Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 8)

(DVT.vn) – D’Argenlieu muốn chủ trì Hội nghị Fontainebleau nhưng không thành. Sainteny định hạn chế các hoạt động của Bác Hồ nhưng thất bại. Nhiều tờ báo Pháp tỏ thiện cảm với Bác.

Bác dành thì giờ tiếp các nhà kinh doanh Pháp. Họ chăm chú nghe Bác trình bày chủ trương của ta là tôn trọng quyền lợi kinh tế của Pháp và muốn được sự giúp đỡ về kinh tế, kỹ thuật của Pháp để khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước. Họ đặt nhiều câu hỏi cụ thể, và tỏ ra hoan nghênh những lời giải thích của Bác.

Sau này, trong quá trình Hội nghị Fontainebleau, Bác tổ chức những cuộc họp báo, hoặc tiếp riêng phóng viên của một số trong những tờ báo cánh tả, ủng hộ ta như: Giải phóng (Libération), Chiến đấu (Combats), Người du kích (Franc-Tireur), Dân chúng (Le Populaire), Nhân đạo (L’Humanité), để trình bày lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề đang tranh luận ở Hội nghị. Ảnh hưởng của Bác về mặt tranh thủ dư luận là rất lớn.

Lâu đài Fontainebleau gần thủ đô Paris.

Phóng viên các báo đến rất đông, mỗi khi Bác triệu tập, vì họ rất thích nghe những lời giải thích, những tuyên bố của Bác. Họ nhận thấy trong đó bản chất cao thượng của một lãnh tụ có tầm vóc khác thường, nhưng rất khiêm tốn, có lúc dí dỏm, và luôn luôn có sức thuyết phục lớn.

Một hôm, một nhà báo hỏi:

– Thưa Chủ tịch, xin cho phép tôi hỏi một câu về đời tư của ngài: Trong cuộc đời đấu tranh cách mạng, ngài đã bị ở tù bao lâu?

Bác trả lời:

– Đấu tranh cách mạng, bị bắt vào tù, đó là việc khó tránh. Và sống trong nhà tù, thì thời gian bao giờ cũng là lâu cả (en pison, le temps est toujours long!). Mọi người đều cười, và câu chuyên chuyển sang vấn đề khác.

Phía Pháp muốn hạn chế hoạt động của Bác, nhưng thất bại. Sainteny kể rằng Chính phủ Pháp đã giao cho ông ta nhiệm vụ đó, nhưng vì Bác không phải là một thành viên của Đoàn, Bác là khách của Chính phủ Pháp, và có rất nhiều người Pháp ủng hộ tích cực, cho nên ông ta đã chịu thất bại.

Phía Pháp tưởng rằng việc họp Hội nghị ở Fontainebleau (cách Paris 60 km) sẽ giảm ảnh hưởng của Hội nghị đối với dư luận. Họ đã thất bại, một phần lớn do hoạt động khôn khéo và uy tín rất lớn của Bác.

Về thành phần Đoàn Pháp, ngoài một số người đã dự Hội nghị Đà Lạt (Pignon, Torel, Gouron, Messmer…) có thêm một số người chuyên môn và kỹ thuật, và đặc biệt có thêm ba nghị sĩ là: Jugias (Đảng MRP), Lozeray (Đảng Cộng sản) và giáo sư Paul Rivet (Đảng SFIO). Nghị sĩ MRP và nghị sĩ cộng sản không có hành động gì đặc biệt, Nghị sĩ SFIO thì khác hẳn.

Bác Hồ và Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng ở Pháp.

Ngày mồng 5/7 (một ngày trước ngày Hội nghị Fontainebleau bắt đầu), Đoàn Pháp họp để nghe đoàn trưởng phổ biến lập trường của Chính phủ Pháp trong vấn đề Việt Nam. Lúc buổi họp kết thúc, giáo sư Paul Rivet nói với trưởng đoàn:

– Ngày mai, tôi sẽ không đến Hội nghị.

Trưởng đoàn ngạc nhiên hỏi:

– Vì sao?

Paul Rivet trả lời:

– Tôi từ chức.

Ngay tối hôm đó, Paul Rivet viết thư cho Moutet, bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại: “Tôi đã từ chối tham dự Hội nghị Fontainebleau, vì tôi không muốn là một người bị lừa dối, một con tin, một kẻ đồng lõa (Je ne veux eetre ni dupe, ni otage, ni complice). Tôi đã thấy một ý đồ mà tôi không thể nào chấp nhận: tổ chức một hội nghị không phải để làm cho nó thành công, mà trái lại, để làm cho nó thất bại”.

Trưởng đoàn Pháp là Max André, nguyên trưởng Đoàn Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt, một đảng viên MRP, ủy viên Hội đồng quận Seine đã được Edmond Michelet giới thiệu với de Gaulle, và tháng 1/1946 đã được cử sang Đông Dương nghiên cứu tình hình, được gặp Bác Hồ ngày 21/1. Không biết khi trở về Pháp, ông ta đã báo cáo như thế nào. Một số cán bộ của ta nói rằng ông ta gửi cho Bác một bức thư rất “láo xược”. Bản thân tôi không được đọc bức thư đó. Sau này tôi có đọc một bài phát biểu của Edmond Michelet nói rằng ông ta rất tiếc đã giới thiệu Max André với de Gaulle: “Bidault và tôi đã tín nhiệm anh ấy. Đó là một sai lầm. Nếu chúng ta cử một người khác vào vị trí của anh ấy thì tình hình đã chuyển biến theo một hướng khác”.

Đoàn ta gồm một số đại biểu đã dự Hội nghị trì bị Đà Lạt (Trịnh Văn Bính, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Dương Bạch Mai…), một số đại biểu mới (Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, Phan Anh…), một đại biểu Việt kiều sống tại Pháp: Bửu Hội… Trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng.

Ngày 6/7/1946, Hội nghị Fontainebleau khai mạc. Có hai sự cố:

1-D’Argenlieu ngỏ ý muốn “chủ trì” Hội nghị. Đoàn ta không đồng ý. Nhưng đoàn Pháp nói rằng ông đô đốc không chịu từ bỏ tham vọng của mình và đang chuẩn bị đến hội trường. Chúng tôi cảnh cáo rằng nếu ông ấy đến thì chúng tôi sẽ không dự buổi họp. Sau một thời gian chờ đợi, Max André cho biết: “Đô đốc sẽ không đến vì lý do sức khỏe”.

2- Buổi khai mạc bắt đầu bằng một diễn văn ngắn, chào mừng và chúc mừng, vô thưởng vô phạt của Max André. Diễn văn của trưởng đoàn ta thì khác hẳn, lên án những hành động của phía Pháp đã vi phạm Hiệp định sơ bộ 6/3: không đình chỉ chiến sự, đã đánh chiếm vùng cao nguyên Plây-cu – Kon-tum chiếm phủ toàn quyền cũ, và nghiêm trọng hơn cả là sự lập ra một chính phủ bù nhìn ở miền nam Việt Nam. “Nếu coi Hiệp định sơ bộ 6/3 chỉ là một phương tiện để có thể kéo quân vào bắc Việt Nam, để đẩy mạnh chiến tranh ở miền nam Việt Nam, buộc chúng tôi chấp nhận “những việc đã rồi”, thì không thể nào đi đến một sự thỏa thuận hòa bình và hữu nghị mà hai dân tộc chúng ta đều mong ước”.

Bài diễn văn của anh Đồng không làm cho đoàn Pháp vui lòng, nó thật là một sư “tiến công” bất ngờ, gây xôn xao dư luận. Những người thuộc giới thực dân, phái hữu, tất nhiên không thỏa mãn. Nhưng những người tiến bộ, những người có khuynh hướng dân chủ thì ủng hộ, tán thành bài diễn văn “không ngoại giao”, nhưng chân thật và đúng đắn đó…

(Còn nữa)

dvt.vn

Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ: Phần cuối

Hồ Chí Minh và những người chung quanh

Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi Pháp.

(DVT.vn) – Luôn khát khao hòa bình, luôn tôn trọng các dân tộc, tôn giáo, con người và lúc nào cũng nổi bật văn hóa Việt Nam, đó là con người Hồ Chí Minh.

Không nên quên rằng, Hồ Chí Minh sinh năm 1890 không phải từ thời thơ ấu đã được nuôi dưỡng ngay bằng các lý thuyết xã hội chủ nghĩa nhằm làm đảo lộn cấu trúc toàn thế giới. Và sau đó, khi đã trưởng thành, ông có nghiên cứu, thấm nhuần nhưng đều là tự học. Ngược lại, từ lúc thiếu thời ông đã được dạy dỗ theo cách cổ truyền.

Nền văn hóa truyền thống mà ông được học từ lúc còn sống trong gia đình, cộng với nền văn hóa đại cương mà ông hấp thụ sau đó trong những chuyến đi xa tới nhiều nước, nhất là ở Pháp, đủ để phát triển trong ông khả năng phân tích, tạo cho ông sự mềm dẻo và tính thích tò mò nghiên cứu để vận dụng suốt đời. Ông đã đến với các lý thuyết mác-xít không phải từ mảnh đất chưa được học hành gì. Học thuyết mác-xít đã chinh phục ông khiến ông trở thành người truyền bá nhưng không phải vì thế mà ông không phân tích để vận dụng. Trước hết ông là người thực tiễn, ông luôn luôn vận dụng cẩn thận lý luận vào hoàn cảnh thực tế, đặc biệt là trong hoàn cảnh Việt Nam, có những đặc điểm cần chú trọng.

Thật vậy, tôi xin nhắc lại là, Hồ Chí Minh luôn công nhận chỉ có lý luận của những bậc thầy tư tưởng của ông mới tạo điều kiện thắng lợi cho con đường ông đã vạch ra để đạt tới mục tiêu, nhưng ông cũng hiểu rằng cần phải tôn trọng những khía cạnh của nền văn hóa Việt Nam và lúc nào cũng phải bám giữ tính chất Việt Nam. Ngay cả trong vấn đề này, ông đã nhìn đúng. Có thể đưa ra nhiều thí dụ trong lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, giáo dục, học tiếng nước ngoài… Hồ Chí Minh đều có chính sách thích ứng với hoàn cảnh Việt Nam.

Về đặc tính cá nhân, Hồ Chí Minh không hề thay đổi chút nào tác phong của mình. Dù đã lên tới tột đỉnh quyền lực, uy tín tỏa ánh hào quang chiến thắng, những điều đó đều không ảnh hưởng tới cá tính của ông. Cho mãi tới lúc này, ông vẫn còn giữ lại được một vẻ khiêm tốn bẽn lẽn thời thanh niên khi dự hội nghị thành Tours, dược Vaillant Contutier mời “đại biểu Đông Dương” lên phát biểu, hoặc khi Le’o Poldès làm cho ông trở thành nhân vật rất được chú ý tại Câu lạc bộ ngoại thành Paris. Tôi cũng đã được nhìn thấy thái độ cư xử của ông lúc giáp mặt với Leclerc, d’ Argenlieu, Goerges Bidault, Marius Moutet… đều như nhau, cũng như những lúc ông đối diện những nhân vật lẫy lừng đến thăm ông tại Hà Nội như Khroutchev, Nehru, Mikoyan, Cyrankievicz… Tôi nghĩ, đó cũng là đặc điểm của sự nhã nhặn châu Á, khiêm tốn, không phô trương.

Tôi còn nhớ, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp, sau khi dự tiệc chiêu đãi tại tòa thị chính Paris, ông đã cầm một quả cam rồi đưa cho một bé gái đầu tiên trong đám đông đứng hoan nghênh ông phía dưới bậc thềm ngoài cổng. Người ta có thể cho rằng đây là một cử chỉ nhằm thu hút sự chú ý của quần chúng Paris. Thế nhưng, trong bữa cơm thân mật tổ chức tại Phủ Chủ tịch, chỉ có hai vợ chồng tôi và ông Phạm Văn Đồng được ông mời đến, ông cũng cầm mấy quả quýt đưa tặng vợ tôi. Đó là ông nhằm ý định gì? Nhất định không phải để cảm hóa tôi, bởi vì tôi biết ông rất rõ. Đây có thể chỉ là phản xạ tự nhiên thừa hưởng từ những truyền thống cổ xưa của nhân dân Việt Nam, tức là dù quà tặng nhỏ bé đến đâu, thái độ cho quà vẫn quý hơn giá trị tăng phẩm. Đây có thể là biểu hiện ông hoan nghênh vợ tôi từ Pháp mới đến Hà Nội.

Chúng tôi được biết, cũng như ông, tất cả các bộ trưởng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong khi tiếp khách thì tiếp tại những dinh thự cũ của Pháp, nhưng khi trở về nhà lại sống một cách đơn giản nhất, trong những biệt thự chẳng một chút xa hoa lộng lẫy nào.

Trở lại thái độ của Hồ Chí Minh đối với các tín đồ Thiên chúa giáo nói chung. Ở đây lại càng nổi bật nhân cách của Hồ Chí Minh và sự thức thời trong chính trị của ông. Chắc hẳn, trong khi công bố chính sách tự do tín ngưỡng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi muốn chứng minh chính sách tôn trọng tự do đã được ban hành. Không nên coi nhẹ sự kiện là từ thế kỷ 16, từ lúc bắt đầu truyền đạo, đến lúc này tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đã có hơn một triệu con chiên ngoan đạo. Nhưng năm 1954, một nửa số này do Ngô Đình Diệm xúi giục và liên tục lôi kéo, đã di cư vào miền Nam vì lo sợ Việt Minh. Nhưng vẫn còn có tới năm hoặc sáu nghìn tín đồ Thiên chúa giáo chọn con đường ở lại miền Bắc, bất chấp những hành động cưỡng ép di cư.

Hồ Chí Minh hiểu là phải tin tưởng ở những người chấp nhận luật pháp Việt Nam mà vẫn không từ bỏ tín ngưỡng của mình. Phạm Văn Đồng trong khi nói chuyện với tôi về tương lai của đất nước mình cũng tỏ ra rất bất bình trước việc cưỡng ép di cư các tín đồ Thiên chúa giáo và khẳng định với tôi, một khi nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất cũng như hiện nay, sẽ không bao giờ có chuyện đàn áp tôn giáo.
Về phần tôi, cũng phải nói rằng, trong khi tiếp xúc với Hồ Chí Minh không một lần nào tôi thấy ông biểu lộ một chút gì tỏ vẻ bài xích, bi quan hoặc châm biếm đối với bất cứ một tôn giáo nào. Tôi không thể nào quên, trong cuộc hành trình đi Pháp năm 1946, trong chặng tạm dừng chân chờ đợi ở Biarritz, khi tôi sắp xếp chương trình giải trí cho ông, ông đã đề nghị tổ chức cho ông tới thăm Viện bảo tàng … tôn giáo ở Lourdes. Khi tới thăm, ông đã tỏ ra rất tò mò, muốn hiểu biết, rất lịch sự, rất tôn trọng Tổng giám mục Theas là người tiếp đón ông.

Cũng phải nhắc lại, trong thư gửi tôi đề ngày 24 tháng 2 năm 1947 ông Hồ đã tỏ ý cầu mong “Thượng đế phù hộ chúng ta”, dường như muốn lấy Đức Chúa Trời làm nhân chứng, rằng cả ông lẫn tôi đều không ai phải chịu trách nhiệm về cuộc xung đột ác liệt từ ngày 19 tháng 12 năm 1946.

Cuối cùng, thật là thích thú khi được biết, trong bản di chúc của mình, nhà duy vật chủ nghĩa này đã viết: “Tôi để sẵn sàng mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”. Quả là lời tuyên bố rất ngạc nhiên của một người theo chủ nghĩa vô thần. Nhưng cũng nên hiểu, ở Viễn Đông quan niệm “vô thần” có ý nghĩa khác với chúng ta thường nghe ở châu Âu.

Trong những năm 1954, 1955 và cả những năm tiếp theo, nhà cầm quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong các dịp lễ Toussaint và Noel đều thể hiện sự quan tâm đến nguyên tắc tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng. Từ trưa ngày 24 tháng 12 năm 1955 đã tuyên bố đây là ngày lễ của giáo dân, các tín đồ được tiến hành các nghi thức tôn giáo một cách nồng nhiệt và đông đảo trong đêm hôm đó. Năm 1955, trong thư gửi giáo dân Việt Nam, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Trong đêm Noel hòa bình thứ hai này, đồng bào ta ở miền Bắc có thể tự do cầu nguyện Đức Chúa Trời vì quân địch không còn chiếm đóng nhà thờ, giết hại dân lành nữa”. Lãnh tụ Việt Minh còn so sánh hoàn cảnh giáo dân được ở lại miền Bắc với đồng bào bị cưỡng ép di cư vào Nam đang “tưởng nhớ tới xóm làng quê hương”. Ông kêu gọi “giáo dân hai miền đấu tranh cho hòa bình và thống nhất”.

Cùng với việc tuyên truyền, giác ngộ giáo dân mà đích thân Hồ Chí Minh tiến hành, còn thành lập “Ủy ban liên lạc giáo dân yêu nước” nhằm đấu tranh cho thống nhất là “ý chí kiên quyết của nhân dân hai miền Nam Bắc”.

dvt.vn

Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ: Phần 4

Hồ Chí Minh và Hội nghị Fontainebleau

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cung điện Versailles ngày 3/7/1946.

(DVT.vn) – Sau cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh với đô đốc d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long, hai bên thỏa thuận thông báo cho công chúng biết nội dung cuộc hội đàm.

Văn bản liên quan đến cuộc hội đàm được soạn thảo rất công phu. Hồ Chí Minh đòi phải ghi rõ Paris đã được chọn làm địa điểm họp hội nghị. Sau nhiều lần ngần ngại và nhiều cuộc trao đổi giữa Hà Nội với Sài Gòn, cuối cùng văn bản này được hai bên đồng ý và được truyền đi qua báo chí và hệ thống truyền thanh.

Thông Cáo

Sau cuộc họp ngày 24 tháng 3 năm 1946 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và đô đốc d’Argenlieu,Cao ủy Pháp ở Đông Dương, những điều dưới đây đã được hai bên thỏa thuận:

Một – Trong thời hạn nhanh nhất, tức ngay sau khi hoàn thành các thủ tục quá cảnh, tức vào khoảng nửa đầu tháng 4, một phái đoàn hữu nghị gồm mười đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Paris, chuyển tới Quốc hội Pháp lời chào anh em của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hai – Cũng trong thời hạn đó, một hội nghị trù bị sẽ mở tại Đà Lạt, giữa một bên là đoàn đại biểu Pháp gồm 12 thành viên, đặt dưới sự chủ tọa của Cao ủy Pháp tại Đông Dương, một bên là đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm 12 thành viên, đặt dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Chính phủ hoặc đại diện Chủ tịch.

Ba – Hội nghị trù bị này sẽ hoàn thành mọi việc chuẩn bị để một đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể lên đường trong thời hạn ngắn nhất, tức vào khoảng nửa cuối tháng 5 để khai mạc hội nghị chính thức tại Paris.

