Tag Archive | Thời sự

Nhân dân Đức phản đối Mỹ (23-7-1951)

Phản động Mỹ cố võ trang lại phản động Tây Đức và Nhật Bản để chuẩn bị Thế giới chiến tranh lần thứ ba. Nhưng nhân dân Nhật và Đức phản đối ầm lên. Đây là một chứng cớ rõ ràng:

Hôm 3-6-51 Chính phủ Dân chủ Cộng hoà Đức mở một cuộc bỏ phiếu, hỏi ý kiến nhân dân về hai điều:

– Bạn có phản đối việc võ trang nước Đức không ?

– Bạn có yêu cầu nội trong nǎm nay các nước phải ký hoà ước với Đức không ?

Số cử tri là 13 triệu 697.000 người.

Tham gia bỏ phiếu: 13 triệu 618.000 (tức là 99 phần 100 cử tri tham gia).

Số phiếu nói có: 13 triệu 34.000 người.

Số phiếu nói không: 546.000 người (tức là 4 phần 100 phản đối).

ý dân là ý trời. Mỹ dù nhiều đồng đô la, nhiều bom nguyên tử, nhưng toàn dân đã phản đối, thì Mỹ cũng phải co vòi.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1867, ngày 23-7-1951.
cpv.org.vn

Cọp, nai, thỏ (25-7-1951)

Một hạ sĩ quan Pháp tên là Ghiông (Guillon) bị ta bắt ở Ninh Bình. Y khai rằng “Bộ đội y ở Đồng Nai (Nam Bộ) bị điều động đến Hồng Gai. Bị ta đánh thua ở Uông Bí, bộ đội y lại đưa đến Ninh Bình. Đến đây y được lệnh đuổi cha cố và đồng bào công giáo, chiếm nhà thờ làm vị trí, đục gác chuông làm ổ súng. Nhưng vì bị ta đánh bất thình lình cho nên chỉ trong 19 phút, thì bộ đội y thua và bị bắt như bắt thỏ. Thế mà thông cáo của bộ tham mưu Pháp nói rằng bộ đội Pháp đánh hǎng như cọp”.

Lời khai của Ghiông có Nai, có Thỏ, có Cọp, như một vườn bách thú nhỏ. Song con cọp Pháp chỉ là cọp giấy.

Nhưng điều đáng chú ý trong lời khai này là:

1. Giặc đến đâu cũng chiếm đóng nhà thờ của Chúa và ngược đãi đồng bào công giáo.

2. Hễ ta đánh bất thình lình thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng. Mà muốn đánh bất thình lình thì bộ đội và nhân dân ta phải tuyệt đối giữ bí mật.

Biết giữ bí mật tức là đã thắng địch được một phần.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1869, ngày 25-7-1951.
cpv.org.vn

Phụ nữ kiểu mẫu (26-7-1951)

Vài mẩu chuyện rất bình thường, mà rất vĩ đại.

Bà cụ Mán ở Lào Cai có 4 con trai đều là du kích. 3 người đã hy sinh cho Tổ quốc. Trước ngày Lào Cai được giải phóng, bà cụ bị Tây theo dõi. Nhà nghèo, bà cụ phải đi đào củ rừng để ǎn. Ngày nào bà cụ cũng ǎn một phần rất ít, để phần nhiều lại giúp cán bộ bí mật.

Ở khu III, bà cụ Hảo, 62 tuổi, sǎn sóc thương yêu bộ đội và thương binh như mẹ đối với con.

Chị Loan, 17 tuổi, cũng hết sức sǎn sóc bộ đội và thương binh như em đối với anh ruột.

Chị Phương, cán bộ dân công, gặp lúc trời mưa to, nước đến ngực. Chị xung phong đội gạo lội sang suối, rồi giúp đỡ và cổ động mọi người đều sang. Nhờ vậy mà bộ đội khỏi thiếu ǎn.

Phải chǎng vì danh, vì lợi, vì địa vị mà họ làm như vậy ? Không phải. Đó là vì lòng nồng nàn yêu nước. Đó là lòng chí công vô tư mà chúng ta đều phải học theo.

C.B.

Báo Nhân dân, số 18, ngày 26-7-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi Cụ Bộ trưởng Bộ thương binh, cựu binh (26-7-1951)

Thân ái gửi cụ Bộ trưởng thương binh, cựu binh,

Nhân ngày Thương binh, tôi nhờ cụ biếu lại những anh em thương binh kiểu mẫu mấy bộ áo mà đồng bào đã biếu tôi.

Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Họ đã làm trọn nhiệm vụ, họ không đòi hỏi gì cả.

Song đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng ?

Tôi có ý kiến như sau:

Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể nhân dân trong mỗi xã phải tuỳ theo sự cố gắng và khả nǎng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh.

Giúp lâu dài, chứ không phải chỉ giúp trong một thời gian. Không phải giúp bằng cách góp gạo nuôi thương bình, nhưng giúp bằng cách này:

1. Mỗi xã trích một phần ruộng công, nếu không có ruộng công thì mượn ruộng của những đồng bào hằng tâm hằng sản, nếu không mượn được ruộng thì chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã chung sức phát vỡ một số đất mới để giúp thương binh.

2. Chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã sẽ tổ chức việc cày cấy, chǎm nom, gặt hái những ruộng đất ấy. Hoa lợi sẽ để nuôi thương binh.

3. Tuỳ theo số ruộng đất trích được, mượn được hoặc khai khẩn được, mà đón nhiều hoặc ít thương binh về xã. Anh em thương binh sẽ tuỳ sức mà làm những công việc nhẹ, như học may vá, đan lát, hớt tóc hoặc giúp việc phòng giấy, giúp việc bình dân học vụ trong làng, v.v..

Kế hoạch tỉ mỉ sẽ do Chính phủ cùng Mặt trận Liên Việt định sau.

Như thế thì đồng bào mỗi xã đã được thoả mãn lòng ước ao báo đáp anh em thương binh; mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và vẫn có dịp tham gia sự hoạt động ích lợi cho xã hội.

Với lòng hǎng hái và cố gắng của đồng bào, với sự nỗ lực của cán bộ và chính quyền và đoàn thể các địa phương, tôi chắc rằng công việc đón anh em thương binh về làng sẽ có kết quả tốt đẹp.

Xin cụ chuyển lời tôi hỏi thǎm tất cả anh em thương binh.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 18, ngày 26-7-1951.
cpv.org.vn

Đời sống ở Mỹ (28-7-1951)

Mỹ tuyên truyền rằng dân Mỹ rất sung sướng.

Sung sướng thế nào ? Tờ báo Mỹ Vệ quốc (National Guardian) viết:

“… Đêm khuya, tôi thấy một đàn người moi móc trong những thùng rác. Mỗi người một tay xách cái bị, một tay móc thùng rác. Trời ôi, phải chǎng đây là nước Mỹ có thừa dân chủ để bán cho cả thế giới.

Tôi thấy hàng nghìn người lượm lặt trong thùng rác mà sống. Họ phải tranh nhau với chó. Một mụ già moi được một cái xương lợn, một con chó chạy lại tranh cái xương và cắn tay mụ. Mụ lẩm bẩm nói: “thôi tao nhường cho mày, tao đi tìm thùng khác vậy…”.

Còn nhiều tờ báo kể những chuyện “sung sướng” như thế. Trong lúc dân khổ như vậy thì bọn bán súng làm giàu càng giàu thêm. Báo Mỹ Công chúng (Public Forum) viết:

“Bọn lợi dụng chiến tranh là hung ác hơn cả mọi loài thú dữ. So với chúng, thì Mọi ǎn thịt người còn lương thiện lắm, vì họ chỉ ǎn thịt kẻ thù và ǎn cho đỡ đói. Còn bọn kia thì xui dân mình đi chết (như chiến tranh ở Triều Tiên) để làm giàu”.

Một chứng cớ nữa: Tháng 10 nǎm ngoái, hơn 10 vạn thanh niên đi khám sức khoẻ để tòng quân thì hơn 5 vạn 2 nghìn người vì thiếu thức ǎn mà không đủ sức khoẻ.

Dân khổ mặc dân, đế quốc Mỹ, mỗi nǎm cứ khoét dân hàng vạn triệu để chuẩn bị thế giới chiến tranh. Than ôi, Mỹ mà không đẹp!

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1871, ngày 28-7-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi cán bộ và chiến sĩ bộ đội địa phương Hà Đông (7-1951)

Trong chiến dịch vừa qua, ở trận Chợ Cháy, Trầm Lộng (Nam Hà Đông), các chú đã cùng với bộ đội chủ lực dũng cảm đánh giặc.

Nhờ sự phối hợp chặt chẽ, mà các chú đã phá tan kế hoạch của 10 tiểu đoàn địch hòng bao vây tiêu diệt lực lượng ta. Các chú lại tiêu diệt được nhiều sinh lực địch.

Bác gửi lời thân ái khen các chú và khuyên các chú học tập kinh nghiệm trong trận vừa qua, ra sức củng cố lực lượng của mình, để tranh lấy thắng lợi mới to hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 7 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, t.II, tr.99.
cpv.org.vn

Bác Hồ với phóng viên

Bác Hồ là nơi hội tụ tinh anh dân tộc Việt Nam và tinh hoa nhân loại. Bất kỳ ai, sống vào thời đại nào, ở phương trời nào đều có thể qua tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tìm được nhiều điều để học tập. Nhà báo Việt Nam mong có dịp tiếp cận Người, hơn thế, được phục vụ Người trong các chuyến đi công tác.

Qua mỗi lần đi, thế nào cũng thu nhận được nhiều điều. Từ cách hành xử thường ngày đến từng câu nói tưởng ngẫu nhiên của Hồ Chí Minh hầu như đều hàm chứa ý nghĩa nhân văn, do đó có sức truyền cảm.

Có gì mà viết lắm thế?

Vụ lúa chiêm 1958, miền Bắc hạn to, ruộng đồng khô nẻ. Nhân dân nô nức làm thủy lợi, đào mương dẫn nước vào đồng. Bác Hồ về thăm tỉnh Hưng Yên. Hôm ấy, một ngày tháng Giêng, trời rét đậm. Bác Hồ rời Hà Nội thật sớm. Đến huyện Tiên Lữ, có mấy vị lãnh đạo tỉnh chờ sẵn ven đường. Bác xuống xe bắt tay, hỏi han mọi người, rồi băng băng đi bộ vào cánh đồng.

