Tag Archive | Tập 4 (1945 -1946)

Thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ Hồng quân với Liên Xô

Anh chị em yêu quý,

Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ǎn, có mặc, có học.

Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là:

1. Tǎng gia sản xuất.

2. Chống nạn mù chữ.

Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền vǎn hoá sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tǎm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em.

Tôi mong rằng trong một thời kỳ rất ngắn, lòng hǎng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang, đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.

Tôi lại mong rằng đồng bào các nơi ra sức giúp cho anh chị em bình dân học vụ trong công việc giáo dục đó.

Tôi gửi lời chào thân ái và chúc anh chị em thành công.

Hồ Chí Minh

Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Thư gửi Liên đoàn Công giáo và Nhà Dục anh Công giáo Thái Bình

Ngày 28 tháng 4 nǎm 1946 tôi về dự lễ lạc thành đê Hưng Nhân, đồng bào Thái Bình tặng cho tôi nhiều vật kỷ niệm quý báu như:

– Củ khoai, trái bí to nhất trong tỉnh,

– Vở học của một em bé trong bình dân học vụ,

– Nước mắm làm bằng tôm,

– Chiếu và vải tự tay chị em phụ nữ dệt,

– Khǎn tay của thiếu nữ Tiền phong thêu,

– Quyển sổ vàng của anh em công chức Thái Bình,

– Bài thơ của Vǎn hoá Công giáo Thái Bình.

Trong các vật kỷ niệm, cái khung ảnh bằng lụa, do Nhà Dục anh Công giáo thêu, và Liên đoàn Công giáo biếu tôi, làm cho tôi đặc biệt cảm động.

Các bà phước ngày đêm chǎm nuôi các trẻ em đã rất khó nhọc, thế mà còn bớt thì giờ để thêu cái khung ảnh rất đẹp. Tôi trông thấy trong mỗi đường kim, trong mỗi mối chỉ, đã thấm thía bao nhiêu cái tinh thần yêu mến giữa đồng bào công giáo với tôi. Do đó, chúng ta đủ thấy rằng: Đồng bào ta không chia lương giáo, ai cũng tương ái, tương thân, đoàn kết chặt chẽ thành một khối.

Tôi cảm ơn và xin chúc toàn thể đồng bào công giáo luôn luôn mạnh khoẻ, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Chúa Trời.

Lời chào thân ái
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 236, ngày 10-5-1946
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Đô đốc Đácgiǎngliơ

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kính gửi Thượng sứ,

Quốc hội Việt Nam cùng Chính phủ Việt Nam rất lấy làm cảm động về sự đón tiếp niềm nở phái đoàn Quốc hội Việt Nam. Xin ngài chuyển lời cảm ơn trên này về Chính phủ Pháp và ao ước rằng những cuộc thương thuyết sau này tại Pari cũng sẽ thân mật như thế để mưu sự thịnh vượng chung cho cả hai dân tộc.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 239, ngày 14-5-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử: Sức khỏe và thể dục

Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khǎn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha Thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập.

Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp tác chiến

Phép dụng binh.

Phép dụng binh, mỗi thời mỗi khác. Về thời cổ, theo Tôn Tử phải huy động “Nghìn chiến xa chạy thật nhanh dùng vào việc đánh phá. Phụ vào những chiến xa đó, phải có nghìn chiến xa bọc da dùng vào việc phòng ngự. Lại thêm mười vạn quân mặc áo giáp, đội mũ sơn và có đủ vũ khí”.

Đã động viên một số quân đội lớn như thế, còn phải lo tính việc chở lương thực và các chiến phí khác, nên Tôn Tử nói:

“Muốn điều động đại đội binh mã đi đánh phương xa, phải lo tính làm sao chở được lương thực ra ngoài chiến trường cách xa nghìn dặm, phải trù liệu mọi thứ chiến phí khác để chi về việc chiến tranh ở trong nước cũng như ở ngoài nước; về việc tiếp đãi ngoại giao, đại sứ, về việc thuê các gián điệp, về việc sắm các vật liệu, chế tạo vũ khí, chiến xa… Tính ra mỗi ngày phải tiêu đến hàng vạn triệu”.

