Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTrong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh(1) đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng ham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”(2).

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn(3), gồm 5 điểm: Một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(4). Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: Trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”(5). Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(6). Trung với nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghĩa khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7).

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ánh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng.

———————————–

[1] Đường Kách mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Kách mệnh. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

Theo: dangcongsan.vn
Tâm Trang(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và mùa xuân cách mạng 72 năm trước (*)

Tháng 10-1938, Bác Hồ từ Nga trở lại Trung Quốc. Giữa năm 1940, xe tăng của phát xít Hit-le tràn vào Pa-ri, và ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng. Đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Bác chủ trương chuyển hướng hoạt động đến biên giới Việt – Trung, rồi về hẳn trong nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Trưa ngày 8-2-1941, đồng chí Vũ Anh ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa mới gặt xong. Mặt trời đã ngả sang chiều thì Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp đã về bên này cột mốc biên giới. Khi đến cột mốc 108 – cột mốc bằng đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp – Bác dừng lại, cúi đọc những chữ khắc sâu trong đá, rồi hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu tới dải đất Tổ quốc trùng điệp.

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Bác Hồ về Tổ quốc vào mùa Xuân Tân Tỵ 1941.

Khi ra đi từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Bác 21 tuổi, đến khi trở về 51 tuổi, tóc đã hoa râm, song tầm vóc chính trị vượt xa các nhà lãnh đạo cách mạng ở trong nước lúc bấy giờ.

Pác Bó thay mặt Đất Mẹ, đón người con vĩ đại nhất của dân tộc, sau 30 năm xa cách, lần đầu tiên vui Xuân trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc.

“Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về…Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”

                                     (Tố Hữu)

Pác Bó là nơi đặt chân đầu tiên của Bác khi về nước, và sau đó vẫn là nơi đóng cơ quan của Bác cho đến lúc Bác chuyển về Tân Trào (4 tháng 5 năm 1945).

Pác Bó là một bản nhỏ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm sát biên giới Việt – Trung, cách thị xã Cao Bằng gần 60 km. Nhân dân trong vùng chủ yếu là người Nùng.

Tài sản của Bác sau bao nhiêu năm đi khắp năm châu bốn biển, giờ đây vẫn chỉ một chiếc va-li con, trong đựng một ít tài liệu quan trọng và một chiếc máy chữ của các đồng chí trong nước gửi cho trước đây.

Trong sương giá lạnh của miền núi đá biên cương, Bác sống và làm việc trong hang Pác Bó. Trong hang, có dòng suối chảy về xuôi và dãy núi đá xanh. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đó đã được Bác thể hiện trong bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Từ suối Lê-nin, từ núi Mác, ánh sáng cách mạng đã tỏa rộng muôn nơi…

Câu đối dưới đây Bác làm ngay trong rừng sâu Pác Bó đã nói lên mong muốn và quyết tâm của Bác đối với dân, với nước từ những ngày đầy gian khó:

– Nước mới quyết làm cho nước mới
– Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa. (1)

Ở Pác Bó, cuộc sống tuy vô cùng khó khăn, kham khổ, nhưng Bác vẫn ung dung, thanh thản, luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Tư thế của nhà thơ là tư thế đứng trên đầu mọi gian khó, hiểm nguy. Bài thơ đã làm sống lại cuộc đời của một nhà hoạt động chính trị bí mật trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước. Năm 1961, về thăm lại Pác Bó, Bác xúc động cảm tác:

“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Bài thơ bốn câu ngắn gọn đã phác họa con đường lịch sử 20 năm của dân tộc.

Cũng chính tại Pác Bó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ 10 đến 19-5-1941) do Bác triệu tập và chủ trì, họp ở rừng Khuổi Nậm, đã nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp lực lượng toàn dân. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cứu nước giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, Bác Hồ về Tổ quốc mùa Xuân 1941 là một sự kiện vô cùng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Mười ba năm sau, năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954). Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ ngày 23-9-1945 đã kết thúc. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Ba mươi tư năm sau, năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một mùa Xuân vĩnh viễn cho đất nước.

NGUYỄN XUYẾN
thuathienhue.edu.vn

—————————

(*) Bìa viết này được đăng vào năm 2011 nên Vkyno xin sửa lại tiêu đề cho phù hợp với hiệu niên

Đồng bào Tây Nguyên vui Xuân bên tượng Bác Hồ

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, ngày nào cũng đi bộ ra quảng trường để chiêm ngưỡng tượng vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi.

Cuối năm 2012 đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Quảng trường Đại đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Từ ngày đó đến nay, nhất là trong những ngày xuân này, ngày ngày, có hàng nghìn người đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết để thể hiện lòng tôn kính với Bác.

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, 81 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, ở phường Tây Sơn, thành phố Pleiku cho biết, từ khi công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên khánh thành, ngày nào ông đi bộ từ nhà ra quảng trường Đại đoàn kết để ông chiêm ngắm hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng sáng ngời và vĩ đại của Bác –  người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân.

Vinh dự lớn nhất đời ông Nay Pơ là 4 lần được gặp Bác Hồ. Những lời Bác dạy ông vẫn khắc ghi trong tim, đồng bào Kinh, Ba Na, Ja Rai, hay Ê Đê, Xê Đăng … đều là anh em một nhà, đồng bào phải biết đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Hơn 37 năm kể từ ngày giải phóng, ông chưa có dịp ra thủ đô Hà Nội, ra thăm lăng Bác, nên hôm nay đây, trong những ngày xuân mới này, ông rất phấn khởi vì Đảng và Nhà nước đã quan tâm, xây dựng tượng đài Bác Hồ ngay tại Tây Nguyên. Ông cũng như nhiều đồng chí, đồng đội, nhiều đảng viên có cơ hội được tỏ lòng tôn kính với Bác ngay tại quê nhà. Đối với ông, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong những ngày cuối đời.

Ông nhớ lại buổi lễ khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên (tối 9/12/2012), trong đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: ‘Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào 5 tỉnh Tây Nguyên và là niềm vui chung của cả nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có điều kiện đến thăm Tây Nguyên, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim, Người lúc nào cũng đau đáu một niềm thương nhớ, yêu quý đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng rằng,  với truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên nói chung sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, đạt nhiều thành tựu và đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng và toàn dân tộc’.

Hôm nay đây, tượng đài Bác Hồ được dựng lên giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị như chính cuộc đời của Người – vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân. Đồng bào Tây Nguyên nhớ ơn và luôn khắc ghi lời dạy của Bác, luôn mang trong tim hình ảnh Bác Hồ như điểm tựa tinh thần, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần từng bước làm cho Tây Nguyên ngày càng trở nên trù phú.

Tối nay (9/2), đêm giao thừa đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai mở hội mừng xuân ngay tại Quảng trường Đại đoàn Kết, ngay dưới chân tượng đài Bác Hồ. Qua đó, nhân dân báo cáo với Bác, năm qua, tỉnh Gia Lai nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, an ninh chính trị được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên. Đồng thời, hứa với Bác, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ tiếp tục phấn đấu để xây dựng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, giàu đẹp như niềm mong mỏi của Bác./.