Nông dân năm xã đang đào một con sông. Bác Hồ bước rất nhanh giữa cánh đồng khô, đến mỗi nơi có đồng bào làm Bác dừng lại, thăm hỏi động viên. Bà con hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về”. Hễ gặp các vị cao niên là Bác tiến đến thăm hỏi. Có một cụ tên là Đoàn Đình Kiêu, năm ấy 82 tuổi, người thôn Hoàng Xá, xã Trung Dũng cũng tham gia làm thủy lợi. Bác nắm chặt tay cụ, nói: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu”. Rồi Bác quay lại bảo cán bộ địa phương đi theo: “Các cụ cùng chống hạn để làm gương cho con cháu như thế là rất tốt, nhưng phải chú ý sức khỏe các cụ, chớ để các cụ làm quá sức”.

Gặp ông Chủ tịch huyện quần áo tinh tươm đang đứng chờ để chào Bác. Bác bảo Chủ tịch đưa tay xem. Rồi Bác nói nhỏ: “Tay chú sạch quá. Cán bộ cũng phải cùng lao động với bà con, để cho bà con thấy mình là người của nhân dân”.

Đến xã cuối cùng, Bác Hồ dừng lại, rút trong túi ra một phong bì nhỏ. “Đây là phần thưởng của Bác Hồ. Có bảy chiếc huy hiệu tất cả. Năm chiếc tặng bà con năm xã, một chiếc thưởng xã nào thi đua giỏi nhất, còn một chiếc Bác tặng riêng cụ Kiêu”.

Do mỗi xã phụ trách một khúc sông, cho nên bà con tản mát. Bác Hồ đi bộ đến mấy cây số liền. Tôi tất tưởi theo, lắng nghe Bác nói chuyện với ai xong, lại tới hỏi rõ họ tên, người thôn nào xã nào…, để khi viết bài khỏi lẫn lộn, rồi vội vã chạy cho kịp đoàn. Hồi ấy tôi đang sức trai mà mệt phờ, nhưng vui vì nghe và ghi được nhiều điều, thú vị nhất là chuyện Chủ tịch đi bộ qua cánh đồng gồ ghề nứt nẻ. Con sông đang đào nơi bác về thăm năm ấy sau khi hoàn thành được đồng bào gọi là “Sông Bác Hồ”, nay vẫn giữ nguyên tên.

Tối hôm ấy về Hà Nội, tôi viết bài tường thuật dài đăng Báo Nhân Dân. Hôm sau, khoảng chín giờ, có điện thoại từ Văn phòng Chủ tịch nước, mời tôi lên ngay. Anh Trần Quý Kiên chờ sẵn. Anh là cán bộ cách mạng lão thành, có thời gian làm Thứ trưởng Thủy lợi (hiện nay Hà Nội có một phố mang tên Trần Quý Kiên). Anh chỉ nói vắn tắt: Bác Hồ cho gọi. Anh vào báo cáo với Bác, rồi dẫn tôi vào.

Bác đang làm việc, ngước mắt hỏi: “Chú Quang à? Bác đã đọc bài của chú trên báo. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ, thì có cái gì mà viết lắm thế?”. Tôi bối rối, chỉ còn biết chắp tay lúng búng: “Cháu xin cảm ơn Bác. Cháu đã thấy khuyết điểm. Lần sau cháu xin cố gắng.”

Viết cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc

Như một sự tình cờ, Tết Bính Thân tôi có vinh dự một mình đón Bác đến Báo Nhân Dân, đúng vào sáng Nguyên đán. Hôm ấy (12/01/1956), tôi được phân công trực tòa soạn. Số báo Xuân đã phát hành từ trong năm, báo nghỉ hai ngày để “ăn Tết”. Trực chẳng phải làm việc gì; chẳng qua cần có người, nhỡ có bạn đọc, cộng tác viên nào bất thần tạt vào thăm chăng.

Sáng đầu năm, đúng như dự kiến, có mấy cụ già phố Hàng Trống thay mặt tổ dân phố đến chúc Tết tòa soạn. Tôi đang tiếp mấy cụ ở phòng khách tầng trệt ngôi biệt thự thì người bảo vệ chạy vào, nói không ra hơi: “Bác Hồ! Bác Hồ đến!”

Tôi vội chạy ra sân, nhìn về cổng chính không thấy ai. Thì ra, Bác Hồ đi từ Câu lạc bộ Thống nhất sang, qua một cổng nhỏ vốn thông từ cơ quan báo sang sân chiếu phim của câu lạc bộ. Bác thoăn thoắt bước vào nhà. Theo sau có bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, cùng vài người cận vệ.

Tôi chắp tay rước Bác vào phòng khách. “Chú Tùng đâu?”, Bác hỏi. – “Thưa Bác, anh Hoàng Tùng lên Văn phòng chúc Tết Trung ương. Cháu là cán bộ được phân công trực cơ quan.”