Đời xưa bài binh bố trận cũng dùng chiến xa làm động lực chính. Những chiến xa đó có thể coi như đội cơ giới lớn ngày nay. Trong hồi chiến tranh trước và mới rồi, không nước nào không cố sức tổ chức đội cơ giới hoá có đủ các thứ chiến xa như xe tǎng, xe bọc sắt, xe hơi, xe tải, súng đại bác, v.v. để tǎng gia lực lượng đánh phá, chuyển vận, phòng giữ cho có hiệu quả.

Các chiến phí rất quan hệ đến sự thắng bại của chiến tranh. Quân đội với chiến phí bao giờ cũng đi đôi với nhau. Quân đội tinh nhuệ, nhưng thiếu chiến phí cũng thành quân đội hèn yếu. Chiến phí không biết thế nào gọi là đủ được. Phải do chiến tranh lâu hay chóng, quân đội nhiều hay ít, chiến trường xa hay gần mới có thể tạm thời quyết định được chiến phí.

Chiến phí ấy lấy ở đâu? Phải lấy ở dân chúng bằng cách đánh thuế, trưng thu, tịch thu… Có khi chiến tranh kéo dài, dân chúng phải tiết kiệm ǎn, mặc, phải nộp cả khí cụ bằng kim khí để đúc súng, chế đạn. Vậy trước khi tham dự chiến tranh, phải lo cung cấp chiến phí cho đầy đủ mới mong chiến thắng được quân thù.

Phải đánh thật nhanh để thắng nhanh.

Về vấn đề này, Tôn Tử nói: “Chiến tranh cần phải giải quyết thật nhanh chóng, sớm ngày nào hay ngày ấy. Kéo dài ra chỉ làm hao binh, tổn tướng, mất nhuệ khí chiến đấu, làm tài nguyên của quốc gia bị kiệt quệ, nhân dân điêu đứng”.

Thật vậy, chiến tranh càng kéo dài, càng bất lợi chẳng những quốc gia bị hãm vào vòng suy nhược, các nước khác lại nhân cơ hội dòm ngó hoặc gây chiến để cướp đất đai hoặc uy hiếp bắt phải nhượng bộ về phương diện này hay phương diện khác.

Vì vậy Tôn Tử khuyên: “Đã dự chiến tranh, phải tập trung hết thảy lực lượng, bày hết mưu kế thắng nhanh được quân thù mới có lợi. Trái lại, không xét tương lai, không xem tình thế để đến nỗi chiến tranh kéo dài sẽ xảy ra vạn sự không hay”.

Bất đắc dĩ mới phải gây ra chiến tranh. Vậy một khi đã dự chiến tranh không sao tránh khỏi được sự hao tổn. Muốn giảm sự hao tổn đó, phải giải quyết chiến tranh một cách thật mau chóng. Trong chiến lược của Nã Phá Luân 1 có nói: “Rút một ngày (mười hai giờ) thành mười giờ để mà tiến quân và tác chiến rồi sau sẽ nghỉ ngơi”. Chiến lược này cũng giống như chiến lược của Tôn Tử nghĩa là phải đánh mạnh như vũ bão, nhanh như chớp nhoáng. Một nhà danh tướng về hải quân là Nensông (Nelson) cũng có nói: “Giờ phút là đồng chí yêu quý của ta. Ta nên quý trọng người đồng chí ấy hơn những đồng chí khác”. Trong chiến tranh, giờ phút có quan hệ lắm, chỉ sai nhau 5 phút có thể quyết định được thắng bại. Các nhà danh tướng đời trước một khi ra trận, đều đánh thật nhanh, cướp được phút nào hay phút ấy. Thừa được lúc quân địch nhọc mệt, trễ nải không đề phòng, hay bỏ ngỏ một mặt nào, phải quyết đoán, phải dũng cảm tiến đánh cho thật nhanh. Nếu trù trừ, do dự, sẽ mất cơ hội tốt.

Nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu. Phải vừa nhanh vừa có mưu cơ mới quyết định được thắng lợi.

Vậy về binh pháp: bất luận một động tác gì cũng phải nhanh. Hành quân nhanh, đánh trận nhanh, súng bắn nhanh, càng nhanh càng có lợi. Trong tất cả các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều có thể tuỳ lúc, tuỳ nơi mà lợi dụng, nhưng điều kiện thời gian, điều kiện nhanh chóng vẫn là quan trọng hơn hết.

Tôn Tử rất chú ý đến điều kiện này, nên thường nhắc đi nhắc lại luôn. Để kết luận, Tôn Tử nói:

“Tự xưa đến nay, không thấy chiến tranh kéo dài mà có lợi cho quốc gia bao giờ”.

Như thế là có ý nói chỉ đánh thật nhanh để quyết thắng mau chóng mới có lợi mà thôi. Về lợi hại cho quốc gia, Tôn Tử nói:

“Người nào không hiểu rõ chỗ hại của phép dùng binh, không thể hiểu rõ được chỗ lợi của phép đó được”.

Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy.

Q.Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 242, ngày 17-5-1946.
cpv.org.vn

Nói chuyện với phóng viên hãng A.F.P sau Hội nghị trù bị Đà Lạt

Một cách trung thực, thành thực và đôi khi tàn bạo, đại biểu của hai nước đã nói rõ lập trường của mình, đó là một phương pháp hay vì như vậy, bây giờ chúng ta hiểu nhau hơn trước. Về một vài điểm, hai bên đã thoả thuận. Vẫn còn có những sự bất đồng ý kiến. Nhưng cuộc hội nghị này chỉ là một cuộc hội nghị trù bị. Nhiệm vụ của cuộc hội nghị Ba Lê là chuẩn y sự thoả hiệp thực hiện ở Đà Lạt và dung hoà các quan điểm xung đột nhau. Các cuộc xung đột ý kiến không đến nỗi không giải quyết được. Hai dân tộc phải thoả thuận với nhau để thực hiện một cuộc hợp tác thân thiện. Chúng ta đã đặt một nền tảng chắc chắn cho các cuộc đàm phán sau này.

Nói ngày 19-5-1946.

Báo Cứu quốc, số 245, ngày 21-5-1946.
cpv.org.vn

Lời cǎn dặn anh chị em giáo viên bình dân học vụ(1)

Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết.

Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc.

Ngày 20 tháng 5 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.I, tr.90.
cpv.org.vn

—————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Binh pháp Tôn Tử – Muốn biết người phải thế nào?

Biết mình, biết người đánh trǎm trận được trǎm trận. Biết mình như kỳ trước đã nói là phải xem mình đã có đủ những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà, v.v. còn biết người nghĩa là biết tình hình bên địch thì không gì hơn là dùng gián điệp.

a- Sự quan trọng của gián điệp – Tôn Tử nói: “Chi phí hàng vạn hàng triệu về việc quân để chống nhau với địch trong một thời gian lâu dài, mong có ngày được thắng lợi, thế mà tiếc một vài trǎm để chi về việc gián điệp, đến nỗi không biết rõ tình hình bên địch, đành phải chịu thua. Người làm tướng như thế không đủ tư cách làm tướng, không đủ tài giúp chính phủ, không đủ trí thắng được quân địch”.

Thật vậy, không biết rõ quân địch, không thể cướp được thắng lợi một cách chóng vánh. Khi chiến tranh càng kéo dài, dân chúng càng khổ sở, thì thắng trận cũng chẳng thu hoạch được gì mà thua trận thì tai hoạ không sao kể xiết. Không biết rõ tình hình bên địch mà dám khai chiến thời có khác gì đánh bạc với chiến tranh.

