Tag Archive | Tin tức

Bài nói tại Đại hội thi đua “Nǎng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” toàn miền Bắc (12-2-1965)

Bác và đồng chí Phạm Vǎn Đồng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái hỏi thǎm các đồng chí.

Trong phong trào thi đua yêu nước, đồng bào các dân tộc, bà con công, nông, Hoa, các đồng chí chuyên gia đều có góp phần xứng đáng.

Nǎm ngoái có 1.170 tổ và đội được nhận là tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa.

8.900 tổ và đội được ghi tên và 16.500 tổ và đội đề nghị ghi tên phấn đấu trở thành tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa. Như thế là phong trào nǎm ngoái phát triển hơn nǎm kia. Nǎm nay phải phát triển hơn nǎm ngoái.

Nghe nói nǎm ngoái đã tổng kết hơn 15 vạn sáng kiến. Như thế là tốt. Theo ý Bác thì đối với sáng kiến cũng như đối với việc trồng cây, trồng cây nào phải tốt cây ấy, hơn là trồng nhiều mà cây sống ít. Khi có sáng kiến mới thì tập thể phải bổ sung nó, cải tiến nó, phổ biến nó, áp dụng nó. Như thế, thì bảy vạn rưởi sáng kiến cũng đã giúp cho chúng ta khá nhiều. Bác không rõ 15 vạn sáng kiến nói trên đã được cải tiến và áp dụng như thế nào?

Chúng ta có phong trào thi đua yêu nước, thi đua “mỗi người làm việc bằng hai”, thi đua đạt ba điểm cao, vận động “3 xây, 3 chống”…Tên gọi khác nhau, song đều nhằm một mục đích. Vì vậy, cần phải kết hợp cho khéo.

Phong trào nói chung là khá, nhưng vẫn còn những nhược điểm cần phải giải quyết. Ví dụ:

– Phong trào chưa đều trong các ngành, các đơn vị, các địa phương.

– Thường chạy theo số lượng, ít chú trọng chất lượng.

– Một số ngành còn khoán trắng việc chỉ đạo cho công đoàn.

– Đặt quá nhiều tiêu chuẩn, hội họp quá nhiều, v.v..

Chúng ta cần phải đẩy mạnh thi đua cải tiến quản lý kỹ thuật, quản lý lao động và quản lý vật tư.

– Phải hết sức bảo đảm chất lượng và thực hành tiết kiệm.

– Từ cán bộ đến các đơn vị phải đi sâu đi sát trong việc chỉ đạo thực hiện.

– Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức như thanh niên, phụ nữ, công đoàn phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Phải tránh xu hướng bản vị, cục bộ.

– Để bảo đảm phong trào thi đua thắng lợi vẻ vang, cần có hai điều: một là cán bộ và công nhân phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ tập thể; hai là kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần.

Tất cả các ngành, các địa phương, phải hǎng hái thi đua hoàn thành thắng lợi kế hoạch nǎm nay và kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất, tạo điều kiện tốt cho kế hoạch 5 nǎm lần thứ hai, đồng thời luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, để ủng hộ một cách thiết thực đồng bào miền Nam anh hùng.

Bác chỉ nói tóm tắt như vậy. Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng sẽ nói nhiều hơn và rõ hơn.

Chúc Hội nghị thành công và Bác chờ tin thắng lợi của các cô, các chú.

Nói ngày 12-2-1965.

——————–

Báo Nhân dân, số 3970, ngày 14-2-1965.
cpv.org.vn

Điện cảm ơn (13-2-1965)

Kính gửi Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, Vương quốc Campuchia,

Phnôm Pênh

Tôi hết sức cảm kích về bức điện của Ngài nghiêm khắc lên án những hành động xâm lược gần đây của đế quốc Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và hoan nghênh những thắng lợi của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sự ủng hộ hoàn toàn của Ngài đã một lần nữa biểu hiện tinh thần bất khuất của nhân dân Khơme kiên quyết chống sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai và biểu hiện mối tình đoàn kết anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam.

Thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi Ngài và nhân dân Khơme anh em lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ quý báu đó.

Nhân dân Việt Nam quyết đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Khơme anh em và với các dân tộc khác ở Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Chúng tôi tin chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ngài, nhân dân Khơme sẽ thu được nhiều thắng lợi to lớn.

Kính chúc Ngài mạnh khoẻ.

Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhândân, số 3969, ngày 13-2-1965.
cpv.org.vn

Thư khen các lực lượng vũ trang và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An, đã chiến đấu dũng cảm lập được chiến công (14-2-1965)

Thân ái gửi cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An,

Cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nghệ An, đã chiến đấu dũng cảm liên tục chống những hành động xâm lược của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta. Đã bắn chìm một tàu biệt kích Mỹ ngày 1-2-1965 và trong những ngày 7, 8, 11-2-1965 đã bắn rơi 22 máy bay Mỹ và bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống một tên thiếu tá phi công Mỹ. Thắng lợi đó đã làm nức lòng nhân dân ta trong cả nước. Một lần nữa chúng ta đã tỏ rõ cho đế quốc Mỹ biết rằng nếu chúng cứ liều lĩnh tiếp tục khiêu khích miền Bắc, chúng sẽ bị thất bại nhục nhã.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi các đơn vị và các cá nhân đã lập được chiến công.

Bác thân ái gửi lời thǎm hỏi tất cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân vũ trang, dân quân, tự vệ, cán bộ và đồng bào các vùng bị giặc bắn phá đã đoàn kết chiến đấu tốt.

Nhân dịp này, chúng ta rất vui mừng hoan hô đồng bào và Quân giải phóng miền Nam anh dũng đã liên tiếp đánh thắng địch nhiều trận lớn.

Thế là đầu nǎm, quân và dân miền Bắc, Quân giải phóng và đồng bào miền Nam đều lập được chiến công vẻ vang.

Nhưng đế quốc Mỹ và tay sai còn nhiều âm mưu hung ác, quân và dân ta phải tǎng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, giặc đến là đánh, đánh là phải thắng.

Cả nước một lòng đấu tranh anh dũng. Nhân dân trong phe xã hội chủ nghĩa và bè bạn khắp nǎm châu đồng tình ủng hộ ta. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhất định thắng lợi. Sự nghiệp giải phóng của đồng bào miền Nam và sự nghiệp hoà bình thống nhất đất nước của nhân dân ta nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 14 tháng 2 nǎm 1965
BáC Hồ

———————-

Báo Nhân dân,số 3974, ngày 18-2-1965.
cpv.org.vn

Bài nói với cán bộ và xã viên hợp tác xã Hồng Thái – Hải Dương (15-2-1965)

Các đồng chí,

Bác và đồng chí Phó Thủ tướng Phạm Hùng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thǎm đồng bào và cán bộ tỉnh nhà, thǎm hợp tác xã Hồng Thái. Nhân tiện đây, Bác gửi lời chào và cảm ơn các đồng chí chuyên gia Trung Quốc đang giúp tỉnh Hải Dương về nông nghiệp.

