Tag Archive | Hồ Chí Minh

Giáo sư Trần Hữu Tước xúc động nhớ về Bác Hồ

Giáo sư Trần Hữu Tước kể: “Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời: Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi, tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh”.

GS tran huu tuoc 1Giáo sư Trần Hữu Tước và Giáo sư Tôn Thất Tùng

Lời giới thiệu

Giáo sư Trần Hữu Tước là một trong những vị giáo sư đầu ngành của nền y học Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1913 tại phố Bạch Mai, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ nội trú các bệnh viện Pa-ri với luận văn Phương pháp tạo hình tự thân tai, áp dụng sau khi nạo vét xương chũm, ông thi đỗ và trở thành một cán bộ Khoa Tai – Mũi – Họng, Bệnh viện Nhi khoa Necker ở Pa-ri.

 Từ năm 1940 đến năm 1946, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý thứ nhất Khoa Tai – Mũi – Họng. Trong mười năm từ năm 1936 đến năm 1946, ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về Tai – Mũi – Họng trên các tạp chí chuyên ngành ở Pháp, có công trình được đưa vào Bách khoa toàn thư y học Pháp. Ông cũng là một trong những người đầu tiên mổ điếc theo phương pháp Lempert ở Pa-ri.

 Năm 1946, do thiết tha mong muốn được đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, bác sĩ Trần Hữu Tước tình nguyện trở về nước trên chuyến tàu thủy cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một số trí thức Việt kiều nổi tiếng khác như Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Võ Quý Huân, v.v. Từ đó cuộc đời người thầy thuốc nổi tiếng ấy gắn liền với đất nước, quê hương.

 Ngay từ tháng 11 năm 1946, vừa mới về tới Hà Nội, ông đã bắt tay xây dựng chuyên ngành Tai – Mũi – Họng của Trường Đại học Y Hà Nội, do Giáo sư Hồ Đắc Di làm Hiệu trưởng. Ông chứng kiến những ngày đầu cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra tại Hà Nội, tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn Thủ đô và ghi lại thiên bút ký rất chân thật và cảm động nhan đề Thủ đô kháng chiến.

Rời khỏi Thủ đô, chỉ mang theo 30kg dụng cụ y tế, bác sĩ Trần Hữu Tước đi tham gia cuộc kháng chiến ba nghìn ngày, lúc ở Liên khu III, Liên khu IV, khi ở Việt Bắc, đi đầu xây dựng nền móng cho ngành Tai – Mũi – Họng ở nước ta.

Năm 1946, khi từ Pa-ri về tới Hà Nội, bác sỹ nặng 75kg, đến năm 1951, chỉ còn nặng 42 kg vì bị bệnh đường ruột rất nặng! Bạn bè ướm hỏi ông có nên quay lại Hà Nội chữa bệnh một thời gian, nhưng ông kiên quyết từ chối. “Có ra sao thì cũng ở trên mảnh đất tự do, thật chưa bao giờ tâm hồn thảnh thơi như vậy, chỉ hơi chút bực mình vì bị bệnh, chưa làm gì được như ý muốn”, bác sỹ Trần Hữu Tước ghi lại.

Mấy lần Bác Hồ và “anh Tô” điện vào Thanh Hóa giục ông rời Nông Cống lên Tân Trào để sang nước bạn chữa bệnh, ông mới chịu đi bộ, mỗi ngày chỉ được 5 – 6 km, lên Tuyên Quang. Sau đó, ông được xe Jeep chở lên biên giới, rồi đi tàu hỏa sang Bắc Kinh mổ cắt khối u ở ruột, chữa lành bệnh đại tràng.

 Chúng tôi trân trọng giới thiệu sau đây một đoạn trích trong thiên hồi ký dài của Giáo sư Trần Hữu Tước kể lại sự quan tâm săn sóc nghĩa nặng tình sâu của Bác Hồ dành cho ông trong những ngày bị trọng bệnh giày vò.

 Hàm Châu  

GS tran huu tuoc 2Bác Hồ và GS Trần Hữu Tước sau Ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954

Mấy lần Trung ương và Bác điện vào Thanh Hoá, giục tôi lên Việt Bắc để ra nước ngoài điều trị. Khó nghĩ làm sao! Đi thế nào từ Nông Cống lên Châu Tự Do (tức huyện Sơn Dương, Tuyên Quang hiện nay). Lại điện nữa, giục đi. Thôi, quyết ra đi, dù khó nhọc, nhưng mấy năm nay rồi chưa gặp Bác, có lẽ là dịp hiếm có, nên thu xếp để đi. Đi bộ, mỗi ngày 5 – 6 cây số, chỉ đi buổi sớm hay chiều, vì suốt ngày Pháp cho máy bay bắn phá các đường giao thông chính. Kể cũng ung dung, tranh thủ mệt thì nghỉ, khỏe lên tý chút thì lại đi. Nhiều quãng đường thật đẹp, hấp dẫn, nên thơ.