Nếu những ý đồ của Sài Gòn đã được bảo vệ, tức là phải có một hội nghị trù bị tại Đà Lạt trước khi mở hội nghị chính thức tại Paris, thì phía Việt Nam cũng hài lòng do hội nghị sẽ được tiếp tục tại Paris như đã ghi rõ trong diểm 3. Trên thực tế, chúng tôi cho rằng Hội nghị Đà Lạt không chỉ chuẩn bị cho Hội nghị Paris mà còn giải quyết đầy đủ các vấn đề, để cho các cuộc hội đàm tại Paris chỉ giới hạn trong việc long trọng ký kết những thỏa thuận đã được ghi rõ tại Đà Lạt và được đề cập trong buổi lễ ký chính thức.

Về đoàn đại biểu gọi là “phái đoàn hữu nghị”, sự thỏa thuận cũng đạt được rất nhanh chóng. Những người đề nghị được cử đi rất đông. Việc thành lập danh sách xuất phát từ nhiều đòi hỏi của phía Việt Nam (Các thành phần trong đoàn đại biểu hữu nghị của Việt Nam gồm có: Phạm Văn Đồng, Trưởng phái đoàn, Trần Ngọc Danh, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Luân, Trịnh Quốc Quang, Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Tích Trí, Nguyễn Tấn Gi Trọng).

Tôi cũng đã được quyết định trở về Pháp để chuẩn bị chuyến đi cho phái đoàn hữu nghị này và cũng để gặp lại Hồ Chí Minh khi ông đến Pháp. Tôi còn được cử vào một phái đoàn thông tin bên cạnh Chính phủ Pháp, có nhiều thông báo kịp thời những diễn biến ở Bắc Đông Dương cho chính phủ biết.

Cuối tháng 4, đoàn đại biểu hữu nghị Việt Nam rời Hà Nội, bay qua Calcutta tới Paris.

Ngày 30 tháng 4, tôi phát biểu trên đài phát thanh, cố giải thích, để mọi người nghe hiểu rằng chúng tôi vừa mới thoát khỏi vực thẳm khủng khiếp ở Bắc Đông Dương, và nếu quyết tâm thực hiện một cách rõ ràng, thẳng thắn, ta sẽ đạt được một thỏa hiệp thật sự trong tương lai.

Tôi quan niệm như đã từng dự kiến từ mười tháng trước, biết bao khó khăn phải trải qua, để có thể đạt được Hội nghị Paris tầm vóc rộng lớn của vấn đề.

Đoàn đại biểu hữu nghị của Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Paris ngày 26 tháng 4 đã được các đại biểu quốc hội và nhiều nhân vật cấp cao của Pháp tiếp đón, và đã trở về ngày 16 tháng 5. Thời gian đoàn ở Pháp không nhằm mục đích nào khác là tiếp xúc với nhiều giới, do đó đã thực hiện một loạt dài các cuộc gặp gỡ, chiêu đãi thân mật.

Riêng Phạm Văn Đồng vẫn ở lại Paris để tham gia Hội nghị Fontainebleau.

Giữa khoảng thời gian này, ngày 31 tháng 5 Hồ Chí Minh có tướng Salan đi cùng, đã cùng với các nhà thương lượng Việt Nam rời Hà Nội lên đường đi Paris. Nhưng nội các Gouin vừa bị đổ và Georges Bidault được giao nhiệm vụ thành lập chính phủ mới. Việc chưa có chính phủ giữa lúc Hồ Chí Minh đến Pháp khiến cho chúng tôi phải buộc hai máy bay chở ông và các cộng sự viên của ông chuyển hướng tới Biarritz, là nơi các vị khách của chúng ta chờ đợi sau khi thành lập xong chính phủ mới sẽ chính thức được đón tiếp tại Paris.

Trong một buổi được mời tới tham dự một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, tôi được Chủ tịch Bidault giao nhiệm vụ tổ chức lịch trình cho những ngày Hồ Chí Minh ở Pháp. Cũng đã có quyết định, Chủ tịch Việt Nam và tôi không tham dự đàm phán ở Fontainebleau. Hai bên thỏa thuận, mọi cuộc tiếp xúc giữa Chủ tịch Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp đều qua tôi liên lạc. Điều lệ này giai đoạn đầu được tôn trọng nhưng sau đó đã bị phá vỡ một cách nguy hiểm. Hồ Chí Minh đã vượt lên trên đầu tôi, để làm mọi việc mà đáng lẽ tôi thấy cần phải từ chối, bởi vì tôi có những lý do đúng để làm như vậy.

Ngày 12 tháng 6, Hồ Chí Minh và những người cùng đi tới Biarritz. Ngay buổi tiếp xúc đầu tiên, tôi cảm thấy ông có vẻ bực mình. Ông nói thẳng với tôi, ông có thể quay lại Bắc Kỳ. Đối với ông, cuộc hội nghị đã dự kiến đến nay có vẻ như vô ích, bởi vì nước Pháp đã đơn phương đi ngược lại những thỏa thuận trong Hiệp định ngày 6 tháng 3, tự ý định đoạt số phận của Nam Kỳ. Ông liên tưởng tới việc ngày 1 tháng 6, giữa lúc ông đang bay trên vùng trời Trung Đông thì được tin nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ tuyên bố thành lập.

Quyết định này là nhằm đáp ứng với một bộ phận đòi ly khai của dân chúng Sài Gòn, đồng thời chỉ là một giải pháp quá độ, đã bị Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Việt Nam rất nhạy cảm với bất cứ điều gì động chạm đến sự thống nhất của ba kỳ, coi như “một chuyện đã rồi” không thể nào chấp nhận được. Sự kiện này được lực lượng chống đối ở Việt Nam khai thác, nói rằng nước Pháp “một lần nữa đã không tôn trọng những điều họ cam kết”, Hồ Chí Minh và những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam vừa mới đi xa, vậy mà Pháp đã lợi dụng sự vắng mặt của họ, lợi dụng việc quân Pháp trở lại Bắc vĩ tuyến 16, để núp dưới bóng quân đội Pháp thiết lập lại những quyền lợi của Pháp ở Đông Dương, Hiệp định ngày 6 tháng 3 chỉ là một trò bịp v.v…

Tôi đã phải giải thích rất lâu với Hồ Chí Minh và những người cùng đi rằng quyết định này chỉ là tạm thời và không cản trở gì hết đến tương lai của Nam Bộ. Văn bản tuyên bố thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị đã ghi rõ, việc thành lập chính phủ này là: “Sự chờ đợi kết quả của việc trưng cầu ý dân trong tương lai, như Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã ấn định”. Cuộc trưng cầu ý dân dự kiến trong Hiệp định Sơ bộ sẽ được tiến hành đúng lúc. Đến lúc đó sẽ duy trì hay hủy bỏ quyết định thành lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị, tùy theo ý nguyện của dân chúng. Những lời trình bày này có vẻ đã tạm yên lòng Chủ tịch và những người cùng đi.

…Ở Hà Nội vẫn còn có Võ Nguyên Giáp được coi như một nhân vật đáng gờm nhất. Nhân vật hùng mạnh này đã chế ngự hội nghị trù bị tại Đà Lạt khai mạc ngày 18 tháng 4 dưới sự chủ tọa của đô đốc d’Argenlieu. Nguyễn Tường Tam dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao.

Tại Đà Lạt, mọi người đã thừa nhận rằng việc “trang bị” cho cái khung của Hiệp định ngày 6 tháng 3 thật là rất khó khăn. Mặc dù bầu không khí thân ái bao trùm hội nghị nhưng đến ngày 11 tháng 5 đã phải kết thúc bằng một thất bại gần như hoàn toàn.

Trong khi đó, tại Biarritz, Hồ Chí Minh cùng với sĩ quan tùy tùng là đại úy Huỳnh và Hoàng Minh Giám là một cộng sự viên trung thành, cùng đến ở tại khách sạn Carlton. Đó cũng là nơi tôi đến ở cùng với hai trong số cộng sự viên của tôi là Louis Fauchier Magnan và Philippe Quennouelle.

Trong thời gian chờ đợi, Chủ tịch của Việt Nam nghỉ mát trên bờ biển xứ Basque. Ông đi tìm hiểu xứ sở này, chơi bài, dự chiêu đãi, câu cá, thăm viện bảo tàng Lourdes v.v… Hồ Chí Minh đã trở lại vui vẻ, tươi cười. Ông vẫn nhã nhặn, giản dị như xưa nay vốn thế. Ông quan tâm đến tất cả mọi thứ, nói chuyện thân mật với dân cày, dân chài, làm họ ngạc nhiên vì ông tuyệt đối không say sóng biển. Nhiều người Việt Nam sinh sống tại Pháp đến thăm ông. Không khí trở lại bớt căng thẳng. Nhưng điều đó vẫn không ngăn được Bộ trưởng Không quân đi cùng với hai hoặc ba nghị sĩ cộng sản trách chúng tôi về những điều kiện không thoải mái của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang bị “giữ chân” tại Biarritz. Nhưng Hồ Chí Minh tỏ ra có nhã ý không phàn nàn về sự đón tiếp chậm trễ tại Paris. Ông tuyên bố là ông rất vui khi được nghỉ tại bờ biển xứ Basque.

Cuối cùng, chính phủ đã ấn định chương trình đón tiếp chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ 22 tháng 6 đến 4 tháng 7. Sáng 22, chúng tôi rời Parme-Biarritz bay đến sân bay Bourget ở Paris. Hôm đó thời tiết đẹp. Cảm thấy thời gian còn sớm, tôi cho máy bay lượn nhẹ một vòng để các vị khách ngắm những lâu dài Loire từ trên cao. Chuyến bay du lịch này làm tôi nhớ lại hàng loạt chuyến bay nhiều vô kể dể chụp ảnh trên không mà tôi đã tiến hành ở chính nơi đây trong thời kỳ tôi theo học khóa sĩ quan thám không ở Tours, trước khi chiến tranh bùng nổ ít ngày. Về phần Hồ Chí Minh trong khi bay trên thành phố này, không biết ông có nhớ rằng năm 1920 ông đã dự hội nghị thành Tours cùng với Marcel Cachin và hội nghị này đã khai sinh ra Đảng Cộng sản Pháp không.

Đến 16 giờ, chúng tôi tới vùng trời Paris. Sân bay Bourget đen nghịt người. Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet và nhiều quan chức dân sự, quân sự thay mặt Chính phủ Pháp ra đón. Trên sân ga hàng không, phấp phới tung bay những lá cờ Pháp và Việt Nam. Tôi liếc nhìn vị khách của chúng tôi. Nét mặt ông lộ rõ vẻ xúc động. Cặp mắt ông sáng ngời. Cổ họng ông như nghẹn ngào muốn nói câu gì đó.

Máy bay hạ cánh rồi đứng im trên đường băng. Quốc thiều Pháp và Quốc thiều Việt Nam lần lượt vang lên. Hồ Chí Minh đứng nghiêm, chiếc mũ cát cầm trong tay. Liệu ông có nghĩ rằng, hai mươi ba năm trước đây, ông đã rời mảnh đất này của Pháp ra đi để rồi hôm nay nước Pháp lại nghênh đón ông như một nguyên thủ Quốc gia?

Chuyến đi thăm chính thức của Hồ Chí Minh được ghi trong chương trình nghi lễ bằng một loạt hoạt động chính thức vẫn thường dành cho thượng khách. Mọi người nhìn thấy Chủ tịch của Việt Nam tới thăm Khải Hoàn môn, Cung điện Versailles, Tòa Thị chính, lăng tẩm Mont-Valérien, xem biểu diễn tại Nhà hát lớn, đặt vòng hoa tại Đài tượng niệm các binh sĩ Đông Dương tử trận trên đất Pháp, được chôn cất tại nghĩa trang Nogent… Chiếc xe chở Chủ tịch có môtô hộ tống xuất hiện liên tục trên các đường phố thủ đô Pháp.

Hồ Chí Minh cũng tổ chức nhiều buổi tiếp khách, chiêu đãi, và họp báo tại khách sạn Royal Monceau, là nơi ông nghỉ cùng với nhiều người cùng đi. Các nhà báo và các nhà hoạt động chính trị, đại biểu quốc hội, doanh nghiệp thường tới gặp Hồ Chí Minh. Bầu không khí bao trùm những cuộc gặp đó rất thân mật. Hình như đã tìm lại được khí hậu thuận lợi cho cuộc đàm phán.

Ngày 6 tháng 7, hội nghị Fontainebleau bắt đầu làm việc, các đoàn đại biểu có mặt tại Fontainebleau bao gồm:

Đoàn đại biểu Pháp: – Chủ tịch: Max André. Các thành viên: Juglas, Lozeray, Baudet, tướng Salan, đô đốc Barjot, Pignon, Torel, Bayen, Messmer, Gonon, Bourgoin, d’Arcy, Gayet, Bousoquet.

Đoàn đại biểu Việt Nam: Chủ tịch: Phạm Văn Đồng. Các thành viên: Trịnh Văn Bính, Tạ Quang Bửu, Dương Bạch Mai, Chu Bá Phượng, Đặng Phúc Thông, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Huyên, Huỳnh Thiên Lộc, Phạm Khắc Hòe, Hoàng Minh Giám. Các chuyên viên: Nguyễn Độ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khánh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tịnh, Nguyễn Đắc Khê.

Cả hai đoàn đều ăn ở tại những khách sạn ở Fontainebleau. Các phòng làm việc được bố trí tại một cánh của tòa lâu đài. Người ta có thể nhận thấy ngay trong “tuần trăng mật” mới mẻ này xuất hiện nhiều bất đồng hơn hòa đồng. Phạm Văn Đồng là Chủ tịch đoàn đại biểu Việt Nam đã thay đổi thái độ khác với hai tháng trước, khi dẫn đầu phái đoàn hữu nghị.

Với những lời lẽ cứng rắn đôi khi gay gắt, Phạm Văn Đồng phản ánh tâm trạng của các đại biểu Việt Nam. Những đại biểu này không che giấu sự lo ngại bị lừa bịp bởi một chính sách nhiều mưu mô của phía Pháp.

Tôi đã viết rằng, bản Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 nếu đã dẫn đến việc kết thúc sự chiếm đóng của đội quân Lư Hán, việc quân đội Pháp trở lại Đông Dương với việc đặt một nước Việt Nam tự do vào khối Liên hiệp Pháp thì cũng mới chỉ vạch ra những nét đại cương cho một sự thỏa hiệp. Cần phải có thêm những hiệp nghị riêng cho từng lĩnh vực, với những chi tiết cụ thể hơn.

Hội nghị trù bị Đà Lạt, như đã thấy đã không đạt được một tiến bộ nào, không ký kết được điều gì sau khi đã ký Hiệp định Sơ bộ tại Hà Nội. Cũng dễ hiểu khi cho rằng tại Hội nghị Fontainebleau vẫn còn tồn đọng những trở ngại chính cần vượt qua, đặc biệt là:

– Sự hợp nhất ba “kỳ”, tức là sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam.

– Vấn đề thuế quan (chính từ vấn đề này mà bốn tháng sau đã xảy ra cuộc xung đột đẫm máu của sự cố không thể nào dàn xếp được tại Hải Phòng).

– Vấn đề đại diện ngoại giao. Nước Pháp muốn đặt Liên bang Đông Dương trong khối Liên hiệp Pháp, chủ trương không để cho Việt Nam được quyền tự chủ trong quan hệ quốc tế, trong khi đó Việt Nam lại muốn được toàn quyền độc lập trong việc đàm phán và ký hiệp ước với nước ngoài.

– Vấn đề tiếng Pháp: nước Pháp muốn ngôn ngữ Pháp phải là ngôn ngữ thứ hai bắt buộc phải giảng dạy ở Việt Nam. Phía Việt Nam lại đơn giản cho rằng tiếng Pháp chỉ là sinh ngữ được ưu tiên trong các sinh ngữ khác.

Về vấn đề chuyên gia kỹ thuật và tài sản của Pháp ở Việt Nam, hai bên cùng có những quan điểm khác biệt và bám giữ đến cùng lập trường không thay đổi của mình. Nếu Việt Nam hoàn toàn chấp nhận việc nhờ cậy các chuyên gia Pháp thì họ lại muốn tự họ được lựa chọn chuyên gia và không đồng ý sự ưu tiên mang tính chất bắt buộc.

Vấn đề bồi thường liên quan đến các tài sản của Pháp gặp tai họa hoặc bị cướp đoạt cũng dẫn đến hai bên từ chối mọi trách nhiệm nếu xảy ra xung đột. Hơn nữa, phía Pháp cũng từ chối bồi thường theo chỉ định tương tự.

Chỉ nêu lên vài thí dụ trên đây, cũng đủ thấy, mặc dù đại đa số các thành viên đều có thiện chí và ước muốn thỏa hiệp nhưng bên nào cũng giữ vững lập trường khó xoay chuyển.

Thất bại của Hội nghị Fontainebleau, ít nhất là một phần, đã bắt đầu thấy rõ khi Pháp được tin ngày 1 tháng 8 năm 1946 tại Đà Lạt tiến hành một hội nghị “Liên bang” nhằm xác định vị trí của Liên bang Đông Dương, không chỉ với Campuchia và Lào, mà cả Nam Kỳ. Nguồn tin này đã lập tức cắt đứt ngay Hội nghị Fontainebleau. Sau đó, nhờ có Hồ Chí Minh, vài ngày sau mới lại tiếp tục họp trở lại. Nhưng đến lúc này thì cả hai bên đều mất lòng tin đối với nhau.

Trong một buổi tranh cãi gay gắt với Hồ Chí Minh xoay quanh chủ đề này, lần đầu tiên Chủ tịch đồng ý với tôi là ông không nên vắng mặt quá lâu hơn nữa. Nhưng ông nói với tôi:

– Tôi biết, ông đang liên tưởng tới vấn đề gì, nhưng tôi làm sao trở về nước với “hai bàn tay không”?
“Bàn tay không” đó là một công thức mà tôi thường được nghe và từ hôm đó trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên của ông.

Còn đoàn đại biểu đàm phán của Việt Nam thì đã trở về tay không. Phạm Văn Đồng đã đóng cửa Hội nghị Fontainebleau đi xuống Marseille đáp tàu biển về nước và sẽ tới Hải Phòng ngày 3 tháng 10.

Hồ Chí Minh không về cùng với đoàn Việt Nam. Chuyến thăm chính thức nước Pháp đã kết thúc. Ông không còn là khách mời của Chính phủ Pháp nữa. Ông rời khách sạn Royal Monceau, đến ở trong một biệt thự của ông Aubrac tại Soisy-sous-Montmorency. Ông tỏ rõ thái độ muốn đi tới cùng. Cũng như Marius Moutet, ông muốn tránh sự đổ vỡ và ngày 14 tháng 9 đã cùng ký với Marius Moutet bản Tạm ước nhằm cứu vãn tình hình.

Tuy vậy, ông vẫn lo ngại điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Ông thấy trước khả năng có thể bùng nổ xung đột vũ trang và đã nói với tôi bằng thái độ kiên quyết:

– Nếu cần phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Một người các ông có thể giết chết mười người chúng tôi. Mười người chúng tôi sẽ giết một người của ông. Nhưng cuối cùng, chính các ông sẽ là người nản lòng bỏ cuộc.

