi nhiều về người chồng yêu quý, trong những câu hỏi, gợn lên một điều: Di vật mà anh để lại trong ba lô, có một chiếc gương. Đó không phải là chiếc gương của chị. Chị không tặng gương cho chồng trước lúc đi xa như nhiều người đàn bà khác, bởi chị nghĩ: “Chiến tranh khốc liệt thế, đạn bom sống chết là thế, tấm gương làm sao tránh được rạn vỡ!” Vậy thì ai đã tặng tấm gương ấy để đến lúc anh hi sinh, tấm gương vẫn nằm gọn trong đáy ba lô mà về đây với chị? Phải chăng…

Thì ra vậy! Người vợ suốt mấy chục năm lấy tuổi thanh xuân nuôi con thờ chồng ấy vẫn có một điều canh cánh không thể tự trả lời. Tôi bỗng cảm thấy mình có lỗi với mẹ con chị, có lỗi với vong linh của Hoạt. Sau đề nghị khẩn khoản của tôi, chị vào buồng, mở tủ lấy ra chiếc gương được bọc kỹ trong vuông vải ka-ki màu đỏ. Tôi đỡ lấy chiếc gương và thầm mong một lần nữa, phép màu lại hiện ra.

Bộ đội thông tin liên lạc (Ảnh tư liệu: Internet).

Quả thế! Tấm ảnh mẹ con chị và mảnh báo in hình Bác Hồ cầm ống nói, cùng bức thư của Người vẫn còn nguyên đó, dù đã ố vàng và dính bết vào nhau. Phải thận trọng bóc dần từng tí một. Mấy chục năm rồi, những dòng chữ nhỏ li ti vẫn đủ nét để tôi còn đọc được trong nghẹn ngào: “Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ thông tin liên lạc”… “đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa…”, “…Cho xứng đáng là những chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”… Tấm gương mà anh giữ trọn trong ngực áo mình chính là cuộc đời trọn vẹn của anh, là tấm gương vĩnh cửu, làm sao có thể lu mờ hay rạn vỡ!

Không thể nói thêm điều gì, tôi và chị lặng ngắm di ảnh của anh. Rồi chị đứng lên, cầm bức ảnh, cùng tôi mở khung kính, ộp vào đó mảnh báo có hình Bác và bức thư của Người. Chị run run treo lại tấm ảnh của người chồng yêu quý, người chiến sĩ thông tin đã sống, chiến đấu và hi sinh, xứng đáng với lời khen của vị lãnh tụ thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, trước khi anh về cõi vĩnh hằng.

Ngoài sân, chiều đã bắt đầu chạng vạng. Cả khung trời phía tây chợt bừng lên những nan quạt khổng lồ màu đỏ tía. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ về thời cuộc, về tình người, về những thế hệ đã đi qua cuộc chiến suốt gần thế kỉ, tôi xin chị được thắp thêm mấy nén nhang cho anh, rồi thầm gọi: “Hoạt ơi!”.

Tháng 12 năm 2008

dvt.vn

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn in đậm nét trong trí nhớ của tôi

Nguyễn Tử Nên

Vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Bộ Thông tin – Văn hoá CHDCND Lào đã phát hành cuốn sách quí “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” được dịch từ nguyên bản cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên và dịch giả là nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa. Cuốn sách dày trên 170 trang (khổ 13 x 19cm) được in bằng giấy tốt và do họa sĩ Xútchay Đuôngmixay Lycayđa (con trai Nhạc sĩ Đuôngmixay) vẽ bìa; trong đó nổi bật chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền màu tím của cánh sen và bao quanh là hoa sen, lá sen và hai sợi chỉ trắng và đỏ đan vào nhau thể hiện tình hữu nghị Lào – Việt mãi mãi xanh tươi và đời đời bền vững. Việc Bộ Thông tin – Văn hoá Lào cho dịch, xuất bản và phát hành cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Bác là một sự kiện có ý nghĩa trong quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào.

