Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Đạo đức và nhân cách: Đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh

Khái niệm “đạo đức” xuất hiện trong văn chương Trung Quốc rất sớm mà cho đến thời Đường, đại văn hào Hàn Dũ còn viết rằng: “Đạo đức là những từ chưa được khẳng định”. Khác với khái niệm “nhân nghĩa” đã được khẳng định rồi. Ngay bây giờ, người ta vẫn còn lờ mờ hiểu ở chỗ đó. Nếu theo Hàn Dũ thì “mỗi việc đều làm theo nhân nghĩa” thì còn gọi là đạo, còn “tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác” gọi là đức. Nói như Hàn Dũ cũng chưa được rõ lắm, nhưng định nghĩa của ông trong luận văn “Nguyên đạo” gợi được nhiều ý. Đạo của Nho là nhân nghĩa, Đạo của Phật là từ bi cứu khổ.

Đạo đức của Cụ Hồ như lời của Phạm Văn Đồng nói là: Trung với nước, hiếu với dân, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong đó trung với nước, hiếu với dân thuộc về đạo, nói một cách khác đó là độc lập, chủ nghĩa xã hội; còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là thuộc về đức, là bộ phận quan trọng của đức, đức trong tư tưởng của Cụ Hồ còn rộng lớn hơn nhiều, đức có thể được định nghĩa như là những tính con người cần phải rèn luyện để thực hiện cái đạo cơ bản hơn. Cái ý của Hàn Dũ rằng: “Tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác gọi là đức”, có lẽ như vậy. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành hoa quả, như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.

Khi Cụ Hồ từ trần, thì ở Pháp rộ lên một loạt bài báo của những nhân vật tiếng tăm tuyên dương Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh tụ Cộng sản trên thế giới, đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức trong lý luận và trong thực tiễn, không vị lãnh tụ nào sánh bằng. Họ nhấn mạnh Hồ Chủ tịch của chúng ta đã đặt vị trí “ưu tiên cho đạo đức”. Và họ tìm cách cắt nghĩa cái điều hơi lạ ấy. Đối với họ sở dĩ như vậy là do ông Hồ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Mạnh. Tôi đồng ý hoàn toàn với họ rằng Cụ Hồ là vị lãnh tụ Cách mạng đã đặt đạo đức ở “vị trí ưu tiên”. Tôi cũng đồng tình rằng tinh túy của tư tưởng Khổng Mạnh còn ảnh hưởng tích cực ở Việt, nhưng tôi cho rằng sở dĩ ở Việt Nam cả trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, đạo đức được đặt ở vị trí ưu tiên và trước hết, điều ấy thuộc truyền thống dân tộc của một đất nước trong 2000 năm đã phải hằng mấy chục lần chống trả những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội. Muốn tồn tại, dân tộc Việt Nam không thể cậy vào số người mà phải dưa vào những con người chiến đấu. Lâu đời thành nếp tư tưởng quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên cường bất khuất, đức quên mình vì nước vì dân… Đạo đức Cụ Hồ là đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngày Lê-nin từ trần (1924) Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc Đông phương kính mến Lê-nin vì vị thầy của Cách mạng giải phóng dân tộc là một người: “Khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”. Cho nên khi mở lớp đào tạo cán bộ đầu tiên (1925), Hồ Chí Minh đã đặt ra 23 điều tư cách của người chiến sỹ được ghi trên trang đầu của sách giáo khoa “Đường Kách mệnh”. Chính vì vậy nên trong số các tiêu chuẩn bầu anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức nhân cách được đặt lên hàng đầu trước cả những thành tích kỳ diệu.

Cán bộ hiện nay gồm có cả tài lẫn đức thì ước mong gì hơn? Nhưng nếu phải khiếm tài thì còn có thể hữu ích, chớ thiếu đức thì dùng vào đâu được?.

Theo GS. Trần Văn Giàu
(Tạp chí Tia sáng)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.v

Lăng Bác Hồ, nơi toả sáng niềm tin

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là trách nhiệm, là tình cảm thiêng liêng sâu nặng của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X và Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương phát động, Thường vụ Đảng uỷ Bộ Tư lệnh đã xác định: Đây là thời cơ lớn để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ vừa “hồng”, vừa “chuyên”; đồng thời chủ động tham mưu, đề xuất phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng, đóng góp cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Cuộc vận động.

Lăng Bác là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế. Hàng ngày trung bình có khoảng 10 ngàn l­ượt đến viếng Bác. Mỗi người đến viếng Bác với tâm trạng, suy nghĩ riêng, nh­ng đều thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn Người, “Về bên Bác lòng ta trong sáng hơn”. Để góp phần vào thành công chung của Cuộc vận động, đơn vị đã chủ động tham mưu, đề xuất với các cơ quan Đảng, Nhà n­ớc và Bộ Quốc phòng đẩy mạnh các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền, phát huy cao nhất ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Bác. Nâng cao chất lượng công tác đón tiếp, phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự; tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể tổ chức: Lễ báo công, lễ giao ư­ớc thi đua, lễ kết nạp đảng viên, kết nạp đoàn viên, đội viên. Tiếp tục phối hợp với Bộ Lao động Thương binh- Xã hội, các tỉnh và đơn vị Quân đội đón tiếp nhiều đoàn Bà mẹ VNAH, gia đình chính sách, người có công, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ cách mạng được về Thủ đô viếng Bác và tham quan các khu di tích. Đặc biệt, vào dịp 19/5 hàng năm, phối hợp với các cơ quan ở Trung ­ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ, các đơn vị Quân đội, Công an lựa chọn những tấm gương tiêu biểu, xuất sắc trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về Lăng viếng Bác, báo công với Người, trao tặng Huy hiệu Bác Hồ, nhằm tuyên truyền, giáo dục các thế hệ người Việt Nam luôn “Nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại”.

Chủ tr­ương của Th­ờng vụ Đảng uỷ Bộ Tư­ lệnh đã được Đảng bộ và đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Từng đảng uỷ cơ sở chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động gắn với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt, trọng tâm là lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt; thành lập ban chỉ đạo Cuộc vận động và cụ thể hoá tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ y tế, kỹ thuật, bảo đảm an ninh, nghi lễ, đón tiếp, tuyên truyền và tôn tạo cảnh quan, môi tr­ờng khu vực Lăng.

Đơn vị đã thực hiện tốt đợt thi đua đặc biệt “Mừng Đảng, mừng Xuân, lập công dâng Bác”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, bảo đảm công tác an ninh, nghi lễ và SSCĐ; trong quý I/2007 đã đón tiếp tận tình chu đáo hơn 600 ngàn l­ượt người đến viếng Bác, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2006; 100% cơ quan, đơn vị thực hành tiết kiệm điện, n­ớc trong sinh hoạt và chiếu sáng; quản lý, sử dụng vật t­, kinh phí, chặt chẽ, hiệu quả; tổ chức Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác” tại khu di tích Đá Chông và Đền Hùng- Phú Thọ; mỗi cán bộ, công nhân viên dành ít nhất 1 ngày l­ương ủng hộ quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và tổ chức tặng t­ượng Bác Hồ cho Đền thờ Bác tại tỉnh Sóc Trăng.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ đã tích cực, tự giác nghiên cứu, học tập các chuyên đề và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với trách nhiệm cao; nghiêm khắc kiểm điểm, liên hệ bản thân và đăng ký tu d­ỡng phấn đấu rèn luyện phẩm chất: Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự c­ờng, chủ động sáng tạo, say mê nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, v­ơn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự tiêu biểu, gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t­ư, xây dựng tác phong “Người chiến sĩ bên Lăng Bác” chính quy, mẫu mực.

Cuộc vận động đã thu hút được các tổ chức Đoàn thanh niên, công đoàn và Hội phụ nữ tham gia. Phong trào:”Xây dựng tủ sách Bác Hồ”; “Thanh niên học tập và làm theo lời Bác”; “Ngày đọc sách của thanh niên”; “Thi tìm hiểu những câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Vọng gác thanh niên”; “V­ờn cây thanh niên”; “Công trình, sản phẩm dâng Bác”, giao l­ưu, tặng quà chiến sĩ mới… được đoàn viên thanh niên, đoàn viên công đoàn, hội viên phụ nữ hư­ởng ứng tích cực, tạo bầu không khí sôi nổi, phấn khởi, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

H­ớng tới kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Bác Hồ, Đảng bộ và đơn vị đang tập trung triển khai hoàn thành toàn diện, có chất lượng cao các nội dung của bước 1 Cuộc vận động. Tổ chức sôi nổi các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, nghe nói chuyện chuyên đề, thi báo cáo viên kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cấp cơ sở và cấp Đảng bộ Bộ Tư­ lệnh; tổ chức cho các đồng chí thương binh, thân nhân liệt sĩ và cán bộ, công nhân viên viếng nghĩa trang liệt sĩ Tr­ờng Sơn; chuẩn bị chu đáo và tổ chức bầu cử Quốc hội khoá XII bảo đảm dân chủ, chặt chẽ, đúng pháp luật; lựa chọn những quần chúng ư­u tú kết nạp Đảng viên mới đợt 19/5 tại Lăng của Người.

Với khí thế thi đua: “Lập công dâng Bác”, toàn đơn vị đang thể hiện quyết tâm hoàn thành xuất sắc các mục tiêu: Huấn luyện giỏi, rèn luyện kỷ luật nghiêm, xây dựng đơn vị nền nếp chính quy, mẫu mực; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác, tổ chức đón tiếp khách đến viếng Bác tận tình chu đáo. Để Lăng Bác mãi mãi là nơi hội tụ tình cảm và toả sáng niềm tin cho nhân dân ta và bầu bạn quốc tế, thực sự là nguồn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thiếu t­ướng Nguyễn Ngọc Lâm
Chính uỷ Bộ T­ư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Góp phần tìm hiểu giá trị lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông

Ngôi nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã làm việc tại Đá Chông từ năm 1960 đến năm 1969

Tìm hiểu giá trị lịch sử- văn hoá của Khu di tích Đá Chông chúng ta đã tiếp cận toàn diện từ nhiều hướng, nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Tuy nhiên những năm qua, do chưa có điều kiện khai thác nguồn tài liệu từ các trung tâm lưu trữ quốc gia, chúng ta chưa có khảo sát kỹ trong những năm từ 1960- 1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã có những hoạt động gì tại đây, tại phòng họp tầng 1 ngôi nhà sàn nơi đã diễn ra việc họp Bộ Chính trị do Hồ Chủ tịch chủ trì.