 Dốc Đoan Hùng sao mà cao và trơn thế! Đã đến Việt Bắc, sắp sửa được gặp Bác. Bao nhiêu vất vả, đường trường gần như giảm nhẹ. Bắt đầu đi vào những con đường rừng rậm rạp, quanh co, khó có thể tưởng tượng được, ngoặt trái, rẽ phải, lại đi chếch, lội suối, rồi  trèo đèo… Một chặng rừng âm u!

 Một cái máy bay “Bà già” vè vè trên đầu, đang thòng móc xuống để tìm phá đường dây điện thoại của ta. Rồi một máy bay khu trục “Nhả Lửa” đột nhiên xuất hiện, nhào xuống xả một băng đạn. Cứ nấp vào một gốc cây to, và theo dõi. Chúng quay lại, thì ta chạy quanh gốc cổ thụ. Chán rồi, chúng bỏ đi. Ta lại thủng thẳng lần bước.

 Vào ATK, một buổi chiều. Một ngôi nhà tre nứa, nhưng khá đàng hoàng, bên bờ suối, ẩn hiện dưới hàng cây vài ba chục thước cao! Từ mấy năm nay, chưa bao giờ nhìn thấy một căn nhà cao ráo, thoáng rộng như vậy. Cái giường tre nứa cũng dài rộng, đơn sơ nhưng ra vẻ khang trang. Trên mặt bàn vuông lát nứa, thấy có mấy chai rượu vang trắng, đỏ, lại có cả rượu mạnh, cùng một số đồ hộp chiến lợi phẩm Bác đã gửi sang cho.

 Đêm hôm đó, tuy như xong một cuộc hành trình kéo dài gần một tháng rưỡi, thấm mệt, nhưng không sao ngủ ngay được, trằn trọc với biết bao cảm xúc và suy nghĩ. Chắc Bác cũng ở gần đâu đây, có lẽ ngày hôm sau sẽ được gặp. Trời đã về khuya, nước suối chảy ngay bên, rì rào trong thanh vắng, và như to dần về sáng…

 Rừng bao phủ xung quanh, rạt rào cơn gió sớm đột nhiên thủ thỉ thù thì như trò chuyện riêng tư ngay dưới tán rừng Việt Bắc. Tôi vừa bước vào một khoảng sân nhỏ, thì Bác đã nhanh nhẹn từ trong một cái nhà gần đấy đi ra! Chắc Bác ngạc nhiên lắm khi thấy tôi nay chỉ còn đôi mắt kính cận gọng đen, với một cái cổ dài lêu nghêu, chân tay da bọc xương trong bộ quần áo nâu rộng!

 Bác giơ tay bắt, và còn ôm lấy! Phút khó quên và đôi chút nghẹn ngào. Bác bớt gầy hơn mùa đông năm 1946, và rất nhanh, mạnh. Vẫn đôi mắt sáng chói, dịu hiền, nhưng râu tóc đã thoáng nhiều sợi bạc. Với một giọng ấm áp, ân cần, Bác hỏi kỹ về bệnh tật, rồi về công tác phát triển chuyên khoa Tai – Mũi – Họng. Bác cũng nói qua tình hình trong nước và nước ngoài.    Cuối cùng Bác dặn:

 – Có điều kiện, chú nên ra nước ngoài điều trị. Còn bao nhiêu công việc để mà làm…

 Bác ra về.

 Những ngày nằm chờ thu xếp, làm thủ tục xuất cảnh, và chuẩn bị phương tiện để ra đi, thật thanh thản! Đọc một số báo chí trong và ngoài nước, vài cuốn sách ngoại văn.

 Anh Tô một buổi tối mời tôi đến ăn cơm, nhưng chỉ nói chuyện được một lúc, sau cơn đau dội lên, ôm bụng đi về, không sao ngồi ăn được nữa.

 Rồi chiều hôm đó, từ trong rừng Việt Bắc, còn ánh mặt trời trên đầu ngọn cây, lại ra đi lần nữa… Sau bao nhiêu năm, lại nhìn thấy chiếc xe Jeep nhỏ ở giữa rừng âm u, cây cỏ um tùm. Sắp lên xe để ngồi cạnh anh lái xe, bỗng nghe vang lại một tiếng ngựa phi nhịp nhàng đang phi nước đại…

 Trời! Bác đến tiễn tôi đi Trung Quốc chữa bệnh!

Cũng có lẽ Bác thấy tôi gầy còm như vậy, chắc gì đã có ngày gặp lại, nên Bác đến. Cảm động nghẹn ngào!

Bác trao cho tôi phong thư do chính tay Bác viết bằng chữ Hán để chuyển cho một cán bộ đại diện Chính phủ ta ở nước bạn. Bác dặn tôi chớ nói mình là thầy thuốc và ân cần khuyên luôn cố gắng yên tâm chữa bệnh.

