Tag Archive | Hồ Chí Minh

Thư gửi Hội nghị chính trị viên (3-1948) (24)

Các đồng chí,

Nhân dịp Hội nghị, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khoẻ. Sau đây là vài ý kiến của tôi đối với công tác của chính trị viên, để giúp anh em thảo luận:

Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt.

Vô luận ở cấp bậc nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính:

Đối với bộ đội,

Đối với nhân dân,

Đối với quân địch.

1. Đối với bộ đội, chính trị viên phải sǎn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: ǎn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu. Về mặt tinh thần, phải sǎn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hoá, phát triển vǎn hoá, và đường lối chính trị trong bộ đội.

Chính trị viên cần phải biết rõ và báo cáo cho cấp trên rõ số lượng và chất lượng của bộ đội mình.

Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu, cũng là trách nhiệm của chính trị viên. Trong thời kỳ vừa qua, ít thấy chính trị viên nào đề nghị khen thưởng những binh sĩ có chiến công oanh liệt. Đó là một khuyết điểm lớn.

Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn.

2. Đối với nhân dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn như thế, thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hǎng đánh giặc.

3. Đối với quân địch, gồm cả binh lính Pháp cùng những người ngoại quốc và người Việt Nam trong quân đội Pháp, chính trị viên phải biết cách tuyên truyền khôn khéo, thiết thực, để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta.

Kỷ luật phải được thi hành từ trên đến dưới. Trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng. Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc. Đó là những điểm chính.

Nay chúng ta đang tiến hành cuộc vận động Luyện quân lập công, chính trị là một động lực to trong cuộc vận động đó. Tôi mong rằng Hội nghị sẽ có chương trình và kế hoạch thiết thực rõ ràng, để làm cho cuộc vận động ấy đại thành công.

Sau nữa, tôi gửi lời khuyên gắng và hỏi thǎm các bộ đội, và tôi chờ các bộ đội báo cáo những chiến công vẻ vang sau này.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr. 50-51.
cpv.org.vn

——————————-

(24) Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ hai : Được tiến hành từ ngày 6 đến 11-3-1948 theo Chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương. Tham gia Hội nghị gồm các chính trị viên quân khu và chính trị viên trung đoàn. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của Quân uỷ Trung ương về nhiệm vụ chiến lược, chiến thuật và công tác chính trị, nghe một số báo cáo về tình hình trong nước và tình hình thế giới.

Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của công tác chính trị trong quân đội là phải bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chiến lược do Quân uỷ Trung ương đề ra, động viên toàn quân nêu cao tinh thần anh dũng, đoàn kết, thống nhất, đồng cam cộng khổ, chống quan liêu, chống quân phiệt.

Hội nghị ra Nghị quyết về hệ thống tổ chức công tác chính trị, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp uỷ Đảng trong quân đội, chế độ chính trị viên và việc tǎng cường công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chính trị viên và bồi dưỡng chính trị cho cán bộ quân sự. Tr.392.

Thư gửi Hội nghị cán bộ Đảng trong quân đội lần thứ tư (3-1948)

Sau chiến thắng Sông Lô

Nhân dịp Hội nghị, tôi gửi lời thân ái chào các đồng chí. Sau đây là vài ý kiến tôi muốn nói cùng các đồng chí.

1. Kháng chiến đã dần dần chuyển sang giai đoạn mới. Công việc sẽ nhiều hơn và gay go hơn. Các đồng chí ta trong bộ đội cần chuẩn bị đầy đủ tinh thần, nghị lực, kế hoạch để lãnh đạo toàn thể bộ đội vượt qua mọi sự khó khǎn, quyết giành cho được thắng lợi.

2. Bộ đội ta ngày càng trưởng thành và tiến bộ. Các đồng chí cán bộ của Đảng ở các cấp phải cố gắng tiến bộ hơn, để lãnh đạo bộ đội. Từ việc lớn đến việc nhỏ, cán bộ đều phải làm kiểu mẫu. Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm gương. Như thế thì quân đội ta sẽ là một quân đội vô địch, và kháng chiến nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962, tr.54.
cpv.org.vn

Hai bức mật điện gửi khu V (1948)

Bức điện thứ nhất

Mật điện số 946/TRT

Mật điện gửi khu V. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam gửi hai ông Bảy Viễn và Mười Chi chỉ huy bộ đội Bình Xuyên.