Mấy cụ già lối phố sửng sốt trước vinh dự được gặp Bác Hồ đúng vào sáng tân niên, đứng dậy kính cẩn chắp tay, lúng túng không biết nên làm gì. Tôi giới thiệu với Bác, đây là mấy cụ ở cùng phố sang thăm cơ quan. Bác Hồ vui vẻ nói: “Năm mới, nhân được gặp các cụ, tôi chúc các cụ vạn sự như ý. Nhờ các cụ chuyển lời Hồ Chủ tịch chúc Tết gia đình và đồng bào khu phố”. Mấy ông già vẫn chưa hết ngỡ ngàng, bác sĩ Trần Duy Hưng rỉ tai: “Kìa, các cụ chúc Tết Bác đi”.

Hôm ấy, Bác Hồ đến thăm cán bộ miền Nam đang tập trung tại Câu lạc bộ mừng năm mới. Không rõ có ai báo tin Bác đến, hay vì trông thấy mấy chiếc xe hơi đỗ ở cổng chính Câu lạc bộ phía đường Lê Thái Tổ, mà chẳng mấy chốc đồng bào tập trung đông nghịt, chờ để được nhìn và hoan hô Bác. Càng lâu càng đông. Hôm ấy Bác Hồ còn có kế hoạch thăm một đơn vị quân đội và mấy nơi khác nữa ở mãi tỉnh Hà Đông. Chắc sợ trễ giờ, bởi đã gặp nhân dân đầu năm mới, thế nào Chủ tịch cũng cho dừng xe lại để thăm hỏi, các đồng chí tổ chức chuyến thăm liền mời Bác theo ngõ tắt, lối thông sang tòa soạn báo; từ đây ra cổng chính phía phố Hàng Trống.

Trong phòng khách, Bác Hồ vẫn đứng mà nói chuyện. Tôi mời Bác ngồi. Bác xua tay: “Chú để mặc Bác. Chú làm gì ở tòa báo?” – “Thưa Bác, cháu làm phóng viên.” Bác nói: “Chú là nhà báo. Vậy năm mới, Bác chúc chú viết báo cho đúng, cho hay, có nhiều người đọc. Chú nói lại với chú Hoàng Tùng và toàn thể các cô, các chú trong cơ quan là Bác Hồ có lời chúc Tết anh chị em”.

Nói xong, Bác bắt tay mọi người, không quên mấy anh bảo vệ cơ quan vừa bỏ luôn nhiệm sở, chạy đến đứng thập thò ngoài cửa. Xong, Bác thoăn thoắt ra sân. Hai chiếc xe hơi vừa đến. Bác Hồ quay lại tươi cười đưa tay vẫy chào mọi người.

Mấy năm sau, tháng 4 năm1959 tôi lại được nghe Bác Hồ nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam. Nhân kể chuyện thời Bác tập làm báo tiếng Nga ở Liên Xô, Bác dẫn lời người hướng dẫn Bác: “Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chí chỉ muốn biết sự thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc”.

Theo Phan Quang VOV
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

Gửi Chính uỷ Vǎn Tiến Dũng (7-1951)

Cám ơn các chú đã biếu Bác một lá cờ của bù nhìn mà các chú đã lấy được trong chiến dịch vừa qua.

Bác gửi lời khen Tiểu đoàn 722 đã lập công ở sâu trong lòng địch.

Bác khuyên các chú cố gắng chỉnh huấn đến nơi đến chốn. Trong công việc này, Bộ Tổng tư lệnh đã có chương trình đầy đủ. Bác chỉ nhắc các chú hai điểm:

– Tư tưởng cần thông suốt từ trên đến dưới, đoàn kết phải chặt chẽ từ trên đến dưới, từ trên đến dưới phải thực hiện đồng cam cộng khổ.

– Kiên quyết đánh thắng mọi khó khǎn, thắng được khó khǎn tức là đã thắng địch một phần.

Chúc các chú tiến bộ nhiều.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 7 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.107.
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội giáo dục toàn quốc (7-1951)

Tôi thân ái gửi lời chúc các đại biểu mạnh khoẻ và cố gắng làm việc. Sau đây là vài ý kiến để giúp phần vào việc thảo luận của các vị.

Đại hội nên kiểm thảo kỹ công tác “cải cách” về chương trình, chủ trương và cách thi hành, để tìm thấy những khuyết điểm mà sửa đổi, những ưu điểm mà phát triển thêm.

Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc. Làm thế nào để phối hợp việc giáo dục của trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của nhân dân.

Cán bộ giáo dục của chúng ta nói chung đều rất cố gắng, nhất là nam nữ cán bộ bình dân học vụ và tiểu học. Tôi rất vui lòng nhờ Đại hội chuyển lời khen ngợi và khuyến khích các chiến sĩ ấy.

Xin chúc Hội nghị có kết quả tốt đẹp.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 7 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu do Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh máy và sửa chữa, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi thanh niên về thi đua ái quốc (1-8-1951)

Thân ái gửi các cháu thanh niên cả nước,

Từ hôm 19-5 đến nay, Bác liên tiếp nhận được thư của các cháu.

Những thư ấy, hoặc là của từng nhóm như bộ đội, nhà máy, trường học, cơ quan…, hoặc là riêng của từng cháu.