Đương nhiên, chúng ta phải bắt đầu từ thực tiễn khách quan, một nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo công tác nghiên cứu. Vì chỉ có tuân thủ tính khách quan mới đạt được sự chân thật, đúng đắn, mới đáng tin cậy, tránh được những suy đoán chủ quan, xa rời thực tiễn. Cho đến nay, hầu hết các nhân chứng lịch sử đã cung cấp cho ta những tư liệu đáng tin cậy. Điều lạ lùng và bất ngờ cảm động là từ đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến mỗi người lính bảo vệ, từ đồng chí Thư ký gần gũi nhất của Bác đến một người dân thường, ai đã một lần gặp Bác thì hình ảnh Bác, lời Bác chỉ bảo như vẫn sống mãi, hiển hiện trong tâm thức của những người đang sống, trong sự nghiệp cách mạng mà họ đang đi theo con đường của Người đã chọn.

Tính đa dạng và thống nhất trong mỗi sự vật, hiện tượng đòi hỏi chúng ta phải biết phân tích, lựa chọn kể cả những ngẫu nhiên phức tạp của hiện tượng để từ đó tìm ra sự phát triển và tính liên tục của những sự kiện. Kết hợp cái lịch sử với cái lôgích cho phép chúng ta có thể phản ánh lịch sử nhưng phản ánh một cách khái quát với những mốc lịch sử chính mà không cần đi vào những chi tiết, và cũng có thể từ một sự thật được hé lộ đã cho chúng ta hình dung ra một bức tranh toàn cảnh của lịch sử. Trở lại vấn đề đi tìm sử liệu cho giai đoạn Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị sống và làm việc tại Khu Đá Chông từ 1960 – 1964, thông qua các nhân chứng lịch sử chúng ta có thể khẳng định: Nơi đây là nơi Bác đã chọn để xây dựng thành nơi làm việc của Trung ương, tất yếu từ nơi đây Bác và Trung ương có những quyết định trọng đại, liên quan đến một thời kỳ cách mạng sục sôi ở cả hai miền nước ta. Đó là lịch sử và lôgích của lịch sử cần tiếp tục làm sáng tỏ.

Nhiều vấn đề đã được thống nhất trình bày trong Báo cáo khoa học của Đề tài do Tiến sĩ Đặng Nam Điền – Chủ nhiệm đề tài báo cáo. Tôi thấy cần trình bày thêm những suy nghĩ của mình để được trao đổi làm rõ một số vấn đề tại cuộc Hội thảo khoa học này.

1. Trên dòng chảy của một nền văn minh và một trục “Thiên đạo” lớn.

Các nền văn minh của nhân loại đều gắn với lưu vực của những dòng sông lớn. Sông Hồng chảy qua những miền quê trù phú, từ xa xưa đã gìn giữ nền văn minh lúa nước độc đáo và rực rỡ. Sông Hồng gặp sông Đà rồi xuôi dọc xứ Đoài, tụ hội về trung tâm kinh kỳ Thăng Long. Hàng trăm di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở nơi cư trú của người Việt cổ bên các triền sông đã làm sáng tỏ thời đại Hùng Vương, một thời đại có thật trong lịch sử bị huyền thoại hoá. Văn hoá khảo cổ học Gò Mun, Phùng Nguyên với đỉnh cao của nghề gốm nguyên thuỷ nước ta, các hoa văn trên gốm đạt đến trình độ tuyệt duyệt, phức tạp, đối xứng sinh động. Nền văn minh rực rỡ cổ xưa đó đã được hình thành và phát triển; đặc biệt được phân bố rộng khắp trên một dải sông núi đất đai suốt từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình đến Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh.

Đó là “hình sông”, còn “dáng núi” thì nhà Bác học Lê Quý Đôn sau khi quan sát Tản Viên Sơn đã ghi những dòng ký sự trữ tình và tráng lãm: “Mạch núi đi từ Mường Thanh xuống, tầng tầng lớp lớp kéo đến, liên miên chằng chịt, đến đây mọc ngang ra ba ngọn, mặt tả trông về sông Đà, phong cảnh tốt tươi, khí thế nghiêm chỉnh, có chỗ như tán quạt, lâu đài, ngọn giữa rất cao, phụng thờ thượng đẳng linh thần, đỉnh núi sườn non, chân núi có cung điện Thượng cung, Trung cung, Hạ cung; Thượng cung cao chót vót chọc trời suốt ngày mây mù bao bọc dày đặc” (Kiến văn tiểu lục NXB KHXH, HN 1977, tr 292).

Khu Đá Chông nằm giữa một miền đất kỳ vĩ tươi đẹp, nơi con sông Đà đến đây bỗng đổi hướng xuôi về hạ lưu, núi Tổ Ba Vì sừng sững như gần như xa. Từ đây phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền Trung du đất tổ Vua Hùng , phía sau là đồng bằng Bắc bộ, là Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Mượn cách nói của các nhà Sử học khi nói về “Trục Thiên đạo” của Hoàng thành Hà Nội (từ Hoàng thành Cửa Bắc đến Cột Cờ), chúng tôi gọi dải đất thiêng này là một Trục Thiên đạo lớn.

Trên Trục Thiên đạo lớn có một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với biết bao huyền thoại, tồn tại vô số di chỉ khảo cổ, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá. (Ngay cả huyền tích, huyền thoại, truyện kể phảng phất những yếu tố tâm linh, nếu không đi ngược với lôgích của khoa học mà chỉ tạo đường viền làm nổi bật sự kiện, nhân vật thì bản thân nó cũng chứa đựng những giá trị lịch sử văn hoá). Vùng đất thiêng này chắc chắn chứa đụng trầm tích lịch sử văn hoá mà linh cảm của Người đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của một thiên tài cá nhân đối với lịch sử.

Vào một ngày tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Sư đoàn 308 diễn tập thực binh, tập mẫu chiến thuật “Trung đoàn bộ binh tăng cường tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị”. Cũng như khi Người đi công tác các tỉnh thường mang theo cơm nắm, thức ăn và Bác cháu cùng dùng bữa cơm đạm bạc. Ông Vũ Kỳ thư ký của Bác nhớ lại: Bác đã ngồi ăn cơm nắm bên “Ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó đất phẳng, có một cây phượng vĩ; sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây.

Bác Hồ đến khu vực Đá Chông có thể không phải chỉ một lần. Nhưng cái buổi trưa tháng 5 năm 1957 đó, cũng theo ông Vũ Kỳ: Người đã đứng ở vị trí “Ba ngọn núi” Đá Chông nhìn sông Đà trước mặt, thấy đây là nơi tụ thuỷ, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân, xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người nghĩ đến một cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù, phải tính đến việc lập một căn cứ dự phòng, khi cần thiết có thể đưa Bộ tham mưu của cách mạng trở về đây bảo đảm an toàn. Địa bàn Sơn Tây cũng như khu vực Đá Chông vốn là phên dậu phía Tây của Thủ đô, có thể coi như mảnh đất bàn đạp nằm tiếp giáp với chiến khu xưa và đồng bằng, thành phố. Người đã đi đến một quyết định quan trọng. Theo ý kiến của Người, khu vực Đá Chông được xây dựng thành nơi làm việc của Người và các đồng chí Trung ương khi có tình huống chiến tranh. Ngay sau đó, Tổng cục Hậu cần được lệnh lên khu đồi ấy xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn. Đến năm 1960, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại đã quá rõ ràng, Cục Doanh trại được lệnh tiếp tục lên xây dựng khu căn cứ của Trung ương, bộ đội Công binh còn xây dựng một hệ thống công sự kiên cố và đặt tên là K9. Đặc biệt, Bác đã cắm cọc, nhắm hướng cho dựng một ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Từ đây, trên Trục Thiên đạo lớn, nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử đã có một đại ban doanh của cách mạng Việt Nam: Khu căn cứ Đá Chông. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã từng sống và làm việc trong những năm 1960 – 1964, những năm cao trào của cách mạng Việt Nam.

2. Di tích Đá Chông còn đó những bí ẩn của lịch sử.

Lịch sử đã thừa nhận những đỉnh cao mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt tới: Nhà tư tưởng lớn, minh triết và nhà văn hoá kiệt xuất. Người là lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của dân tộc, lại là một con người gần gũi, thân thiết với mọi người trong đời thường. Nét đặc trưng bao trùm con người Hồ Chí Minh là “vĩ đại trong sự giản dị, một sự giản dị vĩ đại”. Điều đó làm cho Hồ Chí Minh khi còn sống đã là một trong số hiếm hoi những nhân vật lỗi lạc được huyền thoại hoá. Sau khi Người qua đời, có nhiều điều được công bố, được nghiên cứu làm sáng tỏ khiến chúng ta không những ngạc nhiên mà còn vô cùng kính phục bởi khả năng tiên đoán tài tình của Người về năm 1945 Cách mạng Tháng 8 thành công và năm 1975 đất nước toàn thắng, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào. Harison S.Salisbury là nhà báo Mỹ đầu tiên được Chính phủ ta cho phép vào Hà Nội tháng giêng năm 1967 để tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Bắc đã kể lại một câu chuyện: Cố chuyên gia xuất sắc về Việt Nam, ông Bernard Fali, người Pháp, đã có lần tha thiết yêu cầu Cụ Hồ cho biết một vài chi tiết về tiểu sử của Cụ. Cụ Hồ từ chối với một cái nháy mắt lanh lợi và nói: “Ông biết đấy, tôi là một người già, một người rất già, và người già thường ưa làm ra vẻ bí ẩn về mình. Tôi cũng thích giữ một số điều bí ẩn nhỏ. Chắc ông hiểu”.

Cho tới ngày nay, nhiều điều “bí ẩn nhỏ” ấy vẫn tồn tại. Những chi tiết chính xác về ngày sinh, về gia đình, về hoạt động của Cụ trong nhiều giai đoạn dài (đôi khi làm đến cả mười năm) và cả tên Cụ nữa (Báo văn nghệ số 20; 19/5/2007).

Gần đây, tôi được đọc một bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan về chuyện Bác có nói với ông Hoàng Đạo Thuý việc tìm một địa điểm để lo việc sau này, khi Người qua đời. Việc ấy diễn ra vào khoảng cuối năm 1956 đầu năm 1957 ông Thuý đã được đi cùng Bác tới khu Đá Chông. Sự kiện này hoàn toàn có thể đã xảy ra và không hề mâu thuẫn với chủ đích của Bác trong việc tìm một địa điểm làm nơi làm việc của Bác và Trung ương. Bởi vì, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp lớn hành động luôn vì mục đích, động cơ cao cả. Bên cạnh đó Bác cũng là một con người bình thường với những vui buồn, với lẽ tử sinh của cuộc sống. Đọc lại Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phần “Nguyên văn các bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng công bố tháng 8 năm 1989, Người có viết về việc “Hoả táng” và tìm một quả đồi gần Tam Đảo và Ba Vì mà xây mộ, bên trên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Vậy là ngay trong những lời cuối cùng dặn lại về việc riêng, Người có nói đến việc tìm một quả đồi, Người vẫn dành cho nhân dân của Người.