Vài hình ảnh về nhân dân Tây Nguyên bên tượng đài Bác Hồ:

Đồng bào Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu

Công Bắc/VOV-Tây Nguyên
daklak24h.com

Bác với Đảng – Những mùa xuân ghi nhớ

Xây dựng ĐảngSau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Mỗi độ Xuân về, mỗi người Việt Nam lại bồi hồi nhớ lời Bác Hồ dặn về “Chào Xuân”:

Năm cũ lịch cũ vừa qua,
Năm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khi. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, mà lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm, nên tục ngữ có câu “nhất niên chi kế, thi ư Xuân” (suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân). Cũng vì thế cho nên năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân.

Với ý nghĩa của ngày Xuân như vậy, Bác đã đưa đến cho Đảng ta cuộc đời gắn với mùa Xuân: Ngày Xuân 3-2-1930, Bác đã sáng lập Đảng ta. Và sau đó vài ngày (khoảng từ ngày 5 đến ngày 8), Bác đã “đãi” một bữa cơm Tết Nguyên đán vừa tiết kiệm, vừa linh đình để chúc mừng ngày Đảng chào đời. Bắt đầu từ Xuân và mãi mãi về sau, cứ mùa Xuân đến là mùa Xuân mừng Đảng ra đời, là mùa Xuân để Đảng sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm.

Và từ khi về nước (28-1-1941) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, cứu dân, cứ ngày Xuân đến, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân hưởng cảnh Xuân vui vẻ, đón Xuân, mừng Xuân bằng những lời chúc Xuân ấm áp, mang nặng nghĩa “Xuân sinh” và đặc biệt mang đến cho mọi người “kế hoạch hoạt động và sống còn” cho cuộc sống. Mùa xuân 1942, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân cảnh đón Xuân, mừng Xuân, vui với Xuân với những lời thơ chúc Tết đầu tiên của Người:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi.
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt minh ta càng lấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rấtt vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới “.

Và cũng mùa Xuân này, Bác Hồ đã chỉ rõ bổn phận của người dân Việt Nam qua cuốn “Lịch sử nước ta” mà Bác viết cho dân, cho nước vào tháng 2-1942:

“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hoà…
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”…

Ngày 6-1-1946, ngày quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước nhà, Bác Hồ – lãnh tụ của Đảng, lãnh tụ tối cao của dân tộc đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%. Đó là Xuân “đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ”; là Xuân “đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dựng quyền dân chủ của mình”; là Xuân “mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Đúng vào lúc giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc năm 1947 – Tết đầu tiên sau khi nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược theo lời hiệu triệu “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, lần đầu tiên nhân dân ta được trực tiếp nghe lời chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây, vào lúc gần 24 giờ ngày 21-1-1947 (tức ngày 30 Tết Nguyên đán) :

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy núi sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng,
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông,
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Mùa Xuân năm 1951, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đó là Đại hội:

“- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ,
– Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
– Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
– Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài”.

Bằng sức mạnh của dân tộc, đất nước trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Xuân 1960, Xuân “mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh. Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ”- Xuân cho ta niềm tự hào lớn lao về Đảng, như Bác Hồ đã nói tại lễ kỷ niệm Đảng 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức là văn minh,
Là thống nhất độc lập, là hoà bình ấm no”.

Và bắt đầu từ Xuân này, nhân dân ta thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược trên đất nước Việt Nam, như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên.
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Xuân Mậu Thân năm 1968, đã đi vào lịch sử, đó là mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến tranh, buộc địch phải lùi vào chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường. Cuộc Tổng tiến công này là bước tập dượt cho cuộc Tổng tiến công toàn thắng mùa Xuân năm 1975. Vì thế, đất nước vào Xuân 1968 với khí thế như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta”.

Cuộc tổng tiến công của quân dân miền Nam, với chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc vĩ đại Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975, đã đánh bại đế quốc Mỹ, đưa giang sơn Việt Nam thu về một mối, cả nước chung sức chung lòng bảo vệ nền độc lập thống nhất và đi lên CNXH. Như lời chúc Tết của Bác Hồ năm 1969:

‘Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.

Mùa Xuân năm 2000, đó là mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ XX, thế kỷ mà với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt nam dưới sự dẫn dắt của người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; đó là mùa Xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh kỷ niệm 70 tuổi, tổng kết đợt 1 của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự là Đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo dân tộc, đất nước và cùng với đất nước, dân tộc bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ mà đất nước đã độc lập thống nhất, đi vào xây dựng cơ đồ Việt Nam đàng hoàng, to đẹp và văn minh.

Xuân 2001, mùa Xuân Đảng ta tiến hành Đại hội IX – Đại hội phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; Xuân cả nước một lòng vượt qua khó khăn, tất cả để năm đầu tiên của thế kỷ mới với Nghị quyết IX của Đảng soi sáng sẽ giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Xuân đầu tiên Đảng, dân tộc thực hiện hành trang mà Bác Hồ chuẩn bị cho mọi người làm hành trình đi trong thế kỷ mới “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tới Xuân 2006, Đảng ta tiến hành Đại hội X – Đại hội đánh dấu thời điểm có ý nghĩa trọng đại: đất nước đã qua 5 năm đầu tiền của thế kỷ XXI thực hiện đường mối đổi mới; Xuân thứ 60, nhân dân ta hưởng dụng quyền dân chủ và quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

Năm 2010 đã đi qua, năm mà đảng ta kỷ niệm nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: kỷ niệm 80 năm ra đời và trưởng thành của Đảng, 1000 năm Thăng Long đông đô Hà Nội, 35 năm giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 120 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, năm 5 học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người,…Trong niềm vui hân hoan đó, nhân dân trong cả nước ra sức thi đua lao động xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH mà Bác và Đảng đã vạch ra.

Chỉ còn không ít giờ nũa, một mùa xuân mới lại về. Xuân mới, lịch mới năm 2011 này, Đảng ta “sắp đặt và lên kế hoạch hoạt động cho cả năm” mà mở đầu là diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (01/2011), kỷ niệm 81 năm thành lập Đảng (03/02/1930-3/02/2011), năm đầu tiên của thập kỷ thứ hai giai đoạn 2010-2020…những kế hoạch trên một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, tinh thần chiến đấu của nhân dân ta vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc; giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, niềm tự hào dân tộc đã tạo nên bởi những mùa Xuân dựng nước, giữ nước. Để Xuân Tân Mão này – năm bản lề của giai đoạn phát triển kinh tế 2010-2020 và cũng là năm Đảng ta kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của trong hoàn cảnh đất nước đang không ngừng đổi mới, đang phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lại thêm một năm chí Đảng đã quyết, lòng dân đã đồng, kiên quyết, kiên trì tiêu diệt “giặc nội xâm”, “giặc quốc nạn”, “giặc trong lòng”, loại giặc quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở bộ phận người có chức, có quyền đã biến chất đang làm băng hoại đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của dân chúng vào Đảng, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Vì vậy, bước vào mùa Xuân 2011 này, chúng ta như được thúc giục bởi lời chúc Xuân Mậu Thân 1968 của Bác Hồ:

“Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”./.