Nếu trả lời riêng cho mỗi nhóm, mỗi cháu, như ý muốn của Bác, mà cũng là ý muốn của các cháu, thì Bác phải có hàng trǎm thư ký giúp, và hàng chục tạ giấy! Vì chính sách tiết kiệm nên Bác trả lời các cháu bằng một thư chung này.

Trong thư, các cháu đều báo cáo thành tích thi đua ái quốc. Bác rất vui lòng vì, hoặc nhiều hoặc ít, cháu nào cũng có thành tích. Thí dụ:

Cháu Nguyễn Thị Thành, xưởng X.P. (Công đoàn Lê Hồng Phong), tǎng nǎng suất 330 phần trǎm.

Cháu Nguyễn Thị Giao Tiên, xưởng X.B. (Công đoàn Bông Lau), tǎng nǎng suất hơn 200 phần trǎm.

Cháu Nguyễn Hữu Bắc, Trung đoàn X., được bầu làm chiến sĩ anh hùng (24 tuổi, bị thương bốn lần, được khen thưởng 6 lần).

Còn nhiều, nhiều cháu có thành tích khác, Bác không thể kể hết. Lại có những thành tích chung, như các cháu học sinh các trường đã thi đua tham gia việc sửa đường, công trái, bình dân học vụ; hoặc như các cháu thanh niên xung phong hǎng hái giúp việc các chiến dịch, vận tải, sửa đường, v.v.. Nói tóm lại, các cháu đã thi đua khá. Đó là ưu điểm đáng khen.

Song nói chung, các cháu vẫn còn nhiều khuyết điểm trong thi đua. Để sửa chữa những khuyết điểm ấy, để tranh lấy những thành tích to lớn, Bác giúp các cháu vài ý kiến sau đây:

1. Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước.

2. Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. Nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác tự động.

3. Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ suất “đại khái”, quá cao, phiền phức, miễn cưỡng.

4. Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hoà 3 nhiệm vụ với nhau: tǎng gia sản xuất, công việc hằng ngày và học tập (chính trị, vǎn hoá, tình hình trong nước và thế giới).

5. Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích, cổ động, xét kỹ kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người). Trong lúc thi đua, phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi.

6. Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi. Vì vậy, thật thà tự phê bình và thân ái phê bình là một lực lượng để đẩy mạnh thi đua.

7. Thi đua phải lâu dài và rộng khắp, không phải chỉ trong một thời gian nào (những ngày kỷ niệm là những đợt để lấy đà và để kiểm thảo, chứ không phải qua những ngày ấy rồi lại nghỉ thi đua), không phải chỉ riêng ngành nào, nhóm người nào. Vì vậy, trong thi đua, chúng ta phải đồng thời bồi bổ lực lượng và tinh thần của quần chúng.

Đó là mấy điểm chính. Nếu các cháu làm đúng như vậy, thì chắc các cháu sẽ có thành tích to hơn, nhiều hơn nữa.

Bác mong các cháu nghiên cứu kỹ những điểm đó, rồi báo cáo kết quả cho Bác biết.

Về thanh niên nông dân, phải đặc biệt cố gắng trong vụ mùa thắng lợi. Riêng về thanh niên trong bộ đội, Bác mong các tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn trực tiếp gửi cho Bác những danh sách các chiến sĩ được bầu làm anh hùng thanh niên (trong 30 tuổi, tên tuổi và công trạng).

Bác hôn các cháu, chúc các cháu vui vẻ thi đua và lượm được nhiều thành tích vẻ vang.

Ngày 1 tháng 8 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 22, ngày 23-8-1951.
cpv.org.vn

Gặp nhà báo nước ngoài cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Tôi gặp Marta Rojas, nữ nhà báo Cuba nổi tiếng tại khuôn viên của Đại sứ quán Việt Nam tại La Habana trong một buổi chiêu đãi. Đại sứ Phạm Tiến Tư giới thiệu: “Đây là một nhà báo từng sát cánh cùng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong suốt 10 năm chiến tranh, từng gặp và phỏng vấn Bác Hồ”.

bac ho - dai bieu my la tinhBác Hồ gặp gỡ các đại biểu Châu Mỹ Latine. Ảnh : tư liệu

Hiện bà là Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập báo Gramma của Đảng Cộng sản Cuba. Đại sứ Tư tiết lộ, vào dịp mùng 2 tháng 9 này, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập nước, chị Marta được Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị mời sang Việt Nam dự cuộc gặp mặt “Những người bạn quốc tế của Việt Nam”.

Hôm sau, chúng tôi đã được gặp lại bà tại trụ sở của Hội Hữu nghị Cuba với các nước. Việt Nam là một phần cuộc đời của Marta Rojas, người nữ phóng viên chiến trường từng viết và gửi về Cuba trên 300 bài báo về cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1965-1975.

Nhờ những bài báo bằng tiếng Tây Ban Nha của Marta, không riêng gì hơn chục triệu người Cuba mà các lực lượng tiến bộ khắp châu Mỹ Latine đã thấu hiểu, cảm phục, và đấu tranh, ủng hộ dân tộc Việt Nam kiên cường quả cảm.