Cho nên tướng giỏi, một khi đã dùng binh là cầm chắc được thắng lợi chỉ vì lúc chưa khai chiến đã biết trước được tình hình bên địch.

b- Các thứ gián điệp – Tôn Tử chia ra 5 thứ gián điệp.

1- Hương gián – Hương gián nghĩa là lợi dụng dân chúng bên địch làm gián điệp, rồi theo ngôn ngữ hành động của họ để phán đoán, có thể, lấy cả những bản ráp của những báo chí, thư từ, điện báo đem so sánh với những bản đã chép lại hoặc in ra để xét tình hình bên địch. Những sổ sách, giấy má trong công sở, nhà bưu điện, hãng thông tin… cũng có thể dùng làm tài liệu phán đoán được. Những tin tức đǎng lên báo hay nói miệng nhiều khi có ảnh hưởng rất lớn về quân sự, không thể không chú ý.

2- Nội gián – Mua chuộc bọn quan lại, tướng tá, binh sĩ cùng những người có nǎng lực như học giả, ký giả, các nhà tu hành, các nhà thực nghiệm… để họ báo cáo tình hình bí mật trong nội bộ của bên địch hoặc nhân ngôn ngữ và hành động của họ để phán đoán tình hình.

3- Phản gián – Mua chuộc bọn gián điệp của bên địch biến họ làm gián điệp của mình. Bắt được gián điệp của bên địch, lợi dụng nó báo cáo tình hình thực tế của nước nó cho mình. Hoặc giả vờ không biết nó là gián điệp, hoặc giả bày đặt bằng những mưu kế của mình cho nó biết rồi thả nó ra. Khi về nước, nó sẽ báo cáo những mưu kế ấy với người nước nó làm cho người nước nó tưởng là mưu kế thực.

4- Tử gián – Để cho gián điệp biết chuyện của mình nhưng mà chỉ là chuyện bịa đặt thôi. Rồi phái người gián điệp ấy ngầm sang bên địch hoạt động, một mặt lại bày mưu làm cho bên địch biết người gián điệp đó là của bên mình, tất nhiên người gián điệp đó bị quân địch bắt. Không chịu được tra khảo, gián điệp phải cung xưng cho địch tình hình của bên mình mà hắn đã biết lúc ra đi. Nhưng thực ra tình hình hắn báo cáo đó chỉ là giả dối. Theo lời cung khai này để mưu kế đánh mình, quân địch nhất định bị thua. Ngoài cách ấy lại có thể bảo gián điệp mình làm hướng đạo cho địch để đưa địch vào cạm bẫy. Trong khi chiến đấu, sai sứ sang trá hàng. Địch thấy hàng rồi không phòng bị nữa, mình liền thừa cơ tiến công.

Tất cả những hành động kể trên, quân thù sẽ tự biết bị lừa sau khi chúng đã thất bại. Cách làm gián điệp không có hy vọng sống như thế gọi là tử gián.

5- Sinh gián – Phái người sang bên địch dò xét tình hình để về báo cáo gọi là sinh gián. Tuy gọi là sinh gián nhưng cũng phải coi cái chết như thường mới có thể làm nổi. Phải là người can đảm, nhanh nhẹn, trầm tĩnh, kiên quyết và tinh thông phong tục, tập quán, ngôn ngữ của bên địch. Ngoài ra, còn phải có đủ tri thức về quân sự, về khoa học. Nhất là người nào khéo giả hình giả dạng được càng tốt. Hơn nữa, lợi dụng kế mỹ nhân lại càng đắc lực lắm. Những tay gián điệp này có khi hoạt động ở bên nước địch, có khi hoạt động ở một nước trung lập hay ở ngay chiến trường.