Chúng tôi đã gặp và trò chuyện với dịch giả – nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về công trình dịch thuật của anh. Nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa vui vẻ kể: Tôi có may mắn được tiếp xúc với quân tình nguyện Việt Nam từ những năm còn rất nhỏ và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bản nhạc, câu chuyện do các anh bộ đội Việt Nam kể đã in đậm trong trí nhớ của tôi. Năm 11 tuổi tôi được sang Việt Nam học văn hoá và sau đó lại được học tiếp khoa sáng tác (hệ trung cấp) Nhạc viện Hà Nội. Với gần 10 năm sống và học tập tại Việt Nam, tôi có điều kiện hiểu sâu sắc về đất nước, nhân dân Việt Nam và về Bác Hồ kính yêu cùng những tình cảm và sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Việt Nam đã dành cho cách mạng Lào. Gần 20 năm trở lại đây, do công tác trong ngành TT – VH (nhạc sỹ hiện là Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật) mà tôi nhận ra rằng sách viết về Bác Hồ, người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị đòan kết đặc biệt Lào – Việt, dịch ra tiếng Lào còn quá ít. Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm dịch một cuốn sách về Bác với mong muốn là góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức các mạng, giáo dục truyền thống đoàn kết thủy chung son sắt giữa hai dân tộc Lào – Việt qua tấm gương về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Và cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã được dịch ra tiếng Lào trong trường hợp đó.

Chúng tôi hỏi nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về những khó khăn khi dịch cuốn sách này và nhạc sĩ đã thổ lộ: Là một cán bộ quản lý nên quỹ thời gian dành cho các lĩnh vực khác không nhiều. Do đó, tôi phải tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi và phải mất hơn 2 năm trời gần như dành toàn bộ tâm trí sức lực, quỹ thời gian, vốn từ ngữ và cả kiến thức xã hội về Việt Nam mà mình có để dịch mới hoàn thành được tác phẩm. Cái khó nhất đối với tôi là có nhiều danh từ riêng chỉ các địa phương, mà chủ yếu là ở nước ngoài hoặc những đoạn người viết tả bối cảnh xã hội của Việt Nam và các nước Bác đến, phải dịch thế nào để người Lào đọc và hiểu được trong khi vẫn giữ được những bản sắc vừa giàu hình ảnh, vừa đậm nét dân tộc của Việt Nam và các nước. Trong trường hợp đó, tôi phải tìm các sách như: “Hồ Chí Minh – về đạo đức cách mạng”, “Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp”, “Chuyện kể về Bác Hồ, những năm đầu trường kỷ kháng chiến” bằng tiếng Việt và cuốn “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Lào để tham khảo hoặc tìm các đồng chí Việt Nam để hỏi. Những cuốn sách mà tôi đã đọc cùng với những cuộc trao đổi thân tình với các đồng chí Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong cách diễn đạt ngữ pháp Việt Nam, trong việc sử dụng câu từ để làm sinh động thêm những đoạn tả cảnh mà người viết đã có dụng ý nhấn mạnh để phục vụ cho nội dung chủ yếu của cuốn sách.

Kết thúc câu chuyện, nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa tâm sự: Tôi coi việc dịch cuốn sách quý này là vinh dự, là hạnh phúc lớn lao trong đời hoạt động cách mạng của mình. Đối với nhân dân các bộ tộc Lào cũng có thể coi đây là món quà kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Người.

cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Quân khu IV (27-12-1967)

Thân ái gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ Quân khu IV,

Đến ngày 20 tháng 12 nǎm 1967, quân và dân Quân khu IV đã bắn rơi hơn 1.000 máy bay giặc Mỹ. Ngày 20 tháng 12 nǎm 1967 lại bắn rơi hai máy bay B.52 nữa. Thế là quân và dân Quân khu IV đã góp phần cùng với quân và dân toàn miền Bắc bắn rơi 2.680 máy bay giặc Mỹ.