Bà xúc động nói: “Việt Nam luôn ở trong trái tim tôi. Điều làm tôi xúc động nhất, ngoài việc được sống và viết về các chiến sỹ quân giải phóng trong rừng, chính là lần trực tiếp được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong một cuộc phỏng vấn chỉ 2 tháng trước khi Người qua đời…”.

Năm 1959, khi Fidel tấn công trại lính Moncada, Marta vừa tốt nghiệp ĐH Báo chí. Cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Batista thành công, Marta vào làm phóng viên tại tòa soạn báo cách mạng của Đảng Cộng sản Cuba.

Năm 1964, giữa lúc cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đang cam go quyết liệt, Marta đã chủ động tìm tới đại diện của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTGPMN) tại La Habana để xin tới Việt Nam viết báo.

Mấy ngày sau, đích thân Fidel gọi Marta lên và giao nhiệm vụ: “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã sẵn sàng đón tiếp, hãy lên đường ngay!”. Cùng đi sang Việt Nam với Marta còn có nam nhà báo Raul Valdes Vivo làm cho Báo Ngày Nay (cũng thuộc Đảng Cộng sản Cuba, sau này hai báo nhập làm một và lấy tên là Gramma).

Nhà báo Raul sau đó từng làm đại sứ Cuba tại Việt Nam trong một thời gian dài, về nước ông làm Trưởng ban Đối ngoại của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, và hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Giám đốc trường Đảng.

Marta và Raul tới Việt Nam qua đường Campuchia rồi luồn rừng vào Tây Ninh. Sáu tháng đầu tiên sống cùng các chiến sỹ quân giải phóng miền Nam, hàng loạt bài báo và bản thảo một cuốn sách đã được Marta liên tục gửi về nước. Nhờ đó, lần đầu tiên nhân dân Cuba và cả Châu Mỹ La tinh đã biết được những chi tiết sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu kiên cường, mưu trí và dũng cảm của nhân dân Việt Nam.

 ma ta và ca chien si gp quanMarta và các chiến sỹ quân giải phóng tại miền Nam Việt Nam năm 1967 (Ảnh tư liệu)

            Suốt trong giai đoạn 1965 – 1975, cứ đều đặn mỗi năm 2 tháng, Marta lại có mặt tại chiến trường miền Nam để viết báo. Năm 1972 chị cũng đã có mặt tại Pháp để đưa tin về cuộc Hội đàm Pa-ri lịch sử.

Có ở Cuba những ngày tháng Tám lịch sử này, mới thấu hiểu tình cảm của tất thảy mọi người dân hòn đảo trong lành và xinh đẹp với Bác Hồ, với Việt Nam vẫn còn sâu đậm, thủy chung đến nhường nào.

Có một sự thực là, khi chúng tôi tới bất cứ đâu dọc theo chiều dài dải đất mang hình con cá sấu kiên cường cũng bắt gặp những lời nói, ánh mắt và nụ cười nồng ấm tràn đầy ngưỡng mộ về Bác Hồ, về Việt Nam của người dân Cuba.

Khi tôi hỏi về cuộc phỏng vấn Bác Hồ do chị thực hiện, Marta không giấu nổi xúc động, mắt rớm lệ đưa tay lên ngực rồi nói: “Đến giờ tôi vẫn giữ nguyên trong trái tim mình, nhớ như in từng chi tiết, không thể nào quên được!”.

Chị cho biết, đây là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài trước lúc Người đi xa, đó là vào một buổi sáng tháng 7 năm 1969, chị bồi hồi nhớ lại…

7h sáng, Bác mặc một bộ quần áo trắng giản dị ra tận cửa đón chúng tôi. Một điều hết sức bất ngờ là Bác đã chủ động chào tôi trước bằng tiếng Tây Ban Nha rất chuẩn, sau đó Người vui vẻ hỏi thăm sức khỏe của tôi, hỏi thăm sức khỏe của Fidel cũng bằng tiếng Tây Ban Nha. Ấn tượng đầu tiên trong lần đầu gặp Bác, đó là một con người vĩ đại song hết sức giản dị và lịch thiệp. Hôm ấy, Người đi một đôi dép quai hậu không tất…

Tôi đến với mục đích để phỏng vấn Bác, nhưng rốt cục Bác lại là người chủ động “phỏng vấn” tôi trước. Người nói, “Nào chúng ta hãy cùng nhau trò chuyện”.

Bác hỏi về cảm nhận của tôi khi chứng kiến trực tiếp cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ra sao, rồi hỏi về tình hình dân chúng tại những nơi tôi đã đi qua kể từ sau chuyến đi đầu tiên vào năm 1965, nhất là thời gian ở Tây Ninh. Bác tiếp tôi tại ngôi nhà nhỏ gần Phủ Chủ tịch, Người đã dành một buổi nói chuyện dài với tôi và phần lớn thời gian là Người hỏi tôi.

Tôi có cảm nhận Người như một nhà hiền triết, một nhà cách mạng chân chính ham hiểu biết. Tôi hiểu Người đang muốn biết thêm thật nhiều về đời sống, tình cảm của dân chúng và các chiến sỹ thông qua một nhà báo nước ngoài như tôi.