1. Cảm ơn hai chú đã gửi điện chúc Tết tôi.

2. Tôi gửi lời thân ái khen ngợi toàn thể bộ đội Bình Xuyên đã luôn luôn cố gắng và tôi chắc anh em sẽ luôn luôn cố gắng thêm để lập nhiều chiến công mới và vẻ vang mới. Chính phủ sẽ vui lòng ghi công những chiến sĩ anh hùng.

3. Tôi lại dặn anh em mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết, thì việc gì khó mấy cũng dễ giải quyết.

4. Bao giờ có vấn đề gì khó xử thì cứ điện Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy.

5. Nhờ hai chú thay mặt tôi hỏi thǎm gia quyến liệt sĩ Ba Dương.

6. Chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Bức điện thứ hai

Mật điện số 947/TRT

Mật điện gửi khu V. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam gửi Trung tướng Nguyễn Bình.

1. Nhờ chú chuyển lời tôi khen ngợi toàn thể bộ đội đã tham gia những trận thắng lợi Sài Gòn – Đà Lạt, Sài Gòn – Sa Đéc đầu tháng 3 (tháng 3 -1948) và lời tôi khuyên bộ đội cố gắng để lập nhiều chiến công mới.

2. Nhân dịp này riêng tôi gửi lời dặn chú mọi việc phải cẩn thận bàn bạc với anh em UBKCHC và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta: mọi việc đều đặt lợi quyền của Tổ quốc lên trên để thực hiện đại đoàn kết giữa quân và dân cũng như trong quân đội.

3. Chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Quân đội nhân dân,
Số 10536, ngày 23-9-1990.
cpv.org.vn

Thư gửi lão du kích Đỗ Như Thìn làng Tuấn Kiệt, phủ Bình Giang (3-1948)

(Nhờ UBKCHC Hải Dương giao)

Tôi đọc báo Dân quân khu III, thấy đồng chí đã 50 tuổi, mà rất hǎng hái tham gia du kích, có nhiều sáng kiến, và đã lập được khá chiến công.

Tôi rất vui lòng khen ngợi đồng chí, và mong đồng chí cố gắng để lập nhiều chiến công nữa. Đồng thời tôi khuyên toàn thể anh chị em du kích, phải học những sáng kiến và theo gương dũng cảm của đồng chí Thìn để giết cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng, mỗi người đều phải cố gắng, để giật cho được giải thưởng vẻ vang trong cuộc Luyện quân lập công này.

Tôi lại mong rằng: có những chiến sĩ lão thành như đồng chí Thìn làm kiểu mẫu. Du kích Hải Dương sẽ cố gắng để trở nên du kích kiểu mẫu trong toàn khu, toàn quốc.

Sau nữa, tôi tặng đồng chí Thìn 4 chữ: “Lão đương ích tráng” nghĩa là: “Càng già càng mạnh”.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích, số 2 và 3, ngày 15-4-1948.
cpv.org.vn

Những kỷ niệm xúc động của kiều bào về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, nguyên Phó Trưởng ban Ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh, là nhân vật chính mà chúng tôi ghé thăm. Bác sĩ Hà là đại diện duy nhất của Tổng hội sinh viên Việt Nam tại Pháp vinh dự được tổ chức sắp xếp cho về nước gặp mặt và trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây 42 năm, giữa bối cảnh chiến sự diễn ra ác liệt tại hai miền đất nước.

Kieu bao VN o Thai Lan tham BacKiều bào Việt Nam ở Thái Lan thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch
(Ảnh tư liệu)

Niềm xúc động hơn 40 năm chưa phai dấu

Bước qua tuổi 80, dù sức khỏe đã yếu, đi lại phải nhờ hỗ trợ của xe đẩy nhưng giọng Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà vẫn hào sảng, say sưa kể lại những kỷ niệm xúc động khi vinh dự được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch.

Đó là một buổi chiều đầu năm 1969, trong lúc tổ chức Đoàn Văn nghệ phục vụ Hội nghị Paris 4 bên, bàn về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam, bác sĩ Hà gặp ông Lê Đức Thọ (lúc đó là cố vấn đặc biệt cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị). Ông Thọ bày tỏ cảm kích về những hoạt động yêu nước của Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp do bác sĩ Hà tổ chức. “Đặc biệt, sau nhiều lần gặp mặt ngắn ngủi, ông Thọ hỏi tôi có nguyện vọng gì không. Lúc đó tôi còn trẻ và mơ ước được một lần gặp mặt lãnh tụ tại quê nhà từ rất lâu nên trả lời ngay: “Thưa đồng chí, tôi chỉ có nguyện vọng duy nhất là được gặp Bác Hồ. Nghe xong, ông Thọ gật đầu”.

Theo sắp xếp của tổ chức, đầu năm 1969, bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà từ Paris về Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đặc biệt, là một sự kiện không thể nào quên đối với bác sĩ Hà. Đó là ngày 20-1-1969. “Đúng 7 giờ sáng, đồng chí Vụ phó Bộ Văn hóa – Thông tin đến bảo tôi thu xếp vào Phủ Chủ tịch. Ngay lúc tới nơi, tôi đã thấy Bác trong bộ trang phục giản dị, cùng đi bên cạnh có ông Vũ Kỳ (Thư ký riêng của Bác) và ông Phạm Văn Đồng”. Nói tới đây, bác sĩ Hà không kìm nén được cảm xúc: “Lúc đó tôi chỉ biết nhìn Bác rồi khóc. Không hiểu vì sao nữa, nhưng lần đầu gặp Bác, tôi thấy Bác ốm quá, da xanh xao, nhưng giọng nói rất ấm và khỏe”.

Trong cuộc nói chuyện kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ, Bác Hồ hỏi thăm tình hình phong trào học sinh, sinh viên tại Pháp. Bác nhắc đến tên một số đồng chí khi còn học tập và làm việc tại Pháp. Đặc biệt, Bác gửi lời thăm hỏi tới bà Gerervie’ne, chủ nhiệm tờ báo “Nước Pháp buổi chiều”. Dặn dò về công tác vận động sinh viên Việt Nam tham gia vào phong trào đấu tranh tại Pháp, Người lấy trong túi áo ra một bài báo của Thông tấn xã Việt Nam với tựa đề về sự kiện treo cờ mặt trận trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris, gần nơi diễn ra Hội nghị Paris. Đại ý Bác nói, đây phải là những người bạn Pháp thực sự ủng hộ cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam, mới có nghĩa cử đẹp như vậy. Do đó, phải hết sức trân trọng tới những tình cảm của họ. “Ấn tượng nhất là trước lúc chia tay, Bác đã gọi ông Vũ Kỳ lại và bảo lấy một tấm hình của Người, rồi tự tay viết dòng chữ “Thân mến tặng kiều bào tại Pháp” và phía dưới ký tên “Bác Hồ”. Sự chu đáo, cẩn thận của Bác khiến tôi hết sức xúc động”.

Cuộc gặp mặt tuy ngắn ngủi, nhưng đó lại là một kỷ niệm để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời của bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà.

Kiều bào nhớ ơn Người

Chia tay bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, chúng tôi có chuyến viếng thăm “không hẹn trước” với ông Bùi Mạnh Hải, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài. Dù rất bận rộn với công việc tiếp xúc cử tri khi được Ủy ban Bầu cử Trung ương giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên ông Hải vẫn dành thời gian tiếp chúng tôi.

Kể về những kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hải bồi hồi nhớ lại: “Khoảng 10 năm trước khi Bác mất, hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào lúc giao thừa, Bác lại đều đặn xuất hiện trên Đài phát thanh đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sĩ cả nước. Cả gia đình tôi ngồi quây quần để nghe lời chúc tết của Bác qua đài phát thanh. Cảm giác rất hồi hộp, xốn xang”.

Khi đang tham gia sửa chữa tàu thủy phục vụ cho chiến trường miền Nam tại Mạo Khê – Đá Vách (Quảng Ninh), tôi hay tin Bác mất. Thế là cả đơn vị đều ngưng làm việc. Riêng tôi một mình đi xe đạp từ Quảng Ninh về Hà Nội, vừa đi vừa nghe đài phát thanh thông báo về lễ tang của Bác, nước mắt cứ ứa ra, giống như người thân yêu nhất trong gia đình vừa ra đi vậy.

Trong quá trình công tác, gắn bó với bà con kiều bào ở các nước, ông Hải bày tỏ ấn tượng nhiều nhất với kiều bào tại Pháp và Thái Lan. “Ở Pháp, nhiều nơi sinh hoạt của bà con kiều bào luôn có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh; còn ở Thái Lan thì cùng với bàn thờ Bác, còn có cả bàn thờ các vua Hùng. Hầu như ở đâu cũng vậy”. Lý giải về tình cảm đặc biệt mà bà con kiều bào tại Pháp và Thái Lan dành cho Bác, ông Hải khẳng định: “Nước Pháp là nơi Bác Hồ có thời gian hoạt động lâu nhất, dễ hiểu kiều bào ở đây có tình cảm đặc biệt đối với Bác. Còn đối với kiều bào tại Thái Lan, tôi còn nhớ vào năm 1960, khi chuyến tàu đầu tiên chở hơn 900 kiều bào từ Thái Lan di tản về nước cập cảng Hải Phòng, Bác Hồ đã ra tận cảng để đón, thăm hỏi sức khỏe, động viên bà con kiều bào. Cử chỉ của người rất ân cần, sâu sát và tâm lý. Hành động thể hiện Người là một lãnh tụ vĩ đại trong lòng kiều bào”.

Ngày hôm nay, khi nước nhà hưởng thái bình hơn 36 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không còn nữa nhưng hình ảnh của Người, sự vĩ đại của Người vẫn trường tồn trong trái tim của đồng bào, chiến sĩ cả nước, cũng như hàng triệu kiều bào đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài.

Theo Đại Đoàn Kết
Thúy Hằng (st)

Thư gửi Trung đội du kích Kim Thành (3-1948)

Cảm ơn các chú đã gửi biếu tôi 1 cái áo mưa lấy của giặc. Quý hơn nữa, là các chú hứa: luôn luôn cố gắng lấy vũ khí của địch giết địch.

Nay là dịp tốt cho quân du kích, cũng như cho Vệ quốc quân thi đua nhau giết cho nhiều giặc, cướp cho nhiều súng để giật giải thưởng trong cuộc vận động Luyện quân lập công. Các chú phải cố gắng lên.

Một điều nữa các chú phải luôn luôn nhớ: Du kích là như cá, nhân dân là như nước.

Muốn giết địch thắng trận, thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp, thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi.

Chúc các chú ra sức tranh đấu và nhiều thắng lợi.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Quân du kích,
số 2 và 3, ngày 15-4-1948.
cpv.org.vn

Trả lời điện của một nhà báo nước ngoài (3-1948)

Hỏi:

Thưa Chủ tịch,

Tôi kính trọng chúc Chủ tịch nǎm mới muôn sự tốt lành và rất cảm ơn Chủ tịch trả lời câu hỏi sau đây:

1. Kết quả nǎm đầu của cuộc kháng chiến thế nào. Và triển vọng nǎm nay sẽ thế nào? Trong nǎm nay có thể đi đến hoà bình không?

2. Theo tin Pháp, ông Bôlae có nói rằng: Ông Bảo Đại chịu nhận điều kiện quân đội Việt Nam sẽ ở dưới quyền chỉ huy của Pháp. Tin ấy có thực không?

Nếu Chủ tịch vui lòng cho biết vấn đề gì thêm thì tôi rất cảm ơn.

Trả lời:

Tôi cảm ơn ngài về lời chúc nǎm mới. Và tôi xin chúc ngài một nǎm mới tốt đẹp.

1. Trong nǎm kháng chiến vừa qua, quân đội Pháp đã mất hơn 60.000 người chết và bị thương với một số phi cơ, tàu thuỷ và võ khí. Quân đội Việt Nam mất 1/6 số đó, vì chúng tôi đánh theo lối du kích.

Kết quả quân Pháp chiếm đóng những thành phố như Huế, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác. Nhưng 95% lãnh thổ Việt Nam vẫn ở dưới quyền Chính phủ Việt Nam.

Triển vọng nǎm nay là cuộc chiến tranh có thể gay go hơn. Song dù phải hy sinh và cực khổ mấy, Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng quyết kháng chiến đến cùng để tranh kỳ được thống nhất và độc lập thực sự.

Thực dân Pháp thường phao ra những tin không đích xác. Ông Bôlae muốn nói gì thì nói. Song ông Vĩnh Thuỵ là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông ấy không thể đàm phán hoặc hành động gì trước khi Chính phủ Việt Nam đồng ý. Vả chǎng nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp. Điều kiện như thế thì ngoài bọn phản quốc ra, không có một người Việt Nam chịu nhận, Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng vậy.

Hơn 80 nǎm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần nữa.

2. Tôi chỉ thêm ý kiến này: Trong cuộc Thế giới đại chiến lần thứ hai, các nước dân chủ đã hy sinh hàng triệu người để giữ tự do dân chủ cho thế giới.