Riêng về hợp tác xã Hồng Thái, Bác có mấy ý kiến:

Ngày nay thấy cảnh tươi vui no ấm của xã Hồng Thái, chắc không ai ngờ rằng trước cách mạng, đó là một nơi chiêm khô mùa thối, nhân dân đói nghèo. Non 3.000 người dân mà nǎm 1945 đã có 1.200 người chết đói! Chỉ một việc đó, đủ nói lên tình trạng xã này xưa kia.

Từ ngày cải cách ruộng đất thắng lợi, nhất là từ nǎm 1960, Hồng Thái đã thay đổi hẳn. Mấy con số sau đây nói rõ sự đổi mới nhanh chóng ấy.

1960                             1964

– Ruộng chiêm và mùa                                    378 ha                          543 ha

– Tổng sản lượng thóc                                   800 tấn                         1.285 tấn

– Cá bán được                                              5.900 đồng                    18.900 đồng

– Lợn                                                          720 con                         1.224 con

– Thu nhập của một lao động                          315 kg                           672kg

– Bán thóc và nộp thuế cho Nhà nước              289 tấn                          423 tấn

Đời sống vật chất được nâng cao, đời sống vǎn hoá cũng phát triển. Ngày nay Hồng Thái có một trường cấp I với 450 học trò. Ngoài ra còn có 180 cháu học cấp II, 22 cháu học cấp III.

1 nhà thương nhỏ với 15 giường.

5 nhà gửi trẻ có 120 cháu.

5 lớp mẫu giáo với 200 cháu.

10 nhà tắm.

550 cái sân gạch (trước kia chỉ có 15 cái).

120 cái giếng (trước kia phải uống nước ao).

60% hộ có nhà gỗ. Hơn 80% hộ có mức sống ngang trung nông.

Đó là những đổi mới mà trước đây đồng bào Hồng Thái không có.

Do đâu mà có kết quả bước đầu tốt đẹp đó ?

Do chi bộ theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và được đồng bào hết lòng tin cậy, hǎng hái làm theo.

Hồng Thái có nǎm chi bộ (nǎm thôn) với 117 đảng viên, 83 đồng chí là “bốn tốt”. Đoàn Thanh niên Lao động có 120 đoàn viên, 90% thanh niên là “bốn tốt”.

Để giải quyết nạn nghèo khổ vì hạn và úng, chi bộ đã động viên nhân dân ra sức làm thuỷ lợi.Xã đã có một đội chuyên làm thuỷ lợi do một đồng chí chi uỷ phụ trách. Hơn một nửa số đội viên là đảng viên và đoàn viên. Đội thuỷ lợi có đầy đủ công cụ cải tiến, còn có tủ thuốc, tủ sách báo, đội bóng chuyền, v.v.. Vì được giúp đỡ mọi mặt, cho nên nâng suất lao động của đội càng ngày càng tǎng. Nǎm 1962 bình quân một công là 2 mét khối rưỡi, nǎm 1964 bình quân một công là 4 mét khối.

Do làm thuỷ lợi tốt mà ruộng một vụ thành hai vụ. Giao thông vận tải dễ dàng, đã tiết kiệm được mỗi nǎm hơn 31.500 công. Có nhiều phương tiện để trồng cây, nuôi cá. Ngày công xã viên góp vào hợp tác xã cũng tǎng thêm: Nǎm 1961 bình quân là 137 ngày công, nǎm 1964 là 289 ngày công.

Nói tóm lại, Hồng Thái tiến bộ nhiều là do đồng bào hǎng hái, cần cù, do đảng viên đoàn kết, gương mẫu. Ví dụ: đồng chí Đẩu đã 76 tuổi mà vẫn đỡ đầu dân quân. Đồng chí Yên 66 tuổi, phụ trách trồng trọt, một mình đã trồng được 5.000 cây, v.v..

Tuy vậy đồng bào và cán bộ Hồng Thái chớ nên tự mãn với những thành tích bước đầu mà cần phải cố gắng hơn nữa.

– Làm cho nǎng suất lúa ổn định và tǎng hơn.

– Đẩy mạnh chǎn nuôi hơn nữa.

– Chǎm sóc hơn nữa việc trồng cây.

Củng cố tốt và phát triển tốt Đảng và Đoàn thanh niên.

Bây giờ nói chuyện về Hải Dương.

Bác rất vui lòng nhận thấy trong nǎm vừa qua Hải Dương tiến bộ khá về các mặt như:

– Cuộc vận động cải tiến quản lý đã làm được khá tốt.

– Khối lượng thuỷ lợi nǎm 1964 nhiều bằng cả hai nǎm 1962, 1963 cộng lại. Nhưng có một số nơi, ví dụ như Kim Thành chưa bảo đảm chất lượng.

– Nuôi lợn tập thể phát triển khá. Nǎm 1963 mới có 140 hợp tác xã, nǎm 1964 đã có 365 hợp tác xã nuôi tập thể. Tuy vậy, vẫn còn gần 700 hợp tác xã chưa làm như vậy.

– Sản xuất lương thực khá cả về diện tích và sản lượng.

Nghĩa vụ thu mua lương thực và thực phẩm cho Nhà nước đã làm tốt.

– Các ngành khác, như công thương nghiệp, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng, vǎn hoá, giáo dục, trật tự trị an, vệ sinh phòng bệnh – đều có tiến bộ. Tuy vậy, cần phải cố gắng nhiều hơn nữa.

Đồng bào Hải Dương có những sáng kiến hay và những kiểu mẫu tốt cần được phổ biến, ví dụ:

Chị em phụ nữhuyện Nam Sách đã tổ chức hũ gạo tiết kiệm và thi đua gửi tiền vào quỹ tiết kiệm.

Các cháu nhi đồng xã Phượng Hoàng có phong trào “ngõ sạch đường quang, sạch làng tốt ruộng” và thi đua chǎm lo trâu béo, bò khoẻ.

Xã Hồng Tháilà kiểu mẫu về công tác thuỷ lợi tốt như đã nói trên.

Xã Nam Chínhlà kiểu mẫu công tác vệ sinh phòng bệnh. Từ chỗ uống nước ao tù, hiện nay 416 gia đình đã có 369 cái giếng, 416 hố xí hợp vệ sinh, 82 cái nhà tắm, 22 tủ thuốc, v.v.. Kết quả là bệnh ỉa chảy, đậu mùa, toét mắt, đã chấm dứt. Trước kia hơn 90% dân trong xã mắc bệnh mắt hột, nay chỉ còn 5%. Kết quả là sức khoẻ càng dồi dào, sản xuất càng phát triển.

Kiểu mẫu hợp tác xã tiên tiến thì chỉ có Đại Xuân, Hồng Thái, Hiệp An, Sạ Sơn, v.v..

Những nơi kể trên làm được, thì những nơi khác, hợp tác xã khác cố gắng nhất định cũng sẽ làm được.