Bá Dương
busta.vn

Những bài thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

Người là niềm tin tất thắng    Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự, đó là: Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân. Đặc biệt bởi lối viết nôm na, kêu gọi ấy, trong mỗi câu, mỗi bài đều chan chứa ý thơ, tràn đầy sắc xuân, vừa độc đáo, hào hùng, vừa ấm áp thương yêu. Hơn thế, đó không chỉ vì thơ, vì Tết, vì xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Người gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, là những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

     Xuân này, chúng ta kỷ niệm bốn mươi xuân – Xuân Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất (1968 -2008). Điều đặc biệt là chùm thơ xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Có thể nói, đây là một trong những thời điểm đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thời điểm mà sự vươn lên của mỗi con người, mỗi chiến công, mỗi khoảng đất của Tổ quốc, mỗi bước đi của thời gian đang dần trở thành lịch sử, thành hùng văn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

     Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dây Tết Mậu Thân (1968).

     Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 thăng 1 năm 1968. Sau khi điểm lại những thắng lợi của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc trong năm 1967, Người chỉ rõ “Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược ngày càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lơi to lớn hơn nữa”. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng bằng những vần thơ xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

     Thật tài tình! Chỉ với một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vừa ngắn gọn, dễ hiểu, Bác Hồ đã cho chúng ta cả một bài ca chiến thắng, một dự đoán thiên tài về sự tất thắng của quân và dân ta trong trận đánh lịch sử mừng xuân này. Điệp khúc “thắng trận”, “toàn thắng” vừa động viên khích lệ, vừa thôi thúc lòng người, dục giã mỗi bước chúng ta đi. Ở câu cuối, sự đột ngột ngắt câu, chuyển dòng, lời thơ như một mệnh lệnh để cả dân tộc muôn người như một, cùng hăng hái tiến lên, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… Vâng lời Bác, toàn dân ta đã cùng lên đường ra trận, quyết chiến đấu và chiến thắng.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin, tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng cảm, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

     Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

     Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

     Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dây đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

     Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc trong mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, từ năm 1966, khi sức khoẻ của Bác Hồ đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Về chuyện này, theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ, Bác Hồ tâm sự, nếu bỏ được thì tốt, nhưng vì Bác đã hút thuốc lá đã nhiều năm, nên đó là một việc không dễ, và Người đề nghị: các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này. Sau đó, Bác Hồ định ra kế hoạch bỏ thuốc lá, rồi nghiêm túc thực hiện. Người giao thuốc cho đồng chí giúp việc quản lý, mỗi ngày chỉ hút ba lần và hút giảm dần: tuần đầu mỗi lần hút 2/3 điếu, tuần thứ hai hút 1/2 điếu, tuần thứ ba hút 1/3 điếu, tuần thứ tư chỉ một vài hơi. Người bỏ luôn cả cà phê sáng và nhờ đồng chí thư ký uống hộ. Người bảo: cà phê ngon, nhưng uống thì Bác lại nhớ thuốc lá. Khi bỏ thuốc, Người cũng thôi uống rượu.

      Vui niềm vui của riêng mình, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện này. Đó là bài Nhị vật bằng chữ Hán:

“Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần” .

     Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả là bỏ không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề” bằng chữ Hán:

“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân” .

      Xuân này, đọc lại những vần thơ xuân của Bác Hồ 40 xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Người vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triến của non sông đất nước.

     Vui đón Xuân về, đọc lại những vần thơ xuân của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Người để mỗi cuộc đời mãi mãi: Một năm là cả bốn mùa xuân!

T.s. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

lichsuvietnam.vn

Đọc tâm hồn xuân Bác Hồ

Theo gương Bác Hồ làm báoNhư một hoài niệm thấm đượm tâm hồn Việt, cứ mỗi độ xuân về, ký ức con người lại dấy lên những vần thơ Xuân Bác Hồ. Ấy là vì, như thành lệ, khi xuân đến trong cảnh đất trời rực rỡ, lòng người lại xốn xang chờ đợi những lời chúc mừng năm mới của lãnh tụ: “Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Xuân về, nhớ Bác là tình cảm thiêng liêng tự nhiên.

Gần như suốt những năm với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ đều gửi thu bằng thơ mừng xuân như một phong tục đẹp mới vừa truyền thống, vừa rất cách mạng.

Trong tâm hồn người cầm súng tự vệ mùa xuân Đinh Hợi 1947 là lồng lộng tung bay lá cờ đỏ sao vàng và rộn rã “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”. Lời lãnh tụ từ đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ sở Chùa Trầm, ngay sát Thủ đô khói lửa, có sức kêu gọi ghê gớm cả lớp thanh niên Quyết tử quân mùa xuân ấy. Rồi cả nước, từ hải đảo xa xôi đến vùng biên hẻo lánh nghe Bác Hồ cất tiếng nói Mừng Xuân 1968 kêu gọi trong niềm hy vọng cháy bỏng: “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta”

Mùa xuân Kỷ Dậu 1969, không ai ngờ Mừng Xuân như một lời gĩa biệt trước khi Người đi xa mãi mãi.

Nếu ngược dòng thời gian ta sẽ nhớ lại những mùa xuân trọng đại từ trước Cách mạng của Bác Hồ.

Mùa xuân Canh Ngọ, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng : Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nởhoa mơ” (Theo chân Bác – Tố Hữu). Năm sau, đúng ngày 01/01/1942, Mừng xuân 1942 là bài thơ khởi đầu cho chùm hơn hai chục bài thơ vào dịp năm mới của vị Nguyên thủ Quốc gia tương lai.

Hồ Chí Minh gắn bó với Mùa xuân – một sự gắn bó mật thiết từ trong tâm hồn. Không phải đợi đến kỳ chuyển giao thời tiết mà, đối với Người, mỗi năm không chỉ có một mà là những bốn mùa xuân – như một ý thơ mừng xuân.

Mùa xuân là “mùa xanh” của vạn vật, mùa của đâm chồi nảy lộc, của sinh sôi cây lá. Bức tranh thiên nhiên xanh tuyệt đẹp ấy chính là phiên bản của một “tâm hồn xanh” – tâm hồn vui tươi yêu đời lạc quan tột độ.

Không chỉ là phong cách mà chính là cốt cách. Hồ Chí Minh là người ưa sống với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Chủ tịch phủ gắn với Bách thảo như một khu rừng với cây cao bóng cả. Riêng Vườn Bác đã là một bảo tàng sống thực vật “Cõi Bác” tiên cảnh mà đời thường “Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, Có bốn mùa rau tươi tốt lá… ” (Tố Hữu). Sở thích riêng là tính cách con người hòa nhập tự nhiên theo một quan niệm triết lý.

Từ bạt ngàn xanh Chủ tịch phủ “Lộc non về như trận thắng Mùa Xuân”, Người muốn “Lộc của đời chia đến mỗi người dân” (Lộc của đời-Chế Lan Viên). Màu “xanh” chính là màu “xuân” – báu vật của thiên nhiên và đời người.

Mùa xuân là mùa hy vọng, mùa của những ước mơ.

Đông qua, xuân tới. Mỗi khi năm hết tết đến, trong thâm tâm Bác Hồ lại nổi lên lòng trắc ẩn, nỗi niềm đồng chí, đồng bào, tình yêu con người.

Năm 1948, người viết bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có câu : “Gửi mau áo rét ra tiền tuyến/ Nhờ ấm truyền tin xuân sắp sang”. Lòng người trĩu nặng tình cảm gắn liền trách nhiệm trước mùa xuân nhân sinh.