Trong bản Di chúc của Người do Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, phần nói về việc riêng có 79 chữ, ứng với 79 mùa xuân của Bác Hồ. Trong bản Di chúc công bố năm 1989 như đã nêu ở trên, Người nói về việc “hoả táng” và đặt tro xương vào một quả đồi trồng cây lên trên và xung quanh đồi.

Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng toàn dân ta, thi hài Bác đã được giữ gìn lâu dài để sau này đồng bào cả nước nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu nặng đối với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép Bác để điều này được làm khác với điều Bác dặn.

Như chúng ta đã biết, trong những năm chiến tranh ác liệt, để giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác, chúng ta đã tổ chức những cuộc hành quân bí mật đưa Người về những căn cứ an toàn, và Người đã về lại khu Đá Chông, yên nghỉ tại Đá Chông với thời gian tổng cộng tới hơn 4 năm.

Tất cả những điều đã trình bày trên đều là những “bí ẩn nhỏ” của lịch sử. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Nông Đức Mạnh đã lên đặt tấm bia tưởng niệm tại nơi Người yên nghỉ và ghi dòng cảm tưởng “Tôi vô cùng xúc động được đến thăm khu di tích Đá Chông, một trong những nơi Bác Hồ đã làm việc và yên nghỉ, xin thắp nén hương thơm tưởng niệm Bác”.

Khu di tích Đá Chông là một vùng đất thiêng, nơi cán bộ và nhân dân tới tưởng niệm Bác Hồ, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

3. Khu di tích Đá Chông một di sản văn hoá vật thể vô giá.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người nói và viết nhiều về đạo đức của người cách mạng và là tấm gương trong sáng tuyệt vời về đạo đức cách mạng. Người đã từng nói, đại ý: Người không ham danh lợi, nếu không phải vì nước mà phục vụ thì Người chỉ ưa thích trồng rau, hái củi, trò chuyện với những người bạn thân thiết, Người ưa sống gần gũi với thiên nhiên, ở Pác Bó, Tân Trào và cả Nhà sàn Phủ Chủ tịch cũng đều như vậy. Đó là một ngôi nhà nhỏ cạnh sông suối, có đất trồng rau, có cây xanh tươi tốt.

Điều này khiến cho ta có thể nghĩ tới ảnh hưởng và sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông, tư tưởng đạo đức Lão Tử đề cao cách sống giản dị, đạm bạc và Trang Tử chủ trương quay về sống với thiên nhiên. Ai đã từng đến thăm Goocky Lêninxky ở Liên Xô, nơi Lênin đã từng sống và làm việc trong một ngôi nhà cạnh khu rừng, cũng có thể liên tưởng tới khu Đá Chông ở Việt Nam.

Bác Hồ đặt chân lên khu vực Đá Chông, từ tâm đức Người đã có ý nguyện riêng tạo ra một nơi sống và làm việc cho mọi người và bản thân mình, nơi đây đã mang dấu ấn của Người tạo ra nó, một cảnh quan đẹp, hài hoà, hữu ích.

Trước hết, phải nói về ngôi nhà sàn. Gọi là “Nhà sàn” vì nó mang dáng dấp của những ngôi nhà sàn nhỏ của đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như ngôi nhà sàn nhỏ của Bác ở chiến khu Việt Bắc. Phần lớn các ngôi nhà sàn dựng lên bên những dòng suối để phòng tránh thú dữ, rắn rết. Những hàng cột nâng đỡ ngôi nhà tạo ra không gian thoáng rộng cho tầng dưới và dáng vẻ vững chắc của những hàng cột gợi cho ta nhiều liên tưởng thú vị.

Nhà nghiên cứu xã hội học văn hoá Đoàn Văn Chúc cho rằng kiểu nhà sàn của dân tộc Thái, Tày, Mường là mô phỏng hình con rùa, một totem- vật tổ của 3 bộ tộc trên. (xem Lời nói đầu cuốn sách “Vật tổ và cấm kỵ” của S.Frớt).

Trong ngôi nhà sàn, những hiện vật vẫn còn là hiện vật gốc, đó là chiếc giường một đơn sơ của Bác, bộ bàn ghế… tất cả vẫn được giữ gìn như khi Bác còn sống và làm việc tại đây.

Bên ngoài ngôi nhà là vườn cây Bác trồng, vườn cây lưu niệm của những vị khách quý và con đường bậc thang đi xuống bờ sông Đà trải đầy sỏi cuội, hai bên có hàng cây bông bụt của quê hương. Có thể nói, với tư cách là chủ thể văn hoá, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo điểm tô cho thiên nhiên, mang thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ giá trị văn hoá. Đó là dấu ấn của một danh nhân văn hoá thế giới.

Trên đây là một số suy nghĩ về giá trị lịch sử- văn hoá của Khu di tích Đá Chông, một di tích lịch sử- văn hoá đặc biệt. Cũng như hết thảy mọi người, tôi đã đến nơi đây với một tấm lòng kính yêu và đời đời nhớ ơn Bác Hồ, để rồi cảm nhận tư tưởng tâm hồn được thanh lọc, để được sống và làm việc theo tấm gương của Bác Hồ vĩ đại.

Đại tá Trần Vũ Trang
Nguyên Phó CNCT BTL Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.v

Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP LTS: Ngày 15-5, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Viện Khoa học Xã hội nhân văn quân sự tổ chức Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam”, nhân kỷ niệm 50 năm bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội từng bước tiến lên chính quy và hiện đại (5-1957/5-2007) và kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi đến Hội thảo bản tham luận: “Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta”. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung tham luận đã trình bày trong hội thảo.

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – đội quân chủ lực đầu tiên, được thành lập theo chỉ thị của Bác Hồ. Ngay sau khi ra đời, đội đã đánh hai trận đầu toàn thắng. Tiếp đó, đội đã phát triển nhanh chóng thành nhiều đại đội, thống nhất với Cứu quốc quân, với lực lượng vũ trang cả nước, trở thành Việt Nam Giải phóng quân. Từ thời còn non trẻ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Việt Nam Giải phóng quân, với lực lượng vũ trang địa phương và dân quân tự vệ cả nước đã cùng với toàn dân vùng lên tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi vĩ đại, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Tiếp đó, trong cuộc kháng chiến thần thánh 30 năm, quân và dân ta đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đánh thắng hai đội quân viễn chinh hùng mạnh, kể cả đội quân mạnh nhất thế giới là thắng lợi vĩ đại của quân đội ta, dân tộc ta. Đây là một thắng lợi mà trên thế giới, từ đối phương cho tới bạn bè đều cho rằng ta không thể làm nổi. Cho đến nay, chiến thắng ấy đã qua một phần ba thế kỷ mà biết bao nhà chiến lược, biết bao viện khoa học đã nghiên cứu, tìm tòi vì sao Việt Nam có thể thắng Pháp, thắng Mỹ. Mãi cho đến gần đây, nhiều chính khách và bạn bè quốc tế đến Việt Nam, gặp tôi, vẫn còn nêu lên câu hỏi: Vì sao Việt Nam có thể thắng Mỹ? Vì sao Việt Nam đánh thắng được B52 của Mỹ? Con trai tổng thống Ken-nơ-đi sang Việt Nam đã lên Pác Bó, khi về, gặp tôi hỏi vì sao các ngài ở trong cái hang núi, cùng với những người dân tộc thiểu số như vậy mà lại tin rằng sẽ chiến thắng? Vì sao Việt Nam có thể thắng, mà lại thắng vào lúc Pháp mạnh nhất, Mỹ mạnh nhất?

Còn đối với ta, là người trong cuộc, đương nhiên chúng ta đã rõ. Nhưng đây là một thắng lợi vĩ đại chưa từng có, do vậy, chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, luận giải ngày càng sâu thêm, rút ra những bài học cho sự nghiệp hôm nay và mai sau của đất nước.

Nhân dịp này, tôi muốn nói sâu hơn về Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự ra đời, quá trình trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta, góp phần lý giải tiếp điều mà Đại hội lần thứ VII của Đảng đã tổng kết, khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lý luận tiên phong của Đảng Cộng sản.

Có thể nói: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp truyền thống văn hoá Việt Nam, tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận để đề ra đường lối cách mạng Việt Nam, tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người.

Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lê-nin, con đường cách mạng Việt Nam đi theo con đường của cách mạng vô sản.

Lâu nay ta thường nói: Thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của chiến tranh cách mạng Việt Nam, là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Nói như vậy là đúng, nhưng qua thực tiễn cách mạng ta thấy nói đầy đủ hơn, đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Ta cũng thường nói Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Nói như vậy cũng đúng nhưng chưa đủ. Bởi vì, như trên đã nói, Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có sự tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà còn có truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông, tinh hoa văn hóa khác của phương Tây, còn có tư duy sáng tạo của Hồ Chí Minh phản ánh thực tiễn Việt Nam.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam yêu nước đầu tiên trở thành người cộng sản khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đỉnh cao của Tư tưởng nhân văn của nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách sáng tạo, có phân tích, có chọn lọc. Từ năm 1924, Người đã suy nghĩ đến những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa Mác và thấy cần được bổ sung cho phù hợp với đặc điểm phương Đông, đặc điểm Việt Nam. Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin những nội dung phù hợp với cách mạng Việt Nam. Cái chủ yếu nhất mà Người tiếp thu về thế giới quan là mục tiêu cách mạng, về phương pháp luận là phép biện chứng duy vật. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã “Việt Nam hoá”, “phương Đông hóa” chủ nghĩa Mác – Lê-nin như một số đồng chí đã nêu. Đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã có một sự chuyển biến nhảy vọt về chất, giải phóng dân tộc đã gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa yêu nước chân chính.

Từ những nội dung trình bày trên, ta thấy Tư tưởng Hồ Chí Minh tuyệt đối không có gì đối lập với chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Mác – Lê nin, vận dụng và phát triển sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nếu cho rằng nêu cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là hạ thấp chủ nghĩa Mác – Lê-nin là không hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh, là xuyên tạc Tư tưởng Hồ Chí Minh, là hạn chế phổ biến Tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải khẳng định, ở Việt Nam, nêu cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là cách có hiệu quả nhất để bảo vệ và nêu cao chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Như vậy, điều đầu tiên, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh to lớn cho quân và dân ta chiến thắng mọi kẻ thù, đó là Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, với mục tiêu cách mạng là độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cách mạng ấy cũng là mục tiêu của chiến tranh cách mạng, gắn cứu nước với cứu dân, giải phóng Tổ quốc và xây dựng chế độ mới tốt đẹp, thật sự đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mục tiêu ấy đã đáp ứng khát vọng của toàn dân và khát vọng của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta.

Trước đây, nhiều triều đại phong kiến cũng đã phát huy được truyền thống yêu nước của nhân dân và quân đội, đánh thắng kẻ thù lớn mạnh, nhưng đánh giặc xong thì đế vương là chủ, chứ dân không phải là chủ nên vẫn còn những hạn chế.

Từ khi có Bác Hồ và có Đảng, công cuộc giải phóng dân tộc đã gắn với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nên sức mạnh ấy đã được nhân lên gấp bội.