Thấy tôi dô cả xương mà chỗ ngồi, chỗ tựa, ghế xe Jeep rất cứng, Bác gọi lấy ra hai cái gối cỏ để chèn cho khỏi xóc đường trường. Rồi thấy đầu tôi dễ va vào khung sắt nơi mui xe, Bác lấy ngay cái mũ vàng của Bác chụp lên đầu tôi, và lần nữa Bác dặn phải chú ý!

Xe chuyển bánh. Bác đứng một lúc, vẫy tay theo. Rồi Bác nhảy lên ngựa. Lúc ngoái đầu lại, tôi chỉ còn thoáng thấy bóng con ngựa hồng trong ánh chiếu toả rạng. Và trên lưng con ngựa đang phóng, Bác gò cương phi về phía trước, tóc bạc tung bay ra phía sau, trong trùng điệp núi rừng của Tổ quốc thiêng liêng. Đó là một cảnh đẹp tuyệt vời! Bác phi ngựa hồng trong chiều tà Việt Bắc như một ảo ảnh huyền bí nhiều lần hiện lên trong óc tôi trước khi chìm vào giấc ngủ.

Sáu tháng sau, vào lúc 9 giờ đêm, tôi phải mổ cấp cứu, tại một bệnh viện ở Bắc Kinh.

Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh….

 GS. Trần Hữu Tước
Theo dantri.com.vn
Thu Hiền (st)

Thư gửi các phụ lão, các vị thân hào và toàn thể đồng bào tỉnh Phúc Yên (16-7-1947)

Tôi được báo cáo rằng: Các cụ, các ngài rất sốt sắng giúp Chính phủ, đã có nhiều sáng kiến hay, và đã ra sức kêu gọi đồng bào tham gia kháng chiến. Mà đồng bào toàn tỉnh cũng rất hǎng hái hưởng ứng. Cho nên đã có nhiều thành tích tốt.

Tôi thay mặt Chính phủ, cảm ơn các cụ, các ngài và toàn thể đồng bào trong tỉnh.

Đời xưa, nhờ sự kêu gọi của phụ lão, sự cố gắng của thân hào, lòng nhiệt thành của quốc dân, mà tổ tiên ta: Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung đã dẹp nạn ngoại xâm, giữ vững đất nước.

Ngày nay, cũng do lòng yêu nước, do sự thân ái đoàn kết, do sự hǎng hái hy sinh của các cụ phụ lão, các vị thân hào và toàn thể đồng bào, chúng ta nhất định chiến thắng thực dân phản động Pháp.

Chúng ta kiên quyết noi theo lịch sử vẻ vang của tổ tiên, tranh lại thống nhất và độc lập cho dân tộc và xây dựng nền tự do và hạnh phúc cho con cháu muôn đời.

Công cuộc kháng chiến vẫn nhiều, nào giúp đỡ bộ đội, cứu tế, thương binh, nào tǎng gia sản xuất, giúp đỡ đồng bào tản cư, phát triển bình dân học vụ, v.v.. Tôi mong rằng các cụ, các ngài và toàn thể đồng bào Phúc Yên sẽ cố gắng để làm tròn nhiệm vụ của mình và để làm kiểu mẫu cho đồng bào các tỉnh khác.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 16 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.7.
cpv.org.vn

 

 

 

Trả lời một nhà báo nước ngoài (16-7-1947)

Nhiều câu ngài hỏi thì trước đây các báo ngoại quốc và mới rồi đây Hãng REUTER và một nhà báo ngoại quốc khác đã hỏi tôi và tôi đã trả lời. Nhưng ngài đã có lòng hỏi thì tôi cũng sẵn lòng đáp:

1) Quốc hội Việt Nam là do toàn dân đầu phiếu cử ra. Tất cả đàn ông và đàn bà 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử. Cuộc tuyển cử lần đầu ngày 6-1-1946, trung bình là 82 phần trǎm cử tri đã tham gia. Lúc đó có đại biểu của báo ngoại quốc đến xem.

Trưởng ban Thường trực Quốc hội là một vị nho học lão thành, trước đã làm quan đến bực đại thần; Phó trưởng ban là một vị linh mục và một vị đảng viên của Đảng Dân chủ.

2) Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ Việt Minh, Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội, Quốc dân đảng và nhiều vị không có đảng phái nào.

Chính sách đối nội của Việt Nam là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Chính sách đối ngoại là thân thiện với tất cả các láng giềng Trung Hoa, ấn Độ, Xiêm La, Cao Mên, Ai Lao, v.v., mà không thù gì với nước nào.

3) Chúng tôi không chủ trương giai cấp tranh đấu vì một lẽ từng lớp tư sản Việt Nam đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam đã bị tiêu diệt, dân cùng, tài tận 1 . Trái lại chúng tôi chủ trương làm cho tư bản Việt Nam phát triển. Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới có thể phát triển.

Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hoà kinh tế thế giới và giữ gìn hoà bình.

