Tag Archive | Thời sự

Lời Người sáng mãi mùa xuân

Mùa xuân năm Nhâm Thìn 1952, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ hai của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã giành được nhiều thắng lợi trên các chiến trường, từ “Thủ đô gió ngàn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo (1) bày tỏ cảm xúc về mùa xuân của dân tộc: “May mắn hơn nhiều dân tộc khác… mỗi năm chúng tôi có hai ngày Tết. Một lần Tết theo dương lịch… Còn một Tết thứ hai tính theo âm lịch. Đó là ngày Tết theo tục lệ cổ truyền của nhân dân. Mùa Xuân ở nước chúng tôi bắt đầu từ ngày đầu tháng Giêng… Mặt trời toả sáng, ánh sáng dịu dàng đem lại sức sống tươi vui lành mạnh”.

Sau khi nêu nét đẹp văn hóa truyền thống trong những ngày Tết của dân tộc ta, Người kết luận: “Tương lai của dân tộc Việt Nam cũng tươi sáng như mặt trời mùa xuân. Vui mừng trước vẻ đẹp của mặt trời mùa xuân, chúng tôi sẽ đấu tranh cho một tương lai rực rỡ của Việt Nam, cho tương lai của nền dân chủ, của hoà bình trên toàn thế giới và của chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng”.

Mùa xuân ấy trong Thơ chúc Tết gửi đồng bào và chiến sỹ cả nước, Người khẳng định “Trường kỳ và gian khổ. Chắc thắng trăm phần trăm” và kết thúc bằng câu thơ vừa giản dị, mộc mạc, vừa gần gũi, thân tình “Mấy câu thành thật nôm na. Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Từ mùa Xuân Nhâm Thìn 1952 đến mùa Xuân Nhâm Thìn 2012, đất nước ta đã trải qua một chặng đường lịch sử 60 năm, một hoa giáp oanh liệt, lừng lẫy chiến công: Đánh thắng hai “đế quốc to” là Pháp và Mỹ, non sông, đất nước sạch bóng quân xâm lược. Thành tựu của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đúng như tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh mùa xuân Nhâm Thìn, 60 năm trước “Tương lai của dân tộc Việt Nam cũng tươi sáng như mặt trời mùa xuân”.

Nhâm Thìn 1952, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ hai của Đảng, nhân dân cả nước đoàn kết một lòng, tạo thế và lực, chuẩn bị tổng phản công, làm nên chiến thắng “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chặt đứt mắt xích đầu tiên của hệ thống chế độ thực dân cũ, nêu một tấm gương sáng cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Nhâm Thìn 2012, đất nước ta thực hiện đường lối do Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra, hướng tới mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, một mốc son mới trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta.

Tương lai rực rỡ của Việt Nam như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(2). Đó cũng là khát vọng cháy bỏng của Đảng ta, nhân dân ta. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang tạo ra động lực mới, sức sống mới, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “nói đi đôi với làm”, những tấm gương bình dị trong cuộc sống hàng ngày nảy nở và lan tỏa trong cộng đồng, khơi dậy truyền thống dân tộc, thắp sáng niềm tin vào lý tưởng, vào Đảng quang vinh, vượt lên mọi thách thức, nguy cơ, cổ vũ tinh thần lao động sáng tạo, ý chí đoàn kết toàn dân tộc, kề vai sát cánh, chèo lái con tầu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” hướng tới tương lai tươi sáng như mặt trời mùa xuân./.

Hồng Minh

(1)- Bài đăng trên tuần báo Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân, ra ngày 4-4-1952. Tiêu đề “Bọn Đế quốc cướp nước không bao giờ có thể nô dịch dân tộc Việt Nam anh dũng” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, 2002)

(2)-Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.

baobacninh.com.vn

Một lần đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Với Trung tá về hưu Lương Văn Vở một lần được lái xe cho Bác Hồ là vinh dự vô cùng lớn lao. Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng với ông từng lời nói, cử chỉ, việc làm của Bác đều trở thành những hình ảnh đẹp trong ký ức không thể nào quên.

Hành trình đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Trong biết bao ký ức cuộc đời, ông Lương Văn Vở 75 tuổi ở phường Suối Hoa (thành phố Bắc Ninh) vẫn luôn dành một vị trí trang trọng nhất cho kỷ niệm lần được gặp Bác. Ông xúc động kể lại câu chuyện của hơn 50 năm về trước.

“Năm 1958, Bác Hồ về thăm căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Theo yêu cầu của cấp trên cần có đồng chí lái xe giỏi, quen đường rừng, núi, đèo, dốc, để đưa Bác đi. Còn đồng chí lái xe chính cho Bác đi sau để khi quay về lái cho quen đường. Lúc đó, tôi đang là lái xe của đồng chí Lê Quảng Ba, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Sáng sớm, tôi được chỉ huy đơn vị thông báo sẽ nhận nhiệm vụ lái xe cho Bác. Bấy lâu chỉ được nhìn Bác qua ảnh, nghe giọng Bác nói trên đài, nay sẽ được trực tiếp lái xe cho Bác. Vinh dự lớn lao ấy làm tôi vô cùng xúc động. Mặc dù có kinh nghiệm lái xe đường rừng núi, nhưng trong lòng cũng không khỏi lo lắng vì đây là lái xe cho Bác Hồ. Tôi lập tức đi kiểm tra và chuẩn bị xe thật cẩn thận.

Khoảng 9 giờ sáng, xe của Bác đến Bộ Tư lệnh Quân khu tại Thái Nguyên. Giây phút đầu tiên được gặp Bác, tôi rất hồi hộp. Bằng tác phong nhanh nhẹn, Bác chủ động bắt tay tôi và tươi cười nói: “Chú lái xe của Tư lệnh trẻ lắm!”. Cử chỉ thân mật của Bác khiến tôi thấy ấm áp và gần gũi biết bao. Theo bố trí, tôi lái xe cho Bác Hồ, đồng chí Lê Quảng Ba cùng ngồi để tiện trao đổi công việc.

Cả đoàn khởi hành, đi trước là xe làm nhiệm vụ dẹp đường và bảo vệ. Đường hồi đó hẹp, xấu, đèo, dốc cao cua liên tiếp cây cối rậm rạp khó đi. Xuất phát được vài trăm mét, Bác hỏi tôi: “Chú học lái xe bao giờ mà trẻ thế?”. Đồng chí Lê Quảng Ba báo cáo Bác: “Đồng chí Vở học khóa đầu tiên trường lái xe Tiến Bộ khi trường chuyển từ Quảng Tây, Trung Quốc về nước và được giữ lại làm giáo viên. Quân khu sang nhà trường xin về làm lái xe cho Tư lệnh vì đồng chí học giỏi nhất trường. Đồng chí còn tham gia thêm công tác thanh niên, làm Bí thư chi đoàn Bộ tham mưu Quân khu”. Bác bảo ngay: “Chú làm Bí thư thanh niên bản thân phải gương mẫu, trong sáng, làm tốt, nói thật, sống ngay thẳng. Luôn giản dị, khiêm tốn và biết vận động anh, em cùng làm tốt. Phải thương yêu đồng chí và giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ”.