Với mục tiêu chiến đấu đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại luôn coi trọng giáo dục cho quân đội ta truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của dân tộc, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Người dạy cán bộ, chiến sĩ ta phải trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Tư tưởng và tấm gương vì nước, vì dân của Người đã khơi dậy cho cán bộ, chiến sĩ ta lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Đó là một động lực to lớn động viên quân đội ta nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Điều thứ hai, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh to lớn cho quân đội ta trưởng thành và chiến thắng, đó chính là Người đã lãnh đạo, xây dựng một quân đội luôn gắn bó với dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Thật sự là quân đội của nhân dân, của dân tộc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam.

Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận là con em công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Qua giáo dục, rèn luyện trong quân đội, họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội.

Người dạy quân đội là con em của nhân dân nên phải có quan hệ gắn bó như ruột thịt với nhân dân, phải làm cho quân đội hết lòng thương yêu nhân dân, kính trọng, giúp đỡ, bảo vệ dân, được dân tin, dân phục, dân yêu. Quân đội không những đánh giặc giỏi mà còn biết dân vận giỏi, sản xuất giỏi. Phải luôn luôn “dựa vào dân” vì “có dân là có tất cả”. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp với sức mạnh của toàn dân, tạo thành sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù.

Quân đội của dân, chiến đấu vì dân, quan hệ với dân như cá với nước là một vấn đề thuộc bản chất của một quân đội kiểu mới, quân đội dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chúng ta thật sự tự hào không những trong chiến tranh, mà trong hòa bình xây dựng, đặc biệt trong cuộc chống thiên tai khốc liệt diễn ra ở miền Trung, quân đội ta đã hết lòng thương yêu nhân dân, không quản hiểm nguy, đem hết sức mình cứu giúp nhân dân trong cơn hoạn nạn, một số đồng chí đã hy sinh vì nhiệm vụ để lại trong lòng nhân dân ta niềm thương tiếc vô hạn, đó là biểu hiện sáng ngời của truyền thống đoàn kết quân dân, của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Điều thứ ba, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã chỉ cho quân đội ta phát huy tài thao lược, cách đánh giặc của dân tộc và học tập kinh nghiệm của các nước, đánh giặc với sức mạnh toàn dân, toàn diện, dám lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, kiên cường, dũng cảm, kết hợp với mưu trí, sáng tạo. Người thường nhắc nhở: đánh giặc phải “gan” và “khéo”, bởi vì quân đội ta luôn phải đánh với kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội. Có dám đánh, quyết đánh mới tìm ra cách đánh sáng tạo, tức là biết đánh. Lấy yếu chống mạnh bao giờ cũng phải hết sức mưu trí, sáng tạo. Với cách đánh thông minh, sáng tạo, lực lượng nhỏ có thể tiêu diệt được kẻ địch lớn; vũ khí thô sơ, kém hiện đại có thể đánh bại vũ khí hiện đại. Một chính khách cao cấp của Mỹ đã từng nói: Nếu dân tộc các ngài chỉ anh hùng thôi, thì vũ khí hiện đại của chúng tôi có thể đè bẹp nhưng vì các ngài thông minh quá. Dũng cảm và thông minh đã làm cho sức 1 thành 10, thành 100. Những chiến công kỳ diệu của đặc công, biệt động, của trận Điện Biên Phủ, của “Điện Biên Phủ trên không”, của Xuân 1968, Xuân 1975 là những đỉnh cao của cách đánh giặc dũng cảm, kết hợp mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta.

Điều thứ tư, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh để quân đội ta chiến thắng, đó là quan điểm thực tiễn, luôn xuất phát từ thực tiễn. Hồ Chí Minh coi trọng lý luận, nhưng luôn gắn lý luận với thực tiễn, luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng lý luận, không giáo điều, máy móc.

Nhờ xuất phát từ thực tiễn, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể, phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam và xu thế thời đại, tạo ra sức mạnh to lớn để giành thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh, nếu không thường xuyên bám sát thực tiễn, phân tích thực tiễn đúng đắn, đề ra quyết sách không phù hợp với thực tiễn thì nhất định bị thực tiễn “phê phán” ngay, phải trả giá ngay bằng xương máu, vì vậy, càng đòi hỏi phải nắm vững quan điểm thực tiễn.

Người luôn dạy cán bộ: Làm cách mạng tuyệt đối không được chủ quan, phải sâu sát thực tế, đánh giặc mà hiểu rõ địch, ta thì trăm trận trăm thắng.

Khi tình hình thực tiễn đã thay đổi, thì phải dám đổi mới, thay đổi quyết sách cũ, đề ra quyết sách mới cho phù hợp thực tiễn, có như vậy mới giành thắng lợi. Quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ; quyết định kịp thời chuyển kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm, sáu tháng, hai tháng trước mùa mưa và ra lệnh tấn công thần tốc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là những ví dụ điển hình của sự vận dụng quan điển thực tiễn trong chỉ đạo đánh giặc.

Cuộc chiến đấu lâu dài 30 năm đánh thắng hai đế quốc to là một kỳ tích lịch sử hết sức vẻ vang đối với quân và dân ta. Thực tiễn này là một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý giá, đòi hỏi chúng ta phải hết sức coi trọng tổng kết, tiếp tục tổng kết một cách sâu sắc, toàn diện. Phải tổng kết một cách khách quan, khoa học với trách nhiệm cao đối với xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, làm rõ những kinh nghiệm thành công để tiếp tục kế thừa, vận dụng và phát huy, đồng thời làm cho rõ những kinh nghiệm không thành công để biết tránh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Bám sát thực tiễn, phân tích nghiên cứu đúng thực tiễn, phát hiện ra quy luật, hành động theo quy luật, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc, chống chủ quan duy ý chí là một yêu cầu cực kỳ quan trọng trong lãnh đạo cách mạng, cũng như lãnh đạo chiến tranh để giành thắng lợi.

Điều thứ năm, chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luôn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là điều Bác Hồ luôn nhắc nhở, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân đối với thắng lợi của quân đội. Quân đội là lực lượng tin cậy của Đảng, của nhân dân để chống lại kẻ thù. Vì vậy, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân đội ta mới giữ vững bản chất của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam, một đội quân thực sự của dân, luôn giữ vững mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, Người coi việc đặt quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là vấn đề nguyên tắc, coi việc chăm lo giáo dục đảng viên, cán bộ về phẩm chất cách mạng, để phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định để đánh thắng kẻ thù.

Trên đây là những nội dung nói về Tư tưởng Hồ Chí Minh mà tôi cho là sâu sắc nhất đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho quân đội ta đánh thắng mọi kẻ thù, hoàn thành mọi nhiệm vụ, làm nên những kỳ tích tưởng chừng như không làm nổi.

Đó cũng là năm bài học mà chúng ta cần nắm vững để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Ngày nay, Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, đang ra sức xây dựng đất nước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cho đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta tiến vào thế kỷ XXI với cục diện thế giới đầy biến động. Cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển với nhịp độ siêu tốc. Cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc, xung đột tôn giáo diễn ra phức tạp, gay gắt. Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa, với mặt tích cực và tiêu cực của nó, đang phát triển mạnh mẽ.

Trước tình hình ấy, quân và dân ta càng phải nắm vững quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, chúng ta càng phải nâng cao chất lượng chiến đấu của LLVT nhân dân, cả chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ và công an nhân dân; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, với bản lĩnh chính trị vững vàng và tri thức quân sự cao; coi trọng lực lượng thường trực, đồng thời coi trọng lực lượng hậu bị, coi đào tạo cán bộ là công tác trung tâm. Tiếp tục công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật quân sự, kể cả kỹ thuật công nghệ cao, phát triển lên một bước mới học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh- học thuyết chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh với một đường lối tổng hợp, kết hợp quân sự với kinh tế, văn hoá và chính sách đối ngoại. Nắm vững xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm trong thời bình, bởi vì có kinh tế mạnh mới có quốc phòng mạnh. Tạo nên một sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, đủ sức để ngăn chặn mọi mưu đồ “diễn biến hòa bình”, hoặc gây ra chiến tranh, giữ vững hòa bình lâu dài, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN trên đất liền, trên không và trên biển.

Nhân dịp kỷ niệm lịch sử, ngày mà trong giấy khai sinh của đội quân chủ lực đầu tiên, nhân dân ta, dân tộc ta đã ghi vào cái tên trìu mến là “Bộ đội Cụ Hồ”, với tư cách là người mà Bác và Đảng đã trao nhiệm vụ thành lập, lãnh đạo và chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu, là một nhân chứng lịch sử đã đi suốt thế kỷ XX, một thế kỷ đầy thử thách khốc liệt và thắng lợi vẻ vang đối với dân tộc ta, tôi muốn nói với đồng bào, đồng chí, đặc biệt là thế hệ trẻ một chân lý đã ăn sâu trong tâm tư và tình cảm của tôi.

Chân lý ấy là: Làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, theo những điều mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê-nin thì thắng lợi. Làm sai Tư tưởng Hồ Chí Minh thì thất bại.

Thế giới còn đổi thay, nhưng Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi.
Thế giới còn đổi thay, nhưng chủ nghĩa Mác-Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi.

(Bài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đăng trên báo Quân đội)

bqllang.gov.vn

Đền thờ Bác Hồ (xã Lương Tâm – Long Mỹ) (1969)

Bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di tich xã Lương Tâm - huyện Long Mỹ - tỉnh Hậu Giang

Từ trung tâm thị trấn Long Mỹ theo đường liên xã qua Thuận Hưng, Xà Phiên sẽ đến xã Lương Tâm là nơi di tích đền thờ Bác Hồ. Di tích được xây dựng trên vùng đất phía Bắc nơi ngã tư của hai con kinh Long Mỹ II và Năm Căn giao nhau; cách thị trấn Long Mỹ 21 km; cách TP Cần Thơ 78 km về phía Tây Nam.

Nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân Hậu Giang, Long Mỹ nói riêng, hình ảnh của Bác Hồ kính yêu ở trong trái tim, khối óc của mỗi người dân, tuy xa thủ đô Hà Nội hàng nghìn cây số nhưng luôn hướng về Bác Hồ và thủ đô mến yêu với niềm tin vững chắc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Khi nghe tin Bác qua đời ngày 03/9/1969 là nỗi đau chung, sự tổn thất lớn lao đối với cả dân tộc Việt Nam; nhất là nhân dân miền Nam chưa kịp rước Bác vào thăm.