Ưu tư nhưng vẫn thanh thản, đó là cốt cách của bậc đại nhân. Nguyên tiêu viết trong kháng chiến thể hiện rất rõ một tâm hồn tuyệt đẹp qua một bài thơ tuyệt bích/Rằm xuân lồng lộng trăng soi/Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Từ lâu lý tưởng cao đẹp nhất của Người là đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân loại. Lý tưởng ấy chính là mùa xuân của loài người. Đấu tranh cho một mùa xuân vĩnh viễn là tất cả tâm can, ý chí và ước vọng của người.

Mừng xuân, xuân cả thế gian.

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía.

Trong mùa xuân của thơ Bác không có những cảnh tượng thiên nhiên rực rỡ mặc dầu nhà thơ Hồ Chí Minh thừa sức mô tả.

Có hoa nhưng nổi lên là “hoa lao động” : “Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong”, nhất là “hoa chiến đấu” : “Tin vui thắng trận nở như hoa”. Trong kháng chiến phải là những bó “hoa lửa” chiến công. Nhưng năm cuối đời, với tâm trạng “Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa” (Bác ơi – Tố Hữu), tâm hồn lãnh tụ chói ngời hy vọng, niềm tin sắt đá chiến thắng. Bài thơ lớn của Bác vang lên âm thanh của chiến trận. Tin vui lớn là tin vui thắng trận : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà”

Lời mừng xuân cũng là lời chúc thắng lợi : “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta” (Mừng xuân – 1968).

Như để đáp lại tấm lòng mong mỏi của Bác Hồ qua thơ Mừng xuân 1969, nhà thơ Tố Hữu diễn đạt ý thơ của Người qua vần thơ Xuân 69 : “Tưng bừng năm 68 chuyển nhanh/ Như một chuyến tốc hành chở đầy hoa chiến thắng/ Hoa Việt Nam – Hoa bốn mùa mưa nắng” Tứ thơ gói gọn ý Bác, lòng Dân.

***

Nghe thơ chúc mừng đầu năm của Bác, lòng người phấn khích tưng bừng nở hoa cùng với đất trời vào xuân :

Xuân về xin có một bài ca

Đúng, đó là một bài ca, bài ca chiến thắng, bài ca hy vọng.

Nhưng hơn thế, đó còn là một lời “kêu gọi” vang lên giọng đanh chắc như một mệnh lệnh thép có sức chấn động lương tâm, ý thức con người, như lời truyền hịch hào hùng.

Qua thơ mừng xuân của Người, người dân đọc được bản tổng kết “thắng lợi vẻ vang” và hướng tới nhiệm vụ thời sự, đường hướng chiến lược mới “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy” (Mừng xuân 1969) .Lịch sử đã diễn ra đúng như dự cảm, tiên đoán của lãnh tụ thiên tài.

Nhưng lẽ trời là thế “Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân (Tự miễn, Nhật ký trong tù). Lẽ đời cũng vậy. Với Người, vượt lên bức xúc, phiền hà, gian khó, hiểm nguy là lòng yêu đời lạc quan tin tưởng.

Dự cảm tương lai của Hồ Chí Minh là cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhạy. Thăm bạn, trên đường về, chợt thấy cây mai núi mà lòng Người đã xốn xang (Tầm hữu vị ngộ).

Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân

Rất nhạy cảm với tín hiệu, nhiều khi còn ở dạng ẩn hiện, thấp thoáng, mơ hồ. Với thiên nhiên là vậy, với công cuộc đấu tranh lại càng như vậy!

Mừng thấy miền Nam, luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân
(Vô đề – 1963)

Với Hồ Chí Minh, trong đời Người, mùa xuân như bao trùm hết – trong bốn mùa, trên cả bốn mùa. Ấy là mùa xuân trong tâm tưởng – mùa xuân tâm hồn.

Bình sinh, Người mong ước một Đất nước xanh tức một Đất đẹp, tràn đầy sức sống. Như câu thơ tươi trẻ: “Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho Đất nước mỗi ngày một xuân”.

Trước lúc ra đi mãi mãi, Người còn để lại thông điệp lạc quan. Đời người là liên tục những mùa xuân như tinh thần Di chúc : “Khi người ta đã ngoài 70 xuân”.

Đặc biệt Người rất coi trọng tuổi thanh xuân .Trong mấy lời Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, Người nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Qua cuộc đời anh hùng của Người, qua thơ của bậc danh nhân văn hóa thế giới, có thể thâu tóm một nhận định như chân lý nhân sinh và nghệ thuật.

Hồ Chí Minh -một con người sống đầy xuân sắc
Hồ Chí Minh- một cuộc đời sáng mãi mùa xuân
Hồ Chí Minh -một tâm hồn xuân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tất niên Nhâm Thìn, nghênh xuân Quý Tỵ
Đoàn Trọng Huy(*)

CHÚ THÍCH:

1.Tất cả thơ văn trích dẫn đều lấy từ Hồ Chí Minh -Thơ – toàn tập, Danh ngôn Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000; Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2011.

2.Tất cả thơ Tố Hữu lấy từ Tố Hữu toàn tập – Thơ ca Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, 2008.

* Tác giả Đoàn Trọng Huy nguyên là nhà giáo, đã từng dạy học ở Tây Bắc từ năm 1953-1958, chuyên gia giáo dục ở Angola, hiện đã về hưu và sống tại thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Theo Nguoibanduong.net

nguoixunghekiev.vn

Bác Hồ khai bút đầu xuân

Bác Hồ chúc TếtNgoài những thư và thơ chúc tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đầu xuân Bác Hồ thường khai bút bằng những bài báo với nhiều bút danh khác nhau, khi thì C.B, T. Lan hoặc Trần Lực (T.L). Thường mỗi tết, Bác viết từ một đến hai bài báo. Đặc biệt tết năm 1960, Bác viết tới 4 bài báo. Chủ đề Bác viết rất phong phú, bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Có bài Bác viết tố cáo kẻ thù xâm lược bị nhân dân lên án như “Mỹ không mừng xuân” (T.L 1961).

Khi phê phán tệ nạn lãng phí xa hoa, lấy tiền công quỹ để chè chén lu bù, trong ngày lễ, ngày tết – Bác viết bài: “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” (T.L 1960). Bác lên án những kẻ “đục khoét” của dân là những kẻ bất nhân, có tội với dân. Đồng thời, Bác khen ngợi cán bộ của hai HTX vì dân đã không những không chè chén mà còn biết động viên dân ăn tết tiết kiệm, lấy tiền dự định liên hoan đầu tư vào sản xuất và trích thưởng nếu tăng năng suất. Bác kết luận, như vậy cán bộ ở đó biết nâng cao đời sống cho dân và làm cho dân yêu quý HTX, tin tưởng ở cán bộ hơn. Bác nhắc nhở tiết kiệm là quốc sách, làm giàu đất nước, tạo cho con người nếp sống văn minh lành mạnh, làm việc vì mọi người, khi ăn uống biết nghĩ đến người nghèo. Trong bài viết khai bút đầu xuân, Bác đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, giữ mãi trong chúng ta hình ảnh đẹp đẽ đầu xuân Bác đi trồng cây. Trong di sản những bài báo ký nhiều bút danh, có nhiều bài cổ vũ Tết trồng cây. Bác nêu gương những người trồng cây giỏi, như cụ Vũ Văn Lân ở Hưng Yên tuy đã 104 tuổi, tự mình trồng và chăm bón cây tốt. Anh Cao Xuân Nhĩ ở Vĩnh Phúc, tuy kém cả hai mắt nhưng vẫn trồng được 6.000 cây. Bác khen những địa phương có phong trào trồng cây tốt như Lạc Trung, Ngọc Long (Vĩnh Phúc), Vĩnh Thành (Nghệ An), Nà Vó (Hòa Bình), Vinh Quang (Phú Thọ), Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh)…