Trong Hiến chương Đại Tây Dương, các nước đã trịnh trọng tuyên bố thừa nhận các dân tộc độc lập. Hiến pháp của nước Pháp cũng tuyên bố rằng: Nước Pháp sẽ không dùng vũ lực với các dân tộc khác.

Thực dân phản động Pháp gây nên cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam tức là chúng đã phá hoại Hiến chương Đại Tây Dương. Chúng đã phá hoại Hiến pháp của nước Pháp. Nhân dân Việt Nam bất đắc dĩ phải kháng chiến để tranh thống nhất và độc lập. Thế là nhân dân Việt Nam tôn trọng Hiến chương Đại Tây Dương, theo một tôn chỉ cùng các nước dân chủ.

ở các nước Âu Mỹ cũng như ở các nước khác vẫn có những người dân chủ lên tiếng bênh vực Việt Nam. Song những tiếng đó vẫn còn thưa thớt. Tôi mong rằng những đoàn thể dân chủ ở các nước cũng như ở Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam một cách thiết thực hơn.

Nước Mỹ và nước Anh thừa nhận Phi Luật Tân và ấn Độ, Diến Điện độc lập. Hai cường quốc đó đã cho nước Pháp một bài học chính trị rất khéo và quang minh. Nếu thực dân Pháp vẫn khư khư giữ chặt tham vọng cũ thì chúng sẽ thất bại. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng.

Chào ngài
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Lưu trữ Bộ Ngoại giao.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr. 69-71
cpv.org.vn

Thư gửi các vị thân hào, thân sĩ và đồng bào thôn Hải Lạng, xã Vĩnh Thành (3-1948)

(Nhờ UBKCHC tỉnh chuyển)

Tôi xem báo Công dân thấy rằng: Các vị thân hào, thân sĩ, và đồng bào Hải Lạng, sau khi đã tự phá nhà cửa để tản cư, còn góp nhau 2000 đồng và đem cờ xí trong đền may thành áo trấn thủ để giúp chiến sĩ mùa đông.

Cử chỉ ấy đã chứng minh rằng: Do các vị thân hào, thân sĩ kêu gọi đồng bào Hải Lạng đã tỏ rõ cái chí kiên quyết kháng chiến, và tấm lòng vì nước quên nhà.

Tôi xin thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào, và thay mặt chiến sĩ cảm ơn đồng bào. Và sẽ nêu cái gương yêu nước và hy sinh của đồng bào Hải Lạng cho quốc dân đều biết.

Có nước thì sẽ có nhà, chúng ta kiên quyết phá hoại để đánh giặc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau xây đắp nhà cửa, những phố làng đường hoàng và đẹp đẽ hơn, xứng đáng với đời sống mới của nhân dân Việt Nam mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Chúng ta phá hoại được, chúng ta nhất định kiến thiết được.

Tôi chúc đồng bào khoẻ mạnh và cố gắng.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 878, ngày 29-3-1948.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào An Phú và Vǎn Giáo (Nghĩa Hưng) (3-1948)

Tôi được biết rằng đồng bào đã bỏ sự ǎn uống hàng nǎm, đem ruộng hậu và huê điền đấu giá được 3000 đồng giúp quỹ Mùa đông binh sĩ.

Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào và thay mặt chiến sĩ cảm ơn đồng bào.

Đồng bào đã bỏ sự ǎn uống hoang phí, thế là thực hành chữ Kiệm, thực hành đời sống mới. Lại đem số tiền tiết kiệm được, giúp chiến sĩ, thế là thiết thực ủng hộ kháng chiến.

Tôi mong rằng: từ đây, đồng bào sẽ hǎng hái thi đua tham gia các công việc kháng chiến, như tǎng gia sản xuất, giúp đỡ bộ đội, phát triển bình dân học vụ, v.v..

Như thế là đồng bào giúp sức để làm cho trường kỳ kháng chiến chóng thắng lợi, thống nhất độc lập chóng thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr.248.
cpv.org.vn

Tư cách người công an cách mệnh (3-1948)

Tháng 3 nǎm 1948

Gửi đồng chí Hoàng Mai (1) ,

Bác đã nhận được thư và báo cháu gửi tặng Bác. Bác thấy có sự cố gắng, đáng hoan nghênh. Nhưng báo theo cháu nói, từ 24 đến 32 trang thì dài quá. Cần làm ngắn lại và viết những vấn đề thật thiết thực, mọi người đọc đều có thể hiểu và làm được. Như thế mới có tác dụng giúp đẩy mạnh công tác, đẩy mạnh thi đua. Trên báo, cần thường xuyên làm cho anh chị em công an nhận rõ công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc.

Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong.

Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức. Tư cách người công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tuỵ.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng. Những điều đó, chẳng những nên luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi các anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ǎn, phòng ngủ, v.v.).

Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v.. Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn giữ lễ phép. Tránh hách dịch, v.v..

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Tài liệu lưu tại Bộ Nội vụ.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.75-76.
cpv.org.vn

————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Nhớ Bác khôn nguôi

Tôi  may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần, đó là những giây phút thiêng liêng, đã đi theo tôi suốt những năm tháng từ trung niên cho tới nay, khi đã qua cái tuổi “xưa nay hiếm”. Bác có tấm lòng nhân từ thân ái với cả những người làm bảo vệ và phục vụ như chúng tôi. Bác lại dành tình cảm rất đặc biệt, vừa thân thương, vừa ấm áp, lại rất thiêng liêng cho chúng tôi – những người lính cận vệ.

nho Bac khon nguoiBác Hồ đứng giữa hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Trà tại Việt Bắc cùng vớiTiểu đội võ trang bảo vệ phái đoàn Nam Bộ

Xuất thân từ một gia đình rất nghèo ở xã Thành Triệu, huyện Sóc Sải (nay thuộc huyện Châu Thành), tỉnh Bến Tre, tuổi thơ tôi đã trải qua những ngày tháng, cơm không đủ ăn, áo không có để mặc, ngủ chỉ có một chiếc  nóp; không được học hành, cách mạng đã đổi đời tôi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tôi tham gia Ðội Thanh niên Tiền phong. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, chúng đưa quân chiếm tỉnh lỵ Bến Tre, lấn chiếm đóng đồn tại huyện Sóc Sải, tôi bị bắt. Tên chỉ huy nói: “Mày là Việt Minh theo Hồ Chí Minh phải không?”. Tôi nghe mà không biết Hồ Chí Minh là ai. Bọn chúng tra khảo tôi rất dã man, sau đó tiếp tục hỏi: “Mày chỉ ai làm Việt Minh ở địa phương mày, tao thả, nếu mày không chỉ, sẽ bị xử bắn”. Tôi kiên quyết không nói một lời, nên bị chúng trói và bịt mắt đưa ra chợ Sóc Sải để xử bắn. Lúc đó, chợ họp rất đông. Tôi yêu cầu, trước khi bắn, cứ mở trói và không bịt mắt. Không ngờ, chúng đồng ý. Ðợi khi chúng vừa mở trói và mở bịt mắt là tôi liền phóng nhanh vào đám đông người đang họp chợ. Ðịch rượt theo, chúng bắn chỉ thiên tứ tung, may là nhờ bà con chạy tán loạn lên để che chở cho tôi chạy thoát.

Một lần, Ban Tuyên truyền lưu động Khu 8 do đồng chí Bảo Ðịnh Giang làm Giám đốc, đến biểu diễn văn nghệ tại chợ Sóc Sải, tôi đi xem, thấy có một anh thanh niên hát bài ca về Hồ Chí Minh say sưa, lúc đó, tôi mới biết Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của đất nước. Từ đó, trong tôi dấy lên niềm yêu quý và ao ước được gặp Bác… Ngày 15-3-1948, đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Khu VIII nhắc chúng tôi rèn luyện sức khỏe để sẵn sàng bảo vệ phái đoàn Nam Bộ ra chiến khu Việt Bắc, báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình kháng chiến ở miền Nam. Tôi sung sướng như được nhận phần thưởng.

Tháng 4-1948, Ðoàn đại biểu Nam Bộ gồm 20 người, trong đó có tám đại biểu, 11 bảo vệ, một y sĩ. Ðồng chí Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn, đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Phó đoàn. Ðoàn rời Ðồng Tháp Mười ngày 15-4-1948, ròng rã mấy tháng trời, đến ngày 5-10-1948, mới tới chiến khu Việt Bắc.

Có thể nói, trong suốt hành trình dài hàng ngàn dặm từ miền Nam ra Việt Bắc, nguồn động viên tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi chính là ước muốn mau được gặp Bác Hồ kính yêu. Chỉ nghĩ đến giây phút đó thôi, chúng tôi đã vơi hết mệt nhọc đường trường.

Và, giây phút chờ đợi ấy đã đến. Gặp được Bác, chúng tôi chạy ùa vào Bác như những đứa con đi xa lâu ngày sà vào ôm người cha kính yêu, đầy thương nhớ, trông chờ, rối rít, nghẹn ngào không nói nên lời. Chúng tôi quấn quýt quanh Bác, xúc động sờ lên bộ bà ba nâu của Bác, thổn thức nắm bàn tay ấm của Bác.

Khi ấy, tóc Bác bạc chưa nhiều. Bác bình dị từ trong cách ăn mặc đến cử chỉ, lời nói. Những cảm xúc của chúng tôi lúc ấy thật khó có thể diễn tả được. Cả tiểu đội vũ trang chúng tôi quây quần quanh Bác, Bác ân cần hỏi thăm từng người về gia cảnh, quê quán, đơn vị, những chiến công lẫn những gian khổ. Bác không chỉ quan tâm chuyện quốc gia đại sự mà còn quan tâm đến tình cảm riêng tư của chúng tôi. Rồi Bác bảo mọi người chụp ảnh với Bác để kỷ niệm.

Lần đó, Bác nói với chúng tôi: Giặc Pháp muốn bám rễ ở Nam Bộ để thôn tính nước ta. Chúng nó hoàn toàn ảo tưởng. Ðồng bào Nam Bộ đã chặn chân chúng. Bác mong các cháu phải tin tưởng mà công tác và chiến đấu cho thắng lợi độc lập. Rồi Bác ân cần nhắc nhở, đại thể: “Thời tiết ở đây thay đổi bất thường, không như thời tiết ở Nam Bộ, các cháu phải giữ gìn sức khỏe để làm nhiệm vụ và học tập những kinh nghiệm tốt nhằm phục vụ đồng bào”. Sau đó, đồng chí Trần Văn Trà phân công người đi làm nhiệm vụ, người đi học.

Khoảng tháng 2-1949, chúng tôi về Nam. Bác dặn: Nhớ báo cáo với đồng bào chiến sĩ rằng, Đoàn đã gặp Bác, Bác vẫn mạnh khỏe. Bác chuyển lời hỏi thăm sức khỏe đến toàn thể đồng bào, chiến sĩ miền Nam, động viên mọi người cố gắng chịu đựng gian khổ để đánh giặc. Bác và Trung ương luôn nhớ đến đồng bào, chiến sĩ. Sau đó, Bác bắt tay từng người một, có người cảm động ôm Bác khóc nức nở.

Tháng 6-1952, anh Ba Lê Duẩn được Bác Hồ gọi ra chiến khu Việt Bắc báo cáo tình hình miền Nam. Tôi lại theo Ðoàn công tác của anh Ba đi bộ dọc dãy Trường Sơn suốt mấy tháng ròng mới ra tới chiến khu Việt Bắc, đến ngày 20-11-1952.

Biết tin, Bác Hồ đến thăm đoàn ngay, Bác bắt tay và ôm hôn anh Ba Lê Duẩn. Tôi vô cùng xúc động khi Bác vẫn nhận ra tôi trong lần gặp trước đây, lúc đi với đoàn anh Trần Văn Trà.

Từ cuối năm 1952, cho đến đầu năm 1954, anh Ba Lê Duẩn làm việc tại Văn phòng Trung ương Ðảng ở chiến khu Việt Bắc. Hàng ngày, anh Ba làm việc với Bác Tôn và anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Ðồng, anh Lê Văn Lương, anh Tố Hữu, anh Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác. Suốt mấy tháng liền, anh Ba cũng thường xuyên vượt đèo De qua nhà Bác Hồ ở Tân Trào, làm việc.

Cuối năm 1953, anh Ba sang nhà Bác làm việc đến khuya, phải ngủ lại đêm. Khoảng một giờ đêm nghe tiếng máy bay địch, tôi giật mình thức dậy, đã thấy Bác Hồ và anh bảo vệ cầm cái chăn chiên căng ra theo hướng máy bay địch. Tôi bối rối: “Sao Bác không gọi cháu?”. Bác nói: “Ðể cháu ngủ, mai còn làm việc”. Tôi cảm động đến mức không thể nào chợp mắt được, cứ nằm thao thức chờ trời sáng.

Ðầu năm 1954, Bác Hồ gọi anh Ba sang làm việc với Bác và Bộ Chính trị, bàn bạc công việc từ sáng đến gần nửa đêm. Ðã khuya, Bác bảo anh Ba và mọi người ngủ lại, sáng về. Sáng sớm tinh mơ, mọi người vẫn còn ngủ, thì Bác đã thức dậy trước, sau đó, mọi người thức dậy cùng Bác tập thể dục.

Khi chia tay, Bác Hồ ôm hôn anh Ba, rồi các đồng chí ở Bộ Chính trị cũng ôm hôn anh Ba và chúc sức khỏe. Tôi ngạc nhiên về cử chỉ thân mật khác ngày thường này. Tôi đến thưa Bác, Bác bắt tay và dặn tôi: “Cháu nhớ giữ gìn sức khỏe để đi đến nơi về đến chốn”.

Sau này khi anh Ba ra Hà Nội làm việc lâu dài bên Bác và Bộ Chính trị, tôi nhớ khoảng một giờ chiều, vào một ngày tháng 2-1961, Bác Hồ đến nhà số 6 đường Hoàng Diệu, Hà Nội để làm việc với anh Ba Lê Duẩn. Lúc ấy anh Ba còn đang nghỉ trưa. Bác Hồ nói nhỏ với chúng tôi: “Cứ để chú ấy nghỉ thêm chút nữa, các cháu đừng gọi chú ấy dậy, Bác cháu ta ngồi đây nói chuyện”. Bác hướng về phía tôi hỏi: “Cháu lâu nay vẫn đi theo chú Duẩn à?”. Tôi hơi giật mình vì đã hơn bảy năm rồi mà Bác vẫn còn nhớ. Tôi thưa Bác: “Dạ, từ cuối năm 1952 ở Việt Bắc cho đến nay, cháu vẫn theo phục vụ anh Ba”.

Bác nói chuyện với chúng tôi một lúc thì anh Ba đi từ trên lầu xuống chào Bác. Bác nói: “Ðể chú nghỉ một lúc nữa, sao cháu nào gọi dậy?”. Anh Ba mời Bác lên lầu làm việc cho đến ba giờ chiều.

Ngày 19-5-1966, dịp sinh nhật lần thứ 76, Bác Hồ lên nghỉ tại nhà khách Hồ Tây. Bác Hồ cho gọi chủ nhiệm nhà khách lên gặp. Bác nói liền: “Cháu lên đây rồi à!” – “Thưa Bác, được sự đồng ý của anh Ba Duẩn, Văn phòng Trung ương Ðảng điều cháu lên làm chủ nhiệm nhà khách Hồ Tây ạ”. Hôm đó, Bác bảo tôi chuẩn bị bữa cơm để Bác mời thư ký, bác sĩ, bảo vệ, lái xe, phục vụ và ban chủ nhiệm nhà khách. Bác còn dặn thêm “… nhớ làm cơm ngon nhưng đừng lãng phí”.

Ðúng 11 giờ 30 phút hôm ấy mấy Bác cháu cùng dùng cơm. Trước khi ăn, Bác đi qua một lượt xem các món ăn, và dặn “mọi người nên ăn cho hết”. Hôm đó, tôi vinh dự được đại diện anh em chúc mừng sinh nhật lần thứ 76 của Bác. Viết bài này, tôi xin thắp nén tâm nhang để hứa với Bác suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Theo Nguyễn Văn Hoành (Tư Hoành)
Nguyên Phó Cục trưởng T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Ðảng
Huyền Trang (st)/nhandan.com.vn

Điện vǎn gửi linh mục Lê Vǎn Yên (Bắc Ninh) (3-1948)

Thưa ngài,

Tôi rất vui lòng được UBKC Khu XII báo cáo rằng: Ngoài sự làm tròn nhiệm vụ một uỷ viên trong UBKC tỉnh Bắc Ninh, ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa đồng bào lương và giáo. Ngài luôn luôn tận tâm sǎn sóc các anh em thương binh. Ngài lại không nhận lương phụ cấp.

Như thế là ngài đã nêu cao cái gương Cần, Kiệm, Liêm, Chính cho mọi người. Ngài đã và đang giúp một cách đắc lực vào công cuộc kháng chiến cứu nước.

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ khen ngợi ngài. Tôi chắc chắn rằng với những người đại biểu hy sinh kiên nhẫn như ngài thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 3 nǎm 1948
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, chi nhánh
số 6, số 907, ngày 22-4-1948.
cpv.org.vn