Để đền đáp công ơn trời biển của Bác và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân xã Lương Tâm; Đảng bộ xã , do đồng chí Lữ Minh Chánh (Hai Chánh), Bí thư Đảng ủy xã đã quyết định lập bàn thờ Bác ngay tại Văn phòng Đảng ủy xã. Đồng chí Lê Văn Thống, ủy viên thư ký được giao nhiệm vụ phóng ảnh Bác lập bàn thờ và may băng tang để tổ chức lễ truy điệu. Ngày hôm sau lễ truy điệu được tổ chức trọng thể với sự có mặt đông đủ của các đồng chí lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể xã, ấp, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đóng quân gần cơ quan xã, cùng đông đảo bà con trong xã đến đự lễ với nỗi đau buồn vô hạn, tưởng niệm, ghi lòng tạc dạ về công ơn trời biển của Bác và hứa với Bác quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Cổng trước đền thờ Bác

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng – biến đau thương thành hành động cách mạng, quân dân Hậu Giang đã liên tục tấn công địch trên khắp các địa bàn trong tỉnh. Trong tuần lễ để tang Bác, quân dân tỉnh Hậu Giang mở đợt tấn công vào 34 mục tiêu quân sự, tiêu diệt gần 400 tên địch. Chỉ tính riêng xã Lương Tâm, quân dân ta đã tiêu diệt đồn: Vàm Cấm, đồn Tô Ma, đồn Đường Đào (bị đánh thiệt hại nặng). Trên 40 tên địch đền tội và nhiều tên khác bị thương.

Ngay sau ngày Quốc tang, các đồng chí lãnh đạo và một số đồng chí lão thành cách mạng, các vị bô lão trong xã đã bàn bạc đi đến quyết định: xây dựng Đền thờ Bác tại ấp 3, ngã tư lộ xe. Đây là nơi thuận lợi nhất để mọi người dân trong xã và các khu vực dễ dàng đến viếng Bác bằng cả đường thủy và đường bộ. Trong quá trình chuẩn bị thì địch tổ chức phản kích ác liệt, mở nhiều cuộc càn quét qui mô vào vùng này và địa điểm xây dựng đền thờ Bác là nơi giao điểm pháo của địch ở các nơi bắn vào. Cuối cùng Đảng bộ quyết định giữ nguyên bàn thờ Bác tại cơ quan Đảng ủy xã Lương Tâm.

Nhà trưng bày di tích Đền thờ BácNhà trưng bày di tich Đền thờ Bác

Mùa hè năm 1972, Mỹ ngụy mở nhiều đợt càn quét qui mô, tập trung bom pháo đánh phá ác liệt địa bàn Long Mỹ. Cơ quan Đảng ủy xã bị bom pháo Mỹ đánh sập phải dời đi nơi khác, bàn thờ của Bác được lập lại và tổ chức các ngày lễ kỷ niệm Bác giữ đúng hằng năm (ngày sinh nhật, lễ giỗ và Tết Nguyên đán). Ngoài ra, nhân dân trong vùng thờ Bác và tổ chức lễ giỗ tại nhà, như gia đình ông Nguyễn Văn Tòng ở ấp 6, xã Vĩnh Viễn. Lễ giỗ Bác tổ chức ở đây bình dị nhưng rất trang trọng, có đây đủ con cháu trong nhà và bà con xóm giềng đến cúng. Tưởng niệm Bác. Ở thị xã Vị Thanh (tỉnh lỵ Chương Thiện) bà Trần Thị Láng người Hoa, tổ chức lễ giỗ Bác công khai trong vùng giặc kìm kẹp, xem là ”cúng cơm ông tổ”…

Sau ngày hòa bình, từ nguyện vọng tha thiết của Đảng bộ và nhân dân xã Lương Tâm, mong muốn xây dựng lại đền thờ Bác Hồ ở vị trí đã dự kiến trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tại ngã tư lộ xe, ấp 3, xã Lương Tâm, được Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Long Mỹ và Sở Văn hóa Thông tinh tỉnh Hậu Giang chấp thuận, các ngành, các cấp và nhân dân trong và ngoài địa phương tích cực đóng góp tiền, công sức, với tấm lòng kính yêu Bác và đây là công trình “uống nước nhớ nguồn” thiết thực chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác.

Toàn cảnh Đền thờ Bác Hồ

Ngày 2-9-1990, nhân dân và các ban, ngành trong và ngoài tỉnh như Bạc Liêu, Kiên Giang đã tổ chức trọng thể lễ khánh thành đền thờ Bác và rước ảnh Bác từ cơ quan Đảng ủy xã LươngTâm về đền thờ (cách 3 km). Từ đó cứ đến các ngày kỷ niệm: 30-4, 19-5, 2-9, tết Dương lịch và tết Nguyên đán nhân đần Hậu Giang và các tỉnh vùng lân cận đều tổ chức hành hương về nguồn, trở thành ngày truyền thống hằng năm.

Đền thờ Bác được xây đựng năm 1990, với qui mô nhỏ không đủ sức chứa đông đảo nhân dân các nơi đến hành hương viếng Bác trong các dịp lễ hội. Do đó được Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) cho phép xây dựng mở rộng khu đền thờ Bác, kết hợp với sinh hoạt văn hóa, thể thao, hình thành một trung tâm giáo dục truyền thống và sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong vùng. Qui hoạch tổng thể khu đền thờ mới gần 2 hecta, gồm có 7 hạng mục công trình.

Đền thờ Bác được xây mới cách đền cũ 50 mét về phía kiến trúc mang tính dân tộc, trang trọng, tôn kính.

Nhân kỷ niệm lần thứ 106 ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-1996), các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện và nhân dân xã Lương Tâm, địa phương các tỉnh lân cận đã long trọng tổ chức lễ khánh thành khu đền thờ Bác mở rộng và rước tượng Bác về đền thờ mới rất trọng thể.

Nhân kỷ niệm lần thứ 107 ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-1997) Tỉnh ủy, ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) tiếp tục cho xây dựng nhà trưng bày thời niên thiếu và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác. Đây là hạng mục thứ hai sau đền thờ, trong số 7 hạng mục của tổng thể khu di tích.

Từ năm 1990 đến năm 2010, bình quân mỗi năm có từ 35.000 đến 40.000 lượt người đến viếng tưởng niệm công đức của Người. Nhân các ngày lễ hội đều tổ chức nhiề u hình thức hoạt động văn hóa – thể thao vui chơi giải trí cho nhân dân địa phương và các xã lân cận tỉnh bạn. Đây trở thành một công trình tưởng niệm Bác; đồng thời là trung tâm văn hóa – thể thao của nhân dân trong vùng.

Với ý nghĩa đó, Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 02.QĐ/BT, ngày 07-01-2000 công nhận Đền thờ Bác Hồ ở xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

haugiang.gov.vn

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan).

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…
Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…” 

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…” 

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…” 
Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…” 

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê

cpv.org.vn

Khu di tích Bác Hồ ở Đá Chông với việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ ở Ba Vì – Hà Tây

Đồng chí Hoàng Thanh Vân - Bí thư huyện uỷ Ba Vì - Hà Tây

Tuổi trẻ các dân tộc huyện Ba Vì rất vinh dự và tự hào được sinh ra và lớn lên trên một vùng đất “địa linh, nhân kiệt” giàu tiềm năng, nhiều sự tích anh hùng và những truyền thống cực kỳ quý báu. Từ giữa năm 1950, vinh dự và tự hào hơn địa danh Đá Chông trên đất Ba Vì còn gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn của nhân loại, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bác Hồ kính yêu của chúng ta được toàn thể dân tộc Việt Nam và cả loài người kính phục.

Lịch sử còn ghi ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19/12/1946) Bác Hồ rời làng Vạn Phúc trong không khí sục sôi:

“Cờ đỏ sao vàng bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”

Tối 3/3/1947 Bác Hồ rời Hoàng Xá (Quốc Oai) qua Trung Quốc

“Xa xa núi Tản mây vờn
Sông Đà gợn sóng con thuyền nhẹ trôi”

Bác Hồ ra đi giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã và đang giành được những thắng lợi to lớn, song vẫn còn phải trải qua nhiều gian khổ hi sinh để đến thắng lợi hoàn toàn. Niềm tin tất thắng đó của Người đã động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không ngừng phấn đấu vượt mọi khó khăn giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong những năm tháng hào hùng đó có địa danh Đá Chông (Ba Vì) được Bộ Chính trị quyết định chọn làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác.

Ba Vì là huyện vinh dự được Bác Hồ nhiều lần tới thăm. Từ trên sườn Núi Tản viên tới bờ bãi Sông Hồng, từ đồi cây đến hồ nước, từ cánh đồng lúa đến khúc đê sung yếu, nhiều nơi trên mảnh đất này đã từng in dấu chân Bác.

Mùa hè năm 1957 trên đường công tác, Bác dừng chân ở một gốc đa ven đường thuộc xã Ba Trại (dân tộc Mường), Bác mong muốn gốc đa này có một ghế đá để bà con nông dân đi làm đồng trưa nắng vào nghỉ ngơi dưới gốc cây hoặc khách bộ hành mệt mỏi vào trú nắng, tấm lòng nhân ái của Bác sau đó đã được thực hiện. Ngày 8/7/1958 Bác đến thăm xã Cổ Đô Người đã ra đồng lội ruộng thăm bà con nông dân bắt sâu phá hoại lúa. Bác căn dặn, động viên nhân dân địa phương khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra, quyết giành thắng lợi trong sản xuất để đảm bảo đời sống và đóng góp với đất nước. Trên bờ bãi Sông Hồng, Bác đã tới thăm kè Cổ Đô, Vu Chu, những đoạn kè trọng yếu trên đê Sông Hồng, Bác thăm hỏi động viên nhân dân xã Cam Thượng đang tập trung chống lụt … Ngày 26/01/1964 nhân chuyến công tác nghỉ ăn cơm trưa trên đồi Chu Mật, xã Thái Hoà, Bác nhắc nhở: Phong cảnh Ba Vì “Sơn thuỷ hữu tình” nếu trồng thêm được nhiều cây xanh, bóng mát thì vẻ đẹp còn tăng nhiều hơn nữa. Ngày 15/4/1964 Bác đến thăm đập Suối Hai, một công trình thuỷ lợi nhân tạo lớn mới được xây dựng. Nhờ công trình thuỷ lợi này, hàng nghìn ha từ ruộng 1 vụ thành ruộng 2 vụ, hàng trăm ha gieo trồng 3 vụ, Bác ân cần hỏi han việc đưa nước vào đồng. Ngày 16/2/1969 nhân ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu, Bác về thăm gặp gỡ chúc tết cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong huyện. Sau đó Bác đã trồng cây Đa trên đồi cây Yên Bồ xã Vật Lại để khuyến khích phong trào Tết trồng cây của cả nước. Đây là lần cuối cùng Bác thăm nông dân và trồng cây trước lúc Người đi xa.

Có thể nói những địa bàn Bác đã tới thăm, những việc làm và những lời dạy bảo ân tình của Bác đối với nhân dân trong huyện không chỉ để lại những dấu ấn sâu sắc, những kỷ niệm không thể phai mờ mà còn dấy lên cả những cao trào quần chúng ở địa phương, hình thành những chủ trương lớn của cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở.