Từ lâu, tôi đã tăng cường thúc đẩy Chính phủ Pháp thu xếp để tổ chức việc về nước của Hồ Chí Minh được nhanh nhất. Ngày về đã được ấn định là ngày 14 tháng 8, nhưng Hồ Chí Minh muốn tranh thủ thời gian còn lại. Ông từ chối đi máy bay, viện lý do sức khỏe. Có lẽ ông nghĩ tới một âm mưu ám hại ông, dễ thực hiện trong chuyến bay. Ông đòi trở về trên một tàu chiến Pháp và Bộ Hải quân đã dành cho ông con tàu Dumont d’Urville dự kiến sẽ đi Đông Dương để ông sử dụng. Những cố gắng của tôi nhằm thu xếp cho ông trở về Hà Nội bằng các phương tiện nhanh nhất đã thất bại. Thế là, bốn mươi tám giờ sau khi ký bản Tạm ước, Hồ Chí Minh rời Paris ngày 16 tháng 9 trên một toa xe lửa đặc biệt đi xuống Marseille và quân cảng Toulon.

Tại Monte’limar là nơi đoàn tàu dừng lại vài phút, toa xe chở chúng tôi lập tức bị những người Việt Nam đứng đợi trên sân ga ùa tới. Hầu hết những người này đều là công nhân làm việc tại một doanh trại gần đó. Cuộc đón tiếp Chủ tịch nước Việt Nam rất nồng nhiệt. Chúng tôi được biết cách đây mấy ngày đoàn đại biểu Việt Nam rời Hội nghị Fontainebleau ra về cũng được những người công nhân này hoan hô nhiệt liệt, ca ngợi thái độ không khoan nhượng của những đại biểu dự đàm phán.

Hồ Chí Minh đứng trên bậc lên xuống toa xe đặc biệt, nói vài lời với đám đông. Ông giải thích tại sao ông lại ký bản Tạm ước. Ông cũng yêu cầu mọi người tiếp tục làm việc bên cạnh “những anh em người Pháp” vì nước nhà đang cần nhiều công nhân lành nghề và chuyên viên kỹ thuật.

Đến Marseille, tại doanh trại Mazargues là nơi tập trung hàng ngàn người Việt Nam đứng đón, những tiếng hoan hô chen lẫn tiếng hô vang: “Độc lập!”. Tại đây, Hồ Chí Minh vẫn nói chuyện một cách từ tốn, ca ngợi tình hữu nghị Pháp – Việt. Ngược lại, chính hai đồng bào tôi là nghị sĩ tỉnh Marseille, đại biểu cộng sản trong Hội đồng thành phố, lại phát biểu chống Pháp. Với thái độ hung hăng khác hẳn giọng điệu mềm mỏng của Hồ Chí Minh, hai vị đại biểu người Pháp này đã cổ vũ các công nhân Việt Nam đấu tranh tới cùng chống lại “sự áp bức thực dân của Pháp”.

(Còn nữa)

dvt.vn

Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ: Phần 3

Hiệp định sơ bộ 6/3

Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Sainteny tại Hạ Long năm 1946.

(DVT.vn) – Cuối cùng, vào lúc rạng đông ngày 6 tháng 3, Hoàng Minh Giám đến chỗ tôi và nói: “Chủ tịch chấp nhận các điều kiện”.

Chúng tôi thỏa thuận, đến buổi trưa sẽ họp một lần nữa để hoàn chỉnh các Hiệp định Sơ bộ và đến buổi chiều sẽ chính thức ký vào 16 giờ.

Khoảng 9 giờ, tôi được tin binh lính của Lư Hán bắn vào các đơn vị quân Pháp đang ngược dòng sông.

Những tin tức đầu tiên không được rõ lắm, nhưng vẫn có thể hình dung được hiểm họa. Sư đoàn quân Trung Quốc viện cớ không nhận được “một cách đầy đủ chính thức” về thỏa thuận giữa Chính phủ Trùng Khánh và Pháp về việc quân Pháp đổ bộ nên đã nổ súng. (Cần nhớ rằng, hôm đó là ngày 6 tháng 3 và thỏa thuận Pháp – Hoa đã được ký kết tại Trùng Khánh từ ngày 28 tháng 2!). Một lần nữa, lại có một đơn vị lính Trung Quốc không chịu phụ thuộc vào ban tham mưu của Lư Hán với lý do chỉ tiếp nhận huấn thị của Chính phủ Trung ương ở Trùng Khánh.

Điều đó, ít nhiều cũng là lời giải thích có tính chất tương đối chính thức mà Ban chỉ huy quân đội Tưởng Giới Thạch tại Hà Nội thường sử dụng thay cho lời xin lỗi. Có thể đặt ra câu hỏi một cách đơn giản là, nếu không có sự tiếp tay của ban tham mưu Lư Hán tại Hà Nội và sự xúi giục của các cơ quan mật vụ của tướng Tiêu Văn thì làm sao tướng Uông chỉ huy sư đoàn 130 lại có thể tự ý gây ra sự cố có thể hủy hoại những cuộc đàm phán Pháp – Việt đang diễn ra tại Hà Nội, kéo dài thêm tình hình căng thẳng và nhân đó cũng kéo dài thêm thời gian đóng quân của Trung Quốc tại Bắc Kỳ.

Những tin tức về cuộc đánh úp này sau đó dần dần được biết rõ hơn. Ở đây tôi chỉ tóm tắt là, giữa lúc các tàu chiến Pháp đang từ từ ngược sông Sài Gòn để cập bến cảng thì bị quân đội Trung Quốc ở hai bên bờ sông bắn thẳng vào họ.

Đến 12 giờ 30 ngày 6 tháng 3, khi Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám, Pignon và tôi tiếp tục cuộc họp tranh luận cuối cùng thì những cuộc xung đột dữ dội ở Hải Phòng, cách Hà Nội hơn một trăm kilômét đã hoàn toàn chấm dứt.

Các thành viên trong Chính phủ Việt Nam có được biết tin về cuộc xung đột ở Hải Phòng không? Có thể có. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng vì không được biết gì về cuộc đụng độ này, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng không biết tình hình nghiêm trọng do sự việc này gây ra. Hồi đó, họ chưa có mạng lưới thông tin vô tuyến, còn hệ thống thông tin liên lạc của Trung Quốc thì rất tồi.

Về phần tôi, sở dĩ tôi được biết tin này, đó là nhờ các điện đài xách tay mà tôi đã bí mật mang từ Côn Minh về Hà Nội hồi tháng 8 năm 1945. Một số máy đã được đặt tại Hải Phòng. Từ những thiết bị này, trung tá hải quân Legendre, người có hiểu biết sâu sắc về tính cách đội quân của Tưởng Giới Thạch, ngày hôm đó đã thông báo rất kịp thời cho tôi về bước ngoặt bi thảm của những sự cố ngay khi mới xảy ra.

Tại Hà Nội, đến 13 giờ ngày 6 tháng 3 đã đạt được thỏa thuận các điều khoản trong Hiệp định Sơ bộ. Chúng tôi hẹn gặp lại nhau vào hồi 16 giờ 30 để ký chính thức.

Trong khi chờ đợi giờ phút lịch sử này, chúng tôi sống trong lo sợ, hồi hộp theo dõi sự phát triển của các hoạt động quân sự tại Hải Phòng và những cuộc đàm phán tiếp theo, chỉ lo các nhà lãnh đạo Việt Nam không ký nếu họ được biết tin quân đội Trung Quốc chống lại cuộc đổ bộ của Pháp.
Phía Trung Quốc cũng xúc động vì sự chống trả của Pháp đã phá hủy hàng mấy trăm tấn vũ khí và đạn dược chiến lợi phẩm của Trung Quốc chất đống ở Hải Phòng chờ đưa về Mãn Châu. “Sự cố” Hải Phòng có thể lan rộng thành một đám cháy lớn. Có thể tính đến một cuộc nổi dậy ở vùng đồng bằng do dân chúng phấn khích vì bị lôi cuốn vào cuộc tuyên truyền chống Pháp, hoặc sự can thiệp của toàn bộ số quân Trung Quốc đến “ứng cứu” cho sư đoàn 130 của họ đang bị Leclerc “đánh”.

Cuối cùng, còn phải tính đến số tù binh Nhật đang tập trung tại Hồng Gai. Trừ số đã chạy theo Việt Minh, số còn lại đang đặt dưới sự quản lý của Trung Quốc và được Trung Quốc đối xử một cách khoan dung rất đáng lo ngại. (Những tin tức tình báo cho biết, phần lớn số tù binh Nhật Bản tại Hồng Gai mà Trung Quốc có nhiệm vụ giải giáp, vẫn được giữ lại vũ khí).

Tất cả những lực lượng chống đối vô kỷ luật, bố trí phân tán và trang bị kém này, Leclerc dứt khoát không thể nào chống lại được khi chỉ có trong tay khoảng 2000 quân đổ bộ, rút từ các đơn vị đang làm nhiệm vụ bình định tại Nam Kỳ. May mắn làm sao, đội quân viễn chinh còn có những vũ khí hiện đại và một lực lượng pháo binh rất mạnh của hạm đội.

Ở Bắc Kỳ, 30.000 người Pháp có thể bất ngờ trở thành nạn nhân trong cuộc tổng nổi dậy giữa lúc họ tưởng rằng đã đến đoạn chốt của những đau khổ dai dẳng. Thảm họa lo lắng từ tám tháng nay và thường đã may mắn tránh khỏi, thì nay viên tướng Mãn Châu Uông Huân chỉ huy sư đoàn 130 thuộc quân đoàn 53 đóng tại vùng Hải Phòng, có thể gây ra bằng cách đột ngột phá hoại toàn bộ sự kiên trì được tiến hành với biết bao nỗ lực và hy sinh.

Đó là sự lo sợ rất dễ hình dung khi chúng tôi chờ đợi giờ phút ký bản Hiệp định Sơ bộ ghi nhận thỏa thuận để quân đội Pháp trở lại Bắc Kỳ một cách hòa bình.

Tuy nhiên, đến 16 giờ các đại biểu Việt Nam đã tới chỗ hẹn. Đó là một biệt thự mà Hồ Chí Minh đã chọn làm nhà ở. Đây cũng là nơi tiến hành lễ ký Hiệp định.

Vũ Hồng Khanh, Phó chủ tịch Quân ủy hội, Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Ngoại giao và thủ lĩnh Việt Nam Quốc dân đảng, Hoàng Minh Giám, Tổng thư ký và là cộng sự viên đắc lực của Hồ Chí Minh, các quan sát viên các nước Đồng minh: Anh, Mỹ, Hoa và cả Pháp nữa vì Hồ Chí Minh muốn Louis Caput (thư ký nhóm Mác-xit Pháp –An-nam) cũng được mời tới dự. Tôi được cử thay mặt Cao ủy Pháp ở Đông Dương là người đã trao cho tôi các quyền hạn được Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp ủy nhiệm. Cùng đi với tôi có tướng Salan, ông Léon Pignon và vài cộng sự viên cơ quan ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội.

Bản Hiệp định được đọc to trước mặt cử tọa đứng trong phòng. Hồ Chí Minh ký đầu tiên. Liền sau đó, Vũ Hồng Khanh cũng đặt bút ký. Hồ Chí Minh đã buộc được một con người khét tiếng chống Pháp, cầm đầu một lực lượng đối lập hiếu chiến phải ký tên phía dưới chữ ký của ông coi đó như một đảm bảo chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc là ông phản bội sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam.

Đến lượt tôi ký thay mặt cho nước Pháp.

Như vậy là đã kết thúc một trong những thời kỳ bi thảm nhất mà người Pháp phải trải qua ở Viễn Đông.

Ngày 2 tháng 4, bản Hiệp định Sơ bộ này được bổ sung thêm bằng những điều khoản phụ, do tướng Salan và các ủy viên hội đồng quốc phòng Việt Nam là Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh soạn thảo và ký tên, chi tiết hóa những điều kiện về việc quân đội Pháp trở lại khu vực Bắc vĩ tuyến 16, việc thay thế quân đội chiếm đóng của Tưởng Giới Thạch, việc bố trí nơi đóng quân và thành lập ban chỉ huy hỗn hợp các đơn vị tiếp phòng quân Pháp – Việt.

Hiệp định 6 tháng 3 năm 1946, sau vài lần được phân tích, phê phán, dù sao cũng mang lại quyền được sống cho gần ba mươi nghìn người Pháp, thay đội quân chiếm đóng của Lư Hán bằng đội quân của Leclerc, giữ Việt Nam trong Liên bang Đông Dương.

Hiệp định ngày 6 tháng 3 mới chỉ phác họa sơ bộ những nét đại cương và ghi nhận trong tương lai cần đàm phán tiếp những điều khoản đầy đủ hơn để củng cố sự thỏa thuận Pháp – Việt. Đây mới chỉ là một cái khung. Sau này cần phải ghi thêm những điều khoản chính xác để đảm bảo một sự hòa đồng tin cậy và một sự hợp tác có kết quả.

8 giờ sáng ngày 7 tháng 3, tôi cho kéo quốc kỳ Pháp tại mặt tiền trụ sở cơ quan Ủy viên Cộng hòa Pháp vừa mới dọn tới ít lâu tại Viện Radium phố Richaud.

Việc cần làm bây giờ là phải tuyên bố, giải thích, để dân chúng Pháp, Việt Nam và người Hoa chấp nhận ý nghĩa, tinh thần, tầm vóc bản Hiệp định vừa ký kết. Tôi nói “chấp nhận” là vì trước khi những từ ngữ chính xác của bản Hiệp định được công bố thì từ hai phía Pháp và Việt Nam đã có những lời phê phán theo từng mức độ từ nhẹ nhàng dè dặt đến dữ dội nhất.

Về phía Pháp, một số kẻ khó bảo bị kích động bởi tư tưởng phục thù rửa hận rất dễ hiểu, không thể chấp nhận bỏ qua cơ hội: “trừng trị” những người An-nam. Người ta sẽ bỏ qua sự trả thù hởi lòng hởi dạ bấy lâu nóng ruột chờ đợi hay sao?

Tuy nhiên, đây chỉ là ý nghĩ của thiểu số. Còn đại đa số người Pháp thì, với tinh thần nhạy cảm trước những thực tế và những quyền lợi của Pháp, họ hiểu ngay thời điểm trả đũa đã qua, bây giờ phải nghĩ đến công việc tái thiết, không nên mất thời giờ nhiều lại quá khứ. Sự nghiệp, công trình của Pháp đã bị lung lay, cần phải củng cố bằng cách cứu vãn những gì có thể cứu được.

Cuối cùng, đồng bào của chúng tôi đã từng quá đau khổ, quá mệt mỏi, cho nên đều đồng ý tiếp thu sự hòa dịu được ghi trong bản Hiệp định, để tận hưởng quyền được sống trên giải đất này. Mãi về sau, chỉ sau khi được núp dưới sự che chở của những cỗ xe bọc thép do tướng Leclerc mang tới, an ninh đã được đảm bảo, đến lúc đó mới lại nảy sinh những lời chỉ trích, phản kháng. Đó là phản ứng tất nhiên, nhưng thật nguy hiểm!

Về phía Việt Nam, tình hình trái ngược hẳn. Hiệp định ngày 6 tháng 3 vừa mới ký đã bị lực lượng đối lập gồm những phần tử cực đoan dân tộc chủ nghĩa, thân Quốc dân đảng Trung Quốc tạo thành phe quá khích, khai thác để chống lại Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không lạ gì tâm trạng này. Ông đề nghị với tôi, cùng ra một bản thông cáo chung, dán trên các đường phố Hà Nội, nội dung như sau:

Chính phủ Pháp thừa nhận Việt Nam tự thành lập một chính phủ riêng của mình và để cho Việt Nam hoàn toàn tự do trong việc thiết lập chính quyền. Chính phủ Việt Nam không phản đối việc quân đội Pháp trở lại một cách hòa bình để thay thế quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở khu vực Đông Dương từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên.

Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định Sơ bộ là đình chỉ mọi cuộc xung đột trên toàn lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông cáo này được truyền đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn.

J.R Sainteny                                                                                    Hồ Chí Minh
            Ủy viên Cộng hòa Pháp                                                                    Chủ tịch Chính phủ
             tại Bắc Đông Dương                                                                  Việt Nam Dân chủ cộng hòa
              Đại diện Chính phủ
                      Lâm thời
                Cộng hòa Pháp

(Còn nữa)

dvt.vn

Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn

(VOV) – Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh– Hành trình tìm đường cứu nước” tổ chức sáng 31/5 tại TP HCM nhận được 133 tham luận khoa học. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”. VOV giới thiệu toàn văn bài tham luận.

Hôm nay, tại thành phố mang tên Bác, chúng ta long trọng tổ chức Hội thảo để kỷ niệm 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước.

Tròn 100 năm trước, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Bác Hồ- lúc đó là người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình 30 năm (1911 – 1941) tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Vào thời điểm đó, không một ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt phi thường ấy.

Trên suốt chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, cuộc sống lao động đầy gian khổ đã không làm Người chùn bước, trái lại, càng tôi luyện, hun đúc lòng yêu nước nồng nàn và mục tiêu giải phóng dân tộc kiên định, thôi thúc Người tranh thủ mọi cơ hội để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tham luận tại hội thảo

Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế đã dẫn dắt người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Marx- Lenin, trở thành nhà hoạt động cách mạng quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.

Sớm nhận thức được xu thế phát triển của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười Nga mở ra, Người đã khám phá ra chân lý “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Khi đọc bản Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã vui mừng reo lên “Đây là cái cần cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.

Người nhận thức sâu sắc rằng cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo và con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững và phát huy được những thành quả của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, đó là con đường cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đánh đổ đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Marx- Lenin, thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam, trở thành quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh. Đó chính là Đường kách mệnh cho dân tộc ta mà Người đã chọn.

Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong suốt hơn 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh.

II./. Ngay sau khi Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “…nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Người khẳng định “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta. Con đường công nghiệp hóa nước nhà” và “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”.

Trong điều kiện cả nước phải dồn sức cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Ðảng ta đã kiên định con đường mà Người đã chọn– thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ.

Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 đã đề ra đường lối tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội xác định “xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại”.

Trong điều kiện chiến tranh, đất nước bị chia cắt, cơ chế kế hoạch hoá tập trung và chủ trương công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, ưu tiên công nghiệp nặng đã góp phần quan trọng trong việc huy động và tập trung nguồn lực cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tuy nhiên, khi đất nước hoàn toàn độc lập, toàn cầu hoá kinh tế, hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành những xu thế lớn của thời đại thì mô hình này trở nên lạc hậu, kém hiệu quả, kìm hãm sự phát triển.

Tại Đại hội lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã phát động công cuộc Đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, tạo ra xung lực phát triển mới, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, đi vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế.

Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Qua 25 năm thực hiện đường lối Đổi mới, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đặc biệt, trong mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001 – 2010, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 7,26%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao, đạt gần 15%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; năng lực sản xuất và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tăng gấp 3,26 lần năm 2000, góp phần đưa nền kinh tế vượt qua tác động nặng nề của khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á (1997 – 1998) và khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (2008 – 2009). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng, công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu nổi bật, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2 – 3%/năm; thu nhập thực tế bình quân theo đầu người tăng hơn 2 lần. Đến năm 2010 nước ta đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hiệp quốc đề ra cho năm 2015. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình.