Vậy muốn biết rõ được tình hình bên địch cần phải chǎng lưới gián điệp khắp các ngành hoạt động của nước địch. Chiến tranh ngày nay biến hoá vô cùng. Chiến tranh về quân sự, kinh tế, ngoại giao, khoa học, chính trị và cân não. Mọi sự đều phiền phức, nên công việc gián điệp cũng rất là phiền phức. Lúc bình thời, gián điệp phải xem xét tình hình chính trị, quân sự của nước địch và xúi giục dân chúng nước địch phản đối chính phủ, hoặc nếu có thể, nổi dậy bạo động đánh đổ chính phủ, làm cho nội bộ địch bị phá vỡ. Về mặt chiến thuật, lúc bình thời, phải xem xét quân bị, binh sĩ, khí giới, địa hình của nước địch như thế nào; lúc chiến tranh phải tìm cách phá hoại đường sá, cầu cống, pháo đài hoặc chuẩn bị mọi công tác có lợi cho chiến thuật của nước mình.

Nhiệm vụ của gián điệp thực nặng nề. Làm được nhiệm vụ đó, thắng trận rất dễ dàng.

Q.Th

Báo Cứu quốc, số 248, ngày 24-5-1946
cpv.org.vn

Thư cảm ơn

Tôi trân trọng cảm ơn:

Quốc hội, Chính phủ, các đảng, các đoàn thể, đồng bào Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, đồng bào Công giáo, Phật giáo, Tin lành, các cháu thanh niên và nhi đồng.

Cảm ơn các bạn hữu Tàu, Pháp, Mỹ, Anh đã tỏ lòng quá yêu tôi và chúc mừng ngày sinh nhật tôi.

Nhân dịp này, tôi xin hứa với đồng bào rằng từ đây về sau, cũng như từ đây về trước, tôi sẽ ra sức phấn đấu để giữ gìn quyền tự chủ của nước nhà, quyền tự do của dân tộc, quyền dân chủ của đồng bào.

Tôi xin hứa với bạn hữu các nước rằng tôi sẽ dùng tinh thần lực lượng nhỏ mọn của tôi để giúp vào xây đắp mối thân thiện giữa các dân tộc.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 249, ngày 25-5-1946.
cpv.org.vn

Lời cǎn dặn học viên trong lễ khai trường Trường võ bị Trần Quốc Toản(1)

Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Các anh em cần làm được như lời Tôn Trung Sơn đã nói: “Những người thanh niên tốt muốn làm việc to chứ không muốn làm quan lớn”.

Mong rằng anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: Trung với nước, hiếu với dân.

Nói ngày 26-5-1946.

Báo Cứu quốc, số 250, ngày 27-5-1946
cpv.org.vn

——————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Nói chuyện cùng đồng bào trước khi sang Pháp (1)

Cùng đồng bào yêu quý Trung, Nam, Bắc,

Theo mệnh lệnh của Chính phủ và ý chí của quốc dân, tôi cùng đoàn đại biểu sẽ đi Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức. Trước khi ra đi, tôi xin có mấy lời tỏ cùng đồng bào.

Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân.

Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó.

Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng – cũng vì mục đích đó.

Ngày nay vâng lệnh Chính phủ, theo ý quốc dân, tôi phải xa xôi ngàn dặm, tạm biệt đồng bào, cùng với đoàn đại biểu qua Pháp – cũng vì mục đích đó.

Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân.

Đồng thời, tôi xin nhắc lại rằng, việc nước là việc chung, mỗi một người con Rồng cháu Tiên, bất kỳ già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo, quý tiện, (1) đều phải gánh một phần, đều phải ra sức giúp cho cuộc ngoại giao thắng lợi.

Giúp cách thế nào?

1. Đoàn kết chặt chẽ, tránh mọi sự chia rẽ.

2. Ra sức cần kiệm cho khỏi nạn đói khó.

3. Ra sức gìn giữ trật tự, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ.

4. Đối với các kiều dân hữu bang, phải tử tế ôn hoà.

Làm đúng bốn điều đó, tức là giúp ích cho ngoại giao.