4) Quốc kỳ Việt Nam có hai ý nghĩa, mầu đỏ thì quốc kỳ nhiều nước khác đều có không cần phải giải thích. Sao vàng là:

a) Trung Quốc là một nước to lấy mặt trời làm tiêu biểu. Việt Nam là một nước nhỏ lại có quan hệ mật thiết với Trung Quốc đã mấy ngàn nǎm cho nên lấy ngôi sao làm tiêu biểu.

b) Nǎm cánh ngôi sao là đại biểu cho sự đoàn kết nǎm lớp nhân dân Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh, nay ra đời trong lúc nhân dân Việt Nam nổi lên chống Nhật và đứng về phe các nước Đồng minh.

5) Hội Liên hiệp quốc dân là do những người lão thành có danh vọng đạo đức như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn, v.v., và những người yêu nước không có đảng phái đứng ra tổ chức.

Hội đó đã thực hiện sự đại đoàn kết của toàn dân gồm tất cả các từng lớp đảng phái tôn giáo và dân tộc trong nước Việt Nam. Tinh thần của Hội đó là yêu nước, chương trình là quyết tranh đấu cho Tổ quốc được thống nhất độc lập và dân chủ phú cường.

Có bao nhiêu hội viên tôi chưa rõ. Song lấy những nơi tôi đã biết và suy đoán, có thể nói từ Nam chí Bắc có hàng mười triệu hội viên.

Thí dụ: Chỉ có sáu tỉnh Duyên hải Bắc Bộ, mà chỉ kể phụ nữ mà thôi thì đã có mười hai vạn hội viên.

6) Trí thức Việt Nam đã gánh một phần quan trọng trong cuộc kháng chiến cứu quốc và gánh một phần quan trọng trong công việc kiến quốc. Hiện nay hầu hết nhân viên trong Chính phủ trung ương là người trí thức.

7) Chẳng những Việt Nam mà nước nào cũng có phái phản đối. Nhưng trong lúc Tổ quốc lâm nguy thì tất cả các đảng phái đoàn kết cứu nước. Hiện nay Việt Nam đã thực hiện chính sách đó, song việc mượn tiếng phản đối, mà phản kháng chiến, phản nhân dân, đi theo phe địch như Uông Tinh Vệ ở Trung Hoa, bọn Lavan ở Pháp, thì quốc dân không thể tha thứ, lịch sử không thể khoan dung.

Những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc thì dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh.

8) Bao giờ Pháp thật thà thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất thì chiến tranh sẽ lập tức kết liễu. Chúng tôi sẽ nhờ tư bản và kỹ thuật các nước hữu bang và cả nước Pháp và nhờ sự hǎng hái của Việt Nam mà mau chóng kiến thiết lại mặc dầu hiện nay chiến tranh đã đưa đến một sự phá hoại không thể tưởng tượng.

Ngài cũng biết kinh nghiệm các nước nhất là Trung Hoa kháng chiến bằng cách du kích có thể kéo dài 8, 9 nǎm.

9) Tôi không thể bình phẩm Cao uỷ Bôlae vì tôi chưa gặp ông bao giờ và vì chưa thấy ông thực hiện một chính sách gì cụ thể. Tôi chỉ mong rằng ông Bôlae sẽ lấy tư cách một nhà đại chính trị, thực thà thừa nhận Việt Nam độc lập thống nhất để đưa lại sự thân thiện hợp tác cho hai dân tộc Việt – Pháp. Nếu ông ta làm một cách chính đại quang minh thì ông sẽ thành công.

10) Cám ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ mặc dầu tin Pháp đã mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn.

Chúc ngài mạnh khoẻ.
Ngày 16 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.8-10.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi đồng bào trong những vùng địch tạm chiếm đóng (16-7-1947)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Đã hơn nửa nǎm toàn thể quốc dân hy sinh tranh đấu để tranh quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Chính phủ và toàn thể quốc dân luôn luôn thương cho đồng bào, vì biết rằng đồng bào khốn khổ.

Khổ về tinh thần – Vì cũng đầy lòng yêu nước như mọi người nhưng đồng bào chưa được dịp chen vai thích cánh với toàn thể quốc dân trong công việc đánh giặc cứu nước.

Khổ về vật chất – Vì đồng bào luôn luôn bị bọn thực dân phản động giày vò, hành hạ, uy hiếp, ngược đãi, bị chúng áp bức đủ mọi bề như cá nằm trên thớt.

Chính phủ và toàn thể quốc dân không bao giờ quên đồng bào vì đang lúc mọi người đều được tự do dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì riêng đồng bào bị lâm vào cảnh nô lệ.

Vì những lẽ đó mà Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta không quản gian lao khó nhọc, ra sức chiến đấu hy sinh để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi chỗ nước sôi lửa nóng.

Còn về phần các đồng bào trong vùng địch chiếm thì nên như thế nào?

Nên luôn luôn nhớ rằng:

1. Dù địch có thể cướp bóc của cải ta, hành hạ thân thể ta, nhưng chúng không bao giờ ngǎn trở được lòng yêu nước, chí dũng cảm của ta.

2. Địch quyết không đủ người để canh gác tất cả các phố, các làng, các nhà, vậy ta nên tìm đủ mọi cách giúp đỡ quân du kích của ta trong công việc trừ gian sát địch.

3. Chớ tin những lời chia rẽ, những tin nhảm nhí, do bọn địch và bọn Việt gian phao đồn.

4. Phải luôn luôn giữ vững tinh thần, luôn luôn tin tưởng vào lực lượng của Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta, luôn chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về ta.

Trong lúc viết thư này, một mặt tôi rất đau lòng vì tôi tài hèn đức mọn, chưa đuổi được giặc ngay để đồng bào chịu khổ cực. Song một mặt tôi rất phấn phát, vì tôi chắc rằng trải qua bước cực khổ, thì chúng ta nhất định thành công, cũng như qua khỏi mùa đông, thì chắc chắn mùa xuân sẽ đến.

Đồng bào hãy bền chí, ngày giải phóng sẽ đến!

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!

Thống nhất, độc lập nhất định thành công!

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 16 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.5-6.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” (17-7-1947) (16)

Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.

Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ǎn một bữa để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ǎn một bữa để giúp đỡ chiến sĩ bị thương.

Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh. Nhưng tôi e trong lúc thi hành, hǎng hái thái quá, vậy tôi xin đề nghị:

1) Hôm đó các cụ già thượng thọ, các cháu bé sơ sinh, các bộ đội các mặt trận, những đồng bào đang đau yếu, thì không nên nhịn. Còn các cơ quan, các bộ đội, các trường học, các đoàn thể và toàn thể đồng bào cả nước đều nhịn ǎn một bữa.

2) Đó là một việc nghĩa, mọi người tự động làm, tuyệt đối không cưỡng bức.

3) Các làng, huyện, tỉnh, khu phải thiết thực báo cáo kết quả lên Ban thường trực toàn quốc. Nơi nào 100 phần trǎm nhân dân tham gia thì Ban thường trực sẽ đǎng báo khen. Kết quả cũng phải tính sổ tập trung về Ban thường trực toàn quốc để phân phối cho khắp.

4) Hôm đó tuy các giới, các tổ chức đều hǎng hái tham gia, đặc biệt là đoàn thể phụ nữ, thanh niên và nhi đồng cần phải ra sức tuyên truyền, giải thích và giúp việc.

Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

Tôi xin xung phong gửi 1 chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, 1 tháng lương của tôi, 1 bữa ǎn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trǎm hai mươi bảy đồng (1.127đ.00).

Ngày 17 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.11-12.
cpv.org.vn

———————————

(16) Ngày thương binh liệt sĩ 27-7: Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong nǎm làm Ngày thương binh để nhân dân ta có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu mến thương binh. Thực hiện chỉ thị của Người, một Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở trung ương, khối và tỉnh đã họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn bạc và nhất trí đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm “Ngày thương binh liệt sĩ” đầu tiên trong cả nước.

Từ đó, ngày 27-7 hàng nǎm trở thành “Ngày thương binh liệt sĩ”. Tr.175.

 

 

 

Thư khen bà Bá Huy (27-7-1947)

Thưa bà,

Tôi nhận được báo cáo rằng bà đã hǎng hái giúp đất ruộng, trâu bò, thóc lúa và tiền bạc để lập một an dưỡng đường cho thương binh.

Tôi rất lấy làm vui lòng.

Anh em thương binh đã hy sinh xương máu, để giữ gìn Tổ quốc, bà đã hy sinh tiền của để giúp đỡ anh em thương binh. Như thế là bà đã giúp sức vào công việc giữ gìn Tổ quốc.

Như thế là bà đã làm kiểu mẫu cho đồng bào thực hành cái khẩu hiệu:

“Có tiền giúp tiền, có sức giúp sức,
Đồng tâm hiệp lực, kháng chiến thành công”.

Tôi thay mặt Chính phủ và anh em thương binh cảm ơn bà, và ngợi khen bà.

Đồng thời tôi cũng cảm ơn các phụ lão, các vị thân hào và toàn thể nam nữ đồng bào ở vùng đó, đã giúp công, giúp của với bà, để lập nên an dưỡng đường “Bà Bá HUY”.

Tôi mong bà cùng toàn thể đồng bào vùng đó sẽ luôn luôn chǎm nom giúp đỡ các thương binh.