III./. Chiến lược Phát triển kinh tế- xã hội 2011 – 2020 vừa được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, nhằm tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đã đưa ra một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và các giải pháp lớn, gắn kết với nhau hình thành một chỉnh thể phát triển. Tôi xin trình bày một số nội dung cốt lõi của Chiến lược được soi rọi bởi tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược

Khi xác định con đường phải đi là công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa phải tiến hành từng bước”, “Phải bảo đảm chất lượng– Không nên chỉ dốc sức vào số lượng nhưng không bảo đảm chất lượng, không tiết kiệm được nguyên liệu, vật liệu, không hạ được giá thành …”.

Người nhấn mạnh “Tiến nhanh, tiến mạnh không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Kế hoạch phải chắc chắn, cân đối. Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế”.

Như vậy, quan điểm phát triển bền vững đã được Hồ Chủ tịch và Đảng ta đặt ra từ rất sớm, nhưng trên thực tế quan điểm đó có lúc có nơi chưa được nhận thức đầy đủ và quán triệt sâu sắc trong hành động, vì vậy, kinh tế phát triển còn kém bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp.

Đây là nguyên nhân sâu xa tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô, làm giảm khả năng chống chịu của nền kinh tế nước ta trước những tác động từ bên ngoài trong một thế giới toàn cầu hóa và biến động không ngừng. Đó là khuyết điểm lớn mà chúng ta, trước hết là những người lãnh đạo, quản lý – những học trò của Hồ Chủ tịch phải nghiêm túc khắc phục. Phải quán triệt sâu sắc, kiên trì thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đại hội XI về phát triển bền vững.

2. Tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Phát triển bền vững được đo bằng nhiều tiêu chí, bảo đảm sự gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường.

Để phát triển bền vững, trước hết phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô – yếu tố quan trọng hàng đầu cho tăng trưởng bền vững; đồng thời, tăng trưởng bền vững sẽ tạo điều kiện để ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc. Vì vậy, vấn đề không chỉ là tăng trưởng mà quan trọng hơn là cách thức tạo ra tăng trưởng. Trong thời kỳ chiến lược 2001-2010, tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và nguồn lao động giá rẻ, chất lượng thấp. Điều này là khó tránh khỏi khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa. Khuyết điểm của chúng ta là duy trì quá lâu mô hình này. Đã đến lúc phải chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên việc ứng dụng các thành tựu về khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại nhằm tăng năng suất và hiệu quả sử dụng vốn, tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng nội địa cao, giá trị gia tăng lớn, có sức cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là quá trình vừa tiệm tiến, vừa cách mạng. Tiệm tiến bởi không thể có ngay mọi điều kiện đáp ứng yêu cầu phát triển theo chiều sâu ở tất cả các lĩnh vực được lựa chọn; tiệm tiến cũng còn là sự tích lũy về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Cách mạng là để tận dụng được ưu thế của nước đi sau, thực hiện chiến lược tiến nhanh, bắt kịp ở những lĩnh vực mà khoa học công nghệ phát triển cao và chúng ta có điều kiện.

Trên tinh thần này, Chiến lược xác định “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng trước hết phải được triển khai trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Bởi lẽ đây là những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, lại là những ngành có điều kiện chuyển đổi nhanh. Định hướng cơ bản là cơ cấu lại các ngành sản xuất công nghiệp cả về ngành, vùng và giá trị mới; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ; ưu tiên phát triển các sản phẩm có khả năng cạnh tranh; phát triển phù hợp các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao; hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế; hiện đại hoá và mở rộng các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Đồng thời, cần nhận thức sâu sắc hơn vai trò quan trọng và thế mạnh của nông nghiệp nước ta trong tiến trình công nghiệp hoá gắn với đô thị hoá để tập trung sức xây dựng một nền nông nghiệp đa chức năng; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và không ngừng nâng cao đời sống nông dân. Phải tìm tòi những mô hình tổ chức sản xuất phù hợp, có cơ chế để thực hiện mô hình ấy, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn làm cơ sở đưa công nghiệp tác động vào nông nghiệp, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra nền nông nghiệp sạch, năng suất cao, chất lượng tốt; bảo đảm gắn kết chặt chẽ  giữa sản xuất, chế biến, lưu thông trong một chuỗi giá trị, phân phối lợi ích hợp lý giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị đó. Đây chính là điều kiện để phát triển nền nông nghiệp bền vững, bảo đảm lợi ích của nông dân.

Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong một thế giới mà toàn cầu hóa và liên kết kinh tế ngày càng sâu sắc, cạnh tranh kinh tế diễn ra rất quyết liệt, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Điều đó càng đòi hỏi chúng ta phải có tư duy toàn cầu và hành động quốc gia để có cách làm sáng tạo. Ở đây, một lần nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về sự phát triển lại tỏa sáng. Trong quá trình tìm đến chân lý cách mạng, ngay từ năm 1924 Người đã nói “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Marx bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Marx ở thời mình không thể có được.

Marx đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.

Tư tưởng đó của Người đòi hỏi chúng ta phải trên cơ sở những bài học lịch sử về tiến trình công nghiệp hóa mà các nước đi trước đã trải qua và những đặc điểm kinh tế của thời đại, chúng ta phải tìm ra cách đi phù hợp với những điều kiện cụ thể của nước ta. Không ai có thể nhìn rõ mọi vấn đề một lúc, nhất là trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng và khó lường như thời đại hiện nay. Điều cốt yếu là phải bám sát sự vận động của thực tiễn và kịp thời điều chỉnh, mà thực tiễn thì luôn luôn cụ thể và sinh động. Lê-nin từng nói “Lấy trừu tượng mà thay thế cho cụ thể, đó là một trong những lỗi lầm lớn nhất và nguy hại nhất trong thời kỳ cách mạng”.

3. Phát huy nhân tố con người, coi con người là động lực, là mục tiêu của sự phát triển

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng yếu tố con người, lấy dân làm gốc. Người nêu luận điểm nổi tiếng “Muốn xã hội chủ nghĩa phải có người xã hội chủ nghĩa” và “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Thực tiễn khẳng định nguồn lực con người là yếu tố nội sinh năng động, là lợi thế cạnh tranh dài hạn của một quốc gia. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhảy vọt trong thời đại chúng ta. Đây là nguyên lý cứng, là yếu tố bất biến trong một thế giới toàn cầu hoá và biến đổi không ngừng. Hơn nữa, mục tiêu của phát triển kinh tế là vì con người và cho con người.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã nêu rõ quan điểm “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển”; và nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước”; coi phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược.

Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn vì sao trong điều kiện nước sôi lửa bỏng của những ngày đầu kháng chiến, Bác Hồ lại phát động phòng trào “chống giặc dốt” cùng với chống giặc đói và giặc ngoại xâm, càng thấy tầm nhìn rất chiến lược của Bác và càng bồi hồi xúc động nhớ lại lời căn dặn của Người trước khi vĩnh biệt chúng ta bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Thế hệ cách mạng cho đời sau chính là thế hệ thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác hằng mong muốn.

4. Nâng cao chất lượng thể chế, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng hệ thống pháp luật và hoàn thiện thể chế. Người viết “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người nêu nhiệm vụ cấp bách là “phải có một hiến pháp dân chủ” và chính Người đã chủ trì soạn thảo bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Hiến pháp năm 1946, đạo luật cơ bản, khuôn khổ thể chế quan trọng nhất của nhà nước ta.

Tư tưởng dân chủ, dân quyền của bản Hiến pháp này đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong Di chúc Người viết Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Chúng ta cần hiểu kế hoạch mà Bác viết ở đây với cái nghĩa sâu rộng của cụm từ này. Nó bao gồm chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và một hệ thống thể chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực cho sự phát triển đó.

Thực tiễn phát triển ở nhiều nước cho thấy thể chế chứ không phải tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa kinh tế là yếu tố quyết định sự phát triển. Một hệ thống thể chế phù hợp, có chất lượng cao là điều kiện để huy động mọi tiềm năng sáng tạo của con người cho phát triển, và chính hệ thống đó lại tạo ra môi trường rèn luyện năng lực và bản lĩnh con người.

Chính vì vậy, Chiến lược xác định “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” là một đột phá. Thực hiện tốt đột phá chiến lược này là điều kiện cần để các chủ thể kinh doanh phát huy lợi thế so sánh sẵn có và không ngừng tạo ra lợi thế so sánh mới, biến lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, tạo nên hiệu quả và sự phát triển bền vững.

5. Hoàn thiện bộ máy nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường

Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường luôn là một trong những vấn đề trung tâm của các học thuyết kinh tế. Về mối quan hệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những chỉ dẫn quý báu. Người nói “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân” và “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân… Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động”.Trong Thư gửi các giới công – thương Việt Nam ngày 13/10/1945, Bác viết “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền độc lập hoàn toàn cho nước nhà thì giới Công- Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp đỡ giới Công – Thương trong công cuộc kiến thiết này”. Như vậy, Bác đã xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể  kinh doanh trên thị trường, theo đó, giới doanh nghiệp và nhân dân đóng vai trò quyết định, nhà nước “giúp kế hoạch”, tạo môi trường và “tận tâm phục vụ” cho hoạt động kinh doanh của họ. Quán triệt tư tưởng đó của Người và từ các bài học của những cuộc khủng hoảng đã xảy ra trong thế kỷ 20 và thập niên đầu của thế kỷ 21, Đại hội XI của Đảng đã đề ra các định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường và khẳng định “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường”.

Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu lực hiệu quả, thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

IV./.Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI.

Trong 25 năm qua, TP HCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng. Là trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, thực hiện Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 20 của Bộ Chính trị, Đảng bộ và quân dân thành phố đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn thách thức, đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn ở mức 2 con số, đạt bình quân 11,2%/năm, đóng góp khoảng 30% ngân sách Nhà nước, 20% GDP và 30% sản lượng công nghiệp của cả nước. TP HCM thực sự đóng vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.

Bước vào thời kỳ phát triển mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế với những cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp, TP HCM cần phấn đấu với quyết tâm cao hơn nữa, năng động và sáng tạo hơn nữa. Tôi muốn nhấn mạnh rằng quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thường bắt đầu từ những địa bàn có chất lượng nguồn nhân lực cao, là trung tâm khoa học công nghệ, từ đó lan toả ra các địa bàn khác. Đây là vấn đề có tính quy luật. TP HCM cần nhận thức sâu sắc quy luật đó để phát huy tốt nhất lợi thế của mình, tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp rất khó khăn nhưng cũng đầy hào khí cách mạng này. Cần hiểu đúng phương châm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa chiều rộng với chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hiệu quả và tính bền vững không phải được thực hiện dàn đều trên mọi địa bàn.

Với vị thế của TP HCM, Hà Nội và các trung tâm kinh tế lớn, phát triển theo chiều sâu phải là hướng đi chủ yếu. Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức. Từ đó, tạo tác động lan toả, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía nam và trong cả nước. Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng TP HCM sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Chín năm sau khi rời Bến Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ của chúng ta đã đến với Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc điạ, bắt đầu quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam.

Là bậc Đại nhân, Đại trí, Đại dũng, trải qua “cuộc đời hoạt động oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”, tư tưởng đó không ngừng được Người bổ sung, phát triển đạt đến tầm cao minh triết, trở thành “tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta.” Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước theo con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian, đưa đất nước và dân tộc ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển, từng bước tiến lên “sánh vai các cường quốc năm châu”, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh của thời đại, với sự quản lý điều hành có hiệu quả của Nhà nước và sự nỗ lực phấn đấu của toàn xã hội, chúng ta sẽ vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước mắt là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tập trung mọi nỗ lực để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011./.

Nguyễn Tấn Dũng – Ủy viên Bộ Chính trị – Thủ tướng Chính phủ

vov.vn

Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ – Phần 2

Nỗ lực ngăn chặn cuộc chiến tranh toàn diện

Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(DVT.vn) – Hồ Chí Minh rất vui khi gặp Quennouelle và đã có nhã ý gọi viên sĩ quan này một cách rất hóm hỉnh là “Ông nhảy dù”.

…Tất cả những gì tôi đã thấy được, nghe được trong chuyến về Pháp ngắn ngày hồi tháng 3 mà Leclerc và nhiều tướng lĩnh, đô đốc đã bộc lộ cảm tưởng trong khi nói chuyện với tôi là phải cố tìm mọi cách tránh giải pháp vũ lực.

Mười ba tháng sau, tức ngày 13 tháng 2 năm 1947 khi chiến tranh đã bùng nổ, trong bản báo cáo về tình hình quân sự tại Bắc Kỳ, tôi đã viết:

“Chúng ta không có phương tiện, cũng không có ý định dấn thân vào một cuộc chiến tranh kéo dài. Vậy mà, tôi thấy rằng hiện nay hình như lại có chủ trương tiến hành những hoạt động quân sự làm phân tán lực lượng của chúng ta và đẩy lùi những kết quả đã đạt được ra xa…”.

Lúc đó, tôi đã chuẩn bị tiếp nhận quan điểm của tướng Leclerc, trùng hợp hoàn toàn với quan điểm của tôi.

Vì vậy, tôi đã làm việc không ngừng để đạt được hai Hiệp định Pháp-Việt và Pháp- Hoa ký kết tại Hà Nội và tại Trùng Khánh.

Sẽ dài dòng nếu nhắc lại ở đây chi tiết những buổi nói chuyện rất nhiều và rất dài, trong đó Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông tranh luận với tôi từng câu, từng chữ để đi tới bản Hiệp định Pháp- Việt. Đã biết bao lần chúng tôi có cảm tưởng không thể nào đạt được thỏa thuận, trước cảm giác thất vọng vì chúng tôi không bao giờ có được tiếng nói chung. Hồ Chí Minh đòi phải được suy nghĩ cẩn thận, phải tham khảo ý kiến của các cộng sự, các cố vấn, đôi khi cả cố vấn của ông, tức Bảo Đại.

Về phía tôi, tôi cũng phải thường xuyên hỏi ý kiến Phủ Cao ủy đặt tại Sài Gòn, trước khi chấp nhận
một câu, một chữ trong đàm phán.

Chỉ riêng việc định nghĩa nội dung từ “Độc lập” đã làm những cuộc đối thoại giữa chúng tôi vấp váp nhiều nhất và cũng nhiều lần đức đoạn.

Nhiều lần, những cuộc đối thoại đứt đoạn này kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, cho tới khi một người trung gian có thiện chí đã tìm cách để những người đối thoại Pháp và Việt Nam lại giáp mặt nhau. Đó là Louis Caput được các giới Việt Nam, phe xã hội hoặc Mác-xit tín nhiệm, coi như một người chân thành, trung thực. Tình hữu nghị của Caput đối với Việt Nam được thể hiện trong việc ông đã ủng hộ nhiều khát vọng của nhân dân Việt Nam, nhưng ông cũng thuộc phái không kém phần hăng hái trong việc bảo vệ sự có mặt và những quyền lợi của Pháp ở Đông Dương.

Mãi tới ngày 16 tháng 2, sau một cuộc họp kéo dài vừa mới được nối lại, lần đầu tiên chúng tôi mới có cảm giác là có khả năng đạt được thỏa thuận. Hồ Chí Minh đã định rõ các khát vọng của ông và những điều kiện do ông đề xuất. Tôi quyết định đi Sài Gòn thỉnh thị ý kiến tướng Leclerc lúc này đang tạm quyền chức vụ Cao ủy thay đô đốc D’Argenlieu về Pháp công tác, trước khi đệ trình Chính phủ Pháp.

Ngày 18 tháng 2, tôi đi Sài Gòn. Tướng Leclerc là người hiểu rõ sự cần thiết phải đạt được hiệp định, ngày 14 đã điện về Pháp nói rõ, để đạt được hiệp định này thì không ngần ngại tuyên bố danh từ “Độc lập” cho Việt Nam. Trong cuộc gặp tướng Leclerc, chúng tôi đều hiểu ngay là có thể đi tới đích.

Những nét đại cương của đề án này lập tức được điện cho đô đốc D’Argenlieu để ông có thể trình bày với Chính phủ Pháp – Leclerc kết thúc bức điện bằng một câu như sau:

“Tôi nhắc lại, các đề nghị cụ thể của Chính phủ Pháp cần phải được gửi tới ngay, nếu không có thể bỏ lỡ cơ hội”.

Cũng xin nhấn mạnh, trong bức điện này không có vấn đề phải tuyên bố ngay danh từ “Độc lập”.

Phản ứng đầu tiên của Paris là thuận lợi. Tôi quay trở lại Hà Nội ngay. Hôm sau, tôi nhận được bản dự thảo Hiệp định về nguyên tắc mà đô đốc D’Argenlieu ủy nhiệm cho tôi nhân danh Chính phủ Pháp chuyển tới Hồ Chí Minh.

Điện trả lời của Chính phủ Pháp phê chuẩn những điểm đề nghị mà chúng tôi đã gửi đi trong bức điện ngày 18. Có một vài điểm cần xác định thêm, nhưng nội dung cơ bản đã được duyệt.

Đó là công nhận Việt Nam “là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hợp Pháp” mà Chính phủ Hồ Chí Minh đã chọn, trước khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3.

Hồi đó, có lời đồn đại nói rằng Chính phủ Pháp đã bị đặt trước “một việc đã rồi”. Lời đồn đại này do một số nghị sĩ Pháp đưa ra trong cuộc họp Quốc hội Pháp, nói rằng, Chính phủ Pháp chẳng được biết tin gì về những cuộc đàm phán diễn ra tại Hà Nội và mãi tới ngày 7 tháng 3, sau khi hiệp định đã ký kết, mới được báo cáo. Việc chính phủ duyệt y những đề nghị của chúng tôi trước khi ký hiệp định một lần nữa đã chứng minh những lời đồn đại này là không chính xác.

Ngay trước khi ký kết hiệp định, tôi đã gặp Hồ Chí Minh nhiều lần sau khi Chính phủ Pháp từ Paris đã điện trả lời những đề nghị của chúng tôi trình lên chính phủ ngày 18 tháng 2. Đến khi bản hiệp định có thể được ký, tôi cũng đòi nhấn mạnh với vị Chủ tịch Chính phủ Việt Nam là, bên cạnh chữ ký của người đứng đầu chính phủ hiện hành, nên có thêm chữ ký của các đảng phái để phản ánh đầy đủ chính kiến của công luận Việt Nam hồi đó.

Thật vậy, ngày 31 tháng 10 năm 1945, chính phủ cũ của Việt Nam đã được từ chức. Số đại biểu Quốc hội cũng đã giảm từ 444 xuống 291. Chính phủ mới thành lập ngày 3 tháng 11 gồm đại đa số là thành phần thân Việt Minh. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội Việt Nam họp tại Nhà hát lớn Hà Nội đã biểu quyết bằng hình thức giơ tay, công nhận chính phủ mới, gồm có:

Chủ tịch: Hồ Chí Minh (Việt Minh).

Phó chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội).

Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng).

Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng, nhà cách mạng lão thành ở Huế, thuộc chủ nghĩa dân tộc đi theo chủ nghĩa cộng sản, cựu Tổng biên tập tờ Tiếng Dân.