Bác khen Đoàn thanh niên thực sự là đội quân chủ lực của phong trào trồng cây. Riêng năm 1963, Đoàn thanh niên đã trồng được hàng triệu cây. Thanh niên tỉnh Hải Dương đã biến 1.500ha đồi trọc thành rừng cây. Bác khích lệ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây” để có gỗ làm nhà, có củi đun, có bóng mát, góp phần cho bầu không khí trong lành. Trồng cây có lợi cho xuất khẩu, cho công nghiệp như cây keo lá tràm, cây trẩu, quế, hồi… Trồng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió. Trồng cây cho quả ăn, tăng thu nhập kinh tế gia đình như cam, quýt, mận, mơ, nhãn, vải… mang lại lợi ích gần gũi với người dân. Đặc biệt, Bác động viên không những đồng bào miền xuôi trồng cây mà đồng bào miền ngược cũng phải tích cực trồng cây, phủ xanh đồi núi trọc, có rừng cây xanh giữ nước tránh lụt, giữ đất tránh khỏi bạc màu. Bác kết luận, lợi ích trồng cây là cho hôm nay và cho cả mai sau. Bác mong muốn thiết tha là phong trào trồng cây phải được giữ gìn, phát huy mãi mãi, vì nó luôn gắn với sự tồn vong và phồn vinh của đất nước.

Có bài khai bút đầu xuân, Bác nhắn nhủ vui xuân mới không quên xuân cũ, những cái tết thiếu thốn, gian khổ, ác liệt đã qua. Bác nhắc nhở mỗi một chúng ta, ăn tết sung sướng hôm nay là nhờ những ngày gian khổ hôm qua, không được quên đi quá khứ, không được quên đi lịch sử. Bác nhắc nhở không được quên nhân dân lao động vì cách mạng mà nay vẫn còn thiếu thốn, nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống của người cách mạng.

QUỲNH LINH
baophuyen.com.vn

Bác Hồ và mùa xuân năm ấy

Việt Nam - Hồ Chí MinhTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có 30 mùa xuân bôn ba đáng ghi nhớ.

Những cái Tết đạm bạc trên đất khách quê người nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ, cũng có khi lại là những tháng ngày buồn tẻ trong ngục tối với cuốn sách thơ mà ngậm ngùi nhớ về đồng bào đang lầm than. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước, nhớ quê hương da diết cùng với bao dự định lớn lao. Dấu mốc lớn nhất phải kể đến mùa xuân năm 1930 của Bác và cũng là mùa xuân lịch sử của Cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long, Trung Quốc thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ở tại phòng và xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

83 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn, đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong suốt  83 năm, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới Quý Ty 2013, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Vị cha già dân tộc, nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “Một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”./.

ttttninhbinh.gov.vn

Bác Hồ với mùa xuân kháng chiến đầu tiên xuân Đinh Hợi 1947

Bác Hồ chúc TếtĐêm 13 tháng 1 năm 1947, tức là ngày 23 tháng chạp, đúng ngày ông Táo lên chầu trời, Bác Hồ bí mật lặng lẽ rời xã Xuyên Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), chuyển đến xã Cầu Kiệm, huyện Quốc Oai tỉnh Sơn Tây,tiếp tục chặng đường trường kỳ kháng chiến.

Trên đường đi, ngồi trong xe, Bác trầm ngâm suy nghĩ, Bác đang nghĩ nhiều đến những người con yêu dấu của dân tộc đang chiến đấu giữa vòng vây của thực dân Pháp trong lòng Hà Nội. Quá nửa đêm, Bác mới đến địa điểm mới. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh bố trí Bác ở trong một ngôi nhà mới làm xong, nhưng nền đất chưa nện kỹ, các bức vách chưa được trát bùn. Bác ở trong một gian buồng nhỏ cuối nhà đã đặt sẵn một chiếc giường tre lót ổ rơm. Cạnh giường là một cái bàn nhỏ, một chiếc ghế để ngồi làm việc. Đây là ngôi nhà ông Nguyễn Đinh Khuê làm cho người con thứ, nhưng chưa đến ở. Thường ngày, Bác ngồi trên giường vai khoác chiếc áo ba – đờ – xuy cũ, đọc sách báo hoặc viết.

Tối 16 tháng 1 năm1947, tức ngày 26 tháng chạp, Bác chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ ở Chương Mỹ. Trong cuộc họp Bác căn dặn: trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được để các

em đói ăn, thiếu mặc, các cụ già phải khổ sở vì chiến tranh, đặc biệt là trong dịp Tết sắp tới. Khi nhắc đến vấn đề này, cặp mắt Bác rưng rưng như muốn khóc. Tất cả các thành viên Hội đồng chính phủ đều im lặng xúc động.

Tối ngày 21 tháng 1 năm 1947, tức ngày 30 tết, Hội đồng Chính phủ họp phiên tất niên tại phủ Quốc Oai. Ngoài các thành viên Chính phủ đều có mặt đầy đủ, còn có cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban và linh mục Phạm Bá Trực, Ủy viên Ban thường trực Quốc hội khóa I. Có mặt đêm nay ở đây là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc ngay trong những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến. Có người trước đây là thượng thư của triều đình cũ, có người là đức giám mục, có người là tri thức, có người là đảng viên Đảng Cộng sản, có người là Việt minh, có người tóc đã điểm bạc, có người đang lứa tuổi thanh niên… Đây là hình ảnh thu nhỏ của Hội nghị Diên Hồng đời Trần năm xưa. Tất cả đều cùng chung một ý chí: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” theo lời kêu gọi khẩn thiết của Bác Hồ.

Cuộc họp tất niên của Hội đồng Chính phủ được các đồng chí Hoàng HữuNam, Nguyễn Văn Lưu lo chạy được một tí mứt kẹo, thuốc lá và mấy chiếc bánh chưng. Mọi người nhất trí bánh chưng thì để chờ Bác, còn mứt kẹo, thuốc lá thì đem ra dùng trước.

21 giờ, Bác đột ngột bước vào phòng họp. Bác đội mũ cát, cổ quấn khăn che kín bộ râu, chân lấm bùn lên tận đầu gối. Bác bắt tay tất cả mọi người, đặc biệt Bác xiết chặt tay hồi lâu cụ Bùi Bằng Đoàn và linh mục Phạm Bá Trực, và nói: “Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi”. Rồi Bác kể chuyện xe bị sa lầy dọc đường. Xe sa bánh ba lần xuống ruộng, phải vận động nhân dân địa phương ra khiêng lên, rồi đẩy cho xe nổ máy. Bác nói vui: “chỉ một việc xe đi thôi, không có nhân dân thì Chủ tịch nước cũng đành chịu. Huống hồ chi việc kháng chiến kiến quốc, một công việc to lớn vĩ đại, nhất định phải dựa vào khối đại đoàn kết toàn dân mới thành công”. Bác chủ trì cuộc họp tất niên của Hội đồng chính phủ. Kết thúc cuộc họp, Bác đọc cho Hội đồng Chính phủ nghe trước bài thơ “ Chúc năm mới” Đinh Hợi mà lát nữa Bác sẽ đọc tại Đài Tiếng nói ViệtNam đặt ở chùa Trầm.