Trong những lần Bác tới thăm Ba Vì, Bác quan tâm nhiều mặt, căn dặn nhiều điều như xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, phòng chống thiên tai bảo vệ sản xuất, đắp đê phòng lụt, trồng cây gây rừng, chăm lo đời sống nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, chăm sóc bảo vệ thiếu nhi, tôn trọng phụ nữ, đào tạo cán bộ, rèn luyện đảng viên. Đặc biệt Bác rất quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ. Được giáo dục và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng sôi nổi, thế hệ trẻ Ba Vì mà nòng cốt là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên cổ vũ, tập hợp đông đảo các tầng lớp thanh niên trong huyện phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tuổi trẻ các dân tộc trong huyện đã kề vai sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ vừa sản xuất, vừa chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc. Hàng vạn thanh niên Ba Vì đã tham gia bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến trên khắp các mặt trận, chiến trường. Rất nhiều đoàn viên thanh niên đã nêu gương chiến đấu dũng cảm, không ngại gian khổ hy sinh, xứng đáng với truyền thống thanh niên Ba Vì anh hùng, lực lượng trẻ ở hậu phương thi đua sản xuất giỏi, đấu tranh kiên cường chống thiên tai, địch hoạ hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch Nhà nước giao phó.

Trong lao động xây dựng xã hội chủ nghĩa xã hội, tuổi trẻ ba dân tộc Kinh, Mường, Dao trong huyện luôn gắn bó đoàn kết, phấn đấu đi đầu trong các phong trào từ cải tiến công cụ, ngâm ủ giống theo phương thức khoa học, đẩy mạnh sản xuất phân bón, đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi, tạo lên làn gió “đại phong” nổi tiếng một thời tuổi trẻ, tích cực lao động sản xuất trong phong trào thanh niên tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)… Tuy còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm sản xuất về tay nghề nghiệp vụ quản lý nhưng do nhận thức được vai trò trách nhiệm của tuổi trẻ, đoàn viên thanh niên lại hăng hái tiến quân vào khoa học, kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, xây dựng lên những “cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ”, phong trào “luyện tay nghề thi thợ giỏi” những công trình thanh niên phấn đấu trở thành các tổ, đội lao động dự bị tin cậy của Đảng.

Cùng với việc xây dựng và phát huy truyền thống xung kích cách mạng qua các thời kỳ, đoàn viên thanh niên huyện Ba Vì luôn đặt nhiệm vụ dìu dắt, chăm sóc giáo dục lớp thiếu niên nhi đồng thành công việc thường xuyên, cùng gia đình nhà trường và xã hội, đoàn thanh niên đã góp phần dìu dắt, bồi dưỡng giáo dục về mọi mặt, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ măng non đợc phát triển toàn diện, giữ vững phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chon lọc văn hoá tinh hoa nhân loại, chuẩn bị nguồn lực thực hiện CNH, HĐH quê hương, đất nước.

Bác Hồ đã đi xa nhưng Đảng bộ, nhân dân và thế hệ trẻ Ba Vì luôn ghi nhớ và thực hiện lời Bác dạy, những vùng đất trống đồi trọc, cằn khô sỏi đá, nay là những cánh rừng xanh ngắt của trang trại, vườn rừng của vườn cây ăn quả, lợi ích của việc trồng cây, không chỉ mang lại nguồn lợi thiết thực cho đời sống trước mắt mà còn tạo ra lợi ích lâu dài và rộng lớn đem lại lợi ích nhiều mặt dân sinh, kinh tế, văn hoá – xã hội, sinh thái, môi trường.
Trồng cây cũng vì lợi ích của dân, trồng cây cúng góp phần vào nhiệm vụ “trồng người”. Địa danh nào trên đất Ba Vì Bác đã tới thăm đều để lại những bài học sâu sắc về sự quan tâm đến con người, quý trọng con người, coi con người là trung tâm của mọi chủ trương, phương pháp hành động, mục tiêu phục vụ con người, phục vụ nhân dân là mục tiêu phấn đấu chủ yếu của các ngành các cấp. Thấm nhuần tư tưởng của Bác nhiều năm qua nhiệm vụ trồng người đã trở thành mục tiêu chủ yếu, thanh nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng bộ và nhân dân toàn huyện.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương và sự quan tâm sâu sắc, Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đoàn viên thanh niên là đội hậu bị tin cậy của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước. Ngày nay đất nước ta đã và đang trải qua những chuyển biến sâu sắc trong công cuộc đổi mới, với những thành tích và vận hội mới. Lời Bác Hồ dạy “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó”. Phát huy truyền thống lớp lớp cha anh trong lịch sử, tuổi trẻ Ba Vì không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu vượt qua mọi khó khăn, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo bằng các chương trình hành động cách mạng thiết thực với khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” động viên, tập hợp thanh niên trên con đường mưu sinh lập nghiệp, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trên đất Ba Vì miền quê Núi Tản Sông Đà, quê hương của huyền thoại Sơn Tinh. Trong tiếng reo vi vút của rừng thông, tiếng sóng vỗ nhẹ êm của dòng Đà Giang cuộn chảy. Dòng người trên khắp đất nước ngày càng đông đến khu Di tích Đá Chông – nơi Bác Hồ kính yêu đã có thời gian làm việc, nơi từng được chọn để bảo vệ, giữ gìn giấc ngủ vĩnh hằng của Người. Cùng với nhân dân cả nước, tuổi trẻ Ba Vì luôn ghi lòng tạc dạ công ơn của Bác, thực hiện tốt những lời Bác dạy, góp phần bảo vệ thật tốt khu Di tích thiêng liêng này trở thành nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Ba Vì và của cả nước.

bqllang.gov.vn

Giá trị lịch sử khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9 Đá Chông – Ba Vì – Hà Tây, đề xuất hướng bảo tồn di tích.

Tiến sĩ Chu Đức Tính - Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Đồi Đá Chông nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc quần thể núi Ba Vì, huyện Bất Bạt, có độ cao 150 m so với mực n¬ước biển, địa thế giáp gianh ba tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và Sơn Tây. Vào những năm 50 của Thế kỷ XX, nơi phong cảnh “sơn thuỷ hữu tình” này có mật danh là K9. Và ngày nay được gọi là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9- Đá Chông ( gọi tắt là Di tích K9).

Tháng 5 năm 1957, trong một lần Bác đến thăm Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Sư đoàn 308 cùng Trung đoàn pháo binh 63 và một đơn vị bộ đội thiết giáp diễn tập bên sông Đà, Bác và các đồng chí cùng đi đã dừng chân, ăn cơm trên một quả đồi. Nhận thấy nơi đây có nhiều điểm thuận lợi về địa hình, thời tiết, giao thông: có rừng cây, có núi, có sông, thuận tiện giao thông, gần Thủ đô…, Bác đã trao đổi với các đồng chí cùng đi, ngỏ ý muốn chọn nơi này là căn cứ của Trung ương, đề phòng chiến tranh có thể mở rộng ra miền Bắc. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng đến khảo sát lại khu vực này vào đầu năm 1958. Sau chuyến khảo sát này, đến giữa năm 1958, Khu làm việc của Trung ­ương ở Đá Chông đã đư­ợc khởi công xây dựng với tên gọi là Công trư­ờng 5 với ba hạng mục xây dựng là:

– Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và làm việc.
– Khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo.
– Khu C dành cho anh em bảo vệ và phục vụ.

Từ năm 1960, Công trư­ờng 5 đã hoàn thành và đ­ưa vào sử dụng, sau này đ­ược gọi theo mật danh K9.

Trong 9 năm (1960-1969), K9 đã nhiều lần được vinh dự đón Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên làm việc và nghỉ ngơi.

Ngày 20/6/1959, Bác lên thăm và khảo sát tình hình thi công, xây dựng ở Công tr­ường 5 (K9).

Khoảng đầu tháng 3/1961, Bác đã cùng đồng chí Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ lên thăm K9. Chuyến đi này, Bác cùng đại sứ Hà Vỹ chuẩn bị sẽ đón tiếp đoàn của bà Đặng Dĩnh Siêu-phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai lên thăm quan khu Đá Chông nhân dịp bà dẫn đầu đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc sang thăm và dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III.

Ngày 13/3/1961, Bác đư­a đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc do bà Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu lên thăm, đồng chí Đại sứ Hà Vĩ cũng cùng đi. Bác đã đưa đoàn đi thăm rừng thông và toàn cảnh khu vực Đá Chông. Trong chuyến thăm, Bác và bà Đặng Dĩnh Siêu đã trồng cây, chụp ảnh lưu niệm… Buổi trưa, Bác mời đoàn dùng cơm thân mật tại Nhà khách.

Ngày 24/1/1962, trong dịp đoàn đại biểu quân đội Liên Xô do anh hùng Titốp, phi công vũ trụ nhà nước Xô Viết dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã đư­a đoàn lên thăm Khu di tích, thăm phong cảnh núi rừng, rừng thông, đi săn và bơi thuyền. Bác cùng anh hùng Titốp đã trồng hai cây Vàng Anh lưu niệm tại đây. Trưa hôm đó, Bác đã mời đoàn dùng cơm tại nhà khách của Khu di tích.
Một lần Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên họp. (có ảnh các đồng chí Bộ Chính trị gồm Lê Văn Lư­ơng, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn như­ng không ghi ngày tháng)

Một lần Bác lên làm việc và gặp gỡ cán bộ ở đây, Bác đã cùng anh em cán bộ ăn cơm rất thân mật, gần gũi.

Dù Bác lên ở và làm việc tại K9 không thường xuyên nhưng mỗi con đường, mỗi ngôi nhà, mỗi hàng cây ở đây vẫn in đậm hình bóng Bác.

Sau khi Người qua đời, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta mong bảo vệ và giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ để sau ngày đất n­ước thống nhất, đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế mãi mãi được viếng thăm Bác. Thể theo nguyện vọng đó, trong khi đất nước còn có chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta còn đang hướng tới việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã quyết định chọn K9 làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác từ ngày 24/12/1969 và phải tuyệt đối bí mật. Khu vực này có nhiều điểm thuận lợi như nhà cửa, hầm công sự đã có sẵn, địa thế nằm trong dải rừng dài, rộng, nên thuận tiện cho việc phòng thủ và giữ bí mật.

Sau một thời gian thi hài Bác đ­ược giữ gìn, bảo vệ ở Đá Chông, ngày 23/5/1970, Hội đồng khám nghiệm gồm chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã tổ chức khám nghiệm thi hài và kết luận: “Qua 8 tháng đầu bảo vệ, giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một nư­ớc khí hậu nhiệt đới, mặc dù phải di chuyển xa như­ng hình dáng bên ngoài và các bộ phận trên cơ thể Ngư­ời vẫn được bảo tồn đầy đủ, phù hợp với hình thể lúc Ngư­ời còn sống”1 Trên cơ sở đó, Trung ương quyết định lấy K9 làm nơi giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác..

Đêm 20, rạng ngày 21/11/1970, trực thăng Mỹ đổ quân xuống khu vực thị xã Sơn Tây hòng cứu thoát số phi công Mỹ bị giam ở đây. Điều này khiến ta phải đặt ra những ph­ương án bảo vệ thi hài Bác ở khu vực K9. Ngày 24/11/1970, Trung ương Đảng quyết định di chuyển thi hài Bác về Hà Nội. Bác về Hà Nội mới được vài tháng thì mưa lũ lên cao, theo dự đoán thì mức nư­ớc sẽ tàn phá đê điều làng mạc nghiêm trọng, do vậy, 13h ngày 18/8/1971, thi hài Bác đư­ợc đ­ưa trở lại K9. Việc di chuyển này rất khó khăn phức tạp, chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể gây hậu quả không thể l­ường hết đư­ợc. Do tình hình chiến tranh phức tạp, bầu trời K9 lúc này luôn đầy tiếng máy bay giặc Mỹ, 21 h ngày 11/7/1972, đoàn xe chở Bác đ­ược lệnh rời K9 và 0h15’ ngày 12/7, Bác đã về yên nghỉ ở một vị trí trong hang núi bên kia sông đến khi Hiệp định Paris đ­ược ký kết, Mỹ ngừng ném bom hoàn toàn miền Bác thì Bác lại đ­ược đ­ưa trở lại K9. Đây cũng là lần thứ năm các chiến sỹ Đoàn 69 thực hiện việc di chuyển thi hài Bác.

Sau khi việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đ­ược hoàn thành ngày 22/8/1975, thi hài Bác đ­ược đ­ưa về gìn giữ, bảo quản để đồng bào, chiến sỹ cả n­ước và bạn bè quốc tế về thăm viếng Bác.

Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9-Đá Chông là di sản văn hóa vô giá. Nơi đây in dấu những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc trong những năm tháng lãnh đạo đất n­ước. Người đã tiếp đón bạn bè quốc tế thân thiết tại đây. Đây còn là nơi an toàn tuyệt đối trong việc giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác Hồ từ năm 1969-1975.

Di tích hiện nay và đề xuất bảo tồn tôn tạo di tích:

Căn cứ theo lời kể của các nhân chứng đã được đi theo phục vụ Bác trong những lần Bác lên làm việc tại K9 như các đồng chí Cù Văn Chước-nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trần Văn Bắc-thợ điện, Lưu Quang Lập, Nguyễn Văn Mùi-lái xe cho Bác Hồ, Hoàng Thanh-lái xe cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đăng Thọ-Nguyên Trưởng phòng ảnh Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thái Hữu Khang.

Di tích Bác Hồ ở K9 Đá Chông là di tích l­ưu niệm danh nhân ghi dấu sự kiện Bác Hồ đã nhiều lần đến ở và làm việc kể từ năm 1957 đến lúc Ng­ười đi xa và sau này còn là nơi lưu giữ thi hài của Người trong những năm tháng chiến tranh. Chính vì vậy, giá trị lịch sử, văn hóa của Khu di tích là hết sức to lớn. Tuy nhiên, hiện nay, Khu di tích đã bị thay đổi một số hạng mục như­ sân, vư­ờn, khu B theo như lời kể của các nhân chứng. Ví dụ như cần lưu giữ, bảo quản tốt cây vải ở trước di tích vì trước kia, khi Bác đưa các đoàn khách lên, Bác thường nhường buồng của Bác cho khách rồi nói anh em đưa ghế mây đặt dưới gốc cây vải để nghỉ trưa. Sân trước nhà trước lát bằng gạch lá dừa rất tốt và đẹp nhưng giờ thay bằng gạch Bát Tràng. Sân được nâng cao hơn trước là không hợp do nền sân thấp thì đặt ghế mây cho Bác nằm mới bằng phẳng. Các đồ đạc trong nhà đa phần vẫn được giữ nguyên vị trí như khi Bác còn như bàn ghế, tủ, đèn, cốc chén… Tuy nhiên, việc chú ý bảo quản, giữ gìn di tích như nguyên gốc là vô cùng quan trọng.

Di tích K9-Đá Chông là khu di tích có bề dày lịch sử gắn liền với tên tuổi và sự ngiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu xây dựng hồ sơ công nhận di tích, đặc biệt cần chú ý việc khoanh vùng bảo vệ di tích đối với khu A là khu vực bất khả xâm phạm. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp bảo tồn di tích theo luật văn hóa, xây dựng các phương án bảo tồn và phát huy tác dụng di tích một cách hiệu quả nhất trong điều kiện cho phép như tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống, sinh hoạt chính trị, báo công dâng Bác, trồng cây lưu niệm tại Khu di tích…

Những hoạt động này sẽ tạo ra một nét đẹp văn hóa, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về truyền thống uống nước nhớ nguồn của Đảng và nhân dân ta đối với Bác Hồ, hưởng ứng mạnh mẽ phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đồng thời, tổ chức khôi phục lại những thay đổi của di tích theo như lời kể của các nhân chứng, giữ gìn cảnh quan môi trường để di tích luôn là một di sản văn hóa quý báu đối với dân tộc Việt Nam.

Ảnh: Nguyễn Ngọc Hà

bqllang.gov.vn

Xuất xứ của 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu quý thiếu niên, nhi đồng. Không chỉ yêu quý, Bác còn rất quan tâm giáo dục các em. Bác nói thiếu nhi là người chủ tương lai của nước nhà, cho nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng cho thiếu nhi. Nhiều thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn ghi nhớ 5 điều Bác dạy. Vậy 5 điều Bác dạy thiếu nhi có xuất xứ như thế nào ?

Cách đây tròn 46 năm, vào năm 1961, nhân Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam (15/5/1941 – 15/5/1961), theo đề nghị của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho thiếu niên, nhi đồng. Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện còn lưu giữ bản thảo của bức thư đó. Trong thư Bác căn dặn: “Các cháu cũng tham gia đấu tranh bằng cách thực hiện mấy điều sau đây:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh,
Thật thà, dũng cảm”.

Nhưng trong cuốn sổ Giải thưởng Bác Hồ là loại sổ dành riêng để thưởng cho giáo viên và học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập năm học 1964 – 1965 thì 5 điều Bác dạy trên đây lại được in hoàn chỉnh là:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt,
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

(Chữ “thật tốt” và chữ “khiêm tốn” được bổ sung vào 2 câu cuối, nên mỗi câu đều có 6 chữ).

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Sở dĩ như vậy vì gần đến cuối năm 1965, để chuẩn bị phần thưởng cho giáo viên và học sinh vào cuối năm học, Bác thấy 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng từ năm 1965 trở về trước, 3 câu đầu mỗi câu có 6 chữ còn 2 câu cuối mỗi câu chỉ có 4 chữ, như vậy không cân đối. Bác đã suy nghĩ và bổ sung thêm cho mỗi câu đủ 6 chữ.

Đặc biệt, ở câu thứ 5, Bác thêm chữ “Khiêm tốn” vì từ năm 1965 trở đi, đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, ném bom bắn phá miền Bắc, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt” nên xuất hiện ngày càng nhiều gương “Người tốt việc tốt” ở mọi lứa tuổi. ở miền Bắc xuất hiện nhiều gương thiếu nhi dũng cảm cứu người, cứu hàng; ở miền Nam xuất hiện nhiều gương dũng sỹ diệt Mỹ. Nhưng Bác không muốn các em tự kiêu, mà muốn các em khiêm tốn, vì đức khiêm tốn sẽ giúp các em tiến bộ mãi. Bác còn đánh giá rất cao đức khiêm tốn ở các em. Bác nói: “ở nước Mỹ, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy, thế mà ở Việt Nam ta các cháu bé đã biết sống như thế nào… Có cháu lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó sảy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn “bám vào đây, bám vào đây”. Cháu tuy nhỏ tuổi mà biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Văn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta văn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy”.

Và 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng đã được phổ biến rộng khắp trong các trường học ở Việt Nam. Nghe theo lời dạy của Người, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam hăng hái thi đua tham gia phong trào “Hai tốt”, phong trào “Thiếu nhi làm nghìn việc tốt”. Chính những đóng góp nhỏ bé của các em đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp dựng xây đất nước.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, 5 điều Bác dạy thiếu niên nhi đồng vẫn là bài học thuộc lòng quý giá để mỗi em ghi nhớ, học tập, rèn luyện và noi theo.

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Còn mãi những kỷ niệm về Bác Hồ !

Đó là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, nơi Bác đã sống và làm việc suốt 15 năm cuối đời (1954-1969). Trải dài từ Bắc vào Nam, có hơn 600 di tích và điểm di tích về Bác Hồ. Mỗi di tích chứa đựng những nội dung lịch sử, văn hóa khác nhau, cùng góp phần làm phong phú thêm các sự kiện và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tìm hiểu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở di tích của Người tại Phủ Chủ tịch có ưu thế hơn cả.

Đây là nơi Bác ở và làm việc liên tục lâu nhất trong cuộc đời và hơn thế lại là 15 năm ở cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, song những chuẩn mực đạo đức cách mạng vẫn được Người thực hiện một cách gương mẫu và là giai đoạn Người viết nhiều bài nhất về vấn đề đạo đức. Đây cũng là một trong số rất ít di tích về Bác còn giữ được gần như nguyên vẹn các bộ phận cấu thành di tích cũng như cảnh quan môi trường. Di tích lại ở ngay trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử Ba Đình, gắn với Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, rất thuận lợi trong việc phối hợp hoạt động cũng như các điều kiện phục vụ đông đảo nhân dân tới tham quan, học tập.

Những lý do nêu trên đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Khu di tích. 37 năm qua, Khu di tích đã đón và phục vụ chu đáo gần 50 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Theo kết quả điều tra những năm gần đây, thì có tới 82% số người được hỏi bày tỏ nguyện vọng sẽ trở lại thăm di tích nhiều lần. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong sự giản dị. Mọi người – từ các nhà khoa học, các chính khách đến tầng lớp bình dân – đều có chung đánh giá: Người là lãnh tụ cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu.

Những nội dung chính của đạo đức Hồ Chí Minh (trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tình yêu thương con người và tinh thần quốc tế trong sáng) đều hội tụ đủ và có thể khai thác hiệu quả thông qua việc tìm hiểu cuộc sống và những cống hiến của Người trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích. Được nghe những câu chuyện chân thực, sinh động về hành vi đạo đức của Người trong sinh hoạt, cuộc sống, cách ứng xử, được tận mắt chứng kiến những đồ dùng tiện nghi của một nguyên thủ quốc gia, cũng như ý nghĩa của mỗi tài liệu, hiện vật trưng bày, đã thực sự gây xúc động đối với khách đến thăm Khu Di tích.

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hơn 2 tháng qua, Khu di tích đã tổ chức phục vụ 25 đơn vị với hơn 3.500 lượt người đến học tập, sinh hoạt chính trị như báo công, phát động thi đua… Rất nhiều người đã ghi những cảm tưởng xúc động, chân thành. Đoàn cán bộ, học viên Học viện Hậu cần ghi: “Về viếng Bác và thăm nơi ở, làm việc của Người, chúng cháu càng thêm kính trọng và thương nhớ Bác…”. Đoàn sinh viên Học viện Ngân hàng ghi: “Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ không ngừng phấn đấu nhiều hơn nữa, góp phần xây dựng đất nước. Bác ơi ! Chúng cháu yêu Bác rất nhiều”…

Thực tế ở Khu Di tích cho thấy, muốn hiệu quả, thiết thực trong tuyên truyền, vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trước hết cần phải nhận thức rõ: Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ không có nghĩa là bắt chước một cách máy móc, mà phải hiểu rõ tinh thần cốt lõi của từng bài học để mỗi người soi vào đó, giải quyết hài hòa ba mối quan hệ: với người, với mình và với công việc. Qua đó, ai cũng nhận thấy việc học tập và làm theo Người không phải là xa lạ hoặc quá sức, ngược lại mỗi người đều có thể sáng tạo, vận dụng ở mỗi công việc cụ thể hằng ngày…

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Tôi học Bác từ những chuyện nhỏ nhất!

“Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được. Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên”.

Ông Phạm Ngọc Toản ở xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, Quảng Nam là một trong số rất ít cán bộ miền Nam được cử đi học lớp đào tạo Công an nhân dân Việt Nam khóa 1 tại căn cứ Việt Bắc. Sau khi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được chọn lựa vào đội ngũ những người cận vệ trung thành bảo vệ Bác Hồ cho đến lúc Bác đi xa.

Năm nay đã hơn 82 tuổi, dù đã bị căn bệnh tai biến hành hạ hơn 10 năm trời, nhưng ông vẫn còn rất minh mẫn. Bên ly nước chè xanh trong căn phòng khách nhỏ gọn gàng, đơn sơ dưới cái nắng gay gắt giữa mùa hè của đất Quảng Nam, ông nhớ lại. “Đầu năm 1953, tôi có quyết định ra Việt Bắc học trường công an. Nghe tin thế, tôi rất vui sướng vì tin chắc rằng đến Việt Bắc nhất định sẽ được gặp Bác Hồ, lúc đó được gặp Bác Hồ là ước mơ đến cháy bỏng của biết bao người.

Trong 15 năm ở gần Bác Hồ, tôi chỉ được ở gần Bác thôi, như là người hàng xóm của Bác chứ không phải như người trong nhà. Bởi vì có một số anh em được trực tiếp, tiếp cận bảo vệ Bác, còn tôi chỉ bảo vệ vòng ngoài. Bác đi đâu, chúng tôi lo đường đi chỗ đến cho Bác. Tôi có may mắn là trong nhiều năm luôn là người trực tiếp đi chuẩn bị những nơi Bác đến thăm. Bác cũng đến những nơi mà không ai ngờ nhất. Bác luôn quan tâm đến mọi người dù những việc nhỏ nhất. Có lần Bác đến thăm một cơ quan, trong lúc lãnh đạo cơ quan đang chuẩn bị đón Bác ở trên hội trường được trang hoàng rất sạch đẹp. Nhưng khi chúng tôi đưa đến, Bác yêu cầu đưa Bác ra phía sau trước. Thế là Bác xuống bếp ăn, xuống nhà vệ sinh, xuống thăm khu tập thể… Khi thăm xong thấy mặt Bác không vui. Ngay sau đó, Bác cho gọi lãnh đạo cơ quan ấy, cho gọi Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn thanh niên và đề nghị cho giải quyết ngay vấn đề vệ sinh và hẹn sau 5 ngày phải báo cáo cho Bác biết”.

“Trong suốt 15 năm phục vụ Bác Hồ, ông học được gì về đạo đức tư cách của Bác?” – chúng tôi hỏi. Ông Phạm Ngọc Toản trả lời: “Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên. Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được”. Ông kể tiếp:

“Lúc ấy chúng tôi ở tại Văn phòng T.Ư bên này, Bác ở bên Văn phòng Phủ Chủ tịch cách nhau một con đường Hoàng Diệu. Bác thường thức dậy rất sớm (khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút). Nhiều lần nhìn sang bên chúng tôi, thấy còn để đèn sáng là Bác gọi điện qua nhắc nhở. Bác nói: “Đã sáng tỏ mặt người rồi sao các chú còn để điện? Phải tiết kiệm chứ”.

Tôi đã học được từ Bác chữ kiệm rất nhiều. Ngày ấy, có khoảng thời gian cả nước gặp khó khăn, bì thư mà Bác sử dụng luôn được làm từ giấy báo. Bác nhờ chúng tôi lấy giấy báo đã đọc rồi cắt làm bì thư, chứ Bác không chịu sử dụng phong bì bằng giấy trắng. Những mảnh giấy trắng nếu còn dùng được dù chỉ bé bằng bàn tay, Bác cũng cất lại để dán lên phong bì giấy báo để ghi địa chỉ người nhận, người gửi”.

Ông Toản dừng lại một hồi… Bất chợt, ông lại kể tiếp: “Vào những lúc chúng tôi được ăn cơm cùng Bác, Bác thường bảo cái gì mà mình đã ăn thì phải ăn hết, còn cái gì mà mình không thích thì đừng đụng đũa để dành cho người khác ăn. Đừng có ăn lở dở mỗi đĩa một miếng không hay lắm. Ăn xong rồi Bác bảo phải thu dọn cho ngăn nắp, đĩa ra đĩa, chén ra chén, đũa ra đũa để khi người phục vụ đến người ta bưng cho đỡ bớt thì giờ của người ta. Đó là những chuyện rất nhỏ, còn những chuyện lớn thì ai cũng biết rồi, tôi không cần nói làm chi”.

Sau ngày Bác mất, ông Phạm Ngọc Toản được bổ nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng trường An ninh E1171, là cơ sở đào tạo cán bộ an ninh cho toàn bộ chiến trường miền Nam và sau đó là lãnh đạo trường Công an 5 ở huyện Núi Thành, Quảng Nam và ông về hưu cách đây gần 30 năm với quân hàm thượng tá. Học tập chữ Kiệm của Bác, ông hiện sống rất giản dị, thanh thản với căn nhà nhỏ quây quần bên gia đình và con cháu.

Theo Tấn Tú – Thanh Niên

bqllang.gov.vn

Những bức thư tháng bảy ân tình

(HNM) – Cách đây vừa tròn 60 năm, tại An toàn khu – huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Nhà nước và Chính phủ non trẻ của chúng ta đã chọn ngày 27 – 7 hằng năm là ngày của các thương binh và gia đình liệt sĩ.

Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không bao giờ quên ngày 27 – 7. Những dịp này, Người thường cố gắng bố trí thời gian để tới thăm hoặc viết thư động viên các thương binh và gia đình liệt sĩ.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện lưu giữ được khá nhiều những bức thư tháng bảy đầy ân tình của Người. Trong thư, Người ân cần thăm hỏi anh em thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Khi thì thông qua cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh thời kỳ đó, còn hầu hết, Người gửi thư trực tiếp thăm hỏi anh em. Thư thường do tự tay Người đánh máy, theo kiểu chữ riêng của mình mà thoạt nhìn chúng ta đều nhận biết dễ dàng. Thư có bức dài, bức ngắn, luôn chứa đựng tình cảm lớn lao, sâu nặng của Người đối với những chiến sĩ đã hy sinh, những gia đình có công đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các cấp, các ngành và đồng bào, đồng chí “uống nước nhớ nguồn”, hết lòng chăm lo cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Người viết: “Bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ. Nhiều nơi, đồng bào đã hiểu đúng và làm đúng như vậy, nhưng cũng còn có một số ít địa phương chưa hiểu đúng, làm đúng. Tôi tin rằng đồng bào, đoàn thể và các cán bộ ở những địa phương đó sửa chữa những thiếu sót ấy và quan tâm giúp đỡ những người đã hi sinh xương máu cho nước nhà” (Thư ngày 17-7-1956).

Trong hầu hết các bức thư, bên cạnh việc khẳng định công lao to lớn của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Người thường xuyên nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, của Chính phủ và nhân dân đối với họ: “Tôi cũng nhắc nhở các cơ quan đoàn thể phải chấp hành một cách chu đáo các chính sách của Đảng và Chính phủ đối với anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ” (Thư ngày 17-7-1952).

Trách nhiệm ấy, theo quan điểm của Người là sự trân trọng, biết ơn chứ không phải là sự gia ơn. Người cho rằng, muốn làm tốt điều này, phải luôn chú ý đến hai mặt của vấn đề: Toàn Đảng, toàn dân trân trọng, biết ơn, tri ân, nghĩa tình với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Đồng thời, anh em thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ phát huy truyền thống, giữ vững phẩm chất, vượt lên khó khăn để luôn xứng đáng với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân. Người nhắc nhở: “Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sĩ anh dũng. Khi ở trại (trung tâm điều dưỡng thương binh nặng – LMĐ) thì nên thi đua học tập, công tác. Lúc ra trại thì nên hăng hái tham gia công tác, sản xuất ở địa phương, ở cơ quan” (Thư ngày 17-7-1956).

Lời lẽ trong nhiều bức thư gần gũi, chân tình như anh em trong một gia đình. Và hơn thế, Người luôn thể hiện thái độ tôn trọng và khích lệ họ: “Chớ bi quan chán nản, phải luôn cố gắng. Trước kia anh em đã xung phong diệt giặc thì nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất. ở nước ta, chú Tấn, chú Cầu cụt một tay mà vẫn công tác rất hăng” (Thư ngày 27-7-1952).

Trong nhiều bức thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chia những món quà nhỏ của mình, gửi các thương binh, gia đình liệt sĩ, thể hiện sự gắn bó nghĩa tình “đói cùng chịu, no cùng hưởng”: “Tôi xin gửi một tháng lương nhờ cụ (tức cụ Vũ Đình Tụng – LMĐ) chuyển làm quà cho anh em với lời thân ái hỏi thăm của tôi” hoặc: “Tôi xin gửi 50 chiếc khăn tay của đồng bào Thái biếu tôi. Nhờ cụ chuyển tới anh em giúp tôi” (Thư ngày 17-7-1952).

60 mươi năm đã trôi qua, mỗi một tháng bảy đến, được đọc lại những bức thư tháng bảy của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, chúng ta càng kính yêu Người vô hạn, càng biết ơn những anh hùng, liệt sĩ và thân nhân của họ đã hy sinh xương máu cho độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, cho đất nước Việt Nam yêu quý đơm hoa, kết trái, vững bước trên đường đổi mới, hội nhập như ngày nay.

Lê Minh Độ
(Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

bqllang.gov.vn