Đồng bào thương tôi, chắc làm theo lời tôi nói.

Nhân dịp này, tôi cũng có vài lời tỏ cùng các bạn người Pháp, người Tàu và các bạn kiều dân khác. Các bạn sống chung chạ với nhân dân Việt Nam, ra vào gặp nhau, no đói có nhau. Vậy nên nhân dân Việt Nam là bằng hữu của các bạn. Đất nước Việt Nam là Tổ quốc thứ hai của các bạn. Các bạn cùng nhân dân Việt Nam phải tương kính tương thân, thành thật hợp tác, êm ấm thuận hoà, thực hiện chữ “Tứ hải giai huynh đệ” (2) . Nước Việt Nam được thịnh vượng thì các bạn cũng được hạnh phúc.Sau hai lần gặp nhau giữa Thượng sứ Đácgiǎngliơ với tôi, sau cuộc Hội nghị trù bị ở Đà Lạt, sau cuộc đón tiếp thân thiện của Chính phủ và nhân dân Pháp đối với đoàn đại biểu Quốc hội ta, tôi mong rằng cuộc đàm phán chính thức ở Ba Lê sẽ có kết quả tốt đẹp. Hai dân tộc Việt, Pháp sẽ đi đến cuộc cộng tác thật thà.Một lần nữa tôi và anh em đại biểu trân trọng hứa với đồng bào rằng: dù khó nhọc mấy, chúng tôi cũng cố gắng làm trọn nhiệm vụ mà Chính phủ và quốc dân giao phó cho chúng tôi.

Đồng bào chớ lo ngại.

Báo Cứu quốc, số 254, ngày 31-5-1946.
cpv.org.vn

—————————

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

2. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do và độc lập, tách khỏi phạm vi quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Bản Tuyên ngôn này tiêu biểu cho nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ. Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân cũ, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị, nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Tr.1.

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp dùng gián điệp

1- Đối với gián điệp phải thế nào – Tôn Tử nói: “Về việc quân, không ai thân bằng gián điệp, không xử với ai hậu bằng gián điệp, không việc gì bí mật bằng gián điệp”. Thực vậy có thân yêu gián điệp, gián điệp mới tận tâm và thành thực làm việc để đem lại những báo cáo xác đáng về tình hình bên địch.

Phải xử thân với gián điệp là vì vận mệnh của quốc gia còn hay mất, một phần lớn là công của gián điệp. Ngày trước Hán Sở tranh hùng, vua Hán muốn ly gián Hạng Vũ với Phạm Tǎng đã giao cho Trần Bình hàng mấy vạn cân vàng làm tiền phí tổn về việc phản gián điệp. Lại hồi Âu chiến trước đây, Đức bắt được hai tên lính thuỷ là người Đức bị nước Anh lợi dụng làm gián điệp. Lúc đem ra tra tấn, hai người đó cũng xưng là đã ký hợp đồng với Anh cam đoan nếu ám sát được vua Đức sẽ lĩnh thưởng 100 vạn đồng và nếu đánh đắm được chiến hạm của Đức sẽ lĩnh thưởng 50 vạn đồng. Việc xử hậu với gián điệp như thế thật không kể gì tốn kém.

Còn việc của gián điệp là việc bí mật nhất trong những bí mật. Nếu những tin tức của gián điệp báo cáo về lỡ để tiết lộ cho người ngoài biết, người gián điệp hay người truyền tin sẽ bị xử tử hình. Không nghiêm mật như thế, sợ quân địch biết mình chuẩn bị như thế nào rồi lại tìm cách đưa mình vào cạm bẫy. Để tiết lộ bí mật là việc tối kỵ của gián điệp. Nên, những giấy má báo cáo tin tức về tình hình bên địch phải giấu giếm thật kín đáo, cẩn thận. Cuốn vào điếu thuốc lá giấu trong mũ, đệm dưới đế giày, khâu trong tà áo là những phương pháp cũ rích dễ bị khám phá. Thường có nhiều phương pháp mới là: Viết thật nhỏ vào mặt trong khuy áo, đǎng quảng cáo vào một tờ báo của nước trung lập ngụ những ý bí mật ở trong đó, giấu trong hàm rǎng giả hay dưới lưỡi gần cổ họng, viết vào mặt trái tem gửi thư, hoặc dùng nhiều thứ nước hoá học để viết, hoặc đặt những dấu hiệu riêng với nhau…

2- Dùng gián điệp phải thế nào – Việc dùng gián điệp là việc rất khó, Tôn Tử nói: “Không phải người đại tướng thông minh, tinh đời, nhân nghĩa, không thể dùng gián điệp một cách đích đáng được”, vì hiểu rõ được người không phải là việc dễ. Không phải người đại tướng có đức hạnh, có nhân nghĩa, người gián điệp không chịu nghe theo. Đối với gián điệp đã đành phải ưu đãi họ, nhưng lại cần phải đem nghĩa khí cảm phục họ. Có như thế, gián điệp mới chịu gắng sức làm tròn nhiệm vụ. Người làm tướng còn phải có trí xét đoán tinh vi để phân biệt được thực hư trong những báo cáo của gián điệp. Có khi làm gián điệp cho mình mà biến thành gián điệp của địch. Có khi không tìm được tin tức xác thực để báo cáo, gián điệp tự bịa đặt ra tin giả dối. Lại có khi mới nghe địch tuyên truyền đã vội cho là việc có thực đem báo cáo về nước nên không khỏi trúng vào kế của địch định lừa.

Chẳng những đối với báo cáo của gián điệp phải xét đoán cẩn thận, mà đối với báo cáo của binh sĩ hay của các quân binh hạ cấp cũng phải đặc biệt chú ý. Vì muốn khoe khoang, thắng lợi ít lại nói ra nhiều. Vì muốn tránh lỗi, thất bại lớn lại nói là nhỏ. Nên người làm tướng phải là người tinh thông lắm mới có thể xét đoán được thực hư.

Trong tất cả các thứ gián điệp, nếu khéo biết dùng cách phản gián điệp, hiệu quả không phải nhỏ. Cho dò xét những gián điệp của nước địch phái sang nước mình. Đặc biệt chiêu đãi họ hết sức thoả mãn sự ham muốn của họ để mua chuộc họ quay lại làm gián điệp cho mình. Lợi dụng được phản gián điệp, sẽ biết rõ được tình hình bên địch hơn cả. Nhân đó, mình có thể dùng dân chúng và quan lại của bên địch làm gián điệp cho mình. Ngày trước Chu Vũ Vương diệt được nhà Thương để nắm chính quyền là nhờ có Khương Thái Công làm tham mưu Tổng trưởng cho nhà Thương đem hết tình hình của nhà Thương báo cáo cho Chu Vũ Vương.

Tôn Tử lại nói: “Muốn biết tình hình bên địch, không gì bằng hiểu rõ nhân vật của bên địch, từ người tướng cầm quân cho chí người phu ngựa. Phái gián điệp đi dò xét tên tuổi, tính cách và mối quan hệ của những người ấy thế nào, để tìm cách giao thiệp thân mật với họ. Rồi dùng tiền tài đút lót hoặc dùng kế mỹ nhân mua chuộc họ làm gián điệp cho mình. Lợi dụng được những hạng gián điệp ấy, sẽ chắc chắn nắm được thắng lợi trong tay”.

Vậy người làm tướng giỏi phải biết dùng người có mưu trí làm gián điệp cho mình. Đó là bí quyết trong phép dụng binh. Vì có cǎn cứ vào báo cáo xác thực của người gián điệp mới đủ tài liệu bày mưu, tính kế và định đường lối tiến thoái được. Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trǎm trận được trǎm trận.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 254, ngày 31-5-1946.
cpv.org.vn