22 giờ 30 phút, Bác lên xe ra đi trong mưa phùn gió rét.Tất cả các thành viên Hội đồng Chính phủ đều tiễn Bác ra cửa. Riêng đồng chí Võ Nguyên Giáp tiễn Bác ra tận xe. Khi ngồi trong xe, Bác gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến gần,và dặn: “Tối mai, bảo Nhân (đồng chí Trường Chinh) cùng chú đến chỗ Bác nhé!”.

Do đường lầy lội khó đi, gần 12 giờ đêm, Bác mới tới chùa Trầm. Đài tiếng nói Việt Nam đặt trong hang núi đá, điện sáng trưng, máy chuyển ầm ầm. Bác vào buồng thu, đọc trước máy: Chúc năm mới:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Bài thơ như một lời hiệu triệu vang dậy non sông, như một hồi kèn thúc giục quân và dân cả nước xông lên giết giặc lập công…. Trong 24 năm ở cương vị chủ tịch nước, tết năm nào Bác cũng có thơ “Chúc năm mới” gửi đến đồng bào và chiến sĩ cả nước. Nhưng có lẽ bài thơ “Chúc năm mới” Đinh Hợi là một trong những bài thơ hay nhất.

Sau đó, Bác nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân viên Đài Tiếng nói ViệtNam.

Bác sắp ra về thì sư cụ chùa Trầm xin yết kiến. Chú tiểu thành kính đội mâm bánh chưng đặt lên bàn. Sư cụ thưa với Bác: “Đây là lòng thành của nhà chùa kính dâng, mong cụ Chủ tịch thu nhận cho”.

Bác cám ơn sư cụ, và chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công!

Gần một giờ đêm, trời vẫn mưa to. Bác ra về, cách nhà khoảng hai cây số thì xe tụt cả hai bánh trước xuống ruộng. Giờ này, chẳng còn nhờ được ai khênh xe. Thế là Bác và những người tùy tùng phải lội bùn đi bộ, khi về đến nhà đã gần bốn giờ sáng. Đồng chí lái xe phải ngủ lại trên xe giữa cánh đồng.

Tối ngày 22 tháng 1 năm 1947, tức tối Mồng một Tết, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đến chúc mừng năm mới Bác. Lúc này, Bác đang ngồi trên giường, vai khoác chăn, và đang viết bên ngọn đèn dầu. Đồng chí Võ Nguyên Giáp rút trong cặp ra một gói mứt, một gói chè do phu nhân đồng chí gửi, và năm bao thuốc lá ngon mà đồng chí Trần Quốc Hoàn ở trong Liên khu I ra gửi biếu Bác.

Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đưa bánh chưng ra đãi hai đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp. Cùng dự có đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí Trường Chinh báo cáo với Bác về công tác xây dựng đảngở Nam Bộ, một vấn đề mà lâu nay Bác rất quan tâm. Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bác tình hình khả quan về kháng chiến và kiến quốc ở Liên khu V. Những người có mặt hôm ấy ngồi vây quanh bếp lửa nghe Bác nói về tình hình thế giới, tình hình nước Pháp, triển vọng của phong trào đòi độc lập của các dân tộc thuộc địa.

Một giờ sáng, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp xin phép Bác ra về.

Ngày 27-1- 1947, tức mồng sáu Tết, Bác còn viết thư đầy xúc động gửi đến các chiến sĩ cảm tử quân thủ đô. Cuối thư, Bác viết:” Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng  toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em…”

CHÍNH LUẬN (tổng hợp)
xaydungdang.org.vn

Bác Hồ và người gánh nước đêm giao thừa

“Một Đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…” – điều Bác Hồ nói vào mùa Xuân cách đây 45 năm đến nay còn thấm thía.

Chuyện suy tư đêm 30

Bác Hồ chúc TếtTrước thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ của 45 năm về trước, khi nhà nhà sum họp, quây tụ, Bác “vi hành”.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên là cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Đúng 11 giờ đêm giao thừa, bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn chòng cổ, tìm đến nhà “một gia đình nghèo nhất Hà Nội” như người cận vệ của bác báo về. Đó là nhà chị Nguyễn Thị Tín, góa chồng, ngoài 40 tuổi, đêm trừ tịch vẫn phải đi gánh nước thuê nuôi các con.

Đến nay, sau gần nửa thế kỷ, liệu đất nước chúng ta đã hết những cảnh nghèo khổ, cơ cực như chị Tín?

Tết năm ấy Bác Hồ buồn. Trước những người hàng phố quanh nhà cô Tín ở, Bác đã hỏi: “Tại sao cả một khu phố như vậy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín? Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay thủ đô nước mình”.

Nếu bây giờ Bác Hồ hoặc bất kỳ ai hay tin về những vụ bạo hành trong các khu dân cư âm ỉ hàng chục năm – biểu hiện của sự thờ ơ, vô cảm – chắc chắn là Bác sẽ buồn biết bao nhiêu? Mong rằng, mỗi lần nhớ đến Bác với những câu chuyện như thế này, bệnh quan liêu sẽ được thuyên giảm. Nên chăng, cuối năm, chúng ta nên lắng lại để nhìn lại mình và nhớ tới những người sống quanh mình, để trái tim cởi mở hơn, ấm áp hơn.

Lúc ấy, Người đã nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” mà chúng ta vẫn luôn cho rằng đó là truyền thống quý báu của mình. Trước hết là trách nhiệm của khu phố, và như Bác nói “điều lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ”.  Ngày ấy Bác Hồ đã đích thân nhờ cảnh vệ đi tìm một gia đình nghèo thực sự để chúc Tết, vì thế, sau nhiều ngày, người thân cận bên Bác mới có thể tìm đến đúng nhà cô Tín. Và như Bác nói là “đu đúng người thật, việc thật”.

Bác còn nói một chữ “nếu”: “Nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải nhà cô Tín rồi…”.

Điều ấy khiến ta giật mình vì đến nay những chuyện viếng thăm đầy tính hình thức, thiếu tính thực tâm đâu đã mất đi?

Gương soi mỗi độ Xuân về

Giở những trang báo Xuân, năm nào cũng vậy, luôn gặp những câu chuyện về Bác. Đó là điều rất đỗi tự nhiên và dễ hiểu, không cần phải đợi đến những đợt vận động hay thi đua nào để thấm thía những lời nói và hành động vì nước, vì dân của Người. Bản thân những câu chuyện thật, việc thật – dù chỉ bình dị thôi – nhưng luôn có sức lan truyền.

Câu chuyện này gieo cho chúng ta một mong ước trước thềm Xuân rằng: Mỗi “người trong một nước” rung động với nhau nhiều hơn, Chính phủ và các cấp chính quyền đến gần dân hơn – để không còn những cảnh nghèo như gia đình chị Nguyễn Thị Tín – thì nước mới mạnh.

Tổng hợp: Văn Hòa
thanhdoanquynhon.org

Bác Hồ với mùa xuân Tây Nguyên

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vui mừng đón xuân Quý Tỵ năm 2013 cùng lúc với sự kiện khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên quảng trường Đại Đoàn Kết tại thành phố Pleiku – tỉnh Gia Lai. Đây là một công trình lịch sử – văn hoá mang tính thời đại và đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Gia Lai cũng như đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Ngày 19 tháng 4 năm 1946 – cách đây 67 năm – tại Pleiku, tỉnh Gia Lai đã tổ chức Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam với hơn 1000 người tham dự. Tại Đại hội này, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất vinh dự và tự hào đón nhận bức thư đầy tâm huyết của Bác Hồ gửi đến. Trong thư, Bác Hồ viết: “Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ. Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không đến dự Đại hội được. Tôi tuy xa nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ê đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là anh em ruột thịt… Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự do độc lập của chúng ta”.

Thấu hiểu nguyện vọng, tình cảm của Bác đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và tấm lòng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên đối với Bác; năm 2008, Bộ Chính trị TW Đảng đã đồng ý cho xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2010, Ban Bí thư đã chọn duyệt được mẫu tượng Bác Hồ cùng bức phù điêu khá hoành tráng về các dân tộc Tây Nguyên. Sau hai năm xây dựng, ngày 11 tháng 12 năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Gia Lai, lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được tổ chức trọng thể với sự hiện diện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Các bộ ban ngành TW … các đồng chí lãnh đạo tỉnh Gia Lai cùng đông đảo đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai và các tỉnh bạn

Trích đoạn phù điêu tượng đài

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên với một quần thể các kiến trúc, biểu tượng có diện tích 12,5ha. Có thể coi đây là một trung tâm tâm linh, lịch sử, văn hoá, mỹ thuật, kiến trúc và một không gian xanh.

Tượng đài Bác Hồ – sáng tác của nhà điêu khắc Nguyễn Bá Đua, được thể hiện bằng chất liệu đồng tấm, dày 5 ly, có chiều cao 10,8m và trọng lượng 16 tấn. Bức tượng được thực hiện bằng phương thức ép khuôn thuỷ lực từ những lá đồng nguyên chất và hàn lại với nhau theo một quy trình với chất lượng cao, đảm bảo việc chuyển đổi chất liệu đúng nguyên mẫu tượng. Đây là lần đầu tiên tượng đài bằng đồng ở Việt Nam được thực hiện với kỹ thuật ép khuôn hiện đại này với sự tham gia của các nhà khoa học chuyên ngành. Tượng được đặt trên bệ cao 4,5m, lõi là bê tông cốt thép nhưng phủ ngoài được thực hiện bằng đá tảng có tạo hình khối như những ngọn núi của Tây Nguyên. Phía trước bệ tượng có dòng chữ nổi bằng đồng “Chủ tịch Hồ Chí Minh (1891-1969)” cùng một bông hoa sen cách điệu. Phía dưới là tảng đá để đặt các lẵng hoa và hoa kính viếng Bác. Phía sau tượng Bác là bức phù điêu đá có hình cánh cung – sáng tác của nhà điêu khắc Lê Lạng Lương – có chiều dài 58m và chiều cao nhất là 11m, tổng diện tích 600m2 được làm từ đá tự nhiên của Thanh Hoá với khối lượng trên 1000 tấn. Bức phù điêu này được đặt trên bệ cao 1,5m. Nhìn vào tổng thể phù điêu, ta thấy có hình hoa sen cách điệu, nhấp nhô như núi rừng Tây Nguyên, mặt trời và nhà rông. Nội dung phù điêu được chia làm ba phần: Phần chính diện ở giữa thể hiện những hoạt động văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Phía bên phải có nội dung “Tây Nguyên chiến đấu”. Phía bên trái có nội dung “Tây Nguyên sản xuất”. Phía sau tượng đài Bác Hồ và phù điêu là một ngọn núi nhân tạo có hình dáng mô phỏng núi Hàm Rồng – ngọn núi linh thiêng cao nhất ở cao nguyên Pleiku được trồng cây cỏ, trong tương tai, ngọn núi này sẽ trở thành một rừng cây phía sau tượng đài và phù điêu. Điều đặc biệt của công trình này là không có các lễ đài được xây sẵn. Các nhà thiết kế đã dành khu vực sân đặt tượng đài và phù điêu có diện tích hơn 1000m2 để làm sân biểu diễn nghệ thuật với các bậc có độ rộng 2m ở phía trước để đến ngày lễ khi đặt bàn và ghế sẽ có một lễ đài hoành tráng.

Phía cánh phải và trái của bức phù điêu các dân tộc Tây Nguyên là hai dàn cồng chiêng gồm các chiêng bằng và chiêng núm (biểu tượng của không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại). Phía trước tượng đài Bác Hồ ở hai bên là đài phun nước. Cách con đường lớn là Quảng trường “Đại đoàn kết” có diện tích 23.823m2 với 205 ô cỏ cùng các đường đi lát đá granit được khai thác và chế tạo ở các nhà máy đá trong tỉnh. Trước nữa là cột cờ cao 25m với lá Quốc kỳ 40m2. Bên trái quảng trường là Thạch thư Bác Hồ bằng khối đá hoa cương cao 6m, rộng 3,5m và dày 2,5m. Mặt trước khắc thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku ngày 19 tháng 4 năm 1946. Phía bên phải quảng trường là Biểu tượng Đại đoàn kết được tạo hình như một tháp đá ba tầng, cao 12m với 54 trụ đá ba gian tự nhiên – loại đá đĩa ta thấy ở Phú Yên nhưng được khai thác ở một mỏ đá ở tỉnh Gia Lai. Hồ sen Bách tán Hà Nội được chọn giống cùng với bùn Hồ Tây được đưa vào để đảm bảo cho sen được phát triển và có vẻ đẹp như sen Hồ Tây (hồ sen này để gợi nhớ đến Thủ đô yêu quý của cả nước). Phía sau, bên phải của tượng đài là quần thể các bảo tàng, bao gồm Bảo tàng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên chi nhánh Gia Lai – Kon Tum, Bảo tàng Gia Lai, Bảo tàng Cổ vật Gia Lai, tượng Anh hùng Núp. Bao quanh quảng trường và tượng đài là một vườn Bách thảo với hàng trăm loại cây cỏ của Tây Nguyên và nhiều vùng miền trên đất nước. Nhiều cây thông cổ thụ, cùng với nhiều cây khác được trồng trước đây được giữ gìn nguyên trạng cùng với các loại cây cổ thụ từ các huyện chuyển về trồng và các loại cây khác được trồng mới, đã tạo nên một không gian xanh cho quảng trường, tạo bóng mát cho du khách và cũng là nơi giúp du khách có thêm cơ hội để tìm hiểu về các loại thực vật đặc hữu của đất nước. Ngoài ra các nhà thiết kế quy hoạch còn dành nhiều không gian rộng để có thể tổ chức các hoạt động lễ hội, hội chợ, thể thao, cắm trại,… Đặc biệt, không gian quảng trường không đặt các ghế ngồi như ở các quảng trường khác mà kết hợp thiết kế bệ bao quanh các bồn hoa, hồ sen, cây và những khối đá ba zan được cắt ngắn, xếp đặt tạo thành hàng ngàn chỗ ngồi khắp quảng trường. Cùng với đó là những ki-ốt thấp thoáng trong các vườn cây làm chỗ bán hàng lưu niệm, giải khát phục vụ du khách tham quan.