Cứu tế: Chu Bá Phượng (không đảng phái).

Tài chính: Lê Văn Hiến (Việt Minh).

Quốc phòng: Phan Anh, nguyên Bộ trưởng Thanh niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim

Y tế: Trương Đình Tri, cựu đại úy bác sỹ (Đồng minh hội).

Giáo dục: Đặng Thai Mai (Việt Minh).

Tư pháp: Vũ Đình Hòe (Việt Minh).

Công chính: Trần Đăng Khoa (Nam Kỳ).

Nông nghiệp (Bồ Xuân Luật vốn là trung sĩ lính cảnh vệ Đông Dương, chạy sang Trung Quốc năm 1940 (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội).

Bảo Đại vẫn là cố vấn tối cao của chính phủ này, một chính phủ được thành lập dưới sức ép của tình hình thời cuộc và của những đòi hỏi cấp bách.

Cùng trong lúc tiếp tục đàm phán nhằm cho phép quân đội Pháp trở lại Bắc Kỳ, chúng tôi cũng phải tính trước đến khả năng thất bại và chuẩn bị các biện pháp ứng phó.

Đạo quân viễn chinh Pháp đã xuống tàu, nhưng vì những lý do về thủy triều, chỉ có thể đổ bộ lên Hải Phòng trong khoảng thời gian từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3. Nếu đến thời hạn cuối cùng Hiệp định vẫn chưa được ký kết thì vẫn cứ phải đổ bộ bằng vũ lực và sẽ gặp nhiều rủi ro cho dân chúng Pháp.
Chúng tôi đã thỏa thuận với tướng Leclerc, dù thế nào cũng phải đổ bộ đúng hạn định và phải chuẩn bị sẵn sàng những hoạt động quân sự để bảo vệ dân chúng Pháp đang sống tại Hà Nội chống lại những phản ứng của Trung Quốc và Việt Nam như: nhảy dù biệt kích xuống các điểm nhạy cảm, thả dù vũ khí xuống các binh sĩ Pháp đang bị nhốt tập trung trong thành Hà Nội v.v…

Leclerc đã cử ra Hà Nội trung úy hải quân Philippe Quennouelle, là một trong những trợ lý của thiếu tá Pouchardier, chỉ huy đội biệt kích đã được chỉ định sẽ nhảy dù xuống Hà Nội. Bước ngoặt trong cuộc đàm phán đã cho phép chúng tôi tiết kiệm được các hoạt động quân sự. Sau khi tới Hà Nội, Quennouelle đáng lẽ tham gia đội biệt kích dù thì lại ở bên cạnh tôi để cùng tham gia đàm phán… Hồ Chí Minh rất vui khi gặp Quennouelle và đã có nhã ý gọi viên sĩ quan này một cách rất hóm hỉnh là “Ông nhảy dù”.

Đối với tôi “ông nhảy dù” quả là một cộng sự quý, một đồng đội khó ai sánh kịp. Sau này, trong đêm 19 rạng ngày 20 tháng 2 năm 1946, khi bùng nổ chiến tranh, Quennouelle cùng với vài binh sĩ nữa đã bảo vệ trụ sở làm việc của tôi trước sự tiến công của Việt Minh.

Theo dự kiến, Hiệp định sẽ được ký kết chậm nhất là vào đêm ngày 5 rạng ngày 6 tháng 3 năm 1946. Nhưng, mãi tới quá nửa đêm, các nhà thương lượng đôi bên vẫn còn sa lầy trong bế tắc. Pignon và tôi rút về nhà riêng, sau khi đề nghị Hồ Chí Minh suy ngẫm thêm. Tôi cũng nói rất rõ với Hồ Chí Minh, để lại đến hôm sau thì chắc chắn là quá chậm. Hồ Chí Minh cũng biết, các tàu chiến của Pháp chở Leclerc và đội quân viễn chinh đã tới sát bờ biển Bắc Kỳ.

Trong khi đó, từ tối ngày 5 tháng 3, Leclerc đã cho người mang đến cho tôi một thư riêng, trong đó ông đề nghị tôi bằng bất cứ giá nào cũng phải đi đến ký kết. Leclerc đã được báo tin về những ý đồ của các chỉ huy đội quân Lư Hán chiếm đóng Bắc Kỳ đang muốn chống lại quân Pháp đổ bộ, vi phạm hoặc cố làm ra vẻ không biết gì về những thỏa thuận đã đạt được giữa Pháp và Trung Quốc tại Trùng Khánh. Vì vậy, ông ngại sẽ xảy ra điều tệ hại nếu đổ bộ mà không có sự thỏa thuận.

(Trong lá thư viết tay của đại tá Lecomte là người tham dự cuộc hội đàm giữa đại diện hai ban tham mưu Pháp – Hoa cũng cho biết, trong cuộc họp này phía Pháp đã vấp phải mọi lý do trì hoãn cuộc đổ bộ. Các tướng lĩnh Trung Quốc được biết về giải pháp bó buộc của Leclerc phải đổ bộ đúng hạn định, đã lường được sự thỏa thuận của Trung Quốc. Nhưng họ cũng không thể chấp nhận sự nguy hiểm đó. Vì vậy, một người trong hàng ngũ của họ là tướng Tchao có ý thức hơn về thảm kịch đang có nguy cơ xảy ra, đã tự thân chinh đi gặp Hồ Chí Minh, đề nghị Hồ Chí Minh thỏa thuận với tôi và không ra lệnh chống lại cuộc đổ bộ để tránh một sự bùng nổ chiến tranh toàn diện).

(Còn nữa)

dvt.vn

Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ – Phần 1

Những trò Tàu

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946

(DVT.vn) – Nỗ lực tìm kiếm hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào những năm 1945-1946 được kể lại trong hồi ký của một chỉ huy tình báo Pháp, ông J.P. Sainteny.

Lý do chính thức về sự có mặt của quân đội Trung Quốc như mọi người đều biết, là để giải giáp vũ khí các đơn vị quân đội Nhật Bản đóng ở bắc vĩ tuyến 16 với số quân vào khoảng 35.000 người. Vậy mà, người ta có thể ước lượng tới 130.000 quân Trung Quốc kéo vào Bắc Đông Dương, và nếu thêm cả những “bậu xậu” đi theo phục vụ thì có tới gần 200.000 người Trung Quốc đã “đổ xô” vào xứ Bắc Kỳ.

Rất dễ dàng hình dung được tâm trạng những người lính Trung Quốc này, vốn là dân các tỉnh rộng lớn tiếp giáp với Đông Dương như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, vào lúc họ có dịp thực hiện những ước mơ bấy lâu ve vuốt họ. Và thế là, không cần phải chiến đấu, Hoa Nam đã có thể chiếm lĩnh các cửa biển thiên nhiên của xứ Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, giơ bàn tay nắm lấy Hoa kiều ở Đông Dương ngồi lên một vùng mà nhiều người trong bọn họ cứ ngoan cố cho rằng đây là một tỉnh chư hầu của Trung Quốc, và mọi người đều coi là miền đất hứa, đến đây với tư cách là ông chủ.

Thay cho việc kể lể dài dòng, tôi xin nêu lên tóm tắt một số sự cố điển hình để có thể hiểu rõ hơn tình hình về sự chung đụng quyền hành, một trong những thí dụ này là chuyện chiếc máy bay Dakota xuất phát từ Vinh.

Tôi đã dự định đưa từ Vinh vào Nam Kỳ một vài người Pháp đau bệnh cần chữa trị gấp. Số chỗ đã được dành sẵn cho họ trong chiếc máy bay quay trở lại Sài Gòn. Tất cả những giấy phép hạ cánh đã nhận được đủ. Phải có giấy phép của những nhà chức trách Trung Quốc và Việt Nam thì một chiếc máy bay Pháp mới được hạ cánh xuống sân bay Vinh. Những tiếp xúc với người Trung Quốc được thực hiện với một ban liên lạc, gọi là “Ban liên lạc Pháp – Hoa” thiết lập từ khi Bộ tư lệnh Trung Quốc có mặt tại Hà Nội. Về phía Pháp có các đại úy Lonbaton, Gribelin Bérard và trung úy Augier. Loa phóng thanh trên sân bay báo tin máy bay đã tới. Phải đưa nhanh những người bệnh lên máy bay để máy bay tiếp tục bay vào Sài Gòn, đưa người bệnh tới bệnh viện ngay trong tối hôm đó.

Thế nhưng, ngày hôm sau Sài Gòn báo tin máy bay vẫn chưa tới. Đã chuẩn bị tổ chức tìm kiếm, thì đội phi hành đoàn trong chiếc Dakota báo tin máy bay vẫn hãy còn ở Vinh vì các nhà chức trách Trung Quốc chưa cho bay.

Chúng tôi lập tức kêu cứu tới Bộ tư lệnh Trung Quốc tại Hà Nội. Họ xác nhận các giấy phép đều hợp lệ và đã gọi điện cho ban chỉ huy quân đội Trung Quốc tại Vinh là chiếc Dakota vẫn đang bị bao vây.

Bốn mươi tám giờ đã trôi qua. Mặc dù đã có lệnh từ Hà Nội, nhà chức trách Trung Quốc ở Vinh vẫn không cho chiếc máy bay của chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.

Tôi tới gặp tướng Lư Hán, yêu cầu ông đích thân gọi điện cho Vinh để khẳng định mệnh lệnh giải phóng cho chiếc máy bay. Tướng Lư Hán đã làm theo, nhưng mấy giờ sau chúng tôi được biết, những mệnh lệnh của ông vẫn không được thực hiện.

Mấy ngày sau, chất vấn về ác ý đã gây ra sự cố ở sân bay Vinh, ban tham mưu Trung Quốc mới giãi bày một cách thành thật rằng, đúng là giấy phép có ghi rõ chiếc Dakota của Pháp có thể hạ cánh xuống Vinh để mang đi vài người Pháp sống tại thị xã này, nhưng lại không ghi là chiếc máy bay này được tiếp tục cất cánh. Vì vậy, khi máy bay hạ cánh đã được tiếp nhận rất lịch sự, nhưng không được phép rời khỏi Vinh.

Những sự cố tương tự như vậy kéo dài suốt hơn một năm. Nếu có những sự cố nhẹ nhàng, nếu có những việc lạm dụng quyền hành rất nhiều như tất cả mọi quân đội chiếm đóng đều gây ra, thì hỡi ôi!

Vụ giấy bạc mệnh giá 500 đồng Đông Dương xảy ra hồi cuối tháng 11 năm 1945 đe dọa dẫn đến thảm họa. Đầu đuôi câu chuyện như sau:

Tháng 8 năm 1945, vài tuần trước khi sụp đổ, Nhật Bản đã cho in từ nhà máy in của ngân hàng Đông Dương mà họ chiếm được hàng trăm triệu giấy bạc mệnh giá 500 đồng. Trong đó mối quan tâm đáng lo ngại, xuất phát từ quan điểm chính thống về tiền tệ, một buổi sáng các nhà chức trách ở Sài Gòn tuyên bố, dĩ nhiên không báo trước, hủy bỏ toàn bộ những loại tiền mệnh giá 500 đồng đã in trong khoảng thời gian từ 9 tháng 3 đến 25 tháng 9 năm 1845. Còn những số tiền cùng loại đã in từ trước thì đã tạm cất giữ trong các ngân hàng. Hành động này là hoàn toàn chính đáng. Nhưng Sài Gòn đã không lường hết những hậu quả xảy ra ngay tức khắc.

Thật vậy. Bởi vì số lớn tiền giấy mệnh giá 500 đồng in trong mùa thu 1945 là nằm trong tay Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ở Hà Nội và những doanh nghiệp lớn của người Hoa ở Bắc Đông Dương. Tôi được mời đến một cách lịch sự, để giải thích về chủ trương này và sau đó là để hoãn thực hiện không thời hạn. Trong trường hợp ngược lại, tôi được cảnh báo là sẽ rất khó trấn an được dân chúng Việt Nam đang rất “xúc động” trước việc ăn hiếp một cách không thể chấp nhận được.

Về phía dân chúng Việt Nam, họ vẫn bình thản khi nghe thông báo về biện pháp “tiền tệ” dù có chấn động đôi chút. Bởi vì số đông họ đều là dân nghèo, đến mặt mũi tờ 500 đồng đó như thế nào họ cũng không biết. Nhưng, vào khoảng 48 giờ sau thì sự bất công trong chủ trương tiền tệ đã gây chấn động. Nhiều cuộc biểu tình và tụ họp bắt đầu làm rối loạn trật tự thủ đô Bắc Kỳ. Các chi nhánh ngân hàng không chịu đổi tiền giấy 500 và những diễn biến càng trở nên đáng lo ngại từng giờ một.

Lúc này tôi đã tới Sài Gòn để tìm hiểu rõ những nguyên nhân của quyết định cấm lưu hành loại tiền giấy mệnh giá 500 nói trên. Một số người khởi xướng được cử cùng đi với tôi ra Bắc Kỳ để trực tiếp giải thích cho các bạn Đồng minh lý do tại sao không thể để loại tiền giả này tự do lưu hành.

Trong khi đó tình hình căng thẳng đã càng cao tại Hà Nội. Ngay khi vừa tới, tôi đã được báo tin một cuộc biểu tình đã được dự kiến tổ chức ngay trước trụ sở Ngân hàng Đông Dương sau khi tôi tới.

Đúng như vậy, khoảng 14 giờ 30 có những tốp người bắt đầu tụ tập trước cửa ngân hàng, tại vườn hoa Pastuer. Đến 15 giờ số người càng đông thêm. 15 giờ 30 những phát súng đầu tiên bắt đầu nổ.

Ai là kẻ đáng ngờ đã gây ra vụ này? Các cơ quan mật vụ Trung Quốc hay là dân chúng Việt Nam đã mạo hiểm trước lửa đạn chỉ vì một tờ tiền giấy mà có lẽ họ chưa bao giờ có.

Vài người bị thương được mang vào trụ sở ngân hàng để cứu chữa. Về phía những “kẻ hành hung” cũng có những tên bị thương trong đó vài tên đến hôm sau đã chết.

Chúng tôi phải thỏa thuận với các nhà chức trách Trung Quốc tổ chức một cuộc họp dưới sự chủ tọa của tướng Gallagher, chỉ huy phái đoàn Mỹ tại Hà Nội để giàn xếp vấn đề gai góc này.

Trong cuộc họp được tổ chức tại trụ sở phái đoàn Mỹ có các tướng lĩnh chủ chốt của tướng Lư Hán, ông Lăng Kỳ Hàn đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc và một đại diện nữa của Bộ Tài chính Trung Quốc. Về phía Pháp, ngoài ông Clarac là cố vấn liên bang ngoại giao và ông Francois Bloch Laine là cố vấn liên bang về tài chính cùng đi với tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, còn có các cộng sự viên của tôi, trong đó có ông Jean Laurent tổng giám đốc Ngân hàng Đông Dương đang ở Hà Nội vài ngày, ông Baylin, giám đốc chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Bắc Kỳ, một người Pháp rất đáng ca ngợi, thông thạo tiếng Trung Quốc, chủ một gia đình vĩ đại nước Pháp. Baylin là một con người vừa thẳng thắn vừa nhân hậu, chỉ biết có bạn, nhưng lại là nạn nhân chịu tội của vụ việc này. Vài ngày sau cuộc họp, trong khi ông đang chậm rãi trở về nhà bằng bước chân tập tễnh của một thương binh loại nặng hồi chiến tranh, ông đã bị một số kẻ lạ mặt bắn chết mà không bao giờ điều tra được tung tích.

Buổi họp hôm đó kéo dài gần một giờ và kết thúc bằng lời cam kết sẽ đổi những tiền giấy mệnh giá 500 đồng mà quân đội Trung Quốc đang giữ theo giá trị bồi hoàn. Tức là, một tờ 500 đổi được một tờ 150 đồng ở Nam Kỳ hoặc 250 đồng ở Bắc Kỳ. Và đã phải tiến hành nhiều cuộc đổi tiền loại này.

Ngày 25 tháng 3, Lư Hán đòi 300 triệu đồng Đông Dương. Chúng tôi từ chối. Bộ tư lệnh độc quyền Vân Nam liền đòi Ngân hàng Đông Dương phải nộp ngay cho họ bốn mươi triệu. Bất chấp những phản kháng của Pháp, nhiều khoản nộp khác vẫn cứ đặt ra và tổng số đã lên tới 400 triệu vào cuối giai đoạn chiếm đóng. Cũng phải thêm vào đó con số 14.000 tấn gạo nộp cho cơ quan hậu cần Trung Quốc, tương đương với 27 triệu đồng theo thời giá.

Trước khi rời khỏi Bắc Kỳ, ban tham mưu của tướng Lư Hán còn đòi thêm 250 triệu đồng. Rất dễ dàng hình dung được là số tiền này không phải dùng để trả lương cho binh lính bởi vì binh lính và hạ sĩ quan Trung Quốc đều được trả lương bằng đồng tiền Trung Hoa.

Một trong những biện pháp đầu tiên của Bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ngay khi mới tới là buộc dân chúng miền Bắc Đông Dương phải chấp nhận đồng tiền Trung Quốc coi đó như loại tiền tệ chính thức, ngang giá với đồng Đông Dương. Hơn nữa, đồng quan kim Trung Quốc còn được áp đặt trị giá tương đương với 1 đồng 50 tiền Đông Dương và ngang với 20 đô la Trung Quốc, một loại tiền mà hình dáng khuôn khổ giống như đồng đô la Mỹ, gây cảm tưởng đó cũng là đô la Mỹ. Một bản cáo thị được dán trên tường các phố phường Hà Nội đã làm cho đồng tiền Trung Quốc trở thành loại tiền tệ chính thức và dân chúng phải chấp nhận tỉ giá:

Quân đội Trung Hoa được lệnh tiến vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật Bản đầu hàng. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ mà quân đội Trung Quốc phân tán binh lực, không thể có được một hệ thống tiền tệ chung cho các cuộc giao lưu buôn bán. Vì vậy, nay ấn định tỉ giá các loại tiền Trung Hoa Dân quốc như sau:

1 quan kim = 1,5 đồng Đông Dương.
20 đô la Trung Quốc = 1,5 đồng Đông Dương.

Tỷ giá này là mệnh lệnh phải thực hiện, không được tự ý thay đổi với bất cứ hoàn cảnh nào. Kẻ nào không tuân lệnh sẽ bị Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc trừng trị nghiêm trọng.

Hành động độc đoán kiểu “ông hoàng” này đã dẫn đến những vụ đầu cơ tai tiếng kéo dài suốt vài tuần. Đồng quan kim được mua tận gốc tại Trung Quốc với giá rẻ gấp 5 lần sau đó đã được chuyển hàng đống vào Bắc Kỳ làm lợi cho người Hoa. Chỉ trong vài tuần, tất cả những thứ gì có thể bán được đều rơi vào tay người Hoa với giá rẻ như biếu không.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 7)

Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Bắc

(DVT.vn) – Đoàn đại biểu Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Bác cùng đi với tư cách là khách của Chính phủ Pháp. Đi máy bay Dakota, 12 ngày mới tới Pháp…

Sau khi Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 được ký kết, tên thầy tu phá giới Thierry d’Argenlieu tìm mọi cách ngăn cản việc thi hành Hiệp định đó: không chấm dứt chiến sự ở miền nam, trì hoãn việc họp hội nghị chính thức giải quyết vấn đề quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Pháp.