Là một trong những tỉnh trọng điểm lúa ở miền Bắc, Hải Dương phải phấn đấu làm cho nông nghiệp tiến bộ mạnh mẽ, toàn diện, vững chắc để cải thiện đời sống nhân dân, cung cấp nhiều lương thực và thực phẩm cho Nhà nước để góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Muốn vậy, thì thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu. Nǎm 1964, Hải Dương đã làm tương đối khá, song không được chủ quan thoả mãn. Phải đẩy mạnh phong trào thi đua đuổi kịp và vượt Hồng Thái. Phải tổ chức tốt các đội thuỷ lợi, có công cụ cải tiến. Thuỷ lợi phải kết hợp với giao thông, trồng cây, thả cá. Những hợp tác xã nào chưa có đội thuỷ lợi, phải tổ chức và trang bị tốt cho các đội thuỷ lợi. Muốn thâm canh tǎng nǎng suất, phải chú ý cả nước, phân, giống. Hải Dương phải trồng cây làm phân xanh cho nhiều. Muốn lương thực dồi dào thì phải vừa nhiều lúa, vừa nhiều hoa màu. Phải mạnh dạn tiến vào khoa học kỹ thuật nông nghiệp.

Phải chú trọng cây lương thực, đồng thời phải đẩy mạnh chǎn nuôi cho cân đối với trồng trọt. Muốn phát triển tốt chǎn nuôi thì phải có đủ thức ǎn, có giống tốt và thú y tốt. Cần phát triển cây công nghiệp, trồng cây, thả cá. vừa để cải thiện đời sống của nhân dân, vừa để phục vụ xuất khẩu. Trồng cây phải cóđội chuyên trách, phải bảo vệ tốt những cây đã trồng.

Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, vǎn hoá, giáo dục, y tế, v.v.. Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm.

Phải đẩy mạnh phong trào vệ sinh nông thôn, học tập thi đua với Nam Chính, Hùng Sơn.

Phải nắm vững tay cày tay súng, đẩy mạnh quốc phòng, trật tự trị an, củng cố tốt dân quân, tự vệ, luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.

Muốn thắng lợi thì phải củng cố tốt và phát triển tốt Đảng và Đoàn. Chỉnh huấn phải làm cho tốt. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng chi bộ “bốn tốt”, chi đoàn “bốn tốt” cả ở nông thôn, xí nghiệp và cơ quan. Mọi việc phải theo tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, tránh liên hoan lu bù. Đảng viên, cán bộ phải đi sát quần chúng, củng cố và phát huy vai trò các đoàn thể quần chúng, như thanh niên, phụ nữ, công đoàn.

Hiện nay tỉnh ta có hơn 26.750 đảng viên (nhiều hơn 5 lần tổng số đảng viên ngày Cách mạng Tháng Tám) và 28.000 đoàn viên. Đó là một lực lượng cách mạng to lớn. Đảng viên và đoàn viên phải đoàn kết nhất trí, xung phong gương mẫu trong mọi công việc, làm cho Hải Dương trở nên một tỉnh gương mẫu.

Cuối cùng, Bác chúc các đồng chí cố gắng nhiều, thành tích nhiều và Bác gửi lời thân ái thǎm hỏi đồng bào và cán bộ cả tỉnh.

Nói ngày 15-2-1965.

———————–

Báo Nhân dân,số 3974, ngày 18-2-1965.
cpv.org.vn

Ta thắng lớn, Mỹ thua to (27-2-1965)

Các bạn thân mến,

Báo cáo này xin miễn kể lại những trận oanh liệt ở Plây Cu, Tuy Hoà, Quy Nhơn, Phù Mỹ…, chỉ trong vòng bảy ngày (7 đến 14-2-1965), đồng bào miền Nam đã tiêu diệt 2.500 lính ngụy và 350 tên Mỹ xâm lược, phá huỷ 47 máy bay Mỹ, v.v.. Cũng miễn kể lại những thắng lớn ở Vĩnh Linh, Đồng Hới, Nghệ An, trong ba ngày (7, 8, 11-2-1965), ta đã bắn rơi 22 máy bay Mỹ. Đó là những thắng lợi về quân sự mà thiên hạ đều biết. Báo cáo này chỉ tóm tắt nêu lên những thắng lợi của ta và những thất bại của Mỹ về chính trị.

Đế quốc Mỹ thường rêu rao nào “dân chủ”, nào “tự do”. Nhưng lần này chúng đã bị lột hết mặt nạ trước thế giới.

Như hôm 11-2, tổng Giôn đã ra lệnh ném bom Vĩnh Linh, Đồng Hới, Nghệ An. Nhưng liền sau đó, trong một cuộc chiêu đãi đoàn ngoại giao, cũng tên Giôn đó đã lép bép rằng “Mỹ hết sức ủng hộ hoà bình, chính nghĩa giữa các dân tộc”(!).

Đế quốc Mỹ lặp đi lặp lại rằng chúng không có ý mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng mọi người biết rằng: tháng 6 nǎm ngoái, trong hội nghị bí mật ở Hônôlulu, chúng đã đặt kế hoạch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc để hòng gỡ thế bí của chúng ở miền Nam. Mồng 4 tháng 8, thì chúng dựng đứng ra “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, 17-9, chúng lại cho tàu chiến vào vịnh Bắc Bộ, hòng gây chiến lần nữa. Từ đó, chúng cho máy bay, tàu chiến khiêu khích hơn 20 lần miền Bắc nước ta.

Rồi đến trận cắn trộm ngày 7, 8 và 11- 2-1965.

Tuy bọn Mỹ nói đó là để “trả đũa” cho những trận thất bại nhục nhã của chúng ở miền Nam. Nhưng báo chí Mỹ đã nói toạc ra rằng “Mỹ có thể ném bom vào mục tiêu ở miền Bắc, không chỉ để trả đũa”. (UPI, 12-2-1965). Các báo Anh cũng nói rằng: “Từ tháng 12 nǎm ngoái, Tổng thống Mỹ đã cho Thủ tướng Anh biết kế hoạch ném bom miền Bắc Việt Nam”.

Việc Mỹ ném bom miền Bắc đã gây nên khắp thế giới một làn sóng sôi sục phản đối Mỹ và ủng hộ ta.

Từ Triều Tiên, Trung Quốc, Liên Xô đến Cuba, hàng chục triệu nhân dân các nước anh em đã rầm rộ tuần hành thị uy chống Mỹ. Chính phủ các nước anh em đã nghiêm khắc cảnh cáo Mỹ và tích cực ủng hộ ta.

Ở các nước bạnnhư Angiêri, Inđônêxia, v.v. hàng chục vạn người biểu tình ủng hộ ta, phản đối Mỹ. Hôm 15-2, riêng ở Giacácta đã có hơn 25 vạn người biểu tình chống Mỹ.

Nhân dân các nướctư bản như Anh, Pháp, Nhật, ý, và các nước xã hội như Sili, Côlômbi, Vênêduêla, v.v. cũng có những cuộc biểu tình rầm rộ lên án Mỹ và ủng hộ ta.

Cho đến các nước như Tây Đức, Mã Lai, quần chúng cũng có phong trào như vậy. Các báo Mỹ đã phải thú nhận rằng: “Trên thế giới các cuộc thị uy chống Mỹ đã lên đến cao trào mới… Chưa bao giờ Mỹ bị cô lập như bây giờ”.