Sau khi nghe tôi kể lại, Người xúc động nói: “Nỗi đau của nhân dân Việt Nam cũng chính là nỗi đau của tôi. Tôi dành cả cuộc đời mình cho nhân dân tôi”. Người mong muốn có một nước Việt Nam mười lần tươi đẹp hơn.

Sau này khi được đọc Di chúc của Bác, tôi nhận ra một số điều được viết trong di chúc cũng đã được Người nói với tôi hôm đó, nhưng bằng những lời lẽ giản dị hơn, tôi đã lắng nghe và viết lại trong một bài báo xuất bản vào năm 1969.

Tôi hỏi Người: “Dựa vào đâu mà Chủ tịch hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi trước một kẻ thù hùng mạnh về kỹ thuật, đang ra sức đã tàn phá làng mạc Việt Nam bằng bom đạn suốt ngày đêm như vậy? ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi tin vào sức mạnh và sự vĩ đại của nhân dân Việt Nam cùng sự đoàn kết ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới trong đó có nhân dân Cuba anh em.

Mỗi khi nhân dân Cuba từ bên kia bán cầu tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình thể hiện tình đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân chúng tôi, điều đó đã động viên chúng tôi rất nhiều, và nhất là những lời phát biểu của Chủ tịch Fidel Castro làm chúng tôi vô cùng cảm kích. Chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng”.

Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước chúng tôi sẽ còn gặp nhiều khó khăn và gian khổ, nhưng nhất định chúng tôi sẽ giành được thắng lợi!”.

Mục đích gặp để phỏng vấn Người, song Người đã chủ động giới thiệu tất cả về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội Việt Nam với tôi. Người nói, trước đây Người cũng từng làm báo.

Tôi nói lời chia tay với Người rằng “Tôi tin tưởng Việt Nam sẽ chiến thắng”, Người cũng nói “Nhân dân Việt Nam có quyết tâm chiến đấu đến cùng và nhất định sẽ thắng lợi!”.

Hai tháng sau, tôi sững sờ khi nghe tin Bác mất. Hồi đó, Việt Nam bị tàn phá khốc liệt. Tôi lại tiếp tục lên đường sang Việt Nam.

 nha bao ma taAnh Đoàn Văn Thái, Bí thư Trung ương Đoàn tới thăm và tặng quà nữ nhà báo Marta, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam tại La Habana. Ảnh: Việt Hùng

            Tôi tò mò hỏi bà: “Là một phụ nữ nước ngoài, lặn lội sang Việt Nam đầy bom đạn như vậy, bà không sợ sao, động lực nào đã đưa bà tới Việt Nam?”. Marta nói ngay: “Người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé, gian khổ như vậy mà vẫn kiên cường. Điều đó làm tôi vô cùng xúc động và đã giúp tôi vượt qua mọi khó khăn”.

Hồi mới sang, Marta sợ nhất ếch, đỉa và vắt, sợ hơn cả máy bay ném bom của Mỹ. Mỗi khi luồn rừng hay lội qua sông, suối thấy đỉa bám lên người mà các cô gái Việt Nam thản nhiên cầm vứt ra, người nữ phóng viên ngoại quốc tròn xoe mắt.

Marta kể, tôi thấy các chiến sỹ trẻ quân giải phóng bị vắt cắn rất nhiều, song họ chỉ lấy ra và để lại trên lá cây. Tôi hỏi vì sao không giết chúng đi? Họ hóm hỉnh trả lời: Đây cũng là vũ khí thiên nhiên để chống lại giặc Mỹ!

Một lần khác, chúng tôi nấp ở ven rừng cùng quân giải phóng nhìn ra đường thấy hai bà cụ cứ thỉnh thoảng lại nhặt một cái gì đó cho vào chiếc túi nhỏ. Tôi thấy lạ bèn hỏi các chiến sỹ đi cùng mới biết, lát nữa sẽ có 1 chiến sỹ nhận chiếc túi để biết đã có bao nhiêu lính Mỹ ngụy đi qua con đường này trong ngày vì 2 bà cụ không biết chữ.

Có chứng kiến tận nơi tôi mới thực sự hiểu sức mạnh chiến tranh toàn dân của người Việt Nam. Chính vì vậy tôi đã hiểu vì sao Bác Hồ lại tin tưởng vào nhân dân của mình, vào cuộc thắng lợi đến thế.

Được hỏi về sự mất mát của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh mà bà chứng kiến, Marta đã thực sự xúc động, giọng bà lạc đi khi kể cho tôi nghe về một vài chi tiết vẫn còn hằn trong ký ức bà: Đi cùng các đơn vị giải phóng quân, qua một đêm lại thấy thiếu đi vài gương mặt quen quen, hỏi được biết họ đã nằm lại đâu đó sau một trận chiến.