Ý đồ của viên cao ủy nham hiểm là lợi dụng việc kéo dài thời gian để thực hiện chính sách “việc đã rồi” trước khi bắt đầu hội nghị: càn quét ở Nam Bộ, đánh chiếm Plây-cu – Kon-tum, xây dựng cái gọi là “phong trào tự trị ở Nam Bộ”…


Chính phủ kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc năm 1948.
(Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám là người đứng thứ tư hàng thứ hai từ phải sang).

Nhưng sau Hội nghị trù bị, Pháp không thể trì hoãn hơn nữa, mà phải chấp nhận: một đoàn đại biểu Việt Nam sẽ lên đường chậm nhất là vào cuối tháng 5 sang Paris để đàm phán, và Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cùng đi, với tư cách là khách của Chính phủ Pháp.

Việc Bác sẽ đi Pháp không khỏi làm nhân dân và cán bộ ta lo lắng… Nhưng Bác rất bình tĩnh, và chuẩn bị chu đáo:

1. Mở rộng và củng cố khối toàn dân đoàn kết: Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời (gọi tắt là Hội Liên Việt), rộng rãi hơn mặt trận Việt Minh, bao gồm tất cả những người Việt Nam (Việt Minh hay không Việt Minh), sẵn sàng đoàn kết, chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Ban chấp hành của Hội gồm các vị:

Hội trưởng danh dự: Hồ Chí Minh

Phó Hội trưởng: Huỳnh Thúc Kháng và Tôn Đức Thắng.

Tổng Thư ký: Cù Huy Cận.

Các Ủy viên trung ương: Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tử Hạ và Nguyễn Tường Long.

2. Cụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ là quyền Chủ tịch nước và lãnh đạo Chính phủ theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Hai máy bay Dakota đã chở Bác và Đoàn đại biểu ta, có tướng Salan và đại tá Tutenge đi hộ tống. Trưởng đoàn ta là Nguyễn Tường Tam vắng mặt, vì lý do sức khỏe.

Dọc đường, máy bay nghỉ nhiều chặng, do đó, phải 12 ngày sau khi cát cánh từ Gia Lâm, mới đến đất Pháp. Chỉ thị của Chính phủ Pháp là: “Hãy đưa các vị ấy đi du ngoạn càng lâu càng tốt (Faire balader ces Messieurs le plus longtemps possible). Lý do là Pháp chưa có Chính phủ.

Máy bay đã bay qua Miến Điện (Myanmar), Ấn Độ, Iraq, Ai Cập, sa mạc Sahara; đã dừng lâu tại Ấn Độ (tổ chức tham quan Calcutta, thủ đô New Delhi…), Ai Cập (tổ chức tham quan thủ đô Cairo, vùng Kim tự tháp…).

Ngày 12/5, Đoàn ta đến thành phố Biarritz, thuộc vùng tây-nam nước Pháp, gần Tây Ban Nha. Chỉ có ông… phó chủ tịch quận… ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Việt Nam ở sân bay!

Hôm sau, mới thấy Sainteny từ Paris đến, xin lỗi, vì không biết ngày giờ đến của máy bay! Rất bình tĩnh, Bác phàn nàn về hành động rất sai trái của d’Argenlieu đã cho phép thành lập một chính phủ bù nhìn ở miền nam Việt Nam (Bác nhận được tin đó khi máy bay đang bay trên vùng Syria). Và Bác nói với Sainteny: “Tôi tự hỏi có nên tiếp tục đi đến Paris hay không?”

Được tin Bác và Đoàn ta đến Biarritz, nhiều Việt kiều, nhiều nhân vật Pháp, bạn của Bác, lần lượt đến Biarritz chào và thăm hỏi. Đồng chí Charles Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân khí đã chuyển lời chào của Đảng Cộng sản Pháp, và phàn nàn với Sainteny về sự đón tiếp quá luộm thuộm đã dành cho Bác.

Đoàn đại biểu ta chỉ ở lại Biarritz hai ngày, rồi đi Paris bằng xe lửa…

Trong thời gian Bác Hồ ở Biarritz (15 ngày), ngoài việc tiếp khách Pháp và Việt kiều, Bác tranh thủ đi thăm cùng Basque, thăm hỏi dân đánh cá, tìm hiểu đời sống, phong tục, tập quán của nhân dân địa phương.

Bác được tin: Ngày 21/6, d’Argenlieu đã ra lệnh cho quân đội Pháp chiếm phủ toàn quyền Pháp cũ, nhân dân Hà Nội đã đình công hai ngày liền để phản đối, nhưng cụ Huỳnh và anh Giáp không làm to chuyện (dĩ bất biến ứng vạn biến!…).

Bác cũng được tin ngày 24/6, Chính phủ do Félix Gouin (đảng SFIO) đứng đầu đã rút lui, nhường chỗ cho một chính phủ mới gồm ba đảng (MRP, Cộng sản, SFIO) do Bidault (chủ tịch đảng MRP) đứng đầu; Moutet vẫn giữ chức Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, nhưng Bidault phụ trách vấn đề Liên hiệp Pháp (Union Française), có Alexandre Varenne (nguyên toàn quyền Đông Dương) làm phụ tá.

Ngày 22/6/1946, Bác đến Paris (sân bay Le Bourget). Đón tiếp rất long trọng, lộng lẫy tuy không có Bidault, chỉ có Moutet thay mặt Bidault. Nhưng cờ Việt Nam, cờ Pháp, kèn trống, quan khách, dân chúng, nhất là dân chúng, Việt kiều, người Pháp, báo chí, nhiếp ảnh, quay phim, rất đông, rất vui, rầm rộ, tưng bừng, nồng nhiệt, phấn khởi. Mọi người ngạc nhiên thấy một vị Chủ tịch nước rất độc đáo, ăn mặc rất giản dị, trên ngực không đeo một tấm huân chương nào, có một chòm râu thưa thớt, một bộ mặt rất hiền từ, vui vẻ, khiêm tốn, một đôi mắt rất sáng.

Mấy ngày sau, ở khách sạn Royal Monceau, đã dành riêng đón Bác, rất nhiều người (nhà báo Pháp và các nước khác, các chính khách Pháp, Việt kiều…) xin được gặp Bác. Chính phủ Pháp mời Bác thăm Điện Versailles, đi tham quan vùng Normandie (một chiến trường quan trọng trong chiến tranh vừa qua). Ngày 2/7, Bidault tiếp chính thức Bác. Ngày 3/7, Bác long trọng đi viếng Đài Chiến sĩ vô danh.

Bác dành buổi gặp mặt đặc biệt với Việt kiều, để Bác và Đoàn nói chuyện và cảm ơn sự giúp đỡ đoàn rất nhiệt tình của Việt kiều.

Bác dành thì giờ đi thăm và tiếp những người bạn cũ như Léon Blum mà Bác đã gọi thân mật là papa Blum, các đồng chí cộng sản, xã hội… đã cùng nhau chiến đấu bao nhiêu năm về trước, đồng cam cộng khổ… Bác làm quen với những bạn mới (như Edmond Michelet, bộ trưởng Bộ Quân lực, được Bidault giao trách nhiệm quan hệ trực tiếp với Bác), những nghị sĩ Pháp và thuộc địa Pháp (Angérie, Madagasca, Sénégal, Côte d’Ivoire…), các nghị sĩ này tỏ ra rất xúc động khi được gặp Bác, có người đã không cầm được nước mắt lúc chia tay.

(Còn nữa)

dvt.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước

(VOV) – Đây là chủ đề của hội thảo khoa học được tổ chức sáng 31/5 tại TP HCM.

Hội thảo 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911– 5/6/2011) do Thành ủy TP HCM phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ VH-TT&DL tổ chức.

Tham dự có Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng- Thủ tướng Chính phủ, Đinh Thế Huynh- Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Lê Thanh Hải- Bí thư Thành ủy TP HCM, Trần Đại Quang- Thứ trưởng Bộ Công an cùng các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu đến từ các viện, trung tâm, hội khoa học trong cả nước.

Cách đây tròn 1 thế kỷ, ngày 5/6/1911 từ bến cảng Sài Gòn, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước nhiệt thành, tình thương dân vô hạn và với nghị lực phi thường đã ra đi tìm đường cứu nước.

Sau 3 thập kỷ bôn ba qua bốn châu lục, gần 30 nước trên thế giới để lao động, học tập, tham gia hoạt động các tổ chức, phong trào cách mạng của thế giới, Nguyễn Tất Thành–Nguyễn Ái Quốc đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên Chủ nghĩa Xã hội và giành thắng lợi này đến thắng lợi khác…

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tham luận tại hội thảo

Phát biểu khai mạc cuộc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh cho biết, trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu về cuộc hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do ý nghĩa lịch sử sâu sắc, lớn lao của cuộc hành trình đó đối với cách mạng, với dân tộc Việt Nam, chúng ta còn phải tiếp túc nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn.

Ông Đinh Thế Huynh nhấn mạnh, hội thảo hôm nay không chỉ góp phần khẳng định sâu sắc hơn ý nghĩa, giá trị lịch sử lớn lao cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn góp phần tìm ra các bài học lớn cho hiện tại và tương lai của dân tộc…

Với chủ đề “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại Hội thảo một lần nữa khẳng định: Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội, trong suốt hơn 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử.

Đó là thắng lợi của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện rõ nhất là những thành tựu của đất nước sau 25 năm đổi mới, nhất là Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Trong bài tham luận của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi sâu phân tích một số nội dung cốt lõi trong Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội của đất nước (2011-2020) được soi rọi bởi tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa ra một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và các giải pháp lớn, gắn kết với nhau hình thành một chỉnh thể phát triển, nhằm tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để làm được điều này, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược…

Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và các đồng chí lãnh đạo trao đổi bên lề hội thảo

Bài tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội thảo cũng đề cập đến nội dung tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững; Phát huy nhân tố con người, coi con người là động lực, là mục tiêu của sự phát triển theo tư tưởng lấy dân làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Nâng cao chất lượng thể chế, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường theo những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước mắt là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tập trung mọi nỗ lực để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011.

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh– Hành trình tìm đường cứu nước” đã nhận được 135 tham luận thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng kính trọng, yêu thương đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh– lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và Đảng ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa Thế giới.

Mỗi tham luận là sự dày công nghiên cứu, suy nghĩ và tìm tòi tư liệu, nội dung khoa học phong phú của các tác giả liên quan đến các chủ đề như: Tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội theo con đường Bác Hồ đã chọn; Hồ Chí Minh với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; Vững bước trên con đường Người đã chọn xây dựng Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh; Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa hiện nay; Chủ tịch Hồ Chí Minh- hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dậy lực lượng công an…

Các tham luận đã góp phần nâng cao nhận thức và khẳng định rõ hơn ý nghĩa lịch sử và thời đại về những di sản quý báu, tư tưởng cách mạng vô cùng sáng suốt, toàn diện và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trường tồn cùng dân tộc Việt Nam./.

Thành Chung

vov.vn

TGĐ UNESCO ca ngợi tấm gương học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Một số sản phẩm kim khí tự tạo của em Ngô Viết Sơn, lớp 8 C trường Phổ thông công nghiệp cấp III Đống Đa – Hà Nội tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân sinh nhật Người năm 1965.

Tại lễ khai mạc, bà Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO khẳng định: “Triển lãm này đã tôn vinh cam kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Đó cũng là một tầm nhìn mà UNESCO luôn thúc đẩy và hướng tới”. Bà Irina Bokova cho rằng, Hồ Chí Minh trước hết là một nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, do vậy Người nhận thức rõ về sức mạnh của tri thức, tri thức đó không chỉ thu nạp một lần ở tuổi ấu thơ và là quá trình học tập suốt đời. Người đã áp dụng điều này và không bao giờ ngừng học hỏi.

Khái niệm “Học tập suốt đời” là coi học tập diễn ra dưới mọi hình thức, cả chính quy, không chính quy thông qua những giai đoạn khác nhau của cuộc đời con người, từ độ tuổi mầm non cho tới khi về già.

Học tập suốt đời khuyến khích, hỗ trợ và động viên việc con người tìm đến tri thức trên cơ sở tự nguyện, tự giác vì những lý do cá nhân hay lý do chuyên môn.

Bà cũng đánh giá, Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh chóng, tăng trưởng kinh tế tạo đà phát triển cho văn hoá-giáo dục…và vui mừng khi được biết Việt Nam chi 20% ngân sách quốc gia cho giáo dục. Điều đó thể hiện cam kết của Việt Nam đối với học tập. UNESCO cam kết sẽ sát cánh với Việt Nam cả về nhân lực, vật lực trong các dự án về giáo dục. Điển hình là việc UNESCO sẽ hỗ trợ “Học tập suốt đời” tại Việt Nam.

Với gần 300 tài liệu hiện vật, phim ảnh, triển lãm tập trung giới thiệu về truyền thống khuyến tài, khuyến học của Việt Nam. Nêu cao tấm gương tự học mẫu mực và vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc thúc đẩy học tập suốt đời cho mọi người dân Việt Nam

Việt Nam luôn coi trọng nhiệm vụ giáo dục học tập suốt đời và coi đó là chìa khóa quan trọng góp phần xây dựng xã hội bình đẳng và tiến bộ hơn. Vì học tập suốt đời có vai trò trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội toàn diện của Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nêu rõ: “ Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở-mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt,đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục”.

Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, tr.215).

tutuonghochiminh.vn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

GS Đỗ Huy

Nhân sơ kết 4 năm hưởng ứng Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, kỷ niệm 121 năm ngày sinh, 100 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, VHNA đã có lời mời giáo sư Đỗ Huy (ViệnTriết học), người đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh làm khách tháng 4. Câu chuyện trao đổi tập trung về sự nghiệp và nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó với sự vận động của văn hoá nước nhà. Chúng tôi giới thiệu một số nội dung của cuộc trao đổi này.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng, cái tốt

Thưa GS, là người có nhiều năm nghiên cứu về văn hoá và Hồ Chí Minh, vậy theo GS ở Hồ Chí Minh những phẩm chất văn hoá nào là nổi trội và tiêu biểu nhất?

Nếu văn hoá là trình độ Người của các quan hệ xã hội, thì nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh tiêu biểu cho một trình độ trí tuệ vô cùng mẫn cán và thông thái, một tầm nhìn rất xa, rất rộng, khoan dung và giàu năng lượng thực tiễn; một ý chí vô song biểu hiện thành những giá trị đạo đức vĩnh cửu và một tấm lòng yêu nước cháy bỏng, tinh thần tự hào dân tộc hoàn quyện với những giá trị văn minh tiến bộ của nhân loại. Theo tôi, phẩm chất văn hoá nổi trội và tiêu biểu nhất ở Hồ Chí Minh biểu hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh. Đó là một nhân cách của vĩ nhân thấu hiểu thực tế hơn mọi người, nhìn xa hơn mọi người, nhận thức đúng hơn mọi người và có ý chí mạnh mẽ hơn mọi người, đặc biệt là hoà quyện và thấu hiểu cuộc sống của bản thân mình với nhiều tầng lớp, giới tính, thế hệ khác nhau trong dân tộc và nhân loại. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã kết tinh cái đúng, cái tốt và cái đẹp của dân tộc và loài người tiến bộ.

Văn hoá Hồ Chí Minh là một hệ thống thống nhất hài hoà các giá trị, chúng tôi nghĩ vậy. Theo GS thì hệ thống giá trị đó được kết tinh từ những nguồn gốc nào?  Và năng lượng, năng lực nào đã chọn lựa, thâu hoá và sắp xếp các giá trị từ các hệ thống khác nhau thành một hệ thống hoàn hảo, và hài hoà ở Hồ Chí Minh, thành văn hoá Hồ Chí Minh?

Hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cái đúng. Những phẩm chất văn hoá ở Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền với các quy luật vận động khách quan, là sản phẩm lịch sử của quá trình hoạt động thực tiễn của Người trong các phong trào lớn của thế kỷ XX. Cái đúng thể hiện trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa gắn liền với các quy luật khách quan vừa gắn với tầm nhìn khoa học, với năng lượng trí tuệ, gắn lý luận với thực tiễn, gắn dân tộc với nhân loại, cá nhân với xã hội, gắn cái chung với cái riêng, gắn cái động với cái tĩnh…

Trong hệ thống giá trị tạo thành nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh thì cái tốt được thể hiện thành ý chí và tư tưởng đạo đức của Người. Và tư tưởng đạo đức ấy có nguồn gốc rất xa từ những giá trị đạo đức của dân tộc. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là hiện thân của tư tưởng hoà đồng, đoàn kết, yêu nước, thích ứng, tiết kiệm, giản dị của truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, hệ thống giá trị tạo nên nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh về phương diện đạo đức và tư tưởng đã gắn với thế giới quan khoa học của cái đúng. Hồ Chí Minh đã nâng các giá trị đạo đức của truyền thống dân tộc lên một tầm cao mới. Ý chí đạo đức, tinh thần yêu nước ở Hồ Chí Minh gắn với những thành tựu khoa học và thế giới quan biện chứng của thế kỷ XX. Vì thế, những giá trị và tư tưởng đạo đức trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã vượt xa và cơ cấu lại những nội dung cơ bản của các giá trị đạo đức truyền thống.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh còn thể hiện mạnh mẽ sức sống trong hệ thống giá trị của cái đẹp. Về phương diện thẩm mỹ đặc trưng ở khả năng sáng tạo tuyệt vời trong mọi hoạt động của Người đều hướng tới cái hài hoà, cái đẹp. Mỹ cảm và lý luận về giáo dục thẩm mỹ trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh luôn luôn đánh thức những khát vọng sâu thẳm của con người về một thế giới khoan dung và hoàn thiện. Chính hệ thống giá trị mỹ cảm này đã làm cho nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh không chỉ sáng tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao mà còn tạo nên những chuyển biến lý luận căn bản của văn hoá nghệ thuật cách mạng ở Việt Nam.

Hệ giá trị ấy là thành quả của phương pháp khoa học ở Hồ Chí Minh trong mọi hoạt động sống. Phương pháp ấy gắn cái riêng với cái chung, cái dân tộc với cái quốc tế, cái dân tộc với các tộc người, các cá nhân với cái xã hội, con người với tự nhiên. Hệ giá trị ấy đồng thời cũng là thành quả của ý chí đạo đức Hồ Chí Minh.

Xét về mặt hình thức thì văn hoá Hồ Chí Minh gần hơn với hệ thống văn hoá nào theo cách phân loại giai cấp tính (phong kiến, tư sản, vô sản…), hoặc là theo địa lý nhân văn (phương Đông hay phương Tây, Khổng giáo hay Ki tô giáo…)?

Nhiều người nghĩ rằng, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là hình thức văn hoá Nho giáo. Sự thật thì ngay từ năm 1927, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện hệ thống giá trị Nho giáo duy trì rất nhiều bất công, bất bình đẳng xã hội. Vì thế, trên phương diện hệ thống, hình thức văn hoá Nho giáo không thể phù hợp với nền văn hoá mới ở Việt Nam. Tuy hệ thống Nho giáo có những yếu tố nhập thế, hành đạo giúp đời, mang thế giới đại đồng và có kỹ năng giáo dục đạo đức tỉ mỉ, nhưng nó là hình thức văn hoá duy trì một trật tự xã hội bình yên, không bao giờ thay đổi. Hồ Chí Minh trong các tư tưởng về văn hoá của mình có sử dụng nhiều khái niệm thuộc hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo, nhưng Người đã đưa vào đó những nội hàm rất mới. Những nội hàm này hoàn toàn không nằm trong hệ thống giá trị văn hoá Nho giáo mà nó là một bộ phận hợp thành của hệ thống giá trị văn hoá Việt Nam mới của thời đại Hồ Chí Minh.

Cũng như vậy, cụ Hồ nói cụ cố gắng làm một người học trò nhỏ của Giêsu nói riêng và của đạo đức phương Tây nói chung vì ở đó tán dương lòng bác ái, cổ vũ lòng từ thiện. Song hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn lại không thể là hình thức văn hoá Thiên chúa giáo hay của phương Tây bởi vì hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn để xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới phải gắn liền với việc giải phóng những người nghèo khổ ra khỏi mọi sự tha hoá, trong đó có sự tha hoá, sự ban ơn về mặt tinh thần. Hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là một hình thức văn hoá gắn với những năng lượng giải phóng, đổi mới, phát triển của đại đa số nhân dân. Phải hành động để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người lao động, người cùng khổ khỏi mọi tha hoá. Vì thế, hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn phải là thành quả của cuộc đấu tranh của tuyệt đại đa số nhân dân vì phẩm giá dân tộc và tự do của con người. Hình thức văn hoá ấy phải bắt nguồn từ truyền thống và những năng lượng tiềm ẩn của dân tộc.

Nhiều người cho rằng, học thuyết của Tôn Văn được Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý nhất để xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam. Đúng là chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ngưỡng mộ khi ông chủ trương liên Nga, liên công và phù trợ công nông và phê phán đạo đức học của Hán và Tống Nho. Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã nhận định: “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” (Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1, tr. 467). Tuy vậy, hình thức văn hoá mới ở Việt Nam mà Hồ Chí Minh lựa chọn không phải là hình thức văn hoá mà Tôn Văn đề xuất. Trước hết là chủ nghĩa dân tộc trong văn hoá Việt Nam không phải là chủ nghĩa dân tộc chật hẹp, một chủ nghĩa quốc gia. Trong văn hoá mới ở Việt Nam , Hồ Chí Minh đã lựa chọn một chủ nghĩa dân tộc gắn liền với tinh thần quốc tế, một hình thức văn hoá dân tộc khi thắng lợi nó sẽ gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế. Trong hình thức văn hoá này mọi sự sáng tạo, hưởng thụ đều là do nhân dân quyết định. Phạm trù nhân dân tạo nên bản sắc, sức sống và hình thức văn hoá mới do Hồ Chí Minh lựa chọn.

Trong hình thức văn hoá mà Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng, người ta thấy rõ nhất là những giá trị tinh thần truyền thống. Đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, ý chí tự lực tự cường, ý thức đoàn kết; song những giá trị truyền thống này đã được Hồ Chí Minh gắn với tinh thần của thời đại mới, những mục tiêu phát triển đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội.

Nghiên cứu tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, ta có thể thấy, ngoài tính dân tộc, tính nhân loại phổ biến của các hình thức văn hoá, còn có hình thức giai cấp, hình thức dân tộc, hình thức tộc người, hình thức vùng, hình thức miền, hình thức nhóm, hình thức liên văn hoá văn hoá cá nhân… Văn hoá mà Hồ Chí Minh lựa chọn là gắn truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, cá nhân với xã hội vì một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Sự đa dạng văn hoá là cội nguồn của sự phát triển văn hoá.

Văn hoá Hồ Chí Minh có những giá trị nào có ý nghĩa toàn nhân loại?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã cống hiến cho thời đại nhiều giá trị xuất sắc. Những kiệt tác của Người như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập… không chỉ có ý nghĩa cho công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam mà nó còn cổ vũ phong trào giải phóng nhiều dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh đã được tổ chức UNESCO tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa là một nhà hoạt động cách mạng quốc tế vừa là một anh hùng giải phóng dân tộc. Những hoạt động văn hoá, những sản phẩm văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới chống cái xấu, cái ác, bảo vệ, cổ vũ cái tốt, cái đẹp. Hoạt động của Hồ Chí Minh mang lại ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam và góp phần bảo vệ hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Vì lý do đó, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh sống mãi không chỉ trong lòng dân tộc Việt Nam mà còn mãi trong lòng nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới.

Như tôi đã nói ở trên, tính bất tử, tính nhân loại của những giá trị văn hoá của nhân cách văn hoá theo Hồ Chí Minh không phải ở chỗ nhà văn hoá đó hoạt động văn hoá ở ngoài dân tộc mà tính nhân loại phổ biến của văn hoá nằm ngay trong tính dân tộc của văn hoá. Nhiều nhà văn hoá tầm cỡ trên thế giới được toàn thể nhân loại tôn vinh do họ hoạt động văn hoá vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp của dân tộc mình. Trong thế giới này, mỗi dân tộc đều là một bộ phận của cộng đồng quốc tế. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh mang lại độc lập tự do, quyền bình đẳng và công bằng cho nhân dân Việt Nam đều được nhân loại tôn vinh. Vì thế, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vừa có giá trị dân tộc vừa có giá trị nhân loại.

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn hoạt động thực tiễn

Hồ Chí Minh là một trí thức lớn của dân tộc. Đề nghị GS phân tích vai trò của Hồ Chí Minh với dân tộc trong tư cách một trí thức lớn?

Vâng, đúng, tôi cũng đồng ý với cách tiếp cận và nhận thức của anh khi nhận định Hồ Chí Minh là một nhà trí thức lớn, mặc dù cho đến nay rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức lớn Hồ Chí Minh. Sở dĩ ở Việt Nam và cả nhà nghiên cứu nước ngoài chưa có những công trình tầm cỡ nghiên cứu chuyên biệt về nhà trí thức Hồ Chí Minh bởi vì những chuẩn mực về trí thức, nhà trí thức, nhà trí thức lớn ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi giai cấp có sự khác nhau.

Tôi nghĩ cụ Hồ là một trí thức lớn trên cả lĩnh vực khoa học và lĩnh vực nghệ thuật. Mỗi lĩnh vực Cụ đều có sản phẩm có chất lượng cao và có ý nghĩa xã hội to lớn. Kiệt tác Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh, Tuyên ngôn độc lập, Sửa đổi lối làm việc đều là những di sản tinh thần quý hiếm đặc trưng cho văn hoá Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh. Những bài thơ trong Ngục trung nhật ký, những bài thơ làm trong khi đi đánh trận, trên rừng Việt Bắc và hàng ngàn bài báo của Hồ Chí Minh chứa rất nhiều giá trị lịch sử, nghệ thuật mà nhiều đời sau còn phải nghiên cứu. Toàn tập Hồ Chí Minh, hàng vạn trang sách chứa đựng một trình độ tri thức uyên bác, chúng trở thành những cuốn sách kinh điển của cả dân tộc Việt Nam và loài người tiến bộ. Có nhà trí thức lớn nào ở Việt Nam đã có sản phẩm trí tuệ, sản phẩm văn hoá như thế!

Trong hoạt động thực tiễn truyền đạt tri thức, Hồ Chí Minh đã mở những lớp huấn luyện lý luận cách mạng cho những nhà hoạt động cách mạng, những nhà trí thứ lớn. Người đóng góp to lớn vào việc xây dựng hệ thống giáo dục nhân dân và những quan điểm giáo dục mới ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một nhà trí thức hoạt động thực tiễn. Người đã đào tạo rất nhiều nhà trí thức kiểu mới. Với đường lối công – nông – trí đoàn kết thành một khối, Người đã đưa nhiều nhà trí thức từ nghiên cứu sách vở xuống hoạt động thực tiễn và nhiều người lao động chân tay đến lớp học cũng như tự học trở thành những trí thức thực tiễn của dân tộc.

Tôi đồng ý với anh, Cụ Hồ là một nhà trí thức lớn của Việt Nam. Cái tôi chú ý nhất ở nhà trí thức Hồ Chí Minh là Người luôn tìm cách nâng cao dân trí và đặc biệt là đào tạo thật nhiều trí thức cho đất nước. Cách mạng vừa thành công Cụ đã mở một mặt trận to lớn chống giặc dốt. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm rất ác liệt, Cụ vẫn cho mở rất nhiều trường học để đào tạo trí thức cho cuộc kháng chiến. Cụ đã gửi rất nhiều thanh niên sang nước ngoài để học tập kiến thức về kiến thiết đất nước.

Có thể nói, vai trò của nhà trí thức Hồ Chí Minh là nâng cao trình độ tri thức cho dân tộc, rèn tạo đội ngũ trí thức kiểu mới, gắn trí thức với mọi hoạt động thực tiễn của dân tộc, nâng dân tộc Việt Nam lên một tầm cao trí tuệ mới của thời đại, đặt cơ sở cơ bản cho một xã hội học tập và chuẩn bị tích cực cho nền kinh tế trí thức.

Trong bối cảnh hiện nay, theo GS thì giới trí thức nước ta cần học tập và làm theo những phẩm chất nào nhất của Hồ Chí Minh?

Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh hội tụ trí thông minh của một nhà minh triết, lòng dũng cảm phi thường của một anh hùng, ý chí mạnh mẽ của một nhà đạo đức, tài năng của nhà nghệ sĩ, sự mềm dẻo và khôn khéo của một nhà ngoại giao, sự kiên định của người cộng sản và lòng khoan dung vô bờ của một người mẹ hiền .

Anh hỏi chúng ta nên làm theo những phẩm chất nào ở Hồ Chí Minh? Câu trả lời không dễ, bởi vì tuỳ công việc của mỗi người, tuỳ trình độ của mỗi người, tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, chúng ta coi tấm gương nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ và giáo dục. Tôi nghĩ rằng, Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, có rất nhiều phẩm chất của một vĩ nhân mà ta muốn làm theo cũng rất khó, đấy là chưa nói đến không thể. Tôi nhớ đến hai sự việc. Một sự việc vào năm 1945, ngay khi cách mạng mới thành công, trong hàng ngũ cách mạng đã xuất hiện rất nhiều ông quan cách mạng. Nhiều người đọc bức thư của Cụ Hồ gửi cho uỷ ban nhân dân các làng, các xã, các huyện, các tỉnh, các kỳ và muốn làm theo để chống lại mấy ông quan cách mạng tham ô, hủ hoá, nhưng quan điểm giai cấp coi công nông là tốt đẹp, là trong sạch, những người trí thức không có phương tiện và phương thức gì để giúp đỡ cách mạng chống lại những “ông quan cách mạng” ấy. Vào những năm cuối của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, trong Di chúc của Cụ Hồ có viết đến một cuộc chiến đấu khổng lồ dựa vào nhân dân để chống lại những hư hỏng của cán bộ đảng viên. Cụ nói, trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Công việc lớn như vậy vào những năm 60 của thế kỷ trước trong cơ chế quan liêu bao cấp, giới trí thức cũng bất lực không đóng góp gì được trước cái hư hỏng của xã hội. Trên quan điểm giai cấp ấu trĩ, có thời kỳ trí thức đã trở thành đối tượng cần cải tạo trước tiên.

Vậy trí thức của nước ta cần thể hiện vai trò của mình với dân tộc như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay?

Bây giờ, vào thời kỳ đổi mới, nhưng đổi mới lại đẻ ra rất nhiều quyền lực. Quyền lực chính trị, quyền lực của đồng tiền, quyền lực thế hệ. Trong xã hội, sự phân tầng rất nhanh, đơn giá cho nhiều sản phẩm của người lao động trí óc rất rẻ, địa vị xã hội của họ không được những chuẩn mực bảo hộ đúng đắn. Tôi đơn cử: một giáo sư, một viện sĩ sản xuất một cuốn sách từ 5 năm đến 10 năm, đưa đến nhà xuất bản, khi sách ra, họ được tiền nhuận bút 10% theo giá bìa và số lượng in. Cuốn sách nào cũng in với số lượng rất ít, tiền nhuận bút vô cùng ít ỏi. Các trí thức muốn phục vụ Tổ Quốc cũng khó.

Theo ý tôi, hiện nay trong xã hội Việt Nam có rất nhiều lĩnh vực vô chuẩn tạo ra tình trạng thiếu công bằng, quy luật giá trị của thị trường bị vi phạm nghiêm trọng. Chúng ta chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái cơ chế này tồn tại còn lâu dài nhưng hệ thống lý luận về nó, công cụ hành chính điều chỉnh nó đang có chỗ bất cập, chưa hoàn thiện. Tôi nghĩ, hãy tập trung giới trí thức có năng lực lý luận và thực tiễn xây dựng cho được một hệ thống lý luận phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đủ sức thuyết phục là một công việc lớn hiện nay.

Phản biện với mục đích xây dựng có phải là yêu nước, là có trách nhiệm với đất nước không?

Rõ ràng xã hội của chúng ta đang có rất nhiều vấn đề cần phải bàn, phải phản biện để làm rõ những cản trở, những mâu thuẫn, những vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy xã hội tiến lên. Những vấn đề đó có liên quan trực tiếp đến vấn đề tôi vừa trình bày ở trên. Đó là xây dựng nội dung lý luận có tính thuyết phục về lộ trình phát triển cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với thực tiễn ở nước ta. Tích tụ ruộng đất cho sản xuất lớn trong nông nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào? Vì sao đất đai nhà nước quản lý mà lại lộn xộn và khiếu kiện như vậy? Vì sao sự phân tầng xã hội ta lại nhanh và sâu đến như vậy? Những vấn đề ngân hàng, tài chính, môi trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá… phạm vi phản biện xã hội đến đâu? Phản biện xã hội có trách nhiệm rồi có thể thực hiện được không? Rất nhiều vấn đề lý luận, mục tiêu thì tốt đẹp nhưng thực hiện được trong thực tế là rất khó. Tôi nghĩ rằng cần thiết phải phản biện xã hội để thiết lập cho được một số hệ chuẩn cơ bản làm cho xã hội ổn định, sinh thành và phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó phải thiết lập được hệ thống hữu hiệu khắc phục rủi ro, đề phòng khủng hoảng, ngăn chặn cái dốt, cái xấu, cái ác.

Phản biện xã hội có trách nhiệm trong lúc này chính là thể hiện lòng yêu nước tích cực. Hãy phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc để những phản biện có ý nghĩa tích cực, đẩy xã hội tiến lên.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được phát động hơn 4 năm. Chúng tôi thấy sự hưởng ứng rất rộng rãi và sôi nổi. Với tư cách một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, theo ông, cuộc vận động đã đem lại những hiệu quả xã hội như thế nào? Nó đã có những tác động đến đời sống của đất nước ra sao?

Điểm nổi bật trong tấm gương và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là các quan hệ đạo đức mới phải gắn với khoa học và pháp luật. Nên tập trung vào tiêu điểm những giá trị đạo đức dựa trên khoa học và pháp luật để học tập, giáo dục và làm theo. Khoa học, pháp luật sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn và nên làm theo nhân cách phẩm chất đạo đức nào ở Hồ Chí Minh. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương cũng như tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với những cơ sở khoa học và chuẩn mực pháp luật, người học tập và làm theo sẽ có ý thức tự chủ và tự giác rõ ràng hơn.

Cụ Hồ đã đi xa hơn 40 năm rồi. Các thế hệ cháu chắt của Cụ hôm nay vẫn thông cảm sâu sắc trước nỗi đau thống thiết của Cụ trước những sai phạm về đường lối cải tạo nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp ở Việt Nam trong tình hình thế giới có cuộc đối đầu khốc liệt. Cơ chế đạo đức do Cụ thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng; Nó đã làm lỏng lẻo, lay chuyển, khoả lấp rất nhiều quan hệ đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Cụ Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Người trên cơ sở khoa học và pháp luật./.

Cơ chế đạo đức do Bác thiết lập trong thời kỳ quan liêu, bao cấp khi chuyển sang cơ chế thị trường, dù là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã biến đổi và biến dạng rất nhiều và rất mau chóng. Sự phân tầng xã hội rất mau và rất sâu làm đảo lộn rất nhiều quan hệ đạo đức tốt đẹp do Bác Hồ xây dựng trước đây. Nhiều người tốt, người lao động trung thực bị cái xấu, cái ác lừa đảo, tấn công trở thành bi kịch. Lối sống thực dụng đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quan hệ xã hội hiện nay đang được bôi trơn bằng tiền bạc. Sự huênh hoang về những giá trị vật chất đang lấn át những giá trị tinh thần… Trước tình hình như vậy, cần phải học tập và làm theo những tư tưởng và tấm gương đạo đức tốt đẹp của Bác trên cơ sở khoa học và pháp luật. Tôi thấy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua dù ít hay nhiều đã khơi dậy được tính thiện trong cộng đồng, hướng mọi người đến những điều tốt đẹp và qua đó ngăn chặn được phần nào tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, nhất là trong cán bộ, đảng viên.

Theo GS thì đời sống văn hoá nước nhà hiện nay đang có những vấn đề, những biểu hiện nào là đáng lo ngại, đáng chấn chỉnh, điều chỉnh nhất? Căn nguyên của tình trạng sa sút, bất cập đó là gì? Và chúng ta phải bắt đầu từ đâu để “căn chỉnh” lại nền văn hoá của chúng ta?

Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là một nền văn hoá của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo thành một chỉnh thể hữu cơ của thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Nó vừa là sản phẩm vừa là động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó phát triển và tồn tại suốt thời kỳ đổi mới trong thể chế kinh tế thị trường.

Kể từ năm Bính Dần (1986) đến nay nền văn hoá này đã trải qua 2 Giáp Dần, 5 kỳ đại hội Đảng. Mỗi kỳ đại hội Đảng nó lại được đổi mới cho sát với thực tiễn của nền kinh tế thị trường hơn. Tuy nhiên, thực tiễn hơn hai thập kỷ qua đã cho người ta nhận thấy rằng rất nhiều vấn đề về văn hoá cần phải quan tâm hơn nữa thì thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới trở thành một chỉnh thể phát triển nhịp nhàng. Các làn sóng xuất khẩu, đầu tư, tin học, các quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá diễn ra cấp tập đẩy nền văn hoá tiến tới hiện đại trong khi đó chưa có một cơ chế tổng thể đủ mạnh để gìn giữ những giá trị truyền thống. Rõ ràng, căn nguyên nhãn tiền là ta phát triển những giá trị hiện đại mà không có cơ chế đủ mạnh gìn giữ, phát huy những giá trị truyền thống. Ta phát triển thị trường tự do ào ạt mà sung lực của định hướng xã hội chủ nghĩa lại chưa đủ mạnh. Đó là chưa nói tới một vấn đề quan trọng là chúng ta giải quyết vấn đề lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân không nhất quán, thiếu cơ sở khoa học làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển rất mạnh trong nền văn hoá, sản sinh ra những lối sống thực dụng đề cao quá mức các giá trị vật chất, xem thường thậm chí không chú ý đến đạo đức, đến các giá trị tinh thần. Nền văn hoá tình nghĩa bị sa sút, nền văn hoá biết xấu hổ bị mai một. Các văn kiện của Đảng suốt 20 năm qua liên tục chỉ mặt, đặt tên cho những hiện tượng tham nhũng, sa sút lý tưởng… nhưng chúng vẫn còn đó!