Trong ba nǎm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, quân và dân Quân khu IV đã nêu gương sáng, đoàn kết chặt chẽ, không sợ hy sinh gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, sản xuất tốt, chiến đấu giỏi, bắn rơi nhiều máy bay, bắt nhiều giặc lái, bắn cháy và bắn chìm nhiều tàu chiến của giặc Mỹ, giữ vững giao thông vận tải.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi toàn thể đồng bào, bộ đội và cán bộ Quân khu IV.

Giặc Mỹ đang thua to. Trong cơn khốn đốn, chúng sẽ còn nhiều thủ đoạn hung ác. Quân và dân hai miền nước ta ngày càng thắng lớn. Đồng bào, bộ đội và cán bộ Quân khu IV hãy luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, sản xuất tốt, chiến đấu giỏi hơn nữa, dũng cảm tiến lên, cùng với quân và dân cả nước quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 27 tháng 12 nǎm 1967
Bác Hồ

————————–

Báo Nhân dân, số 5013, ngày 1-1-1968.
cpv.org.vn

Điện gửi các bạn người Mỹ nhân dịp nǎm mới 1968 (31-12-1967)

Nhân dịp đầu nǎm 1968, tôi gửi các bạn lời chúc mừng nǎm mới.

Các bạn đều biết, không hề có người Việt Nam nào đến khuấy rối ở nước Mỹ. Vậy mà có nửa triệu quân Mỹ đến miền Nam Việt Nam, cùng với hơn 70 vạn quân nguỵ và quân chư hầu, hằng ngày bắn giết người Việt Nam, đốt phá thành phố và xóm làng Việt Nam.

Ở miền Bắc Việt Nam, hàng nghìn máy bay Mỹ đã giội hơn 80 vạn tấn bom, phá hoại trường học, nhà thờ, bệnh viện, đê điều và các khu đông dân.

Chính phủ Mỹ đã buộc hàng chục vạn thanh niên Mỹ phải chết và bị thương vô ích trên chiến trường Việt Nam.

Chính phủ Mỹ xài phí về chiến tranh ở Việt Nam mỗi nǎm hàng chục tỉ đôla tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân Mỹ.

Nói tóm lại, bọn xâm lược Mỹ chẳng những phạm tội ác đối với Việt Nam mà còn làm chết người, hại của và bôi nhọ danh dự của nước Mỹ.

Các bạn ra sức đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, vừa bảo vệ chính nghĩa, vừa ủng hộ chúng tôi.

Vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc mình, vì muốn sống hoà bình hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới, cả với nhân dân Mỹ, toàn dân chúng tôi đoàn kết nhất trí, kiên quyết chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng tôi được sự ủng hộ của anh em bè bạn khắp nǎm châu. Chúng tôi nhất định thắng lợi và các bạn cũng nhất định thắng lợi.

Cảm ơn các bạn đã ủng hộ nhân dân Việt Nam.
Chúc các bạn tốt lành

Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 5012, ngày 31-12-1967.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng nǎm mới (1-1-1968)

Đồng bào và chiến sĩ yêu quý,

Từ nǎm 1965, đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân trực tiếp xâm lược miền Nam nước ta và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, nhân dân ta đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước, đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Đến cuối nǎm 1967, quân và dân miền Nam anh hùng đã diệt, làm bị thương và làm tan rã hàng chục vạn quân Mỹ, quân nguỵ và quân chư hầu.

Quân và dân miền Bắc anh hùng đã bắn tan xác hơn 2.680 máy bay giặc Mỹ.

Sang nǎm nay, bọn Mỹ xâm lược càng bị động càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Nhân dịp nǎm mới, tôi thay mặt đồng bào và chiến sĩ ta, gửi lời chúc mừng đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Tôi chúc kiều bào ta ở nước ngoài, nǎm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!