Suốt hành trình, Bác tranh thủ thời gian trao đổi, dặn dò đồng chí Lê Quảng Ba rất nhiều điều. Còn tôi thì tập trung tất cả tinh thần để lái xe cho thật tốt, làm sao vừa an toàn vừa thật êm để Bác đỡ mệt. Những chặng đường này với tôi đã rất quen thuộc. Tôi nhớ từng ổ gà, đoạn cua, con đèo… Lái thạo ở những cung đường khó nhất như: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Colia… với những dốc cao, đường hẹp, cua tay áo. Sau khi thăm và nghỉ trưa tại Tỉnh ủy tỉnh Bắc Cạn, đoàn đi thẳng lên Cao Bằng. Sáng hôm sau, tôi lại được lái xe đưa Bác đi thăm những nơi Người từng ở và làm việc, thăm một số gia đình đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Buổi trưa, trước khi về xuôi, Bác đã khen tôi: “Chú Vở trẻ nhưng lái xe rất giỏi! Đưa Bác vượt qua đường dài, xấu mà không thấy mệt mỏi…”.

Hơn một ngày được bên Bác là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu đậm về tấm gương đạo đức của Người. Với cấp dưới, Bác gần gũi, tận tình chỉ bảo. Với đồng bào, Bác ân cần thăm hỏi, động viên. Bác luôn căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải không được quên công ơn của đồng bào đã cưu mang, giúp đỡ cách mạng. Nhắc nhở ăn uống phải đơn giản, phải tiết kiệm trong sử dụng tiền của nhân dân… Tất cả với tôi có ý nghĩa khích lệ to lớn để tiếp tục cố gắng phấn đấu tu dưỡng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Lời Người soi sáng đường ta đi

“Khi chưa được gặp Bác, tôi đã sớm đi theo con đường cách mạng của Đảng. Khi được gặp Bác, tôi càng thấy con đường mình đi là đúng đắn”, ông Vở chia sẻ. Sự chia sẻ bằng trải nghiệm từ chính cuộc đời.

Ông Lương Văn Vở sinh năm 1935 trong 1 gia đình nghèo (ông Vở cùng 3 anh, chị của mình phải chịu cảnh đi ở cho nhà giàu để nuôi thân) thuộc huyện Việt Yên (Bắc Giang). 15 tuổi tham gia cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chiến đấu trong vùng địch hậu, tham gia tiễu phỉ ở vùng Đông Bắc rồi được đi học lái xe… Từ đó, cuộc đời như gắn với buồng lái cơ động khắp các chiến trường.

Đi cùng những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhiệm vụ liên tục thay đổi, đối diện với biết bao gian khổ, hứng chịu sự hành hạ của bệnh sốt rét rừng, 4 lần bị sức ép của bom, 3 lần bị thương, trải qua 3 lần phẫu thuật mà vẫn còn mảnh đạn trong người… nhưng thương binh hạng 2/4 Lương Văn Vở vẫn luôn tâm niệm: “Trong tim tôi khắc ghi lời Bác dạy vượt qua khó khăn vững vàng vị trí chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”.

Trọn nghĩa với nước non, bước ra khỏi cuộc chiến về trong thời bình tiếp tục công tác rồi nghỉ hưu, ông Vở vẫn không ngừng phấn đấu để xứng đáng là người đảng viên, “bộ đội cụ Hồ” gương mẫu trong mọi công việc: ngược xuôi tất bật vận động, xin tài trợ để thành lập Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh và tổ chức thành công cho đồng đội đi thăm chiến trường xưa (gia đình ông Vở đã ủng hộ hơn 10 triệu đồng); động viên con cháu ủng hộ tích cực các loại quỹ nhân đạo… Nay dù tuổi đã cao, sức đã yếu, vết thương hay tái phát nhưng ông Vở vẫn vững vàng một niềm tin: “Tôi sẽ tiếp tục cùng đồng đội tích cực cống hiến sức lực và trí tuệ góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh như Bác Hồ hằng mong”.

Bài: Bảo Anh

baobacninh.com.vn

Tư duy đổi mới và phát triển trong Di chúc Bác Hồ

Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại.

>> Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

"Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn..." - Ảnh tư liệu

Tư duy cải cách, đổi mới xuất hiện ở tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1919 khi Người đòi “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách ban hành những đảm bảo cho người bản xứ cũng như người Âu”. Tư duy đó được nâng cao, mang nội dung khoa học và cách mạng dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin. Người quan niệm “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới”, và “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Ngay từ năm 1923, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”.

Di chúc kết tinh tinh thần đổi mới của Hồ Chí Minh mà trước hết là đổi mới tư duy. Ngoài nội dung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và phong trào cộng sản quốc tế, toàn bộ Di chúc bàn về tương lai của đất nước với “một kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Về kinh tế, Di chúc nói tới việc “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”. Về văn hóa, Di chúc đề cập việc “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Ngay cả khi bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ,Di chúc cũng thể hiện niềm tin chắc chắn, nhất định thắng lợi, rồi “ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.Người suy nghĩ “về một kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để xây dựng lại đất nước đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh”.

Từ phác thảo một kế hoạch bao quát về mở rộng kinh tế, phát triển công tác vệ sinh, y tế, giáo dục, quốc phòng, công việc thống nhất Tổ quốc, tư duy đổi mới sáng suốt nhằm xây dựng và phát triển đất nước có thể nhận rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nỗi bận tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là Đảng cầm quyền. Tại sao như vậy?

Một là, Người hiểu rõ sứ mệnh của Đảng cầm quyền rất nặng nề, vì từ xóa bỏ sang xây dựng là hai loại quy luật hoàn toàn khác nhau. Người chỉ rõ “thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Phải tạo lập một lực lượng sản xuất hiện đại và cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Hai là, Đảng cầm quyền, cán bộ đảng viên có quyền lực nên có thuận lợi cho Đảng lãnh đạo, nhưng từ hai mặt của quyền lực nên cũng là “mảnh đất” làm nảy sinh nhiều thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Ba là, từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, không chỉ khó khăn về lực lượng sản xuất, về kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mà một điều đáng quan ngại là tư duy tiểu nông gắn với những nếp sống, thói quen, ý nghĩa và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng nghìn năm.

Trong Di chúc, Hồ Chí Minh coi “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là cuộc chiến đấu khổng lồ”. Sự hư hỏng ở đây không đơn giản chỉ là vật chất mà nguy hại hơn là con người, tư tưởng, tổ chức. Người lường tới những khó khăn, phức tạp cho cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, vượt qua khó khăn, chiến đấu với niềm tin nhất định thắng lợi.

Tóm lại, Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại. Đó cũng chính là chân giá trị lý luận và thực tiễn của Di chúc Bác Hồ trong thời đại ngày nay.

PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG
Theo Quân đội nhân dân

tuoitre.vn

Học tập, làm theo tình cảm của Bác Hồ đối với thanh niên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc sống rất giản dị, khiêm nhường, song cũng rất vĩ đại; Người không những là nhà cách mạng lỗi lạc mà còn là một con người giàu lòng nhân ái, có sức lôi cuốn, cảm hóa sâu sắc.