Đêm trước Mỹ ném bom Napal xuống một ngôi làng, tôi nhìn thấy ánh sáng rất lạ, không hiểu là cái gì. Sáng hôm sau tôi tới tận nơi thấy xác dân thường nằm la liệt vẫn còn phát sáng, khung cảnh thảm khốc khiến tôi vô cùng xúc động. Đường mòn Hồ Chí Minh chúng tôi đi qua bị rải chất độc da cam, mặc dù trời vừa mưa to, chạm vào lá cây mà da chúng tôi còn bị bỏng rộp…

Khi cầm bút viết những dòng này tôi chợt nhớ tới câu nhận xét của nữ nhà báo Cuba đầy kính trọng cũng là nhà báo nước ngoài cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ trong phần cuối câu chuyện của bà về chiến tranh Việt Nam: “Bất cứ lúc nào, nơi nào tôi cũng thấy nhân dân Việt Nam rất lạc quan, vẫn nhảy múa ca hát mặc cho bom rơi đạn nổ, vẫn trồng lúa, gặt hái bình thường trên mảnh đất có nền văn hiến hàng nghìn năm của mình, và cuối cùng họ đã chiến thắng”.

Theo Việt Hùng/vietbao.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Những suy nghĩ về Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

suy nghi ve ngay sinh cua Bac

Giản dị, khiêm tốn, quên mình vì dân, vì nước là những  phẩm chất cao đẹp ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ thuở thiếu thời, khi làm người phụ bếp trong một chuyến tàu ra đi tìm đường cứu nước đến khi làm người thầy truyền đạt tri thức cho học trò và đến lúc đảm nhận trọng trách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở cương vị nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn giữ cuộc sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và hết sức tiết kiệm.

Với tinh thần của người cộng sản, Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, dành trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước, phấn đấu thực hiện “ham muốn tột bậc” làm cho “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đất nước độc lập, nhân dân thoát khỏi ách nô lệ, được sống cuộc sống tự do, bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cuộc sống thanh bạch của vị Chủ tịch nước vẫn không có gì thay đổi. Người không đòi hỏi bất kỳ những gì riêng tư cho mình, kể cả trong những dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người.

Dõi theo những lần sinh nhật của Bác vào ngày 19-5, khi miền Bắc có điều kiện kỷ niệm, chúng ta càng thấy rõ nhân cách cao thượng của Người.

Từ sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ đến ngày Bác về với các Cụ Các Mác, Cụ Lênin (15 năm), có lẽ, để tránh những nghi lễ, 6 năm (1960, 1961, 1962, 1964, 1966, 1967) vào dịp sinh nhật của mình, trong đó có sinh nhật lần thứ 70, Bác ra nước ngoài công tác.

Nhiều lần trong dịp kỷ niệm ngày sinh, Bác không ở Hà Nội mà về thăm nhân dân các địa phương. Ngày 19-5-1957, Bác đi Quốc Oai, Hà Tây. Ngày 19-5-1958 Bác đến Chùa Hương (Mỹ Đức, Hà Tây), căn dặn nhân dân tích cực trồng cây, bảo vệ rừng. Ngày 19-5-1959, Bác đi thăm cán bộ, nhân dân các dân tộc Tây Bắc.

Là người lịch lãm, nhân ái, Bác luôn tôn trọng người xung quanh, không quên cảm ơn những người chúc mừng Bác. Ngày 19-5-1956, Bác gửi thư cho cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Trong thư có đoạn viết: “Bác nhận được rất nhiều thư chúc thọ của các cô, các chú… Bác gửi thư này cảm ơn chung”.

Cả cuộc đời vì nước, vì dân, Bác đau đáu vì miền Nam chưa được giải phóng, Bắc – Nam chưa được sum họp một nhà, nhiều gia đình ngày Bắc, đêm Nam. Ngày 19-5-1963, Quốc hội có ý tặng Bác Huân chương Sao Vàng – huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam, Bác nói: “Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội. Nhưng Quốc hội cho phép tôi chưa nhận, vì tôi tự thấy chưa xứng đáng… Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng bào miền Nam tặng thì tôi xin nhận”. Bác mất đi, trên ngực không một tấm huân chương. Nhưng tấm huân chương cao quý nhất mà nhân dân cả nước trao tặng Bác là niềm tin tuyệt đối, tình cảm yêu quý Bác. Ngay trong bom đạn, kìm kẹp của kẻ thù, không có tỉnh nào ở miền Nam không có đền thờ Bác. Miền Nam trong trái tim Bác và Bác ở trong mỗi trái tim người dân miền Nam. Đây là một nguyên nhân làm nên chiến thắng 30-4  lịch sử.

Là lãnh tụ của Đảng, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác căn dặn việc đảng, việc nước, việc dân phòng khi Bác đi xa. Dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh, đúng 9 giờ sáng, giờ đẹp nhất của ngày 10-5-1965, Bác đặt bút viết dòng đầu tiên của tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.

Ngày 19-5-1968, Bác xem và sửa lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật” và có bài thơ :

“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lợi
Tiến bước ta cùng con em ta” .

Ngày 19-5-1969, đúng 9 giờ sáng Bác tiếp tục sửa chữa bản Di chúc. Đây là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 79 – kỷ niệm sinh nhật cuối cùng của Bác.
Hồ Chí Minh cả cuộc đời không một phút riêng tư, “nâng niu tất cả chỉ quên mình ”, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Ngày nay, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần nâng cao nhận thức và quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện nguyện ước của Bác: Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, sánh vai các cường quốc năm châu.

Đó cũng chính là thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

Trần Quý Cử
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn