Tag Archive | Hồ Chí Minh

Bác Hồ với tết cổ truyền của dân tộc

         Đầu năm 1946, trong thư gửi Tuổi trẻ Việt Nam Bác viết “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm và người Việt Nam có quan niệm trong những ngày đầu năm mới, mùa mà vạn vật khoe sắc hương, thiên nhiên tươi đẹp, những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với mọi người. Từ ngày đất nước được độc lập, vào những ngày tết cổ truyền của dân tộc Bác luôn dành trọn những ngày nghỉ của mình đến thăm từng nhà, coi nhân dân ta chuẩn bị tết cổ truyền như thế nào, qua đó sẽ biết nhân dân ta có được hưởng cuộc sống ấm no, vui tươi chưa? Dù bận trăm công nghìn việc nhưng không bao giờ Bác quên đi thăm đồng bào, chiến sĩ.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

          Xuân Bính Tuất năm 1946, trong cuộc vi hành đêm 30 tết của mùa xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình của một người đạp xích lô “Tết mà không có tết”, ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn còn chủ nhà đang nằm đắp chiếu mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ đi ra và dặn đồng chí thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi và nhắc đồng chí thư kí ghi lại để báo cho đồng chí Chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội biết.

          Kể từ mùa xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm chủ tịch nước, mỗi khi tết đến xuân về Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước tết ba tháng Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc Văn phòng chuẩn bị thiệp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở những vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài; và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác do Văn phòng chuẩn bị cũng có khi là một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

          Tết năm 1962 nếu chỉ đi thăm các gia đình theo chương trình của Văn phòng bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Nguyễn Thị Tín – một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ, Hà Nội vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai, mùng một tết có cơm cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động làm rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay Bác:

          – Cháu không ngờ Bác lại đến thăm…

          Chỉ nói được như vậy chị đã òa lên khóc nức nở.

          Vị chủ tịch nước đã an ủi chị:

          – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

          Và Bác đã vào thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một nén hương. Bốn đứa nhỏ, đứa lớn nhất đang ngồi trên chiếc giường chia nhau một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi tết mà không có tết”. Cách đây hơn 15 năm, tết độc lập đầu tiên Bác đã chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ, đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã gần chục năm mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ngay thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng no ấm, vui tươi…

          Bác đã từng tâm sự với đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

          Ngày nay, nền kinh tế của nước ta đã phát triển hơn, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã phần nào được nâng cao nhưng không có nghĩa là đã hết những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và rất cần sự chung tay giúp đỡ, chia sẻ của cả cộng đồng. Phát huy truyền thống “Tương thân tương ái”, “lá lành dùm lá rách” của dân tộc và cụ thể hơn là học tấm gương sáng ngời của Bác về lòng nhân ái, tình thương yêu con người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm lo đời sống của nhân dân. Trong những ngày lễ, tết Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo các ban ngành hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo đảm bảo kịp thời để tất cả mọi người đều được vui tết, đón xuân đầm ấm.

          Là một tỉnh vùng cao như Đăk Lăk với hơn bốn mươi dân tộc anh em cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có một nét văn hóa riêng, phong tục tập quán riêng nhưng sự đoàn kết, thương yêu, chia sẻ luôn là mục tiêu chung của các dân tộc. Học tập tấm gương của Bác, hàng năm chuẩn bị cho tết cổ truyền của dân tộc các sở ban ngành cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện để mọi người cùng được vui xuân, đón tết. Điển hình như Sở Y tế Đăk Lăk trong những ngày rộn rã đón sắc xuân, ban lãnh đạo, Công đoàn ngành cũng như các đơn vị trực thuộc không bao giờ quên việc đến thăm hỏi, chúc tết và tặng quà cho các gia đình chính sách, chiến sĩ đồn biên phòng, buôn làng kết nghĩa và các bệnh nhân phải nằm lại bệnh viện trong những ngày tết… Tết cổ truyền năm Qúy Tỵ 2013, riêng Văn phòng Sở Y tế và Công đoàn ngành Y tế tổ chức thăm hỏi, chúc tết tại buôn kết nghĩa, đồn biên phòng với gần 300 suất quà trị giá gần 70 triệu đồng. Giá trị của những món quà tuy nhỏ nhưng đã thể hiện tấm lòng chân thành của cán bộ, công nhân viên chức ngành y tế, góp phần động viên, an ủi, chia sẻ niềm vui với bà con, chiến sĩ cũng như người bệnh. Đây là một trong những hoạt động thiết thực nhằm thắt chặt hơn tình cảm của các dân tộc anh em, góp phần xây dựng Đăk Lăk ngày càng phát triển giàu mạnh./.

Bài & ảnh: Hồng Vân
(Trung tâm Truyền thông GDSK)
soytedaklak.gov.vn

Cây đào mùa Xuân

Ảnh minh họa: Internet

Chuyện được ghi lại rằng: Buổi sáng trời đẹp cuối tháng Chạp năm Bính Thân – 1956, một đoàn đại biểu chính quyền và nhân dân xã Nhật Tân (Hà Nội), trong đó có nhiều cụ phụ lão tuổi 70, 80 dẫn đầu đã đem một cây đào được đánh cả gốc đưa lên ô tô, chở lên Phủ Chủ tịch. Cây đào này đã được một cụ ở xã Nhật Tân chăm sóc trong thời gian hai năm, được các cụ bình chọn là ưng ý nhất. Cây đào có chốt thẳng, tán tròn hình mâm xôi, sai nụ, hoa to rất đẹp mắt, tràn đầy không khí mùa xuân sắp đến.

Đến nơi, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân được mời vào phòng khách Phủ Chủ tịch. Được tin, Bác Hồ đã đến ngay phòng khách, tươi cười nói chuyện với Đoàn và các cụ phụ lão. Bác hỏi chuyện ăn Tết của người dân ở địa phương. Mọi người hồ hởi

– Dạ, kính thưa Bác, năm ngoái nhân dân trong xã ăn Tết vui lắm vì Thủ đô mới được giải phóng. Trong xã tính ra đã thịt 12 con bò và lợn, gói nhiều bánh chưng để ăn Tết.

Nghe vậy Bác Hồ liền nói:

– Thịt nhiều trâu bò, thế lấy gì mà cày bừa làm ruộng.

Ngừng một lát, Bác Hồ nói tiếp:

– Ăn Tết là rất phấn khởi vui mừng nhưng mọi nhà cần chú ý tiết kiệm, vì đất nước ta còn nghèo vì vừa phải trải qua nhiều năm chiến tranh và từ nay đất nước sẽ còn phải tiết kiệm để làm được nhiều việc lớn. Chính quyền cần thường xuyên vận động nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất để nhân dân ngày càng no ấm hơn.

Đoàn đại biểu xã Nhật Tân ngỏ ý, từ nay mỗi độ Xuân về sẽ mang cây đào kính tặng Bác để Bác vui Xuân, đón Tết, góp phần to đẹp thêm cảnh sắc Phủ Chủ tịch.

Ngắm nhìn khá lâu cây đào rất đẹp, được chăm sóc 2-3 năm, Bác nói:

– Bác xin cảm ơn các cụ và các đồng chí đã đem tặng Bác cây đào đẹp thế này. Nhưng sang năm, các cụ và các cháu thôi không phải đem cây đào lên tặng Bác nữa. Các đồng chí trong cơ quan và Bác sẽ trồng cây đào này và nhân nó ra để năm nào cũng có hoa đào Nhật Tân đón Xuân vui Tết. Cây đào này sẽ làm cho Bác vui hơn và khoẻ hơn năm cũ.

Trên đường trở về nhà, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân rất vui và cũng thấm sâu những lời căn dặn ân tình của Bác Hồ – một vị Chủ tịch nước nhất nhất nói gì, làm gì cũng ân cần nhắc nhở mọi người luôn luôn cần cù, tiết kiệm để xây dựng xóm thôn, xây dựng đất nước

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Xuân Tân Tỵ 72 năm trước Bác Hồ về nước

Được Quốc tế Cộng sản đồng ý, mùa Thu năm Mậu Dần (1938), Nguyễn Ái Quốc từ Viện Nghiên cứu các vấn đề Dân tộc và thuộc địa (Liên Xô) lên đường trở về Tổ quốc.

Nhưng đến năm Kỷ Mão (1939) chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nên cuối năm ấy Người mới đến Côn Minh. Tháng 6/1940 Bác tới Quế Lâm, rồi về Tĩnh Tây và chọn Cao Bằng, nơi có phong trào cách mạng phát triển, liên lạc quốc tế thuận lợi để làm căn cứ địa cách mạng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Trong thời gian lưu lại ở bản Nậm Quang (giáp huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ, có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên phụ giảng.

Đầu Xuân, mùng Một Tết Tân Tỵ (27/1/1941), Người và anh em cán bộ đi chúc Tết bà con hai thôn Nậm Quang và Nậm Tẩy. Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, có ghi bốn chữ Hán “Cung chúc tân Xuân”, tặng mỗi cháu nhỏ phong bao tiền mừng tuổi. Ai nấy phấn khởi, nhà nhà hân hoan.

Sáng mùng Hai Tết (28/1/1941) trời rét căm căm, sương mù dày đặc, Người và các đồng chí cùng đi tạm biệt Nậm Quang lên đường về nước sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước. Người xiết bao xúc động bởi hơn 10 nghìn ngày thương nhớ, đợi chờ nay đã thành sự thật.

Sau khi vượt cột mốc 108, đồng chí Lê Quảng Ba đưa Bác và anh em vào nhà ông Máy Lì, dân tộc Nùng, một cơ sở tin cậy của cán bộ ta ở làng Pác Bó. Được nghe cán bộ giới thiệu ông Ké (ông già) cũng là cán bộ ở dưới xuôi lên, ông Máy Lì mừng vui lắm, gọi con gái mang ra thau nước nóng mời ông Ké rửa mặt. Nghỉ ngơi một lát, chủ nhà bưng ra mâm cỗ mời ông Ké và Đoàn cán bộ vui Xuân “con Rắn”. Từ đáy lòng mình, ông Máy Lì chậm rãi nói: “Biết thế nào ông Ké và các cháu cũng đến nên già cố chờ, để hái lộc năm Tỵ này to hơn”. Bên mâm cỗ tết, mọi người trò chuyện râm ran. Riêng Bác vẫn lặng yên, vẻ mặt ưu tư vì sau 30 cái Tết vắng nhà nhưng không bao giờ có Tết, hôm nay lần đầu tiên trở về đất mẹ, sống lại ngày Tết cổ truyền.

Nghe ông Máy Lì mời rất thịnh tình, Bác nhìn mọi người và cầm đũa chỉ vào từng món ăn trên mâm, hỏi tên các món ăn bằng tiếng dân tộc. Thấy Bác nói và nghe tiếng dân tộc rất chuẩn làm cho ông chủ nhà xúc động, mến phục. Bữa cơm ngày Tết kết thúc lúc xế chiều. Trời tối dần, mọi người đi ngủ, bên ngoài sương xuống nhiều, Bác và ông Máy Lì vẫn rì rầm nói chuyện. Đêm ấy, Bác cứ thổn thức, gần sáng mới ngủ thiếp đi.

Sáng mùng 03 Tết, vừa ngủ dậy, Bác nói với đồng chí Lê Quảng Ba: “Đồng bào ở đây nghèo, nhà chật chội, ta đông người, ở đây mãi không tiện, ra rừng thôi”. Theo hướng dẫn của ông Máy Lì, Bác và anh em chuyển lên ở trong một hang đá bí mật, đó là hang Cốc Pó, phía sau hang núi đá là đất Trung Quốc, khi lâm sự có thể rút sang bên đó an toàn. Trong hang tuy âm u, tối tăm, ẩm thấp song địa hình xung quanh hùng vĩ nên thơ, có con suối trong xanh, có quả núi cao. Sau này Bác gọi là suối Lê-nin và núi Các Mác. Đồ tư trang của Bác lúc ấy chỉ có vài bộ quần áo, một va-li tài liệu, một máy chữ. Chỗ nằm của Bác là các cành cây ghép lại, trên trải liếp tre đan, vô cùng thiếu thốn gian khổ.

Hàng ngày, Bác ngồi làm việc trên tảng đá bên suối, dưới vòm cây xanh, có nhiều hoa rừng, bướm bay, chim hót. Từ địa điểm lịch sử này, Bác đã làm hai bài thơ bất hủ: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang/ Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng/ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/ Cuộc đời cách mạng thật là sang” và: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Về Pác Bó ít ngày, Bác đã phát động tổ chức các hội quần chúng, thành lập các Đội Tự vệ, hình thành Mặt trận Thống nhất. Tháng 4/1941, Bác chủ trì hội nghị tiến tới thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh. Đến ngày 10/5/1941 với danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Bác triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bên con suối Khuổi Nặm, gần làng Pác Bó. Sau Hội nghị lịch sử này, Bác viết thư “Kính báo đồng bào” gửi đồng bào cả nước, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp, phát xít Nhật.

Trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác và Đảng đã đưa phong trào cách mạng nước ta có những chuyển biến vô cùng to lớn. Chỉ sau 4 năm từ khi Bác về nước (28/1/1941 đến 19/8/1945), chính quyền cách mạng đã được thành lập trong phạm vi cả nước bằng một cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi từ Bắc vào Nam. Nước Việt Nam đã là một nước độc lập – đúng như dự đoán thiên tài của Bác Hồ năm 1942, một năm sau khi Người về nước ở Cao Bằng.

Qua 72 mùa Xuân từ Tân Tỵ đến Quý Tỵ dù phải trải qua 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta từng vượt qua bao hi sinh gian khổ, song cách mạng Việt Nam đã toàn thắng, hoàn thành mục tiêu “Độc lập dân tộc”, đang tiến hành công cuộc đổi mới, tiếp tục công cuộc xây dựng vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ngày Bác Hồ về nước năm ấy đã trở thành dấu ấn kì diệu của lịch sử cách mạng Việt Nam, tạo nên bước ngoặt mới cho cách mạng nước ta.

Theo Quốc Sĩ/ Báo Người cao tuổi
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những bài thơ Xuân của Bác Hồ

Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Hơn thế, đó không chỉ vì Thơ, vì Tết, vì Xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Bác Hồ gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

12.

Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ tọa của Bác, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968). Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 tháng 1 năm 1968. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng những vần thơ Xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Bác đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa Xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. 
Bác khen các cháu dân quân gái, 
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ lâu rồi không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào, 
Đến nay thử làm xem ra sao. 
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy, 
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ Xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã giàn giụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây, 
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời. 
Trên trời mây đến rồi đi, 
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

Xuân này, đọc lại những vần thơ Xuân của Bác Hồ từ 41 Xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Bác vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triển của non sông đất nước.

Theo TS. Chu Đức Tính (Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cải cách ruộng đất 1953 – Văn bản quy phạm pháp luật

QUỐC HỘI
Số: Không số

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________
Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 1953

LUẬT

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

CHƯƠNG I

MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Điều 1. – Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,

Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển,

Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến,

Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.

CHƯƠNG II

TỊCH THU, TRƯNG THU, TRƯNG MUA RUỘNG ĐẤT

MỤC I

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CỦA ĐẾ QUỐC

XÂM LƯỢC KHÁC; CỦA ĐỊA CHỦ VIỆT GIAN, PHẢN ĐỘNG,

CƯỜNG HÀO GIAN ÁC.

Điều 2. – Tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đề quốc xâm lược khác.

Điều 3. – Đối với địa chủ Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ, lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác.

Phần không tịch thu thì trưng thu.

MỤC II

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NHÂN SĨ DÂN CHỦ, ĐỊA CHỦ

KHÁNG CHIẾN, ĐỊA CHỦ THƯỜNG.

Điều 4. – Đối với nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, thì:

Trưng thu toàn bộ ruộng đất hiện có cùng trâu bò và nông cụ.

Không đụng đến tài sản khác.

Giá trưng mua ruộng đất là giá sản lượng trung bình hàng năm của ruộng đất trưng mua.

Giá trưng mua trâu bò, nông cụ là giá thị trường ở địa phương.

Giá trưng mua được trả bằng một loại công phiếu riêng.

Công phiếu ấy được trả lãi 1,5 phần trăm mỗi năm.

Sau thời hạn mười năm sẽ hoàn vốn.

MỤC 3

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ ĐÃ PHÂN TÁN.

Điều 5. – Từ ngày ban hành sắc lệnh giảm tô (14 tháng 7 năm 1949) đến ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), việc phân tán ruộng đất của địa chủ với mục đích trốn tránh sắc lệnh giảm tô và sắc lệnh thuế nông nghiệp, là không chính đáng.