Những câu chuyện kể về Người, cho thấy trong đời, ai đó dù chỉ một lần được tiếp xúc, gặp gỡ, được sống bên Người đều có thể học tập và nhớ mãi cảm xúc khó quên, kỷ niệm tình người nồng ấm của Bác. Đối với các thế hệ thanh niên, nét tâm lý tình cảm đặc biệt đó ở Người dành cho cũng vô cùng sinh động. Có thể nói cả cuộc đời và sự nghiệp giáo dục cách mạng của Người, là hết lòng chăm lo cho sự tiến bộ, hạnh phúc và tương lai của các thế hệ trẻ Việt Nam.

Trước lúc đi xa về với tổ tiên, thế giới người hiền, Người đã không quên viết Di chúc dặn lại: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”1.

Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thiết nghĩ, người làm công tác thanh niên ngày nay cần phải bắt đầu từ những kinh nghiệm, những nét tâm lý tình cảm của Bác Hồ đến với họ. Để truyền lại cho thanh niên những tri thức, giá trị văn hóa đạo đức của Bác cần nghiên cứu và vận dụng tốt những yêu cầu sau.

Khi nói và viết cho thanh niên phải xuất phát trên cơ sở cảm xúc, tình cảm chân thật, phù hợp với nhân cách tuổi trẻ.

Theo Bác Hồ, người đi tuyên truyền xây dựng phong trào thanh niên phải là người hơn ai hết phải có năng lực am hiểu về tâm-sinh lý thanh niên; phải làm sao hòa nhập vào họ, bằng một cảm xúc thực sự tự đáy lòng mình. Hiểu biết và yêu mến thanh niên nên khi tiếp xúc, giao lưu với họ, Người thường có phong thái tự nhiên, thân tình cởi mở. Trong những lời dạy của Người bao giờ cũng tạo cho người nghe một cảm xúc, một niềm tin yêu, lạc quan hướng tới tương lai. Với một cảm xúc tươi trẻ, phấn khởi Người nói: “Là người theo dõi tổ chức thanh niên từ bước đầu chỉ có 8 cháu, ngày nay trông thấy có hàng triệu đoàn viên, thanh niên… phát triển mơn mởn như hoa mùa xuân… Vì vậy, Bác rất tự hào sung sướng thấy mình như trẻ lại, thấy trong tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”. Thực tiễn hoạt động cách mạng, Người đã khéo léo thể nghiệm về vai trò và quy luật, yếu tố tình cảm; vừa là điều kiện vừa là phương tiện đồng thời là nội dung giáo dục rất quan trọng đối với thanh niên. Người viết: “phải xuất phát từ tình cảm cách mạng, tình yêu thương con người… Có như thế, mới tìm ra cái đúng cái hay”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên “cần phải đi vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề một cách thiết thực”.

Nói và viết cho thanh niên cần phải chú ý gắn liền với những nội dung có tính định hướng tư tưởng, giáo dục các giá trị đạo đức, tình cảm và lý tưởng cách mạng cho thanh niên.

Đặc trưng tâm lý thanh niên, là nét tâm-sinh lý của lứa tuổi đầu đời, tuổi nhân cách đã và đang trưởng thành. Đây là lứa tuổi sôi nổi, nhạy cảm, nhu cầu thẩm mĩ cao, ôm ấp nhiều ước mơ, hoài bão, có sức khỏe và cảm xúc mạnh; dễ đến với cái mới, ham thích khám phá; có tâm hồn vô tư trong sáng, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh. Trong cuộc sống họ thường tự khẳng định, đề cao vai trò, vị trí của mình; mong được xã hội, người xung quanh tin tưởng, thừa nhận như một thành viên tích cực. Mặt khác, những hạn chế của lứa tuổi này, xu hướng nói chung, phẩm chất thói quen ứng xử và các thuộc tính tình cảm chưa ổn định; do vốn kinh nghiệm, kỹ năng sống còn ít; nhãn quan về chính trị, lý tưởng nghề nghiệp thường chưa thật chín muồi, tâm trạng dễ thay đổi, chán nản…

Trong phương hướng, nhiệm vụ trong công tác thanh niên, cần tăng cường giáo dục tình cảm cách mạng và các giá trị cho họ; nhất là những chuẩn mực giá trị đạo đức, lý tưởng của Đảng cho họ. Nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng A.x. Ma-ca-ren-cô viết: “Giáo dục tính cách Bôn-sê-vích chân chính là giáo dục tình cảm con người. Tôi tin rằng nếu chúng ta không giáo dục một cách đúng đắn thì cũng có nghĩa chúng ta chẳng giáo dục gì cả”.

Nặng tình yêu quê hương, đất nước và đặc biệt đối với lớp trẻ, nên chúng ta thường thấy trong các lời nói của Người, chan chứa tình cảm thân thương; nó như thắp sáng ngọn lửa tình cảm cách mạng, niềm tin và ý chí vươn lên cho tuổi trẻ. Tết Nguyên đán (1945-1946), trong một cảm xúc mới; Bác nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Do đó, nhà giáo dục cần phải khéo léo lồng ghép nội dung bồi dưỡng tình cảm cách mạng cho thanh niên; thông qua các phong trào hoạt động của tuổi trẻ hình thành thế giới quan, niềm tin vào mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Nói và viết đúng những vấn đề bức thiết, nguyện vọng, nhu cầu của thanh niên hiện nay.

Ngày nay thế hệ trẻ không ngừng được phát triển trên nhiều lĩnh vực, họ xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ “Đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt… có chí tiến thủ”. Nhận thức đúng chân lý đó, không chỉ giúp cho chúng ta bỏ được mặc cảm về những hạn chế lớp trẻ, mà còn có được cái nhìn đúng đắn, niềm tin về họ và nêu cao hơn tinh thần trách nhiệm đối với thanh niên. Tâm lý chung của nhà giáo dục và của người lớn như Người chỉ rõ: “Nếu so với thanh niên lớp trước trong đó có cả Bác thì thanh niên ta ngày nay sung sướng hơn nhiều”; song “một bộ phận khá đông thanh niên chưa hiểu thấu rằng tất cả lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang, vì vậy họ chưa thiết tha yêu nghề, thường “đứng núi này, trông núi nọ”… Thanh niên ta cần phải hiểu rằng: bất kỳ công việc gì, mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều là vẻ vang, đều là anh hùng”.

Bằng tình cảm chân tình, trên sự nắm bắt, hiểu được quy luật tình cảm, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, người đi giáo dục phải xem xét toàn diện về thanh niên mới tìm ra cái đúng cái hay và có cách làm sáng tạo, khéo léo, có sức thuyết phục lôi cuốn họ. Cán bộ Đoàn phải là người luôn đi đầu, gương mẫu, quan tâm đời sống tình cảm thanh niên, hiểu rõ cả tâm – sinh lý của họ, nhiệt tình giúp họ giải quyết các vấn đề một cách cụ thể, hiệu quả. Nguyện vọng bức thiết của đa số thanh niên hiện nay là vấn đề học hành, nghề nghiệp, việc làm. Để đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng bức thiết đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên cần phải thấm nhuần và làm theo lời dạy của Bác. Nêu cao vai trò gương mẫu, nói phải đi đôi với làm. Thường xuyên quan tâm, có chính sách, biện pháp giúp thanh niên có động cơ, thái độ đúng đắn và nhiệt tình cách mạng. Không ngừng tự học, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận và năng lực công tác.

Đại tá Ths Đào Văn Trường

1- Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia HN, 1999, tr26.

baobacninh.com.vn

Hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Kinh thánh đã dạy: “Khởi thuỷ là lời nói”; Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thuỷ là hành động”.

Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, nói là để làm. Người là tấm gương sáng ngời về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Những tư tưởng trên được chứng minh một cách hùng hồn bằng cả cuộc đời hoạt động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những quyết định lịch sử ở những bước ngoặt lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Năm 1911, 21 tuổi, Người đi nước ngoài tìm đường cứu nước. Năm 1920, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng cho dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam; cùng với Đảng dẫn dắt giai cấp và dân tộc trên mọi chặng đường thắng lợi của cách mạng: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Đế quốc Mỹ, mở đường cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp nêu gương đi đầu về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo lời dạy của Người:

Về ý thức trách nhiệm: Khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, làm một cách tự giác, theo lương tâm, lương tri, theo nhu cầu nội tâm của cá nhân mình. Nếu làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ; thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm.

Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Có trách nhiệm với đất nước theo lời dạy của Người “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết, tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hi sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”. “Trung với nước, hiếu với dân”, “Tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Lý tưởng cao cả của Đảng ta, của cán bộ, đảng viên là phục vụ nhân dân. “Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân trước hết, đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; đó là lẽ sống cao quý nhất của người cách mạng”. “Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Quan tâm chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân theo tinh thần “Nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, là Đảng và Chính phủ có lỗi”. “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì dân mà làm việc. Không được tự cao, tự đại, khinh rẻ dân, chê bai dân. Hướng dẫn nhân dân tự chăm lo cho đời sống của mình.

Góp phần đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn, vì lợi ích của nhân dân theo lời dạy của Người: “Cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc.

Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân phải luôn quán triệt cán bộ là công bộc, là đầy tớ của dân: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”. “Luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy” hoặc “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết mà không làm”.

Nói đi đôi với làm, nêu gương bằng những hành động thực tế là một trong ba nguyên tắc Hồ Chủ tịch chỉ ra về rèn luyện đạo đức cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người là một tấm gương sáng ngời thực hiện nguyên tắc đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Hơn nữa, chúng ta còn thấy Người nói ít nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức Người làm mà không nói. Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành nêu gương đi đầu về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

Đỗ Ngọc Uẩn

baobacninh.com.vn

Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi!

Cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi lại thấy bâng khuâng, nao nức. Hơn 10 năm qua, gia đình tôi tạc hàng nghìn pho tượng Bác Hồ xuất phát từ nỗi niềm biết ơn và sự kính trọng chân thành!”-bà Nguyệt, 79 tuổi ở thôn Quảng Bố, xã Quảng Phú (Lương Tài) xúc động tâm sự với chúng tôi.

Xã Quảng Phú nổi tiếng từ xưa bởi đa dạng nhiều ngành nghề cơ khí, luyện kim, đúc đồng, đồ gia dụng… nhưng người nặng lòng theo đuổi nghề tạc hình ảnh Bác thì duy nhất chỉ có gia đình bà Nguyệt. Từng công tác ở Tổng cục chính trị với nhiệm vụ đúc huân huy chương cho cán bộ và chiến sỹ, khi trở về quê được thừa hưởng nghề truyền thống đúc đồng, để tỏ lòng kính yêu cảm phục vị lãnh tụ dân tộc, gia đình bà đến với công việc đúc hình tượng Bác một cách thầm lặng. Bước khởi đầu vào nghề đầy khó khăn và gian nan, nhiều pho tượng phải làm đi làm lại nhiều lần, vất vả nhất là ở khuôn mặt Bác, đòi hỏi người thợ phải có đức tính kiên trì và tâm huyết. Song khó khăn nhất vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bà phải đi khắp nơi để giới thiệu sản phẩm, tìm đầu ra cho sản phẩm nghệ thuật độc đáo này. Thời gian đã nuôi dưỡng và cất cánh ước mơ hoài bão lớn của cuộc đời khi sản phẩm tượng Bác Hồ đã có đơn đặt hàng thường xuyên từ Bộ Quốc Phòng, Tổng cục chính trị… điều đó đã tạo nguồn lực cho bà mở rộng quy mô sản xuất. Hiện nay, cơ sở của gia đình bà Nguyệt mỗi năm sản xuất được khoảng 1500-2000 pho tượng các loại, tạo việc làm ổn định cho gần 20 lao động với mức thu nhập từ 2-3 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, còn có một số thợ lành nghề như anh Tạ Văn Công, thôn Tuyên Bá (Quảng Phú) sau khi được bà truyền dạy những kỹ năng, đã có thể tự mang vật liệu về gia đình sản xuất. Anh Công tâm sự: “Tôi gặp bà Nguyệt và đến với nghề cũng bởi cái duyên.  Tình yêu và sự tôn thờ của bà về Bác, khiến những người thợ ai cũng mến phục làm theo. Mỗi khi hoàn thiện một pho tượng về Bác là tôi cảm thấy mình như lớn khôn và hạnh phúc “Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi!”.

Anh Đỗ Huy Long (con trai út bà Nguyệt) tận tình giới thiệu cho chúng  tôi các khâu công đoạn gia công pho tượng: từ nung chảy kim loại đổ vào khuôn, rồi thực hiện các thao tác kỹ thuật gọt rũa đánh bóng, hoàn thiện sản phẩm. Nghe qua thì giản đơn, nhưng để tạo ra một bức tượng không dễ chút nào, đòi hỏi người thợ phải có trí tưởng tượng, sức bền bỉ, lòng kiên trì và niềm đam mê sáng tạo. Anh Lê Văn Thảo, công nhân kỹ thuật (Quảng Ninh) chia sẻ: “Đúc tượng là một quá trình làm việc vất vả với những kỹ thuật phức tạp, lắm công phu. Lúc đầu về đây làm rất khó khăn, nhưng nhờ sự tận tình hướng dẫn các thao tác tôi đã dần quen và thành thục.

Trong ngôi nhà khang trang giữa làng, chúng tôi nhãn mãn chiêm ngưỡng tượng Bác Hồ ken chặt kín, phong phú đủ loại nhỏ to, chất liệu. Hình tượng Bác trong các tác phẩm điêu khắc luôn hiện lên vẻ mềm mại và sống động lạ thường.  Anh Long cho biết: Đúc tượng chân dung là một lĩnh vực rất khó vì chân dung mỗi người có một hình dáng khác nhau, nhất là khi đúc chân dung vị cha già của dân tộc thì đòi hỏi người nghệ nhân phải thổi được hồn để tạo lên một sản phẩm tượng đồng giống như thật người bên ngoài. Được biết trong tháng 7 tới, khoảng 500 pho tượng Bác Hồ của gia đình bà Nguyệt được hoàn thiện giao cho Bộ Quốc Phòng hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Bức tượng Bác Hồ không chỉ thể hiện sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật đúc đồng nơi đây đạt độ tinh sảo độc đáo, giầu tính nghệ thuật mà còn bày tỏ niềm tôn kính, tình yêu thiêng liêng dành trọn của những người thợ đúc đồng Lương Tài với Bác.