Ngay ở Mỹ, phong trào chống chiến tranh cũng lan mạnh. Nhiều chính khách có thần thế như các nghị sĩ Moxơ, Sớcsơ, Gruninh, v.v. kịch liệt chống chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Vừa rồi lại có thêm 420 giáo sư các trường đại học và 122 người có danh vọng lớn như ông Pôlinh đã tuyên bố rằng cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Nam Việt Nam nhất định sẽ thất bại và đòi Chính phủ Mỹ phải chấm dứt ngay chiến tranh.

Thanh niên và sinh viên 14 trường đại học và 10 trường cao đẳng ở Thủ đô và 10 thành phố lớn ở Mỹ đã mít tinh, biểu tình ủng hộ ta.

Nhiềubáo chí tư sản Mỹ cũng nghiêm khắc lên án hành động kiểu cướp biển của Chính phủ Mỹ. Ví dụ: Hãng UPI viết: “Đó là một cuộc đánh bạc không hy vọng thắng”. Thời báo Nữu Ước viết: “Hành động điên rồ của Mỹ ở miền Bắc không cứu vãn được thất bại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.

Trong phong trào rung động cả thế giới này, có những chuyện rất cảm động. Như bà cụ Lý, 69 tuổi, đã chống gậy dẫn cả nhà gồm 18 người con và cháu cùng đi biểu tình với hàng vạn nhân dân Nam Ninh (Quảng Tây). Để chống chính sách chiến tranh của tổng Giôn và ủng hộ ta, nhiều sinh viên Mỹ đã tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ, trong số này có 30 sinh viên gái ở Trường đại học Côlômbia…

Những việc kể trên chứng tỏ rằng: Anh em bè bạn khắp nǎm châu đều nhiệt liệt ủng hộ ta và về chính trị cũng như về quân sự, ta đang thắng lớn, Mỹ đang thua to. Tuy vậy, như “chó dại cắn càn”, đế quốc Mỹ càng thua đau, chúng càng giãy giụa hung dữ. Cho nên toàn dân ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng.

Chiến sĩ

————————

Báo Nhân dân,số 3983, ngày 27-2-1965.
cpv.org.vn

Thư chào mừng Hội nghị nhân dân Đông Dương (25-2-1965)

Kính gửi Hội nghị nhân dân Đông Dương,

Phnôm Pênh

Nhân dịp khai mạc Hội nghị nhân dân Đông Dương do sáng kiến của Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, tôi thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, gửi lời chào mừng nhiệt liệt đến Hội nghị. Cũng nhân dịp này, tôi nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần anh dũng của nhân dân Khơme anh em đã bền bỉ đấu tranh, bảo vệ chính sách hoà bình và trung lập, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Campuchia dưới sự lãnh đạo của Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc.

Hơn mười nǎm nay, thi hành chính sách can thiệp và xâm lược, đế quốc Mỹ đã phá hoại một cách có hệ thống Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 về Đông Dương và Hiệp định Giơnevơ nǎm 1962 về Lào, đã xâm phạm độc lập, chủ quyền của ba nước chúng ta. Nhưng nhân dân Vương quốc Campuchia, nhân dân Vương quốc Lào và nhân dân miền Nam Việt Nam đã anh dũng chống lại và đã giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam , Mỹ đã bị nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đánh cho thất bại thảm hại. Để gỡ thế bí, bọn xâm lược Mỹ vừa tǎng cường chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, vừa trắng trợn gây những hành động chiến tranh đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đồng thời chúng tǎng cường các hoạt động khiêu khích vũ trang đối với Vương quốc Campuchia và cho máy bay tiến công nhiều vùng do Neo Lào Hắcxạt và lực lượng trung lập yêu nước Lào kiểm soát.

Chính sách gây chiến của đế quốc Mỹ đang bị nhân dân toàn thế giới kịch liệt phản đối.

Nhân dân ba nước anh em Việt Nam, Campuchia và Lào vốn đã luôn luôn cùng nhau sát cánh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mở rộng do Mỹ gây nên, nhân dân ba nước chúng ta đoàn kết chặt chẽ chống đế quốc Mỹ, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Tôi kính chúc Hội nghị nhân dân Đông Dương thành công tốt đẹp

Hà Nội, ngày 25tháng 2 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhândân, số 3986, ngày 2-3-1965.
cpv.org.vn

“Sách Trắng” của Mỹ (8-3-1965)

Là một vǎn kiện đen tối nhất, xấu xa và dơ bẩn nhất trong lịch sử. Đó chỉ là một bồ giấy lộn hôi tanh. Nó nhằm ba mục đích trắng trợn:

1. Hòng che giấu tội ác tầy trời của đế quốc Mỹ.

2. Hòng vu cáo Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là kẻ xâm lược, là kẻ vi phạm Hiệp định Giơnevơ.

3. Hòng lừa bịp nhân dân Mỹ và thế giới, để mở rộng chiến tranh ở Việt Nam.

Nhưng bàn tay đẫm máu của đế quốc Mỹ không bưng bít được mặt trời sự thật. Mặt nạ gian dối của đế quốc Mỹ “vừa ǎn cướp vừa la làng” đã bị cả thế giới lột trần.

Hiệp định Giơnevơ 1954, trong Điều 17, 18, 19 và trong điểm 4, 6 đã quy định rõ ràng: Cấm không được đưa vào Việt Nam các thứ vũ khí nước ngoài. Cấm không được xây dựng cǎn cứ quân sự mới trên lãnh thổ Việt Nam. Cấm nước ngoài không được lập cǎn cứ quân sự ở Việt Nam. Cấm đưa bộ đội, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược nước ngoài vào Việt Nam. Giới tuyến 17 là tạm thời, không phải là giới tuyến chính trị, hoặc giới tuyến lãnh thổ; Việt Nam sẽ thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do khắp cả nước vào nǎm 1956…

Ở Hội nghị Giơnevơ, Chính phủ Mỹ đã tuyên bố rằng: Mỹ sẽ không đe doạ hoặc dùng vũ lực cản trở Hiệp định ấy.

Nhưng chữ ký chưa ráo mực thì Mỹ đã dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Mỹ nặn ra chính quyền bù nhìn phát xít Ngô Đình Diệm. Mỹ tổ chức, vũ trang, huấn luyện cho nguỵ quyền một quân đội đánh thuê khát máu. Suốt mười nǎm trời, gần 20 vạn đồng bào miền Nam yêu nước đã bị Mỹ – Diệm khủng bố, tù đày, chặt cổ mổ bụng. 70 vạn người đã bị tra tấn giam cầm trở nên tàn phế. Hàng triệu người bị nhốt vào các trại tập trung mà chúng gọi là “ấp chiến lược”. Không gia đình nào không có người bị hy sinh. Không làng xóm nào không bị càn quét. Đế quốc Mỹ và bọn tay sai đã phạm hết mọi tội ác dã man, chúng đã biến miền Nam thành một địa ngục.

Hoa Kỳ bên nớ, Việt Nam bên ni, cách nhau hơn hai vạn dặm. Đế quốc Mỹ có quyền gì mà đã phái đến miền Nam gần ba vạn binh sĩ, 25% tổng số sĩ quan của quân đội Hoa Kỳ, hơn hai tá tướng lĩnh, xây dựng 11 vũng tàu quân sự với hơn 800 tàu chiến các loại và 169 sân bay với 2.000 chiếc phi cơ. Hãng AP Mỹ (26-12-1964) thú nhận rằng bình quân mỗi tháng chỉ loại máy bay Xcairâyđơ đã dội 6.500 tấn bom tàn phá các làng mạc miền Nam. Hãng Anh Roitơ (7-1964) cho biết rằng nǎm 1963, máy bay Mỹ đã đi khủng bố 30 vạn chuyến.

Tóm tắt mấy việc nói trên đủ vạch rõ đế quốc Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược. Quyển “sách trắng” hôi thối của chúng không lừa bịp được ai. Đế quốc Mỹ đã điên cuồng lại thêm ngu ngốc, luống cuống. Hôm trước chúng lặp đi lặp lại không mở rộng chiến tranh, nhưng hôm sau tàu chiến và máy bay Mỹ đến bắn phá nhà thương và trường học ở miền Bắc. Bị thua to và sa lầy ở miền Nam, chúng muốn mở rộng chiến tranh đến miền Bắc hòng gỡ thế bí. Như thế khác nào con chó sói hai chân sau đã bị kẹt vào cạm bẫy, muốn thò cả hai chân trước vào cạm bẫy nữa để giải thoát cho hai chân sau! Thật là ngu xuẩn!

Đế quốc Mỹ và lũ tay sai gây chiến tranh phi nghĩa chống lại toàn dân ta, cho nên chúng nhất định thất bại. Buộc phải chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc mình, nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi. Nhất định thắng lợi vì chúng ta có chính nghĩa; vì chúng ta đoàn kết một lòng, kiên quyết kháng chiến; vì chúng ta được sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng chính nghĩa khắp thế giới – kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Kế hoạch Taylo đã tiêu tan. Kế hoạch Mặt nạ ra cũng phá sản. Đế quốc Mỹ chỉ có thể chọn một trong hai con đường: Hoặc là chuẩn bị tinh thần chờ đón một trận Điện Biên Phủ, hoặc là thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954, tức là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam và đình chỉ khiêu khích miền Bắc, rút hết quân đội và vũ khí về Mỹ, để nhân dân miền Nam tự giải quyết việc nội bộ của mình. Nếu đế quốc Mỹ khôn hồn theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự.

Chiến sĩ

—————————

Báo Nhân dân,số 3992, ngày 8-3-1965.
cpv.org.vn

Điện cảm ơn Thái tử Nôrôđôm Xihanúc và Hội nghị nhân dân Đông Dương (6-3-1965)

Kính gửi Ngài Chủ tịch Hội nghị nhân dân Đông Dương,

Phnôm Pênh

Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôđôm Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tǎng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên.

Quan điểm trên đây của Thái tử Quốc trưởng, mà Hội nghị nhân dân Đông Dương hoàn toàn tán thành, là một bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một lần nữa tôi nhiệt liệt chúc Hội nghị nhân dân Đông Dương thành công rực rỡ và chân thành cảm ơn Thái tử Nôrôđôm Xihanúc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia.

Tôi xin gửi Ngài lời chào kính trọng.

Hà Nội, ngày 6 tháng 3 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân, số 3992, ngày 8-3-1965.
cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, quan điểm và ý đồ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, các chuẩn mực xã hội theo một mô hình nào đó tự cho là kiểu mẫu đối với toàn bộ thế giới đang tồn tại và trở thành vấn đề tập trung chú ý của nhiều quốc gia, với những phản ứng khác nhau.

Tại hội nghị của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 diễn ra từ ngày 13-10 đến 3-11-2001 tại Pari, vấn đề tôn trọng sự đa dạng văn hóa với lòng khoan dung, tránh tư tưởng áp đặt do UNESCO đề xuất đã thu hút sự quan tâm của toàn thể đại hội đồng. Điều này cho thấy tất cả các dân tộc đều ý thức khá sâu sắc rằng tôn trọng bản sắc của từng nền văn hóa là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong khi phấn đấu vì một thế giới chung sống hòa bình. Tuy nhiên, cũng từ đây lại đặt ra vấn đề có ý nghĩa không kém phần quan trọng nữa là, để thực hiện tốt quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, tạo cơ sở cho việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thì trước hết nền văn hóa của mỗi dân tộc phải mang dấu ấn và sức sống riêng, vì thực tế “sự linh hoạt chỉ mang lại hiệu quả khi nó được tiến hành trên cái ổn định”.

Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà nhân văn chân chính, nhà văn hóa kiệt xuất ngay từ rất sớm đã nắm bắt được quy luật hình thành, vận động và phát triển của một nền văn hóa. Trong nhận thức của Người, “Văn hóa Việt Nam chứa đựng sự kỳ diệu giữa cái ổn định và cái linh hoạt” bởi lẽ nền văn hóa này có sợi dây liên hệ bền chặt với cuộc sống. Và, một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người về văn hóa đó là “Văn hóa phải gắn liền với cuộc sống”. Tư tưởng cốt lõi này trở thành nội dung xuyên suốt được quán triệt sâu sắc góp phần mang lại nét độc đáo riêng có trong hầu hết các giá trị văn hóa mà Hồ Chí Minh để lại.

Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy Người đã xuất phát từ phạm trù “sinh tồn” để kiến giải phạm trù văn hóa.

Người coi văn hóa là kết quả tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa là một bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Từ sự nhận thức đó, Hồ Chí Minh chỉ ra: kiến thiết xã hội phải có bốn lĩnh vực (kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội) cùng được coi trọng. Trong đó, văn hóa ở vào vị trí trung tâm, có vai trò điều tiết xã hội. Theo Người muốn xác định vai trò đó, mọi hoạt động văn hóa phải thực sự hòa quyện, thâm nhập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của đông đảo quần chúng nhân dân với đầy đủ những mảng tối sáng đầy góc cạnh của nó làm đối tượng phản ánh và phục vụ. Quan trọng hơn, văn hóa phải “thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng” (Hồ Chí Minh toàn tập, Tr. 10, Tr. 59) góp phần “soi đường cho quốc dân đi”, tạo sức mạnh dời non lấp bể như gốc của cây, nguồn của sông. Theo lôgíc của lập luận này, Hồ Chí Minh khẳng định chính đời sống hiện thực là “kho tài nguyên vô tận” để khơi đậy những mạch nguồn sáng tạo. Nếu người cán bộ văn hóa xa rời cuộc sống, đứng ngoài cuộc sống, không theo kịp mạch đập của cuộc sống tất sẽ phải đối diện với sự khô héo, cằn cỗi, nghèo nàn và nhàm chán trong chính sáng tạo của mình. Ngược lại, nếu biết bắt nhịp với cuộc sống đời thường vốn trần trụi, gai góc và đang hối hả trào tuôn thì khi đó văn hóa sẽ được sống bằng nguồn năng lượng vô cùng mà đời sống trao cho.