Trong Di chúc, Bác đã chỉ rõ những hư hỏng trong xã hội và đề xuất một cuộc chiến đấu khổng lồ để chống lại những hư hỏng đó, để xây dựng những cái tốt đẹp trong nền văn hoá mới. Cuộc chiến đấu này phải dựa vào sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Theo Bác Hồ trong Di chúc, thì việc trước tiên là xây dựng và chỉnh đốn Đảng và việc đầu tiên là quan tâm đến các vấn đề con người. Con người đầu tiên Bác Hồ quan tâm đó là người cộng sản. Nếu người cộng sản mà đánh mất lý tưởng, sa sút về đạo đức thì không thể trở thành người lãnh đạo nền văn hoá mới mà sự thật, nhân dân cũng không cần những người như họ là người đầy tớ trung thành của mình.

Chúng ta thường hay nói tới một giải pháp để phát triển mạnh mẽ nền văn hoá là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Nhưng mà Đảng muốn lãnh đạo tốt nền văn hoá mới thì phải nâng cao năng lực lãnh đạo, phải chỉnh đốn phương pháp làm việc. Cũng như vậy, nhà nước muốn quản lý tốt nền văn hoá mới thì các quan chức của nhà nước phải trong sạch và bộ máy phải tổ chức có hiệu lực. Còn nhân dân không thể làm chủ tốt được nếu trình độ dân trí thấp và thiếu hiểu biết về pháp luật.

Trong Di chúc, Bác Hồ đã chỉ ra rằng, để xã hội có một nền văn hoá tốt đẹp thì đầu tiên phải là vấn đề con người. Ngoài vấn đề người cộng sản ra, chúng ta phải quan tâm đến đất đai cho nông dân, tiền lương và chỗ ở cho công nhân, việc làm và định hướng giá trị cho thanh niên, giải phóng tiềm năng sáng tạo của phụ nữ, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công và người cao tuổi… Khi thực hiện tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá phải quan tâm quyết liệt đến tiến bộ và công bằng xã hội.

Rõ ràng là nguyên nhân căn bản của sự sa sút về văn hoá là do trình độ tổ chức xã hội của chúng ta yếu kém, hệ thống lý luận về phát triển xã hội theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ và nó chưa phản ánh được những vấn đề sâu xa của cuộc sống… Chúng ta chưa tổ chức và quản lý tốt nguồn lực con người, không quản lý tốt nguồn tài nguyên của đất nước, chưa hiểu hết và làm chủ được nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn tài chính là linh hồn của một nền văn hoá. Làm chủ được nhân lực, tài nguyên, tài chính chúng ta có thể điều chỉnh được hầu hết các quan hệ văn hoá; chúng ta có thể gìn giữ các di sản quý hiếm và hiện đại hoá nền văn hoá, chúng ta có thể khắc phục được những yếu kém và nuôi dưỡng những cái tốt đẹp.

Từ năm 1923 đã có người nói rằng, Hồ Chí Minh là đại diện của nền văn hoá của tương lai. Liệu bây giờ chúng ta có thể căn cứ vào những giá trị Hồ Chí Minh để sửa, và xây nền văn hoá của chúng ta?

Vâng, đúng là từ năm 1923, ông Menđenxtam – một nhà nghiên cứu văn hoá người Nga có tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc/ Hồ Chí Minh. Lúc đó, ông nhìn thấy trong nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh rất nhiều điểm mới lạ so với văn hoá phương Tây và ông cho rằng từ nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh toả ra một ánh sáng văn hoá của tương lai. Đó là một lời khen rất tuyệt vời về văn hoá giàu bản sắc Việt Nam. Thực tế lúc đó, Hồ Chí Minh là một nhân cách văn hoá Việt Nam hiện hữu chứ không phải là tương lai Việt Nam hay thế giới ngày mai mới xuất hiện những giá trị văn hoá ấy.

Từ năm 1923 cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh ngày càng được nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới yêu chuộng hơn. Thậm chí, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời được hơn 20 năm sau, năm 1990, tổ chức UNESCO còn tôn vinh Người là một nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh có một năng lượng kế thừa và toả sáng những nhân cách văn hoá lỗi lạc trong lịch sử dân tộc Việt Nam tạo thành cả một thời đại mang tên mình.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có nhiều nhà văn hoá là sản phẩm và mang dấu ấn của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Nhà văn hoá Nguyễn Trãi, nhà văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà văn hoá Nguyễn Du đều là sản phẩm của thời đại mà các ông sống. Nhà văn hoá Hồ Chí Minh đánh dấu thời đại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của Việt Nam trong thế kỷ XX. Những di sản văn hoá của Người hiện thân của những phẩm giá dân tộc, rất giàu sức sống, đang toả sáng ở những năm đầu của thế kỷ XXI này.

Tôi nghĩ, lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam sẽ xuất hiện những nhà văn hoá mới kế thừa những giá trị của nhà văn hoá Hồ Chí Minh khi họ hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ lịch sử mới của thời đại và dân tộc.

Nếu vậy thì, theo GS, chúng ta, nhà nước và mỗi người dân cần phải làm gì, đặc biệt là vai trò của giới trí thức trong công cuộc vĩ đại nhưng gian khó và phức tạp này?

Chúng ta đang sống trong một thế giới đa cực đầy biến động nhanh chóng. Việt Nam đang vươn lên để khoả lấp những mất mát của những năm dài chinh chiến, để sánh vai cùng với những cường quốc khác trên thế giới. Điểm bắt đầu vươn lên của chúng ta rất mệt nhọc và vô cùng khó khăn: ruộng đất manh mún, công nghiệp, nông nghiệp đều kém phát triển, cơ sở hạ tầng còn chắp vá. Một thập kỷ nữa chúng ta mới phấn đấu trở thành nước công nghiệp… Tôi nghĩ, hiện nay đất nước đang cần đến nhiều nhà trí thức để xây dựng nền kinh tế tri thức. Vấn đề chính như tôi đã trình bày là giải phóng tiềm năng của những nguồn lực. Làm thế nào để đào tạo và sử dụng tốt trí thức để xây dựng đất nước ta hiện nay không phải là dễ. Cơ sở vật chất để sáng tạo, điều kiện vật chất và tinh thần cùng với những quan hệ đồng sự trong lao động sáng tạo đều là những bài toán khó trong cơ chế thị trường đang từng ngày, từng ngày tạo ra sự phân tầng xã hội rất nguy hiểm.

Trong xã hội của chúng ta hiện nay, ngành sản xuất tinh thần còn chưa được chú ý thích đáng và đúng mức do đó nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát huy các tiềm năng lao động của trí thức. Có lẽ người trí thức hiện nay đang chờ nhu cầu của thị trường để sáng tạo và chờ những chính sách đột phá khả thi để sẵn sàng lao động.

Dù trong tình hình khó khăn và phức tạp như thế nào, tôi vẫn tin tưởng lòng yêu nước tuyệt vời và sức chịu đựng phi thường của người trí thức Việt Nam. Họ luôn gìn giữ phẩm giá cá nhân và phẩm giá dân tộc.

Bản chất của sự phát triển văn hoá là phát triển tự do của con người. Cụ Hồ Chí Minh nói rằng: Không có gì quý hơn độc lập tự do. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nói: “Phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Người trí thức Việt Nam có văn hoá là những người rất yêu tự do. Họ hướng đến những giá trị tự do do Cụ Hồ, C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất để lao động, để sáng tạo, để phục vụ Tổ quốc, để phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam./.

Phan Thắng (Thực hiện)
Theo Văn hóa Nghệ An

tutuonghochiminh.vn

Tư liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo

Nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều chúng ta dễ dàng bắt gặp là ở chỗ Người có nhiều mối quan hệ gắn bó với Phật giáo, không chỉ ở mặt tư tưởng, tình cảm mà cả chính bằng những việc làm cụ thể.

Trên bình diện tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp gỡ với giáo lý Phật giáo. Cốt tủy của Phật giáo là Từ bi hỷ xả, Vô ngã vị tha, Cứu khổ cứu nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”(1).

Mang khát vọng giải phóng nhân quần ra khỏi cảnh khổ đau, Thái tử Tất Đạt Đa đã rời bỏ cảnh sống vương giả, xuất gia tìm đạo: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân. Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến. Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài”(2).

hochiminh-2.gifCùng với hạnh nguyện trên đây của Thái tử Tất Đạt Đa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lớn lên trong cảnh nước mất nhà  tan, đã sớm nhận ra cảnh:

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do.

Điều đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy, bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, cứu dân. “Tôi muốn đi ra nước ngòai xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”(3). Với ý chí và quyết tâm đó, nên ngay giữa thủ đô Paris, trong sự bủa vây của mật thám Pháp, Nguyễn Ái Quốc vẫn không hề nao núng về lý tưởng cứu nước, cứu dân của mình: “Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”(4).

Cách đây trên 2.500 năm, khát vọng công bằng xã hội đã được Đức Thế Tôn nêu lên như một quy luật xã hội, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng, mang tính vượt thời gian: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca (tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ”(5). Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ kheo! Hãy tu hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người” (Tương Ưng Bộ kinh); “Này các Tỳ kheo! Xưa và nay Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” (Trung Bộ kinh).

Với Hồ Chí Minh thì “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(6). Vì vậy đối với Người, “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm sao ích quốc lợi dân. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn đau khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Phật giáo chủ trương: “Dĩ chúng tâm kỷ tâm”. Đối với Phật giáo, con người là cao hơn tất cả: “Nhân thị tối thắng”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng công nông là gốc cách mệnh” (7) và “nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân”(8).

Trong Phật giáo, các vị Bồ tát xem nỗi đau khổ của chúng sinh là nỗi đau khổ của minh, bao giờ nỗi đau khổ của chúng sinh chưa dứt thì thề chưa thành Phật, ngài Địa Tạng Bồ tát thệ nguyện:

Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề,
Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”.

(Chúng sinh độ hết mới chứng đạo Bồ đề,
Địa ngục nếu còn thề không thành Phật).

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “suốt đời, tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(9). Nhân bản Hồ Chí Minh nói theo cách nói của Phật giáo là sự “kết tinh bằng Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới mục đích Giác ngộ và Giải thoát, chuyển cõi Sa bà này thành cõi Tịnh độ,  và cuộc đời cơ cực này thành nếp sống Cực lạc”(10).

hochiminhvoi-pg.gif

Ảnh tư liệu Bảo tàng HCM – Xuân Loan sưu tầm

Nhận rõ những giá trị cao đẹp của Phật giáo, có sự gần gũi, gặp nhau với tư tưởng Phật giáo trên những nét lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn Phật giáo với một thái độ trân trọng: “Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình bác ái. Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng của Phật giáo, nghệ thuật khoa học Ấn Độ đã lan khắp thế giới”(11). Năm 1958, khi sang thăm Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương của một trong những nền  văn minh lâu đời nhất thế giới”(12). Nhà thơ Huy Cận viết: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm long kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca – người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”(13).

Trong hành động cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều gắn bó với Phật giáo. Theo nghị sĩ Thái Lan Si-pha-nôn Vi-shit Va-ra-ron, năm 1927, khi hoạt động ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng điện Phật to nhất của chùa Phô-thi-sôm tỉnh U-đon, Đông Bắc Thái Lan. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận động Việt kiều góp sức, góp của và đứng ra chủ trì việc xây dựng. Cũng thời gian này, chùa Lô-ka-nu-kho (Băng-cốc) là cơ sở hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, Người đã được Hòa thượng Thích Bình Lương hết lòng giúp đỡ.

Khi nước nhà được độc lập, nhà sư về nước. Lúc nhà sư lâm bệnh điều trị ở Bệnh viện Việt – Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm. Khi nhà sư viên tịch, Người đã gửi vòng hoa đến viếng với nội dung: “Kính viếng Hòa thượng Thích Bình Lương”, dòng chữ nhỏ dưới đề: “Đồng chí Hồ Chí Minh”. Giáo sư Trần Văn Giàu cũng cho biết thêm khi hoạt động cách mạng ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị và kham khổ như một nhà tu hành, có khi Người đã mặc áo cà sa của nhà sư.

Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong điều kiện hết sức khó khăn giữa núi rừng Pắc Bó, Nguyễn Ái Quốc đã vẽ ảnh Phật treo trên vách đá để quần chúng có nơi chiêm ngưỡng vào những dịp lễ Tết.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, mặc dầu bề bộn với nhiều công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm chùa Quán Sứ, chùa Bà Đá. Nói chuyện với Tăng Ni, tín đồ Phật tử ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhà nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Tư bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”(14).  Đối với Người, làm được như vậy tức là “đã làm theo lòng Đại từ, Đại bi của Đức Phật Thích Ca”(15).

Trong thời gian từ năm 1954 đến lúc qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều chùa, nhiều cơ sở Phật giáo ở miền Bắc, tiếp xúc với nhiều Tăng Ni, Phật tử. Ngày 19-5-1960, trong lúc Hoà thượng Thích Thanh Chân, trụ trì chùa Hương, đang chuẩn bị vào Phủ Chủ tịch để chúc thọ Hồ Chủ tịch tròn 70 tuổi, thì 5 giờ sáng hôm đó, Người lại vào thăm chùa Hương. Tại đây, Người đã chỉ thị cho chính quyền địa phương phải sửa lại những con thuyền, bắc thêm cầu phao và làm thêm một con đường mới, để các Tăng Ni, Phật tử đi lại chiêm bái được dễ dàng và an toàn.

Khi ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Tăng Ni, Phật tử “hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ – Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”(16). Khi chính quyền Ngô Đình Diệm tiến đến chính sách tiêu diệt Phật giáo bằng việc ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Lễ Phật đản năm 1963, Tăng Ni, Phật tử miền Nam đã đứng dậy đấu tranh quyết liệt.

Để phản đối chính sách bất công, gian ác của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn với hạnh nguyện:

“Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác,
Tro trắng phẳng san hố bất bình”(17).

Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và Người đã có câu đối kính viếng Hòa thượng:

Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt.
Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà”(18).

Đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành “Kế hoạch nước lũ”, cho quân tấn công hầu hết các ngôi chùa dùng làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Tiếp theo, chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp khốc liệt cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh Sài Gòn phản đối Diệm đàn áp tôn giáo. Ngày 25-8-1963, nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết trước bùng binh chợ Bến Thành (Sài Gòn). Ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời tuyên bố, nghiêm khắc lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Tăng Ni, Phật tử và khủng bố, bắt bớ giáo sư, sinh viên, học sinh miền Nam: “Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình… Trước tình hình ấy, đồng bào miền Nam ta đã đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam tất yếu sẽ thắng lợi: “Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, nhất định giành được thắng lợi”; đồng thời bày tỏ sự cảm ơn đối với nhân dân thế giới đã ủng hộ cuộc đấu tranh của Tăng Ni, tín đồ Phật tử miền Nam chống chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước Phật giáo, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã nghiêm khắc lên án Mỹ – Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam”(19).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trong hai cuộc kháng chiến. Năm 1964, trong thư gửi Đại hội kỳ 3 Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Người viết: “Các vị Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trước đây có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”. Hòa thượng Thích Đôn Hậu (chùa Linh Mụ, Huế), người thoát ly tham gia kháng chiến vào dịp quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, rất có lý khi khẳng định rằng: “Sự hiểu biết của Người rất uyên bác, không những Người nắm chắc lịch sử yêu nước của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ, mà Người còn theo dõi rất cụ thể những hoạt động yêu nước của Phật giáo nước ta hiện nay”(20). Ông Srivalisnha, Chủ tịch Hội Truyền bá đạo Phật Mahabodi ở Ấn Độ phát biểu trong lần tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người sang thăm Ấn Độ (1958): “Chúng tôi kính cẩn và nhiệt liệt hoan nghênh ngài Chủ tịch đã từ bỏ những hào nhoáng lộng lẫy… Cũng như Hoàng đế Asoka, một Phật tử đầy lòng hy sinh, Chủ tịch đã nêu cao trước thế giới một lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện bởi một người đầy lòng tin tưởng… Chủ tịch thật là một người kiêm cả công, nông, trí thức cách mạng với một lòng từ bi là đạo đức quý nhất của tín đồ Phật giáo. Các Phật tử Ấn Độ chúng tôi rất lấy làm tự hào mà xem Ngài là một con người của một nước đã có quan hệ mật thiết về văn hóa và tín ngưỡng hơn hai ngàn năm với Ấn Độ chúng tôi”(21). Và, thực tế là đã có một con đường mang tên Hồ Chí Minh ở thủ đô New Delhi, Ấn Độ.

Những dòng tư liệu trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo trong quá trình hoạt động cách mạng của Người, cả trong nhận thức và trong hành động; nó giải thích rõ vì sao Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến đã đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn và đã có những đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và ngày nay đang chung lưng đấu cật cùng với toàn dân bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Lê Cung PGS. TS.Khoa Lịch sử,Trường Đại học Sư phạm Huế.
Theo báo Giác Ngộ online

(1) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
(2) Thích Diệu Niệm. Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với tư tưởng Phật giáo. Nội san Nghiên cứu Phật giáo số 1, Hà Nội, 1991, tr.33.
(3) Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Văn Học, Hà Nội, 1970, tr.11.
(4) Nguyễn Phan Quang. Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp 1917-1923. NXB TP.HCM, 1995, tr.47.
(5) Võ Đình Cường. Ánh đạo vàng. Phật học Viện Quốc tế xuất bản, USA, 1987, tr.92-93.
(6) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.1.
(7) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập II. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.197.
(8) Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.62-63.
(9) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.100.
(10) Thích Đức Nghiệp. Hồ Chủ tịch, một biểu trưng nhân bản Việt Nam, trong Đạo Phật Việt Nam. NXB TP.HCM, 1995, tr.318.
(11) Hồ Chí Minh. Truyện và ký. NXB Văn Học, Hà Nội, 1985, tr.201.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd, tr.208
(13) Cù Huy Cận. Hồ Chí Minh – nhà văn hóa lớn, một người hiền của thời đại chúng ta. Báo Nhân Dân ngày 1-9-1989.
(14) Thích Đức Nghiệp, Sđd, tr.321-322.
(15) Thư Hồ Chủ tịch gởi Hội Phật tử Việt Nam, ngày 30-8-1947.
(16) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
(17) Kệ thiêu thân cúng dường Chánh pháp của Hòa thượng Thích Quảng Đức viết trước lúc tự thiêu.
(18) Phạm Hoài Nam. Bồ tát Thích Quảng Đức, ngọn đuốc xả thân vì Đạo pháp và Tổ quốc. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 30-5-2005.
(19) Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam Việt Nam hiện nay. Báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 29-8-1963, tr.1.
(20) Bác Hồ trong lòng dân Huế. Thành ủy Huế, 1990, tr.35.
(21) Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990, tr.30.

biendong.vntime.vn