Bài: Đông Bích – Mạnh Tiến

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo lời Bác là tâm nguyện suốt đời”

Chân thành, cởi mở và không ngại khó khăn, luôn có cách làm sáng tạo, hiệu quả trong mọi phong trào- đó là hình ảnh người cựu TNXP, cựu chiến binh Nguyễn Thanh Khiết, 62 tuổi, thôn Tử Nê (Minh Đạo, Tiên Du). Ông là tấm gương tiêu biểu tích cực trong cuộc vận động “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình ảnh bộ đội cụ Hồ “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” trong bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao đã gieo vào tâm trí chàng thanh niên trẻ Nguyễn Thanh Khiết một hình tượng lý tưởng thúc giục ông làm đơn tình nguyện nhập ngũ năm 1965. Không đủ sức khỏe ông quay sang làm đơn cùng hơn 200 thanh niên của quê hương Tiên Sơn lên đường vào đơn vị TNXP Quyết Thắng, tham gia làm các con đường giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường đi cầu Treo, cầu Cài, đường ngầm Cầu Lường, đường xuống các bến phà Bố Hạ, Lục Nam (Bắc Giang), Đáp Cầu và Cầu Phao… Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, chàng TNXP Nguyễn Thanh Khiết hồi đó đã cùng đồng đội quyết tâm “sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”. Sau đó, ông được đơn vị cử đi học tại trường THCN Đường sắt 3 năm. Đúng dịp chuẩn bị nhận công tác mới, có đơn vị bộ đội về tuyển quân, ông lại làm đơn tình nguyện, xung phong đi bộ đội và huấn luyện tại Đoàn 4, Bộ Tư lệnh thông tin.

Qua hơn 20 năm quân ngũ ở cương vị nào ông cũng tâm niệm lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ đối với TNXP: “Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ông được tham dự Đại hội Đoàn toàn quân lần thứ 3 ở Hà Nội, được vào Phủ Chủ tịch, được nghe đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác Hồ) kể những mẩu chuyện xúc động về Bác.

Mang tinh thần của TNXP và bộ đội cụ Hồ ông trở về quê hương, gia đình và tham gia công tác xã hội. Nghỉ hưu được 20 năm thì 19 năm tham gia công tác tại địa phương, ông cùng vợ con tăng gia sản xuất, làm thêm nghề phụ, từng bước đưa cuộc sống gia đình ổn định và phát triển. Vẫn phong thái trẻ trung và lòng nhiệt huyết với các phong trào, người TNXP năm xưa nay là Phó Chủ tịch Hội cựu TNXP huyện Tiên Du, Chủ tịch Hội CCB xã Minh Đạo với bao thành tích đáng nể. Đặc biệt ông đã đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lan tỏa trong quần chúng.

Bản thân ông đã nhận thức được tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác, luôn kính trọng và ghi nhớ công ơn to lớn của Bác đối với dân tộc. “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là biện pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, giữ vững lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng”.- ông Khiết chia sẻ. Ông đã dành nhiều thời gian, công sức sưu tầm, tìm hiểu các câu chuyện về Bác, ra tận Bảo tàng Hồ Chí Minh để xin tư liệu, lựa chọn những câu chuyện mà mình ấn tượng nhất để xây dựng đề cương, tích cực luyện tập kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác. Bằng tình cảm tha thiết và kính trọng của mình, ông dự thi ở các cấp đều đạt giải cao: Giải nhất cụm 38, Nhất huyện Tiên Du, Nhất tỉnh Bắc Ninh và giải 3 khu vực I các tỉnh phía Bắc tại vòng thi sơ khảo toàn quốc, mang niềm vinh dự tự hào cho quê hương. Đặc biệt, năm 2009 vừa qua, ông vinh dự là đại biểu tham dự Hội nghị đại biểu cựu TNXP tiên tiến toàn quốc, Đại hội thi đua CCB gương mẫu toàn quốc lần thứ 5… Ông đã được Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, hội khen thưởng, ghi nhận có nhiều thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua nhiều năm liền.

Nay tuổi đã ngoài 60, với cương vị Chủ tịch Hội nhiều năm liền, ông Khiết đã cùng tập thể chăm lo xây dựng Hội vững mạnh, đi đầu trong các phong trào VHVN-TDTT của địa phương cũng như tham gia các cuộc vận động ủng hộ nghĩa tình như quỹ “Vì người nghèo”, quỹ khuyến học, ủng hộ hội viên CCB có hoàn cảnh khó khăn… “Tôi luôn tự nhủ, khi nào còn sức lực, còn trí tuệ thì còn cống hiến, vì học tập và làm theo gương Bác là tâm nguyện suốt đời tôi”.

Bài: Thu Huyền

baobacninh.com.vn

Tư tưởng Bác Hồ về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

TQĐT – Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2009, cán bộ, đảng viên, công chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị – xã hội triển khai học tập chuyên đề: “Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Bác Hồ dạy: “Làm cán bộ, tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”.
Ảnh chụp Bác tại Đại hội II của Đảng (2-1951)

Nói về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam, Bác Hồ chỉ rõ: Mỗi người đều phải tuân theo đạo đức công dân. Đạo đức công dân, theo Bác là hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ Tổ quốc, cần, kiệm xây dựng nước nhà… Người nói, mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước. Nước là của dân và dân là chủ của nước. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm công dân trước hết và bao trùm nhất là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân.

Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Người yêu cầu, vừa phải thực hiện đạo đức công dân, vừa thực hiện đạo đức của người cán bộ – đạo đức cách mạng, nghĩa là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”. Xuất phát từ quan niệm “dân là chủ và dân làm chủ”; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Chính phủ, cán bộ, công chức nhà nước là công bộc của dân, phải nêu cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân. Trong bức thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945 Bác viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đày tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.

Với cán bộ, đảng viên, cần nhận thức rõ, nêu cao ý thức trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là mục đích và bản chất của Đảng. Bác Hồ đã khẳng định, Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc. Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc; đại biểu cho lợi ích giai cấp và dân tộc. Đảng lấy dân làm gốc. Đảng cầm quyền, nhưng dân làm chủ. Đảng cầm quyền là để bảo đảm cho dân làm chủ. Người dân uỷ thác quyền lực đó cho những chức danh cụ thể, kể cả chức vụ Chủ tịch nước. Trong buổi gặp các nhà báo đầu năm 1946, Bác Hồ đã tuyên bố: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm…”.

Cán bộ, đảng viên, công chức phải phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vì theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng là do nhân dân tiến hành. Nhân dân là người làm ra lịch sử. Sức mạnh của nhân dân là vô địch. Không có nhân dân, Đảng, Chính phủ không có lực lượng. Có dân là có tất cả: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trước hết, về ý thức trách nhiệm, theo Bác Hồ, đó là thể hiện trong mối quan hệ với nhiệm vụ được giao, với công việc phải làm. Khi được giao việc gì, bất kỳ to, hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải dồn hết tâm huyết làm đến nơi, đến chốn, tự giác làm. Nếu làm việc theo lối cẩu thả, dễ làm, khó bỏ, làm cho qua chuyện, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Ý thức trách nhiệm còn thể hiện không thụ động, trông chờ, ỷ nại; phải chủ động nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên, Đảng, Chính phủ đề ra đường lối, chính sách; cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần… Từ đó, căn cứ tình hình thực tế đơn vị, địa phương mình rồi đặt ra kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực; tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thi đua thực hiện. Đồng thời, phải bàn với dân, hỏi han, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình, “Phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân”.

Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là mọi người đều phải có trách nhiệm với Đất nước – Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân có mối quan hệ máu thịt, theo nghĩa “đồng bào”. Thế nên, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Và phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, xác định vì nhân dân mà làm việc: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”. Bác Hồ đã nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Phục vụ nhân dân là phải “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Phục vụ nhân dân theo tư tưởng Bác Hồ là hướng dẫn nhân dân tự chăm lo đời sống của chình mình (hướng dẫn tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…); là đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn vì lợi ích của nhân dân (hợp lòng dân). Bác đã căn dặn, việc to, việc nhỏ đều phải phù hợp với lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, thì mới có thể phục vụ được quần chúng, “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa…”. Phụng sự, phục vụ nhân dân phải luôn luôn thấu triệt cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân. Bác Hồ đã dạy: “Làm cán bộ, tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi học suốt đời mới thuộc được”. Làm đày tớ thì phải học dân, hỏi dân, hiểu dân. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, Đảng và dân tộc là trên hết, là mục đích cao cả nhất, đó là trách nhiệm của một người dân mất nước, khi nước nhà chưa giành được độc lập, tự do. Vì vậy, Người xác định trách nhiệm: “Riêng phần tôi, xin đem hết toàn lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”. Đó là tấm gương suốt đời, tất cả vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc, lợi dân”. Trước khi “từ biệt thế giới này”, đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin, Bác viết trong bản Di chúc: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân hết sức rộng lớn và sâu sắc. Trước hết là ở nhận thức về Tổ quốc, về nhân dân, về vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, công chức. Dân là chủ, là gốc của nước. Cán bộ là công bộc, là đày tớ của dân. Phục vụ nhân dân là nhiệm vụ của mọi cán bộ, công chức, là gốc của mọi công việc. Đó cũng là những vấn đề cốt lõi của việc nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tấm gương đạo đức Bác Hồ kính yêu.

Phan Nguyễn

baotuyenquang.com.vn

Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…

Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng.

Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hoà mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

* Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đó là:

Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

T.S

(Theo Ban Tuyên giáo Trung ương)

baobacninh.com.vn

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, đó là kết quả phấn đấu vươn lên không ngừng của toàn Đảng bộ và nhân dân Đông Cứu trong nhiều năm qua.

Để có thành tích này, ngay từ khi triển khai Chỉ thị 06-CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng uỷ đã xây dựng kế hoạch thành lập Ban chỉ đạo xã cũng như Ban chỉ đạo của 10 Chi bộ cơ sở, xây dựng chương trình hành động thực hiện các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức học tập, quán triệt các chuyên đề về tấm gương đạo đức của Bác cho toàn Đảng bộ và các đoàn thể nhân dân. Trên cơ sở học tập, thảo luận, xây dựng các tiêu chí cụ thể cho cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên.

Từ ngày triển khai cuộc vận động đến nay, Đông Cứu được đánh giá là một đơn vị điển hình tiên tiến trong việc triển khai sâu rộng cuộc vận động và thực hiện làm theo có hiệu quả thiết thực. Ở mỗi chuyên đề từng cán bộ, đảng viên đều có những chương trình hành động cụ thể cho bản thân cũng như gia đình mình làm theo Bác, thực hiện theo chương trình viết thu hoạch, kiểm điểm ở từng đơn vị gắn với nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên đi đầu gương mẫu trong mọi hoạt động xã hội ở nông thôn, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, đó là nền tảng tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Đông Cứu khéo kết hợp cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 6 nội dung cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa được cụ thể hóa thành các giá trị chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng tạo sự lan tỏa rộng khắp thành phong trào xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế: tốc độ tăng trưởng hàng năm là 12%, hoàn thành dồn điền đổi thửa ở 6/6 cơ sở, tạo năng lực mới cho sản xuất, năng suất lúa ổn định 64 tạ/ha/vụ, hệ số sử dụng đất là 2.5  lần. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, ổn định đàn gia cầm 40.000 con/năm, là địa phương có nhiều mô hình chăn nuôi gia cầm năng động, cung cấp con giống cho nông dân trong vùng. Toàn xã có 31,4 ha chăn nuôi thuỷ sản theo mô hình trang trại cho hiệu quả kinh tế cao, có 29 ha rừng cảnh quan rừng đã được phủ xanh. Đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, ai giỏi nghề gì làm nghề đó, thu hút 16,6% lao động nông nghiệp làm ngành nghề phụ tạo thu nhập cao. Xã không còn hộ đói, hộ nghèo chỉ còn dưới 10% theo tiêu chuẩn mới. 100% các thôn có đường bê tông, có hệ thống điện chiếu sáng ban đêm, có tổ vệ sinh môi trường hoạt động nền nếp.

Trường học đạt chuẩn quốc gia ở cả 3 khối lớp, xã-thôn có quỹ khuyến học, nhiều dòng họ có quỹ khuyến học. Hàng năm vào năm học mới xã tổ chức phát thưởng cho các thầy cô giáo và các học sinh đạt loại giỏi cấp huyện, tỉnh cũng như tổ chức tốt lễ dâng hương tại đền Thái sư Lê Văn Thịnh để phát huy truyền thống hiếu học. Địa phương không có trẻ em bỏ học, trẻ em mắc tệ nạn xã hội, 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, liên tục từ năm 2005 đến nay trường Mầm non, trường Trung học cơ sở đạt tiên tiến xuất sắc.

Tỉ lệ sinh con thứ 3 ngày càng giảm, chất lượng dân số ngày càng tăng, tỉ lệ phát triển dân số hàng năm là 0,7%. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, cộng tác viên dân số, y tế ở thôn làm tốt công tác tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nên ở Đông Cứu chưa hề xảy ra dịch bệnh.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa và các hoạt động xã hội nhân đạo ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% hộ gia đình chính sách có cuộc sống ổn định, hộ nghèo được quan tâm hỗ trợ vốn học nghề cũng như về khoa học kỹ thuật giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh chính trị ở Đông Cứu thực sự có bước phát triển bền vững, các vụ vi phạm trên địa bàn đều được giải quyết dứt điểm đúng thẩm quyền. Đã xử lý 151 vụ, lập hồ sơ giáo dục tại cộng đồng 14 đối tượng, đưa đi cai nghiện tập trung 8 đối tượng, xây dựng 2 mô hình điểm phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở Bảo Tháp và Cứu Sơn. Công an xã liên tục nhiều năm đạt đơn vị Quyết thắng.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ nên xã không có khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp. Các mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng đều được hoà giải thành ở cơ sở thôn xóm, số việc chuyển lên xã trong 4 năm qua đã hòa giải thành 20/24 việc; án dân sự chuyển giao về xã hoàn thành 100% số việc.

Kinh tế phát triển, an ninh nông thôn ổn định bền vững là tiền đề quan trọng nâng cao chất lượng đời sống văn hóa xây dựng nông thôn mới. Việc cưới, việc tang, tân gia, mừng thọ và lễ hội thực sự theo đúng quy ước thôn làng, đúng theo lời dạy tiết kiệm của Bác. Cán bộ đảng viên thật sự gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước. Các thiết chế văn hóa ở Đông Cứu ngày càng được tăng cường, 100% khu dân cư đều có nhà sinh hoạt cộng đồng, có hệ thống loa truyền thanh thôn xã cũng như có nhiều loại hình câu lạc bộ cùng nhóm sở thích, 6/6 thôn đều có đội bóng đá thiếu niên. Toàn xã có 90% số hộ đạt chuẩn văn hóa, 5/6 đạt Làng văn hóa.

Nhờ xác định tốt phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt nên từ khi triển khai cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng bộ xã Đông Cứu luôn đạt Trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Đó chính là kết quả của sự sáng tạo, gắn bó hữu cơ giữa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Lê Ba

baobacninh.com.vn

Ngành Y tế học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL - suckhoedoisong.vn

Ngày 27-2-1955, Bác Hồ gửi thư cho Hội nghị cán bộ ngành y tế toàn quốc, thư Bác là lời căn dặn, động viên toàn thể cán bộ ngành y tế vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

Trong thư Người đề xuất những tư tưởng, quan điểm về sức khỏe, chỉ đạo xây dựng và định hướng phát triển ngành y tế Việt Nam. Người nhắc nhở: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”, đồng thời Người cũng dặn dò “Những chiến sỹ y tá phải có chí, chịu khổ, chịu khó, phải giàu lòng bác ái, hy sinh”. Theo Người, nhân ái hay bác ái là nét nổi bật trong nhân cách người thầy thuốc, một nền y học tiến bộ phải tồn tại trên lòng nhân ái.

Thấm nhuần tư tưởng và quan điểm chỉ đạo của Người, 56 năm qua các thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã góp phần công sức của mình vào sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải nỗ lực phấn đấu, học tập vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngành y tế cả nước cũng như ngành y tế Bắc Ninh đang từng ngày, từng giờ phấn đấu vươn lên đưa kiến thức khoa học và kỹ thuật, công nghệ mới vào áp dụng tại các đơn vị để làm tốt hơn công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Năm 2010, ngành y tế Bắc Ninh đã làm tốt công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh một cách có hiệu quả, nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được khống chế và đẩy lùi; ngành y tế đã triển khai các biện pháp dự phòng tích cực, thiết lập, duy trì hệ thống giám sát và xử lý kịp thời dịch bệnh. Công tác kiểm tra VSATTP được tăng cường từ tỉnh đến cơ sở, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 98%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 17%. Các trạm y tế cơ sở được củng cố, 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế và có bác sỹ công tác.

Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên một bước, tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 20,5. Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh được đầu tư xây dựng với quy mô 1000 giường và được đầu tư trang thiết bị hiện đại như máy CT-Scanner, hệ thống chạy thận nhân tạo, máy tán sỏi ngoài cơ thể, các trang thiết bị của dự án ODA Tây Ban Nha…; đã được Bộ Y tế quyết định là Bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Bạch Mai. Các Bệnh viện tuyến Trung ương đã chuyển giao nhiều kỹ thuật mới cho BVĐK tỉnh và các bệnh viện chuyên khoa theo đề án 1816…

Hệ thống dân số- KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ KHHGĐ đến 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 11,5%o.

Năm 2011, ngành tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm: Dự phòng chủ động, giám sát dịch chặt chẽ, khống chế dập dịch và điều trị kịp thời, không để dịch lan rộng và người mắc bệnh dịch tử vong. Tiêm chủng đầy đủ miễn dịch cơ bản cho trẻ đạt trên 98%.

Xây dựng chiến lược Dân số giai đoạn 2011-2020, phấn đấu đạt tỷ lệ giảm sinh 0,3%o, nâng cao chất lượng dân số, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trên 1%, giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh. Triển khai thực hiện chuẩn quốc gia y tế giai đoạn 2011-2020, kiên cố hóa trạm y tế xã, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra.

Tiếp tục thực hiện quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020, đưa ngành y tế Bắc Ninh đáp ứng nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe ngày càng cao của người dân. Hoàn thành tiếp nhận viện trợ ODA trang thiết bị của chính phủ Tây Ban Nha cho BVĐK tỉnh, triển khai dự án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế” do EU tài trợ. Đẩy mạnh công tác VSATTP, tăng cường truyền thông phối hợp liên ngành, tập huấn, giám sát, thanh kiểm tra không để các vụ ngộ độc lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Công tác bảo vệ sức khỏe lao động – môi trường được chú trọng, thực hiện việc kiểm tra giám sát môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp, tiến tới quản lý sức khỏe người lao động trong đó có sức khỏe lao động y tế. Tiếp tục tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị các BVĐK huyện, BVĐK tỉnh, BV Lao và bệnh phổi, BV Tâm thần. Đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ chuyên môn, đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện Nghị định 43 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn, giao quyền tự chủ cho các đơn vị, chuẩn hóa công tác xây dựng kế hoạch (việc, người, tiền), tăng cường quản lý chất lượng bệnh viện và các đơn vị, đáp ứng nhu cầu cung ứng dịch vụ của người dân.

Thực hiện nghiêm Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo cung ứng thuốc, hóa chất, vật tư kịp thời với chất lượng và giá cả phù hợp. Triển khai thực hiện Luật KCB ở các đơn vị công lập và ngoài công lập, đẩy mạnh xã hội hóa công tác y tế, tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển.

Thực hiện công tác thi đua khen thưởng, biểu dương gương người tốt tại đơn vị, học tập và làm theo ở đơn vị, cần phân công nhiệm vụ cụ thể đến từng người lao động, căn cứ vào mức độ hoàn thành của từng người mà đánh giá việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức người thầy thuốc, quy tắc ứng xử của ngành.

Đào tạo cán bộ chuyên khoa, chuyên ngành, chuyên sâu, đào tạo tại tỉnh, đào tạo tại các đơn vị trung ương, chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816, việc sử dụng cán bộ chuyên môn hợp lý sau đào tạo, cải thiện môi trường làm việc cho người lao động, phấn đấu tăng thu nhập, thực hiện công bằng, công khai, dân chủ, tăng cường giám sát, kiểm tra, kịp thời điều chỉnh phát sinh tại các đơn vị.

Bước sang năm 2011, năm đầu thực hiện Quy hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2011-2015) của tỉnh và cả nước, cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động ngành y tế tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, giữ vững đạo đức người thầy thuốc, thực hiện lời dạy của Người “Thầy thuốc như mẹ hiền”.

Nguyễn Phương Thược

baobacninh.com.vn

Đạo đức người cán bộ cách mạng trong tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh

(HNMO) – Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Bộ Chính trị có Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các ngành, các cấp “Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh…”.

Đạo đức Hồ Chí Minh không phải cái trừu tượng, xa vời, không phải nhất thành bất biến, mà là những biểu hiện trong mỗi lời nói, mỗi việc làm của Người đều hướng tới chân, thiện, mỹ. Đạo đức Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm, mà làm thì phải có hiệu quả, Người cho rằng nếu làm gì cũng không có hiệu quả thì không phải là người có đạo đức. Đạo đức Hồ Chí Minh rất gần gũi, rất cụ thể và mang đầy đủ, sâu sắc giá trị truyền thống, tư tưởng tôn giáo.

Chẳng hạn, tư tưởng của Nho giáo, là tam cương ngũ thường. Tam cương là tôn trọng ba mối quan hệ (ba Đạo: Quân, Sư, Phụ). Quan hệ Quân là Vua (là quan hệ Nhà nước, cấp trên với cấp dưới), Sư là Thầy (là quan hệ nhà trường, quan hệ học trò với thầy cô giáo), Phụ là cha mẹ (là quan hệ gia đình, vợ với chồng và cha mẹ với con cái); ngũ thường là năm cái con người có phải giữ cho nó làm thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Nhân là lòng thương yêu, từ thiện; Nghĩa là làm những việc nên làm, có đạo lý; Lễ là sự tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người, tuân thủ các quy tắc xã hội, pháp luật; Trí là khôn ngoan, sáng suốt, cảm giác được đúng, sai trong hoạt động; Tín là giữ đúng lời, đáng tin cậy. Đồng thời Đạo của người quân tử (cán bộ hiện nay) từng bước phải theo là: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; người quân tử luôn phải giữ đúng mực, không thái quá, không bất cập trong mọi hành động và thái độ xử thế.

Tư tưởng Phật giáo, là lòng từ, bi, hỷ, xả, thương xót đồng loại và cả chúng sinh. Từ là làm để cho người khác có niềm vui; Bi là trừ đi sự đau khổ của người khác; Hỷ là luôn vui vẻ trong công việc của mình; Xả là không chờ đợi để hưởng lợi riêng về những việc đã mang lại cho người.

Tư tưởng Lão giáo, biết bằng suy tưởng bằng tâm linh, gần gũi với quy luật thiên nhiên và hướng về con người, quên đi cái ta tầm thường nhỏ bé. Những quy luật thiên nhiên đại thể rất gần với khoa học tự nhiên, như là luật nhân quả, luật bảo tồn vật chất và chuyển hóa năng lượng. Qua đó con người không còn sợ mất mát, cũng không còn sợ chết và trở nên dũng cảm khi làm những việc ích lợi cho cộng đồng.

Tư tưởng Thiên Chúa giáo, là công bình, bác ái. Công bình trong tương giao giữa cá nhân với cá nhân; công bình trong pháp lý giữa cấp trên và cấp dưới; công bình trong xã hội là điều hòa các mối quan hệ trong xã hội. Bác ái là phân biệt được công bình để từ tâm yêu thương, giúp đỡ đồng loại.

Chủ tịch Hồ chí Minh yêu cầu đạo đức người cán bộ cách mạng phải “trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng”. Người cho rằng “Mỗi đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân…làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Theo đó thì đày tớ của dân không phải cha mẹ dân, chỉ là kẻ làm công, lấy tiền thuê của nhân dân mà thôi. Có lẽ vì vậy mà sinh thời Hồ Chủ tịch thường dùng hai chữ “công bộc” để nhắc cho mỗi cán bộ hiểu được chức vụ của mình. Người rất coi trọng việc xây dựng đạo đức cách mạng, trong đó nhấn mạnh việc ngăn ngừa vi phạm đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Vì cán bộ lãnh đạo phạm sai lầm thì sẽ dẫn đến hậu quả rất nặng nề, những sai lầm đó là: “Trái phép… vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán. Cậy thế… quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân. Hủ hóa: ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ… thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Tư túng kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu của mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ, người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài… Chia rẽ: bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận nhau. Kiêu ngạo: lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”. Nên để rèn luyện tu dưỡng đạo đức người cán bộ, Bác rất chú trọng việc “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người cho rằng “chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Nó là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh…”. Vì vậy Bác dạy rằng “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Hồ Chủ tịch rất coi trọng công tác xây dựng cán bộ, Người cho rằng vấn đề cán bộ là vấn đề “rất trọng yếu, rất cần thiết”, “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”.

Trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những lời căn dặn, dạy bảo phù hợp với lĩnh vực công việc.

Công minh, là công bằng và sáng suốt. Biểu hiện trong thực hành công việc phải công bình với tất cả mọi người, không phân biệt thân, sơ, không tư ý, tư lợi mà luôn nghĩ đến lợi ích chung. Muốn vậy phải hiểu và tuân thủ các quy phạm pháp luật, các quy chuẩn đạo đức xã hội. Khi xét người, xét việc phải đặt mình vào hoàn cảnh của người để xét và phải có lòng khoan dung để phân biệt rõ ràng thực, hư để hành động cho sáng suốt.

Chính trực, là có tính ngay thẳng. Chính là quan trọng, đích xác, trái với tà ngụy, không thành thực. Yêu cầu của chính trực là phải thiện lương, thật thà, luôn hướng về những điều phù hợp đạo lý, lòng luôn hướng về nhân nghĩa, tuân thủ pháp luật. Trong thực hành công việc phải chân thành, chính xác, kịp thời, đồng thời phải có tính mềm dẻo không a dua, xu phụ (theo hùa), không gay gắt nghiêm ngặt quá. Nếu vì tư ý mà thành kiến, thiên lệch sự thật, che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến điều quần chúng oán ghét thì không phải là chính trực.

Khách quan, là cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí con người. Như vậy khi thực hành công việc phải xem xét, nhận thức sự vật, hiện tượng với tính cách là cái tồn tại ở ngoài ý thức chủ quan của con người, phải xem xét đúng như nó vốn có trong thực tế. Muốn vậy đòi hỏi phải phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật, nỗ lực chủ quan trong việc tìm ra những phương pháp tư duy và hoạt động thực tiễn để từng bước thâm nhập vào bản chất sự vật.

Thận trọng, là đắn đo, suy tính cẩn thận trong hành động để tránh sai sót. Yêu cầu của thận trọng là sáng suốt để phân biệt phải trái, nghiêm túc trong công việc, thận trọng mà mau mắn trong hành động. Phải xem xét khách quan và nhận thức bao quát toàn diện tất cả các mặt, các yếu tố trong các mối liên hệ của người, của việc để tìm ra bản chất; phải tìm ra được những nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh của sự vật, hiện tượng, tìm những mâu thuẫn để giải quyết, không suy diễn thuần túy.

Khiêm tốn, là nhã nhặn, không khoe khoang, có thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không cho mình là hơn người. Khiêm tốn yêu cầu phải biết trọng phẩm giá, phân biệt rõ được sự khen, sự chê, không dùng quyền thế để khinh mạn, hách dịch, đè nén người, không dùng kiến thức để dối trá người. Luôn cầu thị và tích cực học hỏi, rèn luyện phẩm chất đạo đức bản thân và hòa đồng với mọi người.

Trong tình hình hiện nay, cán bộ, đảng viên học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mang lại giá trị rất lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và sự nghiệp đổi mới đất nước. Cán bộ có những đức tính Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn là người trong hoạt động thực tiễn thể hiện được sự phấn đấu, nghị lực tinh thần vượt khó, hết lòng phục vụ nhân dân, có lòng nhân ái, khoan dung nhân hậu với con người, là người cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Những đức tính Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn là phẩm chất, là cụ thể hóa đạo đức người cán bộ cách mạng.

Nguyễn Văn (Viện KSND Tối cao)

hanoimoi.com.vn