Gắn văn hóa với đời sống, Hồ Chí Minh xác định cơ chế vận hành của nền văn hóa trên trục trung tâm là các hoạt động của con người. Từ chỗ đặt các vấn đề văn hóa của con người vào vị trí những dự kiến quan trọng nhất, Người cho rằng con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa – chủ thể cuộc sống, chủ thể của quá trình lao động sản xuất phải được bồi dưỡng, vun đắp.

Thực chất của những tư tưởng này là, Hồ Chí Minh không chỉ coi trình độ, các giá trị nhân bản là “chất liệu”, là “sự nghiệp trăm năm của văn hóa”, mà văn hóa phải là động lực cho sự phát triển. Vì vậy quan điểm này không chỉ có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa thuộc về con người, quan trọng hơn còn chỉ ra cơ sở mang lại sức sống mãnh liệt cho văn hóa.

Công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay thực sự là cuộc hành trình đến những giá trị văn hóa đích thực nhất. Bởi lẽ, CNXH chính là biểu trưng giá trị cao đẹp nhất, sáng tạo nhất mà dân tộc Việt Nam có thể xem là một chủ thể xứng đáng. Tuy nhiên, hành trình đến CNXH không là con đường bằng phẳng trơn tru. Thực tiễn đang có nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó xu hướng toàn cầu hóa với việc mở cửa, hội nhập đang đòi hỏi mỗi dân tộc cần thiết phải khẳng định bản lĩnh của mình. Trong tất cả những sức mạnh cần khẳng định, sức mạnh văn hóa cần thiết phải đặt vào vị trí hàng đầu, vì “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là tầm cao, chiều sâu về trình độ phát triển của dân tộc, kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, người với xã hội, với thiên nhiên. Văn hóa là động lực, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng”.

Nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, “Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa”. Vì vậy trong sự nghiệp đổi mới đầy khó khăn, văn hóa phải đóng vai trò là nguồn động lực quan trọng. Nguồn động lực ấy sẽ trở nên dồi dào nếu nền văn hóa được xây dựng, giữ gìn và phát huy đúng hướng. Muốn thế, phương châm của mọi hoạt động văn hóa phải xuất phát từ cuộc sống, đi sâu phản ánh những cơ tầng đa diện, sâu sắc của cuộc sống và hướng đến phục vụ cuộc sống.

THI AN
baobinhdinh.com.vn

Nhớ mãi mùa xuân ấy

GiadinhNet – Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ.

Vợ chồng bà Trần Thị Thái và hai người con. Ảnh tư liệu

Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái – nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyên, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông Tuyên giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình. Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo kaki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đã đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lúng túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân về tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi mới dám ngẩng lên nhìn Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh gatô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các cô các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với các chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa xuân năm 1946 ấy là mùa xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”.

Nguyễn Đức Quý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
bee.net.vn

Dấu ấn văn hoá xứ Nghệ trong cuộc đời Hồ Chí Minh

Mỗi một con người, dù người đó là ai – là một người bình thường hay là một vĩ nhân, đều có một quê hương. Quê hương là nơi mỗi chúng ta được sinh ra và đón nhận những dấu ấn đầu đời. Những dấu ấn, cảm nhận đó đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi chúng ta, từ đó hình thành nên những tâm tư tình cảm, tư tưởng, phong cách của mỗi con người trong cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta cũng vậy, Bác được sinh ra và sống những năm tháng tuổi thơ ở quê hương xứ Nghệ. Đây là một miền quê nghèo, người dân quanh năm phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt để sinh sống và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương.

Chính vì vậy, con người xứ Nghệ luôn có những đức tính cần, kiệm, yêu lao động, đặc biệt là tinh thần yêu nước nồng nàn, sự đoàn kết, yêu thương, nhân ái. Bên cạnh đó, con người ở đây còn có tinh thần lạc quan, ham học hỏi để khắc phục thiên nhiên, cải tạo cuộc sống. Mang đậm dấu ấn văn hoá của núi Hồng, sông Lam, những làn điệu dân ca, câu hò ví dặm….đã tạo nên những nét độc đáo, riêng biệt không thể lẫn với bất cứ vùng nào. Sống trong một miền quê trù phú về văn hoá, tiếp xúc và cảm nhận được những tình cảm quê hương – từ nhỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được lắng nghe những điệu hò, câu ví qua giọng hát của bà, của mẹ, tiếp xúc với những tình cảm của xóm làng. Lớn lên được sự chỉ bảo, dạy dỗ nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp của ông ngoại, nên dấu ấn văn hoá xứ Nghệ càng thấm sâu vào trong tư tưởng, tình cảm của Người. Dấu ấn xứ Nghệ ấy trong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp một phần rất lớn trong việc hình thành phong cách của Người.

Cụ thể, dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào Người cũng luôn đau đáu nỗi nhớ về quê hương – nơi có những người thân yêu nhất của mình. Với Người, tình cảm quê hương là những gì thiêng liêng nhất:

Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sỹ…có vinh dự được sống gần gũi với Người đều có chung một nhận xét: Từ thuở niên thiếu cho đến lúc về già, từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang đậm phong cách quê hương xứ Nghệ qua từng lời nói, việc làm.

Trong tư tưởng tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giản dị đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần, kiệm trong cuộc sống – một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Lúc đầu Thường vụ Trung ương Đảng sắp xếp cho Người ở tại ngôi nhà trước đây của Toàn quyền Pháp – một ngôi nhà sang trọng và đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khước từ và chọn cho mình một ngôi nhà của một người thợ điện để làm việc cho gần gũi với anh em và các đồng chí của mình. Sau này nơi ở của Người ngôi nhà sàn đơn sơ giữa vườn cây, ao cá giản dị đã đi vào huyền thoại.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt chứng kiến bữa ăn của một vị Chủ tịch nước đều nhận xét: Người vẫn nhớ những món ăn đạm bạc của quê hương. Trên mâm cơm vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng công đức của người lao động đã làm ra hạt lạc, hạt gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người”.

Cách ăn mặc của Người cũng giản dị, thanh tao từ quần áo Người mặc, đôi dép cao su Người đi đều đã mang đậm dấu ấn cần, kiệm của văn hoá xứ Nghệ.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay vẫn lưu giữ bộ quần áo kaki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo kaki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói “Dân ta còn nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”. Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo kaki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh em công nhân.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá…quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây, hoa trái, trong đó có hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà.

Như vậy, chỉ với những gì xung quanh thể hiện qua cách ăn, ở, mặc và sinh hoạt ta cũng đã thấy ở trong Chủ tịch Hồ Chí Minh có thấp thoáng dấu ấn quê hương, đó là sự giản dị, cần, kiệm, trọng lao động. Qua những hành động đó ta còn thấy được tình cảm sâu sắc của Người đối với quần chúng nhân dân, một tình yêu san sẻ không muốn sống “trên mức sống của một người dân bình thường”.

Tình nhân ái và yêu thương mọi người còn thể hiện rất nhiều qua những cử chỉ và hành động của Người, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến cái khái quát cao nhất đó là trong tư tưởng để Người đi đến hành động: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc, đó là nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có ăn, có mặc và ai cũng được học hành. Từ những mong muốn đó mà Người đã ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua mọi gian khổ hi sinh. Tính nhân ái đó không chỉ thể hiện cho dân tộc Việt Nam mà cho những người dân lao động khổ cực trên thế giới, đi đến đâu, bất cứ nơi nào Người cũng cảm thấy đau xót trước những người dân mất nước, nô lệ lầm than. Tình nhân ái, và một tình cảm trân trọng tất cả những người xung quanh mình, đó còn là sự nâng niu tình cảm con người, sự bao dung khi đối với những người mắc sai lầm trong quá khứ, từ đó mà khơi gợi lại cho họ những đức tính tốt đẹp, hướng họ đến cái chân – thiện – mỹ.

Tinh thần lạc quan, ham học hỏi của con người xứ Nghệ, cũng được thể hiện rõ nét hơn qua cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta biết rằng, với tình yêu nước nồng nàn, để tìm đường cứu nước làm cho dân có ăn, có mặc và ai cũng được học hành, Người đã ra đi bằng hai bàn tay trắng, không kể giá lạnh của băng tuyết Người vẫn miệt mài làm việc như bồi bàn, quét tuyết, chụp ảnh… để có tiền hoạt động cách mạng. Rồi khi bị trong tù thì tinh thần của Bác vẫn không hề bị nao núng. Vượt qua những gian khổ ấy là nhờ người có một niềm tin vững chắc ở phía trước, một tinh thần lạc quan yêu đời. Những vần thơ với những trăn trở về thiên nhiên, quê hương đất nước là một bằng chứng về tinh thần lạc quan của Người. Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nhỏ đã rất ham học hỏi và đức tính đó là một trong những truyền thống của quê hương. Sau này cũng vậy, dù ở đâu trong hoàn cảnh nào Người cũng luôn tranh thủ học ngoại ngữ, đọc sách và nghiên cứu những vấn đề trên thế giới. Chính điều đó đã cho Người một kiến thức uyên bác về thế giới và về thời cuộc.

Như vậy, văn hoá xứ Nghệ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu một cách có chọn lọc. Những tinh hoa văn hoá ấy đã ăn sâu vào trong tiềm thức của Người, là một phần rất quan trọng trong việc hình thành phong cách Hồ Chí Minh. Vì thế, ở Hồ Chí Minh, bất cứ làm việc gì, khi còn trẻ hay đã già, trong phong cách ứng xử, sinh hoạt, làm việc, tư duy…vẫn mang đậm dấu ấn văn hoá quê hương. Có được điều đó cũng bởi từ rất sớm Người yêu tha thiết mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền thống, yêu tha thiết những người dân lam lũ nhưng lạc quan yêu đời. Trước khi rời khỏi thế giới này, Bác vẫn nhớ da diết về quê hương xứ Nghệ của mình. Trong nhạc phẩm “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” của nhạc sĩ Trần Hoàn vẫn để lại một tình cảm xúc động cho chúng ta “…Chuyện kể rằng Bác đòi nghe câu Ví, nhớ làng Sen từ thửa ấu thơ…Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ, bởi làng Sen day dứt trong tim…”.

Qua con người Hồ Chí Minh, chúng ta – những người dân Xứ Nghệ càng thêm tự hào và thêm yêu quê mình – một xứ Nghệ đã in đậm trong trái tim và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất./.

Theo Ngô Thị Vân – Gv Khoa Xây dựng Đảng
Truongchinhtrina.gov.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Một đời chuốt mây đan ảnh Bác Hồ

Giadinh.net – Chân dung Bác Hồ kính yêu là đề tài sáng tác cho rất nhiều văn nghệ sỹ thuộc các bộ môn nghệ thuật. Tuy nhiên, làm chân dung Bác bằng chất liệu mây, tre-những sản phẩm đặc thù của quê hương Việt Nam thì chỉ có một người.

Đó là nghệ nhân Nguyễn Văn Trung (Phú Mỹ, Chương Mỹ, Hà Nội). Nhưng trong số hàng trăm bức chân dung Bác Hồ đã sáng tác, ông không bán mà chỉ tặng và mang đi triển lãm. Hồi kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người, nghệ nhân Nguyễn Văn Trung đã miệt mài hoàn thành một bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh khổng lồ (1,6x2m).

Bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đan bằng mây có kích thước khổng lồ (1,6x2m).
(Ảnh: T.G)

Người duy nhất đan ảnh lãnh tụ bằng mây

Ông Trung quê ở làng Phú Mỹ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Đời ông bị cái “nghiệp mây tre” đeo đuổi. Từ lúc còn trẻ lắm, ông đã sống chết với những sợi mây quê hương. Có lẽ, số phận đã chọn ông làm nghề này khi cho ông sinh ra ở một miền quê có truyền thống làm mây mỹ nghệ và lấy đi đôi chân khoẻ mạnh vào năm 16 tuổi.

Ông kể: “Đang đêm ngủ, trở mình thấy mỏi, rồi chân phải tê buốt. Hôm sau đi khám, bác sỹ bảo vỡ xương đùi do căn bệnh viêm xương, phải ngồi bệt một chỗ. Nhà nghèo, mất hai năm chạy chữa mà bệnh tật không thuyên giảm. Gia tài khánh kiệt, có lúc bác sỹ đã khuyên nên cưa chân thì sẽ chóng lành bệnh. Nhưng tôi không chịu. Thời gian trôi đi, vết thương biến chứng làm chân phải teo nhỏ”.

Đang cái tuổi “bẻ gãy sừng trâu” với bao hoài bão lại gặp phải căn bệnh éo le, cũng có những lúc ông muốn buông xuôi. “Số mình thế, biết trách ai. Chỉ học hết lớp 4, không còn cơ hội đi học lên, sẽ gắn với cái phận ăn bám suốt đời”, ông nhớ lại cảm giác của mình lúc đó. Nhưng rồi mọi việc cũng nguôi ngoai dần. “Nghe theo lời Bác Hồ, những người khuyết tật phải có ý chí “tàn nhưng không phế” nên tôi đã đứng dậy và tập đi…”. Ông Trung kể.

Đầu những năm 1970, nhìn bạn bè cùng trang lứa ôm súng vào chiến trường chiến đấu, ngẫm lại cái thân phận của mình, ông Trung buồn lắm. “Chẳng lẽ mình chẳng làm được một việc gì ra trò trống hay sao?”-ông Trung tự hỏi và cuối cùng đã tìm được cho mình của trả lời. Ông quyết định theo nghề truyền thống của gia đình làm mây tre đan. Thế nhưng, công việc tưởng chừng không nặng nhọc này dường như vẫn quá sức đối với Nguyễn Văn Trung, những ngày đầu mới rời khỏi chiếc giường. Mỗi lần ngồi vào đan được vài phút, ông lại ngã gục.

Dù vậy, chàng thanh niên tật nguyền vẫn không chịu đầu hàng bệnh tật. Thời gian thấm thoắt trôi đi, bệnh tật rồi cũng đầu hàng chàng thanh niên giàu nghị lực. Trung đã dần dần ngồi hẳn được và biết đan được những đường viền thô cho các bức tranh làm bằng mây, tre của bố. Một buổi sáng, Trung đưa cho bố sản phẩm mà anh đã thức nhiều đêm để đan. Nhìn bức tranh, người cha mừng rỡ nói: “Ông trời cũng thương, còn mỗi cái nghề của cha ông để lại, con cố học để mà kiếm sống…”.

Việc lựa chọn nguyên vật liệu để làm ảnh đòi hỏi sự cẩn thận, tỉ mỉ.
(Ảnh: T.G)

Cho đến nay, ông Trung đã trở thành một nghệ nhân nổi tiếng của Việt Nam trong lĩnh vực mây tre đan. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế: “Giải thưởng tuổi trẻ và sáng tạo quốc tế”, “Bàn tay vàng Đông Dương”, “Giải thưởng sản phẩm thủ công tinh xảo tại Nhật Bản”, “Giải thưởng vàng ngôi sao Việt Nam”. Ông cũng được trao 6 Huy chương vàng, bạc trong danh hiệu “Bàn tay vàng Việt Nam”, 4 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua và nhiều bằng khen của các cấp chính quyền.

Đến bây giờ khi tuổi đời đã gần đến ngưỡng 60, ngồi đếm lại, ông vẫn không nghĩ mình đã đi được xa và đi nhiều nước trên thế giới đến thế. Cu Ba, Angola, Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Liên Xô… đó là chưa kể, ông nằm hàng năm trời ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á với tư cách là chuyên gia và giới thiệu mây tre đan Việt Nam cho bạn bè quốc tế. Có hai chuyến đi mà ông nhớ nhất là chuyến xuất ngoại đầu tiên, sang Liên Xô vào tháng 4/1982 với tư cách là nghệ nhân giới thiệu về nghề mây tre đan của Việt Nam.

Và chuyến đi dài nhất là đến Cu Ba, ông đã ở đây từ năm 1982 – 1987 để hướng dẫn, xử lý nguyên liệu cho nước bạn. Ông đã giúp nước bạn nghiên cứu xử lý cây thực vật thay cho mây tre đan để sản xuất ra các mặt hàng thủ công, đặc biệt là chế biến cây bèo tây làm ra các sản phẩm có giá trị như bàn ghế, đồ lót cốc chén, mũ, túi… Trên cơ sở đó, bạn đã mở được 4 xưởng sản xuất lớn, thu hút hàng nghìn lao động.

Ông Trung được bạn bè thế giới biết đến như một người đan ảnh chân dung xuất sắc. Ông không nhớ hết là mình đã làm bao nhiêu bức ảnh cho các vị lãnh tụ và những người nổi tiếng trên khắp thế giới. Trong phòng làm việc của mình, những bức ảnh lớn về Bác Hồ, Lênin, Karl Marx, Engels Chủ tịch Fidel… những người ông ngưỡng mộ được treo ở vị trí trang trọng, còn lại rất nhiều ảnh chân dung khác. Mỗi bức ảnh đều có thần thái riêng.

Ông kể: “có rất nhiều người nhờ đại sứ quán của họ ở Việt Nam thuê ông đan ảnh chân dung của mình. Có người nổi tiếng, có người tôi không biết là ai”. Nhưng dù là ai đi nữa, chỉ cần gửi tấm ảnh qua email cho ông là được. Ông Trung hiện là người duy nhất trên thế giới chuyên đan ảnh lãnh tụ bằng nguyên liệu mây.

Kỷ lục đan ảnh Bác Hồ bằng mây

Thế nhưng, những thành công hiện nay mà ông Trung có được lại bắt đầu từ việc khao khát đan được một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp. Ông nhớ lại thời gian đầu mới làm nghề, ước mơ trở thành anh bộ đội cụ Hồ không thành nên anh thanh niên Trung muốn làm điều gì đó ý nghĩa để thể hiện lòng ngưỡng mộ tới vị lãnh tụ kính yêu. Ước mơ ấy đã thôi thúc anh ngày đêm không ngừng học hỏi, để có thể đan được một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp. “Để đan ảnh Bác, tôi thử đan rất nhiều ảnh chân dung của người thân, nhưng khi đan ảnh Bác lại chưa được vì không thể hiện được thần thái của Người”- ông Trung nhớ lại.

Không nản chí, anh vẫn quyết tâm để đạt được ước mơ của mình. Ngày đêm trăn trở, anh nhờ người đèo hàng chục cây số vào trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội tìm gặp trực tiếp thầy giáo Lê Quốc Lập (khi đó là hiệu trưởng) nhờ thầy chỉ dạy cho các vướng mắc đang gặp phải về kỹ thuật. Tuy có sự giúp đỡ của thầy Lập và một số thầy giáo có uy tín trong trường nhưng sau một năm ròng, ông vẫn chưa ưng ý với những tác phẩm của mình.

Rất nhiều tác phẩm đã ra đời dưới bàn tay cần mẫn của nghệ nhân Nguyễn Văn Trung.
(Ảnh: TG)

Ông đã sưu tầm rất nhiều ảnh của Bác Hồ, ảnh Bác ở chiến dịch Biên giới, Bác bắt tay Bác Tôn, Bác đang làm việc, Bác hôn các cháu thiếu nhi… Trước khi đan tấm ảnh nào, ông treo khắp nhà để khi nhìn vào đâu cũng thấy ảnh Bác và hình ảnh của Người cũng nhập tâm và theo ông vào từng giấc ngủ. Bàn tay khéo léo chuốt từng sợi mây mảnh mai trắng muốt nhỏ đến 1 ly, người đan phải sử dụng tới 15 đến 16 lối đan kết hợp với nhiều lóng đan đã tạo nên tác phẩm sinh động chân dung vị lãnh tụ kính yêu. Cuối cùng ông cũng đã có được bức chân dung Bác Hồ bằng chất liệu mây, tre ưng ý – đó là năm 1976.

Từ thành công bước đầu đó, đến nay ông Nguyễn Văn Trung đã đan được hơn 200 bức ảnh chân dung Bác Hồ . Bức nhỏ nhất 40x60cm, bức lớn nhất đã hoàn thành vào dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác có kích thước 1,6x2m. Đây là bức chân dung bằng mây lớn kỷ lục từ trước đến nay.

Ông Trung cho biết, những bức chân dung Bác Hồ của ông có nhiều người muốn mua, thậm chí trả giá đến hàng chục triệu đồng nhưng ông không bán. Những tác phẩm này ông để dành tặng các cơ quan nhân các sự kiện quan trọng của đất nước như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Văn phòng Chính phủ… trong các dịp Quốc khánh, kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của Bác, Đại hội Đảng… Số còn lại, ông để tham dự các triển lãm trong nước và quốc tế để giới thiệu về con người và đất nước Việt Nam.

Một điều đáng quý nữa của nghệ nhân Nguyễn Văn Trung là chưa bao giờ ông có ý định giấu nghề. Ngoài việc tham gia giảng dạy tại ĐH Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, trường Mỹ nghệ Hà Tây, nhiều năm qua, ông đã hướng dẫn cho rất nhiều thanh niên trong làng học nghề và đi khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam trực tiếp dạy nghề mây tre đan theo lời mời của các địa phương. Ông đã đào tạo được trên 100 lớp với gần 5.000 học sinh.

Quang Thành
giadinh.net.vn