Ngày 27 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.13.
cpv.org.vn

 

 

 

Đại tá Trần Đăng Khoa – nhớ mãi kỷ niệm 5 lần được gặp Bác Hồ

Trong mưa bom, bão đạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi không hiểu sao cuộc đời mình lại có những phút giây diệu kỳ như thế: 5 lần vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu… Dù khác nhau về thời gian, địa điểm, xúc cảm và tuổi tác, nhưng mỗi lần bên Bác, tôi lại thấy rõ hơn về sự giản dị, gần gũi, ân cần, bao dung của người. Đại tá Trần Đăng Khoa, nguyên Chính trị viên đảo Cồn Cỏ, chia sẻ.

tran dang khoa a1Đại tá Trần Đăng Khoa, nguyên Chính trị viên đảo Cồn Cỏ. Ảnh: Bùi Oanh

Đại tá Trần Đăng Khoa quả cảm băng mình dưới mưa bom, bão đạn cùng đồng đội quyết tử bảo vệ đảo Cồn Cỏ hơn bốn mươi năm về trước nay đã bước sang tuổi 79, nhưng vẫn hoạt bát. Trong căn nhà giản dị tại phường Phú Hiệp, Thành phố Huế, Đại tá Trần Đăng Khoa nhớ về những ngày tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám: “Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, gia đình bị tước đoạt hết ruộng đất, phải đi ở đợ cho địa chủ… Kiếp trâu ngựa luôn nung nấu khát vọng tự do. Cách mạng bùng lên rồi kháng chiến trường kỳ, tôi trốn nhà đi vào bộ đội” – Ông tâm sự.

Mười bốn tuổi, cậu bé Khoa quê Hải Dương, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cùng cha sau này là liệt sỹ Trần Khôi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Cách mạng thành công, Khoa được giao nhiệm vụ chuyển tài liệu, thư từ bí mật cho cán bộ chiến sỹ hoạt động tại Quảng Trị rồi nhập ngũ, trở thành người lính Bộ đội Cụ Hồ. Ông cùng đồng đội vinh dự gặp Bác Hồ tại Quảng Bình (năm 1957) và hai lần tiếp theo vào các năm 1960, 1963 tại Trường Lục quân.

Đại tá Trần Đăng Khoa, nhớ lại, đã ba lần cùng đồng đội vinh dự quây quần bên Bác. Được Bác ân cần giảng giải về con đường cách mạng, dặn dò về nhiệm vụ thiêng liêng người chiến sỹ cách mạng, mối quan hệ quân dân… Nhưng phút giây diệu kỳ trong lần gặp Bác giữa thủ đô Hà Nội, tôi vẫn hồi hộp, thao thức…

tran dang khoa a2Bác Hồ thăm hỏi đồng chí Trần Đăng Khoa tại Đại hội thi đua
Quyết thắng toàn quân năm 1965. Ảnh: Bùi Oanh

Ngày ấy, quân đội Mỹ gây ra sự kiện vịnh Bắc Bộ vào tháng 8 năm 1964 và thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng các hành động chống phá và khiêu khích như nã pháo vào các đảo và một số vùng bờ biển miền Bắc, bắt ngư dân… Đảo Cồn Cỏ nơi vĩ tuyến 17, địch muốn chiếm để làm điểm tựa tấn công ra miền Bắc nên đã huy động 6 hạm đội tinh nhuệ bao vây, bắn pháo, ném bom ngày đêm.

Đồng thời, dùng chính sách cắt đường chi viện ra đảo Cồn Cỏ bằng việc canh chừng tất cả tàu bè lại gần đảo. Vậy mà, quân dân Vĩnh Linh – Quảng Trị có ngày hy sinh đến 30 người giữa biển khơi vẫn anh dũng mở đường máu chi viện ra đảo Cồn Cỏ… Vượt lên gian khổ hy sinh, cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ vững vàng trên tuyến đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, viết lên những câu chuyện đẹp như huyền thoại về tinh thần quyết tử giữ đảo…

Đại tá Trần Đăng Khoa nhớ lại những ngày đánh máy bay Mỹ. Đảo Cồn Cỏ như rung lên mỗi lần bom nổ, đạn pháo cao xạ của ta tung lên trời như hoa lửa đốt cháy máy bay Mĩ. Tinh thần chiến đấu quân dân đảo Cồn Cỏ hai lần được Bác Hồ gửi thư khen… Sau giờ chiến đấu, chiến sỹ đi câu cá, bắt cua, hái rau rừng, chuẩn bị sức khoẻ cho trận chiến đấu mới. Đảo phó Ngọc Cừ sáng tác bài “Con cua đá” đã được Đoàn Văn công Quân khu 4 dàn dựng và biểu diễn. Đêm đêm cán bộ, chiến sỹ trên đảo Cồn Cỏ vẫn nghe bài hát của mình qua Đài Tiếng nói Việt Nam…

tran dang khoa a3Bác Hồ gặp các anh hùng chiến sỹ  miền Nam ngày 19-10-1965 (Đồng chí Trần Đăng Khoa, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đứng thứ 6 từ trái sang phải). Ảnh: Bùi Oanh

Kể đến đây, Đại tá Trần Đăng Khoa mở tủ ra, lấy một tập tài liệu, đưa tôi xem tấm hình ông chụp chung với các đại biểu tham dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965… “Ghi nhận những chiến công hiển hách, tôi vinh dự thay mặt cán bộ, chiến sỹ Cồn Cỏ anh hùng ra Hà Nội dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965. Đại hội đánh giá rất cao tinh thần chiến đấu quân – dân đảo Cồn Cỏ. Nhưng niềm vui sướng nhất đời tôi trong chuyến đi ấy là được gặp Bác Hồ, Bác hỏi: Cháu ở đơn vị nào? Dạ thưa Bác, cháu ở đảo Cồn Cỏ ạ! Bác đặt tay lên tôi vỗ nhẹ và nói: “Chiến sỹ đảo Cồn Cỏ béo khoẻ thế là tốt… Bác yên tâm là chiến sỹ Cồn Cỏ đang vững vàng ở tuyến đầu” – Đại tá Trần Đăng Khoa tự hào.

Sau Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965, Chính trị viên Trần Đăng Khoa được Đảng và Nhà nước cho đi tham quan Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 19-10-1965 ông trở về Hà Nội và được gặp Bác Hồ cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ miền Nam ra thăm Bác. “… Xe chở chúng tôi đến sân sau Phủ Chủ tịch, kế bên vườn cây xanh rợp bóng mát, mọi người mừng vui hồ hởi, mắt chăm chú nhìn lên khung cửa lớn, mặt phía sau tòa Dinh thự Phủ Chủ tịch. “Bác Hồ muôn năm!” – Mọi người đồng loạt reo lên khi nhìn thấy Bác từ trên cao thoăn thoắt bước xuống các bậc thềm đá hoa đến đón và ôm hôn mọi người trong Đoàn”. Đại tá Trần Đăng Khoa kể tiếp: Trên đường cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ miền Nam tiến về Phủ Chủ tịch, Bác hỏi: Cháu Khoa ăn được mấy bát? Tôi trả lời: Mỗi bữa cháu ăn năm bát B52 ạ. Bác cười gật đầu: Chiến sỹ Cồn Cỏ ăn nhiều đánh giỏi. Bác ghi nhận những nỗ lực của cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ. Nhưng sau đó Bác băn khoăn lần lượt hỏi những điều thiết thực về chiến sỹ trên đảo: Chiến sỹ Cồn Cỏ có đủ gạo, thực phẩm, rau xanh và nước ngọt không? Có hầm hào, khí tài chiến đấu? Bộ đội có ngủ được không? Nằm hầm nhiều da có xanh và ghẻ lở không? Thương binh có đủ thuốc men không?… Tôi xúc động thưa với Bác: Có ạ…! Bác xúc động ôm tôi và hỏi nhỏ: Khoa có nguyện vọng chi không? Tôi đáp: Dạ cháu muốn xin Bác hai điều: Một là, xin một tấm ảnh Bác làm kỷ niệm cho cán bộ chiến sỹ đảo Cồn Cỏ, hai là, cho cháu được ôm hôn má Bác. Bác cười và đồng ý nguyện vọng của tôi.

Bác đã đi xa nhưng cứ thật gần. Đại tá Trần Đăng Khoa cũng đã bước qua tuổi xưa nay hiếm nhưng lời dặn dò của Bác vẫn là những kỷ niệm sâu sắc nhất đời ông. Là nguồn sức mạnh diệu kỳ giúp ông vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong suốt hơn nửa thế kỷ phấn đấu, để luôn xứng đáng là người cán bộ của Đảng, của dân và xứng đáng là Bộ đội cụ Hồ.

Đảo Cồn Cỏ nằm vắt ngang vĩ tuyến 17, cách đất liền 15 hải lý được xem là vị trí trọng yếu, là vọng gác tiền tiêu, con mắt của đất liền, án ngữ cửa ngõ phía Nam vịnh Bắc Bộ, trạm gác của “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”. Do vậy, Mỹ – Ngụy huy động tối đa lực lượng cùng phương tiện chiến tranh hiện đại điên cuồng bắn phá. Theo thống kê, 1.440 ngày đêm từ 1964 đến 1968, máy bay Mỹ đã ném xuống đảo Cồn Cỏ gần 1,3 vạn quả bom các loại, hàng vạn quả rốc-két, 172 lần tàu chiến pháo kích gần 4 nghìn quả pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ hứng chịu 39,3 tấn bom đạn, mỗi héc-ta đất trên đảo hứng chịu 22,6 tấn bom đạn.

Theo Bùi Oanh/ dantri.com.vn
Thu Hiền (st)
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội toàn quốc Đảng xã hội Việt Nam (30-7-1947)

Nhân dịp Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu công tác cho có kết quả mỹ mãn.

Tôi rất vui lòng khi thấy các đồng chí trong Đảng Xã hội Việt Nam đều hǎng hái tham gia kháng chiến cứu quốc và ra sức thực hiện đại đoàn kết.

Tôi trân trọng chúc quý Đảng càng ngày càng phát triển.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 30 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.14.
cpv.org.vn

Gửi các chiến sĩ và nhân dân Nam Dương (3-8-1947) (17)

Cũng như Việt Nam, Nam Dương là một bộ phận trong đại gia đình châu á.

Cũng như Việt Nam, Nam Dương đương bị thực dân áp bức.