Với đồng bào và chiến sĩ cả nước ta, tôi chúc mừng nǎm mới như sau:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

————————–

Báo Nhân dân, số 5013, ngày 1-1-1968.
cpv.org.vn

Điện mừng Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê (10-1-1968)

Kính gửi Ngài Xêcu Turê, Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê,

Cônacri

Nhân dịp Ngài lại được bầu giữ chức Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến Tổng thống lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Chúc nhân dân Ghinê, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống, thu được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, củng cố độc lập dân tộc, xây dựng đất nước phồn vinh, góp phần vào việc giữ gìn hoà bình ở châu Phi và thế giới.

Chúc tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Ghinê ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 10 tháng 1 nǎm 1968
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

—————————–

Báo Nhân dân, số 5025, ngày 13-1-1968.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Quân khu Việt Bắc (21-1-1968)

Thân ái gửi đồng bào và chiến sĩ Quân khu Việt Bắc,

Đến ngày 14-1-1968, quân và dân Quân khu Việt Bắc đã bắn rơi 300 máy bay Mỹ, góp phần vào chiến công vẻ vang của quân và dân miền Bắc bắn rơi hơn 2.700 máy bay Mỹ.

Đồng bào các dân tộc và cán bộ, chiến sĩ Việt Bắc đã luôn luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, trung dũng của khu cǎn cứ cách mạng.

Quân và dân Quân khu Việt Bắc đã vượt mọi khó khǎn gian khổ, chiến đấu giỏi, sản xuất tốt, giữ vững trật tự trị an, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, dốc lòng dốc sức vào sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi toàn thể đồng bào các dân tộc, bộ đội và cán bộ Quân khu Việt Bắc.

Quân và dân cả hai miền nước ta ngày càng thắng lớn. Giặc Mỹ thua to, nhưng chúng còn rất ngoan cố. Quân và dân Quân khu Việt Bắc hãy nâng cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, sản xuất và chiến đấu giỏi hơn nữa, hǎng hái tiến lên cùng đồng bào cả nước quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 21 tháng 1 nǎm 1968
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 5034, ngày 22-1-1968.
cpv.org.vn

Thư khen tỉnh Thái Bình (28-1-1968)

Thân ái gửi đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình,

Trong hai nǎm nay, Thái Bình đã cố gắng phát triển sản xuất, thực hiện thâm canh và đã đạt nǎng suất trên 5 tấn lúa một hécta trong toàn tỉnh. Do đó, nhân dân Thái Bình đã làm nghĩa vụ lương thực đối với Nhà nước hơn các nǎm trước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; đời sống của nhân dân được bảo đảm. Như vậy là tốt.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào và cán bộ Thái Bình đã có nhiều cố gắng trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu, thâm canh tǎng nǎng suất lúa.

Đây mới là những thành tích bước đầu. Bác mong rằng đồng bào và cán bộ không chủ quan, tự mãn, tiếp tục cố gắng hơn nữa, ra sức thi đua phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện để góp phần xứng đáng hơn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của toàn dân ta.

Nhân dịp nǎm mới, Bác gửi lời chúc toàn thể đồng bào và cán bộ trong tỉnh: nǎm mới cố gắng mới và thắng lợi mới.

Chào thân ái và quyết thắng
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 5040, ngày 28-1-1968.
cpv.org.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ lão

1. … Xưa nay, những người yêu nước không vì tên tuổi già mà chịu ngồi không. Nước ta có những người như Lý Thường Kiệt, càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng.

Thư gửi các vị phụ lão, ngày 21- 9-1945, sđd, t.4, tr. 24.

2. Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn.

Càng già, càng dẻo lại càng dai,
Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai.
Đôn đốc con em làm nhiệm vụ,
Vuốt râu mừng xã hội tương lai.

Tuổi càng cao, lòng yêu nước càng lớn ngày 1-10-1960, sđd, t.10, tr. 213-214.

3. … Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở Đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 463.

quangbinh.gov.vn