Có thể nói, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên và Quảng trường Đại đoàn kết là một quần thể kiến trúc có bố cục tốt, được các nghệ sĩ tạo hình, kiến trúc sư sáng tạo hoàn chỉnh và được các công ty tổ chức thực hiện với tinh thần trách nhiệm và chất lượng cao. Để có công trình hoàn chỉnh cho đến ngày khai mạc, (được nhân dân Gia Lai đánh giá là “niềm tự hào của người Gia Lai”) chúng tôi đánh giá cao sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân và các Sở ban ngành của tỉnh Gia Lai và đặc biệt là đồng chí Phạm Thế Dũng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật đã biết tập hợp và trân trọng các ý kiến đóng góp của Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, của các nhà điêu khắc, kiến trúc thuộc hai Hội; không nệ vào bản vẽ đã được phê duyệt, lấy không gian thực để điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án. Qua đó đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, không ngại một số thay đổi chi tiết phát sinh mới nhưng vẫn đảm bảo tiến độ, kỹ thuật, mỹ thuật với chất lượng cao nhất. Công ty này thuộc về công ty TNHH một thành viên Bảo tồn Di sản Văn hoá trực thuộc Hội Di sản Văn hoá Việt Nam do ông Nguyễn Văn Mạc – giám đốc công ty trực tiếp chỉ đạo. Có thành công như hôm nay, còn có sự đóng góp to lớn của lãnh đạo Sở Văn hoá, Sở Xây dựng và các Sở ban ngành, các cán bộ được tỉnh giao theo dõi và thực hiện dự án.

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên thực sự là một công trình nghệ thuật kiến trúc có chất lượng nghệ thuật cao, là một bài học cho việc tổ chức xây dựng các tượng đài sau này ở Việt Nam.

Mùa xuân này, Bác Hồ đến với các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Cây ở quảng trường xanh lá, nở hoa. Lòng người Tây Nguyên rạo rực trong niềm vui Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Bác Hồ với một công trình văn hoá có ý nghĩa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tây Nguyên… và là niềm vui chung của những người đã tham gia xây dựng công trình và là niềm tự hào của tất cả chúng ta.

Trần Khánh Chương
vietnamfineart.com.vn

Mùa Xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Pác Bó

(PL&XH) – Sau 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941 (mùng 2 Tết Nguyên đán năm Tân Tỵ), Bác Hồ qua cột mốc 108 biên giới Việt – Trung về Việt Nam. Nơi đây thuộc dãy núi cao được Bác đặt tên là núi Các Mác.

Dưới chân núi có hồ nước lớn trong xanh, nơi bắt đầu dòng suối chảy uốn quanh đổ xuống đồng bằng của bản Khuổi Nậm, Bác đặt tên là suối Lê-nin. Cột mốc 108 nằm trên núi cao cách chân núi chừng nghìn mét thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngay trong tiết xuân ấm áp của ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã có cảm hứng với cảnh vật nơi này nên làm bài thơ đầu tiên tựa đề “Pác Bó hùng vĩ”:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Ở lưng chừng núi gần cột mốc 108 là hang Pác Bó, nơi Bác chọn làm chỗ ở  ngay sau khi trở về nước. Dưới chân núi có chiếc bàn đá làm việc của Bác nằm bên cạnh đầu nguồn của suối Lê-nin. Chiếc bàn đá và cửa hang trên sườn núi nhìn xuống hồ nước trong xanh, thấy cá lội và bóng cây rừng, núi đá.

Sự kiện Bác Hồ trở về nước vào đầu năm 1941 là sự kiện lớn của lịch sử đấu tranh cách mạng của đất nước và dân tộc Việt Nam, đã làm thay đổi tình hình cách mạng trong nước. Đây là mốc lịch sử quan trọng dẫn tới cuộc cách mạng tháng Tám 1945 và ngày 2-9-1945, Bác đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa .

Bác Hồ về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng – 1961)

Theo biên niên sử Hồ Chí Minh, từ ngày 11-11-1924, Bác Hồ từ Mát-xcơ-va (Nga) về tới Quảng Châu (Trung Quốc) lần đầu. Khoảng thời gian 1925-1927, Người mở lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước từ trong nước tới đây với giáo trình là sách “Đường kách mệnh” và thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam). Do Sở Mật thám Anh truy lùng, Bác phải trở lại Nga. Ngày 25-4-1928, Người được Quốc tế cộng sản cử trở về Đông Dương theo nguyện vọng. Người tới Thái Lan ở một thời gian rồi về lại Hồng Kông (Trung Quốc) tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1930.

Năm 1931, Người trở lại Mát-xcơ-va và năm 1938 về lại Quảng Châu. Trong năm 1939, Người di chuyển tới các thành phố Quế Lâm, Liễu Châu, Nam Ninh, Long Châu, Quý Dương, Côn Minh nằm dọc theo cuộc trường chinh vĩ đại của Đảng và đoàn quân giải phóng Trung Quốc từ Nam lên Bắc.

Đầu năm 1940, Bác Hồ gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp ở Côn Minh từ Việt Nam sang. Sau ngày 20-6-1940, được tin Paris (Thủ đô Pháp) bị quân Đức chiếm, Bác  triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng, phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Đầu tháng 1-1940, tại Tĩnh Tây (tỉnh Quảng Tây) cách biên giới Trung Quốc – Việt Nam 50km, Bác cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị gần một tháng rồi cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc lên đường về nước.

Lớp huấn luyện cấp tốc này dành cho những cán bộ cách mạng và người yêu nước từ trong nước sang để chuẩn bị cơ sở “nhân hòa” cho “thời cơ” và “địa lợi” cách mạng mới. Đây là thời kỳ sau ngày khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, vừa là thời cơ, đồng thời là thách thức vì cuộc nổi dậy của nhân dân đã có sự lãnh đạo của Đảng.

Lúc ấy, Bác còn nói: “Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng, ta phải nghĩ đến việc lập một Mặt trận rộng rãi, có hình thức và tên gọi cho thật thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Hay Việt Nam độc lập đồng minh? Theo ý Bác, nên lấy tên Việt Nam độc lập đồng minh”.  Ý kiến đó của Bác được đem ra thảo luận trong Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 8 của Đảng ngày 19-5-1941 và tên chính thức của Mặt trận được gọi tắt là Việt Minh.

Đối với Bác, đó là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời làm cách mạng của mình. Sau đó, Bác đi tìm một chỗ ở kín đáo hơn. Đó chính là hang Pác Bó (Cốc Bó) nằm ở lưng chừng sườn núi Các Mác. Hôm Bác rời về ở trong hang là 8-2-1941, tức đúng 12 ngày sau ngày về nước.

Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động:

“Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất.
Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”.

Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước. Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui:

“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt.
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về… im lặng. Con chim hót.
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”.

                                (Theo chân Bác của Tố Hữu)

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước ta.

Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối. Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển.  Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong thời kì cách mạng mới, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Phong Anh (Biên soạn)
phapluatxahoi.vn