Đối với ruộng đất của địa chủ đã phân tán trong trường hợp kể trên, thì xử trí như sau:

1) Ruộng đất đã phân tán vào tay địa chủ thì tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua tuỳ trường hợp, như đã quy định ở điều 3 và điều 4.

Giá trưng mua ruộng đất phân tán nói trên là nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua đó được trả cho địa chủ đã mua ruộng đất phân tán bằng công phiếu.

2) Ruộng đất đã phân tán vào tay phú nông thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

3) Ruộng đất đã phân tán vào tay trung nông thì coi đó là việc trong nội bộ nông dân lao động, dùng lối thuyết phục mà dàn xếp một cách thoả thuận, để trung nông tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Khi trung nông nhường lại, thì phải đảm bảo cho họ còn số diện tích không dưới mức bình quân chiến hữu hiện nay của trung nông trong xã.

Trung nông nhường ruộng đất được Chính phủ đền bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

4) Ruộng đất đã phân tán vào tay bần cố nông thì không đụng đến.

5) Ruộng đất đã phân tán vào tay tư sản dân tộc thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

6) Ruộng đất đã phân tán vào tay các tầng lớp tiểu tư sản, thì thuyết phục họ tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Nếu họ không đủ sống với nghề chính, thì phải để lại cho họ một phần ruộng đất để bù cho họ đủ sống.

Người nhường ruộng đất được Chính phủ đến bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

Điều 6. – Từ ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng thực hiện giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), những việc phân tán ruộng đất trái phép của địa chủ đều không được thừa nhận.

Ruộng đất địa chủ phân tán trái phép bị tịch thu.

Địa chủ trái phép phải bồi thường thiệt hại cho người đã nhận ruộng đất phân tán đó.

Điều 7. – Nay xó bỏ nợ mà nông dân lao động và các tầng lớp nghèo ở nông thôn đã vay của địa chủ.

Điều 8. – Nay xoá bỏ độc quyền mặt biển và khúc sông.

MỤC 4

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CÔNG VÀ NỬA CÔNG NỬA TƯ

VÀ RUỘNG ĐẤT CỦA TÔN GIÁO.

Điều 9.– Trưng thu:

– Công điền, công thổ;

– Ruộng phe, ruộng giáp, ruộng xóm; ruộng tư văn, tư vũ, lộc điền; ruộng hậu, ruộng họ, ruộng môm sinh, v.v..

– Ruộng đất của các đoàn thể.

Điều 10. – Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa, thánh thất, tu viên, v.v…) thì trưng thu và trưng mua.

Trường hợp có mua chính đáng thì trưng mua.

MỤC 5

ĐỐI VỚI CÁC LOẠI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN KHÁC.

RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA ĐỊA CHỦ KIÊM NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

VÀ CỦA NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP KIÊM ĐỊA CHỦ.

Điều 11. – Để khuyến khích sản xuất và phát triển kinh tế quốc dân, công thương nghiệp được bảo hộ.

Không đụng đến công thương nghiệp của địa chủ.

Không đụng đến đất đại trực tiếp dùng vào việc kinh doanh công thương nghiệp.

Những ruộng đất khác của địa chủ kiêm nhà công thương nghiệp và của nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ thì trưng mua.

Ruộng đất và tài sản của những người có ít ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm.

Điều 12. – Những người có ít ruộng đất, nhưng vì tham gia công tác kháng chiến, vì thiếu sức lao động, vì bận làm nghề khác mà phải phát canh hoặc thuê người làm, thì không coi là địa chủ.

Không đụng đến ruộng đất và tài sản của họ.

Ruộng đất và tài sản của phú nông.

Điều 13. – Kinh tế phú nông được bảo tồn.

Không đụng đến ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của phú nông.

Ruộng đất và tài sản của trung nông

Điều 14. – Bảo hộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của trung nông.

Trung nông thiếu ruộng đất được chia thêm ruộng đất.

MỤC 6

ĐỐI VỚI RUỘNG VẮNG CHỦ VÀ RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

RUỘNG ĐẤT VẮNG CHỦ

Điều 15. – Trưng thu ruộng đất của địa chủ không rõ tông tích.

Điều 16. – Đối với ruộng đất của địa chủ vắng mặt vì tham gia công tác kháng chiến và của địa chủ tản cư ở vùng tự do mà không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua.

Điều 17. – Đối với ruộng đất ở vùng tự do của địa chủ hiện nay ở vùng tạm bị chiếm, thì tuỳ thái độ chính trị của từng người mà tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua.

Nếu là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì xử trí như đã quy định ở điều 3.

Nếu không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua, như đã quy định ở điều 4.

RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

Điều 18. – Trưng thu ruộng đất của địa chủ bỏ hoang bất cứ vì lý do gì.

Ruộng đất không phải của địa chủ mà bỏ hoang quá hai năm không có lý do chính đáng thì trưng thu.

MỤC 7

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NGOẠI KIỀU.

Điều 19. – Về nguyên tắc, ngoại kiều không có quyền chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều được phép sử dụng ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều nông dân từ trước đến nay sống ở nông thôn về nghề cày cấy, trồng trọt, nếu làm mọi bổn phận như người Việt Nam thì được quyền sở hữu ruộng đất.

Điều 20. – Đối với địa chủ ngoại kiều hợp tác với địch hoặc là phản động, cường hào gian ác, thì tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất và tài sản, tuỳ tội nặng nhẹ.

Phần không tịch thu thì trưng mua.

Đối với địa chủ ngoại kiều không hợp tác với địch, không phải là phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua toàn bộ ruộng đất, trâu bò và nông cụ.

CHƯƠNG III

CÁCH CHIA RUỘNG ĐẤT

MỤC 1

RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN CHIA, VÀ RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN KHÔNG CHIA.

Điều 21. – Trừ trường hợp quy định ở điều 22, những thứ tịch thu, trưng thu, trưng mua đều chia cho công dân:

1) Ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác.

2) Đồi, vườn trồng cây ăn quả, trồng chè, chẩu, cọ, sơn, dó, v.v…

Gặp trường hợp chia mà có hại cho sản xuất thì không chia.

Nếu không chia, thi do chính quyền quản lý, hoặc chính quyền giao cho chủ cũ quản lý.

Điều 22. – Những thứ không chia:

1) Ruộng đất trồng trọt bằng máy móc; đồn điền trồng cà phê, cao su hoặc trồng cây công nghiệp khác; vườn trồng cây ăn quả bằng kỹ thuật tiến bộ; đồn điền thí nghiệm, bãi phi lao ở bờ biển, v.v…

2) Rừng núi lớn, hầm mỏ; hồ lớn, sông ngòi, công trình thuỷ lợi, đê điều; đất ở ven đường xe lửa, đường xá, đất thuộc các đô thị, thị trấn, đất dùng vào các công trình lợi ích chung, v.v…

3) Cảnh vật có tiếng trong lịch sử, hoặc có giá trị về văn hoá, lâu đài, đền, miếu; sách vở tài liệu chính trị và văn hoá, v. v…, nghĩa địa và lăng tẩm, v.v…

Đất đai, nhà cửa và tài sản kể trên là của nhà nước và của chung nhân dân, do chính quyền quản lý.

Điều 23. – Trong khi chia phải để lại ở mỗi xã một số ruộng đất để dùng vào những việc sau đây: đón thương binh về làng; dự phòng sau này chia cho những người ở xa về; làm trụ sở cho cơ quan, làm trường học v.v…

Điều 24. – Ruộng đất do nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác khai phá từ Cách mạng Tháng Tám thuộc quyền sở hữu của những người đã có công khai phá.

Không được đụng đến ruộng đất đó.

MỤC 2

NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 25. – Những người sau đây được chia:

1) Nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất: bần cố nông và trung nông thiếu ruộng đất.

Phú nông làm tá điền thiếu ruộng đất cũng được chia.

2) Đối với những tầng lớp nghèo ở nông thôn (người làm nghề thủ công, người làm hàng xay hàng xáo, người buôn thúng, bán mẹt, người làm nghề đánh cá, người làm nghề tự do, v.v…), nếu không đủ sống và có sức cày cấy, thì được chia một phần để bù thêm cho đủ sống.

3) Những người sau đây, nếu gia đình họ ở nông thôn và thuộc hạng được chia, thì được chia một phần ngang với phần chia cho nông dân:

a) Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh.

b) Cán bộ chính quyền và đoàn thể; nhân viên phục vụ kháng chiến, công nhân các xí nghiệp quốc doanh.

4) Công nhân thất nghiệp, và gia đình họ ở nông thôn, nếu không có nghề khác để sống và có sức cày cấy, thì được chia.

5) Những người tản cư về nông thôn, nếu không đủ sống, có sức cày cấy, yêu cầu được chia, và nông dân nơi họ tản cư đồng ý, thì cũng được chia.

Họ chỉ được phép sử dụng mà không có quyền sở hữu ruộng đất được chia.

6) Nhà Chung, nhà chùa, từ đường họ, và các cơ quan tôn giáo khác, được để lại một phần ruộng đất để dùng vào việc thờ cúng.

Phần ruộng đất ấy do nhân dân địa phương bình nghị và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh xét định.

Trường hợp đặc biệt quan trọng do cấp trên quyết định.

Những người làm nghề tôn giáo, nếu không đủ sống, có sức cày cấy và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất ở nơi họ hoạt động, hoặc ở quê quán họ.

7) Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, và gia đình của họ, được chia một phần xấp xỉ với phần chia cho nông dân.

Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến được chiếu cố một cách thích đáng.

8) Việt gian, phản động, cường hào gian ác bị xử phạt trên năm năm tù thì không được chia; từ năm năm tù trờ xuống thì được chia.

Gia đình họ vẫn được chia.

9) Gia đình ngụy binh ở nông thôn thuộc hạng được chia, thì cũng được chia.

Ngụy binh cũng được chia một phần ruộng đất. Nhưng khi họ chưa bỏ hàng ngũ ngụy quân trở về với Tổ quốc, thì ruộng đất ấy do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính hay Nông Hội xã tạm giữ.

10) Ngoại kiều và gia đình họ, nếu không có nghề đủ sống, có sức cày cấy, và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất.

MỤC 3

NGUYÊN TẮC CHIA.

Điều 26. – Nguyên tắc chia là:

– Thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia;

– Chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu,

rút gần bù xa;

– Chia theo nhân khẩu chứ không theo sức lao động;

– Lấy số diện tích bình quân và số sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia;

– Chia theo đơn vị xã; song nếu xã ít người nhiều ruộng, thì có thể san sẻ một phần cho xã khác ít ruộng nhiều người, sau khi đã chia đủ cho nông dân trong xã.

Điều 27. – Trong khi chia ruộng đất, phải chiếu cố đến quyền lợi của tá điền trung nông.

Khi rút phần ruộng đất mà tá điền trung nông đang cày cấy, thì phải để lại cho họ một phần; phần ruộng đất để lại cộng với số ruộng đất tư của họ phải nhiều hơn số bình quân được chia một ít và không quá số bình quân chiếm hữu của mỗi nhân khẩu trong xã.

Điều 28. – Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh được ưu đãi trong khi chia.

Gia đình của họ được chiếu cố.

Điều 29. – Đối với những nhà nông dân nghèo chỉ có một hai người mà có sức lao động, nếu xã có đủ ruộng đất thì có thể chia cho họ nhiều hơn phần của những người khác.

Điều 30. – Để khuyến khích tăng gia sản xuất, ruộng đất vỡ hoang chưa quá ba năm của nông dân không tính vào số ruộng đất của họ trong khi chia.

MỤC 4

QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 31. – Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó, và không phải trả cho địa chủ hay chính quyền bất cứ một khoản nào.

Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ.

Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v… ruộng đất được chia.

CHƯƠNG IV

CƠ QUAN CHẤP HÀNH VÀ PHƯƠNG PHÁP

THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT.

Điều 32. – Trong thời gian cải cách ruộng đất, sẽ lập Uỷ ban cải cách ruộng đất ở Trung ương, khu và tỉnh.

Dưới sự lãnh đạo của chính quyền, Uỷ ban cải cách ruộng đất có nhiệm vụ thi hành luật cải cách ruộng đất, và lãnh đạo cụ thể cuộc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.

Điều 33. – ở cấp xã, hội nghị đại biểu nông dân toàn xã, ban chấp hành Nông Hội xã là những cơ quan hợp pháp chấp hành luật cải cách ruộng đất.

Điều 34. – Khi phân định thành phần giai cấp, phải theo đúng điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn do Chính phủ quy định.

Thành phần giai cấp do hội nghị đại biểu nông dân bình nghị và quyết định. Người đương sự phải được dự hội nghị để tham gia bàn định.

Quyết định của xã về thành phần giai cấp phải do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh duyệt y, hoặc do cơ quan được Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh uỷ quyền, duyệt y.

Gặp trường hợp tranh chấp, thì phải đưa ra Toà án Nhân dân Đặc biệt xét định.

Điều 35. – Nghiêm cấm mọi hành động chống lại hoặc phá hoại phong trào phát động quần chúng cải cách ruộng đất.

Từ lúc ban hành luật cải cách ruộng đất đến lúc tuyên bố kết thúc cuộc cải cách ruộng đất, tuyệt đối cấm địa chủ chuyển dịch ruộng đất, trâu bò, nông cụ bằng bất cứ hình thức nào.

Kẻ phạm pháp do Toà án Nhân dân Đặc biệt xét xử.

Điều 36. – ở những nơi phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất, sẽ lập Toà án Nhân dân Đặc biệt.

Toà án Nhân dân Đặc biệt có nhiệm vụ:

1) Xét xử Việt gian, phản động, cường hào gian ác và những kẻ chống lại hoặc phá hoại cải cách ruộng đất;

2) Xét xử những vụ tranh chấp về ruộng đất và tài sản có liên quan đến cải cách ruộng đất;

3) Xét xử những vụ tranh chấp về phân định thành phần giai cấp.

Đối với kẻ phạm pháp thì xét xử theo pháp luật.

Nghiêm cấm bắt bớ và giết chóc trái phép, đánh đập, tra tấn hoặc dùng mọi thứ nhục hình khác.

Điều lệ tổ chức Toà án Nhân dân Đặc biệt do Chính phủ, quy định.

CHƯƠNG V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 37. – Luật cải cách ruộng đất này định cho toàn quốc.

Vùng tự do có đủ điều kiện thì thi hành trước. Các vùng khác chưa đủ điều kiện, thì thi hành sau.

Chính phủ sẽ định trong vùng tự do, nơi nào thi hành trước, nơi nào thi hành sau.

Đối với những vùng dân tộc thiểu số, tuỳ theo tình hình, Chính phủ sẽ quy định riêng.

Điều 38. – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban bố luật cải cách ruộng đất.

Chính phủ quy định chi tiết và chịu trách nhiệm thi hành luật cải cách ruộng đất này.

—————————-

Luật này do Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp lần thứ III ngày 4 tháng 12 năm 1953

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký)
Hồ Chí Minh

moj.gov.vn

Thơ Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ chúc TếtThơ Xuân có một vị trí “đặc biệt” trong thơ chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự: “Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Thêm nữa, bên cạnh những cảm xúc đẹp về mùa Xuân, Người còn làm thơ để mừng tuổi đồng bào. Gần 30 năm trời (1942 – 1969), cứ mỗi khi Tết đến Xuân về là đồng bào cả nước lại mong chờ những vần thơ chúc Tết của Bác như một món quà ý nghĩa. Món quà ấy là nguồn động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để  dựng xây quê hương, đất nước… Hơn thế, đằng sau thi hứng từ mùa Xuân, đằng sau nỗi niềm dân tộc, tấm lòng với đồng bào, mỗi bài thơ của Hồ Chí Minh còn là một bài học lớn khiến chúng ta phải suy ngẫm, noi theo.

Mùa Xuân với sức sống và vẻ đẹp của nó từ bao đời nay đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân. Là thi sĩ ai lại không có một đôi vần thơ Xuân trong đời? Hồ Chí  Minh cũng vậy. Yêu đời, say mê cuộc sống, tâm hồn dễ xúc cảm trước cái đẹp của con người, thiên nhiên, tạo vật, vì thế, thơ Xuân chiếm một phần không nhỏ trong sự nghiệp sáng tác của Người. Có điều khác là, Xuân trong thơ Hồ Chí Minh không chỉ là mùa Xuân hiện hữu của đất trời mà còn là mùa Xuân chất chứa bao nỗi niềm dân tộc, Xuân bởi lòng người, Xuân của lịch sử và của mong ước tương lai. Đọc thơ Xuân của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có hai mảng: Những bài thơ viết về mùa Xuân và những bài thơ viết nhân dịp mừng Xuân hay chính là thơ chúc mừng năm mới.

1. Thơ viết về mùa xuân

Nói đến thơ Xuân của Bác, chúng ta không thể không nhắc tới một bài thơ được coi là kiệt tác, Người viết ở chiến khu Việt Bắc năm 1948: Nguyên tiêu:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, Xuân thuỷ tiếp Xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Vẻ đẹp của bài thơ này đã được các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và những người yêu thơ Bác viết khá nhiều. Chỉ với bốn câu thơ, Bác đã khơi gợi trước mắt người đọc vẻ đẹp thơ mộng, tràn đầy, viên mãn của mùa Xuân trong không gian và thời gian. Đêm rằm tháng giêng, mặt trăng tròn sáng ngời soi tỏ dòng sông mùa Xuân, làn nước mùa Xuân, bầu trời mùa Xuân. Tưởng như rất quen thuộc nhưng cũng không khỏi bất ngờ bởi góc nhìn tươi mới của thi nhân:

Rằm Xuân lồng lộng trăng soi
Sông Xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

                                                                        (Bản dịch của Xuân Thuỷ)

Vẫn dòng sông ấy, màu nước ấy, vẫn mây trời ấy, dưới ánh trăng rằm, trong một đêm mùa Xuân lại mang một màu sắc mới: Mùa Xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng làm cho cảnh vật thêm hữu tình. Ánh trăng, mùa Xuân, sông nước, mây trời quyện hòa, chứa chan vào nhau, tô điểm cho nhau, cùng nhau khơi gợi tâm hồn thi sĩ, soi xuống con thuyền Người đang “đàm quân sự”. Có lần Người đã từng hẹn với trăng: “Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”. Bàn xong việc quân trời đã nửa đêm nhưng Người chiến sỹ – thi sỹ ấy không thể lại một lần lỗi hẹn cùng trăng nữa. Trăng Xuân oà vào lòng người, người mở rộng lòng đón trăng, thưởng ngoạn chất Xuân sung mãn với tâm thế sảng khoái và lạc quan. Con thuyền bàn bạc việc quân đã trở thành con thuyền trăng trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng. Trăng là biểu tượng cao đẹp, sáng láng của tự do. Con thuyền bát ngát trăng cũng bát ngát niềm vui cao đẹp tin tưởng vào bình minh sáng rỡ của dân tộc. “Nguyên tiêu” là một bức tranh Xuân đẹp được vẽ nên từ những vần thơ đẹp. Viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi: Một con thuyền, một vầng trăng, có sông Xuân, nước Xuân, trời Xuân, khói sóng, không gian bao la yên tĩnh…Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú mà “đàm quân sự”. Bài thơ vừa thể hiện tâm hồn, phong thái của một “tao nhân mặc khách” vừa thể hiện trí tuệ, cốt cách thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài.

Không chỉ rung động trước vẻ đẹp của mùa Xuân. Xuân còn đi vào trong thơ Bác như là một nguyên cớ, là nguồn cảm hứng để người bày tỏ cái nhìn lạc quan, biện chứng về xu thế vận động, phát triển của lịch sử, của dân tộc. Trong bài Tự khuyên mình Người viết:

Nếu không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày Xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng.

Mùa Xuân ở đây được đặt trong mối tương quan đối lập với mùa đông. Đông về, giá lạnh, khắc nghiệt. Xuân tới, ấm áp, tươi vui. Bốn mùa luân chuyển: Hết Đông tất tới Xuân. Cuộc sống con người cũng vậy. Để có được ngày Xuân rạng rỡ, huy hoàng, đừng ngại gian truân, vất vả. Nắm được quy luật tất yếu của lịch sử, của xã hội, Bác luôn nhìn cuộc sống, nhìn cách mạng với một tinh thần lạc quan và lòng tin tưởng sâu sắc vào ngày thắng lợi.

Lấy Xuân để giãi bày, nhân lên niềm vui, niềm phấn khởi tới muôn người con đất Việt, năm 1968, Bác Hồ viết nhiều thơ Xuân nhất. Điều đặc biệt là chùm thơ Xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968. Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là nguồn thi hứng dạt dào với Người. Giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người mượn  cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao“.

Nghe như một lời bộc bạch giản dị, thân tình, nhưng chỉ với một “vần thắng” cho thấy cảm hứng mới thật mãnh liệt. Mãnh liệt và truyền cảm, câu thơ ấy đã đem đến niềm xúc động cho bao người, những người chiến sĩ, những đồng bào đang một lòng hướng tới Miền Nam ruột thịt. Với Bác, không có công việc nào trọng đại hơn việc đánh giặc giữ nước và không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết:

“Tháng tư hoa nở một vườn đầy,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

                         Mậu thân Xuân tiết (dịch thơ)

Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc, trong mùa Xuân ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, khi sức khoẻ của Bác đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Nhân dịp này, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện đó:

Thuốc không, rượu chẳng có mừng Xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần”.

                   Nhị vật (dịch thơ, 1, tr.336)

Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề”:

Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa Xuân” .

                                 Không đề (dịch thơ, 1, tr.341)

Cách mạng thành công, đất nước độc lập, nhân dân tự do chính là mùa Xuân tươi đẹp nhất trong trái tim thiêng liêng, ngời sáng của Hồ Chí Minh. “Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”, “Một năm là cả bốn mùa Xuân”, là nỗi niềm, là mong muốn khôn nguôi của Bác. Nỗi niềm riêng, mong muốn riêng cũng là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích Đảng ta phấn đấu đạt tới. Đây chính là nét đẹp tột đỉnh của nhân cách, trí tuệ Hồ Chí Minh.

Qua những vần thơ viết về mùa Xuân, chúng ta thấy ở Bác luôn có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của một thi nhân cùng với một cốt cách, phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng kiên trung. Xuân khơi nguồn cảm hứng thơ. Thơ lấy Xuân làm nguyên cớ. Xuân tự đất trời và Xuân tự lòng người hòa quyện, tâm hồn thi sĩ và tinh thần chiến sĩ kết tụ, Bác để lại cho đời những vần thơ vừa rung động, tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng.

2. Thơ chúc mừng năm mới

Thủ tướng Phạm Văn Đồng có lần đã viết “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người nào hết. Ngót ba mươi năm bôn ba bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em. Chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất…”. Không chỉ có thế, mỗi dịp Tết đến, Người luôn có một món quà mừng tuổi ý nghĩa có thể gửi tới tất cả đồng bào của mình đó là những bài thơ chúc mừng năm mới. Lấy thơ làm quà “mừng Xuân”, Người cũng mượn thơ để “kêu gọi”, khích lệ đồng bào và khẳng định niềm tin vào một tương lai rạng ngời của dân tộc:

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

                                  (Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ – 1942, 2, tr.210)

Theo thơ chúc Tết của Bác, chúng ta như được dịp ôn lại lịch sử của dân tộc, được dịp nhìn lại những năm tháng kháng chiến của toàn dân vừa trường kỳ gian khổ vừa thắng lợi vẻ vang. Xuân 1946, Xuân đầu tiên nước nhà được độc lập. Cách mạngTháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên… một loạt các sự kiện ghi dấu son lịch sử đã mang đến cho nhân dân cả nước một mùa Xuân đầy hào khí của bài ca thắng lợi. Vui cái vui của đồng bào, trong cái Tết đặc biệt này, Bác Hồ đã có đến ba bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước: Chúc Tết Bính Tuất – 1946, Mừng Báo Quốc gia, Gửi chị em phụ nữ Xuân Bính Tuất (3, tr.169).

Bác chúc đồng bào cả nước:
Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Đối với Bác, với nhân dân ta, mùa Xuân 1946 này mới thực sự là mùa Xuân dân chủ cộng hoà, Tết này mới thực sự là Tết độc lập, tự do:

Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh Phúc Cộng hoà.

Ca bài ca chiến thắng, Bác không quên nhắc nhở mọi người phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng cần, kiệm, liêm, chính để xây dựng đất nước:

Năm mới Bính Tuất
Phụ nữ đồng bào
Phải gắng làm sao
Gây đời sống mới

………….

Cần, kiệm, liêm , chính
Giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống “Đời sống mới”

Từ năm 1945 đến năm 1954, thời kỳ “Toàn dân kháng chiến – toàn diện kháng chiến”, trong mỗi bài thơ chúc Tết của Bác, chúng ta đều như nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ. Đó là hào khí của dân tộc:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công
!

                            (Thơ Chúc năm mới Xuân Đinh Hợi – 1947)

Theo Đỗ Thị Kiều Nga / Tạp chí nghiên cứ văn hóa
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vì sao gọi Người là Bác Hồ?

(Petrotimes) – Một ông bạn người nước ngoài gửi e-mail đến hỏi vì sao tất cả người Việt Nam đương đại đều cùng gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ? Bài báo này như lá thư trả lời bạn xa.

Quốc Hiếu

Có một tình cờ thú vị là người đầu tiên viết tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh in thành sách lại là một, Jean Lacouture. Ông được người Pháp đánh giá là một trong những nhà văn chuyên viết tiểu sử nổi tiếng nhất nước Pháp đương đại… Lý do là ở trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng thuận cho viết tiểu sử mình. Nhà báo Phan Quang, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam nhớ về Jean Lacouture như sau:

“…Trong một bữa ăn, tôi nói với Jean về cảm tưởng khi lần đầu đọc cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời ấy, cả nước Việt Nam đang bừng bừng khí thế đánh Mỹ. Quân dân ta đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.000… Thành thật mà nói, những tư liệu anh viết về Bác Hồ đối với chúng tôi không có gì mới. Nhưng sách của anh là cuốn tiểu sử hoàn chỉnh đầu tiên về Hồ Chí Minh. Trước anh, mới có cuốn sách mỏng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất bản ở Liên khu 5 từ thời kháng Pháp, bài báo của đồng chí Trường Chinh và một số hồi ký của các nhà cách mạng… Hơn nữa, tác phẩm được thực hiện và xuất bản khi Người còn khỏe (1967). Chúng tôi rất biết ơn những lời tốt đẹp anh viết về Việt Nam. Có phải chính anh đã viết: Ai muốn học bài học về chủ nghĩa lạc quan, hãy đến Việt Nam?…”.

Jean Lacouture kể lại một kỷ niệm. Hôm ấy, tại Hà Nội, giữa hai đợt bom Mỹ, khi đang phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cửa phòng hé mở và Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào. Tiếng chân Người bước đi vẫn rất nhẹ, còn nhẹ hơn tiếng sột soạt của bộ áo quần kaki Bác mặc trên người. Bác Hồ mỉm cười, đưa tay ra hiệu bảo mọi người cứ ngồi yên và nói: “Thủ tướng nói về chính sách của Chính phủ hay hơn tôi. Tôi đến đây chỉ như một người bạn cũ để chuyện trò với nhau về những ngày đã qua thôi. Thế nào, Paris có gì mới nào, anh bạn?”.

Jean Lacouture nhận xét, Bác Hồ trông có khác đi nhiều. Tóc bạc nhiều hơn. Bộ râu dường như thưa thớt hơn lần anh được gặp trước. Dáng người của Bác vẫn dong dỏng trong bộ quần áo kaki, tuy khuôn mặt có đầy đặn hơn một chút so với hồi trước…

Và Jean Lacouture kết thúc cuốn tiểu sử bằng ý kiến riêng của mình với những dòng sau:

“Ai mà biết được? Bác Hồ bây giờ là một người cao tuổi. Đời Bác đã trải qua cả nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng… Nhưng nếu cậu bé Cung trở thành Nguyễn Tất Thành, trở thành anh Ba, trở thành Nguyễn Ái Quốc, trở thành Vương, trở thành Line, rồi trở thành Hồ Chí Minh không được tự mắt nhìn thấy nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, thì những người Việt Nam khác, những người được Bác Hồ đào tạo nên và cũng đều được tôi luyện trong chiến đấu, họ sẽ thay mặt Người mà chứng kiến điều ấy trở thành hiện thực…”.

Vậy là Jean Lacouture là một trong những người nước ngoài sớm gọi “Bác Hồ”.

Một người nước ngoài khác, con trai nhà báo Wilfred Burchett là George Burchett được sinh ra tại Hà Nội năm 1955 luôn có cảm tình đặc biệt với Bác Hồ. Anh nói rằng, Wilfred Burchett ngưỡng mộ Hồ Chủ tịch nhiều hơn bất cứ nhân vật nào trong lịch sử – bởi nhân cách, cũng như sự thông tuệ đáng khâm phục, tư tưởng quốc tế và tài lãnh đạo của Người.

“Mỗi lần trở lại Việt Nam qua những chuyến thăm ngắn ngủi, Wilfred Burchett đều nói rằng, Bác Hồ gửi tới những đứa trẻ chúng tôi lời hỏi thăm ấm áp nhất – dành cho anh trai tôi, chị gái tôi và tôi. Bởi vậy, có thể nói rằng, Bác Hồ luôn hiện diện trong gia đình tôi như một hình ảnh vô cùng mạnh mẽ. Và bởi vì cha tôi đã luôn kiên định với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất của Việt Nam, nên Việt Nam cũng luôn hiện diện trong gia đình tôi. Với tôi, Việt Nam – Bác Hồ thực sự là một điều gì đó sâu sắc và có thực.

Trong tâm trí tôi, Bác Hồ và cha tôi luôn có mối quan hệ mật thiết. Tôi yêu quý và trân trọng họ với tất cả trái tim mình…”.

Xưng hô chính thức và đầu tiên của Hồ Chủ tịch trước công luận là xưng… “tôi” trong câu hỏi nổi tiếng, khi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?”. Đồng bào và tôi. Mỗi lần nói với toàn thể hay một tập hợp người Việt, Người đều dùng chữ đồng bào.

Trong nhiều trang hồi ký các nhân vật lịch sử cho thấy, Hồ Chủ tịch rất uyển chuyển khi trò chuyện với các đối tượng khác nhau. Những người như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh thì Người gọi là tiên sinh, tướng Trần Tu Hòa là Trần tướng quân, giám mục Lê Hữu Từ là cụ, linh mục Lê Văn Yên là ngài, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… đều là cụ, đại diện các gia đình hảo tâm quyên góp cho Chính phủ là các bà và các ngài, hội hảo tâm là quý hội, Chủ tịch Quốc hội là cụ chủ tịch, một bộ trưởng là cụ bộ trưởng, đại diện các ủy ban nhân dân là các bạn… Trong một bức thư gửi các ngụy binh, Người gọi họ là anh em. Gửi những người đi lính cho Pháp và bù nhìn, Người viết: “Tôi thiết tha kêu gọi các người”.

Vậy “Bác Hồ” bắt đầu được gọi như vậy từ bao giờ, từ đâu ra? Thư tịch và tài liệu lưu trữ cho hay, tháng 9/1947, lần đầu tiên Người xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỷ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và Người vẫn ký Hồ Chí Minh, chứ không ký Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám” năm 1947, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng.

Các nhà nghiên cứu lưu ý Hồ Chủ tịch chỉ xưng “Bác” trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này là bình thường. Ở tuổi 55, khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thời đó, Người đã là một người cao tuổi. Bác gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chủ tịch với nhi đồng là tự nhiên. Cuối thư gửi nhi đồng, Bác Hồ thường hôn các cháu. Trong một bức thư, Bác Hồ còn hôn các cháu rõ kêu, một kiểu biểu lộ tình cảm của người Âu – Mỹ lại được diễn đạt đậm đà bản sắc Việt Nam. Người cũng xưng trong quan hệ với những cộng sự, giúp việc kém tuổi mình. Bác ở đây là bác – cô/chú.

“Bác Hồ”, danh xưng thân thương này được dùng với mọi người, mọi nơi ở Việt Nam. Những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không gọi Bác mà gọi Bok Hồ (Cha Hồ). Nay trong nhiều gia đình “tam đại đồng đường”, thậm chí “tứ đại đồng đường”, cả nhà cùng gọi Bác Hồ vẫn tự nhiên như thường mà quên đi khái niệm tuổi tác. “Bác Hồ”, danh xưng này vượt qua tính chất gia đình mà là tấm lòng yêu quý, lòng kính trọng, biết ơn của mọi con dân nước Việt hôm nay và mai sau đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ sống mãi trong mỗi gia đình người Việt.

Q.H
petrotimes.vn

Pác Bó đón Bác Hồ về nước

Mùa xuân năm 1941, nhân dân Pác Bó vinh dự và tự hào thay mặt nhân dân cả nước đón Bác Hồ tại mốc 108 biên giới Việt -Trung sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước trở về Tổ quốc; ngày 28/01 (tức ngày mùng 2 tết Âm lịch năm Tân Tỵ); cùng về nước với Bác có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An.

Nơi Bác đặt chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Bác đặt tên là suối Lê – Nin. Hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác. Ngày đầu tiên đồng chí Lê Quảng Ba đưa ông Ké (“ông ké”- theo tiếng địa phương có nghĩa là cụ già – là cách gọi Bác Hồ một cách thân thiện của người dân Pác Bó) về nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng. Nhà có hai gian cũ và làm thêm một gian mới để đón khách, khách và chủ cùng quây quần bên mân cơm ngày Tết của gia đình họ Lý. Sau bữa cơm chủ nhà đã thu xếp chỗ ăn ở và làm việc cho đoàn cán bộ nhưng ông Ké bảo Lê Quảng Ba: Ta có nhiều người, ở lại nhà ông Lý làm phiền chủ nhà quá, thôi nên dứt khoát “sáu sán” thôi.

Sáng sớm hôm sau ông Lý dẫn ông Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Pác Bó. Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ quốc Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng tác:

Non xa xa nước xa xa
Nào phải thêng thang mới gọi là
Đây suối Lê – nin kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà

Trong bối cảnh cuộc sống còn gian khó, đất nước sống dưới ách áp bức của các thế lực thực dân phong kiến, nhưng ở mảnh đất Pác Bó người dân Cao Bằng đã gíac ngộ hướng về cách mạng và bảo vệ cách mạng. Tại Pác Bó Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Từ đó ở khu Pác Bó có một ông Ké mặc bộ quần áo chàm, quần sắn cao, tay cầm gậy, dáng đi nhanh nhẹn nhưng ưng dung, thoải mái vui vẻ tiếp các cán bộ về thỉnh thị và báo cáo. Bác hoà mình vào hoàn cảnh mới hết sức tự nhiên, tâm hồn của Bác luôn ung dung lạc quan, với cuộc sống gian khó mà Bác vẫn có những vần thơ bất hủ.

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

 Khi về Pác Bó, Bác đã mở nhiều lớp đào tạo huấn luyện cán bộ, gắn họat động cách mạng với thực tiễn tại cơ sở, tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh, các Hội cứu quốc các giới do 43 cán bộ đã được huấn luyện làm chủ chốt, mở rộng tổ chức ra các xã, châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình hoạt động rất có kết quả, từ kết quả này đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị tổng kết thí điểm tại Coọc Mu (Hà Quảng) vào tháng 4/1941 đó là những thực tế sinh động cho nội dung Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An bên bàn đá tại
khu di tích lịch sử Pác Bó

Ở hang Pác Bó hơn một tháng Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm (suối nước), địa điển này tiện lợi đi lại không phải lội qua suối, nếu có động dễ thoát nhanh chóng. Tại đây Bác lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản trịêu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hội nghị khai mạc sáng 10/05/1941, Hội nghị đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là Hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng Minh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Sau Hội nghị Bác tự tay thảo ra bức thư ”Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dân tộc ta liên tiếp giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

(Nguồn: www.caobang.gov.vn)

Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên?

Ngày 2/2/1946 ứng vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất, Tết Độc lập đầu tiên. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết: “Sáng dậy sớm, chưa tới giờ làm việc Bác đã bảo lấy giấy ra khai bút…

4.1Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên

Bác đọc cho viết: Hôm nay là mồng Một Tết, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… và cuối thư có mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: “Trong năm Bính Tuất mới/ Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi!/ Việt Nam độc lập muôn năm”.

“Thư chúc mừng năm mới” được đăng toàn văn trên báo Cứu Quốc (ra vào ngày mồng 3 Tết) trong đó còn kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc… Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”.

Cũng dịp này nhân báo “Quốc gia”, cơ quan của một số trí thức Hà Nội ra số Xuân, Bác gửi thơ mừng: “Tết này mới thật Tết dân ta/ Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/ Độc lập đầy vơi ba chén rượu/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa/ Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/ Cả nước vui chung phúc Cộng hoà/ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc/ Những người chiến sĩ ở phương xa”. Và trong thơ gửi báo “Tiếng gọi phụ nữ” Bác cũng nhấn mạnh: “Năm mới Bính Tuất/ Phụ nữ đồng bào/ Phải gắng làm sao/ Gây “Đời sống mới”…”.

Gặp Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội Trần Duy Hưng đến chúc Tết, vị Chủ tịch nước thuật lại câu chuyện đi thăm một số gia đình nghèo đêm 30 Tết và nhắc nhở lãnh đạo thành phố cùng các đoàn thể và các nhà hảo tâm phải lo cái Tết cho người nghèo đều được hưởng Tết đầu tiên nước nhà độc lập.

Sau đó Bác ghé thăm đồn Cảnh sát Hàng Trống và đến Nhà Hát lớn Thành phố để chúc Tết đồng bào và đọc lời “Chúc mừng năm mới”. Buổi trưa Bác ăn Tết cùng anh em Vệ Quốc đoàn ở Bắc Bộ Phủ.

Chiều, Bác thăm các nhà thương Đồn Thuỷ (nơi bệnh binh của Pháp đang điều trị), Phủ Doãn (vốn là bệnh viện “làm phúc” dành cho bệnh nhân nghèo) và đến ban quà Tết cho các cháu mồ côi trong Trại An Tư Viện và nhà Ấu Trĩ Viên.

X&N
Theo http://bee.net.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tết Quý Tỵ của Bác Hồ

9.1tet quy ti cua bac ho

Ngày 28 tháng 1 năm 1953 là ngày rằm tháng chạp năm Nhâm Thìn… 

Buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Tây Bắc. Chủ tịch nước “biểu dương bộ đội đã thấm nhuần quyết tâm của Trung ương Đảng, ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm: “Cán bộ yêu thương chiến sĩ chưa đúng mức. Nhiều đơn vị thực hiện chưa đúng chính sách chiến lợi phẩm, sử dụng bừa bãi, không cân bằng, dân chủ, làm việc còn… quan liêu, đại khái”.

Chủ tịch nước mời đại biểu của Đại đoàn 308 Quân Tiên Phong – Đại đoàn đầu tiên được thành lập, từ tháng 8 năm 1949, mới 4 năm mà đã trưởng thành, lập công xuất sắc lên nhận phần thưởng, mỗi Trung đoàn của Đại đoàn là 25 Huy hiệu…

Ngày 22 tháng chạp năm Nhâm Thìn, tức ngày 6 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự khai mạc và nói chuyện với lớp chỉnh huấn cán bộ, Đảng, quân, dân, chính của các cơ quan Trung ương. Trong bài nói chuyện, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh đến những ưu điểm và khuyết điểm của các cán bộ Đảng và Chính phủ, trong đó có những quan điểm chưa đúng với tầng lớp trí thức…  28 tháng chạp, gần đến Tết Quý Tỵ, các báo trên khu vực Việt Bắc, khu 5, Nam Bộ… đã đăng “Thơ chúc Tết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mừng năm Thìn vừa qua,
Mừng Xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân,
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn
Mừng kháng chiến thắng lợi
Mừng năm mới nhiệm vụ mới
Lực lượng mới, thành công mới.
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới!

Khoảng rằm tháng Giêng năm Quý Tỵ, trên Báo Cứu Quốc số 2282, ra vào cuối tháng 2 năm 1953, có bài viết “Động lực của cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Đ.X.Trung. Trong bài viết, Người giải thích: “Tùy theo tính chất cách mạng ở mỗi nước mà quyết định động lực của cách mạng. Tính chất của cách mạng nước ta là cách mạng dân chủ mới, cho nên động lực cách mạng của nước ta bao gồm: Giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc”.

Được báo cáo là đồng chí Vũ Kỳ đã dự chỉnh huấn xong, đang chờ nhiệm vụ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp đồng chí Vũ Kỳ, giao nhiệm vụ thành lập một Đội Thanh niên Xung phong mới, nhận sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chính phủ, mà Chủ tịch nước là người chỉ đạo cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh giao hạn “sau 1 tuần hoặc 10 ngày Đội trưởng Vũ Kỳ phải về báo cáo những việc đã làm với Chủ tịch nước”.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho Đội trưởng Vũ Kỳ, ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cấp một “giấy chứng minh” đánh máy, nội dung như sau:

Giấy chứng minh.