Cũng như Việt Nam, Nam Dương đang hy sinh chiến đấu để tranh lại độc lập tự do.

Cũng như Việt Nam, Nam Dương vì nhân đạo, vì chính nghĩa mà tranh đấu.

Việt Nam và Nam Dương tuy là hai nước khác nhau, nhưng Nam Dương với Việt Nam cùng ở trong một hoàn cảnh giống nhau, cùng theo đuổi một mục đích như nhau.

Vì vậy cuộc kháng chiến của Nam Dương và cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng như hai đội quân trên một mặt trận: Mặt trận giải phóng của dân tộc á Đông.

Vì vậy, nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình với anh em Nam Dương và tin chắc rằng cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Nam Dương sẽ thắng lợi, cũng như tin chắc rằng cuộc kháng chiến, cứu quốc của nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thành công.

Thay mặt bộ đội và nhân dân Việt Nam, tôi thành thực gửi cho các chiến sĩ và nhân dân Nam Dương lời chào thân ái và quyết thắng.

Ngày 3 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.16.
cpv.org.vn

—————————–

(17) Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Dương : Sau khi Inđônêxia (Nam Dương) giành được độc lập, ngày 18-8-1945, đế quốc Hà Lan núp sau lưng quân đội Anh tiến vào Inđônêxia tìm cách khôi phục lại chế độ thực dân của họ ở nước này. Ngày 2-7-1947, đế quốc Hà Lan huy động 20 vạn quân trang bị vũ khí hiện đại, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Inđônêxia. Cuộc kháng chiến của nhân dân Inđônêxia bắt đầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các chiến sĩ và nhân dân Inđônêxia, tỏ sự đồng tình, ủng hộ của Chính phủ và nhân dân ta đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Inđônêxia và “tin chắc rằng cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Nam Dương sẽ thắng lợi”. Tr.179.

Thư gửi Đại hội báo giới (5-8-1947)

Cùng Đại hội báo giới,

Nhân dịp Đại hội báo giới, tôi chúc các bạn thành công.

Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khǎn, các bạn đã cố gắng làm trọn nhiệm vụ. Thế là tốt lắm, nhưng các bạn cần phải cố gắng thêm.

Theo ý tôi, các bạn có nhiệm vụ như sau:

1. Vạch rõ âm mưu, chính sách và những hành động tàn bạo của địch.

2. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ, vì sao phải trường kỳ kháng chiến, vì sao kháng chiến nhất định thắng lợi.

3. Giải thích chính sách của Chính phủ cho dân chúng rõ. Bày tỏ nguyện vọng của dân chúng cho Chính phủ biết.

4. Cổ động dân chúng, huấn luyện dân chúng, bày cho dân chúng tổ chức lực lượng của mình.

5. Kêu gọi toàn dân đoàn kết, hǎng hái kháng chiến, tin tưởng về sự thắng lợi.

Ngoài ra lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem báo có thú vị mà lại có bổ ích.

Chiến sĩ ở các mặt trận thì dùng súng chống địch, các bạn thì dùng bút chống địch.

Kháng chiến nhất định thắng lợi và thành công!

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.17.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Hội nghị bình dân học vụ khu XII (6-8-1947) (1)

Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khǎn, nhưng bình dân học vụ vẫn hǎng hái tiến hành, thế là tốt lắm.

Tôi rất mong khu XII cố gắng, lấy kinh nghiệm của các khu khác, nhập với sự sốt sắng của mình, sao cho trong một kỳ hạn mấy tháng, sẽ có nhiều nơi toàn dân biết chữ, để tranh lấy cái danh dự khu kiểu mẫu.

Tôi trân trọng gửi lời khen ông giám đốc và tất cả anh chị em bình dân học vụ về thành tích đã đạt được, và khuyên tất cả mọi người gắng sức thêm. Đồng thời tôi mong các uỷ ban, các đoàn thể, các vị phụ lão thân hào và toàn thể đồng bào khu XII phải giúp sức để phát triển bình dân học vụ.

Như thế thì về mặt trận vǎn hoá, chúng ta cũng sẽ thắng lợi như về các mặt trận khác trong cuộc trường kỳ kháng chiến.

Chúc Hội nghị thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 6 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.18.
cpv.org.vn

—————————

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Điện gửi ông G. Nêru (15-8-1947)

Nhân Ngày tuyên bố độc lập của ấn Độ, một ngày long trọng không riêng gì cho quý quốc, mà cho cả đại gia đình á châu chúng ta, thay mặt dân tộc Việt Nam và riêng tôi nữa, tôi trân trọng yêu cầu Ngài nhận và chuyển cho đại dân tộc ấn Độ lời chúc tụng nhiệt liệt và lời chào mừng thân ái của chúng tôi.

Tin tưởng vào mối cảm tình và tình đoàn kết giữa các dân tộc ấn Độ và á châu, dân tộc Việt Nam cương quyết tranh đấu cho được thống nhất và độc lập.

Ngày 15 tháng 8 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.19.
cpv.org.vn