Đồng chí Vũ Kỳ, 30 tuổi, người cao 1 mét 56. Phụ trách Thanh niên Xung phong, được phép đi đến những nơi cần cho công việc.

Hồ Chí Minh”.

Tết năm ấy là một mùa Xuân mới với đồng chí Vũ Kỳ, một năm mới của Đội Thanh niên Xung phong mới.

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan
Theo Thanhtra.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Có một mùa xuân đặc biệt trong đời Bác Hồ

mx đặ biệt 1
Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại
Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961).

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay.

Lịch sử Đảng ta, lịch sử cách mạng Việt Nam còn ghi lại những sự kiện quan trọng gắn liền với hoạt động của Bác Hồ từ Xuân Tân Tỵ 1941 ở Pác Bó. Ngày 28-1-1941, Bác về đến Cao Bằng, chừng mươi ngày “ông Ké” sống với đồng chí, thăm, chúc Tết đồng bào, ngày 8-2-1941, trong sương giá buốt lạnh của miền núi đá biên cương, Người vào sống và làm việc trong hang Pác Bó. Núi rừng hoang vu, hang sâu ẩm ướt lạnh lẽo, hoạt động bí mật, sinh hoạt kham khổ, thiếu thốn “cháo bẹ, rau măng” nhưng tình cảm, ý chí khôi phục giang sơn đất nước giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Bác thật nhiệt huyết và lãng mạn:

Non xa xa nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Để “vạch con đường đánh Nhật, Tây”, cũng tại núi rừng Khuổi Nậm, Pác Bó, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp từ ngày 15 đến 19-5-1941. Hội nghị này đã quyết định về đường lối, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạo bước chuyển cơ bản trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, chuẩn bị lực lượng và phương pháp lãnh đạo toàn dân đấu tranh tiến tới cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc, sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, thống trị.

Vấn đề có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn vô cùng quan trọng, không chỉ ở thời kỳ Đảng hoạt động bí mật chưa lãnh đạo chính quyền mà vẫn có giá trị cho ngày nay là Bác Hồ đã truyền dạy cho cán bộ của Đảng những kinh nghiệm và bài học về phương pháp công tác, phương thức hoạt động cách mạng. Sự thật, đó chính là bàn chỉ nam, những vấn đề có tính nguyên tắc cho tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Những điều to tát ấy lại được Bác truyền thụ cho cán bộ rất giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp trình độ, điều kiện hoạt động của cán bộ lúc bấy giờ. Bác đã chọn lúc hội nghị kết thúc, trước lúc chia tay các đồng chí Trung ương và Xứ ủy, bên bờ suối trong rừng Khuổi Nậm căn dặn mọi người về cơ sở hoạt động phải ghi nhớ bốn điều: Một là, đoàn kết thương yêu nhau, gắn bó mật thiết với dân. Hai là, giữ bí mật, giữ nghiêm kỷ luật. Ba là, phải hiểu sâu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng theo đường lối, chủ trương của Đảng. Bốn là, thực hiện đúng phương pháp công tác: Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Bác Hồ của chúng ta đã trải 30 năm bôn ba ở nước ngoài để khi trở về đất nước, Người tiếp tục tạo ra những nhân tố để đưa cách mạng đến thành công. Chúng ta còn nhớ, từ năm 1925 Bác Hồ đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Người đã tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên ở nước ngoài và sau đó tiến tới thành lập các tổ chức cộng sản đầu tiên. Năm 1930, Người thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam và tổ chức hội nghị thành lập, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhân tố đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sáng tạo lớn đầu tiên của Bác. Phải đến hơn mười năm sau, tại Pác Bó, Cao Bằng, từ mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ đã thực hiện “ba sáng tạo” lớn tiếp theo sau khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba sáng tạo lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ 1941 đến tháng 8 năm 1945 là: Sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất (thành lập Mặt trận Việt Minh); Sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân (thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân); sáng lập chính quyền của nhân dân (Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc).

Có thể nói, từ mùa Xuân ấy, xuân 1941, Bác về, Tổ quốc ta, dân tộc ta, Đảng ta do Bác trực tiếp chỉ đạo mới thật sự thực hiện được một chiến lược lớn là đặt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phát-xít. Cũng từ Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã liên lạc với lực lượng Đồng minh. Từ khi Cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đứng về phe Đồng minh cũng đã được sự ủng hộ của phe Đồng minh. Đó là cơ sở thực tế và pháp lý quốc tế quan trọng để đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tuyên ngôn thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và tuyên bố trước toàn thế giới: Một dân tộc gan góc chống xâm lược mấy mươi năm và đã đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc ấy phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập.

Vậy là, từ mùa Xuân năm 1941, Cao Bằng có vinh dự được đón Bác Hồ sau 30 năm Người ra đi tìm đường cứu nước trở về, được Bác chọn làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên, cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và tiếp tục mở đường đi tới những thắng lợi huy hoàng cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng là nơi hiện thực hóa những tư tưởng chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ mùa Xuân ấy, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo đã chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu. Để rồi đến mùa Xuân 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là mùa Xuân vĩnh hằng của dân tộc ta.

Theo Baomoi.com
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm phòng, chống tham ô, lãng phí

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânChủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người để lại cho chúng ta những di sản tinh thần to lớn, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt là tư tưởng về thực hành tiết kiệm và phòng chống tham ô, lãng phí.

Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động, tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Theo Người, “tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là: “Xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ǎn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tǎng gia sản xuất, mà tǎng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”. Trong quan niệm của Người, tiết kiệm là chi tiêu, sử dụng có kế hoạch, có tính toán, xem xét đầy đủ các yếu tố, giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền của, thời gian, công sức nhưng vẫn đạt được mục tiêu xác định. Mục đích của tiết kiệm là để tích luỹ tiền của, thời gian, công sức cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Tiết kiệm “không phải là lý luận cao xa, mà là hành vi trong thực tế của cán bộ, nhân dân ta, tất cả mọi người đều phải thực hành tiết kiệm và kết quả tiết kiệm của mọi người đều góp phần cho sự nghiệp cách mạng thắng lợi”.

Vậy tham ô là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham ô là: “Ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung, của chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, cho đơn vị mình cũng là tham ô. Tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Người còn xác định  tham ô, không chỉ gây tổn hại rất lớn đến của cải vật chất mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân. “Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người”, “Tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân. Vì vậy, kiên quyết chống tham ô là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân ta”.

Hồ Chí Minh khẳng định lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền của, sức lao động, thời gian kém hiệu quả. Người cho rằng lãng phí có nhiều cách như lãng phí sức lao động; lãng phí thì giờ; lãng phí tiền của. Người cho rằng: “Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ: lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước của tập thể, thì lãng phí cũng có tội. Tham ô là trộm, cướp; lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho chính phủ, có khi còn tai hại hơn tham ô”.

Hồ Chí Minh chỉ ra “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô … cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Theo Người: “Muốn lúa tốt phải nhổ cỏ cho thật sạch, nếu không thì dù cày bừa kỹ, bón nhiều phân, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi. Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng phải nhổ cỏ cho thật sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Nếu không thì nó sẽ là hại đến công việc của ta”. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”, “là kẻ thù của nhân dân, của Chính phủ, kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”, “nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta, phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”. Chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta rất tốt đẹp, tệ tham ô, lãng phí là cái xấu xa do chế độ cũ để lại, như cái ung nhọt còn sót lại trên thân thể của cơ thể sống. “Công khai và mạnh dạn gạt bỏ cho thật sạch những ung nhọt ấy thì thân thể càng khoẻ mạnh thêm”.

Hồ Chí Minh yêu cầu: Thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, triệt để; phải trở thành phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp. Gắn chặt giữa xây với chống, kết hợp giáo dục, phòng ngừa với đấu tranh khắc phục, lấy giáo dục làm chính. Theo Người, để thực hiện được yêu cầu đó cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Phải dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân; chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ động đấu tranh khắc phục chủ nghĩa cá nhân. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng, đề cao trách nhiệm chính quyền thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, quản lý thực hành tiết kiệm, phòng chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

Theo dangcongsan.vn
Đỗ Long Văn (st)

bqllang.gov.vn